ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC LÊ PHƯƠNG THẢO XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP NHẰM CỦNG CỐ VÀ LÀM GIÀU VỐN TỪ TIẾNG VIỆT CHO LƯU HỌC SINH LÀO TRÌNH ĐỘ A LUẬN VĂN THẠC S
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÊ PHƯƠNG THẢO
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP NHẰM CỦNG CỐ
VÀ LÀM GIÀU VỐN TỪ TIẾNG VIỆT CHO LƯU
HỌC SINH LÀO (TRÌNH ĐỘ A)
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Ban
HÀ NỘI - 2011
Trang 2MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU……… 1
1 Lí do chọn đề tài……… 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu……… 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu……… 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 7
5 Phương pháp nghiên cứu……… 8
6 Giả thuyết khoa học……… 9
7 Bố cục luận văn……… 9
PHẦN NỘI DUNG……… 10
Chương 1: Cơ sở khoa học của việc xây dựng hệ thống bài tập nhằm củng cố và làm giàu vốn từ cho lưu học sinh Lào………
1.1 Cơ sở tâm lí – giáo dục học………
1.1.1 Những con đường tiếp nhận và tích lũy từ ngữ …………
1.1.2 Kĩ năng và việc rèn luyện kĩ năng sử dụng từ cho học sinh
1.1.3 Đặc điểm nhận thức của lưu học sinh Lào ………
1.2 Cơ sở tâm lí ngôn ngữ học………
1.3 Cơ sở ngôn ngữ ho ̣c………
1.3.1 Quan niệm về đơn vị Từ………
1.3.2 Vốn từ ………
1.3.3 Từ loại tiếng Việt………
1.3.4 Tính hệ thống của từ tiếng Việt………
1.3.5 Trường nghĩa của từ tiếng Việt ………
1.4 Mục tiêu dạy học dạy học tiếng Việt cho người nước ngoài … 1.5 Một vài đặc điểm của tiếng Lào………
1.6 Những khó khăn của lưu học sinh Lào khi học tiếng Việt……
10
10
10
11
11
13
13
16
18
21
23
27
28
30
31
Trang 3Chương 2: Đề xuất hệ thống bài tập củng cố và làm giàu vốn
từ tiếng Việt cho lưu học sinh Lào………
2.1 Những nguyên tắc xây dựng bài tập………
2.1.1 Những nguyên tắc chung………
2.1.1.1 Đảm bảo tính vừa sức và tạo sức………
2.1.1.2 Đảm bảo tính khoa học………
2.1.1.3 Đảm bảo tính sư phạm………
2.1.1.4 Đảm bảo tính thực tiễn………
2.1.2 Những nguyên tắc đặc thù………
2.1.2.1 Nguyên tắc rèn luyện ngôn ngữ gắn liền với rèn luyện tư duy………
2.1.2.2 Nguyên tắc hướng hoạt động vào giao tiếp………
2.1.2.3 Nguyên tắc chú ý tới trình độ tiếng Việt vốn có của học sinh………
2.1.2.4 Nguyên tắc so sánh và hướng tới hai dạng nói và viết……
2.1.2.5 Nguyên tắc đảm bảo mối quan hệ hữu cơ giữa dạy học tri thức và rèn luyện kỹ năng………
2.1.2.6 Nguyên tắc về ngữ liệu bài tập………
2.2 Xây dựng hệ thống bài tập ………
2.2.1 Mục đích xây dựng bài tập………
2.2.2 Quy trình xây dựng bài tập………
2.2.3 Giới thuyết về bài tập………
2.2.4 Các loại bài tập ………
2.2.4.1 Bài tập sử dụng từ ………
2.2.4.2 Bài tập mở rộng vốn từ………
2.2.4.3 Bài tập chữa lỗi dùng từ………
2.2.4.4 Bài tập chuyển đổi từ tiếng mẹ đẻ sang tiếng Việt………
38
38
38
38
39
39
39
40
40
41
43
44
45
46
46
46
47
50
55
55
59
65
67
Trang 42.3 Hướng dẫn sử dụng bài tập …… ………
2.3.1 Mục đích sử dụng hệ thống bài tập …… ………
2.3.2 Thời gian sử dụng hệ thống bài tập ………… ………
2.3.3 Cách thức sử dụng các bài tập ……….………
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm…… ………
3.1 Mục đích thực nghiệm………
3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm………
3.3 Nội dung thực nghiệm………
3.4 Phương pháp và các bước tiến hành thực nghiệm………
3.5 Kết quả thực nghiệm………
3.5.1 Các tiêu chí đánh giá………
3.5.2 Đánh giá kết quả thực nghiệm………
3.6 Kết luận chung về thực nghiệm………
Kết luận và khuyến nghị………
Tài liệu tham khảo………
Phụ lục………
Phụ lục 1: Giáo án thực nghiệm………
Phụ lục 2: Hệ thống bài tập bổ trợ………
Phụ lục 3: Bài kiểm tra đầu vào………
Phụ lục 4: Bài kiểm tra đầu ra………
72
72
73
73
75
75
75
76
77
78
79
79
84
85
87
90
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, đặc biệt là sau hơn 20 năm đổi mới với những thành tựu hết sức rực rỡ, sự giao lưu kinh tế văn hóa với các nước trong khu vực nói riêng và bạn bè trên thế giới nói chung ngày càng mở rộng
Đã có rất nhiều người nước ngoài đến Việt Nam để học tập, nghiên cứu, giao lưu, tham quan và sinh sống Vì vậy, học tiếng Việt đã trở thành một nhu cầu của người nước ngoài Việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài với tư cách
là một ngoại ngữ nhằm trang bị cho họ vốn kiến thức về tiếng Việt để giao tiếp, học tập, qua đó, họ có thể hiểu thêm một cách sâu sắc về văn hóa, phong tục, tập quán, sinh hoạt của người Việt Nam Các trường đại học, cao đẳng ở trung ương và địa phương đã trở thành một địa chỉ học tập đáng tin cậy của rất nhiều lưu học sinh từ các nơi trên thế giới, trong đó có lưu học sinh Lào
Quan hệ đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào trong nhiều thập
kỷ qua là công sức của nhiều thế hệ cách mạng ở hai nước Sự hợp tác trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo giữa hai nước trong mấy chục năm qua là sự hợp tác vô tư, trong sáng Chặng đường hơn nửa thế kỷ, lịch sử đã chứng kiến sự gắn bó chặt chẽ giữa hai dân tộc trong đấu tranh và xây dựng, trong đó, ngành giáo dục đào tạo Việt Nam theo yêu cầu của cách mạng Lào đã góp phần vào
sự nghiệp giáo dục và đào tạo của Lào “ Đưa giáo dục đi trước một bước, phát triển mạnh về số lượng, tích cực nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục… mở đường cho cách mạng tiến lên nhanh chóng và vững chắc” [16, tr9] Từ thực tiễn quan hệ đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam – Lào trong hơn nửa thế
kỷ qua, có thể thấy: “Trong lịch sử thế giới chưa có mối quan hệ nào lại sâu sắc, nồng nàn bằng tình đoàn kết và hữu nghị đặc biệt Lào - Việt” [16, tr11] Trải qua những tháng năm đấu tranh lâu dài, gian khổ trong cách mạng dân tộc và quá trình 20 năm đổi mới đất nước, mối quan hệ đặc biệt và hợp tác
Trang 6toàn diện Việt Nam – Lào không chỉ góp phần làm nên những thắng lợi chung ở hai nước, mở ra kỷ nguyên mới của độc lập, tự do, mà còn tiếp tục đưa hai nước bước vào giai đoạn mới - giai đoạn công nghiệp hoá và hiện đại hoá, cùng hợp tác, phát triển và hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới
Những năm qua Việt Nam đã và đang là địa chỉ đào tạo tin cậy của các lưu học sinh Lào Số học sinh Lào sang Việt Nam học tập tăng lên nhanh chóng, từ 60 người năm 1992 lên đến trên 860 người vào năm 2006 Trong những năm gần đây, số lượng lưu học sinh Lào có mặt tại Việt Nam hàng năm luôn ở mức trên 2.300 người, tập trung chủ yếu ở các ngành nghề thuộc các lĩnh vực kinh tế, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, giao thông – vận tải Vì thế, việc giảng dạy tiếng Việt cho lưu học sinh nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm trang bị cho các em vốn ngôn ngữ tiếng Việt với tư cách là công cụ giao tiếp trong sinh hoạt hàng ngày, để tư duy và học tập
Mục đích của dạy tiếng Việt trong nhà trường nói chung (hay dạy bất kì một ngôn ngữ thứ hai nào) là nhằm trang bị cho người học hệ thống tri thức
cơ bản của ngôn ngữ đó và tiếng Việt giúp người học nâng cao năng lực về ngôn ngữ để đáp ứng nhu cầu giao tiếp và tư duy Khi dạy tiếng Việt cho người nước ngoài nói chung và lưu học sinh Lào nói riêng thì rèn các kĩ năng
về từ ngữ là một trong những nhiệm vụ quan trọng để đạt được mục đích trên Điều này xuất phát từ vị trí của từ trong hệ thống ngôn ngữ: Từ là đơn vị trung tâm của ngôn ngữ, vì thế dạy từ rất quan trọng Muốn giao tiếp tốt, học sinh phải hiểu từ, có khả năng huy động từ và sử dụng được từ Thực tế dạy học cho thấy học sinh nào có vốn từ giàu có thì có khả năng huy động và lựa chọn từ rất nhanh và chính xác, sự trình bày tư tưởng, tình cảm rõ ràng và đặc sắc Chính vì vậy, trong dạy học tiếng Việt, việc củng cố và làm giàu vốn từ cho học sinh rất quan trọng
Trang 7Một trong những mục tiêu dạy học môn tiếng Việt ở nhà trường là
“thông qua việc dạy học tiếng Việt góp phần rèn luyện các thao tác tư duy” Đối với lưu học sinh, để tư duy tốt bằng tiếng Việt thì phải có một vốn từ nhất định Vốn từ này giúp các em phân biệt được các sự vật, hiện tượng và nhận
ra được bản chất của chúng thông qua khái niệm chứa đựng trong từ Như vậy, nắm được từ, học sinh nắm được khái niệm Nắm dược khái niệm, học sinh hiểu được hiện thực khách quan, có cơ sở để làm đơn vị trong quá trình
tư duy của mình Vì thế trong quá trình dạy học, giáo viên phải luôn luôn quan tâm đến việc củng cố và làm giàu vốn từ cho học sinh
Việc dạy tiếng Việt với tư cách là một ngoại ngữ đòi hỏi phải có một chương trình, nội dung phù hợp với trình độ của người học Đối với đối tượng người học theo trình độ A thì nội dung dạy tiếng Việt lại tập trung vào giới thiệu và dạy các kỹ năng giao tiếp thông thường như: chào hỏi, làm quen; các
kỹ năng nghe, nói, đọc, viết theo từng chủ đề Trong giáo trình Tiếng Việt trình độ A của Đại học Quốc gia Hà Nội – Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển do NXB Thế giới ấn hành đã có nhiều ưu điểm trong rèn luyện các
kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, kỹ năng giao tiếp và sử dụng tiếng Việt cho người nước ngoài Tuy nhiên, bên cạnh các ưu điểm trên, chúng tôi thấy phần bài tập, đặc biệt là bài tập về từ vựng còn hạn chế, khiến lưu học sinh ít có cơ hội thực hành, củng cố và làm giàu vốn từ của mình Vì vậy, để khắc phục khó khăn trong quá trình dạy học từ ngữ, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả dạy học từ ngữ, cụ thể là củng cố và làm giàu vốn từ cho học sinh nước
ngoài đặc biệt là lưu học sinh Lào, chúng tôi đã chọn đề tài: “Xây dựng hệ
thống bài tập nhằm củng cố và làm giàu vốn từ tiếng Việt cho lưu học sinh Lào (trình độ A)”
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Những nghiên cứu về dạy tiếng Việt cho người nước ngoài
Nghiên cứu về việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, đã có nhiều công trình đề cập đến, trong đó phải kể đến các công trình tiêu biểu như sau:
Trang 8Tác giả Nguyễn Thiện Nam có bài “Về vấn đề dạy ngữ pháp trong giáo
trình Tiếng Việt cho người nước ngoài” trên tạp chí ngôn ngữ số 6 năm 2010,
“Vấn đề dạy và học tiếng Việt như một ngoại ngữ đối với người nước ngoài
và người Việt Nam ở nước ngoài”, Công trình “Tiếng Việt cho người nước ngoài” của tác giả Nguyễn Anh Quế, “Vietnamese for foreigners” tác giả
Nguyễn Văn Phúc chủ biên đã đề cập, đi sâu vào vấn đề này
Tác giả Nguyễn Thị Hương đã tiến hành tìm hiểu “Biện pháp quản lí
đổi mới phương pháp dạy học Tiếng Việt cho lưu học sinh Lào ở trường Cao Đẳng Sơn La” Từ việc đánh giá thực trạng quản lý đổi mới PPDH Tiếng Việt
cho lưu học sinh Lào của trường Cao Đẳng Sơn La, tác giả đã đề xuất các biện pháp quản lý đổi mới PPDH Tiếng Việt nhằm nâng cao chất lượng đào
tạo tiếng Việt cho các em Tác giả nhấn mạnh “Dạy tiếng Việt cho người
nước ngoài nói chung và lưu học sinh Lào nói riêng không chỉ cung cấp cho
họ vốn từ tiếng Việt mà còn phải dạy cho họ sử dụng được vốn từ đó trong những tình huống giao tiếp cụ thể” Chính vì vậy phải đặt ngôn ngữ trong
hoạt động giao tiếp cụ thể và đưa ra hệ thống bài tập phù hợp thì họ mới có thể nắm vững và nâng cao hiểu biết về từ ngữ
Tác giả Nguyễn Linh Chi đã tiến hành nghiên cứu “Lỗi ngôn ngữ của
người nước ngoài học tiếng Việt” Đây là công trình có ý nghĩa rất quan
trọng Thông qua việc khảo sát và nghiên cứu các lỗi từ vựng, ngữ pháp, tác giả đã giải quyết được các vấn đề cơ bản là thấy được khả năng hiểu từ của lưu học sinh và xác định được khả năng sử dụng từ của lưu học sinh Từ việc
đo nghiệm, tác giả thấy rõ các đặc điểm giải nghĩa từ và sử dụng từ của lưu học sinh, thấy được cả những khó khăn khi các em thực hiện công việc này và nguyên nhân chủ yếu của nó Đó là cơ sở để tác giả thiết kế các dạng bài tập khác nhau giúp lưu học sinh ở trình độ sơ cấp và trung cấp nâng cao cách dùng từ vựng và kết cấu ngữ pháp
Trang 92.2 Những nghiên cứu về xây dựng hệ thống bài tập
Tác giả Phan Thiều nghiên cứu “Vấn đề bài tập trong việc dạy tiếng”
đăng trên tạp chí Ngôn ngữ số 1/1975 Trong bài trích, tác giả đã chia bài tập
về tiếng Việt thành hai nhóm: nhóm vận dụng quan hệ liên tưởng và nhóm vận dụng quan hệ ngữ đoạn Tác giả cũng đưa ra một số gợi ý về cách xây dựng bài tập theo hai nhóm này Tác giả còn nêu yêu cầu rất rõ đối với người
giáo viên khi xây dựng các bài tập này là “Xác định ý nghĩa ngôn ngữ học
của từng bài, tìm hiểu yêu cầu và tác dụng rèn luyện của các thao tác thực hiện các kiểu bài đó để có thể sử dụng một cách có ý thức, có kế hoạch” nhằm
“sáng tạo ra các kiểu bài tập” Trong đó, tác giả nhấn mạnh bài tập liên
tưởng giúp học sinh làm phong phú vốn từ, bài tập ngữ đoạn giúp học sinh tự xây dựng những câu nói cụ thể đúng quy tắc (hiểu nghĩa từ, có khả năng sử dụng từ)
Tác giả Đỗ Xuân Thảo nghiên cứu “Cần có hệ thống bài tập tổng hợp
trong dạy học tiếng Việt” Tác giả nhận xét về hệ thống bài tập trong sách
giáo khoa và nêu ra một số tác dụng của bài tập tổng hợp cũng như sự cần thiết phải có loại bài tập này Tiếng Việt là môn tổng hợp (gồm nhiều phân môn) rèn các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết cho học sinh Đề xuất của tác giả là một gợi ý cho người biên soạn chương trình dạy học cũng như việc xây dựng các bài tập cho học sinh
Tác giả Lê Phương Nga đã tiến hành “Tìm hiểu vốn từ của học sinh tiểu
học” Đây là công trình nghiên cứu có ý nghĩa và vô cùng quan trọng vì đã
giải quyết hai nhiệm vụ “làm rõ khả năng hiểu nghĩa từ của học sinh tiểu học”
và “xác định được khả năng dùng từ của học sinh” Tác giả đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bồi dưỡng kiến thức và kĩ năng từ ngữ cho học sinh tiểu học là rất quan trọng Từ đó, tác giả đưa ra các nhóm bài tập tương ứng cho học sinh Cũng về vấn đề bài tập tiếng Việt, tác giả Lê Phương Nga nêu ra
“những sai phạm cần tránh khi xây dựng bài tập tiếng Việt cho học sinh”
Trang 10Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Hữu Tỉnh đã xây dựng “Hệ thống bài tập
rèn luyện năng lực sử dụng từ ngữ cho học sinh tiểu học” Luận án đưa ra
một hệ thống bài tập dạy từ cho học sinh tiểu học, với một cái nhìn tổng thể
về diện mạo chung của các bài dạy từ ở tiểu học Trong công trình của mình, tác giả phân tích về mục đích, ý nghĩa, tác dụng của bài tập, cơ chế tạo lập, nội dung, cấu trúc các tiểu loại bài tập Hệ thống bài tập cho phép người sử dụng lựa chọn tùy vào điều kiện dạy học cụ thể
Tác giả Nguyễn Thị Hằng đã nghiên cứu “Tổ hợp bài tập bổ trợ dạy
học phần luyện từ cho học sinh lớp 3 dân tộc Thái tỉnh Sơn La học tiếng Việt với tư cách là ngôn ngữ thứ hai” Trong luận văn của mình, tác giả đã phân
tích cơ sở phương pháp dạy học ngôn ngữ thứ hai, khảo sát những lỗi về từ
mà học sinh lớp 3 dân tộc Thái thường gặp phải gặp phải, từ đó tìm ra những nguyên nhân mắc lỗi Theo tác giả, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến lỗi dùng từ
của học sinh dân tộc Thái chủ yếu “do mang thói quen dùng tiếng mẹ đẻ sang
để nói tiếng Việt” và “thiếu bài tập thực hành ngôn ngữ thứ hai” Qua đó, tác
giả đưa ra hệ thống bài tập bổ trợ để dạy luyện từ cho học sinh Điều này giúp cho những người dạy tiếng Việt nói chung và dạy tiếng Việt như một ngôn ngữ thứ hai (ngoại ngữ) nắm bắt được đặc điểm và khó khăn của học sinh học tiếng Việt như ngoại ngữ hai để có phương pháp và hệ thống bài tập phù hợp khi dạy cho các đối tượng này
Tất cả những tài liệu trên đã cung cấp cho chúng tôi một số vấn đề cơ bản về dạy học từ ngữ cho học sinh nói chung và lưu học sinh Lào nói riêng Qua đó chúng tôi cũng thu thập được nhiều nội dung lí thuyết làm cơ sở lí luận cho đề tài nghiên cứu của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là xây dựng một tổ hợp bài tập bổ trợ dạy học phần từ vựng như một giải pháp để củng cố và nâng cao vốn từ vựng cho sinh viên người Lào
Trang 11Với mục đích như trên, chúng tôi xác định nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài như sau:
1 Nghiên cứu và xác định cơ sở lí luận của việc dạy từ cho lưu học sinh Lào
2 Khảo sát nội dung phần từ vựng theo các chủ đề trong giáo trình Tiếng Việt trình độ A (Đại học Quốc gia Hà Nội – Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển)
3 Đề xuất hệ thống bài tập bổ trợ củng cố và làm giàu vốn từ cho lưu học sinh Lào
4 Tổ chức thực nghiệm sư phạm, phân tích kết quả thực nghiệm nhằm đánh giá tính khả thi và hiệu quả của các bài tập bổ trợ mà đề tài đã xây dựng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu hệ thống bài tập trong dạy học từ vựng tiếng Việt cho lưu học sinh Lào (trình độ A)
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Chương trình dạy học tiếng Việt cho lưu học sinh Lào (trình độ A) Trên thực tế, cho đến nay cũng chưa có một chương trình đào tạo tiếng Việt chính thức chung cho tất cả các trường tham gia đào tạo tiếng Việt cho người nước ngoài Hầu hết là do tập thể giảng viên các trường tự mầy mò nghiên cứu hoặc tham khảo của các trường bạn để tự xây dựng chương trình và giáo trình phục vụ giảng dạy Vì thế, có rất nhiều giáo trình để dạy tiếng Việt cho người nước ngoài Nhưng trong giới hạn của luận văn này, chúng tôi chỉ tìm
hiểu, khảo sát giáo trình Tiếng Việt trình độ A của Viện Việt Nam học và Khoa
học phát triển – Đại học Quốc gia Hà Nội, do NXB Thế giới ấn hành
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Tìm hiểu lịch sử nghiên cứu vấn đề cũng như nghiên cứu cơ sở lí luận
có liên quan như cơ sở ngôn ngữ của việc xây dựng bài tập, đặc điểm tâm lí
Trang 12học của lưu học sinh Lào , chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu tài liệu qua các nguồn cung cấp như: các bài báo, sách chuyên ngành, các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước, internet Từ các tài liệu này chúng tôi đọc và thu thập các thông tin cần thiết sau đó xây dựng cơ sở lí luận cho
đề tài
5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu thực tiễn để tìm hiểu chính xác tình hình học từ vựng tiếng Việt của lưu học sinh Lào làm cơ sở đề xuất một hệ thống bài tập để củng cố và làm giàu vốn từ cho học sinh
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn cũng giúp chúng tôi đánh giá được tính chính xác, sát thực của đề tài
Để thực hiện phương pháp nghiên cứu, chúng tôi tiến hành dự giờ các tiết dạy tiếng Việt cho học sinh Lào, soạn phiếu điều tra cho học sinh Cuối cùng, chúng tôi tiến hành xử lí các kết quả đã điều tra được
5.3 Phương pháp phân tích tổng hợp
Chúng tôi tiến hành phân tích những cơ sở lí luận và thực tiễn cua việc củng cố và làm giàu vốn từ cho lưu học sinh Lào, sau đó tổng hợp các kết quả
và lấy đó làm cơ sở xây dựng những luận điểm riêng cho đề tài
5.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Những vấn đề mà đề tài xây dựng cần được kiểm nghiệm qua thực tế dạy học Vì vậy, chúng tôi đã tiến hành làm thực nghiệm sư phạm đánh giá tính khả thi của đề tài Từ đó, giúp chúng tôi kiểm tra, đánh giá được khả năng áp dụng đề tài vào thực tiễn dạy học
6 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được hệ thống bài tập bổ trợ phù hợp thì vốn từ vựng của lưu học sinh Lào sẽ được củng cố và nâng cao hơn Qua đó cũng góp phần nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Việt cho lưu học sinh Lào
Trang 137 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở khoa học của việc xây dựng bài tập bổ trợ nhằm củng
cố và làm giàu vốn từ tiếng Việt cho lưu học sinh Lào
Chương 2: Đề xuất hệ thống bài tập nhằm củng cố và làm giàu vốn từ tiếng Việt cho lưu học sinh Lào
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC XÂY DỰNG
HỆ THỐNG BÀI TẬP NHẰM CỦNG CỐ VÀ LÀM GIÀU VỐN TỪ
TIẾNG VIỆT CHO LƯU HỌC SINH LÀO
1.1 Cơ sở tâm lí – giáo dục học
1.1.1 Những con đường tiếp nhận và tích lũy từ ngữ
Có hai con đường để học sinh tiếp nhận và tích lũy từ ngữ, làm phong phú vốn từ của mình
Theo các nhà tâm lí học, con đường thứ nhất dựa trên quy luật tiếp nhận từ ngữ của con người Lưu học sinh sang học ở Việt Nam thì phần lớn phải giao tiếp bằng tiếng Việt Vì vậy dưới áp lực nhu cầu giao tiếp xã hội, khi nghe được từ, học sinh tiếp nhận được vỏ âm thanh và đồng thời luận giải được một số ý nghĩa của từ qua hoàn cảnh thực tế sử dụng từ ngữ Qua đó, học sinh bắt chước để dùng vào hoạt động giao tiếp Cách học như vậy có tính
tự nhiên, các nhà khoa học gọi là cách học vô thức Vận dụng con đường như vậy, người giáo viên nên biến con đường vô thức thành hữu thức, tạo ra các bài tập làm theo mẫu để học sinh có thể bắt chước để học sinh có thể tiếp nhận và tích lũy từ ngữ cho mình
Con đường thứ hai là dựa trên các quan hệ liên tưởng của con người, cụ thể là dựa trên quan hệ liên tưởng giữa các từ trong đầu óc con người Khi ta nghĩ hay nói đến một từ nào đó thì có nhiều từ khác cũng xuất hiện trong đầu
óc của người đó Các nhà khoa học gọi đó là từ “phản xạ”, từ “phản xạ” được gợi lên từ một từ ban đầu gọi là từ “kích thích” Hai từ này có thể có mối quan
hệ theo hàng dọc (quan hệ trực tuyến) hay có mối quan hệ theo hàng ngang (quan hệ hình tuyến) Vì vậy, khi có từ kích thích thì từ phản xạ sẽ xuất hiện
có thể theo liên tưởng hàng dọc hoặc theo liên tưởng hàng ngang Trong dạy học, vận dụng quan hệ liên tưởng có ý nghĩa vô cùng quan trọng Giáo viên
Trang 15nhất thiết phải dựa trên quan hệ liên tưởng để củng cố và mở rộng vốn từ cho học sinh, giúp các em tích lũy được nhiều từ ngữ và sử dụng linh hoạt các từ đó
1.1.2 Kĩ năng và việc rèn luyện kĩ năng sử dụng từ cho học sinh
Mỗi hoạt động giao tiếp gồm hai quá trình là tạo lập và tiếp nhận ngôn bản Để tạo lập một ngôn bản trong đầu óc của người phát diễn ra hai thao tác lựa chọn và kết hợp Thao tác lựa chọn ứng với việc huy động một vốn từ để tìm ra từ vốn từ đó những từ ngữ thích hợp cho ngôn bản Từ những từ tìm được phải kết hợp chúng lại theo quy tắc, chuẩn mực nhất định để tạo thành câu, thành ngôn bản biểu đạt nội dung, tư tưởng, tình cảm của người phát Người nhận, muốn lĩnh hội được ngôn bản này phải có thao tác tương ứng, huy động hiểu biết về từ ngữ để phân tích và giải mã ngôn ngữ Điều kiện tốt nhất để người tiếp nhận và lĩnh hội được đầy đủ ngôn bản là các từ mà người tạo lập dùng phải có trong ngôn ngữ của người tiếp nhận cũng có thể cảm nhận được thái độ tình cảm của người phát
Trong dạy học, việc rèn cho học sinh các kĩ năng nói, viết chính là giúp học sinh thực hiện thành thục các thao tác lựa chọn và kết hợp, rèn kĩ năng nghe, đọc là giúp học sinh phân tích và giải mã ngôn bản Nhưng muốn rèn được các thao tác trên điều kiện không thể thiếu đó là học sinh phải có vốn từ phong phú và phải có kĩ năng về từ vựng Nhà trường cũng là nơi đảm bảo cho học sinh hai điều kiện này
1.1.3 Đặc điểm nhận thức của lưu học sinh Lào
Học sinh Lào khi sang học tập và nghiên cứu ở Việt Nam chủ yếu tập trung ở độ tuổi từ 18 – 25 tuổi Ở độ tuổi này, học sinh đã có sự phát triển tương đối hoàn thiện về tri giác, sự chú ý, nhận thức và tưởng tượng Tuy nhiên, do học tiếng Việt là học ngôn ngữ hai, học sinh phải tiếp xúc từ đầu với một ngôn ngữ hoàn toàn mới, khác xa với tiếng mẹ đẻ của mình nên nhìn chung nhận thức của học sinh là nhận thức cảm tính
Trang 16Bắt đầu học một ngôn ngữ mới nên vốn từ của học sinh về ngôn ngữ đó gần như không có, hoặc có nhưng rất ít Do đó, khi học tiếng Việt, tư duy của học sinh Lào vẫn mang tính cụ thể, hình tượng Vì vậy, khi dạy từ cho học sinh rất cần thiết phải dùng tranh ảnh hay hình vẽ để học sinh nắm bắt từ dễ dàng và hiểu nghĩa tiếng Việt một cách đơn giản hơn Nội dung bài học không phải chỉ được các em tiếp thu bằng cách nghe qua lời giảng của giáo viên mà còn thông qua việc trực quan một cách tường minh mối quan hệ giữa các nội dung lí thuyết Đồ dùng trực quan rất đa dạng, đó có thể là tranh ảnh, vật thật, thậm chí chúng ta có thể coi các từ tiếng Lào khi được giáo viên lấy làm ví dụ
để giảng bài cũng là đồ dùng trực quan
Ở độ tuổi từ 18 – 25, con người đã hoàn toàn làm chủ được chú ý của mình, hay nói cách khác, sự chú ý là có chủ định Tuy nhiên, với học sinh Lào khi học ngôn ngữ hai là tiếng Việt thì sự chú ý không chủ định lại là đặc điểm
cơ bản Bởi vì, môi trường sống và những khó khăn mà học sinh gặp phải khi học ngôn ngữ hai làm cho khả năng chú ý của các em bị hạn chế Vì thế, trong quá trình dạy học, giáo viên phải tạo được những bài tập kích thích sự chú ý của học sinh bằng những dạng bài tập có nhiệm vụ làm cho học sinh thích thú, có ngữ liệu gần gũi để các em thấy tiếng Việt không quá xa lạ và không quá khó
Khi học tiếng Việt như một ngôn ngữ hai, tư duy và tưởng tượng của lưu học sinh Lào bị chi phối rất nhiều bởi tiếng mẹ đẻ Khi gặp khó khăn trong quá trình tìm từ, học từ, trong quá trình tư duy bằng tiếng Việt, ngay lập tức học sinh sẽ tư duy bằng tiếng mẹ đẻ của mình Đó cũng là một trong những hạn chế trong đặc điểm nhận thức của lưu học sinh Lào Tuy nhiên, trong quá trình dạy, giáo viên nên biến hạn chế này thành phương thức để dạy
từ cho học sinh có hiệu quả Giáo viên nên sử dụng các bài tập đối chiếu giữa tiếng Việt với tiếng mẹ đẻ để kích thích từ duy, trí tưởng tượng của học sinh, giúp học sinh học tiếng Việt tốt hơn
Trang 17Lưu học sinh Lào khi học tiếng Việt mang theo những nét chung của dân tộc do hoàn cảnh kinh tế tạo nên, đồng thời từng em lại có những đặc điểm tâm lí riêng Vì vậy, trong giáo dục, nhà sư phạm cần phải chú ý những đặc điểm tâm lí chung và riêng của các em để có thể điều chỉnh nội dung và phương pháp dạy cho phù hợp với tâm lí của các em, tạo cho các em sự tự tin thoải mái khi học tiếng Việt
1.2 Cơ sở tâm lí ngôn ngữ học
Tâm lí ngôn ngữ học là một khoa học liên ngành, nghiên cứu hoạt động trong quá trình sử dụng ngôn ngữ và hình thành ngôn ngữ ở con người Xem xét quá trình tích lũy vốn từ, phát triển và mở rộng vốn từ là một phần nội dung của tâm lí ngôn ngữ học Nó làm tiền đề quan trọng cho việc dạy mở rộng vốn từ
Muốn sử dụng từ ngữ trong hoạt động giao tiếp thì đầu tiên người sử dụng phải có năng lực từ ngữ, nghĩa là phải có một vốn từ phong phú và đa dạng, được sắp xếp một cách khoa học
Theo tác giả Phan Thiều “Con người học từ, trước hết là phải học trong thực tiễn giao tiếp Khi sử dụng trong quá trình giao tiếp, từ ngữ không đứng riêng rẽ mà tồn tại trong câu, trong một văn bản nhất định (là câu, là bài) gắn liền với những hoàn cảnh thực tại nhất định Chính văn cảnh, hoàn cảnh trong
đó, từ ngữ mới xuất hiện sẽ thúc đẩy người nghe, người đọc tìm hiểu từ ngữ mới đó Đồng thời là cơ sở dựa vào đó mà người nghe, người đọc dần dần đoán nhận ra nội dung từ ngữ, qua đó mà tiếp nhận, mà chiếm lĩnh từ ngữ mới của riêng mình” [23, tr 26 - 30] Nhà nghiên cứu Đỗ Hữu Châu cũng khẳng định: “Nếu từ tách khỏi hoạt động giao tiếp thì sẽ mất sức sống” [6] Vì vậy,
để có được vốn từ phong phú thì người dạy và người học phải gắn liền với hoạt động giao tiếp
Về quá trình lĩnh hội từ ngữ của con người, theo LS Vygotski, ông cho rằng, tư tưởng của con người ta không phải được thể hiện trong từ mà nó
Trang 18được hoàn thiện trong bản thân từ Nghĩa của nó là đơn vị được tư duy bằng ngôn ngữ
Chúng ta thực sự nắm được nghĩa của từ khi chúng ta nắm được hệ thống các mối quan hệ, nắm được sự đối lập trong quá trình sử dụng chúng trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ Cấu trúc nghĩa của từ chỉ được xác định bởi các từ bên cạnh và ngôn cảnh giao tiếp Việc tích lũy vốn từ trong đầu óc con người ta không cô lập, đơn lẻ mà là sự sắp xếp thành một hệ thống liên tưởng nhất định Hệ thống liên tưởng là một tập hợp các từ ngữ có những điểm chung nào đó về nội dung hoặc hình thức, khiến cho người ta có thể từ một từ này dễ dàng liên tưởng đến một từ khác cùng một hệ thống
Qua thí nghiệm của các nhà tâm lí – ngôn ngữ học thì các từ được tích lũy và tồn tại trong đầu óc chúng ta theo một sự liên tưởng về mặt ngữ nghĩa Nếu đưa ra một từ kích thích người ta sẽ thu được nhiều từ khác có liên quan
về nghĩa Sự liên tưởng này không nhất thiết là các từ ngữ phải giống nhau hay gần giống nhau về nghĩa, có khi chỉ là các từ gần gũi nhau trong thực tế khách quan hoặc đi liền nhau trong lời nói
Ví dụ: Khi nói đến từ chân, người ta thường liên tưởng đến từ tay, hay nói đến biển người ta hay liên tưởng đến thuyền, buồm, sóng…
Hiện tượng tâm lí này có vai trò rất quan trọng trong giảng dạy mở rộng và làm giàu vốn từ cho học sinh Chúng ta có thể làm giàu vốn từ cho học sinh dựa trên quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ, có thể mở rộng theo hệ thống chủ đề Thực tế hiện nay, theo giáo trình Tiếng Việt, trình độ A thì nội dung bài dạy được sắp xếp theo chủ đề, tên các bài học cũng chính là nội dung chủ đề từ ngữ cần học như: giới thiệu và làm quen, gia đình, thời gian, nhà ở, đồ vật, du lịch và giao thông, sở thích và giải trí, dịch vụ, sức khỏe và thể thao Chủ đề từ ngữ chính là trường nghĩa biểu vật, sự tập hợp các từ ngữ cùng biểu thị một phạm vi sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan Chủ
Trang 19để từ ngữ cũng chính là những hệ thống từ ngữ như trong hệ thống từ vựng của ngôn ngữ
Tóm lại, chủ trương mở rộng vốn từ cho học sinh theo chủ đề là phù hợp với đặc trưng về tính hệ thống của từ vựng trong ngôn ngữ, phù hợp với quy luật tích lũy vốn từ của học sinh Đây cũng chính là cơ sở cần thiết cho việc xây dựng hệ thống bài tập nhằm củng cố và làm giàu vốn từ cho lưu học sinh Lào (trình độ A)
1.3 Cơ sở ngôn ngƣ ̃ ho ̣c
1.3.1 Quan niệm về đơn vị Từ
Mặc dù đa số các nhà ngôn ngữ học thừa nhận từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, nhưng vấn đề nhận diện và định nghĩa từ lại rất khó F.de Sausure
đã viết : “vì từ, mặc dầu khó định nghĩa, vẫn là một đơn vị mà trí tuệ buộc phải chấp nhận, một cái gì đó có địa vị trung tâm trong cơ thể ngôn ngữ” [19, tr111] Cái khó khăn nhất trong việc định nghĩa từ là sự khác nhau về cách định hình,về chức năng và các đặc điểm ý nghĩa trong các ngôn ngữ khác nhau, thậm chí trong cùng một ngôn ngữ Không thể có sự thống nhất trong cách định nghĩa và miêu tả từ
Các nhà nghiên cứu thường xem xét kĩ mặt này hay mặt khác để đưa ra
đi ̣nh nghĩa về từ Theo tác giả Nguyễn Thiê ̣n Giáp có khoảng 300 định nghĩa về từ [10, tr19] Điều này ch ứng tỏ việc định nghĩa về từ không phải là đơn giản, và để có một định nghĩa về từ đầy đủ nhằm thỏa mãn tất cả cá nhà
nghiên cứu là không thể Tuy nhiên , theo F.de Sausure thì : “từ, mă ̣c dù khó
đi ̣nh nghĩa , vẫn là mô ̣t đơn vi ̣ mà trí tuê ̣ buô ̣c phải chấp nhâ ̣n mô ̣t cái gì có đi ̣a
vị trung tâm trong cơ thể ngôn ngữ” [19, tr 111]
Trong các tài liệu ngôn ngữ học hiện đại, có ba khuynh hướng cơ bản trong việc miêu tả bản chất của từ
1) Từ chỉ được khảo sát theo quan điểm ngôn ngữ học, một phần nào, còn việc giải quyết nó nói chung là được chuyển sang các khoa học lân cận
Trang 20như triết học, logic và tâm lí học Ju.D Apresjan đã coi những kiểu ý nghĩa khác nhau của từ là những đối tượng của những khoa học khác nhau, trong số
đó có ngữ nghĩa học logic và ngôn ngữ học tâm lí
2) Từ được xác định một cách phiến diện từ một mặt nào đó của nó, hoặc được xác định một cách chung chung, không cụ thể Định nghĩa của K Buhler thiên về mặt ngữ âm: “Các từ là những kí hiệu âm thanh của một ngôn ngữ được cấu tạo từ các âm vị và có thể tạo thành trường”
Trên thế giới có mô ̣t số quan niê ̣m như sau : Quan niê ̣m của B Golovin chỉ ra: “Từ là đơn vi ̣ nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ được vâ ̣n dụng độc lập , tái hiện tự do trong lời nói để xây dựng nên câu” Quan niệm của L.Boomfield coi từ là “mô ̣t hình thái tự do nhỏ nhất” [8]
Định nghĩa của E Sapir thiên về mặt ngữ nghĩa: Từ là một đoạn nhỏ nhất có ý nghĩa hoàn toàn độc lập và bản thân có thể làm thành một câu tối giản”
Định nghĩa của V.Brondal thiên về mặt chức năng giao tiếp của từ: “từ bao giờ và ở đâu cũng là một yếu tố của thông báo” Hans Glinz cho “từ là một kí hiệu tồn tại trong ngôn ngữ và biểu lộ trong lời nói, về mặt chức năng, câu đối lập với từ Từ là đơn vị đầu tiên của cái được biểu hiện, đối lập với câu là đơn vị đầu tiên của cái được biểu hiện”
F.F Fortunatov định nghĩa: “Từ là bất cứ âm nào của lời nói, trong ngôn ngữ từ có một ý nghĩa khác với ý nghĩa của những âm khác cũng là từ khác” W Schmidt “Từ không phải đơn giản là tổng số có tính số học của vật chất âm thanh và ý nghĩa mà là một chỉnh thể có tổ chức, một đơn vị kết cấu tính của vật chất âm thanh và ý nghĩa”
3) Từ được khảo sát từ các mặt khác nhau, nhưng chủ yếu nhấn mạnh những đặc điểm của nó trong mỗi ngôn ngữ riêng biệt
S.E jakhontov đã phát biểu quan điểm này một cách rõ ràng hơn Theo ông, các nhà nghiên cứu khác nhau đã dùng thuật ngữ từ để gọi những hiện
Trang 21tượng khác nhau nhưng có quan hệ lẫn nhau Ít nhất có 5 quan niệm khác nhau về cái được gọi là từ: từ chính tả, từ từ điển học, từ ngữ âm, từ biến tố,
từ hoàn chỉnh
Các tác giả trong nước cũng đã cố gắng để đưa ra định nghĩa về từ : Từ
là đơn vị có tính chất tín hiệu tồn tại hiển nhiên trong ngôn ngữ ở tra ̣ng thái tĩnh và thực hiện chức năng nhỏ nhất để tạo câu ” [9, tr183] Tuy nhiên đây là
đi ̣nh nghĩa được tổng kết từ nhiều quan niê ̣m có tính chất chung nhất Về từ tiếng Viê ̣t đươ ̣c các tác giả đi ̣nh nghĩa như sa u:
Với tư cách là định nghĩa sơ bộ, có tính chất giả thiết để làm việc, Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn Giáo trình Ngôn ngữ học đưa ra định nghĩa như sau: Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ độc lập về ý nghĩa và hình thức
Trong cuốn Dẫn luận ngôn ngữ học, các tác giả cho rằng: Từ tiếng Viê ̣t
là một chỉ nh thể nhỏ nhất có ý nghĩa dùng để tạo câu Nó có h ình thức của
mô ̣t âm tiết, một chữ viết” [13]
Tác giả Đỗ Hữu Châu quan niệm : Từ của Tiếng Viê ̣t là mô ̣t hoă ̣c mô ̣t số âm tiế t cố đi ̣nh , bất biến về hình thái ho ̣c (như quan hê ̣ về số , về giống… )
và cú pháp trong câu , nằm trong mô ̣t kiểu cấu ta ̣o nhất đi ̣nh , mang những đă ̣c điểm ngữ pháp nhất đi ̣nh , ứng với những nghĩa nhất định , sẵn có đối với mo ̣ i thành viên của xã hội Việt Nam” [17, tr11]
Quan niê ̣m của sách giáo khoa tiếng Vi ệt cải cách giáo dục “Từ bao giờ cũng có nghĩa và dùng để đặ t câu” [32, tr 97]
Như vâ ̣y , có thể nêu ra nhiều đi ̣nh nghĩa về từ Song, xét về tâm lí và trình đô ̣ tiếp nhâ ̣n của người học thì có thể coi định ng hĩa về từ của tác giả Đỗ Hữu Châu là điển hình , thể hiện được đầy đủ bản chất của từ Các định nghĩa về từ ở nhà trường phổ thô ng cũng có các ý như vâ ̣y
1.3.2 Vốn từ
Vốn từ là số lượng từ ngữ cụ thể của mô ̣t ngôn ngữ Tùy theo đặc điểm mỗi ngôn ngữ có số lượng từ khá c nhau, có ngôn ngữ có số lượng từ lên tới
Trang 22hàng vạn , hàng triệu từ Tuy số lươ ̣ng từ rất lớn , nhưng ở ngô n ngữ nào cũng
vâ ̣y, chúng luôn làm thành một hệ thống rất hoàn chỉnh với nhiều lớp từ , nhóm từ có mối quan hệ gắn bó với nhau , tác động lẫn nhau Trong các lớp từ thuô ̣c hê ̣ thống ngôn ngữ đó bao giờ cũng có những từ mới và từ cũ , những từ phổ biến chung và từ đi ̣a phương , những từ chuyên môn và những từ vay mượn
Vốn từ của mỗi người là khối từ ngữ hoàn chỉnh mà cá nhân tích lũy được (có đủ hình thức âm , chữ và nô ̣i dung ngữ nghĩa ) Vốn từ của mỗi cá nhân là khác nhau , tùy thuộc và kinh nghiệm sống , trình độ học vấn , khả năng giao tiếp, tiếp xúc văn hóa của người đó Theo kết quả nghiên cứu của các nhà tâm lí học thì vốn từ của những người có trình độ văn hóa cao khoảng 6000 –
9000 từ, của một nhà thiên tài là xấp xỉ 20.000 từ
Vốn từ vựng của mô ̣t ngôn ngữ và vốn từ của cá nhân có quan hê ̣ bao hàm Có nghĩa là , vốn từ của mỗi cá nhân là bô ̣ phâ ̣n của vốn từ vựng chung ,
mà vốn từ vựng của mỗi cá nhân nằm trong đầu của người đó , còn vốn từ vựng của ngôn ngữ thuô ̣c về bô ̣ óc của tâ ̣p thể Hay nói như F de Sausure thì:
“trong bô ̣ óc của một tập thể …mọi người có cùng mô ̣t cô ̣ng đồng ngôn ngữ” Vốn từ của mỗ i người là mô ̣t hê ̣ thống mở , luôn biến đổi , vì vậy viê ̣c đi ̣nh tính, đi ̣nh lươ ̣ng vốn từ là viê ̣c rất khó khăn
Dựa vào tần số sử dụng từ trong đời sống xã hội, người ta chia vốn từ thành vốn từ tích cực và vốn từ thụ động Vốn từ tích cực là vốn từ được sử dụng hàng ngày, những từ có tần số sử dụng cao, được con người nắm vững
và sử dụng trong lời nói, trong giao tiếp một cách thành thạo Còn vốn từ thụ động là những từ ít được sử dụng hay không còn được sử dụng nữa Nó bao gồm các từ đã lỗi thời và các từ còn mang sắc thái mới chưa được sử dụng một cách rộng rãi Trong quá trình phát triển và hoàn thiện ngôn ngữ, một số
từ mới có nghĩa mới được nảy sinh, bên cạnh đó cũng có một số từ cũ, nghĩa
cũ bị đào thải, loại bỏ Ví dụ, trước đây người ta thường sử dụng các từ như:
Trang 23phi cơ, tàu bay, xa hỏa… nhưng ngày nay những từ này ít được sử dụng và
thậm chí đang mất dần Những từ cũ đó đã lỗi thời dần dần bị gạt ra khỏi vốn
từ tích cực, chúng ít được sử dụng và trở thành vốn từ thụ động Còn những từ mới xuất hiện thì chưa thể trở thành vốn từ tích cực Một trong những nhiệm
vụ chính là nâng cao trình độ văn hóa về mặt ngôn ngữ của con người là nâng cao vốn từ, bằng cách làm giàu vốn từ tích cực
Phát triển vốn từ cho học sinh cần chú ý đến phát triển các từ loại khác nhau theo những chủ đề cụ thể Trong ngôn ngữ, mỗi nhóm từ loại đều có tên nhất định, đặc điểm và ý nghĩa riêng biệt
1.3.3 Từ loại tiếng Việt
Từ loại là kết quả nghiên cứu vốn từ trên bình diện ngữ pháp Đó là những lớp từ có chung ngữ pháp Những đặc trưng của lớp từ đó được sử dụng là tiêu chuẩn tập hợp và phân loại
Theo tác giả Lê Biên trong cuốn Từ loại tiếng Việt hiện đại, căn cứ vào
chức năng cú pháp của từ, ông đã chia tiếng Việt thành hai loại là hư từ và thực từ Thực từ gồm các loại danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ Hư từ gồm các loại định từ, phó từ, kết từ, tình thái từ
- Danh từ: là những từ có ý nghĩa thực thể chỉ sự vật, hiện tượng, vật
liệu, chiếm một số lượng rất lớn trong từ vựng tiếng Việt Danh từ là một trong ba lọai từ cơ bản (danh từ, động tư, tính từ), chiếm một vị trí rất lớn trong từ vựng tiếng Việt Nó có khả năng làm chủ ngữ, bổ ngữ, định ngữ trong câu
Danh từ được chia làm ba tiểu loại: danh từ chung, danh từ riêng và danh từ trừu tượng
+ Danh từ chung: là những danh từ chỉ tên gọi của một lớp sự vật, hiện tượng VD: nhà, hoa, học sinh…
+ Danh từ riêng: là những danh từ chỉ tên gọi của người, sự vật, hiện tượng cụ thể
Trang 24+ Danh từ trừu tượng: Là những danh từ chỉ khái niệm trừu tượng VD: hạnh phúc, hòa bình, tình yêu…
- Động từ: là những từ biểu thị ý nghĩa khái quát về quá trình thể hiện
trực tiếp ý nghĩa hành động, ý nghĩa trạng thái của thực thể Cũng giống như danh từ, động từ là một trong ba từ loại cơ bản nhất của tiếng Việt, có một số lượng khá lớn trong vốn từ vựng Động từ có khả năng đảm nhiệm nhiều chức năng cú pháp khác nhau, nhưng phổ biến là làm vị ngữ trong câu
Động từ được chia làm hai lớp: lớp động từ không độc lập và lớp động
từ độc lập
+ Lớp động từ không độc lập gồm nhóm động từ tình thái và nhóm động từ quan hệ
+ Lớp từ độc lập gồm: nhóm từ độc lập có phụ từ và nhóm từ độc lập
có thực từ
- Tính từ: là những thực từ gọi tên tính chất, đặc trưng của sự vật, thực
thể hoặc của vận động, quá trình, hoạt động
Tính từ cũng là một từ loại cơ bản trong tiếng Việt Tính từ có những đặc điểm về ngữ pháp gần với động từ, là một từ loại có tác dụng miêu tả các đơn vị ngôn ngữ và làm phong phú khả năng diễn đạt Tính từ thường làm vị ngữ trong câu, hay đi kèm với danh từ, động từ để bổ nghĩa cho chúng Tính
từ được chia làm hai lớp: tính từ chỉ đặc trưng không xác định thang độ và tính từ chỉ đặc trưng xác định thang độ
- Đại từ: là lớp từ dùng để thay thế hay chỉ trỏ Đại từ không những
thay thế cho một thực từ (danh từ, động từ hay tính từ) mà còn thay thế cho cả một kết hợp từ (cụm từ) như câu, đoạn văn
Đại từ chia làm hai lớp: đại từ xưng hô và đại từ chỉ định
- Số từ: gồm những từ biểu thị số lượng Số từ thường đi kèm với danh
từ và có thể đảm nhận một số chức năng cú pháp trong câu như chủ ngữ, vị ngữ Số từ có số từ xác định và số từ không xác định
Trang 25+ Số từ xác định là những số từ có thể dùng để đếm, tính toán
+ Số từ không xác định là các từ biểu thị số lượng nhưng không chính xác (vài, mấy, chừng, khoảng, vài ba…)
- Phó từ: là hư từ thường đi kèm với động từ, tính từ, biểu thị quan hệ
giữa quá trình và thực tại Phó từ thường có các nhóm:
+ Phó từ chỉ kết quả: mất, được, ra đi
+ Phó từ chỉ tần số: thường thường, luôn luôn
+ Phó từ chỉ thời gian: đã, từng, mới, sẽ
+ Phó từ chỉ sự khẳng định, phủ định: có, không, chẳng, chưa…
+ Phó từ sai khiến: hãy, đừng, chớ…
- Kết từ: Kết từ biểu thị ý nghĩa về quan hệ giữa các khái biệm và đối tượng được phản ánh (của, cho, mà, ở tại, tới, từ, trong, ngoài, trên, dưới,
giữa, kề bên…)
- Liên từ: Là những từ dùng để nối các thành tố có quan hệ với nhau (và, với, nhưng, hoặc, hay…)
- Thán từ: là những từ biểu thị cảm xúc của người nói (ôi, à, á, ồ…)
Tóm lại: Củng cố và làm giàu vốn từ cho lưu học sinh về bản chất là
thực hiê ̣n ba nhiê ̣ m vụ hiên hoàn : mở rô ̣ng vốn từ (phong phú vốn từ , phát triển vốn từ, hê ̣ thống hóa vốn từ ), dạy nghĩa từ (chính xác hó a vốn từ), dạy sử dụng từ (tích cực hóa vốn từ ) Ba nhiê ̣m vụ này luôn luôn gắn kết với nhau không thể tách rời bởi nếu ta chỉ chú tro ̣ng thực hiê ̣n mô ̣t nhiê ̣m vụ nào đó mà
bỏ qua các nhiệm vụ còn lại thì đó là việc làm vô nghĩa Củng cố và làm giàu vốn từ cho ho ̣c sinh chỉ thực sự có hiê ̣u quả khi tổ chức tốt các h oạt động thực hành từ ngữ
Từng nhiê ̣m vụ kể trên la ̣i có những yêu cầu cụ thể khác nhau Về mở
rô ̣ng vốn từ cần phải bổ sung cho các em thêm những từ mới để vốn từ của các em phong phú thê m Nhiê ̣m vụ này rất quan tro ̣n g trong quá trình da ̣y ho ̣c tiếng Viê ̣t Bởi vì chỉ có tích lũy mô ̣t vốn từ phong phú đa da ̣ng , sắp xếp mô ̣t
Trang 26cách có hệ thống và khoa học thì các em mới có khả năng sử dụng từ trong giao tiếp mô ̣t cách hiê ̣u quả Đây chính là cơ sở để các em vâ ̣n dụng ứng xử với những nhu cầu và pha ̣m vi giao tiếp hết sức đa da ̣ng và phức ta ̣p của đời sống hiê ̣n ta ̣i , của hoạt động học tập tại Việt Nam và hoạt động chuyên môn nghề nghiê ̣p trong tương lai
Từ ngữ của học sinh được tiếp nhận từ nhiều nguồn khác nhau Vì thế, trong vốn từ của các em có nhiều từ mà các em không hiểu hoă ̣c hiểu không chính xác dẫn tới việc vận dụng và nói năng không đạt hiệu quả Chỉ có trong hoạt đô ̣ng thực hành từ ngữ (đă ̣c biê ̣t là cá c tiết ho ̣c về từ vựng ) các em mới phát hiện ra những sai sót của mình , từ đó hình thành ở các em nhu cầu phải tìm hiểu đúng về từ ngữ , nghe đươ ̣c , đo ̣c đươ ̣c cũng như phải sử dụng đúng khi nói và khi viết Như vâ ̣y, giáo viên phải có trách nhiệm chính xác hóa vốn từ của ho ̣c sinh , phải tổ chức tốt các hoạt động thực hành từ ngữ để học sinh
có cơ hội tham gia rèn luyện Đây chính là môi trường giao tiếp tốt nhất trước khi các em tham gia vào hoa ̣t đô ̣ng giao tiế p bên ngoài Muốn đa ̣t được mong muốn, chúng ta phải có biện pháp cho học sinh luyện tập qua mô ̣t hê ̣ thống bài tập được xây dựng một cách hợp lí , khoa ho ̣c
1.3.4 Tính hê ̣ thống của từ tiếng Việt
Mô ̣t trong những thành tựu quan tro ̣ng cả triết họ c Mác – Lênin là chỉ ra tính thống nhất của thế giới Luâ ̣n điểm này cho rằng mo ̣i sự vâ ̣t hiê ̣n tươ ̣ng trong thế giới khách quan không tồn ta ̣i đô ̣ c lâ ̣p mà luôn có mối quan
hê ̣ tác đô ̣ng qua la ̣i với nhau , cùng hoạt động trong một hệ thống Trong hê ̣ thống các sự vâ ̣t hiê ̣n tượng của thế giới khách quan thì ngôn ngữ là mô ̣t
yếu tố quan tro ̣ng Bản thân ngôn ngữ là “một hệ thống tín hiê ̣u” Các đơn
vị làm nên hệ thống tín hiệu này là âm vị , hình vị , từ và câu Trong các đơn
vị này thì từ là đơn vị cơ bản và trung tâm nhất Bản thân đơn vị từ cũng là
mô ̣t hê ̣ thống vô cùng đa da ̣ng và phong phú Theo đi ̣nh nghĩa về từ của tác giả Đỗ Hữu Châu thì từ tiếng Việt có rất nhiều bình diện : ngữ âm , ngữ
Trang 27nghĩa , ngữ pháp và cấu ta ̣o Mỗi bình diê ̣n này cũng làm thành mô ̣t hê ̣ thống nằm trong hê ̣ thống của từ
Xét về cấu ta ̣o, hê ̣ thống từ của mô ̣t ngôn ngữ sẽ phân chia thành nhiều
hê ̣ thống bô ̣ phâ ̣n Trong tiếng Viê ̣t , hê ̣ thống cấu ta ̣o từ được phân chia thành các bộ phận như : Từ đơn và từ phức Trong từ đơn được chia là từ đơn âm và từ đa âm Từ phức bao gồm từ láy và từ ghép Trong mỗi bô ̣ phâ ̣n này làm thành nhiều bộ phận nhỏ như : Từ láy có láy hoàn toàn , láy bộ phận , từ ghép thì có ghép đẳng lập , ghép chính phụ…
Xét về đặc điểm ngữ nghĩa , các từ cũng tạo nên những hệ thố ng ngữ nghĩa ở các mức độ lớn nhỏ khác nhau Trong hê ̣ thống này , đơn vi ̣ nhỏ nhất
là những nét nghĩa Tuy nhiên các nét nghĩa này luôn có chung mô ̣t nét nghĩa cốt lõi Cao hơn là hê ̣ thống nghĩ a của các từ thuô ̣c cùng mô ̣t trường nghĩa Tiêu biểu là các từ đồng nghĩa , gần nghĩa , trái nghĩa Ngoài các bình diện đã nêu, từ còn đươ ̣c xem xét về mă ̣t pha ̣m vi sử dụng Ở mặt này , các từ cũng hình thành các hệ thố ng theo các tiêu chí khác nhau : từ toàn dân , từ đi ̣a phương, các từ nghề nghiệp , các thuật ngữ, các từ cổ, các từ mới, các từ thuần Viê ̣t, các từ vay mượn
Như trên đã nói , từ là đơn vi ̣ trung tâm của ngôn ngữ , những biểu h iê ̣n của từ càng phong phú bao nhiêu thì viê ̣c da ̣y từ càng phức ta ̣p bấy nhiêu Khi nghiên cứu tính hệ thống của từ trong mối tương quan với việc làm giàu vốn
từ cho lưu học sinh cần phải dựa vào bản chất của hệ thống từ
Như vậy, khi dạy từ giáo viên luôn phải đảm bảo cung cấp cho học sinh các từ theo cùng một hệ thống nào đó đảm bảo vốn từ của học sinh là hoàn chỉnh nằm trong một hệ thống ngôn ngữ
Tính hệ thống của ngôn ngữ nói chung, của từ nói riêng là cơ sở để xây dựng phương pháp mở rộng vốn từ Đó cũng là cơ sở để cung cấp từ theo chủ
đề cho học sinh Chúng ta có thể sắp xếp các từ cần dạy, phát triển vốn từ cho học sinh theo hệ thống chủ đề theo trường sự vật (trường nghĩa)
Trang 28Dạy từ ngữ còn tính đến đặc điểm của từ trong hệ thống ngôn ngữ, trong quan hệ với hiện thực khách quan Dạy từ ngữ không thể xem xét các từ một cách cô lập, riêng lẻ mà phải thấy được mối quan hệ với các từ khác Mối quan hệ này được thể hiện ở dạng: quan hệ ngữ nghĩa, hệ thống từ loại và quan hệ giữa chúng với các từ khác trong ngôn bản và các nhân tố của hoạt động giao tiếp Có nghĩa là dạy từ phải tính đến quan hệ ý nghĩa của từ với các từ khác bao quanh, các phong cách chức năng khác nhau Đồng thời, theo F.de Sausre thì ngôn ngữ là một hệ thống trong đó mọi yếu tố đều gắn bó khăng khít với nhau, và trong đó giá trị của các yếu tố này chỉ là hệ quả của
sự tồn tại đồng thời của những yếu tố xung quanh quy định, nghĩa là giá trị của mỗi yếu tố chỉ có thể có được khi tồn tại trong hệ thống, tách ra khỏi hệ thống thì nó không có giá trị Do đó, khi giảng từ, ta phải đặt nó trong mối quan hệ với các từ xung quanh trong hệ thống ngôn ngữ Cần tính đến cơ sở ngôn ngữ học của dạy từ, đó cũng là cơ sở cho việc đề xuất hệ thống bài tập nhằm củng cố và làm giàu vốn từ cho lưu học sinh Lào
Tóm lại: Từ vựng là một hệ thống lớn trong đó chứa nhiều hệ thống
nhỏ, các từ không tồn tại độc lập, riêng lẻ mà thành một hệ thống, thành nhóm Nghĩa của từ cũng vậy, không chỉ tồn tại riêng cho từng từ mà chúng tạo thành hệ thống ngữ nghĩa, thành các trường nghĩa Vấn đề này rất quan trọng trong việc dạy từ nói chung và củng cố, làm giàu vốn từ nói riêng Khi
mở rộng, làm giàu vốn từ cho học sinh, ta không cung cấp từ một cách cô lập
mà phải đặt nó trong hệ thống chủ đề, đặt từ trong các nhóm theo trường nghĩa nhất định Vì vậy, chúng tôi chọn tính hệ thống của từ làm cơ sở cho luận văn của mình
1.3.5 Trường nghĩa của từ tiếng Việt
Việc củng cố và làm giàu vốn từ cho học sinh trước hết phải dựa trên những vấn đề về trường nghĩa
Trang 29Hiểu theo lối chiết tự thì trường nghĩa là tập hợp các từ căn cứ vào một nét đồng nhất nào đó về ngữ nghĩa Mỗi trường nghĩa là một tiểu hệ thống nằm trong một hệ thống lớn là từ vựng của một ngôn ngữ Theo tác giả Đỗ Hữu Châu: “Tập hợp các từ và ngữ cố định trong từ vựng của một ngôn ngữ dựa vào sự đồng nhất về ngữ nghĩa” [5] tạo thành trường từ vựng ngữ nghĩa hay còn gọi là trường nghĩa Việc cung cấp cho học sinh một số lượng từ ngữ xung quanh một chủ điểm như giáo trình Tiếng Việt (trình độ A) thực chất là hoạt động dạy từ theo trường nghĩa
Các nhà khoa học chia các trường nghĩa thành hai loại: trường nghĩa ngang (còn gọi là trường nghĩa tuyến tính) và trường nghĩa dọc (trường nghĩa trực tuyến) Trong đó trường nghĩa dọc có hai trường nghĩa nhỏ là trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm Phối hợp trường nghĩa ngang và trường nghĩa dọc ta có trường nghĩa liên tưởng
Để đi vào tìm hiểu một cách cụ thể các trường nghĩa và việc xây dựng bài tập củng cố và làm giàu vốn từ cho học sinh, trước hết cần tìm hiểu về định nghĩa các trường nghĩa
+ Trường nghĩa biểu vật (còn gọi là trường nghĩa sự vật, trường nghĩa ý niệm ), theo tác giả Đỗ Hữu Châu: “Các từ cùng chỉ những sự vật thuộc phạm
vi sự vật nào đó lập thành một trường biểu vật” [5, tr127] Trường biểu vật còn được gọi là sự tập hợp những từ cùng biểu thị một phạm vi sự vật hiện tượng trong thực tế khách quan Trong một trường nghĩa biểu vật cụ thể sẽ bao gồm những trường nghĩa hẹp hơn, cấp độ thấp hơn với số lượng ít hơn nhưng lại đồng nhất ở nhiều nét nghĩa hơn Đối chiếu với giáo trình Tiếng Việt trình độ A của Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển thì các nhà biên soạn đã đưa ra 8 chủ điểm lớn: Giới thiệu và làm quen, gia đình, thời gian, nhà ở và đồ vật, du lịch và giao thông, sở thích và giải trí, dịch vụ, sức khỏe và thể thao Trong mỗi chủ điểm này lại chia ra các nhánh nhỏ hơn, mỗi nhánh tập hợp được các từ ít hơn nhưng nghĩa của từ cụ thể hơn Học sinh sẽ
Trang 30dựa trên từng ý nhỏ để huy động từ ngữ, các từ ngữ này sẽ làm thành một hệ thống từ
Ví dụ: Với chủ đề Du lịch, xác lập các phạm vi biểu vật thuộc chủ điểm
này như sau: Lấy từ “du lịch” làm chủ đề (từ trung tâm ) ta có:
- Các từ chỉ đồ dùng phục vụ hoạt động du lịch: ba lô, vali, nước uống,
đồ hộp, túi ngủ…
- Các từ chỉ hoạt động du lịch: thăm quan, ngắm cảnh, du ngoạn…
- Các từ chỉ địa điểm du lịch: phố cổ, bãi biển, bảo tàng, di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh…
- Các từ các tổ chức, nhân viên phục vụ du lịch: nhà hàng, khách sạn, hướng dẫn viên, lễ tân…
Trong xây dựng bài tập củng cố và làm giàu vốn từ, giáo viên cần xác lập phạm vi biểu vật để giúp học sinh hình dung ra được các từ cần phải tìm Mỗi phạm vi biểu vật là một yêu cầu cụ thể về bài tập
Ví dụ: khi mở rộng vốn từ về chủ điểm “Dịch vụ”, học sinh sẽ gặp khó khăn vì đây là một chủ điểm rộng, các em sẽ không biết phải bắt đầu từ đâu
và mở rộng theo hướng nào Vì vậy, giáo viên có thể xây dựng hệ thống như sau:
- Các từ chỉ trang phục của con người: quần, áo, mũ, nón, giầy, dép, túi xách…
- Các từ chỉ địa điểm có thể mua trang phục: của hàng, siêu thị, chợ…
- Các từ chỉ món ăn: cơm, khoai, thịt bò, bít tết, bún, phở…
- Các từ chỉ đồ uống: bia, rượu, nước ngọt…
- …
Ngoài ra, dựa trên trường nghĩa biểu vật, giáo viên có thể lựa chọn từ
để dạy cho phù hợp Sự phân chia các trường biểu vật không chặt chẽ vì các
từ có thể có nhiều nghĩa, nếu phân chia theo các tiêu chí này thì ở trường biểu vật này, nếu phân chia theo tiêu chí khác thì ở trường biểu vật khác Bên cạnh
Trang 31các bài tập mở rộng vốn từ cùng trường biểu vật, bài tập sử dụng các từ cùng biểu vật cũng cho hiệu quả sản sinh rất lớn
+ Trường nghĩa biểu niệm (còn gọi là trường ngữ nghĩa, trường nghĩa vị) là các từ có chung một cấu trúc biểu niệm Nói cách khác, trường nghĩa biểu niệm là tập hợp các từ có cấu trúc biểu niệm giống nhau Cơ sở để xác lập trường nghĩa biểu niệm là sự đồng nhất về ý nghĩa biểu niệm của từ
Ví dụ: Dựa vào cấu trúc biểu niệm (trò chơi) (rèn luyện) (sức mạnh) ta
xác định được trường nghĩa biểu niệm gồm các từ sau: kéo co, vật, cầu lông,
tennis…
Dựa vào cấu trúc biểu niệm (phương tiện giao thông) (thô sơ) ta xác
định được trường nghĩa biểu niệm gồm các từ sau: xe đạp, xe thồ, xe xích lô,
xe bò, xe ngựa
Trong trường hợp biểu niệm, số lượng nét nghĩa trong một cấu trúc biểu niệm càng ít thì lượng tập hợp từ càng lớn, số lượng nét nghĩa càng nhiều thì số lượng từ thu được càng ít Tuy nhiên, khi số lượng nét nghĩa nhiều thì nghĩa của các từ thu được lại gần nhau nhất, chính xác nhất Vì vậy, khi dạy tiếng Việt cho học sinh, việc yêu cầu học sinh tìm các từ theo trường nghĩa biểu niệm sẽ giúp học sinh mở rộng vốn từ, phân loại từ, giúp học sinh hiểu nghĩa từ sâu sắc và sử dụng từ chính xác nhất
Sự phân chia thành trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm nói trên dựa vào sự phân biệt hai thành phần ngữ nghĩa trong từ là nghĩa biểu vật và nghĩa biểu niệm Hai loại trường này có quan hệ mật thiết với nhau
+ Trường nghĩa liên tưởng: Mọi sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế giới khách quan luôn có tác động qua lại lẫn nhau, có mối quan hệ với nhau về một mặt nào đó Mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng này được gọi là quan hệ liên tưởng, nghĩa là khi nhắc tới sự vật hiện tượng này người ta nghĩ ngay tới một sự vật, hiện tượng khác có đặc điểm gần giống với sự vật, hiện tượng được nhắc tới
Trang 32“Trường nghĩa liên tưởng là trường nghĩa tập hợp các từ biểu thị các sự vật, hiện tượng, hoạt động, tính chất có quan hệ liên tưởng với nhau” [5, tr142] Ví dụ: từ “xe” gợi ra xe đạp, xe máy, ô tô, xe buýt…
Sự vật trong thế giới khách quan phong phú bao nhiêu thì các quan hệ liên tưởng đa dạng bấy nhiêu Quá trình liên tưởng nằm trong ý thức của người nói Trong việc củng cố và làm giàu vốn từ cho học sinh, giáo viên vận dụng quan hệ liên tưởng để khơi gợi cho các em những phát hiện mới, tìm được giá trị của các yếu tố bằng cách đối lập với các yếu tố có quan hệ Học sinh sẽ tập hợp được nhiều từ thành những nhóm liên tưởng nhất định, nhờ đó vốn từ của các em được củng cố và phát triển phong phú thêm Vận dụng trường liên tưởng sẽ giúp học sinh tập hợp được các từ thành hệ thống, bổ sung thêm từ mới vào hệ thống đó
Việc dạy tiếng theo các chủ điểm mà giáo trình biên soạn, thực chất cũng là sắp xếp các từ theo các trường nghĩa Vì vậy, việc xây dựng các bài tập nhằm củng cố và làm giàu vốn từ cho lưu học sinh (trình độ A) cũng được thực hiện theo các trường nghĩa như trên Có thể xây dựng hệ thống bài tập cung cấp cho học sinh hệ thống từ đồng nhất về ngữ nghĩa (theo trường biểu vật, trường biểu niệm) hay theo trường liên tưởng
1.4 Mục tiêu dạy học dạy học tiếng Việt cho người nước ngoài
Mỗi môn học trong nhà trường phổ thông đều được xây dựng trên những cơ sở khoa học cụ thể Môn tiếng Việt trong nhà trường cũng vậy Khi biên soạn bất cứ một cuốn sách giáo khoa, giáo trình, một bài học, một đơn vị học bất kì thuộc môn tiếng Việt, người biên soạn phải dựa trên những cơ sở
về ngôn ngữ học, giáo dục học, tâm lí học sư phạm, tâm lí học lứa tuổi… Những cơ sở này giúp người biên soạn lựa chọn được những nội dung kiến thức phù hợp với đặc điểm tâm lí tiếp nhận của người dạy, của người học cũng như đảm bảo đáp ứng được yêu cầu xã hội đương thời Củng cố và làm giàu vốn từ cho học sinh là một trong những nhiệm vụ quan trọng của môn
Trang 33tiếng Việt, bởi vậy khi thực hiện nhiệm vụ này cũng phải dựa trờn cỏc cơ sở khoa học của mụn tiếng Việt Việc củng cố và làm giàu vốn từ liờn quan trực tiếp và nhiều nhất đến việc dạy từ Vỡ thế nghiờn cứu cỏc vấn đề về từ và dạy
từ sẽ là cơ sở quan trọng nhất để củng cố và làm giàu vốn từ cho học sinh
Mục tiờu dạy học tiếng Việt là cơ sở quan trọng để chỳng tụi xõy dựng
hệ thống bài tập bổ trợ nhằm củng cố và làm giàu vốn từ cho học sinh núi chung và lưu học sinh Lào núi riờng Mỗi bài tập mà chỳng tụi đưa ra trong luận văn đều hướng đến mục tiờu chung của mụn tiếng Việt là:
1 Hỡnh thành và phỏt triển cỏc kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, núi, đọc, viết) để học tập, giao tiếp trong mụi trường học tập và hoạt động Thụng qua việc dạy học tiếng Việt gúp phần rốn luyện cỏc thao tỏc tư duy
2 Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xó hội, tự nhiờn, con người và văn học, văn học của Việt nam
3 Bồi dưỡng tỡnh yờu tiếng Việt và hỡnh thành thúi quen gỡn giữ sự trong sỏng, giàu đẹp của tiếng Việt, gúp phần hỡnh thành nhõn cỏch cho con người Việt Nam Xó hội Chủ nghĩa
1.5 Một vài đặc điểm của tiếng Lào
Chữ Lào có nguồn gốc từ chữ Phạn, còn gọi là tua thăm của tiếng Pa-li
San Scrit, một ngôn ngữ khá phát triển thời kì cổ đại ở vùng Đông Nam Ấn
Độ Loại chữ này vốn đ-ợc dùng để chép các bản kinh Vệ đà, đ-ợc l-u giữ
trong các quyển sách làm bằng lá cọ, do vậy, cũng còn đ-ợc gọi là Nẳng xử
bay lan Đây là thứ chữ viết ghi âm vị và gần nh- có sự đảm bảo t-ơng ứng 1
đối 1 giữa âm và chữ Tuy nhiên, về sự sắp xếp vị trí của các chữ ghi nguyên
âm, phụ âm và thanh điệu trong một âm tiết Lào có điểm khác biệt so với chữ quốc ngữ của tiếng Việt Trong một âm tiết tiếng Lào, chữ cái ghi phụ âm đầu
đ-ợc coi là trung tâm, dấu thanh điệu bao giờ cũng đ-ợc đặt phía trên của phụ
âm đầu này, còn nguyên âm, xét theo vị trí so với phụ âm đầu thì có nhiều
Trang 34loại: đặt tr-ớc, đặt sau, đặt phía trên đầu hoặc phía d-ới, hoặc đặt hai bên của
chữ ghi phụ âm đầu
Tiếng Lào có 6 thanh, nh-ng chỉ sử dụng 4 dấu thanh để ghi thanh điệu Tuy vậy, trong thực tế ngôn ngữ, nhất là khi viết thì ng-ời Lào cũng chỉ sử
dụng phổ biến 2 dấu thanh là xỳ và xỷ mà thôi Hai dấu thanh còn lại ít khi
dùng Do vậy, khi học và thực hành tiếng Việt, lưu học sinh Lào vẫn giữa thúi quen sử dụng hai thanh như trong tiếng Lào, tương ứng với thanh huyền và thanh hỏi trong tiếng Việt mà bỏ đi bốn thanh cũn lại Thụng thường học sinh Lào hay phỏt õm thanh ngang, huyền, sắc thành thanh huyền; thanh ngó, nặng, hỏi thành thành hỏi Điều này gõy ra rất nhiều khú khăn cho học sinh Lào khi học tiếng Việt và khú khăn cho giỏo viờn trong quỏ trỡnh dạy học
Qui mô lớn nhất của một âm tiết tiếng Lào gồm 4 bộ phận: phụ âm đầu, nguyên âm, phụ âm cuối và thanh điệu Tuy nhiên trong một âm tiết, có thể không xuất hiện phụ âm cuối, do đó qui mô tối thiểu một âm tiết tiếng Lào cũng cần phải có 3 bộ phận là: phụ âm đầu, nguyên âm và thanh điệu
Mô hình cấu trúc đầy đủ của âm tiết tiếng Lào:
Thanh điệu
Phụ âm đầu Nguyên âm Phụ âm cuối
Chữ Lào là loại chữ ghi âm vị nh-ng chữ cái chỉ dùng để ghi các phụ
âm, còn mẫu tự của nguyên âm giống nh- các dấu phụ đi kèm với phụ âm, do
đó để ghi lại một âm tiết tiếng Lào, chữ ghi phụ âm đầu đ-ợc coi là bộ phận chính, bắt buộc phải có mặt cùng với nguyên âm, ngoài ra tuỳ từng âm tiết, có thể có cả thanh điệu đi kèm Tiếng Lào cũng vẫn sử dụng phổ biến các chữ số
ả Rập và chữ số La Mã khi viết và vẫn dùng cách đọc nh- trên để đọc chúng
Kết luận: Thụng qua việc tỡm hiểu những đặc điểm cơ bản của tiếng
Lào, cú thể thấy Tiếng Lào là một ngụn ngữ cú nguồn gốc thuộc họ Nam Á,
Trang 35nằm trong nhánh ngôn ngữ Lào Thay Về mặt loại hình, tiếng Lào là một ngôn ngữ đơn lập – âm tiết tính và có thanh điệu khá điển hình, cùng thuộc một nhóm loại hình và rất gần gũi với tiếng Việt Vì vậy, giữa tiếng Việt và tiếng Lào có sự giao thoa ngôn ngữ Sự giao thoa ngôn ngữ Lào và Việt tạo điều kiện thuận lợi nhưng cũng gây ra những khó khăn trong quá trình học và
sử dụng tiếng Việt của học sinh Lào
1.6 Những khó khăn của lưu học sinh Lào khi học tiếng Việt
Thông qua việc tìm hiểu những đặc điểm cơ bản của tiếng Lào, có thể thấy: Tiếng Lào là một ngôn ngữ có nguồn gốc thuộc họ Nam Á, nằm trong nhánh ngôn ngữ Lào Thay Về mặt loại hình, tiếng Lào là một ngôn ngữ đơn lập – âm tiết tính và có thanh điệu khá điển hình, cùng thuộc một nhóm loại hình và rất gần gũi với tiếng Việt Vì vậy, giữa tiếng Việt và tiếng Lào có sự giao thoa ngôn ngữ Sự giao thoa ngôn ngữ Lào và Việt tạo điều kiện thuận lợi và có những ảnh hưởng tích cực trong quá trình học và sử dụng tiếng Việt của học sinh Lào
Tuy nhiên, khi học ở nhà trường Việt Nam, lưu học sinh Lào đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ là tiếp thu kiến thức và lĩnh hội một ngôn ngữ mới không phải là tiếng mẹ đẻ Vì vậy, các em còn mắc nhiều lỗi khi sử dụng tiếng Việt Trong phạm vi của đề tài, chúng tôi chỉ thống kê những lỗi sử dụng từ của lưu học sinh Lào khi học và sử dụng từ
1.6.1 Lỗi hiểu nghĩa từ
Vốn từ là một điều kiện cơ bản và quan trọng trong giải nghĩa từ, thậm chí có người vốn từ nhiều nhưng khi giải nghĩa từ vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn Lưu học sinh Lào trình độ A vốn từ còn ít, cách sử dụng từ tiếng Việt của các em còn đơn điệu, thiếu linh hoạt, các em chưa hiểu hết nghĩa của các
từ ngữ tiếng Việt nên còn mắc nhiều lỗi trong phần giải nghĩa từ Hầu hết lưu học sinh Lào còn lúng túng khi gặp những bài giải nghĩa từ, các em chỉ có thể giải nghĩa từ được khi giáo viên gợi ý kĩ càng hoặc khi giáo viên giải thích
Trang 36bằng tiếng Lào Nếu không các em sẽ hiểu sai và giải nghĩa sai Những kiểu bài tập giải nghĩa từ đối với lưu học sinh Lào là những bài tập khó Hầu hết các em đều hiểu rất thô sơ và không đầy đủ, chính xác Ví dụ:
“Áo là đồ mặc bên ngoài cơ thể”
“Giầy là vật đi ở chân”
Ngoài ra, còn một lỗi dùng từ mà không chỉ lưu học sinh Lào mà hầu hết người nước ngoài khi học tiếng Việt đều mắc phải là chưa hiểu đủ nghĩa
từ chỉ mức độ Trong tiếng Việt nếu căn cứ vào ý nghĩa về mức độ, tính từ có thể chia thành hai nhóm: nhóm những tính từ tự thân có nghĩa mức độ và nhóm tính từ tự thân không có nghĩa mức độ Tính từ không so sánh được về mức độ là những tính từ chỉ tính chất tự thân đã xác định mực độ Những tính
từ này không dùng kèm với các từ: rất, hơi, quá, lắm… Học sinh nước ngoài nói chung và lưu học sinh Lào nói riêng thường không phân biệt đực điều này
và cho rằng những tính từ có nghĩa chỉ mức độ giống nghĩa của tính từ không
có nghĩa chỉ mức độ Ví dụ:
“Bầu trời hôm nay xanh ngắt quá” – Bầu trời hôm nay xanh ngắt
“Cái áo này rất trằng tinh” – Cái áo này rất trắng
Ngôn ngữ Lào có cấu trúc tương đối giống với câu tiếng Việt, nên khi học tiếng Việt, học sinh vẫn dùng "loại từ" theo đúng yêu cầu ngữ pháp của câu tiếng Việt, tuy nhiên lại chọn nhầm, chẳng hạn, lẽ ra dùng "con" thì lại dùng "cái", lẽ ra dùng "cái" thì lại dùng "quyển" Ví dụ:
(1) Hồ Gươm là một con Hồ đẹp nhất
(2) Anh mua cho ai cái từ điển này?
(3) Hôm nay mưa ba cái
(4) Hôm qua tôi ăn một cái phở
Người học sử dụng "cái" trong nhiều trường hợp như vậy khi người học đang ở giai đoạn tiếng Việt cơ sở, "cái" được sử dụng trong khá nhiều trường hợp trước các danh từ chỉ sự vật: cái bàn, cái ghế, cái ti vi, cái tủ lạnh, cái giá
Trang 37sách, cái đèn Vì vậy khi gặp một sự vật mới, khi cần nói về một sự vật mà người học chưa biết hoặc không nhớ loại từ chuyên dụng của nó thì người học
có xu hướng sử dụng ngay từ "cái" Chúng ta có thể liên hệ đến hiện tượng người dân tộc thiểu số khi nói tiếng Việt cũng thường dùng "cái" trước hàng loạt danh từ: cái cán bộ, cái chữ, cái mắt, cái sách , hoặc trẻ em Việt Nam trong quá trình thụ đắc tiếng Việt cũng mắc những lỗi như vậy
1.6.2 Lỗi nhận diện từ loại
Lưu học sinh lào trình độ A thường gặp khó khăn trong khi nhận diện
từ loại Học sinh đôi khi rất khó để phân biệt từ chỉ sự vật, từ chỉ hoạt động, trạng thái và tính chất, đặc điểm…
Ví dụ: Bài tập 4 tr 70: Tìm từ không cùng loại
1 xe máy, tàu hỏa, xe buýt, đi bộ, xe đạp
2 ra, sau, vào, lên, xuống,
3 rẽ trái, rẽ phải, ngã tư, đi thẳng, đi qua
4 đã, sẽ, sắp, tới, đang
5 thư viện, siêu thị, chợ, nhà hàng, về
Học sinh không nhận diện được các từ: đi bộ, sau, ngã tư, đang, về
1.6.3 Lỗi dùng thừa từ
Chúng tôi có khảo sát một vài trường hợp cụ thể như sau Ví dụ:
(1) Niary mua cái bút cho ai?
Niary mua cái bút cho em trai
(2) Trong gia đình tôi ai cũng thích nuôi con chó
(3) Khi chúng tôi học, chúng tôi thích dùng quyển sách Chúng tôi thích hơn nói chuyện nhiều
(4) Giá quyển sách đắt gấp 2 so với giá quyển sách vào tháng 2 năm nay
(5) Tôi đã mua quả cà chua, quả dưa chuột
Trang 38(6) Ở chợ có nhiều người bán quả chuối, quả dừa, quả vú sữa, quả xoài
Ở 6 ví dụ trên người học đã dùng thừa "loại từ" ở cương vị bổ ngữ Người Việt dùng "loại từ" khi muốn tính toán, khi muốn nói về một sự vật cụ thể, khi đã "trừu xuất" sự vật đó khỏi "giống loài chung" (danh từ khối)
Xét thêm hội thoại sau:
a - Anh đi chợ làm gì?
b - Tôi đi chợ mua cá
c - Anh mua mấy con?
d - Tôi mua 3 con
Ta thấy ở câu b, tiếng Việt không dùng loại từ vì "cá" ở trường hợp này
là chỉ giống loài chung, không chỉ một con cá hay một số lượng cá cụ thể nào
Ở câu c, tiếng Việt lại bắt buộc phải dùng loại từ "con" vì chính loại từ "con" này đã trừu xuất "cá" ra khỏi giống loài chung, trở thành những thực thể cụ thể, có thể tính toán được (3 con)
Trở lại 6 ví dụ trên, điều người học cần nói lại là "giống loài" chung chứ không phải là sự tính toán hoặc "trừu xuất" ra những sự vật cụ thể, nhưng người học sử dụng "loại từ" , tức là người học đã áp dụng sai quy tắc "dùng loại từ" vào chỗ không dùng Ở ví dụ (1) nếu ta chữa lại:
- "Niary mua bút cho ai?
- Niary mua bút cho em trai"
thì câu đúng hơn, tự nhiên hơn nhưng người học lại dùng "cái bút" nên câu trở thành không chuẩn Bởi vì khi nói "cái bút" tức là phải nói đến sự vật
cụ thể, đã được trừu xuất ra khỏi "giống loài" chung Trong khi đó người hỏi chỉ có mục đích là "mua bút", "bút" nói chung trong sự đối lập với những sự vật khác "mua giấy, mua áo, mua sách? " Còn nếu như cho rằng người học đang muốn nói về một (hoặc nhiều khi đã được lượng hoá bằng "những",
Trang 39"các") thì lúc đó lại phải có định ngữ hạn định, ví dụ: cái bút này; cái bút bi xanh ấy
Hãy xét tiếp ví dụ (2), chúng ta hiểu rằng người nói muốn chỉ một giống loài cụ thể nhưng không phải là một sự vật cụ thể "chó" trong sự phân biệt với "vật" không phải là "chó" như "mèo, gà, vịt " Cũng như ví dụ (1) người học đã nhầm "con chó" với "chó" Trong khi lẽ ra phải nói là "nuôi chó" thì người học lại nói là "nuôi con chó" Lý do ở đây cũng là do hiện tượng vượt tuyến Trong đầu óc của người học tại thời điểm đó "con chó" tức
là một "loài" và người học có thể tin rằng mình đã chọn được "loại từ" "con" đúng với tri thức có sẵn "Con + động vật", "Cái + đồ vật" Người học đã không phân biệt được trường hợp cụ thể được "phân lập trong không gian" với trường hợp nói chung, không phân lập trong không gian, chỉ giống loài Tất cả các ví dụ dùng thừa loại từ chúng tôi đã dẫn 3,4, 5,6 đều xuất phát từ lý
Trang 40thuyền" chính là vì tri thức có trước, đã được học về "loại từ + danh từ" được
áp dụng ra ngoài phạm vi của nó
1.6.4 Lỗi sử dụng từ nghèo nàn, thiếu linh hoạt
Vốn từ tiếng Việt của lưu học sinh Lào trình độ A rất hạn chế, thậm chí
có em còn chưa giao tiếp được với giáo viên bằng tiếng Việt Vì vậy, khi học những tiết học về mở rộng vốn từ, học sinh gặp rất nhiều khó khăn, những từ học sinh đưa ra chưa đúng, chưa đủ hoặc thậm chí có khi học sinh không đưa
ra được từ tiếng Việt nào cả
Ví dụ: Khi giáo viên yêu cầu học sinh nói lại các hoạt động của các em trong ngày cuối tuần thì học sinh chỉ sử dụng một động từ cho các hoạt động một số từ như: chơi bóng chuyền, chơi bóng đá, chơi máy tính, chơi phố…
1.6.5 Lỗi dùng từ do chịu ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ
Do ảnh hưởng của văn hóa dân tộc, nên khi giao tiếp bằng tiếng Việt, lưu học sinh Lào thường mắc một số lỗi sau:
- Dùng câu không có chủ ngữ: Thông thường, các phát ngôn của lưu học sinh Lào không có chủ ngữ bởi các em chỉ quan tâm tới hành động và nội dung của phát ngôn Chẳng hạn, người Việt thường hỏi: Anh (chị) đi đâu đấy? thì người Lào chỉ hỏi: Đi đâu đấy?
- Lưu học sinh Lào thường không phát âm được dấu ngã, nên khi viết các từ có dấu ngã thường không chính xác, thường viết ngã thành sắc
- Phần lớn lưu học sinh Lào không phân biệt được từ: “mỗi” và “mọi”
Chẳng hạn, học sinh Lào hay dùng: Mỗi người cùng làm (phải là: mọi người cùng làm) hay: Mọi người viết một bài (phải là: Mỗi người viết một bài)
Xuất phát từ những cơ sở trên, chúng tôi đi vào nghiên cứu để xây dựng hệ thống bài tập bổ trợ nhằm củng cố và làm giàu vốn từ cho lưu học sinh Lào đạt hiệu quả cao nhất