Trong nghiên cứu lịch sử tiếng Việt, các từ điển, nhất là từ điển trong các thời kì trước đây, luôn được coi là nguồn tư liệu đáng tin cậy bậc nhất mà chúng ta không thể bỏ qua
Trang 1Từ vựng tiếng Việt trong Việt Nam Tự Điển
LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong nghiên cứu lịch sử tiếng Việt, các từ điển, nhất là từ điển trong cácthời kì trước đây, luôn được coi là nguồn tư liệu đáng tin cậy bậc nhất mà chúng
ta không thể bỏ qua Chúng ta đã có An Nam Dịch Ngữ, rồi từ điển Việt – Bồ
-La, cùng rất nhiều công trình khác nữa Trong khoảng những năm 30 xuất hiệnViệt Nam Tự Điển (1931) do Hội Khai Trí Tiến Đức khởi thảo Cuốn tự điểnnày là một nguồn tư liệu quí báu để nghiên cứu từ vựng tiếng Việt đầu thế kỉ
XX Tuy nhiên, cho đến nay vấn đề nghiên cứu từ vựng trong Việt Nam TựĐiển vẫn chưa được ai quan tâm Nhận thấy vấn đề diện mạo từ vựng tiếng Việttrong Việt Nam Tự Điển còn bỏ ngỏ, chúng tôi thực hiện khóa luận này vớimong muốn được đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào việc nghiêncứu từ vựng tiếng Việt trong Việt Nam Tự Điển nói riêng và nghiên cứu vốn từvựng tiếng Việt nói chung
Theo Giáo sư Hoàng Phê, tính đến năm 1998, chúng ta có tới 708 côngtrình bằng/gồm tiếng Việt thực sự là từ điển được công bố Điều đó chứng tỏ từvựng tiếng Việt là mối quan tâm của rất nhiều nhà viết sách
Cuốn Việt Nam Tự Điển do Hội Khai Trí Tiến Đức khởi thảo từ 1923,xuất bản từ 1931 đến 1939 tại nhà xuất bản Trung Bắc Tân Văn - Hà Nội vàđược tái bản năm 1954 ở Pháp Như vậy, tính đến nay, công trình này đã ra đờiđược 76 năm, là cuốn tự điển được biên soạn khá công phu, rõ ràng, có hệ thốngsắp xếp theo thứ tự A, B, C của bảng chữ cái Đồng thời Việt Nam Tự Điển còn
là cuốn tự điển phản ánh một khối lượng lớn các mặt đời sống vật chất và tinhthần của người Việt thông qua các mục từ và giải nghĩa các mục từ Cần khẳngđịnh ngay rằng theo dòng lịch sử, trong số những tự điển do người Việt Nambiên soạn bằng chữ quốc ngữ theo kiểu tường giải, thì Việt Nam Tự Điển đứng
ở vị trí tiếp theo sau Đại Nam Quốc Âm Tự Vị Đây cũng là cuốn tự điển lấy
Trang 2“từ” làm đơn vị giải thích chứ không phải chỉ có “tự” (chữ) Trong công trìnhnày, các từ khó hiểu đã được giải thích một cách tỉ mỉ và kèm theo những ví dụ(văn liệu) khá phong phú Chúng tôi nhận thấy Việt Nam Tự Điển có giá trị nhưmột mốc quan trọng trong quá trình phát triển của lịch sử tiếng Việt Vì vậy,việc nghiên cứu từ vựng trong Việt Nam Tự Điển cần phải được chú ý nhiềuhơn nữa để có được những thông tin khái quát về từ vựng tiếng Việt những năm30.
2 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện khóa luận này, mục đích của chúng tôi là tìm hiểu kĩ hơn về từvựng tiếng Việt trong Việt Nam tự điển Cụ thể là chúng tôi sẽ có những khảosát để chỉ ra một cách khái quát diện mạo các thành phần từ vựng trong côngtrình tự điển này
Mặt khác, nghiên cứu vấn đề từ vựng trong Việt nam Tự Điển, chúng tôicòn mong muốn được đóng góp một phần nhỏ bé công sức của mình vào việcnghiên cứu lịch sử phát triển của tiếng Việt Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở để
so sánh vốn từ vựng tiếng Việt những năm 30 của thế kỉ XX với giai đoạn trước
nó và cả quá trình phát triển của lịch sử tiếng Việt về sau đó Kết quả này sẽ làmột miêu tả khái quát về một trạng thái từ vựng, giúp tăng thêm được nhữngnhận biết về các trạng thái liên tục hơn của từ vựng tiếng Việt
3 Phạm vi nghiên cứu
Do khả năng và thời gian không cho phép tìm hiểu mọi thành phần từvựng có mặt trong Việt Nam Tự Điển, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu từvựng tiếng Việt theo cấu trúc của đơn vị từ vựng, theo nguồn gốc và phạm vi sửdụng Như vậy, chúng tôi mới chỉ khảo sát và miêu tả được một bộ số bình diệncủa từ vựng trong Việt Nam Tự Điển, chứ chưa miêu tả được tất cả các mặt củanó
4 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung của khóa luận gồm 3chương sau:
Chương I: Cơ sở lý luận và phương pháp làm việc
Trang 3Chương II: Nghiên cứu từ vựng tiếng Việt trong Việt Nam Tự Điển theo cấu trúc của đơn vị từ vựng
Chương III: Nghiên cứu từ vựng tiếng Việt trong Việt Nam Tự Điển theo nguồn gốc và phạm vi sử dụng
Phần phụ lục của khoá luận sẽ đưa ra một số thống kê mà chúng tôi thấycần thiết
Trang 4CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LÀM VIỆC
Để có cơ sở lí luận cho các phân tích trong khoá luận này, trong chương 1chúng tôi tập hợp và hệ thống hoá lại một số quan niệm lí thuyết về những vấn
đề liên quan như: từ, phân loại từ, cấu trúc của từ và một số vấn đề về từ điển
1 Quan niệm về từ và từ tiếng Việt
Cho đến nay, trong ngôn ngữ học cách định nghĩa về từ được đưa ra rấtnhiều Các định nghĩa ấy, về mặt này hay mặt khác đều đúng, nhưng đều không
đủ và không bao gồm được hết tất cả các đơn vị được coi là từ trong các ngônngữ và ngay cả trong từng ngôn ngữ cũng vậy Tuy nhiên, để có cơ sở thuận lợicho việc nghiên cứu, người ta vẫn thường chấp nhận một khái niệm nào đó về từtuy không có sức bao quát toàn thể nhưng cũng chỉ để lọt ra ngoài phạm vi của
nó một khối lượng không nhiều các trường hợp ngoại lệ Trong khoá luận này,chúng tôi sử dụng định nghĩa sau đây là định nghĩa được nhiều người chấp nhận,làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu của mình
“Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để xây dựng nên câu” [8]
Ví dụ:
xe, nhà, bàn, ghế, sách, vở…
ăn, ngủ, nói, khóc, cười…
ngoan, hiền, xinh, xấu…
Đối với từ của tiếng Việt, nếu không đòi hỏi thật nghiêm ngặt mà chỉ chấpnhận một cách nhìn để làm việc thì quan niệm về từ đã trình bày ở phần trên là
có thể dùng được Có thể phát biểu lại như sau:
“Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu” [8]
Về mặt cấu tạo, từ tiếng Việt cũng được cấu tạo từ hình vị nhưng hình vịcủa tiếng Việt tương ứng với tiếng, cái mà ngữ âm học vẫn gọi là âm tiết Các
Trang 5đơn vị gọi là tiếng của tiếng Việt có giá trị tương đương như hình vị trong cácngôn ngữ khác Chúng có hai đặc điểm cần thiết của một hình vị:
+ Là đơn vị tối giản (đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa)
Ở tiếng Việt, tình hình hoàn toàn ngược lại Giữa hình vị và âm tiết cómối tương quan rõ rệt Giữa âm tiết và hình vị bao giờ cũng có một sự tươngứng một đối một, sự tương ứng hoàn toàn Mỗi tiếng trong tiếng Việt đứng vềmặt ngữ âm chính là một âm tiết, đứng về mặt ngữ pháp chính là một hình vị.Cho nên ở tiếng Việt, phân tích câu nói ra thành âm tiết và phân tích câu nói rathành hình vị bao giờ cũng đưa đến một kết quả giống nhau: Đó là chia tách câunói ra thành từng tiếng một
Mặt khác, xét về nội dung, hình vị tiếng Việt là đơn vị nhỏ nhất có nộidung được thể hiện Chí ít nó cũng có giá trị hình thái học (cấu tạo từ) Sự cómặt hay không có mặt của tiếng trong một ngữ đoạn nào đó bao giờ cũng đưađến tác động nhất định về mặt này hay mặt khác
Ví dụ: đỏ - đo đỏ - đỏ chói - đỏ sẫm…
Đến đây có thể kết luận rằng, tiếng trong tiếng Việt không hoàn toàn làhình vị bình thường như hình vị của nhiều ngôn ngữ khác Tiếng là một loạihình vị đặc biệt: một hình tiết, tức âm tiết có giá trị hình thái học
2 Về mặt cấu trúc của từ
Trang 6Có nhiều tiêu chí để phân chia chúng thành các tiểu loại khác nhau Nếudựa vào sự đồng nhất và khác biệt về phương thức cấu tạo, các từ trong tiếngViệt được chia thành 2 loại lớn là: từ đơn và từ phức, trong đó từ phức gồm: từghép, từ láy và từ ngẫu hợp.
2.1 Từ đơn
Là những từ được cấu tạo bằng một tiếng (còn gọi là các từ đơn tiết)
Ví dụ: ăn, ngủ, nhà, cửa, vui, buồn…
2.2 Từ ghép
2.2.1 Định nghĩa
Là những từ được tạo nên bằng cách ghép các tiếng lại mà giữa các tiếng
có quan hệ về nghĩa với nhau
Ví dụ: ăn ở, đi đứng, bàn ghế, nói cười, chó má, gà qué, tre pheo…
Trong loại từ này có thể có hai khả năng:
+ Các thành tố cấu tạo trong từ đều rõ nghĩa Khi dùng mỗi thành tố nhưvậy để cấu tạo từ thì nghĩa của từ đơn và nghĩa của các thành tố cấu tạo khôngtrùng nhau
Ví dụ: ăn = ăn ở = ăn nói = ở = nói…
+ Một thành tố rõ nghĩa tổ hợp với thành tố không rõ nghĩa Trong hầu hếtcác trường hợp, những yếu tố không rõ nghĩa này vốn rõ nghĩa nhưng sau bị bàomòn dần đi ở các mức độ khác nhau Bằng con đường tìm tòi từ nguyên và lịch
sử, người ta thường xác định được nghĩa của chúng
Ví dụ: chợ búa, đường sá, tre pheo, chó má, gà qué, cá mú, áo xống…
Trang 7Từ ghép đẳng lập biểu thị ý nghĩa khái quát và tổng hợp Đây cũng chính
là đặc điểm khác biệt của nó với từ ghép chính phụ
Từ ghép chính phụ:
Những từ ghép mà có thành tố này phụ thuộc vào thành tố cấu tạo kia đềuđược gọi là từ ghép chính phụ Thành tố phụ có vai trò phân loại, chuyên biệthoá và sắc thái hoá cho thành tố chính
Ví dụ: đường sắt, xanh lè, đỏ au, trắng phau, xe máy, cá diếc, chim sẻ, dưa lê, máy bay…
Về hai loại từ ghép này, một số tác giả còn gọi chúng với những tên khác
nhau như: từ ghép hợp nghĩa (là những từ ghép do hai hình vị tạo nên, trong đó
không có hình vị nào là hình vị chỉ loại lớn, không có hình vị nào là hình vị
phân nghĩa) và từ ghép phân nghĩa (là những từ ghép được cấu tạo từ hai hình vị
theo quan hệ chính phụ, trong đó có một hình vị chỉ loại lớn (sự vật, hoạt động,tính chất) và một hình vị có tác dụng phân hoá loại lớn đó thành những loại nhỏhơn cùng loại nhưng độc lập với nhau và độc lập đối với loại lớn
Mặc dù cách gọi tên có khác nhau nhưng về bản chất là như nhau
2.3 Từ láy
2.3.1 Định nghĩa
Là những từ được hình thành bằng cách tổ hợp các tiếng lại trên cơ sở của
sự hoà phối ngữ âm (vì thế mà các từ này còn được gọi là lấp láy, từ láy âm)
Ví dụ: thình thịch, bùm bụp, thơ thẩn, xinh xinh, khấp khểnh, rì rào…
Trong loại từ này cần phải lưu ý phân biệt từ láy và dạng láy Một từ sẽđược gọi là từ láy khi các yếu tố cấu tạo nên chúng có thành phần ngữ âm đượclặp lại, nhưng vừa có lặp (còn gọi là điệp) vừa có biến đổi (còn gọi là đối)
Ví dụ: xinh xắn, nhỏ nhắn, duyên dáng…điệp ở phần âm đầu, đối ở phần vần.
Vì thế, nếu chỉ có điệp mà không có đối (ví dụ: nhà nhà, ngành ngành,người người…) thì ta có dạng láy của từ chứ không phải là từ láy
2.3.2 Phân loại
Trang 8Kết hợp tiêu chí về số lượng tiếng với cách láy, từ láy trong tiếng Việt cóthể phân loại như sau:
Từ láy gồm hai tiếng (láy đôi)
Từ láy gồm ba tiếng (láy ba)
Và từ láy gồm bốn tiếng (láy tư)
Trong đó loại đầu tiên chiếm chủ yếu
Từ láy đôi:
Có các dạng cấu tạo như sau
+ Láy hoàn toàn:
Mặc dù gọi là từ láy hoàn toàn nhưng thực ra bộ mặt ngữ âm của haithành tố (hai tiếng) không hoàn toàn trùng khít nhau, chỉ có điều phần đối củachúng rất nhỏ khiến người ta vẫn nhận ra được hình dạng của yếu tố gốc trongyếu tố được gọi là yếu tố láy Các từ láy hoàn toàn có thể chia thành ba lớp nhỏhơn:
- Lớp những từ láy hoàn toàn, chỉ đối nhau ở trọng âm (một trong hai yếu
tố được nói nhấn mạnh hoặc kéo dài)
Ví dụ: rượi rượi, rầm rầm, sượng sượng, lăm lăm, lù lù, tàng tàng, thụp thụp, thuôn thuôn, uôm uôm, xoét xoét, xom xom, xõng xõng…
- Lớp từ láy hoàn toàn, đối nhau ở thanh điệu Nguyên tắc đối thanh điệulà: thanh bằng đối với thanh trắc trong mỗi nhóm cùng âm vực; bằng đứngtrước, trắc đứng sau
Ví dụ: hơ hớ, ngay ngáy, xoi xói, xon xón, tia tía, ri rỉ, re rẻ, ren rén, vành vạnh, hơn hớn, càu cạu, thoang thoảng…
- Lớp từ láy hoàn toàn, đối ở phần vần nhờ sự chuyển đổi âm cuối theoquy luật dị hoá:
Trang 9cầm cập, lôm lốp…
+ Láy bộ phận:
Là những từ chỉ điệp ở phần âm đầu hoặc điệp ở phần vần Láy bộ phậnđược chia thành hai lớp:
- Điệp âm đầu, đối ở phần vần:
Ví dụ: tha thiết, thơ thẩn, tròn trịa, mong manh, mềm mại, tinh tế, nhộn nhịp, nhồm nhoàm, nhức nhối, xôn xao, xuề xoà, xộc xệch…
Trong lớp từ này, có những từ xét về mặt lịch sử vốn không phải là từ láy,nhưng vì quan hệ về ý nghĩa giữa các yếu tố của chúng mất dần đi làm cho quan
hệ ngữ âm ngẫu nhiên giữa các yếu tố đó nổi lên hàng đầu, và hiện giờ ngườiViệt nhất loạt coi chúng là từ láy Ví dụ: chùa chiền, tuổi tác…nghĩa của những
từ như vậy được tổ chức theo kiểu của các từ tre pheo, chó má, xe cộ, đường sá,
- Điệp ở phần vần, đối ở âm đầu
Ví dụ: mượng tượng, lưng chừng, bâng khuâng, ngang tàng, quyến luyến, tanh bành, tẩn mẩn, tâng hẩng, tèm nhèm, tênh hênh, toác hoác, toen hoẻn, thình lình, xớ rớ…
Từ láy ba và láy bốn tiếng:
Được cấu tạo thông qua cơ chế cấu tạo từ láy hai tiếng
Từ láy ba tiếng dựa trên cơ chế láy hoàn toàn
Từ láy bốn tiếng dựa trên cơ chế láy bộ phận là chủ yếu
Trang 10Ví dụ: khít khìn khịt, dửng dừng dưng, trơ trờ trợ…hơt hơ hớt hải, đủng
đà đủng đỉnh, lững tha lững thững, vội vội vàng vàng…
+ Cấu tạo từ láy ba tiếng:
Từ láy ba là láy toàn bộ kèm theo sự biến thanh và biến vần
Ví dụ:
nhũn – nhũn nhùn nhùn trơ - trơ trờ trờ
khít – khít khìn khịt Nhiều khi chúng ta có thể gặp những “cặp bài trùng” giữa từ láy hai tiếng
và láy ba tiếng như:
Sát sạt – sát sàn sạt Trụi lủi – trụi thui lủi khét lẹt – khét lèn lẹt dửng dưng – dửng dừng dưng cỏn con – cỏn còn con
tẻo teo – tẻo tèo teo
tí ti – tí tì ti cuống cuồng – cuống cuồng cuồng nhẽo nhèo – nhẽo nhèo nhèo
+ Cấu tạo từ láy bốn tiếng:
- “Nhân đôi” từ láy hai tiếng nhưng biến vần của tiếng thứ hai thành “e, a,
ơ, à” cho phù hợp, hài hoà về âm vực giữa các vần, các thanh:
lơ mơ - lơ ma lơ mơ
vớ vẩn – vớ va vớ vẩn
hì hục – hì hà hì hục hấp tấp – hấp ta hấp tấp hớt hải – hớt hơ hớt hải vất vưởng – vất va vất vưởng lủng củng – lủng cà lủng củng đủng đỉnh - đủng đà đủng đỉnh
Trang 11- “Nhân đôi” từ láy hai tiếng nhưng biến đổi sao cho hai tiếng đầu cóthanh điệu thuộc âm vực cao, hai tiếng sau mang thanh điệu âm vực thấp:
bồi hồi – bổi hổi bồi hồi
- “Nhân đôi” từng tiếng của từ láy hai tiếng:
hùng hổ – hùng hùng hổ hổ vội vàng – vội vội vàng vàng
- Thực hiện cách thứ ba vừa nêu, nhưng biến âm đầu của tiếng thứ nhất vàthứ ba thành “l”
nhồm nhoàm – lồm nhồm loàm nhoàm thơ thẩn – lơ thơ lẩn thẩn
- Từ một từ gốc có thể cấu tạo từ láy bốn tiếng chứ không phải chỉ có một
Về lớp từ này, đã có nhiều tranh luận Một vài tác giả đã xếp nó vào từđơn và cho rằng để chúng trong từ đơn chẳng những không ảnh hưởng đếnnguyên tắc phân loại mà còn phù hợp với đặc điểm hoạt động hiện nay củachúng
Tuy nhiên, cũng có một số tác giả xếp lớp từ này là một bộ phận của từphức [8] Trong phạm vi khoá luận này, chúng tôi cũng đồng ý với ý kiến thứhai: xếp lớp từ ngẫu hợp thuộc từ phức Lớp từ này có thể bao gồm:
+ Những từ gốc thuần Việt: bồ câu, bồ hòn, bồ nông, bồ hóng…
+ Những từ vay mượn gốc Hán (hoặc phiên âm qua âm Hán – Việt) thôngqua con đường sách vở hoặc khẩu ngữ (trong số này có những từ mà từng thành
tố của chúng trước đây vốn rõ nghĩa nhưng nay không được người Việt nhậnthức nữa)
Trang 12Ví dụ: mâu thuẫn, hy sinh, trường hợp, mì chính…
+ Những từ vay mượn gốc Ấn - Âu qua con đường sách vở hoặc khẩu ngữ
như: axít, míttinh, sơmi, mùi xoa, xà phòng, cao su, ca cao…cũng có thể được
xếp vào đây
Trong phạm vi tư liệu mà chúng tôi nghiên cứu (Việt Nam Tự Điển),
chúng tôi chỉ khảo từ ngẫu hợp dưới góc độ là những từ gốc thuần Việt như: mồ hôi, mồ côi, cà kê, cà cuống, cà sa, bồ kết…
Từ những điều trên, có thể đưa ra một sơ đồ phân loại các từ trong tiếngViệt như sau:
3 Về mặt nguồn gốc của từ
Về mặt nguồn gốc, có hai bộ phận lớn của từ vựng tiếng Việt cần đượclưu ý là các từ Hán – Việt và từ gốc Ấn - Âu Đó là hai lớp từ vay mượn lớnnhất của tiếng Việt
Trang 13Trong quá trình phát triển của mỗi ngôn ngữ, sự tiếp xúc và vay mượn từvựng của nó đối với các ngôn ngữ khác để làm giàu cho mình là một quy luật tấtyếu Tiếng Việt cũng không phải là một ngoại lệ Trong lịch sử hình thành vàphát triển, tiếng Việt đã có một cuộc tiếp xúc ngôn ngữ - văn hóa vừa lâu dài vềthời gian, vừa gần gũi về không gian để lại dấu ấn rất sâu đậm là sự xuất hiệncủa lớp từ ngữ gốc Hán tồn tại, phát triển và giao thoa với lớp từ ngữ thuần Việt.
Có thể chia quá trình này ra làm hai giai đoạn lớn: Giai đoạn từ đầu Côngnguyên đến đời Đường (thế kỉ VIII đến thế kỉ X), và giai đoạn hai, từ thế kỉ Xtrở về sau Giai đoạn đầu là giai đoạn tiếp xúc một cách tự nhiên giữa tiếng Việt
và tiếng Hán của đạo quân xâm lược Giai đoạn hai là giai đoạn tiếp xúc mộtcách có ý thức của tiếng Việt đối với tiếng Hán “Chính vào lúc sự tiếp xúc ngônngữ không bị ràng buộc bởi yêu cầu chính trị theo quan hệ phụ thuộc, nó lại đisâu vào ngôn ngữ Sự vay mượn lúc này đã đóng góp vai trò của chính ngôn ngữ
đi vay, không phải là sự cưỡng ép” (Phan Ngọc, 1981) Kết quả là hai giai đoạntiếp xúc trên đã đem lại cho từ vựng tiếng Việt hai nguồn gốc từ gốc Hán mà từtrước tới nay ta vẫn gọi là từ Hán cổ và từ Hán Việt với một khối lượng khổng
lồ, mà theo số nghiên cứu thì chiếm tới 70% tổng số các đơn vị từ vựng trongtiếng Việt
+ Từ Hán cổ: là những từ ngữ gốc Hán được du nhập vào tiếng Việt
trong giai đoạn một Ví dụ trong Việt Nam Tự Điển có các từ như: chúa (âm cổ của chủ), chén (âm cổ của trản), chém (âm cổ của trảm), quen (âm cổ của quán), vua (âm cổ của vương)
+ Từ Hán Việt: là những từ gốc Hán du nhập vào tiếng Việt giai đoạn hai,
mà người Việt đọc âm chuẩn (Trường An) của chúng theo hệ thống ngữ âm của
mình Ví dụ, trong Việt Nam Tự Điển có các từ như: giang, giảo, liên, hà, hỏa, hòa, hoàn, sơn
Ngoài hai nguồn gốc là từ Hán cổ và từ Hán Việt, còn có hai loại kháccùng được xếp vào lớp từ gốc Hán là từ Hán Việt Việt hóa và từ gốc Hán dunhập vào tiếng Việt thông qua con đường khẩu ngữ của những người nóiphương ngữ tiếng Hán Trong đó từ Hán Việt Việt hóa là những từ ngữ gốc Hán
Trang 14đã được cải tổ về mặt ngữ âm tới hai lần Cách đọc thứ hai làm mờ hẳn nguồngốc Hán của chúng và đưa chúng vào vị trí sâu hơn trong tiếng Việt Tuy nhiên
do điều kiện và thời gian không cho phép và kiến thức của người viết còn hạnchế, trong khóa luận này chúng tôi không thể thống kê, miêu tả, phân tích hếtđược tất cả các từ gốc Hán mà chỉ dừng lại ở phạm vi từ Hán Việt Như vậy, từHán cổ, Từ Hán Việt Việt hóa, và từ gốc Hán du nhập thông qua con đườngkhẩu ngữ không nằm trong phạm vi quan tâm của chúng tôi trong khóa luận này
3.2 Từ Ấn Âu
Cuối thế kỉ XX thực dân Pháp hoàn thành việc xâm chiếm nước ta, biếnnước ta thành một thuộc địa của chúng Từ đó trở đi Việt Nam đã chịu ảnhhưởng của văn hóa Pháp ngày càng nhiều về tất cả các mặt chính trị, kinh tế, vănhóa, xã hội…địa vị của tiếng Pháp rất được đề cao
Như vậy, bộ phận từ Ấn - Âu vào Việt Nam từ khi nước ta bị thực dânPháp xâm lược và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ họ (giữa thế kỉ XIX) Vừa bằngcon đường khẩu ngữ vừa qua con đường chính thức trong giáo dục nhà trường
và giao tiếp hành chính, hàng loạt các từ gốc Pháp đã du nhập vào tiếng Việt.Mặt khác, một số từ gốc Anh, rồi gần đây một số từ nguồn gốc Nga cũng đã
được tiếp thu như : mít tinh, ten nít, bốc, bồi, cao bồi, tiu, xì ke, côm xô môn, men sê vích, Xô Viết
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng ở Đà Nẵng Năm 1862, chúng chiếm
ba tỉnh miền Đông Nam Bộ Năm 1867, Pháp chiếm trọn Nam Bộ Ngay khi cònchưa chiếm xong Nam Bộ, thực dân Pháp đã xuất bản tờ công báo bằng tiếngViệt đầu tiên tại Sài Gòn là Gia Định báo (năm 1865) với ý đồ vừa coi đây làcông cụ của chế độ thuộc địa, vừa góp phần đẩy lùi vị thế của tiếng Hán ở ViệtNam, dọn đường cho tiếng Pháp chuẩn bị dành địa vị độc tôn, thay thế tiếngHán
Năm 1884, do thái độ khiếp nhược của triều đình nhà Nguyễn, với hòaước Giáp Thân, Pháp đã chính thức lập xong chế độ thuộc địa của chúng ở ViệtNam Năm1905, tờ báo đầu tiên vừa viết bằng chữ Quốc ngữ vừa viết bằng chữHán xuất hiện tại Hà Nội, là tờ Đại Việt Tân báo
Trang 15Như vậy, cho đến năm 1905, có nhiều tờ báo bằng tiếng Việt đã ra đời, cókèm tiếng Pháp và tiếng Hán Chữ Quốc ngữ và tiếng Việt lúc này vấp phải haitrở ngại ngăn cản sự phát triển thống nhất, đó là âm mưu “chia để trị” và chínhsách “ nô dịch văn hóa” của thực dân Pháp Thực tế nhà cầm quyền Pháp ở ViệtNam đã dùng tiếng Pháp, chữ Pháp trong văn kiện, giấy tờ của bộ máy cai trị,tăng cường việc dạy tiếng Pháp trong nhà trường, hạn chế vai trò của tiếng Hán
và chữ Hán
Nhìn chung, các từ gốc Ấn - Âu (chủ yếu là gốc Pháp) đã thâm nhập vàokhá nhiều mặt của đời sống xã hội Từ đời sống thường ngày (bao gồm tên gọimột số mốn ăn, thuốc men, quần áo, đồ đạc, dụng cụ ) cho đến các lĩnh vực vănhóa, nghệ thuật, khoa học, kỹ thuật, y tế đều có chúng tham gia Ví dụ trong
Việt Nam Tự Điển có các từ như sau: A men, bom, bồi, bơm, bơ, Da tô, den, đầm, ga, lò xo, lít, mét
3.3 Từ Địa Phương
Tiếng Việt là một ngôn ngữ có tính thống nhất trong sự đa dạng Thể hiệnmột phần đặc tính này là sự tồn tại của bộ phận từ địa phương bên cạnh lớp từvựng chung phổ biến toàn dân
Theo đó, từ địa phương là những từ chỉ có ở một phương ngữ nào đó củangôn ngữ dân tộc và chỉ phổ biến trong phạm vi lãnh thổ của địa phương đó mà
thôi Ví dụ, trong Việt Nam Tự Điển có các từ như: Ăn sỉ, bài chài, bán mắc, bặn, ben, bóng, bủ, chằn, chừ, ghe, đọi, tê, tề, trốc, vọp bẻ, vô
Như vậy, nghiên cứu từ địa không thể tách rời với hoàn cảnh văn hóa xã
hội Trong sách “Tiếng Việt trên các miền đất nước”, Giáo sư Hoàng Thị Châu
có đề cập một cách biện chứng đến sự tương quan cần yếu cần nắm rõ giữa bốicảnh xã hội và bối cảnh ngôn ngữ, coi đó như một “cái chìa khóa không thể thayđổi” để lí giải các hiện tượng ngôn ngữ, hoặc ngược lại như sau: “ Nếu như cácngôn ngữ là biểu tượng trong không gian của lịch sử đã diễn ra trong thời gian,thì các phương ngữ, thổ ngữ cũng đồng thời là sự biểu hiện quá trình phát triểnlịch sử của dân tộc trong thời gian đã ảnh xạ lên bề mặt của đất nước” (trang219)
Trang 164 Cụm từ cố định
Cụm từ cố định là đơn vị do một số từ hợp lại, tồn tại với tư cách một đơn
vị có sẵn như từ, có thành tố cấu tạo và ngữ nghĩa cũng ổn định như từ
Cụm từ cố định được gọi là đơn vị tương đương với từ Chúng tươngđương với nhau về tư cách của những đơn vị được làm sẵn trong ngôn ngữ; vàtương đương với nhau về chức năng định danh, chức năng tham gia tạo câu
Cụm từ cố định tiếng Việt được phân thành ba loại:
Ví dụ:
nuôi ong tay áo thắt lưng buộc bụng chó cắn áo rách méo miệng đòi ăn xôi vò hồn xiêu phách lạc
Trang 17Ví dụ: ngã vào võng đào, cõng rắn cắn gà nhà, nuôi ong tay áo, mẹ tròn con vuông…
Căn cứ vào nội dung, kết hợp với cấu trúc có thể phân loại thành ngữmiêu tả ẩn dụ thành các loại nhỏ:
Thành ngữ miêu tả ẩn dụ nêu một sự kiện Ví dụ: ngã vào võng đào,
nước đổ đầu vịt, hàng thịt nguýt hàng cá, vải thưa che mắt thánh…
Thành ngữ miêu tả ẩn dụ nêu hai sự kiện tương đồng Ví dụ: ăn trên
ngồi trốc, mẹ tròn con vuông, ba đầu sáu tay…
Thành ngữ miêu tả ẩn dụ nêu hai sự kiện tương phản Ví dụ: miệng
nam mô bụng một bồ dao găm, miệng thơn thớt dạ ớt ngâm, mặt sứa gan lim, xấu máu đòi ăn của độc…
Quán ngữ:
+ Định nghĩa:
Quán ngữ là những cụm từ được dùng lặp đi lặp lại trong các loại diễn từthuộc các phong cách khác nhau Chức năng của chúng là đưa đẩy, rào đón, đểnhấn mạnh hoặc để liên kết trong diễn từ
Ví dụ: của đáng tội, nói tóm lại, nói cách khác, nói khí vô phép, nói bỏ ngoài tai, đáng chú ý là, chẳng nước non gì, nghĩa là…
Quán ngữ chiếm vị trí trung gian giữa cụm từ tự do và các kiểu cụm từ cốđịnh
+ Phân loại:
Dựa vào phạm vi và tính chất phong cách, có thể chia quán ngữ thành cácloại sau:
Trang 18- Quán ngữ hay dùng trong phong cách hội thoại, khẩu ngữ Ví dụ: khí vô phép, khổ một nỗi là, đùng một cái, nói dại ra, cắn rơm cắn cỏ, bỏ quá cho, của đáng tội…
- Quán ngữ hay dùng trong phong cách viết (khoa học, chính luận) Ví dụ:
có thể kết luận rằng, đồng thời, rút cục là, như trên đã nói, sự thực là, vấn đề là, ngược lại, nói tóm lại, kết quả là…
5 Một số vấn đề về từ điển và cấu trúc của Việt Nam Tự Điển
5.1 Một số vấn đề về từ điển
Từ điển là loại sách tra cứu tập hợp các đơn vị ngôn ngữ (thường là cácđơn vị từ vựng), cung cấp những thông tin, kiến thức và những giải thích cầnthiết đối với những đơn vị đó đồng thời sắp xếp chúng theo một thứ tự nhất định
để dễ tra tìm
Từ điển là phương tiện để miêu tả ngôn ngữ và phục vụ chuẩn hoá ngônngữ Nó giúp cho việc dạy và học tiếng (bản ngữ hoặc ngoại ngữ), đồng thời nóphục vụ cho sử dụng ngôn ngữ (giao tiếp bản ngữ, giao tiếp liên ngôn ngữ nhờcác từ điển hội thoại, từ điển song ngữ, từ điển tường giải…) và nghiên cứu về
từ vựng của ngôn ngữ
Từ điển cho hình ảnh gần đúng và đáng tin cậy về từ vựng chứ chưa phảitoàn bộ từ vựng Như vậy, nghiên cứu Việt Nam Tự Điển sẽ cho chúng ta thấy
Trang 19diện mạo gần đúng chứ không phản ánh hết được khối lượng từ vựng tiếng Việtgiai đoạn đầu thế kỉ XX.
Từ vựng gồm có các đơn vị từ vựng Mỗi một đơn vị từ vựng có thể là từhay cụm từ cố định Như vậy, mỗi một đơn vị từ vựng sẽ là một từ hoặc ngữ.Khi xem xét vốn từ vựng chúng ta có thể gọi các đơn vị từ vựng là các từ ngữthì cũng có thể chấp nhận được Mỗi đơn vị từ vựng thường được đưa vào từđiển dưới dạng một mục từ và gọi là một mục từ
5.2 Cấu trúc từ điển
Cấu trúc từ điển được xem xét từ hai bình diện là: Cấu trúc vĩ mô và cấutrúc vi mô
5.2.1 Cấu trúc vĩ mô của từ điển
Cấu trúc vĩ mô là cơ cấu, cách thức tổ chức bảng từ của từ điển Đó là cấutrúc tổng thể của bảng từ phản ánh qua cách thức thu thập, sắp xếp, tổ chức các
từ ngữ theo những trật tự xác định
Một cấu trúc vĩ mô hợp lý phải thể hiện được tính nhất quán về hình thứccủa các từ ngữ, đảm bảo cân đối về lượng giữa các lớp từ và các kiểu từ, các từloại Nó phải loại bỏ được những từ ngữ đã quá cũ, không còn giá trị sử dụngtrong trạng thái ngôn ngữ hiện tại, đồng thời phải thu thập kịp thời, không bỏ sótnhững từ ngữ mới để đảm bảo tính cập nhật của từ điển, đáp ứng nhu cầu tracứu, sử dụng ngôn ngữ đương đại
Cấu trúc vĩ mô của từ điển phản ánh khá trung thực diện mạo của từ vựngmột ngôn ngữ vào thời kì mà nó được biên soạn
Cấu trúc vĩ mô của Việt Nam Tự Điển:
Cấu trúc vĩ mô của Việt Nam Tự Điển khá toàn diện, bao gồm đầy đủ:
+ Các từ loại: danh từ, động từ, tính từ…ví dụ: mèo, chó, bát, đũa, ăn, ngủ, nằm, xanh, đỏ, đẹp, trẻ trung…
+ Các thành phần từ vựng theo các phong cách khác nhau: nói, viết, khẩu
ngữ, địa phương…ví dụ:ha, há, hả, ăn sỉ, bầm, bu, dừ, dử, nhòm, dòm, dốt,…
+ Các kiểu cấu trúc: đơn, phức, cụm từ…ví dụ: nói, nhìn, nằm, lung linh, xum xuê, hỏm hòm hom, sạch sành sanh…
Trang 20Việt Nam Tự Điển có cấu trúc vĩ mô khá cân đối, gồm đầy đủ các thànhphần từ vựng xét về mặt cấu trúc như: từ đơn, từ ghép, từ láy và các thành phầnxét theo phạm vi sử dụng, nguồn gốc như: từ địa phương, từ Hán – Việt, từ Ấn -
Âu Tuy vậy, từ vay mượn, từ địa phương, tiếng lóng còn ít được đưa vào Đặcbiệt, một bộ phận thuật ngữ không được các nhà biên soạn chú ý đưa vào giảithích
5.2.2 Cấu trúc vi mô của từ điển
Cấu trúc vi mô là tập hợp toàn bộ những thông tin về từ ngữ đứng làmđầu mục từ, được sắp xếp tổ chức thành một cơ cấu có tính hệ thống để thuyếtminh, giải thích cho từ đầu mục
Cấu trúc vi mô của Việt Nam Tự Điển:
Cấu trúc vi mô của Việt Nam Tự Điển là cấu trúc hai bậc:
Cụ thể hơn, có thể dẫn lại mục từ “CẬP” trên đây để minh hoạ như sau:Cập: kịp, theo tới nơi
Cập cách: đúng hạn, đúng lối, đúng mực Người ấy tuổi đã cập cách ra ứng cử.
Cập đệ: thi đỗ, chỉ nói riêng về đại khoa từ tam giác trở lên Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh (tức là trạng nguyên).
Trang 21Cập kê: đến tuổi cài trâm Theo tục cổ bên Tàu, con gái 15 tuổi thì cho cài
trâm Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê (K).
Cập kiến: còn được trông thấy Nói riêng về cha mẹ còn sống mà trông
thấy con cái làm nên Bố mẹ già cập kiến con cái thành danh.
Cập kỳ: tới hẹn Thuế khoá cập kỳ.
Cập môn: được đến cửa Nói riêng về học trò thụ nghiệp thầy Học trò xin đến cập môn thầy.
Cập thì: kịp thời Học quí cập thì (sự học phải cần từ lúc còn bé thì mới vừa thì).
Như vậy, các thông tin được cung cấp trong cấu trúc vi mô của Việt Nam
Tự Điển chỉ bao gồm các thông tin:
+ Thông tin về ngữ nghĩa
Tuy nhiên, khoá luận này không bàn sâu về lý luận từ điển nên chúng tôichỉ dừng lại ở đây
6 Phương pháp làm việc
Để thực hiện khoá luận này, chúng tôi áp dụng các thao tác, thủ tục làmviệc thông thường đã tiếp thu được trong nhà trường như: thống kê, mô tả, sosánh, đối chiếu và phân tích nhằm:
+Tìm ra những tương quan về lượng giữa các lớp/ nhóm từ trong ViệtNam Tự Điển
Trang 22+ Mô tả, phân tích tình hình, đặc điểm của các lớp từ để từ đó rút ra cácnhận định cần thiết.
+ Đối chiếu, so sánh với “Từ điển tiếng Việt” xuất bản năm 1994 để tìm
kiếm thêm những thông tin cần thiết
Về mặt tư liệu nghiên cứu, chúng tôi chấp nhận và miêu tả khách quancác tư liệu thực tiễn được ghi nhận trong Việt Nam Tự Điển Không đi vào bìnhluận những vấn đề lý thuyết về từ và từ điển học, chúng tôi coi mỗi mục từ đượcđưa vào Việt Nam Tự Điển là một đơn vị từ vựng để quan sát, thống kê, tập hợp
và miêu tả, phân tích
Trang 23CHƯƠNG II PHÂN TÍCH TỪ VỰNG TIẾNG VIỆT TRONG “VIỆT NAM TỰ ĐIỂN”
THEO CẤU TRÚC CỦA ĐƠN VỊ TỪ VỰNG
Trên cơ sở của những quan niệm lý thuyết đã hình thành trong chương 1,chúng tôi đã kiểm kê được toàn bộ các đơn vị từ vựng được đưa vào Việt Nam
Tự Điển và thu được kết quả cụ thể như sau:
Bảng số lượng các đơn vị từ vựng xét theo cấu trúc
Bảng này cho thấy:
Vốn từ ngữ được đưa vào Việt Nam Tự Điển là 25.912 đơn vị, trong đó từđơn tiết là 9.213 từ, chiếm 35,55%, phần còn lại là từ đa tiết (từ ghép, từ láy, từngẫu hợp và cụm từ, kể cả cụm từ cố định và cụm từ tự do)
Điều đặc biệt muốn nói là Việt Nam Tự Điển thu thập hơn 90 đơn vị từđiển là những cụm từ tự do Con số này tuy không lớn, nhưng thể hiện khá rõquan điểm của những người biên soạn Các nhà biên soạn Việt Nam Tự Điểndường như không câu nệ hoàn toàn vào đơn vị từ hay cụm từ cố định mà rất chú
ý đến tính quen dùng, hay dùng của cụm từ; đồng thời cũng rất chú ý đến việchướng dẫn sử dụng ngôn ngữ, giáo dục về từ ngữ, giúp cho việc dạy và họctiếng mẹ đẻ
Số lượng đơn vị mục từ được đưa vào tự điển 25.912 là quá ít so với khảnăng vốn có của tiếng Việt lúc đó Lý do có lẽ là bởi các nhà biên soạn quá chú
ý đến từ ngữ thuộc phong cách viết, được ghi nhận trong các tác phẩm và nguồnvăn liệu nên từ ngữ khẩu ngữ, từ ngữ dùng trong lời ăn tiếng nói hàng ngày của
Trang 24nhân dân ít được đưa vào.Từ ngữ địa phương, tiếng lóng, từ nghề nghiệp theothống kê của chúng tôi cũng rất ít xuất hiện
Điều đặc biệt nữa là trong Việt Nam Tự Điển đã xuất hiện một lượngđáng kể các từ ngữ chuyên môn, thuật ngữ khoa học Có lẽ đây chính là những
dấu hiệu chuẩn bị cho công trình “Danh từ khoa học” của học giả Hoàng Xuân
Hãn ra đời liền sau Việt Nam Tự Điển mấy năm (1944)
1 Từ đơn
Từ đơn là từ được cấu tạo chỉ bằng một tiếng Trong tổng số 25.912 đơn
vị từ ngữ thì số lượng từ đơn là 9.213 từ chiếm 35,55%, tức là hơn 1/3 tổng số.Điều này không có gì lạ, vì tiếng Việt vốn có nét đặc trưng là chỉ số (Hình vịtương quan với từ) thường rất gần với 1; tức là về căn bản, từ tiếng Việt là đơntiết; còn những đơn vị mà chúng tôi theo quan niệm thông thường, gọi là “từghép” thì thực ra còn có rất nhiều vấn đề cần phải bàn thêm về tư cách “từ’ củachúng Tuy nhiên, đó không phải là nhiệm vụ thảo luận của khoá luận này
từ có số tiếng chẵn (4 tiếng) chiếm tỉ lệ cao hơn hẳn cụm từ có ba tiếng
Trong “Từ điển tiếng Việt” năm 1994 có 19.366 đơn vị song tiết vừa cóquan hệ đẳng lập vừa có quan hệ chính phụ, xấp xỉ 50% từ, ngữ các loại của từđiển này Như vậy là số lượng từ ghép có tăng lên Điều này có thể lí giải được
là do quá trình sản sinh để đáp ứng nhu cầu định danh của tiếng Việt Các từghép gọi tên các sự vật, hiện tượng trong cuộc sống của con người ngày càngtăng lên cùng với sự phát triển, khám phá của xã hội loài người về mọi mặt củađời sống
Theo thống kê của chúng tôi thì tỉ lệ từ đơn/ghép trong Việt Nam Tự Điển
là 63,9% tức là từ đơn bằng 63,9% số từ ghép
3 Từ láy
Trang 25Trong các ngôn ngữ đơn lập kiểu như tiếng Việt, từ láy có một vị trí rấtquan trọng trong việc tạo ra tiết tấu, ngữ điệu của câu Một câu văn xuôi nếu sửdụng nhiều từ láy đọc lên ta thấy ngay có sự nhịp nhàng, uyển chuyển Một câuthơ chứa nhiều từ láy thường là câu thơ nghiêng về chất trữ tình, lấy nội tâm,tâm lý làm đối tượng miêu tả.
Vo vo sợi giắt đầu hồi Lang thang sợi rải khắp nơi trong vườn
(Phạm Đình Ân – Tóc mẹ)Hoa hồng không tặng ai mua
Sao bằng hoa cải lưa thưa nắng vàng
(Nguyễn Đức Mậu – Một chút Nguyễn Bính)
Nứt ra một lỗ hỏm hòm hom
(Hồ Xuân Hương)
Đồ tế nhuyễn của riêng tây
Sạch sành sanh vét cho đầy túi tham
(Nguyễn Du – Truyện Kiều)
Số lượng từ láy thống kê được trong Việt Nam Tự Điển là 2.136 từ, chiếm8,24% tổng vốn từ, trong đó từ láy hoàn toàn có 924 từ, chiếm 43,3% tổng số từláy; còn lại là láy bộ phận
Trong số hơn hai nghìn từ láy vừa nói, chúng tôi chỉ kiểm được có 3 từláy ba, chiếm 0,1% vốn từ vựng của Việt Nam Tự Điển, và 12 từ láy tư, chiếm0,6% Các từ láy đôi chiếm gần như tuyệt đối trong vốn từ láy tiếng Việt thuthập trong Việt Nam Tự Điển: 99,3% số từ láy
Kết quả này có thể được trình bày bằng một bảng như sau:
Trang 26Ở chương 1 chúng tôi đã thống nhất quan điểm chỉ khảo sát từ ngẫu hợp
là những từ gốc thuần Việt nên đã khảo trong Việt Nam Tự Điển được một danhsách các từ sau đây:
Danh sách từ ngẫu hợp trong Việt Nam Tự Điển
Trang 27Từ ngẫu hợp là mảng kiến thức rất lý thú Tuy vậy, để hiểu hết đượcchúng cần phải có những kiến thức về từ nguyên và lịch sử Do hạn chế về thờigian và trình độ nên trong khoá luận này chúng tôi chỉ đề cập đến từ ngẫu hợp ởmức độ thống kê, khảo sát chứ không đi sâu vào tìm hiểu nghĩa từ nguyên củachúng.
Trang 28Các cụm từ này đều có một số đặc điểm như:
+ Hầu hết đều có 4 tiếng Tức là chúng cũng có tính cân đối cao như cáccụm từ Thuần Việt
+ Các cụm từ vay mượn yếu tố Hán đều có đủ cả 3 loại quan hệ:
- Quan hệ chính phụ, ví dụ: hằng hà sa số…
- Quan hệ đẳng lập, ví dụ: bán tín bán nghi, bán ẩn bán hiện…
- Quan hệ chủ vị, ví dụ: bán thân bất toại…
+ Các cụm từ có chứa yếu tố Hán có giá trị gợi cảm, hình tượng rất cao.Một số cụm từ đọc lên không phải ai cũng có thể hiểu được ngay nghĩa củachúng
Ví dụ:
Bạch thủ thành gia Bạch thủ tri phú Bất đắc bất nhiên Bạo thiên nghịch địa
Án hướng triệt mạch Cửu chưng cửu sái
Trang 29Chí tái chí tam
Cụm từ chứa yếu tố gốc Hán là một bộ phận từ, ngữ có giá trị biểu cảmrất cao Vì vậy, để giúp cho việc hiểu nghĩa của các cụm từ này chúng tôi lậpbảng giải thích nghĩa của chúng như sau:
Bảng giải thích nghĩa của các cụm từ vay mượn yếu tố Hán
6 Bách nhân bách khẩu Chỗ đông người, mỗi người một câu
lòng
9 Bạch nhật thanh thiên Giữa lúc ban ngày ai ai cũng trông thấy
làm của công
chỗ ẩm thấp, tối tăm hay là một nửa ở mặtđất, một nửa ở trong đất
được rõ cả toàn thể
nhắc lên được
người hung tợn làm gì không nghĩ trước
nghịch, dẫu trời đất cũng không nể
Trang 3024 Bất đắc dĩ Không thể dừng được, cực chẳng đã
ngoại quốc đi lại
vui vẻ như muốn hát, muốn múa
hay)
Nghĩa bóng là: cứu người trong cơn hoạnnạn
vị thuốc
47 Chích thủ không
quyền
Một tay và tay không
một thời gian
Trang 31thể đếm được.
Tiểu kết
Trong chương này chúng tôi tập trung khảo sát và thống kê các đơn vị từvựng tiếng Việt trong Việt Nam Tự Điển theo cấu trúc của chúng Qua phântích, chúng tôi rút ra được một vài nhận xét bước đầu như sau:
Trong tổng số hơn 25 nghìn từ ngữ thống kê được trong từ điển, từ ghépchiếm tỉ lệ cao nhất (trên 50% số từ ngữ), xếp vị trí thứ hai là từ đơn, tiếp đó là
từ láy Sở dĩ từ song tiết chiếm tỉ lệ cao nhất là bởi người Việt vốn ưa lối nói cânđối, hài hoà về âm điệu, và đây là bộ phận dễ sản sinh, tốc độ sản sinh nhanh đểđáp ứng nhu cầu định danh của xã hội Từ láy trong Việt Nam Tự Điển cũngchiếm một tỉ lệ tương đối cao là bởi đây là quyển từ điển mang tính chất ngữvăn rất cao Mục từ được thu thập giải thích chủ yếu là có trong văn bản diễnngôn, sách vở và các tác phẩm văn học
Cụm từ và từ ngẫu hợp được Việt Nam Tự Điển đưa vào không nhiều.Chúng chỉ chiếm một tỉ lệ không đáng kể Đặc biệt, trong số các cụm từ, có một
số lượng tương đối lớn các cụm từ chứa yếu tố gốc Hán Chúng là những cụm từ
có giá trị biểu cảm, hình tượng rất cao, tuy vậy có một số cụm từ trong ViệtNam Tự Điển ngày nay không còn được sử dụng nữa
Tóm lại, qua những điều mà chúng tôi đã trình bày ở trên, có thể nhậnđịnh rằng mặc dù chưa phản ánh hết được toàn bộ vốn từ vựng phong phú củatiếng Việt nhưng Việt Nam Tự Điển đã cho chúng ta một hình dung tương đốiđúng và đáng tin cậy về diện mạo của tiếng Việt lúc bấy giờ
Đây cũng là những kết quả thêm vào chuỗi kết quả của các nhà nghiêncứu khác để các lát cắt trong nghiên cứu lịch sử từ vựng tiếng Việt được liên tụchơn
Trang 33CHƯƠNG III PHÂN TÍCH TỪ VỰNG TIẾNG VIỆT TRONG “VIỆT NAM TỰ ĐIỂN”
từ ngữ Tuy số lượng rất lớn nhưng chúng làm thành một chỉnh thể gồm những
hệ thống nhỏ có liên quan đến nhau, gắn bó với nhau chặt chẽ Các tiểu hệ thốngnày đến lượt nó lại có thể phân ra thành các tiểu hệ thống nhỏ hơn nữa, phân biệtnhau bởi những đặc trưng, thuộc tính của chúng Chẳng hạn, hệ thống từ HánViệt phân biệt với hệ thống từ thuần Việt bởi đặc trưng nguồn gốc Từ thuầnViệt có nguồn gốc bản ngữ, còn từ Hán Việt lại có nguồn gốc ngoại lai (vaymượn từ tiếng Hán) Bên cạnh đó, từ địa phương phân biệt với từ vựng chung(từ toàn dân) bởi đặc trưng phạm vi sử dụng Tùy thuộc vào những tiêu chí khácnhau mà người ta có nhiều cách phân chia vốn từ tiếng Việt ra thành nhiều tiểu
hệ thống, tức các thành phần từ vựng khác nhau Có thể khái quát bức tranhphân loại bằng bảng dưới đây:
Trang 34Thuật ngữ
Từ địa phương
Từ nghề nghiệpTiếng lóngPhong cách sử dụng
Lớp từ thuộc phong cách nói ( khẩu ngữ )Lớp từ thuộc phong cách viết
Lớp từ thuộc trung hoa về mặt phong cách
Trong chương này chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu một số lớp từ đặcbiệt trong Việt Nam tự điển, trước hết là lớp từ nguồn gốc Hán Việt, nguồn gốc
Ấn Âu, từ địa phương Ngoài ra ở chương này, chúng tôi cũng đi vào phân tíchlớp tên riêng được phản ánh trong Việt Nam Tự Điển, mặc dù tên riêng khôngphải là lớp từ được phân theo nguồn gốc và phạm vi sử dụng
Trang 351 Các từ ngữ Hán Việt
Sau khi khảo sát 25.912 mục từ trong Việt Nam Tự Điển, chúng tôi thuđược kết quả phân bố các đơn vị từ ngữ Hán Việt như sau:
Việt Nam tự điển
Qua thống kê, chúng tôi thấy lớp từ Hán Việt tồn tại trong Việt Nam TựĐiển chiếm số lượng rất cao (47,06%) Con số này phù hợp với thực trạng dễthấy của tiếng Việt: Các từ ngữ tiếp nhận của tiếng Hán đọc theo âm Hán Việt là
bộ phận chủ yếu trong các từ ngoại lai của nó Tiếng Việt đã tiếp nhận một cách
có hệ thống một khối lượng to lớn các từ ngữ của tiếng Hán thuộc đủ mọi lĩnhvực hoạt động:
a Các mục từ thuộc lĩnh vực tự nhiên:
- Các mục từ chỉ các con vật: Báo, hoàng trùng, hoàng oanh, hợi, qui, sư
tử, chim ưng, ưng khuyển, trùng
- Các mục từ chỉ cây cối: Bạch đàn, bạch nhật, bạc hà, cam lộ, cam thảo, chi, chi lan, cúc, hồ tiêu, mai, trầm hương
- Các mục từ chỉ màu sắc: Hồng, huyền, hồng, lục, lam
- Các mục từ chỉ tên các vị thuốc: Bạch đồng nam, bạch tật lê, bạch thược, bạch truật, quy nhân, quy vĩ, hoàng bá, hoàng cầm
- Các mục từ chỉ số đếm: Nhất, nhị, tam, tứ, ngũ, lục, thất, bát, cửu, thập
- Các mục từ chỉ can chi: Can chi, tí, sửu, dần, mão, thìn, tị, ngọ, mùi,
thân, hợi
b Các mục từ thuộc về đời sống sinh hoạt xã hội:
- Gồm các mục từ sau: Dâm dục, dâm loạn, gian tình, gian tham, hạ gục,
hạ thế,hòa thuận, hòa giải, hoan nghênh, hiếp, hiểu, chết yểu, hối hận, hiếp, hiểu, tật bệnh
c Các mục từ thuộc lĩnh vực chính trị, xã hội:
Trang 36- Các mục từ chỉ chức danh, phẩm hàm thời phong kiến: Quan hàm, quan
tư, quan tước, quản trọng, đề đốc, đề huyện, đề hình, đề lại, phủ doãn, phủ thừa, huyện lệnh, thành thủ úy,
- Các mục từ chỉ đơn vị hành chính: Kinh đô, kinh kỳ, phủ, huyện, quận, nha môn, thủ đô, thủ phủ, thôn, xã, thị xã, thành phố, thành thị,
d Các mục từ thuộc lĩnh vực kinh tế:
- Gồm các mục từ sau: Công nghệ, công xưởng, nông nghiệp, nông vụ, nội hóa, xuất cảng, thặng dư, sản xuất, thương mại, thương nghiệp, thương giới
e Các mục từ thuộc lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng:
- Gồm các mục từ như: A men, A di đà phật, Cơ đốc giáo, Cực lạc, chiêu hồn, duyên kiếp, cấn (quẻ bói), hồi giáo, đạo giáo, khổng giáo, thổ công, thiên đàng, môn đồ, tông đồ, tụng niệm
f Các mục từ thuộc lĩnh vực giáo dục:
- Gồm các mục từ: Bảng nhãn, bảng vàng, cử nhân, đỗ đạt, đại học, giảng giải, chương, luận ngữ tứ thư, ngũ kinh, sinh đồ, sĩ tử, tú tài, thủ khoa, trạng nguyên
g Các mục từ thuộc lĩnh vực quân sự:
- Gồm các mục từ: Án ngữ, anh hùng, cảnh giới, chiến tranh, chiến trận, chỉ huy, đô đốc, chinh phạt, chinh chiến, nhập ngũ, xung đột, quân đội, quân luật, quân lệnh
h Các mục từ thuộc lĩnh vực y học:
- Gồm các mục từ sau: Bệnh viện, bệnh tình, bệnh nhân, ban (một thứ bệnh), giang mai, thương hàn, thương tích, y khoa, y tế, y sĩ, y viện, huyết mạch
Như vậy, kết quả của quá trình tiếp xúc lâu dài giữa văn hóa Hán và vănhóa Việt nói chung, giữa tiếng Hán và tiếng Việt nói riêng trong thời kì Bắcthuộc, về mặt ngôn ngữ là sự du nhập mạnh của một loạt các từ tiếng Hán vàotiếng Việt, nhưng chúng bị chi phối bởi quy luật của ngôn ngữ tiếng Việt và
Trang 37cách sử dụng của người Việt Sau khi thống kê, miêu tả thành phần từ Hán Việttrong Việt Nam Tự Điển, chúng tôi có một số nhận xét sau:
1 Trong số 12.193 mục từ Hán Việt, điều dễ nhận thấy là số mục từ thuộc
lĩnh vực tự nhiên, sinh hoạt xã hội, chính trị, tôn giáo chiếm phần lớn Tiếp sau
đó là các mục từ thuộc các lĩnh vực: giáo dục, quân sự, tư pháp, kinh tế, y học,cũng có một khối lượng không nhỏ trong Việt Nam Tự Điển Điều này chứng tỏrằng, các tác giả của Việt Nam Tự Điển không chỉ tập trung vào vốn từ thôngdụng được sử dụng trong đời sống hàng ngày mà còn quan tâm đến các thuậtngữ sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nữa Chỉ tính số lượng từ Hán Việt giữaViệt Nam Tự Điển (12.193 từ Hán Việt) và từ điển Việt – Bồ - La củaA.De.Rhodes (1.097 từ Hán Việt), chúng tôi thấy số lượng từ Hán Việt trongvốn từ vựng tiếng Việt đã tăng lên rất nhiều Và nếu như A.De.Rhodes chỉ tậptrung thu thập những từ Hán Việt thuộc lĩnh vực tự nhiên, sinh hoạt xã hội, tôngiáo, hoàn toàn không có các mục từ thuộc lĩnh vực kinh tế, khoa học kĩ thuật,thì đến Việt Nam Tự Điển các tác giả Hội Khai Trí Tiến Đức đã cho chúng tathấy sự vay mượn từ Hán Việt vào nước ta rất mạnh, với khối lượng khổng lồcác từ ngữ thuộc tất cả các lĩnh vực
2 Đáng chú ý là, vì đây là cuốn tự điển nên các tác giả của Việt Nam tự
điển thu thập các Hán tự đơn như là các từ đơn trong tiếng Việt Hiện nay, cácmục từ này chỉ có tư cách là các yếu tố cấu tạo từ (hay hình vị) trong tiếng Việt.Khả năng sử dụng độc lập của các mục từ đơn tiết Hán Việt này trong tiếng Việthiện tại không còn nữa, ví dụ:
Trang 38Mục từ trong
Là hình vị cấu tạo trong các từ
đành rồi, không lo lắng gì nữa
An bài, an phận
3 Đặc biệt, trong số các mục từ Hán Việt, chúng tôi thấy có khá nhiều
mục từ được chú thích về khả năng kết hợp của từ Điều này chứng tỏ ngay từthời kì đó các tác giả của Việt Nam đã rất có ý thức không chỉ trong việc thuthập các mục từ mà họ còn cung cấp cho chúng ta cách sử dụng các từ Hán Việt
Đó là các từ không có khả năng hoạt động độc lập, được chú giải là : “không dùng một mình”, nghĩa là chúng chỉ được coi như hình vị cấu tạo từ, ví dụ:
Trang 39Mục từ trong Việt
Nam tự điển
Nghĩa trong Việt
Trang 40tập cho quen
- Kể lại, đọc đi đọc lại cho thuộc
tinh
5 Khảo sát từ Hán Việt trong Việt Nam Tự Điển, chúng tôi còn thấy có
hiện tượng nhiều từ Hán Việt được rút ngắn từ lại theo cách nói của người Việt,
mà vẫn đảm bảo đúng nghĩa của từ Ví dụ các mục từ: Cử nhân - cử (cụ cử), tú tài - tú (cậu tú), thục địa – thục (củ thục), tiểu đồng – tiểu (chú tiểu), tiểu tiện -
tiểu (đi tiểu)
Đặc biệt, trong số 12.193 mục từ Hán Việt mà chúng tôi thống kê đượctrong Việt Nam Tự Điển, có nhiều mục từ mà ngày nay rất ít được sử dụng hoặckhông còn được sử dụng nữa, ví dụ :
- Canh trương: Thay đổi, mở mang
- Cao chi: Dầu mỡ
- Nha lại: Người thuộc lại ở các nha
- Nha môn: Cửa dinh các quan
- Mỗ: Tôi, ta, tự xưng khi nói một mình
- Liêu thuộc: Các quan nhỏ thuộc quyền một quan lớn
- Hoàng khảo: Bố vua nói về khi đã chết
- Phủ doãn: Chức quan coi phủ sở, tại chỗ kinh đô
- Phủ đường: Công đường quan phủ
- Quan điền: Ruộng công của các quan viên
- Quận mã: Tiếng gọi chồng của quận chúa
- Thám hoa: Bậc đỗ thứ 3 trong hàng tiến sĩ
- Thành thủ úy: Chức quan võ coi giữ khu vực ở trong thành