1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thuế chống bán phá giá trong đầu tư quốc tế

57 341 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 504,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên,việc bán phá giá này xảy ra với một lượng lớn và trong thời gian dài, làm giảm giá ở thị trường nước nhập khẩu sẽ gây tác động tới lợi ích của nước nhập khẩu.Người tiêu dùng sẽ

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Từ khi thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế cho đến nay Việt nam đã

có nhiều sự phát triển vượt bậc Nhiều văn bản pháp lý liên quan tới thương mạiđược ban hành như Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, luật đầu tư nước ngoài,pháp lệnh bán phá giá, thuế chống bán phá giá làm cho kinh tế Nước ta phát triểntương đối ổn định

Với việc thực hiện đường lối chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Việt Nam

đã đạt được nhiều thành tựu trong việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa Trong khimột số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam ngày càng có uy tín trên thị trường thếgiới, đã xuất hiện một số trường hợp hàng xuất khẩu của ta bị nước nhập khẩuđiều tra và áp dụng thuế chống bán phá giá Điều này gây ra thiệt hại cho cácdoanh nghiệp Nước ta Bên cạnh đó, do việc văn bản pháp lý về thuế chống bánphá giá mới được ban hành nên việc thực thi còn khó khăn Chính vì vậy, Việtnam còn thiếu kinh nghiệm trong việc kiện các doanh nghiệp nước ngoài, áp thuế

họ khi họ bán phá giá vào nước ta Điều này làm thiệt hại đáng kể tới các nhà sảnxuất trong nước, làm giảm giá, nguy cơ nhiều doanh nghiệp bị phá sản do sự cạnhtranh của nước ngoài

Với những lý do như vậy cùng việc tìm hiểu thực trạng về thuế chống bán

phá giá của Việt Nam hiện nay nên nhóm em lựa chọn đề tài “ Thuế chống bán phá giá trong đầu tư quốc tế”

Bố cục của bài thảo luận gồm ba phần:

Phần I: Lý luận chung về thuế chống bán phá giá

Phần II: Thực trạng thuế chống bán phá giá ở Việt Nam

Phần III: Giải pháp hoàn thiện việc áp dụng thuế chống bán phá giá ở Việt Nam

Trang 4

PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ

Ví dụ: sản phẩm của nước A bán tại thị trường nước A với giá(X) nhưng lại

được xuất khẩu sang thị trường nước B với giá(Y) (Y<X) thì xảy ra hiện tượngbán phá giá đối với sản phẩm đó xuất khẩu từ A sang B

Một cách đơn giản hơn, có thể hiểu nếu giá xuất khẩu của một mặt hàngthấp hơn giá nội địa ( giá thông thường ) của nó thì sản phẩm đó được coi là bánphá giá tại thị trường nước nhập khẩu sản phẩm đó Tuy nhiên, việc xác định giánội địa là bao nhiêu? Là giá bán buôn hay giá bán lẻ? Giá xuất khẩu là bao nhiêu?Điều này đang rất khó khăn

Bán phá giá thường bị coi là hiện tượng tiêu cực do nó làm giảm khả năngcạnh tranh về giá và thị phần của sản phẩm nội địa của nước nhập khẩu Tuynhiên, ở một góc độ khác, bán phá giá có thể có tác động tích cực đối với nền kinhtế: người tiêu dùng được lợi vì có thể mua hàng với giá rẻ hơn; nếu hàng bị bánphá giá là nguyên liệu đầu vào của một ngành sản xuất khác, giá nguyên liệu rẻ cóthể là yếu tố góp phần tạo nên sự tăng trưởng nhất định của ngành đó; giá giảm cóthể là động lực thúc đẩy ngành sản xuất trong nước tự đổi mới để nâng cao sứccạnh tranh… Vì thế không phải mọi hành vi bán phá giá đều bị lên án và phải chịuthuế chống bán phá giá Theo qui định của WTO, các biện pháp chống bán phá giáchỉ được thực hiện trong những hoàn cảnh nhất định và phải đáp ứng các điều kiện

cụ thể

Hiện tượng bán phá giá xảy ra đều do muốn đạt được các mục tiêu cụ thểnên sẽ do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu được tổng hợp thành những nhómnguyên nhân sau:

- Bán phá giá nhằm đạt mục tiêu chính trị thao túng các nước khác

Chính phủ Mỹ đặc biệt quan tâm đến xuất khẩu gạo bởi vì cạnh tranh giá gạo bâygiờ ảnh hưởng lớn đến việc đạt các mục tiêu quan trọng khác Mỹ sẵn sàng bỏ

Trang 5

ngân sách mua phần lớn số gạo trên thị trường thế giới rồi bán phá giá Điều nàylàm cho nhiều nước xuất khẩu gạo phải lao đao và sẽ phải chịu vòng phong toảcủa Mỹ Chẳng hạn, giá xuất khẩu gạo của Mỹ khoảng 400USD/ tấn, nhưng cácnhà xuất khẩu gạo Mỹ sẵn sàng mua với giá 500USD/ tấn, thậm chí cao hơn đến800USD/tấn, và họ cũng sẵn sàng bán ra thị trường thế giới chỉ bằng 60 - 70%,thậm chí đến 40% giá mua Mức giá này thấp hơn nhiều so với giá thành của chínhnông dân Mỹ sản xuất ra Như vậy, Mỹ có thể sẵn sàng bỏ ra 700 - 800 triệu USD/năm để tài trợ giá xuất khẩu gạo nhằm thực hiện mục tiêu của mình Chính vì điềunày mà mặc dù sản lượng gạo của Mỹ hàng năm thấp nhưng Mỹ lại thao túng giágạo trên thị trường thế giới

- Do có các khoản tài trợ của Chính phủ

Chính phủ các nước phương Tây coi tài trợ là con đường ngắn nhất để đạt đuợc

sự cân bằng kinh tế và đảm bảo cho thị trường hoạt động một cách tối ưu Chínhsách tài trợ nhằm đạt được hai mục đích sau:

Duy trì và tăng cường mức sản xuất xuất khẩu

Duy trì mức sử dụng nhất định đối với các yếu tố sản xuất như lao động vàtiền vốn trong nền kinh tế Các khoản tài trợ có thể được cấp cho người sản xuấtcũng như cho người tiêu dùng, nhưng về mặt tác động kinh tế thì chúng đều nhưnhau vì đều đưa đến những hệ quả tương tự

Những hình thức tài trợ chủ yếu là: Trợ cấp, ưu đãi về thuế, tín dụng ưu đãi,

sự tham gia của Chính phủ vào các chi phí kinh doanh cũng như hỗ trợ xuất khẩu:

Trợ cấp: Đặc điểm cơ bản của trợ cấp là hướng vào giúp đỡ phát triển sản

xuất Ở các nước công nghiệp phát triển, các khoản trợ cấp chiếm một nửa toàn bộkhối lượng tài trợ Tỷ trọng của các khoản trợ cấp cho từng ngành trong tổng sốgiúp đỡ của Chính phủ có sự khác nhau đáng kể giữa các nước Như ở Anh, Ý, HàLan thì trợ cấp chiếm phần lớn

Ưu đãi về thuế: Những ưu đãi về thuế nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho một

số ngành trong một số loại hoạt động riêng biệt Chúng được áp dụng rộng rãi ởnhiều nước, mặc dù ít khi được phản ánh trong các chỉ tiêu của Chính phủ vìchúng là ngoại lệ khi áp dụng các thuế suất chuẩn Ở Anh, Bỉ, Đan Mạch, giá trịcủa chúng không lớn, còn ở Mỹ thì tổng số ưu đãi về thuế cho công nghiệp lớngấp 3 lần khối lượng trợ cấp

Trang 6

Ưu đãi về tín dụng: Những ưu đãi về tín dụng là sự cho vay của Chính

phủ với điều kiện hấp dẫn hơn là tìm kiếm trên thị trường vốn Ở các nước thuộcCộng đồng Kinh tế Châu Âu khoảng 14% tổng khối lượng giúp đỡ cho côngnghiệp được thực hiện dưới hình thức tín dụng ưu đãi Phần lớn khối lượng tíndụng của Chính phủ Nhật bản cấp cho các hãng vừa và nhỏ với lãi suất thấp hơn ởlãi suất thị trường vốn 0,5% Các Chính phủ cũng thường xuyên bảo đảm cáckhoản tín dụng, tức là bảo lãnh cho các công ty vay mà không trả nợ được.Phương pháp tài trợ này thường dùng cho các hợp đồng xuất khẩu để đảm bảo chocác công ty xuất khẩu của nước mình Theo đánh giá, quy mô của tài trợ nàychiếm vào khoảng từ 2% đến 8% tổng tài trợ công nghiệp ở các nước công nghiệpphát triển

Tham gia của Chính phủ vào chi phí kinh doanh: Sự tham gia của Chính

phủ vào chi phí kinhdoanh thường là 15% tổng tài trợ trở xuống Từ thập kỷ 80đến nay, phần sở hữu Nhà nước trong hoạt động kinh doanh có xu hướng giảm.Phương pháp này được sử dụng để bù đắp những tổn thất trong những lĩnh vựckinh tế riêng đang suy thoái

Hiện nay, tài trợ công nghiệp vẫn được Chính phủ các nước phương Tây duy trì ởmức khá cao Trên thực tế, các khoản tài trợ giúp các ngành thực hiện công nghệmới, trang bị máy và thiết bị hiện đại, nghĩa là giúp các ngành mới gia nhập thịtrường và đẩy mạnh phát triển những ngành công nghiệp mũi nhọn của đất nước,tăng cường xuất khẩu

- Bán phá giá cũng có thể xảy ra trong trường hợp một nước có quá nhiều hàng tồn kho không thể giải quyết theo cơ chế giá bình thường.

Trong nền kinh tế hàng hóa trước đây, khi gặp khủng hoảng thừa, các chủ doanhnghiệp thường chất đống hàng hoá của mình, châm lửa đốt, hoặc đổ xuống biển đểgiữ giá, nhất định không bán phá giá Còn hiện nay, ở các nước kinh tế phát triển,gặp trường hợp này, nhà buôn có thể chọn một trong hai giải pháp thường dùng.Trước hết là lưu kho chờ ngày giá lên Nhưng lưu kho đòi hỏi phải có chỗ chứa, vàchỉ áp dụng được với những mặt hành không bị hư hỏng Giải pháp thứ hai là bánxôn Nhiều khi đây là giải pháp duy nhất đối với một số mặt hàng: thực phẩm sắphết thời hạn sử dụng, máy vi tính đời cũ, một số kiểu giầy, quần áo hết mốt Nhiều cửa hàng lớn ở Pháp ngay từ khi vào mùa đã có số hàng tồn đọng lên tới50% số dự trù bán ra Hàng tồn kho này sẽ nhanh chóng được mang bán với giá

Trang 7

khuyến mãi thấp hơn 30% giá bán thông thường Đến cuối mùa, số hàng tụt xuốngcòn vài phần trăm, được nhượng lại cho dân bán xôn chuyên nghiệp với giá chỉbằng 1/10 giá cũ Dân chuyên nghiệp sẽ đẩy hết hàng ra nước ngoài, chủ yếu làsang Châu Phi, Châu Á và Đông Âu

- Bán phá giá được sử dụng như công cụ cạnh tranh.

Các hãng nước ngoài sử dụng công cụ bán phá giá để loại bỏ các đối thủ cạnhtranh, chiếm lĩnh thị trường của các nước nhập khẩu Sau khi đã giành được vị tríkhống chế thị trường, triệt tiêu được sự cạnh tranh của hàng hoá nội địa thì cáchãng nước ngoài sẽ thực hiện mục tiêu cuối cùng của mình là tăng giá, tìm cáchthao túng thị trường để thu được lợi nhuận tối đa

- Một nước có thể do nhập siêu lớn, cần phải có ngoại tệ để bù đắp cho thiếu hụt này: Khi đó họ có thể áp dụng công cụ bán phá giá để giải quyết vấn đề thiếu hụt ngoại tệ

- Một số nước làm ra được một số sản phẩm với giá thành rất thấp là nhờ

sử dụng lao động trẻ em tiền lương thấp và sử dụng lao động của tù nhân làm hàng xuất khẩu

Theo số liệu của Văn phòng Quốc tế về lao động trẻ em (BIT) thì trên toàn thếgiới hiện có tới 250 triệu trẻ em từ 5 - 14 tuổi đang tham gia một hoạt động kinh

tế Còn theo Quỹ Nhi đồng Liên Hợp quốc (UNICEF) thì tại các nước nghèo, cứ 4trẻ em thì có một trẻ em làm việc như người lớn Việc sử dụng lao động trẻ em và

sử dụng lao động tù nhân ngoài việc mang lại siêu lợi nhuận, nó còn là cách đểcạnh tranh đối với các đối thủ làm ăn Nhờ giá nhân công rẻ mạt, người ta có thể

hạ giá thành sản phẩm, xuất khẩu hàng hoá bán phá giá ở nước ngoài

- Ở Việt Nam có hiện tượng một số công ty kinh doanh hàng nhập khẩu trả chậm, đã bán phá giá nhằm dùng nguồn vốn nước ngoài để kinh doanh mặt hàng khác và hàng nhập lậu với khối lượng lớn Để làm được việc đó, họ tìm cách bán

phá giá trên thị trường, có lúc bán ồ ạt chịu lỗ từ 10 -20% so với giá vốn nhậpkhẩu để nhanh chóng thu hồi vốn, đi buôn mặt hàng khác có lãi suất cao hơn,không những đủ bù lỗ số hàng nhập trả chậm, mà còn có lãi lớn Năm 1995, bamặt hàng quan trọng đã bị bán phá giá theo cách tính toán trên là xăng dầu, thépxây dựng và phân bón Cuối năm 1995, giá phân Urê Indonesia nhập vào Việt namđang ở mức cao (260-265USD/ tấn CIF Cảng Sài gòn), nhưng giá bán buôn cả tàutại Tân Quy, Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh liên tục giảm xuống chỉ còn

Trang 8

245đồng/kg Ngoài ra, hàng ngoại nhập lậu với khối lượng lớn trong những nămvừa qua thu được lợi nhuận siêu ngạch từ việc trốn thuế nhập khẩu đã chiếm lĩnhthị trường với giá cạnh tranh so với hàng sản xuất trong nước, loại khỏi thị trườngcác doanh nghiệp làm ăn chân chính Tóm lại, có rất nhiều trường hợp các hãngnước ngoài có thể xuất khẩu hàng của mình sang thị trường nước khác với giá thấphơn giá nội địa và thậm chí thấp hơn cả chi phí sản xuất, nhưng không phải tất cảmọi trường hợp đều có thể gán cho cái tên “bán phá giá” để áp dụng các biệnpháp ngăn cản Trong nhiều trường hợp làm như vậy chỉ tạo ra một sự bảo hộkhông cần thiết cho ngành sản xuất trong nước, làm giảm lợi ích của người tiêudùng cũng như của toàn xã hội.

Theo qui định của Tổ chức Thương mại quốc tế (World Trade Organisation– WTO) và pháp luật nhiều nước, thuế chống bán phá giá có thể bị áp đặt màkhông quan tâm đến lý do vì sao nhà sản xuất bán phá giá

1.2 Ý nghĩa kinh tế của việc bán phá giá

Theo hình, trước khi có việc hang hóa của các nước khác được bán vào thịtrường một nước với giá thấp hơn giá hiện hành, cung và cầu mặt hang đó cânbằng ở điểm E, với giá P1 và lượng tiêu thụ Q1, hoàn toàn là sản xuất trong nước.Tuy nhiên, khi có nguồn hang hóa nước ngoài bán với giá thấp hơn là P2, lượngtiêu thụ tăng lên Q2, trong đó lượng hang sản xuất trong nước giảm xuống chỉ cònQ’2, lượng hàng nhập khẩu là Q2-Q’2

Trang 9

Từ đây ta thấy được thặng dư của người tiêu dùng tăng thêm một lượngbằng diện tích hình thang ABCE Như vậy, có thể thấy được tác động của việc bánphá giá là gây thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa nhưng lại mang lại lợi ích chongười tiêu dùng Về tổng thể toàn xã hội được lợi bằng diện tích tam giác CDE.Như vậy, việc bán phá giá không phải chỉ mang tính chất tiêu cực nên cần có sựphân tích thấu đáo bản chất của mọi trường hợp bán phá giá để xem xét mọi tácđộng để từ đó có biện pháp đối phó thích ứng.

Có thể hình dung các trường hợp bán phá giá sau:

- Giá xuất khẩu thấp hơn giá trị trường nội địa nước xuất khẩu nhưng vẫncao hơn chi phí sản xuất Trường hợp này có thể xảy ra khi một hãng chiếm vị tríđộc quyền hoặc gần như độc quyền ở thị trường nội địa xuất phát từ điều kiện tựnhiên hoặc do được hưởng lợi thế từ hàng rào thương mại, nhưng phải cạnh tranh

ở thị trường nước xuất khẩu Khi đó, vì mục đích tối đa hóa lợi nhuận, hãng đó sẽlợi dụng vị thế độc quyền của mình để ấn định giá bán trong nước cao hơn, chừngnào thị trường đó còn chấp nhận được Trong khi đó, do phải cạnh tranh ở thịtrường nước xuất khẩu, hãng đó chỉ có thể bán với giá đang tồn tại ở thị trường đó.Như vậy đã xảy ra việc bán phá giá như định nghĩa trên

Nếu việc bán phá giá này không làm giá ở thị trường nước xuất khẩu thayđổi (do cạnh tranh ở đây hoàn hảo), sẽ không làm ảnh hưởng tới lợi ích của nướcnhập khẩu, và vì thế sẽ không cần thiết phải có biện pháp chống đối lại Tuy nhiên,việc bán phá giá này xảy ra với một lượng lớn và trong thời gian dài, làm giảm giá

ở thị trường nước nhập khẩu sẽ gây tác động tới lợi ích của nước nhập khẩu.Người tiêu dùng sẽ được lợi từ giá thấp nhưng ngược lại các nhà sản xuất và côngnhân trong ngành công nghiệp đó sẽ bị thiệt hại vì lợi nhuận và lương bị giảm Lợiích cuối cùng của nước nhập khẩu phụ thuộc vào việc lợi ích của người tiêu dùng

có lớn hơn thiệt hại của người sản xuất và công nhân hay không

Ngay cả trong trường hợp về tổng thể nước nhập khẩu bị thiệt hại cũng khó

có lý do để áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với hàng hóa của hãng đónhằm khắc phục thiệt hại bởi vì hãng đó có thể lập luận rằng do điều kiện thịtrường nước nhập khẩu là canh tranh, bất kỳ hãng nào cũng có thể tham gia thịtrường đó và làm cho giá giảm xuống Tuy nhiên, để khắc phục thiệt hại, nướcnhập khẩu có thể áp dụng các biện pháp được phép như tự vệ

Trang 10

- Giá xuất khẩu thấp hơn chi phí sản xuất và tất nhiên là thấp hơn giá thịtrường trong nước Trong trường hợp này còn có thể xảy ra một số tình huốngkhác nhau, tùy thuộc vào định nghĩa chi phí sản xuất: chi phí bình quân hay chiphí cận biên

Trước hết, ta cần phân biệt được chi phí bình quân và chi phí cận biên Sựphân biệt này có ý nghĩa quan trọng trong ngắn hạn khi nhiều loại chi phí sản xuất

là cố định, không phụ thuộc vào số lượng sản xuất, chỉ có một phần nhỏ chi phísản xuất là thay đổi khi lượng sản xuất thay đổi Chính chi phí lề là yếu tố quyếtđịnh trong việc định giá của một hãng trong thời gian ngắn hạn khi phải chịu chiphí nhất định để thâm nhập vào một thị trường

Chi phí bình quân là chi phí được tính bằng tổng tất cả các chi phí một

hãng phải chịu chia cho lượng sản phẩm sản xuất ra

Chi phí cận biên là chi phí phải bỏ ra để sản xuất thêm một đơn vị sản

phẩm

Khi nhu cầu của thị trường bị giảm, kéo theo giá thị trường giảm và cáchãng theo đó cũng phải giám giá bán Nếu giá bán thấp hơn chi phí bình quân,hãng đó sẽ bị lỗ Tuy nhiên, khi một phần chi phí là cố định không phụ thuộc vàolượng sản xuất, mức độ lỗ sẽ phụ thuộc vào lượng hàng bán ra và vào mức chi phí

lề Nếu giá bán vẫn cao hơn chi phí cận biên, hãng vẫn tiếp tục bán với hy vọngsau một thời gian ngắn thị trường sẽ phục hồi hoặc chỉ để giảm thiệt hại trước khirút lui khỏi thị trường đó Đây là sự phản ứng rất bình thường của các hãng đốivới sự thay đổi của thị trường, kể cả các hãng nước ngoài và hãng nội địa

Trong trường hợp này, việc áp dụng một biện pháp chống hàng nhập khẩu

là bất hợp lý vì như vậy sẽ đối xử không công bằng giữa hãng nội địa và hãngnước ngoài Tuy nhiên, một nước vẫn có thể áp dụng các chính sách hỗ trợ cho cáchãng nội địa giảm nhẹ thiệt hại dưới hình thức các biện pháp tự vệ

Biên độ phá giá được tính theo công thức :

BĐPG = ( Giá TT – Giá XK )/Giá XK

Trang 11

Cách 1: Giá XK là giá trong giao dịch mua bán giữa nhà sản xuất hoặc nhà

xuất khẩu của nước xuất khẩu với nhà nhập khẩu của nước nhập khẩu Đây là cáchtính giá XK chuẩn và được áp dụng trước tiên khi tính giá XK(trong các điều kiệnthương mại thông thường) Chỉ khi hoàn cảnh cụ thể không đáp ứng các điều kiện

áp dụng cách 1 thì giá XK mới được tính theo cách 2

Cách 2: Giá XK là giá tự tính toán trên cơ sở giá bán sản phẩm nhập khẩu

đó cho người mua độc lập đầu tiên tại nước nhập khẩu; hoặc một giá trị tính toántheo những tiêu chí hợp lý do cơ quan có thẩm quyền quyết định

Giá thông thường là giá bán của sản phẩm tương tự với sản phẩm bị điều

tra(SPTT) tại thị trường nước xuất khẩu Có ba cách xác định giá TT:

Cách 1: Giá TT được xác định theo giá bán của SPTT tại thị trường nước

xuất khẩu(tại thị trường nội địa của nước nơi sản phẩm đó được sản xuất ra)

Cách 2: Giá TT được xác định theo giá bán của SPTT từ nước xuất khẩu

liên quan sang thị trường một nước thứ ba

Cách 3: Giá TT được xác định theo giá trị tính toán Giá TT = giá thành sản

xuất + chi phí(hành chính, bán hàng, quản lý chung…) + lợi nhuận

Trong các cách nêu trên, cách 1 là cách thức tính giá TT tiêu chuẩn, được

ưu tiên xem xét áp dụng trước trong tất cả các trường hợp Chỉ khi không đáp ứngđược các điều kiện để sử dụng cách 1 thì giá TT mới được tính theo cách 2 hoặccách 3

Trang 12

Trường hợp SPTT được xuất khẩu từ một nước có nền kinh tế phi thịtrường ( giá bán hàng và giá nguyên liệu đầu vào do chính phủ ấn định ) thì cáccách trên không được áp dụng để xác định Giá TT.

Để so sánh một cách công bằng Giá TT và Giá XK, thì hiệp định quy định nguyên tắc so sánh như sau:

- So sánh hai giá này trong cùng điều kiện thương mại ( cũng xuất xưởng/bán buôn/ bán lẻ), thường lấy giá ở khâu xuất xưởng

- Tại cùng một thời điểm hoặc thời điểm càng gần nhau càng tốt

Việc so sánh giá trị thông thường và giá xuất khẩu là cả một quá trình tính toánphức tạp , vì không bao giờ cũng có sẵn mức giá xuất xưởng của Giá TT và Giá

XK mà chỉ có mức giá bán buôn hoặc bán lẻ của SPTT ở thị trường nước xuấtkhẩu(Giá TT+) và giá tính thuế hải quan, giá hợp đồng hoặc giá bán buôn/bán lẻSPTT của nhà nhập khẩu(Giá XK+) nên thường phải có một số điều chỉnh để cóthể so sánh Giá TT và Giá XK một các công bằng

Điều chỉnh các chênh lệch trong: điều kiện bán hàng, các loai thuế, số lượng sảnphẩm, đặc tính vật lý của sản phẩm, và những yếu tố khác ảnh hưởng đến việc sosánh hai giá Ví dụ, khi lấy giá bán sản phẩm thông thường cho một người muađộc lập ở nước nhập khẩu làm Giá XK+ thì Giá XK sẽ được xác định bằng cáchđiều chỉnh như sau:

Giá XK = (Giá XK+) – (lợi nhuận) – (các loại thuế + chi phí phát sinh từkhâu nhập khẩu đến khâu bán hàng)

Cách so sánh:

Trường hợp khi Giá XK+ chênh lệch đáng kể giữa những người mua, cácvùng hoặc giữa các khoảng thời gian khác nhau thì:

- Trung bình Giá TT so với trung bình Giá XK

- Giá TT(từng giao dịch) so với Giá XK(từng giao dịch)

- Trung bình Giá TT so với Giá XK(từng giao dịch)

Trường hợp SPTT được xuất khẩu sang nước nhập khẩu qua một nướctrung gian(nước xuất khẩu) thì:

- Giá SPTT ở nước xuất khẩu(nước trung gian) so với giá bán SPTT từnước xuất khẩu sang nước nhập khẩu

Trang 13

- Nếu sản phẩm thông thường chỉ đơn thuần được chở từ nước sản xuất quanước xuất khẩu thì giá ở nước xuất xứ sẽ được so với giá bán SPTT từ nước xuấtkhẩu sang nước nhập khẩu

3 Thiệt hại của việc bán phá giá

Việc xác định thiệt hại bao gồm những nội dung sau:

- Khối lượng sản phẩm nhập khẩu được bán phá giá và ảnh hưởng của việcnày đến giá của sản phẩm tương tự tai thị trường nội địa nước nhập khẩu Cụ thể,

về khối lượng sản phẩm nhập khẩu bị điều tra, cơ quan điều tra phải xem xét xemtrên thực tế có sự tăng đáng kể (tuyệt đối hoặc tương đối) của hàng nhập khẩu bánphá giá so với mức sản xuất hoặc nhu cầu tiêu dùng tại nước nhập khẩu haykhông

Về tác động của hàng nhập khẩu bán phá giá đối với giá của SPTT tại thịtrường nước nhập khẩu, cơ quan có thẩm quyền phải xem xét trên hai khía cạnh:hàng nhập khẩu bán phá giá có phải là đã được bán với giá thấp hơn một cáchđáng kể so với giá của SPTT tại thị trường nước nhập khẩu hay không? Hoặc việchàng nhập khẩu bán phá giá đó có đúng là đã làm giảm giá của SPTT trên thịtrường nước nhập khẩu ở mức đáng kể hoặc ngăn không cho giá tăng đáng kể haykhông(điều mà lẽ ra sẽ không xảy ra nếu không bán phá giá hàng nhập đó)?

- Hậu quả của việc nhập khẩu này đối với các nhà sản xuất các sản phẩmnày của nước xuất khẩu

Hệ quả của việc bán phá giá đối với ngành sản xuất nội địa nước xuất khẩuđược xem xét trên một loạt các nhân tố khác nhau của ngành sản xuất đó và nhữngthiệt hại của ngành sản xuất cũng có thể được xem xét ở nhiều dạng khác nhau

Về cơ bản, bán phá giá sẽ gây thiệt hại về lợi ích kinh tế cho các nhà sảnxuất nội địa của nước XK, ngăn cản sự hình thành một ngành sản xuất nội địa củanước XK và có tác động làm giảm giá SP tương tự hau kìm hãm giá SP tương tựcủa thị trường nội địa của nước XK

Các yếu tố cần xem xét khi xác định thiệt hại thực tế:

ADA quy định thiệt hại phải được xem xét trên tất cả các yếu tố và chỉ sốkinh tế có thể có tác động đến thực trạng của ngành sản xuất ADA không đưa ramột danh mục đầy đủ các yếu tố này nhưng có nêu một số yếu tố, chỉ sổ cơ bảnbắt buộc phải xem xét như:

Trang 14

- Mức suy giảm thực tế và tiềm ẩn của doanh số, lợi nhuận, sản lượng, thịphần, năng suất, tỷ lệ lãi đối với đầu tư, tỷ lệ năng lực được sử dụng, giá….

- Các nhân tố ảnh hưởng tới giá trong nước: cung cầu, sản phẩm tương tự,sản phẩm thay thế

- Các nhân tố ảnh hưởng xấu thực tế hoặc tiềm ẩn đối với quá trình chuchuyển tiền mặt, lượng lưu kho, công ăn việc làm, lương, tăng trưởng, khả nănghuy động vốn, nguồn đầu tư…

- Độ lớn của biên độ phá giá

Các yếu tố cần xem xét khi xác định nguy cơ thiệt hại:

ADA không quy định đầy đủ các yếu tố mà cơ quan có thẩm quyền cầnxem xét khi quyết định xem có tổn tại nguy cơ gây thiệt hại đáng kể hay không,nhưng có nêu một số yếu tố điển hình sau:

- Tỉ lệ gia tăng đáng kể hàng nhập khẩu được bán phá giá vào nước nhậpkhẩu và đó là dấu hiệu cho thấy có nhiều khả năng hàng nhập khẩu sẽ gia tăng ởmức lớn

- Năng lực sản xuất lớn(trong thực tế hoặc trong tương lai gần) của nhà sảnxuất, xuất khẩu sản phẩm liên quan là dấu hiệu cho thấy sẽ có sự gia tăng đáng kểcủa hàng xuất khẩu được bán phá giá sang thị trường nước nhập khẩu

- Vấn đề liệu hàng nhập khẩu được nhập với mức giá có tác động làm giảmhoặc kìm hãm đáng kể giá trong nước và có thể làm tăng nhu cầu đối với hàngnhập khẩu thêm nữa hay không

- Sự tồn kho của sản phẩm đang bị điều tra…

Theo quy định, để đánh giá nguy cơ thiệt hại, cơ quan có thẩm quyền nướcnhập khẩu phải xem xét ít nhất 4 yếu tố trên và xem xét trong một tổng thế rồi mới

đi đến kết luận thiệt hại

II Thuế chống bán phá giá trong đầu tư quốc tế

1 Thuế chống bán phá giá và tác dụng của nó

- Thuế là số tiền thu của các công dân, hoạt động và đồ vật (như giao dịch,

tài sản) nhằm huy động tài chính cho chính quyền, nhằm tái phân phối thu nhập,hay nhằm điều tiết các hoạt động kinh tế-xã hội

- Thuế chống bán phá giá là khoản thuế bổ sung bên cạnh thuế nhập khẩu

thông thường, do cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu ban hành, đánh vàosản phẩm nước ngoài bị bán phá giá vào nước nhập khẩu Đây là loại thuế nhằm

Trang 15

chống lại việc bán phá giá và loại bỏ những thiệt hại do việc hàng nhập khẩu bánphá giá gây ra

Thông thường mỗi nước đều có một hệ thống các qui định riêng về các điềukiện và thủ tục áp đặt thuế chống bán phá giá Trên thực tế, thuể chống bán phágiá được nhiều nước sử dụng như một hình thức “ bảo hộ hợp pháp “ đối với sảnxuất nội địa của mình Để ngăn chặn hiện tượng lạm dụng biện pháp này, các nướcthành viên WTO đã cùng thỏa thuận về các qui định bắt buộc phải tuân thủ liênquan đến việc điều tra và áp đặt thuế chống bán phá giá, tập trung trong một Hiệpđịnh về chống bán phá giá của WTO – Hiệp định ADA(Anti-dunping Agreement)

- Tác động của thuế chống bán phá giá: Khi đã có kết luận cuối cùng khẳng

định có việc bán phá giá gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước,

cơ quan có thẩm quyền sẽ quyết định 2 vấn đề:

+ Có áp đặt thuế chống bán phá giá hay không? (nghĩa là khi đã đủđiều kiện vẫn có thế không ra quyết định áp đặt thuế chống bán phá giá)

+ Áp đặt thuế chống bán phá giá bằng hay dưới biên độ phá giá?

Do vậy, về mặt lợi ích xã hội việc áp dụng thuế chống bán phá giá là mộthình thức xử phạt đối với việc bán phá giá hàng hóa của nước xuất khẩu có tácdụng giống như thuế nhập khẩu thông thường theo tỷ lệ phần trăm Hơn nữa, thuếchống bán phá giá còn có tác dụng bảo hộ sản xuất trong nước nhập khẩu vì có tácdụng ngăn cản dòng hàng hóa nhập khẩu

2 Vai trò của thuế chống bán phá giá

- Quy trình thông thường của một vụ điều tra chống bán phá giá: Bao gồm

10 giai đoạn.

+ Giai đoạn bắt đầu vụ kiện: Đơn kiện(của ngành sản xuất nội địa)phải đưa ra tương đối đủ các bằng chứng về việc bán phá giá và thiệt hại gây ra,xác định chính xác loại hàng hóa và danh tính các nhà sản xuất, xuất khẩu liênquan

Sau khi kiểm tra sơ bộ đơn kiện, cơ quan có thẩm quyền chỉ ra Quyết định khởixướng điều tra khi:

Đối tượng nộp đơn đáp ứng yêu cầu về tính đại diện(cho ngành sản xuất nộiđịa liên quan)

Có tương đối đầy đủ bằng chứng về việc bán phá giá gây thiệt hại

Lượng hàng nhập khẩu từ nước bị kiện không quá nhỏ

Trang 16

+ Điều tra sơ bộ: Việc điều tra được tiến hành theo 2 nhóm vấn đề:Điều tra để xác định có bán phá giá hay không và biên độ phá giá thế nào, điều tra

để xác định có thiệt hại đối với ngành sản xuất nội địa hay không và thiệt hại cóphải là hệ quả của việc bán phá giá không

Để xác định các vấn đề trên, Cơ quan điều tra sẽ gửi bảng câu hỏi cho bị đơn vàcác bên liên quan, thu thập và xác minh thông tin, bằng chứng liên quan

Các bên bảo về quyền lợi của mình chủ yếu qua việc trả lời bảng hỏi, cung cấpthông tin bổ sung cho cơ quan điều tra

+ Kết luận vụ kiện: Trên cơ sở kết quả điều tra sơ bộ, cơ quan điềutra ra kết luận sơ bộ về các vấn đề được điều tra(bán phá giá và thiệt hại)

+ Áp dụng biện pháp tạm thời: Trường hợp kết luận sơ bộ khẳngđịnh có tồn tại việc bán phá giá gây thiệt hại đáng kể, cơ quan có thẩm quyền cóthể quyết định áp dụng biện pháp tạm thời(đặt cọc, ký quỹ hoặc thuế tạm thời) đốivới hàng hóa nhập khẩu liên quan

+ Cam kết về giá: Vào bất kỳ giai đoạn nào sau khi có kết luận sơ bộkhẳng định có việc bán phá giá gây thiệt hại đáng kể, nhà xuất khẩu và cơ quan cóthẩm quyền nước nhập khẩu có thể cùng thỏa thuận đạt được cam kết về giá(nhàxuất khẩu cam kết tăng giá xuất khẩu lên hoặc ngừng xuất khẩu phá giá…)

Nếu cam kết về giá được chấp nhận với nhà xuất khẩu nào thì việc điều tra xemnhư chấm dứt với nhà xuất khẩu đó trừ khi họ yêu cầu tiếp tục việc điều tra

+ Cơ quan điều tra tiếp tục tiến hành điều tra, xác minh lại các vấn

đề trong kết luận sơ bộ và xem xét các bình luận, phản hồi từ các bên đối với kếtluận sơ bộ Các phiên điều trần có thế được tổ chức để cơ quan điều tra trực tiếpnghe các bên trình bày lặp luận của mình và trả lời lập luận của đối phương

+ Kết luận cuối cùng: Cơ quan điều tra ra kết luận cuối cùng về cácvấn đề được điều tra (bán phá giá và thiệt hại)

+ Áp dụng biện pháp chống bán phá giá chính thức: Cơ quan điềutra ra kết luận cuối cùng Có hai trường hợp:

* Kết luận khẳng định có bán phá giá gây ra thiệt hại đáng kể thì cơ quanđiều tra có thể ra quyết định áp thuế chống bán phá giá (mức thuế đối với từng nhàxuất khẩu không cao hơn biên độ giá của họ) Việc áp thuế hay không còn phụthuộc vào biên độ giá (dưới 2% thì không được áp thuế) và lợi ích cộng đồng

Trang 17

(trường hợp EU, nếu việc áp dụng không phù hợp với lợi ích cộng đồng thì sẽkhông áp thuế).

* Kết luận phủ định (không bán phá giá hoặc không gây ra thiệt hại đángkể) thì sẽ không áp thuế chống bán phá giá và hoàn trả các khoản đặt cọc

+ Rà soát hàng năm: Được thực hiện theo yêu cầu để tính biên độphá giá thực của các nhà xuất khẩu trong năm trước đó hoặc để điều chỉnh mứcthuế áp dụng trong những năm tiếp theo hoặc chấm dứt thuế Trong quá trình ràsoát hàng năm, các bên nhà xuất khẩu cũng phải cung cấp chứng cứ chứng minhphục vụ điều tra

+ Rà soát hoàng hôn: Cơ quan điều tra thực hiện rà soát hoàng hôncuối thời hạn 5 năm kể từ khi áp dụng thuế chống bán phá giá hoặc kể từ khi ràsoát hang năm Việc điều tra được thực hiện tổng thể (cả về bán phá giá và thiệthại) để xác định có chấm dứt áp thuế hay tiếp tục thếm 5 năm nữa

- Vai trò của thuế chống bán phá giá

Biện pháp được phép sử dụng trong chống bán phá giá là thuế theo tỷ lệ phầntrăm, do vậy về mặt lợi ích cộng đồng thì tác động của nó cũng giống như tácđộng của thuế nhập khẩu thông thường theo tỷ lệ phần trăm Để xem rõ tác độngcủa thuế chống bán phá giá ta phân tích theo phương pháp “cân bằng từng phần”như sau:

Khi một sắc thuế T được áp dụng, làm cho giá trong nước của sản phẩmtăng lên một lượng bằng T Do vậy, với các yếu tố về cầu của thị trường nội địađối với sản phẩm đó không đổi, lượng tiêu thụ giảm từ Q1 xuống Q’1, trong đólượng hàng sản xuất trong nước tăng từ Q2 lên Q’2, lượng hàng xuất khẩu giảmxuống chỉ còn bằng Q’1-Q’2 Như vậy có thể thấy rõ tác động bảo hộ của thuếnhập khẩu đối với sản xuất trong nước: làm tăng giá trong nước, giảm tiêu thụhàng nhập khẩu và tăng sản xuất trong nước Các nhà sản xuất trong nước đượchưởng lợi rõ ràng khi giá trị thặng dư của họ được gia tăng thêm một lượng bằngdiện tích tứ giác ACJG

Trang 18

Tuy nhiên, cùng với việc các nhà sản xuất được hưởng lợi thì người tiêudùng lại bị thiệt hại: giá trị thặng dư của họ bị giảm một lượng bằng diện tích tứgiác ABHG Nhà nước cũng được hưởng lợi khi ngân sách thu vào từ thuế nhậpkhẩu tăng một lượng bằng diện tích hình chữ nhật MNHJ.

Thế nhưng, xét về tổng thể, toàn xã hội sẽ bị thiệt khi lợi ích mang lại chocác nhà sản xuất trong nước và Nhà nước không thể bù đắp cho thiệt hại về lợi íchcủa người tiêu dùng Lượng thiệt hại của xã hội bằng diện tích tam giác CMJ cộngdiện tích tam giác NBH

Ngoài vai trò là bảo hộ sản xuất của thuế chống bán phá giá như trên, quátrình dẫn tới việc áp dụng thuế chống bán phá giá cũng phần nào có vai trò bảo hộ.Như, bản thân việc bắt đầu quá trình điều tra chống phá giá có nghĩa là trongtương lai rất có thể thuế chống bán phá giá sẽ được áp dụng làm cho sản phẩm làđối tượng điều tra trở nên ít hấp dẫn hơn đối với các nhà nhập khẩu, như vậy phầnnào đã ngăn cản dòng hàng hóa nhập khẩu

3 Nội dung cơ bản của thuế chống bán phá giá

3.1 Các nguyên tắc tuân thủ

Khi đã có kết luận cuối cùng khẳng định có việc bán phá giá gây thiệt hạiđáng kể cho ngành sản xuất nội địa, cơ quan có thẩm quyền sẽ quyết định 2 vấnđề:

Trang 19

- Có áp thuế chống bán phá giá hay không?(điều này cho thấy ngay cả khi

có đầy đủ các điều kiện, cơ quan có thẩm quyền vẫn có thể không ra quyết định ápđặt thuế chống bán phá giá)

- Áp đặt thuế chống bán phá giá bằng hay dưới biên độ phá giá?(ADAkhuyến khích các nước nhập khẩu áp đặt mức thuế thấp hơn biên độ phá giá nếumức thuế này đã đủ loại bỏ thiệt hại)

Việc áp dụng thuế chống bán phá giá phải được thực hiện trên nguyên tắckhông phân biệt đối xử đối với hàng nhập khẩu liên quan từ tất cả các nguồn bị coi

là bán phá giá và gây thiệt hại(trừ các nguồn đã có cam kết về giá) Trong mọitrường hợp, mức thuế chống bán phá giá không được cao hơn biên độ phá giá tínhtoán

3.2 Các hình thức hồi tố thuế chống bán phá giá

Quyết định áp đặt thuế chống bán phá giá có hiệu lực hồi tố thực chất làtruy thu thuế đối với hàng hóa nhập khẩu vào nước nhập khẩu trước thời điểmquyết định áp đặt thuế được ban hành Nguyên tắc chung là thuế chống bán phágiá không áp dụng hồi tố trừ một số ngoại lệ có điều kiện Theo quy định củaADA, quyết định áp đặt thuế chống bán phá giá chỉ có thể có hiệu lực hồi tố trongtrường hợp thiệt hại do việc bán phá giá gây ra được xác định là thiệt hại thựctế( chứ không phải là nguy cơ thiệt hại thiệt hại hoặc chỉ là cản trở sự hình thànhcủa một ngành sản xuất nội địa) Nếu là nguy cơ thiệt hại thì chỉ có thể áp dụnghồi tố thuế này khi chứng minh được rằng trên thực tế nếu không có các biện pháptạm thời thì đã có thiệt hại thực tế xảy ra Quy định này của ADA phù hợp với bảnchất của việc đánh thuế là nhằm loại bỏ thiệt hại

Có các hình thức hồi tố thuế chống bán phá giá sau:

- Hồi tố đối với thời gian áp dụng biện pháp tạm thời

Trong trường hợp này, cơ quan có thẩm quyền nước nhập khẩu sẽ truy thuthuế đối với hàng hóa liên quan nhập khẩu vào nước này kể từ thời điểm có quyếtđịnh áp dụng biện pháp tạm thời

Vì các nhà sản xuất, xuất khẩu đã phải nộp bảo đảm cho hàng hóa nhậpkhẩu với mức như nêu tại quyết định áp dụng biện pháp tạm thời nên thực chấtviệc truy thu này là việc chính thức thu các khoản tiền bảo đảm trước đây nhà sảnxuất đã nộp, theo đó:

Trang 20

+ Nếu mức thuế chính thức cao hơn mức thu theo biện pháp tạm thời: nhàxuất khẩu không phải nộp bổ sung ngoài khoản tiền bảo đảm đã nộp.

+ Nếu mức thuế chính thức thấp hơn mức thu theo biện pháp tam thời: nhàxuất khẩu được hoàn lại khoản chênh lệch

- Hồi tố đối với khoảng thời gian tính từ 90 ngày trước khi áp dụng biệnpháp tạm thời cho đến khi có quyết định chính thức về thuế chống bán phá giá

Hồi tố loại này chỉ áp dụng trong những trường hợp rất hạn hữu khi đã cótiền sử về việc bán phá giá, việc nhập khẩu được bán phá giá với số lượng lớn và

có nguy cơ gây phương hại đến tác dụng loại bỏ thiệt hại của thuế chống bán phágiá cuối cùng

3.3 Áp dụng thuế và thu thuế chống bán phá giá

3.3.1 Việc áp dụng thuế và thu thuế chống bán phá giá của WTO

Việc quyết định có đánh thuế chống bán phá giá hay không và đánh thuếtương đương hay nhỏ hơn biên độ phá giá sẽ do cơ quan điều tra của nước nhậpkhẩu quyết định Đối với một sản phẩm bị bán phá giá, cơ quan chức năng sẽ xácđịnh biên độ phá giá riêng cho từng nhà xuất khẩu/sản xuất Thuế chống bán phágiá sẽ được áp dụng cho từng trường hợp, trên cơ sở không phân biệt đối xử giữahàng nhập khẩu từ tất cả các nguồn được coi là gây thiệt hại, trừ trường hợp đãcam kết giá

Trị giá thuế chống bán phá giá áp dụng sẽ không được vượt quá biên độ phá giá

Có hai hình thức thu thuế chống bán phá giá:

+ Kiểu tính thuế hồi tố (kiểu của Mỹ): việc tính mức thuế được căn cứ vào số liệu

của thời điểm trước khi điều tra (6 tháng - 1 năm) Sau khi điều tra, cơ quan chứcnăng bắt đầu áp dụng một mức thuế chống bán phá giá Sau khi áp dụng được mộtthời gian, nếu nhà nhập khẩu yêu cầu đánh giá lại mức thuế (do giá xuất khẩutăng lên) thì cơ quan chức năng sẽ tiến hành xác định lại số tiền thuế phải nộptrong vòng 12 tháng, chậm nhất là 18 tháng ngay sau khi nhận được yêu cầu Sau

đó mức thuế mới sẽ được áp dụng Việc hoàn thuế sẽ được thực hiện trong vòng

90 ngày sau khi xác định lại mức thuế cuối cùng phải nộp

Ví dụ:

Giả sử ngày ra quyết định áp đặt thuế chống bán phá giá ngày 1/1/2000theo hình thức tính thuế này với định kỳ tính thuế là 1 năm 1 lần

Trang 21

Cơ quan có thẩm quyền sẽ tính một mức thuế tạm thời để nhà nhập khẩunộp(giả sử là X%) trong hoặc say khi ra quyết định áp đặt thuế chính thức Mứcthuế chính thức sẽ được xác định định kỳ một năm một lần(theo yêu cầu của cácchủ thế liên quan): đầu năm 2001 sẽ tính mức thuế chính thức cho giai đoạn từ1/1/2000 đến 1/1/2001 dựa trên những số liệu thực tế(biên độ phá giá thực tế)trong thời gian này(giả sử mức thuế chính thức là Y%) Nếu Y<X thì phải hoàn lạiphần thuế chênh lệch Tương tự như vậy, các khoản thuế chính thức cho các năm

2002, 2003,2004,2005 của chủ thể liên quan sẽ được lần lượt xác định vào đầu cácnăm 2003, 2004, 2005, 2006 nếu có yêu cầu

+ Kiểu tính thuế ấn định (kiểu của EU): cơ quan điều tra lấy số liệu của thời điểm

trước khi điều tra để tính biên độ phá giá và ấn định biên độ này cho cả quá trình

áp dụng thuế chống bán phá giá Sau khi áp dụng được một thời gian, nếu nhànhập khẩu đề nghị hoàn thuế với phần giá trị cao hơn biên độ phá giá (do giá xuấtkhẩu tăng) thì cơ quan chức năng sẽ tiến hành xem xét việc hoàn thuế trong vòng

12 tháng, chậm nhất là 18 tháng ngay sau khi nhận được đề nghị hoàn thuế phầngiá trị cao hơn biên độ phá giá (do giá xuất khẩu tăng) thì cơ quan chức năng sẽtiến hành xem xét việc hoàn thuế trong vòng 12 tháng, chậm nhất là 18 tháng ngaysau khi nhận được đề nghị hoàn thuế kèm theo đầy đủ bằng chứng Việc hoàn thuế

sẽ được thực hiện trong vòng 90 ngày kể từ khi ra quyết định hoàn thuế

Ví dụ:

Quyết định áp đặt thuế chống bán phá giá ban hành ngày 1/1/2000 Vớicách tính thuế cho khoảng thời gian trong tương lai, quyết định này sẽ ấn địnhluôn một mức thuế(giả sử là X%) Mức thuế X% này sẽ áp dụng cho suốt khoảngthời gian quyết định áp đặt thuế chống bán phá giá có hiệu lực

Thu thuế với hàng nhập khẩu từ các nhà xuất khẩu không điều tra:

Trường hợp số nhà xuất khẩu/sản xuất sản phẩm bán phá giá quá lớn, không tínhriêng biên độ phá giá thì được cơ quan chức năng sẽ giới hạn việc điều tra ở một

số nhà xuất khẩu/sản xuất nhất định trên cơ sở trao đổi với các nhà xuất khẩu/sảnxuất liên quan

Mức thuế đối với hàng nhập khẩu từ các nhà xuất khẩu không điều tra khôngđược vượt quá bình quân gia quyền BĐPĐ của các nhà xuất khẩu có điều tra Sau mỗi đợt rà soát, hàng nhập khẩu thuộc diện không điều tra sẽ được hoàn lạikhoản thuế bằng:

Trang 22

Bình quân gia quyền BĐPG (cũ) - bình quân gia quyền BĐPG (mới)

Khi có yêu cầu từ các nhà xuất khẩu không điều tra, cơ quan chức năng

+ Chưa được xuất khẩu sang nước nhập khẩu trong giai đoạn điều tra

+ Nhập khẩu từ nguồn không liên quan đến các nhà xuất khẩu đang bịđánh thuế chống bán phá giá

Tuy nhiên, hàng nhập khẩu này có thể bị truy thu thuế kể từ ngày bắt đầu rà soátnếu có quan chức năng xác định được là có bán phá giá

Truy thu thuế :

Các biện pháp tạm thời và thuế chống bán phá giá chỉ được áp dụng với sảnphẩm được đưa ra bán sau thời điểm quyết định áp dụng biện pháp tạm thời (60ngày sau khi điều tra) hoặc quyết định đánh thuế chống bán phá giá (1 năm - 18tháng sau khi điều tra) có hiệu lực

Có thể truy thu thuế trong các trường hợp sau:

- Quyết định đánh thuế chống bán phá giá được căn cứ vào thiệt hại vậtchất

- Quyết định đánh thuế chống bán phá giá được căn cứ vào nguy cơ gâythiệt hại và thiệt hại thực tế đã có thể xảy ra nếu không áp dụng biện pháp tạmthời (trong các trường hợp này có thể thu thuế kể từ ngày bắt đầu áp dụng biệnpháp tạm thời)

- Có thể truy thu thuế đến tận 90 ngày trước khi áp dụng biện pháp tạm thờinếu cơ quan chức năng xác định được: có cả một quá trình bán phá giá gây ra thiệthại hoặc nhà nhập khẩu đã hoặc lẽ ra phải nhận thức được rằng nhà xuất khẩuđang bán phá giá và việc bán phá giá đó có thể gây thiệt hại; và thiệt hại bị gây rabởi khối lượng rất lớn hàng nhập khẩu trong thời gian ngắn trước khi áp dụng biệnpháp tạm thời (trường hợp này nhà nhập khẩu được phép trình bày ý kiến)

Trang 23

Tuy nhiên, không được truy thu thuế với sản phẩm được nhập khẩu trước ngày bắt đầu điều tra

Phải hoàn thuế trong những trường hợp sau:

+ Nếu mức thuế cuối cùng xác định được thấp hơn mức thuế tạm thời đãthu thì phải hoàn lại khoản chênh lệch cho nhà nhập khẩu, nếu cao hơn thì khôngđược thu thêm

+ Nếu kết luận điều tra cuối cùng khẳng định việc bán phá giá sẽ có thể dẫnđến thiệt hại hoặc làm chậm sự phát triển của ngành sản xuất trong nước thì thuếchống bán phá giá chỉ được đánh từ ngày ra kết luận điều tra cuối cùng và phảihoàn lại số tiền đặt cọc đã thu khi áp dụng biện pháp tạm thời

+ Nếu kết luận cuối cùng là không đánh thuế chống phá giá thì khoản tiềnđặt cọc khi áp dụng biện pháp tạm thời séc được hoàn trả

3.3.2 Cách tính và truy thu thuế của EU

Hình thức đánh thuế

Nếu cuộc điều tra dẫn đến kết quả là có phá giá và thiệt hại và nếu xét thấycần thiết thì EU sẽ áp dụng thuế chống bán phá giá tạm thời như không được ápdụng sớm hơn 60 ngày và quá 9 tháng kể từ ngày bắt đầu điều tra, trường hợp đặcbiệt có thể áp dụng trong 9 tháng EU đánh thuế chống bán phá giá theo 4 hìnhthức như sau:

- Thuế phần trăm

- Thuế thay đổi trên cơ sở giá tối thiểu

- Kết hợp giữa thuế phần trăm và thuế thay đổi

- Thuế tuyệt đối

EU quyết định hình thức đánh thuế dựa trên cơ sở tính chất của sản phẩm,thuế thay đổi theo giá tối thiểu thường được áp dụng với hàng tiêu dùng EUthường đánh thuế chống bán phá giá với mức thuế riêng cho mỗi nhà sản xuất trênxuất khẩu nếu biên độ phá giá khác nhau

* Áp dụng thuế chống bán phá giá với cả những sản phẩm được sản xuấthoặc lắp ráp ở EU

Theo quy chế chống bán phá giá sửa đổi năm 1987, EU có thể đánh thuếchống bán phá giá với cả những sản phẩm sản xuất hoặc lắp ráp trong EU vớinhững điều kiện sau:

Trang 24

- Nhà sản xuất hoặc lắp ráp sản phẩm có mối liên hệ hoặc liên kết với bất

kỳ nhà sản xuất nào xuất khẩu sản phẩm tương tự đang bị EU đánh thuế chống bánphá giá

- Việc lắp ráp hoặc sản xuất được bắt đầu hoặc tăng trưởng đáng kể sau khitiến hành điều tra phá giá

- Giá trị linh kiện hoặc vật liệu sử dụng trong sản xuất hoặc lắp ráp có xuất

xứ từ nước xuất khẩu sản phẩm đang bị đánh thuế chống bán phá giá chiếm ít nhất60% tổng giá trị linh kiện và vật liệu

Trường hợp này thuế suất áp dụng sẽ bằng thuế suất áp dụng với nhà sảnxuất ở nước xuất xứ sản phẩm liên quan, giá tính thuế sẽ là giá CIF của linh kiện

và nguyên liệu nhập khẩu Các nhà sản xuất và lắp ráp sản phẩm trong EU, nếuthấy sản phẩm của mình rơi vào các điều kiện trên thì phải thông báo với cơ quanhải quan nước mình trước khi xuất xưởng để bán trên thị trường EU

Biên độ thiệt hại

Cơ chế chống bán phá giá của EU thường hay đề cập đến yếu tố “biên độthiệt hại” Theo nguyên tắc đánh thuế thấp hơn biên độ phá giá thì cơ quan điều tracủa EU sẽ đánh thuế thấp hơn biên độ phá giá nếu như mức thuế đó đã đủ để khắcphục thiệt hại Vì vậy, cơ quan điều tra thường tính mức độ sụt giá của sản phẩmnội địa tương tự do tác động của hàng nhập khẩu hoặc mức giá nội địa phải tănglên để đủ thu hồi chi phí cộng với một khoản lợi nhuận nhất định cho nhà sản xuấttrong nước Mức giá đó gọi là “biên độ thiệt hại”, nếu biên độ này nhỏ hơn biên độphá giá thì EU sẽ đánh thuế chống bán phá giá đúng bằng biên độ thiệt hại

Truy thu thuế

Quy chế chống bán phá giá của EU cho phép truy thu thuế chống bán phágiá đối với những mặt hàng nhập khẩu không quá 90 ngày trước khi đánh thuế tạmthời với những điều kiện sau:

- Có một quá trình bán phá giá gây ra thiệt hại hoặc nhà nhập khẩu đã biếtrằng nhà xuất khẩu đang bán phá giá và việc bán phá giá đó có thể gây thiệt hại Lượng hàng nhập khẩu rất lớn bị bán phá giá trong thời gian ngắn gây thiệt hạiđến mức cần phải truy thu thuế chống bán phá giá thì mới ngăn ngừa việc tiếp tụcphá giá, hoặc

- Việc cam kết gia bị vi phạm

Trang 25

Mặc dù trong quá trình điều tra, cơ quan diieù tra của EU đã xem xét đếnkhả năng truy thu thuế nhưng thực tế cho đến nay EU chưa truy thu thuế lần nào

Thuế chống bán phá giá của EU được ấn định ở một mức thuế nhất địnhtrong suốt thời hạn áp dụng tính theo giá CIF với sản phẩm nhập khẩu từ nướcxuất khẩu liên quan bất kể có bị bán phá giá hay không Vì vậy có thể có mặt hàng

sẽ bị đánh thuế vượt quá biên độ phá giá bình quân gia quyền và Qui chế của EUcho phép hoàn thuế trong trường hợp như vậy Đơn xin hoàn thuế phải được nộpcho cơ quan điều tra của EU thông qua nước thành viên nhập khẩu sản phẩm liênquan trong vòng 3 tháng kể từ ngày nhập khẩu

Tuy nhiên, trên thực tế xảy ra ít trường hợp hoàn thuế vì thủ tục hoàn thuếtốn rất nhiều thời gian, có thể từ hai đến ba năm Hơn nữa, thuế chống bán phá giáchỉ được hoàn khi mức thuế vượt quá biên độ phá giá, trong khi phần lớn cáctrường hợp EU đều đánh thuế thấp hơn biên độ phá giá

3.4 Hiệu lực thuế chống bán phá giá

Về nguyên tắc, thuế chống bán phá giá được áp dụng để ngăn chặn việc bánphá giá và loại bỏ các thiệt hại do việc bán phá giá gây ra Vì vậy, thuế này sẽđược duy trì cho đến khi nào việc ngăn chặn và loại bỏ thiệt hại do việc bán phágiá gây ra không còn cần thiết nữa Quy định này được hiểu như một quy định cótính 2 mặt:

- Mặt tích cực: Thuế chống bán phá giá có thể chấm dứt, sửa đổi vào bất kỳ

thời điểm nào nếu không còn cơ sở để áp dụng nó nữa(kết luận điều tra lại chothấy không còn việc bán phá giá hoặc không còn thiệt hại) dù thuế đó mới được ápdụng

- Mặt tiêu cực: Thuế chống bán phá giá có thể kéo rất dài(vì không có quy

định về thời hạn tối đa cho việc áp dụng) Chính yếu tố này tạo nên nguy cơ

“không lường trước được”, rất bất lợi cho các nhà xuất khẩu liên quan

Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, ADA quy định thuế chống bán phá giá sẽchấm dứt sau 5 năm kể từ thời điểm quyết định áp đặt thuế chống bán phá giáchính thức được ban hành hoặc kể từ lần rà soát gần nhất(với điều kiện lần rà soát

đó được tiến hành trên cả hai nội dung: bán phá giá và thiệt hại) trừ khi cơ quan cóthẩm quyền nước nhập khẩu, sau khi tiến hành rà soát, đi đến kết luận là việc bánphá giá gây thiệt hại có nhiều khả năng tiếp tục duy trì hoặc tái diễn nếu thuếchống bán phá giá chấm dứt hiệu lực

Trang 26

PHẦN II: THỰC TRẠNG THUẾ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ Ở VIỆT NAM

I Bối cảnh quốc tế

Năm 1995, vòng đàm phán Uruguay kết thúc với sự ra đời của WTO vàmột số các hiệp định liên quan đến thương mại quốc tế, trong đó có Hiệp định vềchống bán phá giá của WTO Đây chính là cơ sở pháp luật quốc tế mà các nướcthành viên WTO phải tuân theo khi thực thi và áp dụng các biện pháp chống bánphá giá WTO đã thành lập một Uỷ ban về chống bán phá giá (Anti-dumpingCommittee) để kiểm soát việc điều tra và áp dụng thuế chống bán phá giá của cácnước thành viên, kịp thời cung cấp những thông tin cần thiết cho các nước thànhviên Các nước chưa là thành viên WTO cũng được khuyến nghị nên thực hiệntheo quy định của WTO, trong đó có quy định liên quan đến chống bán phá giá

Nhìn lại một giai đoạn dài hơn, chúng ta có thể thấy hoạt động chống bánphá giá trên toàn cầu tuần hoàn với chu kỳ chậm vào khoảng đầu những năm

1980, khoảng từ năm 1987 đến 1989 và gần đây nhất là năm 2007 Có thể nhậnthấy ảnh hướng của suy thoái kinh tế toàn cầu sẽ dẫn đến sự gia tăng các hoạtđộng chống bán phá giá Sự gia tăng này tuy chưa rõ rệt nhưng chúng ta cũngkhông quá bất ngờ khi chứng kiến xu hướng này vì thực tế cho thấy luôn có độ trễtrước khi nền kinh tế suy giảm và đây là bằng chứng thường thấy về thiệt hại.Hiển nhiên, chắc chắn rằng những thiệt hại do suy thoái kinh tế gây ra không thểquy kết cho bất cứ hàng hóa nhập khẩu phá giá nào Các điều khoản WTO yêu cầu

sự tách bạch và rõ ràng giữa nguyên nhân gây ra thiệt hại đó với các nguyên nhângây thiệt hại khác Tuy nhiên, phải thừa nhận một thực tế rằng, trong điều kiệnkinh tế tốt các công ty dường như ít có động lực trong việc đệ đơn kiện chống bánphá giá Chính vì vậy, giai đoạn kinh tế khó khăn càng làm cho công cụ chống bánphá giá được quan tâm hơn trong các ngành nghề có sự cạnh tranh về giá đối vớihàng hóa nhập khẩu Có thể nhận thấy một sự khác biệt rõ rệt giữa xu hướng hoạtđộng chống bán phá giá của bốn nước áp dụng nhiều nhất năm 2008 so với hainước có truyền thống lâu đời hơn như Hoa Kỳ và EC Ấn độ là nước gây ấn tượngmạnh nhất với sự tăng trưởng nhất quán, bền vững trong 4 năm qua Braxin, ThổNhĩ Kỳ, và Achentina cũng có tần suất áp dụng chống bán phá giá cao trong suốt

4 năm tính đến năm 2008

Trang 27

Tình hình kiện chống bán phá giá trên thế giới trong hai năm qua có nhiềubiến động mạnh Cụ thế, theo thống kê của WTO trong giai đoạn từ năm 1995 đến30/6/2008, các nước thành viên WTO đã tiến hành điều tra chống bán phá giá tổng

3305 vụ, trong đó 2106 vụ dẫn tới việc áp dụng biện pháp chống bán phágiá(chiếm 63.7%) Điều này thể hiện, không phải tất cả các cuộc điều tra về chốngbán phá giá đều có kết luận dẫn đến việc áp dụng thuế chống bán phá giá Các loạimặt hàng chịu thuế chống bán phá giá thường là các sản phẩm dệt may, giầy dép,sắt thép, kim loại và một số sản phẩm công cơ khí, v.v Trong đó, từ năm 1994Việt Nam có liên quan đến 29 vụ kiện chống bán phá giá trong đó có 17 vụ kiện bị

áp đặt thuế chống bán phá giá(chiếm gần 60%)

Bảng dưới đây thể hiện tỷ lệ các vụ kiện chống bán phá giá năm 2008 theongành:

(Nguồn: www.chongbanphagia.vn)

Trang 28

Trên thực tế, các nước áp dụng thuế chống bán phá giá thường bị nước xuấtkhẩu hàng hoá là đối tượng chịu thuế chống bán phá giá khởi kiện đến WTO, cụthể là Cơ quan Giải quyết tranh chấp Các vụ việc giải quyết tranh chấp về việcchống bán phá giá luôn là vấn đề phức tạp và gây nhiều tranh cãi Đôi khi, kết quảthường dẫn đến các hành vi trả đũa trong thương mại, gây ra nhiều mâu thuẫn, ảnhhưởng xấu đến tình hình thương mại chung trên thế giới Vì vậy, các quốc giathường rất thận trọng khi quyết định việc áp dụng thuế chống bán phá giá đối vớihàng hoá nhập khẩu bị bán phá giá vào nước mình

Nhìn lại một giai đoạn dài hơn trên đồ thị dưới đây, chúng ta có thể thấyhoạt động chống bán phá giá trên toàn cầu tuần hoàn với chu kỳ chậm vàokhoảng đầu những năm 1980, khoảng từ năm 1987 đến 1989 và gần đây nhất

Ngày đăng: 19/04/2015, 23:59

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng dưới đây thể hiện tỷ lệ các vụ kiện chống bán phá giá năm 2008 theo ngành: - Thuế chống bán phá giá trong đầu tư quốc tế
Bảng d ưới đây thể hiện tỷ lệ các vụ kiện chống bán phá giá năm 2008 theo ngành: (Trang 27)
Đồ thị dưới đây thể hiện xu hướng thông qua việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá. - Thuế chống bán phá giá trong đầu tư quốc tế
th ị dưới đây thể hiện xu hướng thông qua việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá (Trang 28)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w