Trong số các công trình nghiên cứu ở quy mô nhỏ hơn có các bài báo của các tác giả Bùi Thanh Hải, Thuế chống BPG, trợ cấp trong thương mại quốc tế, bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam,
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 2
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2-3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Kết cấu của luận văn 3
Chương 1: LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ TRONG KINH DOANH QUỐC TẾ 4
1.1 Kinh doanh quốc tế 4-7 1.2 Bán phá giá trong kinh doanh quốc tế 8-9 1.3 Pháp luật Việt Nam về chống bán phá giá 9-12 1.4 Nguyên nhân bán phá giá 12-14 1.5 Tầm quan trọng của chống bán phá giá 14-19 1.6 19-24
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA WTO VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ 25
2.1 Giới thiệu chung về Hiệp định thực thi Điều VI của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại năm 1994 25-26 2.2 Một số nội dung cơ bản của Hiệp định về chống bán phá giá 26-36 2.3 Tình hình thực tiễn về bán phá giá 36-51
Chương 3: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THỰC THI CÁC QUY ĐỊNH CỦA WTO VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 52
Trang 23.1 Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về CBPG 52-59 3.2 Dự thảo Luật Quản lý ngoại thương về CBPG 59-63 3.3 Kiến nghị quy định về CBPG trong dự thảo Luật Quản lý ngoại thương 64-65
KẾT LUẬN 66-67 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 3Stt Danh mục các Biểu đồ, Bảng, Hình Trang
1 Biểu đồ 2.1: Thống kê vụ việc điều tra, áp dụng thuế CBPG giai đoạn
2 Biểu đồ 2.2: Số lượng các vụ điều tra CBPG của nước ngoài (tính theo
3 Biểu đồ 2.3: Các vụ điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối
với hàng xuất khẩu của Việt Nam (tính theo nước đến tháng 12/2015) 40
4 Bảng 1.1: 10 quốc gia sử dụng biện pháp CBPG nhiều nhất trên thế
5 Bảng 1.2: Tổng hợp các nhóm sản phẩm bị điều tra CBPG nhiều nhất
6 Bảng 1.3: Vụ việc và mặt hàng bị điều tra CBPG, chống trợ cấp của
7 Bảng 1.4: Vụ việc và mặt hàng bị điều tra áp thuế CBPG của EU đối
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Toàn cầu hóa thương mại làm cho mối liên kết về kinh tế và thương mại giữa các nước trở nên ngày càng chặt chẽ, vì vậy kinh doanh quốc tế trở thành phổ biến trên toàn thế giới Trong kinh doanh quốc tế, ngoài kinh doanh cạnh tranh lành mạnh có cạnh tranh không lành mạnh Một trong những hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh là bán phá giá Bán phá giá làm sai lệch thương mại, bất bình đẳng, cho nên phải chống bán phá giá
Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, đã và đang gặp phải nhiều vụ việc liên quan đến bán phá giá Một phần vì nước ngoài bán phá giá hàng xuất khẩu của họ vào thị trường Việt Nam, phần khác Việt Nam bị nhiều nước kiện bán phá giá Trong tương lai chắc chắn Việt Nam phải đối mặt với nhiều rủi ro liên quan đến bán phá giá
Pháp luật về chống bán phá giá có 2 loại nguồn cơ bản:
- Pháp luật quốc tế về chống bán phá giá điển hình là hiệp định CBPG của WTO mà Việt Nam là một nước thành viên của hiệp định WTO, cam kết thực hiện CBPG theo hiệp định này
- Pháp luật trong nước về BPG: Việt Nam có 3 pháp lệnh về phòng vệ thương mại là pháp lệnh về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam, pháp lệnh về việc chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam, pháp lệnh về chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam trong đó đáng chú ý nhất là pháp lệnh về chống bán phá giá
Hiện nay, Bộ Công thương đang soạn thảo Luật Quản lý ngoại thương trong
đó có nội dung về phòng vệ thương mại (Chương 4 của Dự thảo Luật) Theo chủ trương Bộ Công thương, Dự thảo Luật Quản lý ngoại thương sẽ luật hóa ba Pháp lệnh nói trên vào luật này, dự kiến nếu được Quốc hội thông qua vào năm 2017 thì
sẽ bãi bỏ ba pháp lệnh về PVTM trong đó có pháp lệnh về chống bán phá giá
Các quy định của Dự thảo Luật Quản lý ngoại thương liên quan đến nội dung
CBPG có một số vấn đề lớn phải bàn Vì vậy tác giả chọn đề tài “Pháp luật chống
bán phá giá trong kinh doanh quốc tế” làm luận văn thạc sỹ
Trang 62 Tình hình nghiên cứu:
Kể từ khi chuẩn bị cho quá trình đàm phán gia nhập WTO và thực hiện chính sách chủ động hội nhập kinh tế quốc tế cho đến nay, đã có nhiều quan tâm nghiên cứu về pháp luật của WTO về chống BPG Nổi bật nhất trong số các sách
chuyên khảo về vấn đề này là công trình của tác giả Đoàn Văn Trường, BPG và biện pháp chống BPG hàng nhập khẩu (1998), Nguyễn Hữu Khải, Hàng rào phi thuế quan trong chính sách thương mại quốc tế (2007), Đinh Thị Mỹ Loan, Chủ động ứng phó với những vụ kiện chống BPG trong thương mại quốc tế (2007)
Trong số các công trình nghiên cứu ở quy mô nhỏ hơn có các bài báo của
các tác giả Bùi Thanh Hải, Thuế chống BPG, trợ cấp trong thương mại quốc tế, bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam, Đoàn Văn Trường, Những biện pháp đối phó với các vụ kiện chống BPG ở nước ngoài (Tạp chí nghiên cứu kinh tế, 2002), Hoàng Phước Hiệp, Tìm hiểu Pháp luật về chống BPG của Tổ chức thương mại thế giới và Hoa Kỳ (Tạp chí luật học, 2003), Vũ Kim Dũng, BPG và giải pháp chống BPG (Tạp chí hoạt động khoa học, 2003), Nguyễn Thanh Hà, Xung quanh việc hàng xuất khẩu Việt Nam bị kiện chống BPG (Tạp chí tài chính, 2004), Lê Huy Trọng, Thuế chống BPG, kinh nghiệm của một số nước Châu Á
và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam (Tạp chí nghiên cứu tài chính kế toán,
2004) [1, tr.2-3]
Các bài báo trên các tạp chí đề cập tới chống BPG ở những khía cạnh cụ thể và thực tế Phần lớn trong số đó tập trung đưa ra một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình hàng hoá Việt Nam bị kiện chống BPG trong thương mại quốc tế
Có thể nhận xét một cách khái quát về tình hình nghiên cứu trong nước là phần lớn các công trình nghiên cứu về chống BPG thường chú trọng vào việc giới thiệu pháp luật thực định của các nước và WTO về chống BPG Tuy nhiên, một
số công trình nghiên cứu kể trên chưa có công trình nghiên cứu về khía cạnh pháp luật về CBPG dưới góc nhìn của kinh doanh quốc tế
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Làm rõ cơ sở lý luận về pháp luật chống bán phá giá của Việt Nam và WTO
Trang 7- Bàn về một số nội dung của Dự thảo Luật Quản lý ngoại thương liên quan đến các biện pháp chống bán phá giá
- Nêu ra một số kiến nghị, đề xuất, hoàn thiện pháp luật Việt Nam về chống bán phá giá
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung trình bày vào nội dung cơ bản pháp luật WTO và Việt Nam về chống bán phá giá Pháp luật về chống bán phá giá trong Dự thảo Luật Quản lý ngoại thương
Về phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những vấn đề liên quan trực tiếp đến quan hệ thương mại quốc tế của Việt Nam và những vấn đề liên quan đến pháp luật của Việt Nam về chống bán phá giá
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện những nội dung trên, tác giả đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau :
- Phương pháp thu thập, tổng hợp tài liệu
- Phương pháp thống kê học đơn giản
- Phương pháp diễn giải, quy nạp
- Phương pháp phân tích - tổng hợp
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phụ lục, kết cấu luận văn bao gồm 03 chương như sau:
Chương 1: Lý luận về Pháp luật chống bán phá giá trong kinh doanh quốc tế
Chương 2: Quy định của WTO về chống bán phá giá
Chương 3: Pháp luật Việt Nam về thực thi các quy định của WTO về chống bán phá giá và một số kiến nghị
Trang 8CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ TRONG KINH DOANH QUỐC TẾ
1.1 Kinh doanh quốc tế
Về thuật ngữ
Thuật ngữ “kinh doanh” trong Tiếng Việt có hai nghĩa:
- Nghĩa chung: Dùng để chỉ “tổ chức việc sản xuất, buôn bán dịch vụ nhằm mục đích sinh lời” [2, tr.529]
- Nghĩa riêng: kinh doanh dùng để chỉ thương mại (mua bán) Thí dụ như nói sản xuất, kinh doanh (tức là nói sản xuất và thương mại)
Trong Tiếng Anh có thuật ngữ tương đương “business” (kinh doanh), cũng được dùng theo hai nghĩa, nghĩa chung như đã nói ở trên và nghĩa riêng, dùng để chỉ “thương mại” (trade) Nhưng trong Tiếng Anh, từ “business” chủ yếu thường được dùng để chỉ thương mại Luận văn này chỉ giới hạn nói về kinh doanh theo nghĩa riêng (thương mại)
Hiện nay, dưới sự tác động mạnh mẽ của các xu hướng vận động của nền kinh tế thế giới, đặc biệt là sự tác động ngày càng tăng của tiến trình toàn cầu hóa, hoạt động kinh doanh quốc tế đã thực sự phát triển mạnh và lan tỏa trên phạm vi toàn cầu, kinh doanh quốc tế trở thành phổ biến, hình thức kinh doanh quốc tế cũng ngày càng đa dạng
Các nhà khoa học trên thế giới đã đưa ra nhiều định nghĩa về thuật ngữ kinh doanh quốc tế (tiếng Anh là International Business) Giáo sư, nhà kinh tế học
Michael R Czinkota của trường Đại học Georgetown Hoa Kỳ cho rằng “Kinh doanh quốc tế bao gồm các trao đổi được đặt ra và tiến hành vượt qua biên giới quốc gia để thỏa mãn các đối tượng là cá nhân và các tổ chức” Còn Tiến sĩ
Charles W.L.Hill, Giáo sư tại Đại học Washington, Hoa Kỳ lại đưa ra một khái
niệm khác Theo ông, “hành vi kinh doanh quốc tế là việc một doanh nghiệp tiến
Trang 9hành một hoạt động thương mại quốc tế hay đầu tư quốc tế” Thương mại quốc tế
xuất hiện khi một doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa hoặc dịch vụ cho người tiêu dùng ở một quốc gia khác, còn đầu tư quốc tế là việc doanh nghiệp đầu tư nguồn lực vào các hoạt động kinh doanh bên ngoài nước mình Tại Việt Nam, các nhà
nghiên cứu đưa ra quan điểm: “Kinh doanh quốc tế là tổng hợp toàn bộ các giao dịch kinh doanh vượt qua các biên giới của hai hay nhiều quốc gia” [3, tr.17-18]
Chúng tôi tán thành quan điểm này Qua đây xin nhấn mạnh rằng đặc điểm
cơ bản của KDQT là giao dịch kinh doanh xuyên biên giới giữa các quốc gia Đây
là đặc điểm phổ biến toàn cầu của sản xuất, kinh doanh trong thời đại hiện nay
Cơ sở lý luận và thực tiễn của KDQT hiện nay là toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế
Toàn cầu hóa sản xuất, kinh doanh quốc tế
Thế giới ngày nay là thế giới toàn cầu hóa, toàn cầu hóa trước hết là toàn cầu hóa kinh tế, toàn cầu hóa kinh tế có hai mặt là toàn cầu hóa sản xuất và toàn cầu hóa kinh doanh và thương mại
Toàn cầu hóa sản xuất là sự liên kết chuỗi giá trị toàn cầu của sản xuất và thương mại
Nếu tìm hiểu kỹ một chiếc áo hàng hiệu Châu Âu, rất có thể, nó được được thiết kế ở trung tâm thời trang thế giới Paris, vải sản xuất tại Trung Quốc, phụ liệu làm tại Ấn Độ, và may đo ở Việt Nam Đó là ví dụ đơn giản về chuỗi giá trị toàn cầu nhằm kết hợp lợi thế riêng của mỗi doanh nghiệp trong từng công đoạn để tạo
ra một sản phẩm có nhiều ưu điểm nhất
Chuỗi giá trị toàn cầu” bắt nguồn từ khái niệm “Value chain – chuỗi giá trị”
do Michael Porter khởi xướng vào thập kỷ 90 của thế kỷ 20 Theo ông, “chuỗi giá trị là một tập hợp các hoạt động để đưa một sản phẩm từ khái niệm đến khi đưa vào
sử dụng và cả sau đó Chuỗi giá trị bao gồm các hoạt động như thiết kế mẫu mã, sản xuất, marketing, phân phối và dịch vụ sau khi bán cho người tiêu dùng cuối cùng Những hoạt động này có thể được thực hiện trong phạm vi một doanh nghiệp
Trang 10hoặc được phân phối giữa các doanh nghiệp khác nhau” Chuỗi giá trị này có thể
được thực hiện trong phạm vi một khu vực địa lý hoặc trải rộng trong phạm vi nhiều quốc gia và trở thành chuỗi giá trị toàn cầu – Global value chain
Dựa trên quan điểm này của Michael Porter, năm 2002 hai nhà khoa học Mỹ là
Raphael Kaplinsky và Mike Morris đã đưa ra khái niệm: “Chuỗi giá trị toàn cầu là một dây chuyền sản xuất kinh doanh theo phương thức toàn cầu hóa, trong đó có nhiều nước tham gia, chủ yếu là các doanh nghiệp tham gia vào các công đoạn khác nhau từ thiết kế, chế tạo, tiếp thị đến phân phối và hỗ trợ người tiêu dùng” Thực tế,
chuỗi giá trị toàn cầu chỉ là một cách tiếp cận mới, toàn diện hơn về phân công lao động quốc tế, nghĩa là bất kỳ doanh nghiệp nào có tham gia vào quá trình sản xuất một sản phẩm xuất khẩu đều có thể coi là đã tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu Nhưng tiếp cận phân công lao động quốc tế theo chuỗi giá trị toàn cầu sẽ giúp các doanh nghiệp hiểu rõ hơn về vị trí của mình trên thị trường thế giới, để có thể chủ động lựa chọn công đoạn tham gia phù hợp nhằm đạt được lợi nhuận cao hơn [4]
Hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập KTQT là sự tham gia của các nước vào toàn cầu hóa sản xuất và thương mại
Ngày nay, cùng với quá trình phát triển kinh tế là việc gia tăng sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế Trong bối cảnh toàn cầu hóa, tự do hoá thương mại
và liên kết kinh tế đang là trào lưu nổi bật thì hội nhập kinh tế quốc tế, ngày càng trở thành một xu thế khách quan, đóng vai trò là một công cụ hữu hiệu để phát triển nhanh và bền vững nếu được nắm bắt và vận dụng một cách tích cực Xu hướng chung hiện nay của các quốc gia và các tổ chức kinh tế-tài chính-thương mại quốc
tế là tăng cường mở cửa, bang giao kinh tế thông qua đàm phán cắt giảm thuế quan, loại bỏ các hàng rào phi thuế quan cản trở thương mại, các hình thức cạnh tranh không lành mạnh trong thương mại, mở cửa các lĩnh vực thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, cải thiện môi trường đầu tư - kinh doanh để tạo thuận lợi cho thương mại, v.v
Trang 11Thực hiện chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng, Việt Nam đã từng bước chủ động hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới Những kết quả đạt được trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nâng cao vị thế, vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế
Việt Nam gia nhập ASEAN vào tháng 7/1995 đã mở đầu cho tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đã đánh dấu bước hội nhập toàn cầu của Việt Nam với nền kinh tế thế giới
Tiếp tục chủ trương chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, ngày 10/4/2013,
Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 22/NQ-TW về hội nhập quốc tế (Nghị quyết 22), trong đó xác định rõ hội nhập quốc tế sẽ được triển khai sâu rộng trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt, hội nhập kinh tế phải gắn với yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng và tái cơ cấu lại nền kinh tế
Đồng thời, để thực hiện Nghị quyết 22, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết
số 31/NQ-CP ngày 13/05/2014 về chương trình hành động của Chính phủ với các mục tiêu cụ thể trên các lĩnh vực thông tin tuyên truyền, quán triệt Nghị quyết 22; ban hành Chỉ thị số 15/CT-Tg ngày 07/7/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp tục triển khai Nghị quyết 22 Điều này cho thấy hội nhập kinh tế quốc tế là một chủ trương nhất quán và là nội dung trọng tâm trong chính sách đối ngoại và hợp tác kinh tế quốc tế của Đảng ta trong quá trình đổi mới đất nước
Trên thực tế, giai đoạn vừa qua, Việt Nam đã tích cực, chủ động trong đàm phán và ký kết các Hiệp định thương mại tự do mới với các đối tác Tính đến tháng 4/2016, Việt Nam đã ký kết 12 Hiệp định thương mại tự do (FTA) với 56 quốc gia
và nền kinh tế trên thế giới, trong đó có 6 FTA thế hệ mới là Hiệp định Việt Nam -
EU và Hiệp định TPP [5]
Trong bối cảnh đó, nền kinh tế Việt Nam, các doanh nghiệp Việt Nam thực
sự tham gia vào KDQT trên nhiều phương diện (thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ và các hoạt động kinh tế khác)
Trang 121.2 Bán phá giá trong kinh doanh quốc tế
Các công trình nghiên cứu về lịch sử thương mại quốc tế đã cho thấy ngay từ cuối thế kỷ XVI, các nhà sản xuất giấy ở Anh đã phàn nàn về hiện tượng những người nước ngoài đem bán giấy với mức giá chịu lỗ nhằm bóp nghẹt nền công nghiệp giấy của Anh Đến thế kỷ XVII, các thương nhân Hà Lan cũng tiến hành những hoạt động bán hàng hóa với mức giá rất thấp nhằm xóa sổ các thương nhân Pháp ra khỏi vùng Bantich Vào cuối thế kỷ XVIII, thậm chí các nhà sản xuất Anh quốc còn bị khiếu nại về việc bán giá hàng hóa quá thấp nhằm vùi dập nền công nghiệp sản xuất ở Hoa Kỳ
Tất cả những hoạt động thương mại trên đây, tuy được tiến hành vào những thời điểm khác nhau trong lịch sử và trong những ngành, nghề khác nhau, nhưng chúng đều là những hiện tượng kinh tế có chung đặc điểm là hàng hóa được sản xuất ở một nước (nước xuất khẩu) và được bán ở một nước khác (nước nhập khẩu) với mức giá rất thấp Khi thương mại hàng hóa ngày càng phát triển thì hiện tượng này trở nên ngày càng phổ biến Tuy nhiên, đến những thập kỷ đầu của thế kỷ XX, thì hiện tượng đó mới được khái niệm hóa lần đầu tiên Năm 1923, Jacob Viner một trong những học giả được viện dẫn nhiều nhất trong lĩnh vực chống bán phá giá hàng hóa đã đưa ra một khái niệm về bán phá giá hàng hóa mà sau này đã trở thành một khái niệm kinh điển được sử dụng rộng rãi trong kinh tế học Theo ông,
"bán phá giá là việc bán hàng hóa ở những mức giá khác nhau ở các thị trường quốc gia" hay nói một cách khác là "sự phân biệt về giá giữa các thị trường quốc gia" [6, tr.3] Có thể nói rằng, đây là một định nghĩa rất khái quát về bán phá giá
Nội dung của nó chỉ đơn giản là nếu một nhà sản xuất bán hàng hóa của mình ở nước của mình hoặc ở một nước nào đó với mức giá phân biệt với giá bán vào nước nhập khẩu thì đã được coi là bán phá giá
Như vậy, khái niệm bán phá giá, chỉ được dùng khi giá bán ở thị trường nhập khẩu thấp hơn giá bán ở thị trường xuất khẩu hoặc một nước nhập khẩu thứ ba Thứ
nhất, trong thương mại quốc tế, điều kiện địa lý và thị trường ở hai quốc gia khác
nhau hiển nhiên là phải khác nhau Việc giá bán của cùng một hàng hóa giữa hai
Trang 13quốc gia khác nhau là một hiện tượng phổ biến và bình thường vì thế không thể coi một cách cơ học rằng, nếu giá bán ở thị trường nhập khẩu thấp hơn ở thị trường xuất khẩu thì đã có hiện tượng bán phá giá Trên thực tế, cần phải xem xét xem liệu các lý do của việc chênh lệch giá đó có xuất phát từ những khác biệt khách quan dẫn tới chi phí khác nhau đối với hàng hóa khi đem bán ở hai thị trường khác nhau hay không Nếu sự khác biệt giá là do các yếu tố này gây ra thì sự khác biệt giá đó
là tất yếu và không thể coi là bán phá giá Còn ngược lại, sự chênh lệch giá sẽ có xu hướng mang tính chủ quan của nhà sản xuất và có thể bị coi là bán phá giá
Thứ hai, có một số học giả cho rằng, thậm chí khi giá bán không khác nhau giữa thị trường nhập khẩu và thị trường xuất khẩu thì cũng có thể đã có hoạt động bán phá giá Lý do là vì trong trường hợp đó có thể là chi phí khách quan liên quan tới hàng hóa đó ở hai thị trường là khác nhau Vì thế, xét cho cùng, nếu chi phí khách quan ở thị trường xuất khẩu cao hơn thị trường nhập khẩu thì tức là về thực chất, giá bán của hàng hóa ở nước nhập khẩu đã thấp hơn giá bán ở nước xuất khẩu [7, tr.18-21]
Vậy bán phá giá là giá xuất khẩu của nước xuất khẩu hàng hóa bán với giá thấp hơn giá trị bình thường của hàng hóa đó trong điều kiện thương mại bình thường
Trong khái niệm này, hai yếu tố mấu chốt để xác định BPG là “giá xuất
khẩu” (export price) và “giá trị thông thường” (normal value) sẽ được các cơ quan
có thẩm quyền của nước nhập khẩu xác định và tính toán theo những phương pháp
và tiêu chí được quy định trong luật lệ của WTO và pháp luật quốc gia nước mình
1.3 Pháp luật Việt Nam về chống bán phá giá
Chống bán phá giá
Do tác động của BPG và đặc biệt là tác động tới ngành sản xuất nội địa của nước nhập khẩu mà tại các nước này luôn có xu hướng làm hạn chế các tác động được cho là tiêu cực đó Có thể có nhiều biện pháp để hạn chế các tác động tiêu cực của BPG Bản thân các doanh nghiệp của nước nhập khẩu bị tác động bởi BPG có thể tự mình tìm hiểu nguyên nhân làm cho doanh nghiệp của mình kém cạnh tranh hơn so với sản phẩm nhập khẩu BPG Qua đó doanh nghiệp tự cải tiến quy trình sản
Trang 14xuất, nâng cao hiệu quả quản lý để giảm chi phí, nâng cao chất lượng và hiệu quả cạnh tranh của sản phẩm của mình Tuy nhiên, biện pháp này có thể gây nhiều khó khăn ban đầu về mặt tài chính đối với doanh nghiệp của nước nhập khẩu đồng thời
nó cũng đòi hỏi thời gian áp dụng lâu dài
Biện pháp thứ hai có thể áp dụng để đối phó với hàng hóa BPG là bản thân chính phủ nước nhập khẩu ra tay trợ giúp ngành sản xuất nội địa của mình bằng các khoản trợ cấp tài chính dưới các hình thức tín dụng lãi suất thấp, thưởng khuyến khích sản xuất v.v Tuy nhiên, biện pháp này cũng có nhược điểm là phải chi tiêu
từ ngân sách của nước nhập khẩu
Biện pháp thứ ba có thể áp dụng là thực hiện chống BPG như một hình thức chế tài trực tiếp chống lại sản phẩm nhập khẩu có BPG Đây thường là hình thức được chính phủ các nước nhập khẩu ưa chuộng nhất bởi vì nó là một biện pháp mang tính chất hành chính, không đòi hỏi nguồn lực tài chính trực tiếp từ các doanh nghiệp nội địa của nước nhập khẩu, cũng không đòi hỏi trợ cấp từ ngân sách của nước nhập khẩu Thông qua chống BPG, chính phủ nước nhập khẩu còn thu được những khoản tài chính nhất định từ việc đánh thuế chống BPG lên sản phẩm nhập khẩu có BPG để bù đắp chi phí cho hoạt động điều tra chống BPG và điều tiết ngược trở lại cho các doanh nghiệp sản xuất nội địa bị thiệt hại do sản phẩm nhập khẩu có BPG Từ đó, có thể rút ra khái niệm chống BPG như sau:
Chống BPG là việc các cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu áp dụng các biện pháp phù hợp tác động trực tiếp lên sản phẩm nhập khẩu BPG để loại bỏ những thiệt hại mà sản phẩm nhập khẩu BPG đó gây ra cho ngành sản xuất hàng hóa tương tự của nước mình [8, tr.25-26]
Pháp luật về chống bán phá giá
Để được thực hiện một cách hợp pháp và có hiệu quả, việc chống BPG thường được luật hóa Với đặc tính quyền lực, có tính bắt buộc cao được bảo đảm bởi các chế tài, pháp luật luôn được coi là công cụ hữu hiệu nhất thể chế hóa các chính sách chống BPG của nước nhập khẩu Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều
đã ban hành những văn bản quy phạm pháp luật hoặc những chế định pháp luật riêng để điều chỉnh vấn đề chống BPG Ở cấp quốc tế cũng tồn tại hệ thống những
Trang 15quy định về chống BPG trong khuôn khổ của WTO, ví dụ Điều VI GATT 1994 và Hiệp định về việc thực thi Điều VI GATT 1994 thường được gọi với tên là Hiệp định chống BPG năm 1994 – ADA 1994 Các nước thành viên của WTO đều đã thể chế hóa hoặc công nhận những quy định của hiệp định này trong khuôn khổ Pháp luật về chống BPG của nước mình Như vậy có thể nêu khái niệm pháp luật về chống BPG như sau:
Pháp luật về chống BPG của một quốc gia là pháp luật do cơ quan có thẩm quyền của quốc gia đó ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực BPG và chống BPG phù hợp với các cam kết pháp luật quốc tế về thương mại với mục đích trước tiên là bảo hộ sản xuất trong nước
Pháp luật về chống BPG của một quốc gia có thể có các loại nguồn khác nhau Nguồn của Pháp luật về chống BPG có thể là điều ước quốc tế, văn bản quy phạm pháp luật quốc gia (hầu hết các nước có pháp luật về chống BPG) hay các án
lệ của tòa án (ví dụ Hoa Kỳ, Anh và các nước theo hệ thống Thông luật)
Pháp luật về chống BPG của các quốc gia thường bao gồm một số các chế định cơ bản điều chỉnh những vấn đề chung của BPG và chống BPG như:
- Chế định về xác định việc BPG: chế định này bao gồm các quy định về các điều kiện để xác định việc BPG, cách thức xác định các điều kiện đó, các quy định
về cung cấp chứng cứ phục vụ điều tra v.v
- Chế định về xác định thiệt hại vật chất đối với ngành sản xuất nội địa của nước nhập khẩu: chế định này bao gồm các quy định về khái niệm ngành sản xuất nội địa, các mức độ thiệt hại vật chất có thể dẫn tới biện pháp chống BPG, cách thức xác định các mức độ thiệt hại đó v.v
- Chế định về xác định mối quan hệ nhân quả giữa việc BPG và thiệt hại vật chất: chế định này bao gồm các quy định về cách thức xác định mối quan hệ nhân quả giữa việc BPG và thiệt hại vật chất đối với ngành sản xuất nội địa của nước nhập khẩu, những trường hợp ngoại lệ không được coi là có mối quan hệ nhân quả
đó v.v
Trang 16- Chế định về các biện pháp chống BPG cụ thể: chế định này bao gồm các quy định về các biện pháp chống BPG cụ thể mà cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu được phép áp dụng, điều kiện áp dụng và cách thức xác định mức cụ thể khi áp dụng, thời hạn áp dụng v.v
- Chế định về thủ tục rà soát việc áp dụng biện pháp chống BPG: chế định này bao gồm các quy định về các hình thức rà soát, điều kiện áp dụng các hình thức
rà soát, cơ quan có thẩm quyền rà soát, thời hạn và nội dung tiến hành đối với từng thủ tục rà soát cụ thể v.v [9, tr.26-27]
Pháp luật Việt Nam về chống bán phá giá
Thuật ngữ bán phá giá khi xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa qua biên giới lần đầu tiên được ghi nhận trong pháp luật Việt Nam ở Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 04/1998/QH10được Quốc hội Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ ba thông qua ngày 20-5-1998 Điều này cho phép cơ quan nhà nước áp dụng thuế bổ sung đối với hàng nhập khẩu bán phá giá vào Việt Nam Tuy nhiên, Luật này chưa quy định hình thức thuế cụ thể áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu bán phá giá
Ba năm sau đó, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số TTg ngày 04-4-2001 về quản lý xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2001-
46/2001/QĐ-2005, trong đó quy định việc xây dựng nguyên tắc áp dụng thuế chống trợ cấp và thuế chống bán phá giá Tuy nhiên, cho đến thời điểm đó, pháp luật Việt Nam chưa hình thành được một cơ chế pháp lý cụ thể và ổn định để phát hiện và xử lý các hành vi bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam Với lý do đó, theo đề nghị của Bộ Tư pháp, ngày 27-9-2001, Bộ Thương mại Việt Nam (nay là Bộ Công Thương) đã có Tờ trình lên Chính phủ đề nghị đưa vào kế hoạch xây dựng pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XI một Pháp lệnh về chống bán
phá giá Trong Tờ trình, Bộ Thương mại nêu rõ: "Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là đang tích cực đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), nên sẽ phải loại bỏ dần các hàng rào thuế quan
Trang 17trong những năm tới, chẳng hạn như hạn chế định lượng, giá tính thuế tối thiểu Đồng thời, thuế quan sẽ là công cụ bảo hộ chủ yếu cho sản xuất trong nước Vì vậy việc áp dụng thuế chống trợ cấp và thuế chống bán phá giá là một nhu cầu cấp thiết để tăng cường bảo hộ sản xuất trong nước"
Sau ba năm soạn thảo, ngày 29-4-2004, Pháp lệnh chống bán phá giá được ban hành, đánh dấu sự ra đời của một lĩnh vực pháp luật mới - pháp luật về chống bán phá giá của Việt Nam Thực ra trước đó, khái niệm "bán phá giá" và "chống bán phá giá" đã được quy định một cách khá cụ thể tại Pháp lệnh giá năm 2002 (Pháp lệnh số 40/2002/PL-UBTVQH10) Tuy nhiên, khái niệm bán phá giá được quy định trong Pháp lệnh giá năm 2002 khác với khái niệm bán phá giá được quy định trong Pháp lệnh chống bán phá giá năm 2004 đồng thời, được đề cập ở đây
Khoản 3, Điều 4, Pháp lệnh giá năm 2002 quy định: Bán phá giá là hành vi bán hàng hóa, dịch vụ với giá quá thấp so với giá thông thường trên thị trường Việt Nam đế chiếm lĩnh thị trường, hạn chế cạnh tranh đúng pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh khác và lợi ích của Nhà nước."
Như vậy, khái niệm bán phá giá trong Pháp lệnh giá năm 2002 bao gồm cả hành vi kinh doanh của các doanh nghiệp trong nưóc có bán hàng hóa hoặc dịch vụ tại thị trường Việt Nam với mức giá quá thấp so với mức giá thông thường Trong khi đó, khái niệm bán phá giá được quy định trong Pháp lệnh chống bán phá giá năm 2004 và được đề cập ở đây chỉ bao gồm hoạt động bán hàng hóa qua biên giới với mức giá thấp hơn giá trị thông thường của sản phẩm tương tự tại thị trường xuất khẩu Hơn một năm sau khi Pháp lệnh chống bán phá giá được ban hành, ngày 11-7-2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 90/2005/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam Cũng trong năm đó, Quốc hội Việt Nam khóa XI cũng ban hành Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2005, trong đó quy định hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam ngoài thuế nhập khẩu và các loại thuế khác có thể bị đánh thuế chống bán phá giá nếu như có hiện tượng bán phá giá theo quy định của pháp luật
Trang 18Việt Nam (Điều 1) Cho đến nay, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh trực tiếp hoạt động chống bán phá giá tại Việt Nam bao gồm:
- Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2005 (Luật số 45/2005/QH11);
- Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam (Pháp lệnh
số 20/2004/PL-UBTVQH 11);
- Nghị định số 90/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam;
- Nghị định số 04/2006/NĐ-CP ngày 09-01-2006 của Chính phủ về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Hội đồng xử lý vụ việc chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ;
- Nghị định số 06/2006/NĐ-CP ngày 09-01-2006 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý cạnh tranh;
- Thông tư số 106/2005/TT-BTC ngày 05-12-2005 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thu, nộp, hoàn trả thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp và các khoản đảm bảo thanh toán thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp;
- Quyết định số 32/QĐ-QLCT ngày 15-5-2008 của Cục trưởng Cục Quản lý cạnh tranh Bộ Công Thương về việc ban hành Mẫu hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá
Như tiêu đề của các văn bản quy phạm pháp luật trên đây cho thấy, pháp luật nội dung về chống bán phá giá của Việt Nam chủ yếu tập trung trong hai văn bản là Pháp lệnh chống bán phá giá và Nghị định số 90/2005/NĐ-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ Các văn bản quy phạm pháp luật khác đều hoặc chỉ quy định mang tính ghi nhận về thuế chống bán phá giá (Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2005) hoặc quy định về các cơ quan có thẩm quyền trong lĩnh vực chống bán phá giá (Nghị định số 04/2006/NĐ-CP và Nghị định số 06/2006/NĐ-CP) hay các vấn
đề liên quan tới thủ tục kiện và áp thuế chống bán phá giá (Thông tư số
Trang 19106/2005/TT-BTC, Quyết định số 32/QĐ-QLCT)
Như được chỉ rõ trong Tờ trình ngày 27-9-2001 của Bộ Thương mại (nay là
Bộ Công Thương) đề xuất xây dựng Pháp lệnh chống bán phá giá, nhu cầu chính
và trực tiếp của việc ban hành Pháp lệnh này khi đó là phục vụ quá trình Việt Nam đang thực hiện những nỗ lực gia nhập WTO Theo đó, hệ thống pháp luật của Việt Nam nói chung và pháp luật về chống bán phá giá nói riêng cần phải phù hợp với luật lệ tương ứng của WTO Trên tinh thần đó, các chế định của Pháp lệnh chống bán phá giá của Việt Nam đã được xây dựng với nội dung khá bám sát các quy định của ADA
Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam năm 2004 bao gồm 29 điều được chia thành 6 chương, điều chỉnh những vấn đề lớn của chống bán phá giá ở Việt Nam như nguyên tắc xác định bán phá giá, các biện pháp chống bán phá giá, điều tra về áp dụng biện pháp chống bán phá giá, áp dụng biện pháp chống bán phá giá, rà soát việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá, khiếu nại và xử lý vi phạm Nghị định số 90/2005/NĐ-CP gồm có 5 chương, 44 điều quy định cụ thể hóa Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam năm 2004 về các vấn đề như cơ quan chống bán phá giá, người tiến hành giải quyết
vụ việc chống bán phá giá, người tham gia quá trình giải quyết vụ việc chống bán phá giá, điều tra áp dụng thuế chống bán phá giá, thủ tục chi tiết áp dụng các biện pháp chống bán phá giá
Nội dung của một số chế định cơ bản trong pháp luật về chống bán phá giá của Việt Nam được quy định như sau:
- Về điều kiện áp dụng biện pháp chống bán phá giá: hàng hóa nhập khẩu
vào Việt Nam có thể bị áp dụng biện pháp chống bán phá giá nếu như cơ quan chống bán phá giá của Việt Nam chứng minh được rằng: (1) Hàng hóa đó có bán phá giá khi nhập khẩu vào Việt Nam; (2) Có thiệt hại vật chất dưới hình thức thiệt hại đáng kể hoặc đe dọa gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước của Việt Nam; và (3) Có mối quan hệ nhân quả giữa việc bán phá giá hàng hóa nhập
Trang 20khẩu và thiệt hại gây ra cho ngành sản xuất trong nước Ngoài ra, pháp luật Việt Nam còn xác định một nguyên tắc chung là việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá không được gây thiệt hại đến lợi ích kinh tế - xã hội trong nước
- Về điều kiện xác định có bán phá giá hàng hóa khi nhập khẩu vào Việt Nam: Hàng hóa bị coi là bán phá giá khi nhập khẩu vào Việt Nam nếu hàng hóa đó
được bán với giá thấp hơn giá thông thường Giá thông thường của hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam là giá có thể so sánh được của hàng hóa tương tự đang được bán trên thị trường nội địa của nước hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu trong điều kiện thương mại thông thường Nếu không có hàng hóa tương tự được bán trên thị trường nội địa của nước hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu hoặc có hàng hóa tương tự được bán nhưng với khối lượng, số lượng hoặc giá trị hàng hóa không đáng kể thì giá thông thường của hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam được xác định bằng cách, lấy giá tương ứng của hàng hóa đó đang bán ở nước thứ ba trong điều kiện thương mại thông thường hoặc mức giá do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam tự xây dựng theo quy định của pháp luật
- Về việc xác định thiệt hại vật chất: pháp luật Việt Nam quy định thiệt hại
vật chất gây ra cho ngành sản xuất trong nước của Việt Nam có thể được xác định dưới hai hình thức: Hình thức thứ nhất là, thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước Đây là tình trạng suy giảm đáng kể hoặc kìm hãm tăng trưởng về sản lượng, mức giá, mức tiêu thụ hàng hóa, lợi nhuận, tốc độ phát triển sản xuất, việc làm của người lao động, đầu tư và các chỉ tiêu khác của ngành sản xuất trong nước hoặc là tình trạng khó khăn cho việc hình thành một ngành sản xuất trong nước Hình thức thứ hai là, đe dọa gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước, tức là khả năng trước mắt, rõ ràng và chứng minh được sẽ gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước
- Về cơ quan chống bán phá giá và cơ quan ra quyết định chống bán phá giá:
cơ quan chống bán phá giá của Việt Nam được đặt trong Bộ Thương mại và bao gồm hai cơ quan: Cơ quan điều tra chống bán phá giá và Hội đồng xử lý vụ việc
Trang 21chống bán phá giá Cơ quan điều tra chống bán phá giá là Cục Quản lý cạnh tranh trực thuộc Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương) Cơ quan điều tra chống bán phá giá là cơ quan trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ điều tra để áp dụng biện pháp chống bán phá giá theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, tiến hành yêu cầu các bên liên quan cung cấp thông tin và tài liệu liên quan tới vụ việc chống bán phá giá, tổ chức tham vấn với các bên liên quan, đưa ra kết luận sơ bộ về các nội dung liên quan đến quá trình điều tra, kiến nghị biện pháp chống bán phá giá và nội dung cam kết giá, tiến hành rà soát việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền Hội đồng xử lý là một tập thể bao gồm các thành viên do Bộ trưởng Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương) bổ nhiệm, hoạt động theo nguyên tắc tập thể và có nhiệm kỳ 5 năm Hội đồng xử lý xem xét các kết luận của Cơ quan điều tra chống bán phá giá, thảo luận và quyết định về việc có hay không có hành vi bán phá giá vào Việt Nam gây ra - hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất Nói cách khác, Hội đồng xử lý là cơ quan dựa trên
hồ sơ điều tra của Cơ quan điều tra chống bán phá giá để xác định đã có đủ các điều kiện để áp dụng các biện pháp chống bán phá giá hay chưa Trên cơ sở đó, Hội đồng xử lý kiến nghị lên cơ quan có thẩm quyền để ra quyết định chống bán phá giá Người có thẩm quyền ra quyết định chống bán phá giá cũng như quyết định tiên hành rà soát việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá là Bộ trưởng Bộ Thương mại nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (nay là Bộ Công Thương)
- Về các biện pháp chống bán phá giá: pháp luật Việt Nam cho phép cơ quan
có thẩm quyền áp dụng ba biện pháp chống bán phá giá:
+ Thuế chống bán phá giá tạm thời;
+ Thuế chống bán phá giá; và
+ Cam kết giá, theo đó doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa bán phá giá cam kết thực hiện các biện pháp nhằm loại trừ thiệt hại mà việc bán phá giá gây ra đối với ngành sản xuất trong nước của Việt Nam
- Về vấn đề rà soát việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá: pháp luật
Trang 22Việt Nam quy định có thể tiến hành hai hình thức rà soát việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá, đó là:
+ Rà soát giữa kỳ: hình thức rà soát này được tiến hành sau một năm, kể từ
ngày có quy định áp dụng biện pháp chống bán phá giá Bộ trưởng Bộ Thương mại (nay là Bộ trưởng Bộ Công Thương) có quyền quyết định rà soát việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá khi có đề nghị của một hoặc nhiều bên có liên quan và trên
cơ sở xem xét các bằng chứng do bên đề nghị cung cấp
+ Rà soát trước khi hết hạn áp dụng biện pháp chống bán phá giá: hình thức
rà soát này được thực hiện trong vòng một năm trước ngày thời hạn áp dụng biện pháp chống bán phá giá hết hiệu lực Bộ trưởng Bộ Thương mại (nay là Bộ trưởng
Bộ Công Thương) là người quyết định tiến hành hình thức rà soát này
Nhìn chung, có thể thấy pháp luật về chống bán phá giá hiện hành của Việt Nam có những điểm cần chú ý sau:
- Các quy định của pháp luật về chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam năm 2004 còn khá chung chung và thiếu những quy định cụ thể giúp các doanh nghiệp có thể áp dụng được ngay mà không cần giải thích gì thêm Điều này được thể hiện trong các quy định về thủ tục khởi kiện và theo kiện chống bán phá giá Ngoài những quy định về thủ tục khá chung chung trong Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam năm 2004 và Nghị định số 90/2005/NĐ-
CP, các quy định khác chỉ điều chỉnh về việc thu nộp, hoàn trả thuế chống bán phá giá (Thông tư số 106/2005/TT-BTC) và hướng dẫn mẫu hồ sơ phục vụ việc khởi kiện chống bán phá giá (Quyết định số 32/QĐ-QLCT)
- Ngoài các quy định về thủ tục, một số quy định về nội dung của pháp luật Việt Nam cũng rất chung chung thậm chí, còn ít cụ thể hơn so với luật lệ của WTO,
ví dụ thiếu các quy định về điều kiện cụ thể và cách thức tính toán giá trị thông thường theo từng phương pháp tính toán khác nhau, về cách thức cụ thể tiến hành xác định thiệt hại đối với ngành sản xuất trong nước, quy định về điều kiện áp dụng
biện pháp cam kết về giá, v.v…[10, tr.208-219]
Trang 23- Những quy định của Pháp luật phòng vệ thương mại dừng ở mức độ pháp
lệnh (có hiệu lực dưới luật) Theo các nhà nghiên cứu và nhận định của Chính phủ, Pháp lệnh PVTM trong đó có chống bán phá giá chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn, vì thế quốc hội đang xây dựng Luật Quản lý ngoại thương dự kiến sẽ ban hành vào năm 2017 Như vậy, pháp luật Việt Nam về chống bán phá giá còn phải tiếp tục thực hiện để phục vụ cho mục tiêu phát triển thương mại, phát triển kinh
doanh quốc tế, phát triển hoạt động KDQT ở nước ngoài và của Việt Nam
1.4 Nguyên nhân bán phá giá
Trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, có khá nhiều lý do để doanh nghiệp xuất khẩu hàng hoá của mình với mức giá thấp hơn giá ở thị trường trong nước hoặc thậm chí là thấp hơn mức chi phí nhất định Có một số nguyên nhân điển hình như sau:
Thứ nhất, khi một doanh nghiệp đã có vị thế tốt trong thị trường nội địa
muốn phát triển một thị trường mới ở một nước khác bị phân cách bởi ranh giới địa
lý, họ sẽ phải chịu thêm các chi phí phụ trội như thuế nhập khẩu, chi phí chuyên chở, chi phí cho các rào cản kỹ thuật Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn có thể muốn duy trì mức giá thấp cho hàng hóa của mình để tạo thế cạnh tranh mà không có ý định xâm hại tới môi trường cạnh tranh của thị trường mới
Thứ hai, trong trường hợp mở rộng quy mô sản xuất để tối đa hoá lợi nhuận,
doanh nghiệp có thể sẽ có nhu cầu bán hàng với mức giá thấp để khuếch trương hàng hóa trong thị trường mới, đặc biệt khi doanh nghiệp đang theo đuổi chương trình khuyến mãi dài kỳ ở thị trường mới để chiếm lĩnh thị phần
Thứ ba, trong trường hợp doanh nghiệp sản xuất tối đa công suất và giá của
hàng hóa ở thị trường trong nước đã bị khống chế bởi nhà nước hoặc bởi các tập đoàn mà doanh nghiệp là thành viên, doanh nghiệp có thể sẽ chỉ có cách lựa chọn duy nhất là hạ giá hàng hóa ở thị trường khác để cắt giảm lỗ
Thứ tư, cũng có thể có trường hợp doanh nghiệp đã có thế đứng và tiềm lực
rất tốt trong nước và muốn chiếm lĩnh thị trường nước ngoài bằng cách loại bỏ các
Trang 24đối thủ cạnh tranh ở thị trường nước ngoài Trong trường hợp đó, doanh nghiệp có thể lợi dụng sự vững chắc của thị phần trong nước để bán hàng hóa với mức giá rất thấp ở thị trường nước ngoài trong một thời gian dài nhằm loại bỏ các đối thủ cạnh tranh ra khỏi thị trường đó Khi đó, mục đích cuối cùng mà doanh nghiệp hướng tới rất có thể là vị thế thống lĩnh thị trường để từ đó chiếm thế độc quyền tiếp theo là nâng giá bán để tối đa hoá lợi nhuận
Thứ năm, khi một doanh nghiệp đang thử nghiệm một dòng hàng hóa mới ở
thị trường mới, doanh nghiệp có thể sẽ bán hàng hóa thử nghiệm với mức giá thậm chí thấp hơn chi phí bỏ ra với mục đích dành được sự chú ý và chấp nhận của người tiêu dùng đối với hàng hóa mới
Thứ sáu, có một số trường hợp, sự thiếu thông tin về thị trường mới làm cho
doanh nghiệp phải ký hợp đồng và ấn định giá bán hàng hóa trước khi bắt đầu sản xuất hàng hóa Những biến động giá đầu vào cùng với sự thiếu tính toán trước có thể làm cho mức giá ấn định trước thấp hơn so với chi phí sản xuất thực tế sau đó
Thứ bảy, cuối cùng, đối với một số ngành sản xuất có mức độ tập trung tư
bản cao như công nghiệp luyện thép hoặc thu hoạch theo mùa như nông sản, luôn luôn có những thời kỳ hàng hóa bị dôi ra so với nhu cầu của thị trường Khi đó, doanh nghiệp không có cách nào khác phải bán hàng hóa dôi ra ở mức thấp hơn chi phí để cắt lỗ Đặc biệt đối với hàng nông sản đã đến kỳ thu hoạch không thể để lâu như hoa quả hay cá nuôi thương phẩm, việc bán với mức giá thấp hơn chi phí sản xuất để bù đắp lỗ là điều gần như không thể tránh khỏi
Như vậy có thể thấy rằng trong nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế có rất nhiều lý do dẫn tới việc doanh nghiệp quyết định bán hàng hóa của mình với mức giá thấp hơn thị trường nội địa hoặc thậm chí là thấp hơn chi phí sản xuất, những trường hợp mà từ góc độ kinh tế có thể bị coi là BPG Tuy nhiên, do tính hợp
lý về mặt kinh tế của những trường hợp đó, khó có thể nói rằng tất cả các trường hợp BPG đó đều có ý đồ xấu hay có hại đối với môi trường cạnh tranh hoặc nền kinh tế của nước nhập khẩu [11, tr.17-18]
Trang 251.5 Tầm quan trọng của chống bán phá giá
Chống bán phá giá là một vấn đề đa chiều và các quy định của pháp luật chống bán phá giá có sự liên quan mật thiết đến các vấn đề chính trị, kinh tế, thể chế và truyền thống Nhìn nhận một cách khái quát, có thể thấy một số vai trò của pháp luật chống bán phá giá như sau:
Thứ nhất, pháp luật chống bán phá giá có vai trò bảo vệ ngành sản xuất nội
địa chống lại các đối thủ cạnh tranh với những hành vi cạnh tranh không lành mạnh nhằm chiếm lĩnh thị trường bằng các sản phẩm nhập khẩu giá rẻ Khi tự do thương mại đã trở thành xu hướng tất yếu, các quốc gia cần đến chế định pháp luật chống bán phá giá như một chiếc "van an toàn" có thể được khóa lại bất cứ lúc nào nhằm ngăn chặn ngay lập tức hành vi cạnh tranh không lành mạnh của các doanh nghiệp nước ngoài Việc bảo hộ ngành sản xuất trong nước không chỉ phục vụ mục đích trước mắt là tự vệ trước những hành vi cạnh tranh không lành mạnh mà còn phục
vụ yêu cầu lâu dài là tạo điều kiện cho việc xây dựng những ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam
Thứ hai, pháp luật chống bán phá giá giúp bảo vệ tự do thương mại, duy trì
trật tự của thị trường chung Xét trên bình diện rộng lớn, bảo vệ sự ổn định cho ngành sản xuất nội địa của mỗi quốc gia sẽ góp phần duy trì trật tự thương mại quốc
tế công bằng Tuy nhiên, các công cụ chống bán phá giá phải được sử dụng một cách đúng đắn, tránh tình trạng lạm dụng nhằm ngăn cản tự do hóa thương mại
Đối với Việt Nam, một quốc gia có nền kinh tế đang phát triển, việc bảo hộ các ngành sản xuất trong nước trước sức ép cạnh tranh của các doanh nghiệp nước ngoài là một việc rất quan trọng Chính vì vậy, trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay, việc triển khai Pháp luật chống bán phá giá có ý nghĩa cực kì quan trọng đối với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Khi hàng rào thuế quan dần dần được cắt giảm theo lộ trình mở cửa thị trường, luồng hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam sẽ
có nhiều lợi thế cạnh tranh hơn Mặt khác, nhiều tập đoàn đa quốc gia với sức mạnh tài chính của mình có thể thực hiện hành vi thương mại không công bằng nhằm
Trang 26thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường Vì vậy, công cụ chống bán phá giá khi được tận dụng một cách hợp lý, phù hợp với các quy định của hiệp định mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia sẽ giúp hạn chế được thiệt hại đáng kể hoặc đe dọa gây thiệt hại đáng kể mà luồng hàng hóa nhập khẩu bị bán phá giá gây ra cho ngành sản xuất trong nước Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với ngành sản xuất có xuất phát điểm thấp [12, tr.17-18]
Kể từ khi ra đời đến nay, các biện pháp chống bán phá giá ngày càng được sử dụng phổ biến trên toàn thế giới Số lượng các nước ban hành và áp dụng các quy định về chống bán phá giá cũng như các vụ điều tra chống bán phá giá trên thế giới không ngừng tăng lên qua các năm Lý giải cho sự cần thiết của việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá trong thường mại quốc tế có hai nguyên nhân: nguyên nhân khách quan do quá trình toàn cầu hóa kinh tế thế giới khiến cạnh tranh thương mại giữa các nước ngày càng mạnh mẽ, buộc các nước phải tìm ra công cụ để đối phó với áp lực cạnh tranh đó; nguyên nhân chủ quan do nhiều nước có những ngành sản xuất còn nhỏ và yếu, cần có những “khiên chắn” mới khi môi trường thương mại quốc tế ngày càng thông thoáng do việc cắt giảm hàng rào thuế quan và phi thuế quan
Nhân loại trên toàn thế giới đã bước vào ngưỡng cửa của thế kỷ XXI với quá trình hội nhập sâu rộng trên nhiều phương diện, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế Đây
là thời kỳ mà các quan hệ kinh tế quốc tế đã phát triển tới mức không một quốc gia nào có thể tồn tại và phát triển mà không chịu sự tác động của các mối quan hệ ấy Nền kinh tế thế giới đã và đang thay đổi mạnh mẽ từ một hệ thống gồm các nền kinh tế quốc gia sang một nền kinh tế toàn cầu với các mối liên kết, tính tương tác
và số lượng các quy định thống nhất ngày một tăng
Kể từ khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai, thương mại đã trở thành động năng không thể tách rời của quá trình phát triển kinh tế thế giới Các vòng đàm phán tự do hóa thương mại kế tiếp nhau trong khuôn khổ Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) và sau này Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã
Trang 27giúp tái thiết các nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá và thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế trên toàn cầu diễn ra nhanh và mạnh mẽ hơn
Tuy nhiên, hội nhập có tác động như con dao hai lưỡi đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia Sự thông thoáng nó tạo ra do việc cắt giảm các hàng rào bảo hộ mậu dịch thuế quan và phi thuế quan một mặt tạo ra môi trường thương mại tự do hơn, năng động hơn nhưng đồng thời nó cũng chính là động lực khiến cho cạnh tranh thương mại giữa các quốc gia ngày càng trở nên gay gắt Vấn đề được đặt ra là, trong thương mại quốc tế, hoạt động cạnh tranh bao gồm cả cạnh tranh lành mạnh
và cạnh tranh không lành mạnh Cạnh tranh lành mạnh hay cạnh tranh công bằng là
sự cạnh tranh dựa trên cơ sở thực tế giá thành, chất lượng, các điều kiện lợi thế hoặc các yếu tố tương tự mà không sử dụng các “mánh khóe” hay hành vi gian lận để giành những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hàng hóa Nó chính là động lực mạnh mẽ nhất thúc đẩy sản xuất không ngừng phát triển, khoa học công nghệ không ngừng tiến bộ và tăng cường hoạt động giao lưu thương mại trên toàn thế giới Ngược lại, các biện pháp cạnh tranh không lành mạnh, hay cạnh tranh không công bằng lại có thể gây ra những tác động tiêu cực như tiêu diệt đối thủ cạnh tranh, triệt tiêu động lực phát triển của các nhà sản xuất, thậm chí bóp méo các dòng thương mại trên thị trường…Vì vậy, để đối phó với những hành vi cạnh tranh không lành mạnh nhằm bảo vệ thị trường trong nước bao gồm các ngành sản xuất sản phẩm và các ngành, dịch vụ liên quan đến ngành sản xuất đó, bảo vệ quyền lợi của các chủ thể trong nước (người sản xuất, người tiêu dùng) cũng như bảo vệ các quyền lợi chính trị của quốc gia, nhiều biện pháp bảo hộ đã được các nước quy định
Trang 28phá giá;…Tuy nhiên, với xu hướng toàn cầu hóa kinh tế mạnh mẽ, các quốc gia tham gia vào các tổ chức kinh tế và khu vực buộc phải thực hiện các cam kết mậu dịch tự do nên hiện nay, các công cụ bảo hộ mậu dịch đang chuyển dần từ những biện pháp truyền thống như thuế quan, hạn ngạch sang các biện pháp hiện đại hơn như các rào cản về kỹ thuật, chính sách chống bán phá giá, chính sách đảm bảo cạnh tranh và chống độc quyền, biện pháp bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
Chẳng hạn năm 2009, khi khủng hoảng kinh tế toàn cầu nổ ra, hàng loạt các biện pháp bảo hộ đã được các nước trên thế giới áp dụng nhằm đảm bảo việc làm và duy trì tăng trưởng kinh tế: chỉ trong 1 năm các nước trên thế giới đã thực hiện 257 biện pháp bảo hộ mậu dịch và còn đến 188 biện pháp nữa đã được hoạch định cho năm 2010 Trong đó, đáng lưu ý là số trường hợp sử dụng các công cụ hạn chế phi thuế quan, các biện pháp vệ sinh, lệnh cấm nhập khẩu chỉ chiếm 10%, số trường hợp áp dụng công cụ thuế quan cũng chỉ chiếm 14%, còn đến hơn 50% trường hợp
là sử dụng các biện pháp phân biệt đối xử nhằm bảo vệ các nhà sản xuất nội địa, trong đó phần lớn là biện pháp chống phá giá Như vậy, có thể thấy sự phát triển của thương mại quốc tế đã khiến nhu cầu sử dụng các biện pháp cần thiết để đối phó với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của các nước tăng lên Là công cụ bảo vệ thị trường hiệu quả, lại được pháp luật quốc tế thừa nhận, chống bán phá giá tất yếu đã trở thành công cụ được lựa chọn bởi nhiều nước trên thế giới
Nguyên nhân thứ hai dẫn đến sự gia tăng các vụ điều tra chống bán phá giá trên thế giới xuất phát từ chính nhu cầu bảo vệ ngành sản xuất nội địa của một số nước Đây chính là điểm mấu chốt gây ra cuộc tranh luận về vai trò của các biện pháp chống bán phá giá là công cụ bảo vệ cho nền sản xuất nội địa của nước đó hay
là một công cụ bảo hộ thiếu công bằng mà nước đó áp dụng nhằm duy trì hoạt động của ngành sản xuất nước mình Mỗi quốc gia có những lợi thế khác nhau nên năng lực sản xuất của cùng một ngành ở mỗi nước có thể khác nhau Khi nền sản xuất một sản phẩm nào đó của một nước yếu kém hơn so với nền sản xuất sản phẩm tương tự ở nước khác, nền sản xuất nước đó tất yếu sẽ không tránh khỏi mối đe dọa lớn từ các đối thủ cạnh tranh nước ngoài khi tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế
Trang 29quốc tế, đặc biệt khi quá trình hội nhập đó đòi hỏi các rào cản thuế quan và phi thuế quan phải dần được cắt giảm tiến tới xóa bỏ hoàn toàn Thực tế đó đã đặt ra yêu cầu cho các nước như vậy phải tìm ra biện pháp một mặt vẫn bảo vệ được thị trường nội địa cho các nhà sản xuất trong nước mình, nhưng mặt khác vẫn đảm bảo không đi
ngược với các cam kết quốc tế mà nước đó đã tham gia
Hàng loạt các nghiên cứu chỉ ra rằng biện pháp chống bán phá giá đã và đang ngày càng nhiều quốc gia trên thế giới sử dụng để bảo vệ thị trường nội địa của nước mình Chống bán phá giá là một chính sách bảo hộ được thừa nhận rộng rãi và được quy định trong luật pháp quốc tế cũng như trong hệ thống luật pháp của nhiều quốc gia Nhiều tổ chức khu vực và quốc tế lớn trong lĩnh vực kinh tế cũng có những quy định riêng cho vấn đề này, đặc biệt trong đó Tổ chức thương mại thế giới cũng đã ban hành những quy định về chống bán phá giá, đó là “Hiệp định về thực thi Điều VI GATT 1994” hay thường gọi với tên “Hiệp định chống bán phá giá WTO” (ADA) Đây là một trong những hiệp định thương mại đa biên của WTO
và được xếp trong Phụ lục I A của Hiệp định Marrakech thành lập Tổ chức Thương mại thế giới, có hiệu lực bắt buộc đối với tất cả các nước thành viên của WTO Tóm lại, bán phá giá bị coi là một trong những hành vi thương mại không lành mạnh và luật pháp quốc tế cho phép các nước thực thi những biện pháp cần thiết để chống lại hành vi đó Về bản chất, các biện pháp chống bán phá giá đều nhằm làm giảm lượng hàng nhập khẩu được cho là bị bán phá giá để tạo điều kiện cho các nhà sản xuất sản phẩm tương tự trong nước tiếp tục duy trì ngành sản xuất
đó, đồng thời có thêm thời gian để củng cố năng lực sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh với các nhà sản xuất nước ngoài Do đó, đối tượng được hưởng lợi khi các biện pháp chống bán phá giá được áp dụng chính là các nhà sản xuất sản phẩm tương tự tại nước nhập khẩu Trên bình diện thương mại quốc tế, các biện pháp chống bán phá giá, thủ tục và trình tự áp dụng các biện pháp đó được quy định tại điều VI Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT 1994 và “Hiệp định về thực thi VI của GATT 1994”- thường gọi là “Hiệp định chống bán phá giá của WTO” Trên cơ sở những quy định chung này, mỗi quốc gia có quyền ban hành và
Trang 30áp dụng pháp luật về chống bán phá giá tại nước mình Phân tích lý luận cũng như thực tiễn quan sát đã cho thấy, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra càng mạnh
mẽ thì vai trò bảo vệ thị trường nội địa các nước của biện pháp chống bán phá giá càng được thể hiện rõ ràng hơn
Trang 31CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA WTO
VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ
WTO là tổ chức thương mại quốc tế toàn cầu Hiện nay WTO có hơn 160 nước là nền kinh tế thành viên Tất cả các thành viên đều cam kết thực hiện Hiệp định về CBPG của WTO Pháp lệnh quốc tế khu vực của EU, ASEAN, TPP… về chống bán phá giá đều dựa trên các cơ sở các quy định của WTO đều qui chiếu về việc phải thực hiện Hiệp định này Vì vậy, trong phạm vi luận văn của mình, tác giả
chọn và trình bày pháp luật quốc tế toàn cầu của WTO về chống bán phá giá
2.1 Giới thiệu chung về Hiệp định thực thi Điều VI của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại năm 1994
Năm 1995, WTO đã ban hành Hiệp định thực thi Điều VI của GATT 1994
về chống bán phá giá (thường gọi là Hiệp định Chống bán phá giá (Anti-dumping Agreement - (ADA)) ADA gồm 3 phần, được chia thành 18 điều, với 4 nhóm vấn
đề chính sau:
- Các quy định về nội dung, chi tiết về cách thức, tiêu chí xác định việc bán phá giá, thiệt hại, mối quan hệ nhân quả giữa việc bán phá giá và thiệt hại;
- Các quy định về thủ tục, liên quan đến điều tra, áp thuế chống bán phá giá;
- Các quy định về thẩm quyền của Uỷ ban về thực tiễn chống bán phá giá (Committee on Anti-dumping Practices);
- Các quy định về thủ tục giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia liên quan đến biện pháp chống bán phá giá;
Những quy định của WTO về chống bán phá giá đã tạo ra một khuôn khổ pháp lý để các quốc gia có thể dựa vào đó để chống lại một hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh trong kinh doanh quốc tế đang phổ biến hiện nay là bán phá giá, đồng thời ngăn ngừa sự lạm dụng biện pháp này như là một rào cản phi thuế mới trong thương mại quốc tế
Trang 32Bên cạnh ưu điểm trên thì những quy định của ADA cũng còn có một số điểm hạn chế như sau: (1) Một số quy định còn chưa rõ ràng, chưa đầy đủ, là nguồn gốc cho những sự tranh chấp sau này, ví dụ như vấn đề so sánh giữa sản phẩm xuất khẩu và sản phẩm tiêu thụ trong nước, quy định về sản phẩm tương tự; (2) Trình tự tiến hành điều tra quá phức tạp, gây nhiều tốn kém nguồn lực cả cho cơ quan điều tra và đối tượng bị điều tra, bị áp dụng các biện pháp này chống bán phá giá, và (3) ADA còn chưa quy định rõ về những vụ việc liên quan đến các đối tác có liên hệ,
trước hết là các công ty xuyên quốc gia [13, tr.21-22]
2.2 Một số nội dung cơ bản của Hiệp định về chống bán phá giá
Điều kiện cần để áp dụng biện pháp CBPG
Theo Hiệp định này, nước nhập khẩu chỉ được áp dụng các biện pháp chống bán phá giá khi:
- Hàng nhập khẩu bị bán phá giá;
- Gây thiệt hại về vật chất cho ngành sản xuất trong nước; và
- Có tồn tại quan hệ nhân quả giữa yếu tố thứ nhất và yếu tố thứ hai
Hiệp định Chống bán phá giá của WTO qui định rất chi tiết nguyên tắc xác định phá giá, cách tính biên độ phá giá và thủ tục điều tra phá giá:
Xác định việc bán phá giá
Định nghĩa phá giá: Một sản phẩm được coi là bị bán phá giá khi giá xuất
khẩu sản phẩm đó thấp hơn giá có thể so sánh được trong điều kiện thương mại bình thường
Giá trị thông thường của sản phẩm tương tự khi tiêu thụ ở thị trường nước xuất khẩu
Điều kiện thương mại bình thường: WTO không định nghĩa về điều kiện
thương mại bình thường
Nguyên tắc xác định phá giá
Trang 33- Biên độ phá giá (BĐPG) = giá trị thông thường (GTTT) - giá xuất khẩu (GXK) BĐPG > 0 thì xác định là có phá giá
- BĐPG có thể tính bằng trị giá tuyệt đối hoặc theo phần trăm theo công thức: BĐPG = (GTTT-GXK)/GXK
Tính biên độ phá giá
- Cách tính GTTT:
Trường hợp không có giá nội địa của SPTT ở nước xuất khẩu do:
SPTT không được bán nước xuất khẩu trong điều kiện thương mại thông thường; hoặc có bán ở nước xuất khẩu nhưng trong điều kiện đặc biệt; hoặc số lượng bán ra không đáng kể (< 5% số lượng SPTT bán ở nước nhập khẩu) thì:
GTTT = giá xuất khẩu SPTT sang nước thứ ba ; hoặc
GTTT = giá thành sản xuất + chi phí (hành chính, bán hàng, quản lý chung) + lợi nhuận
Trường hợp SPTT được xuất khẩu từ một nước có nền kinh tế phi thị trường (giá bán hàng và giá nguyên liệu đầu vào do chính phủ ấn định) thì các qui tắc trên không được áp dụng để xác định GTTT
- Cách tính GXK:
GXK = giá mà nhà sản xuất nước ngoài bán SPTT cho nhà nhập khẩu đầu tiên Trường hợp giá bán SPTT không tin cậy được do giao dịch xuất khẩu được thực hiện trong nội bộ công ty; hoặc theo một thỏa thuận đền bù nào đó thì GXK = giá mà sản phẩm nhập khẩu được bán lần đầu tiên cho một người mua độc lập ở nước nhập khẩu
- So sánh GTTT và GXK:
Để so sánh một cách công bằng GTTT và GXK, Hiệp định qui định nguyên tắc so sánh như sau:
- So sánh hai giá này trong cùng điều kiện thương mại (cùng xuất xưởng/bán
buôn/bán lẻ), thường lấy giá ở khâu xuất xưởng;
- Tại cùng một thời điểm hoặc thời điểm càng gần nhau càng tốt
Trang 34Xác định thiệt hại
- Thiệt hại về vật chất đối với một ngành sản xuất trong nước (thiệt hại hiện tại); hoặc nguy cơ gây thiệt hại về vật chất đối với một ngành sản xuất trong nước (thiệt hại tương lai); hoặc làm trì trệ sự phát triển một ngành sản xuất trong nước (không có qui định cụ thể)
Như vậy, để xác định thiệt hại cần xem xét các nhân tố sau:
(1) Khối lượng hàng nhập khẩu bị bán phá giá: có tăng một cách đáng kể không ?
(2) Tác động của hàng nhập khẩu đó lên giá SPTT: Giá của hàng nhập khẩu đó:
- Có rẻ hơn giá SPTT sản xuất ở nước nhập khẩu nhiều không ?
- Có làm sụt giá hoặc kìm giá SPTT ở thị trường nước nhập khẩu không ? Việc khảo sát tác động của hàng nhập khẩu bị bán phá giá đối với một ngành sản xuất trong nước phải xem xét tất cả các yếu tố kinh tế có thể ảnh hưởng đến ngành sản xuất đó, gồm những yếu tố sau:
- Năng suất
- Thị phần
- Biên độ phá giá
- Giá nội địa ở nước nhập khẩu
- Suy giảm thực tế và nguy cơ suy giảm doanh số bán hàng
Trang 35Nguy cơ gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước
Để xác định nguy cơ gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước cần xem xét:
- Tốc độ tăng nhập khẩu và khả năng tăng nhập khẩu trong tương lai;
- Khả năng tăng năng lực xuất khẩu của nhà xuất khẩu dẫn đến khả năng tăng nhập khẩu;
- Tình hình hàng nhập khẩu làm sụt giá SPTT ở nước nhập khẩu;
- Số lượng tồn kho SPTT ở nước nhập khẩu
Ngành sản xuất trong nước
Ngành sản xuất trong nước là toàn bộ các nhà sản xuất trong nước sản xuất ra
SPTT hoặc một số nhà sản xuất có sản lượng chiếm đa số tổng sản lượng trong nước
- Nhà sản xuất và nhà xuất khẩu/nhập khẩu có liên quan với nhau: ngành sản xuất trong nước là các nhà sản xuất còn lại
- Lãnh thổ nước nhập khẩu bị chia thành nhiều thị trường riêng thì các nhà
sản xuất ở mỗi thị trường có thể coi là một ngành sản xuất riêng nếu bán toàn bộ
hoặc phần lớn sản phẩm liên quan ra thị trường đó; và nhu cầu của thị trường đó đối với SPTT nhập khẩu từ nước khác là không đáng kể
Trang 36Nộp đơn yêu cầu tiến hành điều tra chống phá giá
Việc điều tra nhằm xác định sự tồn tại, mức độ và tác động của một sản phẩm
bị bán phá giá sẽ được tiến hành khi có đơn bằng văn bản của ngành sản xuất trong nước hoặc đại diện cho ngành sản xuất trong nước đề nghị điều tra phá giá; hoặc không có đơn bằng văn bản của ngành sản xuất trong nước hoặc đại diện cho ngành sản xuất trong nước nhưng cơ quan điều tra có đầy đủ bằng chứng về việc bán phá giá, thiệt hại và mối liên hệ giữa hai yếu tố này
Cuộc điều tra phá giá sẽ bị chấm dứt ngay lập tức nếu cơ quan điều tra xác định được rằng:
- Biên độ phá giá nhỏ hơn 2% giá xuất khẩu; hoặc số lượng nhập khẩu hàng
bị nghi ngờ bán phá giá từ một nước nhỏ hơn 3% tổng nhập khẩu sản phẩm tương
tự ở nước nhập khẩu, trừ trường hợp từng nước xuất khẩu có lượng hàng nhập khẩu dưới 3%, nhưng lượng hàng nhập khẩu của tất cả các nước xuất khẩu chiếm trên 7% tổng nhập khẩu sản phẩm tương tự ở nước nhập khẩu
Trừ trường hợp đặc biệt, một cuộc điều tra phá giá sẽ được tiến hành trong vòng 1 năm, và trong bất kỳ trường hợp nào cũng không được quá 18 tháng
Thu thập thông tin
Cơ quan điều tra sẽ gửi thông báo cho tất cả các bên có quan tâm đến cuộc điều tra phá giá đề nghị cung cấp bằng văn bản mọi bằng chứng liên quan đến cuộc điều tra Thời hạn trả lời câu hỏi điều tra là 30 ngày và có thể được gia hạn thêm 30 ngày hoặc lâu hơn nếu cần thiết Ngay khi bắt đầu điều tra, cơ quan điều tra sẽ gửi nguyên văn đơn đề nghị điều tra cho các nhà xuất khẩu và cơ quan liên quan ở nước xuất khẩu và các bên quan tâm khi có yêu cầu
Trong suốt quá trình điều tra, cơ quan điều tra sẽ tạo đầy đủ điều kiện cho các bên quan tâm bảo vệ quyền lợi của mình, gặp các bên có quyền lợi đối nghịch để trao đổi quan điểm và đưa ra thỏa thuận Các bên quan tâm có quyền trình bày các thông tin khác bằng miệng, nhưng sẽ chỉ được cơ quan điều tra lưu ý tới khi được soạn lại bằng văn bản và gửi cho các bên quan tâm khác
Trang 37Cơ quan điều tra sẽ tính biên độ phá giá riêng cho từng nhà xuất khẩu hoặc nhà sản xuất sản phẩm đang bị điều tra Trường hợp không tính được biên độ phá giá riêng do số nhà xuất khẩu, nhà sản xuất, nhà nhập khẩu hoặc loại sản phẩm liên quan quá lớn thì cơ quan điều tra có thể giới hạn diện điều tra tới một số nhà sản xuất, xuất khẩu hay nhập khẩu hoặc giới hạn ở một số loại sản phẩm nhất định bằng cách sử dụng mẫu thống kê, hoặc giới hạn tỷ lệ phần trăm lớn nhất của khối lượng hàng xuất khẩu từ nước liên quan
Trong trường hợp cơ quan điều tra giới hạn diện điều tra như nêu trên, họ vẫn
có thể tính biên độ phá giá riêng cho các nhà xuất khẩu hoặc nhà sản xuất mà ban đầu không được đưa vào diện điều tra nhưng đã cung cấp thông tin đúng thời hạn
Cơ quan điều tra sẽ tạo điều kiện cho người tiêu dùng sản phẩm đang điều tra hoặc tổ chức đại diện người tiêu dùng cung cấp thông tin liên quan đến cuộc điều tra nếu sản phẩm được bán lẻ rộng rãi
Áp dụng biện pháp tạm thời
Biện pháp tạm thời có thể được áp dụng dưới các hình thức:
- Thuế tạm thời; hoặc đặt cọc khoản tiền tương đương với khoản thuế chống bán phá giá dự kiến; hoặc cho thông quan nhưng bảo lưu quyền đánh thuế và nêu rõ mức thuế nhập khẩu thông thường và mức thuế chống bán phá giá dự kiến sẽ áp dụng Trên thực tế, biện pháp tạm thời hay được áp dụng nhất là đặt cọc
Điều kiện áp dụng biện pháp tạm thời:
- Cơ quan điều tra tiến hành điều tra theo đúng thủ tục, gửi thông báo và tạo điều kiện cho các bên quan tâm cung cấp thông tin và trình bày ý kiến;
- Có kết luận sơ bộ về việc xảy ra bán phá giá và dẫn đến thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước; và cơ quan điều tra kết luận rằng biện pháp tạm thời là cần thiết để ngăn chặn thiệt hại trong quá trình điều tra
Biện pháp tạm thời chỉ được áp dụng sớm nhất là 60 ngày sau khi bắt đầu điều tra và sẽ được duy trì càng ngắn càng tốt, không được quá 4 tháng hoặc trong trường hợp cần thiết thì cũng không được quá 6 tháng
Trang 38Cam kết giá
Việc điều tra có thể ngừng hoặc kết thúc mà không cần áp dụng biện pháp tạm thời hoặc thuế chống bán phá giá nếu một nhà xuất khẩu tự nguyện cam kết tăng giá lên hoặc ngừng xuất khẩu phá giá vào khu vực thị trường đang điều tra và được cơ quan điều tra nhất trí rằng biện pháp này sẽ khắc phục được thiệt hại Mức giá tăng không nhất thiết phải lớn hơn mà thường là nhỏ hơn biên độ phá giá nếu như đã đủ để khắc phục thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước
Cơ quan điều tra sẽ không chấp nhận cho các nhà xuất khẩu cam kết giá nếu thấy việc cam kết không khả thi, chẳng hạn như khi số lượng nhà xuất khẩu thực tế quá lớn Nếu cơ quan điều tra chấp nhận việc cam kết giá thì cuộc điều tra phá giá
và thiệt hại vẫn có thể được hoàn tất nếu nhà xuất khẩu muốn như vậy và cơ quan điều tra đồng ý Trong trường hợp này, nếu điều tra đi đến kết luận là không có phá giá hoặc không gây thiệt hại thì việc cam kết giá sẽ đương nhiên chấm dứt, trừ khi kết luận trên được rút ra trong bối cảnh đã cam kết giá rồi Trường hợp này, cam kết giá sẽ được duy trì trong thời hạn hợp lý
Áp dụng thuế và thu thuế chống bán phá giá
Việc quyết định có đánh thuế chống bán phá giá hay không và đánh thuế tương đương hay nhỏ hơn biên độ phá giá sẽ do cơ quan điều tra của nước nhập khẩu quyết định Đối với một sản phẩm bị bán phá giá, cơ quan chức năng sẽ xác định biên độ phá giá riêng cho từng nhà xuất khẩu/sản xuất Thuế chống bán phá giá sẽ được áp dụng cho từng trường hợp, trên cơ sở không phân biệt đối xử giữa hàng nhập khẩu từ tất cả các nguồn được coi là gây thiệt hại, trừ trường hợp đã cam kết giá
Trị giá thuế chống bán phá giá áp dụng sẽ không được vượt quá biên độ phá giá
Có 2 hình thức thu thuế chống bán phá giá:
- Kiểu tính thuế hồi tố (kiểu của Hoa Kỳ): việc tính mức thuế được căn cứ
vào số liệu của thời điểm trước khi điều tra (6 tháng - 1 năm) Sau khi điều tra, cơ quan chức năng bắt đầu áp dụng một mức thuế chống bán phá giá Sau khi áp dụng
Trang 39được một thời gian, nếu nhà nhập khẩu yêu cầu đánh giá lại mức thuế (do giá xuất khẩu tăng lên) thì cơ quan chức năng sẽ tiến hành xác định lại số tiền thuế phải nộp trong vòng tháng, chậm nhất là 18 tháng ngay sau khi nhận được yêu cầu Sau đó mức thuế mới sẽ được áp dụng Việc hoàn thuế sẽ được thực hiện trong vòng 90 ngày sau khi xác định lại mức thuế cuối cùng phải nộp
- Kiểu tính thuế ấn định (kiểu của EU): cơ quan điều tra lấy số liệu của thời
điểm trước khi điều tra để tính biên độ phá giá và ấn định biên độ này cho cả quá
trình áp dụng thuế chống bán phá giá Sau khi áp dụng được một thời gian, nếu nhà
nhập khẩu đề nghị hoàn thuế với phần trị giá cao hơn biên độ phá giá (do giá xuất khẩu tăng) thì cơ quan chức năng sẽ tiến hành xem xét việc hoàn thuế trong vòng 12 tháng, chậm nhất là 18 tháng ngay sau khi nhận được đề nghị hoàn thuế kèm theo đầy đủ bằng chứng Việc hoàn thuế sẽ được thực hiện trong vòng 90 ngày kể từ khi
ra quyết định hoàn thuế
Truy thu thuế
Các biện pháp tạm thời và thuế chống bán phá giá chỉ được áp dụng với sản
phẩm được đưa ra bán sau thời điểm quyết định áp dụng biện pháp tạm thời (60 ngày sau khi điều tra) hoặc quyết định đánh thuế chống bán phá giá (1 năm – 18 tháng sau
khi điều tra) có hiệu lực Do đó có thể truy thu thuế trong các trường hợp sau:
(1) quyết định đánh thuế chống bán phá giá được căn cứ vào thiệt hại vật chất; hoặc (2) quyết định đánh thuế chống bán phá giá được căn cứ vào nguy cơ gây
thiệt hại và thiệt hại thực tế đã có thể xảy ra nếu không áp dụng biện pháp tạm thời
Trong các trường hợp này có thể truy thu thuế kể từ ngày bắt đầu áp dụng biện pháp tạm thời
(3) có thể truy thu thuế đến tận 90 ngày trước khi áp dụng biện pháp tạm thời Phải hoàn thuế trong những trường hợp sau:
- Nếu mức thuế cuối cùng xác định được thấp hơn mức thuế tạm thời đã thu thì phải hoàn lại khoản chênh lệch cho nhà nhập khẩu, nếu cao hơn thì không được thu thêm
Trang 40- Nếu kết luận điều tra cuối cùng khẳng định việc bán phá giá sẽ có thể dẫn đến thiệt hại hoặc làm chậm sự phát triển của ngành sản xuất trong nước thì thuế chống bán phá giá chỉ được đánh từ ngày ra kết luận điều tra cuối cùng và phải hoàn lại số tiền đặt cọc đã thu khi áp dụng biện pháp tạm thời
- Nếu kết luận cuối cùng là không đánh thuế chống bán phá giá thì khoản tiền đặt cọc khi áp dụng biện pháp tạm thời sẽ được hoàn trả
Rà soát (Điều khoản hoàng hôn)
Sau khi áp dụng thuế chống bán phá giá một thời gian, cơ quan chức năng sẽ
tự tiến hành rà soát việc tiếp tục đánh thuế hoặc theo đề nghị của bất kỳ bên liên quan nào về vấn đề:
- Có cần tiếp tục đánh thuế không; hoặc nếu ngừng đánh thuế hoặc thay đổi mức thuế thì có dẫn đến thiệt hại không.Cơ quan chức năng sẽ quyết định ngừng đánh thuế nếu, sau khi rà soát, xác định được rằng không cần thiết tiếp tục đánh thuế nữa
Về nguyên tắc, thuế chống bán phá giá chỉ được áp dụng tối đa trong 5 năm Trước khi hết thời hạn trên, cơ quan chức năng sẽ tự tiến hành rà soát hoặc theo đề nghị của đại diện ngành sản xuất trong nước Nếu như sau khi rà soát (thường trong vòng 12 tháng), cơ quan chức năng xác định được là việc ngừng đánh thuế có thể dẫn đến thiệt hại thì có thể tiếp tục đánh thuế
Thông báo công khai và giải thích các kết luận
Khi cơ quan điều tra thấy rằng đã có đầy đủ bằng chứng để tiến hành điều tra phá giá thì họ sẽ gửi thông báo cho nước hoặc các nước có sản phẩm bị điều tra và các bên có quan tâm khác
Thông báo phải được soạn dưới dạng một báo cáo riêng, trong đó nêu đầy đủ các thông tin và kết luận về mọi khía cạnh cả về mặt pháp lý và mặt thực tế Thông báo về việc áp dụng biện pháp tạm thời và biện pháp cuối cùng (thuế chống bán phá giá) phải giải thích rõ kết luận sơ bộ hay kết luận cuối cùng về phá giá và thiệt hại