Có rất nhiều khái niệm khác nhau về logistics trên thếgiới và được xây dựng căn cứ trên ngành nghề và mục đích nghiên cứu vềdịch vụ logistics, tuy nhiên, có thể nêu một số khái niệm chủ
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Hải quan Việt Nam đã được thành lập từ ngày 10/9/1945 trải qua 65năm xây dựng và trưởng thành Hải quan đã hoàn thành được các nhiệm vụchính trị được Đảng và nhà nước giao cho là: kiểm tra giám sát hàng hóa,phương tiện vận tải, phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóaqua biên giới, tổ chức thực hiện pháp lệnh về thuế đối với hàng hóa xuất nhậpkhẩu, xuất nhập cảnh và chính sách thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu
Trong giai đoạn hiện nay khi mà nền kinh tế trong nước đang đẩymạnh hội nhập với kinh tế thế giới, đẩy mạnh phát triển thương mại quốc tếthì ngành hải quan càng có vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh
tế của quốc gia Đặc biệt là dịch vụ hải quan của Việt Nam Chất lượng dịch
vụ hải quan sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả hoạt động kinh doanh xuấtnhập khẩu hay làm thủ tục xuất nhập cảnh Dịch vụ hải quan thông thoángtạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu nângcao được hình ảnh doanh nghiệp trên thị trường cũng như đạt được kết quảkinh doanh tốt Trước yêu cầu phát triển dịch vụ hải quan ngày càng hiện đại,thông thoáng, tính chuyên nghiệp cao như hiện nay để góp phần thực hiện
các chính sách phát triển kinh tế xã hội, em đã chọn nghiên cứu đề tài ‘‘Dịch
vụ hải quan Việt Nam thực trạng và giải pháp phát triển’’ dưới sự hướng dẫn tận tình của GS.TS Đặng Đình Đào Việc nghiên cứu đề tài này sẽ giúp em
trang bị them kiến thức về lĩnh vực hải quan, các vụ hải quan, quá tình pháttriển dịch vụ cũng như thực trạng phát triển dịch vụ hải quan từ đó có thể đưa
ra được những giải pháp phát triển dịch vụ hải quan trong tương lai để phùhợp với yêu cầu phát triển của kinh tế xã hội
Trang 3Nội dung của đề án gồm 3 chương:
Chương I: Những vấn đề cơ bản về hải quan và các dịch vụ hải quan Chương II: Thực trạng dịch vụ hải quan hiện nay
Chương III: Giải pháp phát triển dịch vụ hải quan tạo thuận lợi cho
các hoạt động logistic phát triển
Do trình độ và điều kiện nghiên cứu còn hạn chế nên bản đề án khôngkhỏi thiếu sót Em mong nhận được sự góp ý giúp đỡ của GS.TS Đặng ĐìnhĐào để bài đề án được hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cảm ơn !
Trang 4CHƯƠNG I:
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HẢI QUAN VÀ
CÁC DỊCH VỤ HẢI QUAN
1.Hải quan và quá trình phát triển các dịch vụ hải quan
1.1 Hải quan trên thế giới
1.1.1.Sự ra đời của Hải quan
Trên thế giới, Hải quan có lịch sử rất lâu đời, từ khi có buôn bán traođổi hàng hoá giữa các khu vực địa lí khác nhau, các quốc gia đã có hoạt độngHải quan và cơ quan Hải quan Những hoạt động Hải quan được ghi lại trongcác di tích lịch sử ở Ai Cập cổ đại (thế kỉ 17 - 16 tCn.) Trong thời kì Hi Lạp
và La Mã cổ đại, cũng như trong thời kì phong kiến, hải quan luôn giữ vai tròquan trọng để thu tiền cho ngân sách nhà nước Lúc đầu, hoạt động của Hảiquan thuần tuý mang tính chất tài chính Đến khi xuất hiện chủ nghĩa tư bản,bên cạnh chức năng truyền thống đó, Hải quan đã có thêm chức năng mới,trong đó quan trọng nhất là chức năng bảo hộ sản xuất trong nước, bảo vệ lợiích của tư bản dân tộc Trong quá trình phát triển kinh tế và liên kết kinh tếgiữa các nước Châu Âu, hình thức liên minh thuế quan đã ra đời Các liênminh thuế quan này đóng vai trò quan trọng trong việc thống nhất các thànhbang thành một quốc gia thống nhất như Liên minh Thuế quan Đức thời kì
1841 - 1888 Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động thương mại quốc
tế, các quốc gia trên thế giới đã tìm cách hợp tác với nhau trong lĩnh vực Hảiquan nhằm tiêu chuẩn hoá, đơn giản hoá và thống nhất hoá các thủ tục, luật lệHải quan, tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại, đồng thời đạt hiệu quả caohơn trong hoạt động điều tra chống buôn lậu Từ yêu cầu thực tế đó, năm
1950, Hội đồng Hợp tác Hải quan (nay là Tổ chức Hải quan Thế giới) ra đời.Ngày nay, trên thế giới đang tồn tại nhiều tổ chức kinh tế mà thực chất là các
Trang 5liên minh thuế quan do các nước lập ra để nâng cao hiệu quả hợp tác kinh tếgiữa các nước thành viên, đồng thời đối phó với sức cạnh tranh ngày càngtăng trên thị trường quốc tế Các khối kinh tế hay các liên minh thuế quan nổitiếng, nhất là Cộng đồng Kinh tế Châu Âu (EEC), Hiệp hội Mậu dịch Tự doChâu Âu (EFTA) và các liên minh mới thành lập gần đây, nay mới chuyểnthành khối kinh tế như Khu vực Thị trường Tự do Bắc Đại Tây Dương(NAFTA), Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), Hiệp hội Mậu dịch Tự
do Châu Á (AFTA)
1.1.2.Tổ chức Hải quan thế giới(WCO)
Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) là một tổ chức liên chính phủ, có trụ
sở tại Brussels, Bỉ WCO được công nhận là đại diện cho tiếng nói của cộngđồng hải quan toàn cầu
Trong chức năng của mình, tổ chức này đặc biệt chú ý đến các lĩnh vựcbao gồm việc phát triển các công ước quốc tế, các công cụ quốc tế liên quanđến các chủ đề như: phân loại hàng hoá, định giá, quy tắc xuất xứ, tạo thuậnlợi cho thương mại quốc tế, các hoạt động hải quan thực thi pháp luật, đấutranh chống hàng giả trong bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT), tính toàn vẹnxúc tiến, và phân phối xây dựng năng lực bền vững để hỗ trợ cải cách và hiệnđại hóa hải quan
Hiện nay, WCO chịu trách nhiệm duy trì Hệ thống hài hoà quốc tế vềhàng hoá (HS), danh pháp và kỹ thuật quản lý của Tổ chức Thương mại Thếgiới (WTO), Hiệp định về Định giá Hải quan và quy tắc xuất xứ
a/Lịch sử ra đời của tổ chức Hải quan thế giới
Vào năm 1947 đại diện của chính phủ 13 nước thuộc Ủy ban hợp táckinh tế Châu Âu đã đồng ý thành lập nhóm nghiên cứu để xem xét khả năngthiết lập Liên minh hải quan Châu Âu trên cơ sở nguyên tắc hiệp định chung
về thuế quan và thương mại GATT.Năm 1948,nhóm này đã thành lập ủy ban
Trang 6kinh tế và Ủy ban Hải quan.Ủy ban kinh tế là tiền thân của Tổ chức hợp táckinh tế và phát triển OECD,còn Uỷ ban Hải quan đã trở thành Hội đồng hợptác Hải quan(CCC) và phiên họp đầu tiên của Hội đồng tổ chức tại Bruc-xen,Bỉ vào ngày 26/1/1953 với sự có mặt của đại diện của 17 chính phủ ChâuÂu.Từ năm 1983,ngày 26/1 đã trở thành” Ngày Hải quan thế giới”.Để đápứng nhiệm vụ mới và sự phát triển của quá trình hợp tác,Hội đồng đã chínhthức đổi tên thành Tổ chức Hải quan thế giới vào năm 1994(gọi tắt là WCO)với 171 cơ quan Hải quan thành viên có mặt ở hầu hết các lục địa,đóng vaitrò quan trọng trong quá trình phát triển 98% thương mại toàn cầu.
b/Vai trò của tổ chức Hải quan thế giới
Là một tổ chức liên chính phủ độc lập,Tổ chức Hải quan thế giới giữvai trò tăng cường tính hiệu quả và hiệu lực của các cơ quan Hải quan trênthế giới.WCO là tổ chức quốc tế duy nhất có năng lực về các vấn đề hải quan
và là cơ quan ngôn luận của cộng đồng hải quan quốc tế.Để tạo ra một diễnđàn trao đổi kinh nghiệm của các đoàn đại biểu Hải quan các nước,WCO xâydựng nhiều cộng ước và công cụ quốc tế,cũng như cung cấp các trợ giúp kỹthuật và đào tạo cho các thành viên của nó.Bên cạnh vai trò thuận lợi chothương mai hợp tác,WCO được công đồng quốc tế thừa nhận về cố gắng đấutranh chống gian lận thương mại
WCO giữ vai trò quan trọng là cầu nối giữa các co quan hải quan vàcác đối tác nhằm tạo ra môi trường hải quan dễ phán đoán,minh bạch và dễtin cậy,tham gia trực tiếp vào sự phồn của kinh tế và xã hội của các nướcthành viên
c/Nhiệm vụ của tổ chức Hải quan thế giới
Trong môi trường bất ổn và đe dọa của chủ nghĩa khủng bố nhiệm vụcủa WCO là tăng cường bảo vệ xã hội và lãnh thổ quốc gia,an ninh và thuậnlợi cho thương mại.Hoạt động của WCO là thu thuế hải quan,bảo vệ xã hội
Trang 7và môi trường,thống kê thương mại,đảm bảo sự thuận lơi và tuân thủ thươngmại,bảo vệ các di sản văn hóa.
Trong bối cảnh thương mại đang phát triển nhanh chóng trên nền tảngcủa áp dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin mới,WCO với chứcnăng là đại diện cho cộng đồng hải quan thế giới đã tiến hành nghiên cứu cácvấn đề liên quan đến việc hợp tác hải quan,kiểm tra các khía cạnh kỹ thuậtcũng như các yếu tố kinh tế có liên quan tới hệ thống hải quan để đề xuấtnhững phương hướng biện pháp thiết thực và những công cụ pháp lý mangtính chất quốc tế có hiệu quả và hiệu lực nhằm đạt mức độ hài hòa thống nhấttiêu chuẩn hóa cao nhất có thể được cho hoạt động nghiệp vụ hải quan cácnước thành viên.Vì vậy,WCO đã và đang theo đuổi thực hiện những vấn đềsau đây:
1.Nghiên cứu mọi vấn đề có liên quan đến hợp tác hải quan mà các bên
ký kết thỏa thuận phát triển phù hợp với các mục tiêu chung của các côngước,thỏa thuận quốc tế
2.Kiểm tra mọi khía cạnh kỹ thuật của các chế độ hải quan cũng nhưcác nhân tố kinh tế liên quan đến chúng,nhằm đề xuất với các thành viên củaHội đồng những phương tiện biện pháp hiệu quả và thực tiễn dễ đạt đượcmức độ hài hòa và thống nhất cao nhất
3.Soạn thảo các dự thảo công ước và điều khoản bổ sung côngước,cũng như kiến nghị việc thông qua chúng cho các chính phủ hữu quan
4.Ban hành các khuyến nghị nhằm đảm bảo việc giải thích và áp dụngthống nhất các công ước đã ký kết do kết quả các công việc của Hộiđồng,cũng như đối với Công ước về hệ thống hài hòa mô tả và mã hóa hànghóa (Công ước HS) nhằm phân loại hàng hóa trong biểu thuế quan và Hiệpđịnh về xác định trị giá hải quan đối với hàng hóa
Trang 85.Ban hành các khuyến nghị với cơ quan là một tổ chức hòa giải nhằmgiải quyết tranh chấp có thể nảy sinh trong việc giải thích và áp dụng cáccông ước quốc tế có liên quan đến hoạt động hải quan.
6.Đảm bảo việc phổ biến các thông tin liên quan đến luật lệ và nghiệp
vụ hải quan
7.Cung cấp cho các Chính phủ hữu quan,mặc nhiên hoặc theo yêu cầucủa họ những thông tin hoặc ý kiến về các vấn đề hải quan trong khuôn khổcác mục tiêu chung của Công ước và ban hành các khuyến cáo về lĩnh vựcnày
8.Đại diện cho cộng đồng hải quan quốc tế,hợp tác với các tổ chức liênminh chính phủ về các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của hội đồng
1.2 Sự ra đời và phát triển của hải quan Việt Nam
Ở Việt Nam, HQ có lịch sử phát triển tương đối sớm Từ thế kỉ 10, nhànước phong kiến Việt Nam đã tiến hành thu thuế đối với hàng hoá xuất nhậpkhẩu và lập ra các trạm, với các chức quan chuyên trách, trong đó trạm nổi tiếng
và quan trọng nhất thời đó là Vân Đồn (ở Hồng Gai, Quảng Ninh ngày nay) NhàNguyễn lập hẳn một bộ máy "Thuế binh" để trông coi việc thuế khoá Các bộ luậtban hành dưới các triều đại phong kiến như "Lê triều hình luật" (Bộ luật HồngĐức) dưới thời Hậu Lê hay "Hoàng triều luật lệ" (Bộ luật Gia Long) dưới triềuNguyễn đều có các điều khoản về quản lí xuất nhập khẩu và chống buôn lậu
Ngày 10 tháng 9 năm 1945, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giápthừa uỷ quyền của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt nam dân chủ cộng hoà
ký Sắc lệnh số 27 - SL thành lập "Sở thuế quan và thuế gián thu" khai sinhHải quan Việt Nam
1.2.1 Quá trình trưởng thành và phát triển theo các giai đoạn:
* Giai đoạn 1945-1954
Trang 9Thành lập Hải quan Việt Nam thực hiện nhiệm vụ của Nhà nước Việtnam dân chủ cộng hoà vừa mới khai sinh, tham gia cuộc kháng chiến chốngPháp Trong giai đoạn này nhiệm vụ của hải quan Việt Nam bao gômg: Thucác quan thuế nhập cảnh và xuất cảnh, thu thuế gián thu Sau đó, Ngành đượcgiao thêm nhiệm vụ chống buôn lậu thuốc phiện và có quyền định đoạt, hoàgiải đối với các vụ vi phạm về thuế quan và thuế gián thu
*Giai đoạn 1954-1975
Trong giai đoạn này cả nước đang góp sức mình vào công cuộc xâydựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, chống Mỹ xâm lược, giải phóng miềnNam thống nhất đất nước Ngày 14/12/1954 Chính phủ giao cho Bộ Côngthương quản lý hoạt động ngoại thương và thành lập Sở Hải quan ( thayngành thuế xuất, nhập khẩu) thuộc Bộ Công thương
Trước yêu cầu nhiệm vụ mới của Ngành Hải quan, ngày 27/2/1960 Chínhphủ đã đã có Nghị định 03/CP (do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký ) ban hànhĐiều lệ Hải quan đánh dấu bước phát triển mới của Hải quan Việt nam
Ngày 17/6/1962 Chính phủ đã ban hành Quyết định số:490/TNgT/QĐ - TCCB đổi tên Sở Hải quan trung ương thành Cục Hảiquan thuộc Bộ ngoại thương
Giai đoạn này Hải quan Việt nam được xác định là công cụ bảo đảmthực hiện đúng đắn chế độ Nhà nước độc quyền ngoại thương, ngoại hối, thihành chính sách thuế quan (thu thuế hàng hoá phi mậu dịch) tiếp nhận hànghoá viện trợ và chống buôn lậu qua biên giới
Năm 1973 Hiệp định Pari được ký kết chấm dứt chiến tranh phá hoạicủa Mỹ ở miền Bắc Hải quan Việt Nam huấn luyện, chuẩn bị các điều kiệntriển khai công tác khi miền Nam được giải phóng
Trang 10Thời kỳ này toàn ngành Hải quan được tặng thưởng 2 Huân chươngLao động Hạng hai và Hạng Ba, 11 đơn vị và cá nhân được tặng Thởng Huânchương Lao động và Huân chương chiến công các hạng.
Trang 11Thời kỳ này tính chất các hoạt động buôn lậu, vận chuyển trái phép hànghoá qua biên giới có biểu hiện phức tạp và phổ biến Ngày 30/8/1984 Hội đồngNhà nước phê chuẩn Nghị quyết số 547/NQ/HĐNN7 thành lập Tổng cục Hảiquan trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng; và ngay sau đó Hội đồng Bộ trưởng banhành Nghị quyết số 139/HĐBT ngày 20/10/1984 ban hành Nghị định quy địnhnhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Hải quan Hải quan ViệtNam được xác định là "Công cụ chuyên chính nửa vũ trang của Đảng và Nhànước có chức năng kiểm tra và quản lý hàng hoá, hành lý, ngoại hối và cáccông cụ vận tải xuất nhập qua biên giới nước CHXHCN Việt nam, thi hànhchính sách thuế xuất nhập khẩu, ngăn ngừa chống các hoạt động buôn lậu, vậnchuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới, nhằm bảo đảm thực hiện đúngđắn chính sách của nhà nước độc quyền về ngoại thương, ngoại hối góp phầnbảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phục vụcông tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước".
* Giai đoạn từ 1986 đến nay
Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI đề ra đường lối đổi mớiđất nước, chủ trương mở cửa, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo cơchế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN
Trang 12Nhiệm vụ của hải quan Việt Nam trong giai đoạn này: Yêu cầu đối vớiHải quan Việt Nam lúc này là thực hiện quản lý Nhà nước về Hải quan trướctình hình: Hoạt động giao lưu hợp tác với nước ngoài phát triển mạnh mẽchưa từng thấy, kinh tế thị trường bộc lộ những khuyết tật, hạn chế, khối l-ượng hàng hoá XNK khá lớn tạo nguồn thu thuế XNK hàng năm chiếm tỷ lệ
từ 20 - 25% GDP, tình trạng buôn lậu gia tăng, nhập lậu tài liệu phản động,
ấn phẩm đồi truỵ, chất nổ, ma tuý khá nhiều
Ngày 24/2/1990, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước ký lệnh công bố Pháplệnh Hải quan Pháp lệnh gồm 51 điều, chia làm 8 chương, có hiệu lực thihành từ ngày 1/5/1990
Pháp lệnh Hải quan xác định chức năng của Hải quan Việt nam là
"Quản lý Nhà nước về Hải quan đối với hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhậpcảnh, quá cảnh Việt Nam, đấu tranh chống buôn lậu hoặc vận chuyển tráiphép hàng hoá, ngoại hối hoặc tiền Việt nam qua biên giới" Bộ máy tổ chứccủa Hải quan Việt nam được xác định rõ tổ chức theo nguyên tắc tập trungthống nhất, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Hội đồng Bộ Trưởng"
Cơ sở vật chất của Hải quan Việt Nam được nâng cấp một bước: đãtrang bị máy soi nghiệp vụ, máy và chó nghiệp vụ phát hiện ma tuý, tàu caotốc chống buôn lậu trên biển
Công tác đào tạo bồi dưỡng công chức được lưu ý hơn: Trường nghiệp
vụ Hải quan thành lập năm 1986, Trường nghiệp vụ Hải quan 1 ( Hà Nội)thành lập năm 1988; sau hợp nhất 2 trưởng thành Trường Hải quan Việt Nam
và Năm 1996 Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định thành lập Trường Caođẳng Hải quan Từ năm 1986 đến năm 1999 đã bồi dưỡng nghiệp vụ cho4.626 cán bộ, gửi đào tạo đại học tại chức 1.750 cán bộ
Trang 13Hải quan Việt Nam đã tham gia và trở thành thành viên chính thức của
Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) từ ngày 01/07/1993 và từ đó đã mở rộngquan hệ với tổ chức Hải quan thế giới và Hải quan khối ASEAN
Ghi nhận bước trưởng thành của Hải quan Việt Nam, Hội đồng Nhà ước đã tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhì cho Ngành, Huân ch-ương các hạng cho một số Hải quan cấp tỉnh Hải quan Việt nam nhân dịp 45năm kỷ niệm ngày thành lập ngành Hải quan
n-Từ 1990 đến 2000 toàn ngành Hải quan tích cực triển khai thực hiệncải cách thủ tục hành chính, tập trung đột phá vào khâu cải cách thủ tục Hảiquan tại cửa khẩu, thực hiện tốt các nội dung: Sắp xếp lại và thành lập thêmcác địa điểm thông quan, công khai hoá các văn bản quy phạm pháp luậtliên quan đến thủ tục Hải quan, phân luồng hàng hoá "Xanh, Vàng, Đỏ",thiết lập đường dây điện thoại nóng, sửa đổi, bổ sung và ban hành nhiều vănbản, quy chế, quy trình thủ tục hải quan nhằm thực hiện các nội dung của đề
án cải cách
Trong 2 năm 1999 - 2000 Hải quan Việt Nam đã ký kết và thực hiện 2
Dự án với nước ngoài: Dự án VIE - 97/059 do UNDP tài trợ về "tăng cườngnăng lực cho Hải quan Việt Nam thực hiện công tác quản lý XNK và hộinhập quốc tế" và Dự án nghiên cứu khả thi do cơ quan Phát triển và Thươngmại Hoa Kỳ ( TDA) và Công ty UNISYS tài trợ về công nghệ thông tin tiếntới áp dụng công nghệ trao đổi dữ liệu điện tử EDI"
Từ năm 1993 đến 2001 toàn ngành tập trung xây dựng và hoàn thiện
Dự thảo Luật Hải quan, qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung đến tháng 5/2001 Dựthảo Luật Hải quan lần thứ 18 đã được hoàn chỉnh và trình kỳ họp thứ 9 QuốcHội khoá 10 để thông qua thay thế cho Pháp lệnh Hải quan 1990 Nhà nướcCHXHCN Việt Nam đã tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh cho ngành
Trang 14Hải quan nhân dịp 50 năm ngày thành lập Hải quan Việt nam ( 10/9/1945 10/9/1995)
-1.2.2.Lịch sử Hải quan qua các mốc thời gian
- Ngày 10 tháng 9 năm 1945 theo sắc lệnh số 27-SL của Chủ tịch Chínhphủ lâm thời Việt Nam dân chủ Cộng hoà, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ NguyênGiáp, thay mặt Chính phủ ký thành lập “Sở thuế quan và thuế gián thu” Vớimục đích thiết lập chủ quyền thuế quan của nước Việt Nam độc lập, đảm bảoviệc kiểm soát hàng hoá XNK và duy trì nguồn thu ngân sách từ hoạt động này
- Ngày 29 tháng 5 năm 1946 theo sắc lệnh số 75-SL của Chủ tịch HồChí Minh về tổ chức của Bộ Tài chính, Sở Thuế quan và thuế gián thu đượcđổi thành Nha Thuế quan và Thuế gián thu thuộc Bộ Tài chính
- Ngày 4 tháng 7 năm 1951 Bộ trưởng Bộ Tài chính Lê Văn Hiến đã kýNghị định số 54/NĐ quy định lại tổ chức của Bộ Tài chính và Nha Thuế quan
và Thuế gian thu được đổi thành Cơ quan Thuế XNK
- Ngày 14 tháng 12 năm 1954 Bộ trưởng Bộ Công thương Phan Anh kýNghị định số 136-BCT/KB/NĐ thành lập Sở Hải quan thay thế cơ quan thuếXNK thuộc Bộ Công thương
- Ngày 17 tháng 2 năm 1962 để thực hiện Điều lệ Hải quan (ban hànhngày 27/2/1960) Thứ trưởng Bộ Ngoại thương Lý Ban ký Quyết định số490/BNT/QĐ-TCCB đổi tên Sở Hải quan thành Cục Hải quan Lúc này CụcHải quan trực thuộc Bộ Ngoại thương
- Ngày 25 tháng 4 năm 1984 Thực hiện Nghị quyết số 68/HĐBT củaHội đồng Bộ trưởng về đẩy mạnh chống buôn lậu và thành lập Tổng cục Hảiquan, và Nghị quyết số 547/NQ-HĐNN ngày 30/8/1984 Hội đồng Nhà nướcphê chuẩn thành lập Tổng Cục Hải quan và ngày 20/10/1984 Phó Chủ tịchHội đồng Bộ trưởng Tô Hữu ký Nghị định số 139/HĐBT quy định nhiệm vụ,
Trang 15quyền hạn, tổ chức của Tổng cục Hải quan Tổng cục Hải quan trực thuộcChính phủ
- Ngày 4 tháng 9 năm 2002 theo Quyết định số 113/2002/QĐ-TTg củaThủ tướng Chính phủ Tổng Cục Hải quan trực thuộc Bộ Tài chính
1.2.3 Nhiệm vụ của HQ Việt Nam
Nhiệm vụ của hải quan Việt Nam được quy đinh tại điều 11 Luật HQsửa đổi năm 2005 bao gồm:
- Thực hiện kiểm tra giám sát hàng hoá và phương tiện vận tải
- Phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới
- Thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hoá XNK
- Thống kê hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu
- Kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lý Nhà nước về hải quan đốivới hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chínhsách thuế đối với hàng hoá XNK
2 Dịch vụ hải quan trong chuỗi dịch vụ logistic
2.1 Khái niệm logistic và dịch vụ logistic
2.1.1.Khái niệm logistic
Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và sự hỗ trợ đắc lực củacuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trên thế giới, khối lượng hàng hóa và sảnphẩm vật chất được sản xuất ra ngày càng nhiều Do khoảng cách trong cáclĩnh vực cạnh tranh truyền thống như chất lượng hàng hóa hay giá cả ngàycàng thu hẹp, các nhà sản xuất đã chuyển sang cạnh tranh về quản lý hàng tồnkho, tốc độ giao hàng, hợp lý hóa quá trình lưu chuyển nguyên nhiên vật liệu
và bán thành phẩm, … trong cả hệ thống quản lý phân phối vật chất củadoanh nghiệp Trong quá trình đó, logistics có cơ hội phát triển ngày càngmạnh mẽ hơn trong lĩnh vực kinh doanh Trong thời gian đầu, logistics chỉđơn thuần được coi là một phương thức kinh doanh mới, mang lại hiệu quả
Trang 16cao cho các doanh nghiệp Cùng với quá trình phát triển, logistics đã đượcchuyên môn hóa và phát triển trở thành một ngành dịch vụ đóng vai trò rấtquan trọng quan trọng trong giao thương quốc tế Theo thống kê của công tyArmstrong & Associates (Hoa Kỳ), tổng dung lượng thị trường logistics Bênthứ 3 (Third Party Logistics)1 của Hoa Kỳ tăng trưởng với tốc độ 18%/năm
và đạt 77 tỷ USD trong năm 2003
Tuy nhiên, một điều khá thú vị là logistics được phát minh và ứng dụnglần đầu tiên không phải trong hoạt động thương mại mà là trong lĩnh vựcquân sự Logistics được các quốc gia ứng dụng rất rộng rãi trong 2 cuộc Đạichiến thế giới để di chuyển lực lượng quân đội cùng với vũ khí có khối lượnglớn và đảm bảo hậu cần cho lực lượng tham chiến Hiệu quả của hoạt độnglogistics, do đó là yếu tố có tác động rất lớn tới thành bại trên chiến trường.Cuộc đổ bộ thành công của quân đồng minh vào vùng Normandie tháng6/1994 chính là nhờ vào sự nỗ lực của khâu chuẩn bị hậu cần và quy mô củacác phương tiện hậu cần được triển khai Sau khi chiến tranh thế giới kếtthúc, các chuyên gia logistics trong quân đội đã áp dụng các kỹ năng logisticscủa họ trong hoạt động tái thiết kinh tế thời hậu chiến Hoạt động logisticstrong thương mại lần đầu tiên được ứng dụng và triển khai sau khi chiếntranh thế giới lần thứ 2 kết thúc Trong lịch sử Việt Nam, 2 người đầu tiênứng dụng thành công logistics trong hoạt động quân sự chính là vua QuangTrung-Nguyễn Huệ trong cuộc hành quân thần tốc ra miền Bắc đại phá quânThanh (1789) và sau đó là Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong chiến dịch ĐiệnBiên Phủ (1954)
Trải qua dòng chảy lịch sử, logistics được nghiên cứu và áp dụng sanglĩnh vực kinh doanh Dưới góc độ doanh nghiệp, thuật ngữ “logistics” thườngđược hiểu là hoạt động quản lý chuỗi cung ứng (supply chain management)
Trang 17hay quản lý hệ thống phân phối vật chất (physical distribution management)của doanh nghiệp đó Có rất nhiều khái niệm khác nhau về logistics trên thếgiới và được xây dựng căn cứ trên ngành nghề và mục đích nghiên cứu vềdịch vụ logistics, tuy nhiên, có thể nêu một số khái niệm chủ yếu sau:
Liên Hợp Quốc (Khóa đào tạo quốc tế về vận tải đa phương thức vàquản lý logistics, Đại học Ngoại Thương, tháng 10/2002): Logistics là hoạtđộng quản lý quá trình lưu chuyển nguyên vật liệu qua các khâu lưu kho, sảnxuất ra sản phẩm cho tới tay người tiêu dùng theo yêu cầu của khách hàng
Ủy ban Quản lý logistics của Hoa Kỳ: Logistics là quá trình lập kếhoạch, chọn phương án tối ưu để thực hiện việc quản lý, kiểm soát việc dichuyển và bảo quản có hiệu quả về chi phí và ngắn nhất về thời gian đối vớinguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm, cũng như các thông tintương ứng từ giai đoạn tiền sản xuất cho đến khi hàng hóa đến tay người tiêudùng cuối cùng để đáp ứng yêu cầu của khách hàng
Hội đồng quản trị logistics Hoa Kỳ-1988: Logistics là quá trình liên kếhoạch, thực hiện và kiểm soát hiệu quả, tiết kiệm chi phí của dòng lưuchuyển và lưu trữ nguyên vật liệu, hàng tồn, thành phẩm và các thông tin liênquan từ điểm xuất xứ đến điểm tiêu thụ, nhằm mục đích thỏa mãn những yêucầu của khách hàng
Trong lĩnh vực quân sự, logistics được định nghĩa là khoa học của việclập kế hoạch và tiến hành di chuyển và tập trung các lực lượng, … các mặt trongchiến dịch quân sự liên quan tới việc thiết kế và phát triển, mua lại, lưu kho, dichuyển, phân phối, tập trung, sắp đặt và di chuyển khí tài, trang thiết bị
Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 (Điều 233): Trong Luật Thươngmại 2005, lần đầu tiên khái niệm về dịch vụ logistics được pháp điển hóa Luậtquy định “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổchức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển,
Trang 18lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn kháchhàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hạng hoặc các dịch vụ khác có liênquan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”.
2.1.2.Dịch vụ logistic
* Các dịch vụ lô-gi-stíc chủ yếu, bao gồm:
a) Dịch vụ bốc xếp hàng hoá, bao gồm cả hoạt động bốc xếp container.Loại hình dịch vụ này thường được cung cấp tại các cảng biển, cảng hàngkhông hay tại các cửa khẩu biên giới
b) Dịch vụ kho bãi và lưu giữ hàng hóa, bao gồm cả hoạt động kinhdoanh kho bãi container và kho xử lý nguyên liệu, thiết bị Các doanh nghiệpthường nhập hàng hay xuất hàng với khối lượng lớn Trong khi đó quá trìnhvận chuyển luôn bị ngưng đọng ở một khâu nào đó như thời gian giao hàng,thời gian đợi thuê phương tiện vận tải hay dự trữ hàng hóa nhằm đảm bảokhả năng cung ứng hàng hóa ra thị trường… Tất cả những điều đó cần phải
có kho bãi để chứa hàng và bảo quản hàng hóa
c) Dịch vụ đại lý vận tải, bao gồm cả hoạt động đại lý làm thủ tục hảiquan và lập kế hoạch bốc dỡ hàng hóa Có những lô hàng xuất khẩu hay nhậpkhẩu phải sử dụng đa phương tiện do đó các dịch vụ vận tải sẽ giúp người cónhu cầu vận chuyển hàng hóa dễ dàng thuê được phương thức vận tải phùhợp Hay bất cứ hàng hóa nào muốn vào thị trường của một nước đều phảilàm thủ tục thông quan hàng hóa, bên cạnh đó không phải doanh nghiệp nàocũng nắm rõ được các quy trình thủ tục hải quan, do đó các đại lý hải quan secung ứng dịch vụ hải quan nhằm đảm bảo quá trình làm thủ tục hải quanđược nhanh gọn và giảm thiểu chi phí
d) Dịch vụ bổ trợ khác, bao gồm cả hoạt động tiếp nhận, lưu kho vàquản lý thông tin liên quan đến vận chuyển và lưu kho hàng hóa trong suốt cảchuỗi lô-gi-stíc; hoạt động xử lý lại hàng hóa bị khách hàng trả lại, hàng hóa
Trang 19tồn kho, hàng hóa quá hạn, lỗi mốt và tái phân phối hàng hóa đó; hoạt độngcho thuê và thuê mua container.
* Các dịch vụ 1ô-gi-stíc liên quan đến vận tải, bao gồm:
a) Dịch vụ vận tải hàng hải, thường được áp dụng với những loại hànghóa có trọng lượng lớn, có thể chịu được thời gian vận chuyển lâu, cước dịch
vụ thì không cao lắm Hiện nay, có rất nhiều đội tàu lớn trên thế giới tham giavào loại hình này
b) Dịch vụ vận tải thuỷ nội địa, loại hình vận tải này chỉ được áp trongnước với những hàng hóa có trọng lương lớn, mức độ hư hại ít trong quátrình vận chuyển như vận chuyển than, cát, đá Loại hình vận tải này thườngphát triển ở các quốc gia có hệ thống sông ngòi phát triển
c) Dịch vụ vận tải hàng không, loại hình dịch vụ này thường chỉ phùhợp với những hàng hóa có khối lượng nhỏ, giá trị cao, nhất là các loại hànghóa cần vận chuyển trong thời gian ngắn Loại hình dịch vụ này có phí vậnchuyển rất cao, thủ tục phức tạp, đòi hỏi nhiều loại giấy tờ…
d) Dịch vụ vận tải đường sắt, loại hình dich vụ này thường có chi phíphục vụ thấp, do hạn chế về địa điểm nhận hàng các ga đường sắt là được bốtrí cố định, không phải chỗ nào cũng có tuyến đường sắt đi qua Vì vậy loạihình dịch vụ này ít được áp dụng trong logistic như một phương thức vận tảiđộc lập, mà thường áp dụng dưới dạng đa phương thức
đ) Dịch vụ vận tải đường bộ, là loại hình vận tải nội địa phổ biến, cungcấp dịch vụ vận tải nhanh chóng, đáng tin cậy Ưu điểm nổi bật của phươngthức này là tính linh hoạt cao, có thể cung cấp dịch vụ tới tận cửa Phươngthức vận chuyển này thực sự là một bộ phận quan trọng trong mạng lướilogistic
e) Dịch vụ vận tải đường ống., đây là loại hình thức vận tải chuyêndụng, chỉ để vận chuyển những mặt hàng như khí đốt, dầu thô, nước sạch,
Trang 20hóa chất hay than bùn Vận tải đường ống cung cấp cho khách hàng mức độdịch vụ rất cao và với chi phí có thể chấp nhận được Trong phương thức nàysản phẩm được giao đúng hạn vì luồng sản phẩm đi qua đường ống được điềukhiển và kiểm soát bằng hệ thống máy tính nhờ đó cắt giảm được nhân công
và hạn chế thất thoát
3 Các dịch vụ lô-gi-stíc liên quan khác, bao gồm
a) Dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật
b) Dịch vụ bưu chính
c) Dịch vụ thương mại bán buôn
d) Dịch vụ thương mại bán lẻ, bao gồm cả hoạt động quản lý hàng lưukho, thu gom, tập hợp, phân loại hàng hóa, phân phối lại và giao hàng;
đ) Các địch vụ hỗ trợ vận tải khác
2.1.3.Vai trò của logistic
*** Vai trò của logistic đối với nền kinh tế
Logistic là một chuỗi các hoạt động dịch vụ liên tục,có liên hệ mậtthiết với nhau,tác động qua lại với nhau.Nếu xem xét ở góc độ tổng thể tathấy logistic có mối liên kết kinh tế xuyên suốt gần như toàn bộ quá trình sảnxuất,lưu thông,phân phối hàng hóa
Logictis hỗ trợ cho luồng chu chuyển các giao dịch kinh tế.Nền kinh tếchỉ có thể phát triển nhịp nhàng,đồng bộ một khi dây chuyền logistic hoạtđộng nhịp nhàng,liên tục
Hàng loạt các hoạt động kinh tế liên quan diễn ra trong chuỗilogistic,theo đó các nguồn tài nguyên được biến đổi thành vật phẩm và điềuquan trọng là giá trị được tăng lên cho cả khách hàng và người sản xuất,giúpthỏa mãn nhu cầu của mỗi người
Hiệu quả hoạt động logistic tác động trực tiếp khả năng hội nhập củanền kinh tế.Theo nhà kinh tế học người Anh Ullman :“ khối lượng hàng hóa
Trang 21lưu chuyển giữa hai nước tỷ lệ thuận với tiềm năng kinh tế của hai nước và tỷ
lệ nghịch với khoảng cách giữa hai nước đó ”.Khoảng cách ở đây được hiểu
là khoảng cách kinh tế.Khoảng cách kinh tế càng rút ngắn thì khối lượnghàng hóa tiêu thụ trên thị trường càng lớn.Điều này lý giải tại sao khoảngcách địa lý từ Thái lan tới Mỹ xa hơn đến Việt Nam nhưng khối lượng kimngạch xuất nhập khẩu của Thái lan và Mỹ lớn hơn so với Việt Nam.Do vậyviệc giảm chi phí logistic có ý nghĩa rất quan trọng trong chiến lược thúc đẩyxuất khẩu phát triển và tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia
Hoạt động logistic hiệu quả làm tăng tính cạnh tranh của mỗi quốc giatrên thị trường thế giới Ở các nước phát triển, chi phí logistics chiếm 8-12%GDP; trong khi đó, ở Trung Quốc là 19% GDP, Việt Nam là 20% GDP, thậmchí có nước đến 30% GDP Chính vì vậy, nhiều quốc gia đang chú trọngnâng cao hiệu quả hoạt động logistics nhằm giảm thiểu chi phí
*** Vai trò của logistic đối với các doanh nghiệp
Đối với các doanh nghiệp logistic có vai trò hết sức to lớn.Logistic giảiquyết cả đầu vào và đầu ra của doanh nghiệp một cách hiệu quả.Nhờ có thểthay đổi các nguồn tài nguyên đầu vào hoặc tối ưu hóa quá trình chu chuyểnnguyên vật liệu,hàng hóa,dịch vụ logistic giúp giảm chi phí,tăng khả năngcạnh tranh cho các doanh nghiêp.Có nhiều doanh nghiệp thành công lờn nhờ
có được chiến lươc và hoạt động logistic đúng đắn,ngược lại không có ítdoanh nghiệp gặp khó khăn hoặc thất bại,phá sản do có những quyết định sailầm trong hoạt động dịch vụ logistic,ví dụ:chọn vị trí sai,nguồn tài nguyêncung cấp sai,dự trữ không phù hợp,tổ chức vận chuyển không hiệu quả
Logistic góp phần nâng cao hiệu quả quản lý,giảm thiểu chi phí,nângcao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.Doanh nghiệp chủ động trong việclựa chọn nguồn cung cấp nguyên liệu,công nghệ sản xuất,thiết kế mẫu mã,tìmkiếm thị trường tiêu thụ thông qua nhiều kênh phân phối khác nhau Chủ
Trang 22động trong việc lên kế hoạch sản xuất,quản lý hàng tồn kho và giao hàng theođúng thời gian với chi phí thấp nhất.
Logistic còn góp phần giảm phí thông qua việc tiêu chuẩn hóa chứngtừ.Theo các chuyên gia ngoại thương,giấy tờ rườm rà chiếm một chi phíkhông nhỏ trong mậu dịch quốc tế và vận chuyện.Thông qua dịch vụlogistic,các công ty logistic sẽ đứng ra đảm nhiệm ký một hợp đồng duy nhất
sử dụng chung cho mọi loại hình vận tải để đưa hàng từ nơi gửi hàng đến nơinhận hàng cuối cùng
Sự phát triển của công nghệ thông tin đã làm gia tăng sự hài lòng vàgiá trị cung cấp cho khách hàng của dịch vụ logistic.Đứng ở góc độnày,logistic được xem như là công cụ hiệu quả để đạt được lợi thế cạnh tranhlâu dài về sự khác biệt hóa và tập trung
Ngoài ra,logistic còn hỗ trợ đắc lực cho hoạt đông marketing,đặc biệt
là marketing hỗn hợp.Chính logistic đóng vai trò then chốt trong việc đưa sảnphẩm đến đúng nơi cần,vào đúng thời điểm thích hợp.Sản phẩm/dịch vụ chỉ
có thể làm thỏa mãn khách hàng và có giá trị chỉ khi nó đến được với kháchhàng đúng thời hạn và địa điểm quy định
2.2 Dịch vụ hải quan
Dịch vụ hải quan bao gồm:khai báo hải quan, làm thủ tục hải quan,thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu,giao nhận kho vận hàng hóa xuất nhậpkhẩu (xét tới tại kho ngoại quan), tư vấn pháp luật về hải quan
2.2.1.Dịch vụ khai báo hải quan
Tất cả hàng hóa xuất nhập khẩu đều phải làm thủ tục hải quan để thôngquan hàng hóa thì hàng hóa mới được đưa vào thị trường trong nước hay xuất
ra thị trường nước ngoài.Hiện nay việc khai báo hải quan có thể do doanhnghiệp xuất nhập khẩu tự đảm nhiệm.Tức là doanh nghiệp cử nhân viên củamình đi khai báo hải quan cho lô hàng xuất khẩu (nhập khẩu) hay làm các thủ
Trang 23tục hải quan có liên quan tới lô hàng để thông quan hàng hóa.Hay doanhnghiệp có thể thuê các doanh nghiệp chuyên cung cấp các dịch vụ hảiquan,thường là các đại lý hải quan,họ sẽ thay mặt doanh nghiệp (gọi tắt làchủ hàng) thực hiện trách nhiệm của người khai hải quan và thực hiện cáccông việc khác về thủ tục hải quan theo thỏa thuận trong hợp đồng (giữa chủhàng và đại lý hải quan).Việc kê khai phải đảm bảo đầy đủ, chi tiết về đặcđiểm, số lượng, trọng lượng, trị giá, quy cách, phẩm chất và mã số của hànghóa xuất khẩu, nhập khẩu Người xuất khẩu, nhập khẩu phải nộp tờ khai hảiquan theo mẫu do Tổng cục Hải quan ban hành.
2.2.2.Thủ tục hải quan
Sau khi khai báo hải quan cho lô hàng thì doanh nghiệp xuất nhập khẩucần làm thủ tục hải quan cho lô hàng đó.Thủ tục hải quan là các khâu côngviệc mà người xuất nhập khẩu và cán bộ nhân viên hải quan thực hiện theođúng qui định của pháp luật về Hải quan đối với hàng hoá, phương tiện vậntải khi xuất khẩu, nhập khẩu hoặc xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh
Luật Hải quan Việt Nam – 2005 điều 16, Khoản 1 qui định trình tự thủtục Hải quan bao gồm 3 nội dung là: khai báo hải quan, Đưa hàng hoá,phương tiện vận tải đến địa điểm được qui định cho việc kiểm tra thực tếhàng hoá, phương tiện vận tải và nộp thuế hải quan cùng các nghĩa vụ kháctheo qui định của pháp luật.Trong quá trình làm thủ tục hải quan,sau khi nhậnđược thông tin từ trong doanh nghiệp tại khâu khai báo hải quan,thì hải quan
sẽ tổ chức phân luồng hàng hóa và thực hiện tổ chức kiểm tra.Hàng hóa sẽđược phân làm 3 luồng:luồng xanh,luồng vàng và luồng đỏ
Mức 1: Luồng xanh: miễn kiểm tra chi tiết hồ sơ, miễn kiểm tra thực tếhàng hoá
Mức 2: Luồng vàng: Kiểm tra chi tiết hồ sơ, miễn kiểm tra thực tế hàng hoáMức 3: Luồng đỏ: Kiểm tra chi tiết hồ sơ, kiểm tra thực tế hàng hoá
Trang 24Sau khi hoàn thành các thủ tục hải quan thì hàng hóa sẽ được thôngquan.Để quá trình thông quan được diễn ra thuận lợi,các doanh nghiệp xuấtnhập khẩu cần đảm bảo quá trình khai báo hải quan là chính xác.Bởi quátrình khai báo hải quan sẽ ảnh hưởng tới việc phân luồng hàng hóa,nếu hànghóa rơi vào phân luồng vàng và đỏ thì sẽ rất tốn thời gian và chi phí củadoanh nghiệp trong quá trình thông quan cho hàng hóa.
2.2.3.Kho ngoại quan
Kho ngoại quan là khu vực kho, bãi được ngăn cách với khu vực xungquanh để tạm lưu giữ, bảo quản hoặc thực hiện các dịch vụ đối với hàng hóa
từ nước ngoài hoặc từ trong nước đưa vào kho theo hợp đồng thuê kho ngoạiquan được ký giữa chủ kho ngoại quan và chủ hàng.Kho ngoại quan là khocủa hải quan hoặc của tư nhân đặt dưới sự giám sát của hải quan và đượcdùng để tạm chứa hàng chưa làm thủ tục hải quan và nộp thuế (nếu có) Tạicác kho này, chủ hàng có thể sửa chữa, đóng gói là phân chia lại hàng hóadưới sự giám sát của hải quan.Khi chủ hàng hoàn thành thủ tục xuất nhậpkhẩu và nộp thuế (nếu có), hải quan sẽ cấp một chứng từ gọi là giấy phépxuất kho ngoại quan cho phép hàng được rời để chuyển tiếp vào nội địa hoặctái xuất đi nước ngoài
Các dịch vụ kho ngoại quan được cung cấp cho các đối tượng hàng hóa:
• Hàng hoá xuất khẩu đã làm xong thủ tục hải quan chờ xuất khẩu
• Hàng hoá hết thời hạn tạm nhập phải tái xuất
• Hàng hoá do cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc tái xuất khẩu
• Hàng hoá của chủ hàng nước ngoài chưa ký hợp đồng bán hàng cho doanh nghiệp Việt Nam
• Hàng hoá của doanh nghiệp Việt Nam nhập khẩu từ nước ngoài chờđưa vào thị trường trong nước, chưa phải nộp thuế nhập khẩu
Trang 25• Hàng hoá từ nước ngoài quá cảnh, lưu kho tại Việt Nam để chờ xuấtkhẩu sang nước thứ ba.
2.2.4.Dịch vụ tư vấn pháp luật về hải quan
Việc làm thủ tục thông quan cho hàng hóa xuất nhập khẩu phải trải quanhiều công đoạn, và được quy định thông qua luật hải quan cũng như các vănbản,thông tư do đó nếu doanh nghiệp nào không nắm rõ luật sẽ dẫn tớinhững sai sót không cần thiết gây nên thiệt hại rất lớn cho doanh nghiệp doquá trình thông quan phải kéo dài Bên cạnh đó không phải doanh nghiệp nàocũng có phòng ban chuyên về hoạt động xuất nhập khẩu,do đó không có cán
bộ chuyên sâu về nghiệp vụ hải quan Hiện nay trên thị trường đã có cácdoanh nghiệp khai thuê hải quan, họ cũng cung cấp cả dịch vụ tư vấn về luậthải quan và các thủ tục liên quan tới thông quan cho hàng hóa Điều này sẽgiúp cho doanh nghiệp rất nhiều trong việc giải quyết những thắc mắc haykhiếu nại với cơ quan hải quan về vấn đề thuế hay vấn đề thông quan chậm.Tại các chi cục hải quan cũng thành lập bộ phận tư vấn về luật hải quan, haycác website để giải thích các vấn đề thắc mắc của doanh nghiệp Hàng năm,tổng cục hải quan cũng tổ chức những buổi nói chuyện giữa hải quan vàdoanh nghiệp nhằm nâng cao sự phối hợp giữa hải quan và doanh nghiệp,bêncạnh đó cũng để trả lời những câu hỏi bức xúc của doanh nghiệp về các thủtục hải quan hiện hành còn gây những cản trở nào cho doanh nghiệp Để cóthể có những sự thay đổi phù hợp tạo điều kiện thông thoáng, nhanh chónghơn cho các doanh nghiệp khi làm thủ tục hải quan
2.3 Tầm quan trọng của dịch vụ hải quan trong chuỗi các dịch vụ logistic.
Theo ước tính,giá trị dịch vụ logistic toàn cầu đạt trên 1200 tỷUSD/năm,chiếm khoảng 16%tổng GDP toàn cầu.Nếu giảm 10% chi phí vậnchuyển có thể làm tăng 20% lưu lượng thương mại hay giảm một nửa chi phívận chuyển và làm tăng 0.5% tổng GDP đối với mỗi quốc gia.Điều đó chứng
Trang 26tỏ logistic sẽ mang lại nguồn lợi khổng lồ cho các quốc gia.Nhưng tại ViệtNam giá trị mà logistic mang lại là chưa cao.Có rất nhiều nguyên nhân làmcho dịch vụ logistic ở Việt Nam phát triển chưa tương đồng so với các quốcgia trong khu vực cũng như trên thế giới như cơ sở hạ tầng giao thông chưaphát triển,nguồn nhân lực còn thiếu,các doanh nghiệp cung cấp dịch vụlogistic còn nhỏ lẻ, manh mún,tài chính thì yếu kém,thiếu hệ thống cảng biểnnước sâu,thủ tục hành chính còn rườm rà,việc thông quan cho hàng hóa xuấtnhập khẩu còn chiếm rất nhiều thời gian Những điều này đã làm cho chi phílogistic tại nước ta là khá cao so với các nước khác,chi phí dịch vụ này củanước ta cao hơn hẳn Thái Lan, Trung quốc, Malaysia, Indonesia.
Hiện nay các hàng hóa xuất nhập khẩu của nước ta chủ yếu theo 3đường là vận tải đường biển,vận tải đường bộ và vận tải đường không.Trong
đó 90%là hàng hóa qua các cảng biển.Như vậy có thể khẳng định cảng biểnchính là điểm nút trong chuỗi cung ứng dịch vụ logistic.Việc phát triển cáccảng biển nước sâu, cũng như việc cung ứng các dịch vụ tại cảng biển tốt sẽgóp phần thúc đẩy logistic phát triển và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanhnghiệp cũng như phát triển kinh tế.Như chúng ta đã biết bất cứ hàng hóa xuấtkhẩu hay nhập khẩu đều phải làm thủ tục thông quan hàng hóa thì mới đượcđưa vào thị trường trong nước hay ra thị trường nước ngoài.Muốn thông quanđược hàng hóa việc đầu tiên mà các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩuphải làm là khai báo hải quan.Việc khai báo hải quan bao gồm khai báo vềchủng loại, số lượng hàng hóa,mã số,xuất sứ Việc khai báo này cần đảm bảotính chính xác cao và tuân thủy theo mã HS(mã hóa hàng hóa,với mỗi hànghóa sẽ có một mã HS).Nếu việc khai báo không đúng theo quy định hoặc cósai sót gì thì sẽ phải tồn thời gian cũng như chi phí để làm lại.Nếu hàng hóacàng chậm làm thông quan sẽ làm ảnh hưởn tới việc kinh doanh của cácdoanh nghiệp và gây hậu quả rất lớn.Hàng hóa chậm thông quan cũng chính
Trang 27là trong chuỗi logistic thì hàng hóa đang bị mắc tại đây và quá trình vậnchuyển hàng hóa là không thể tiếp tục được.Chính vì vậy việc cung cấp cácdịch vụ hải quan nhanh chóng chính xác sẽ làm giảm rất nhiều thời gian chodoanh nghiệp cũng như chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra.Hiện nay có rất nhiềudoanh nghiệp bức xúc vì việc thông quan hàng hóa chậm đã gây thiệt hạikinh doanh lớn cho daonh nghiệp do lỡ việc sản xuất kinh doanh hay làmchậm thời gian giao hàng cho bạn hàng hay khi hàng được đưa vào thị trườngtrong nước thì đã qua giai đoạn có thể thu được lợi nhuận cao Hiện nay trênthị trường có rất nhiều doanh nghiệp cung ứng dịch vụ hải quan,họ sẽ thaymặt cho doanh nghiệp để làm các thủ thông quan cho hàng hóa như khai báohải quan,làm thủ tục hải quan Điều này sẽ giúp cho các doanh nghiệp giảmthiểu được các rủi ro,sai sót trong quá trình làm thủ tục hải quan.Bởi khôngphải doanh nghiệp nào cũng có nhân viên chuyên làm thủ tục xuất nhập khẩuhàng hóa.
Theo khảo sát mới nhất,30%giá logistic phụ thuộc vào các luật lệ,quyđịnh về vận tải,thông quan hàng hóa,30-40% giá logistic phụ thuộc vào mức
độ trì hoãn về thủ tục hành chinh Mất 217 giờ và 2.910 USD để vận chuyển
30 tấn hàng từ Bangkok (Thái Lan) đến Hà Nội bằng đường biển,74 giờ và5.500 USD bằng đường bộ,29 giờ và 69.940 USD bằng đường hàngkhông.Những con số về thời gian và tiền bạc trên là theo khảo sát mới nhất củacác chuyên gia thuộc tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO) vềlogistic là một minh chứng rõ nét nhất về những bất cập tồn tại trong ngànhdịch vụ logistic của Việt Nam.Chính vì vậy chúng ta cần phải có những chiếnlược phát triển logistic hợp lý đề giảm được chi phí của ngành dịch vụ nàynhằm mang lại lợi nhuận cao.Cần phải đơn giản hóa các thủ tục hải quan hơnnữa,điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thông quan hàng hóa nhanhcũng chính là làm cho quá trình vận chuyển hàng hóa trong chuỗi logistic được
Trang 28tiếp tục.Hiện nay cục hải quan đang thực hiện chương trình hải quan điệntử,tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có thể khai báo hải quan từ xa,rút ngắnthời gian thông quan cho hàng hóa.Nếu các hoạt động của Hải quan được đơngiản hóa sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp giảm thiểu được chiphí cũng như giảm được thời gian trong quá trình vận chuyển hàng hóa từnước xuất khẩu về nước nhập khẩu.Hàng hóa nhanh chóng được đưa về thịtrường tiêu thụ không những làm lợi cho doanh nghiệp mà còn mang lại lợi íchcho người tiêu dùng trong quá trình tiêu thụ sản phẩm.
Bên cạnh đó đơn giản hóa thủ tục hải quan,hiện đại hóa hải quan,thựchiện Hải quan một cửa sẽ giúp các doanh nghiệp nhanh chóng thông quanđược hàng hóa.Giúp các doanh nghiệp tạo được uy tín với bạn hàng nâng caokhả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.Việc triển khai thủ tục hải quan điện
tử đã làm giảm thời gian thông quan đáng kể so với phương pháp truyềnthống, thời gian thông quan điện tử đối với hàng luồng Xanh chỉ còn vàiphút, luồng Vàng từ 10 đến 20 phút và luồng Đỏ tối đa khoảng 60 phút
Dịch vụ kho bãi của Hải quan(kho ngoại quan) cũng có vai trò rất tolớn trong chuỗi logistic bởi vì khi các doanh nghiệp chưa thể làm thủ tụcthông quan hàng hóa ngay được thì hệ thống kho bãi Hải quan sẽ là nơi bảoquản hàng hóa.Đây cũng là nơi để hàng hóa cho các daonh nghiệp kinhdoanh mặt hàng tạm nhập tái xuất.Có những doanh nghiệp sau khi thôngquan xong gửi hàng hóa vào kho hải quan và sau đó bán lại hàng đó cho cácdoanh nghiệp khác ngay tại kho ngoại quan.Điều này sẽ giúp cho các doanhnghiệp kinh doanh hàng hóa xuât nhập khẩu giảm được chi phí vận chuyểncũng như thời gian khi vận chuyển hàng về doanh nghiệp hay lại phải làm thủtục thuê kho tư nhân(nếu như kho bãi của doanh nghiệp không đáp ứng đủ)
Bên cạnh đó, DN cũng có thể tham khảo được các thông tin về phía hảiquan (thông tin nợ thuế, chế độ, thủ tục hải quan mới nhất) để chủ động trong
Trang 29việc làm thủ tục hải quan )Nhờ vậy, công tác quản lý trong lĩnh vực hảiquan được nâng lên một bước, chặt chẽ và chính xác hơn.Và cũng giúp chodoanh nghiệp khi làm thủ tục hải quan sẽ chính xác hơn rút ngắn thời gianthông quan cũng như chi phí tạo điều kiện cho doanh nghiệp nâng cao sứccạnh tranh trên thị trường cung ứng hàng hóa.
3.Hoạt động hải quan với sự phát triển của thương mại quốc tế hiện nay
3.1.Thương mại quốc tế và lợi ích của thương mại quốc tế
3.1.1.Khái niệm
Thực tiễn hoạt động buôn bán giữa các nước trên thế giới hiện nay đãcho thấy rõ xu hướng tự do hóa thương mại và vai trò của thương mại quốc tếđối với tăng trưởng kinh tế của các nước.Thương mại quốc tế đã trở thànhmột lĩnh vực quan trọng tạo điều kiện cho các nước tham gia vào phân cônglao động quốc tế,phát triển kinh tế và làm giàu cho đất nước
Thương mại quốc tế ngày nay đã không còn mang ý nghĩa đơn thuần làbuôn bán mà thể hiện sự phụ thuộc tất yếu của các quốc gia vào phân cônglao động quốc tế.Vì vậy thương mại quốc tế được coi như một tiền đề,mộtnhân tố phát triển kinh tế trong nước trên cơ sở một cách tối ưu sự phân cônglao động và chuyên môn hóa quốc tế.Vậy thương mại quốc tế là gi?
Thương mại quốc tế là quá trình trao đổi hàng hóa,dịch vụ giữa cácnước thông qua buôn bán nhằm mục đich kinh tế và lợi nhuận.Trao đổi hànghóa,dịch vụ là một hình thức của các mối quan hệ kinh tế xã hội và phản ánh
sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những người sản xuất kinh doanh hàng hóa,dịch
vụ riêng biệt của các quốc gia
3.1.2.Lợi ích của thương mại quốc tế
Không thể phủ nhận vai trò cần thiết của thương mại quốc tế đối với sựphát triển kinh tế của mỗi nước hiện nay.Có thể nói rằng thương mại quốc tế
có ý nghĩa sống còn đối với các nước tham gia vì nó cho phép các quốc gia
Trang 30tiêu dùng các mặt hàng với số lượng nhiều hơn,chủng loại phong phú hơnmức có thể tiêu dùng với ranh giới của đường giới hạn khả năng sản xuấttrong điều kiện đóng cửa nền kinh tế của nước đó.Hay nói cách khác thươngmại quốc tế giúp mở rộng khả năng tiêu dùng của một nước.Bên cạnh đó nócũng cho phép các quốc gia thay đổi các ngành nghề kinh tế,cơ cấu vật chấtcủa sản phẩm theo hướng phù hợp với đặc điểm sản xuất của mình.Cụ thể:
- Thương mại quốc tế giúp tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất trong nướcphát triển.Thương mại quốc tế là lĩnh vực trao đổi,phân phối lưu thông hànghóa dịch vụ với nước ngoài,nối sản xuất và tiêu dùng của nước ta với sảnxuất tiêu dùng nước ngoài.Mà trong quá trình sản xuất mở rộng thì khâu phânphối và lưu thông này được coi là khâu quan trọng,khâu có vai trò quyết địnhtới tiến trình sản xuất.Sản xuất có phát triển được hay không,phát triển nhưthế nào phụ thuộc rất nhiều vào khâu này.Chính vì vậy ,có thể khẳng địnhrằng thương mại quốc tế tác động trực tiếp đến sự phát triển của nền sản xuất
- Thông qua thương mại quốc tế,các nước có thể nhận thấy được,giớithiệu và khai thác những thế mạnh,những tiềm năng của đất nước mình,từ đótiến hành phân công lại lao động cho phù hợp
- Thương mại quốc tế cũng tạo điều kiện cho các nước tranh thủ,khaithác tiềm năng của các quốc gia khác trên thế giới để thúc đẩy quá trình sảnxuất xã hội phát triển trên cơ sở tiếp thu những tiến bộ khoa học công nghệ
và sử dụng những hàng hóa,dịch vụ tốt,rẻ mà mình chưa sản xuất được hoặcsản xuất không hiệu quả
- Bên cạnh đó thương mại quốc tế cũng góp phần thúc đẩy quá trình liênkết kinh tế,xã hội giữa các nước ngày càng chặt chẽ và mở rộng hơn,điều đó sẽgóp phần ổn định tình hình kinh tế chính trị của các quốc gia và của toàn thế giới
- Thương mại quốc tế tạo điều kiện nâng cao khả năng tiêu dùng,tăngmức sống của dân cư.Như đã nói ở trên,thương mại quốc tế cho phép người
Trang 31tiêu dùng có thể tiêu dùng nhiều hàng hóa,dịch vụ hơn,chủng loại phong phúhơn, giá rẻ hơn.Đó chính là cơ sở nâng cao mức sống cua người dân.
- Ngoài ra,thương mại quốc tế cũng góp phần làm tăng khả năng thu hútvốn đầu tư nước ngoài vào trong nước và mở rộng các mối quan hệ quốc tế
3.2.Hoạt động Hải quan tạo điều kiện cho thương mại quốc tế phát triển
Theo định hướng về xuất nhập khẩu mức độ tăng trưởng bình quânhàng năm (xuất khẩu 15%,nhập khẩu 14%)ngành Hải quan sẽ phải làm thủtục xuất nhập khẩu cho lượng hàng hóa lớn.Với xu thế hội nhập kinh tế thếgiới như hiện nay ngành Hải quan sẽ có vai trò rất quan trọng trọng chothương mại quốc tế phát triển.Các hoạt động Hải quan thuận lợi thông thoáng
sẽ tạo điều kiện cho hàng hóa các nước khác nhanh chóng được đưa vào thịtrường trong nước,cũng như các hàng hóa xuất khẩu cũng nhanh chóng đượclàm thủ tục thông quan để xuất khẩu.Các thủ tục và việc lập các chứng từxuất nhập khẩu cần duy trì ở mức độ tối thiểu để tạo điều kiện cho thươngmại phát triển Với việc triển khai thực hiện chương trình hải quan điện tử đãlàm rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa Thời gian thông quan trung bìnhđối với luồng xanh từ 3-15 phút; luồng vàng điện tử từ 10-20 phút; luồngvàng giấy từ 10-60 phút; luồng đỏ phụ thuộc thời gian kiểm tra thực tế hànghóa Với chủ trương cải cách thủ tục hành chính trong các thủ tục hải quantạo điều kiện thông thoáng và rút ngắn thời gian thông quan cũng sẽ giúp chocác doanh nghiệp có thể nhanh chóng đưa được hàng hóa ra thị trường nướcngoài, nâng cao được sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường thếgiới Hiện nay nước ta đang là một trong những nước dẫn đầu về xuất khẩugạo, cà phê, tiêu do đó việc tạo thuận lợi cho việc xuât khẩu những mặthàng này sẽ tạo được sự phát triển kinh tế trong nước Thúc đẩy các doanhnghiệp tìm thị trường xuất khẩu cũng như tạo được niềm tin cho người nôngdân trong quá trình trồng trọt, sản xuất
Trang 32Hiện nay, hải quan Việt Nam đang đẩy mạnh quan hệ hợp tác quốc tếsong phương và đa phương Điều này sẽ giúp cho hàng hóa xuất nhập khẩucủa Việt Nam có điều kiện vào được thị trường các nước khác Với chínhsách đẩy mạnh xuất khẩu của Việt Nam hiện nay thì việc tạo điều kiện về cơ
sở vật chất cũng như các điều kiện pháp lý sẽ là sức mạnh cho hoạt động xuấtnhập khẩu Cần có những chính sách phát triển cảng biển cũng như các dịch
vụ cảng biển như kho bãi, các dịch vụ vận chuyển container để tạo điều kiệncho các doanh nghiệp đưa hàng hóa vào thông quan Dịch vụ kho bãi hảiquan cung cấp đủ điều kiện như bảo quản hàng hóa, diện tích kho rộng,cácthủ tục thông thoáng khi làm thủ tục nhập kho hay xuất kho sẽ tạo điều kiệncho các doanh nghiệp kinh doanh những mặt hàng tạm nhập tái xuất Hiệnnay, các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam thường xuất khẩu theo giá FOB,
do đó việc vận chuyển hàng hóa ra cảng (biển, hàng không,biên giới) và làmthủ tục hải quan sẽ do doanh nghiệp đảm nhận.Do đó, nếu thời gian thôngquan nhanh sẽ giảm được chi phí cho doanh nghiệp trong quá trình lưu khobãi và thực hiện được đúng thời gian giao hàng với bạn hàng quốc tế, giúpdoanh nghiệp tạo được uy tín trên thị trường quốc tế
Ngày nay các quốc gia đều tạo điều kiện cho thương mại quốc tế pháttriển thông qua các chính chiến lược xuất khẩu, thông qua thuế quan và hàngrào phi thuế quan để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước mởrộng hợp tác kinh doanh với các doanh nghiệp ở nước ngoài.Vì vậy các hoạtđộng của hải quan cần phải tạo điều kiện thông thoáng, thuận tiện hơn nữa để
có thể tạo điều kiện cho các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu hoạtđộng
Trang 33CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG DỊCH VỤ HẢI QUAN VIỆT NAM
HIỆN NAY
1.Quá trình phát triển dịch vụ hải quan Việt Nam
1.1 Dịch vụ hải quan Việt Nam qua từng giai đoạn
Năm 1945 Cách mạng tháng 8 thành công, Hồ Chủ tich đã đọc bảnTuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà Tuy nhiên,sau đó Việt Nam vẫn phải tiếp tục trải qua 30 năm chiến tranh ác liệt và 27năm thử thách trong thời kỳ hàn gắn vết thương chiến tranh
Với cái tên đầu tiên là “Sở Thuế quan và thuế gián thu” được thành lậpvới mục đích đảm bảo việc kiểm soát hàng hoá xuất nhập khẩu và duy trìnguồn thu ngân sách Hải quan Việt Nam không ngừng chăm lo xây dựng,hoàn thiện và nâng cao cơ sở pháp lý - quản lý Nhà nước để ngày càng phùhợp hơn với thực tiễn của nước Việt Nam Từ chỗ Hải quan Việt Nam cònphải tạm thời sử dụng những quy định nghiệp vụ về thuế quan của chínhquyền thực dân đến nay đã xây dựng và ban hành được “Điều lệ Hải quan”,Pháp lệnh Hải quan và tiếp đó là Luật Hải quan Việt Nam có hiệu lực từ ngày
1 tháng 1 năm 2002
Với những mục tiêu nhằm tạo thuận lợi cho phát triển xuất nhập khẩu,thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển du lịch và giao thương quốc tế, đảm bảoquản lý, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác Hải quan Việt Nam đã luônluôn thực hiện theo khẩu hiệu mà mình đã đặt ra:“Thuận lợi, Tận tuỵ, Chínhxác” Và cùng với sự phát triển của ngành hải quan trong suốt 65 năm qua thìdịch vụ hải quan cũng không ngừng được cải thiện từ hình thức phục vụ chođến chất lượng phục vụ ngày một thông thoáng và tạo điều kiện cho doanhnghiệp hơn
Trang 34 Giai đoạn 1945 – 1954
Trong bối cảnh tình hình đất nước mới thành công sau cách mạng thángtám, nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là vấn đề tài chính Do đó, mộttrong những nhiệm vụ quan trọng lúc bấy giờ là phải từng bước xây dựng nềntài chính độc lập Găn liền với điều kiện lịch sử, kinh tế xã hội đất nước, khi đónhững hoạt động chủ yếu của Sở thuế quan và Thuế gián thu là thu các thuếnhập cảnh và xuất cảnh, thu thuế gián thu Khi tình hình đất nước chuyển sanggiai đoạn kháng chiến chống Pháp thì nhiệm vụ chủ yếu của lực lượng thuếquan là tăng cường kiểm tra giám sát hàng hóa qua lại giữa vùng tự do và vùngđịch chiếm đóng, ngăn chặn việc buôn bán thuốc phiện
Ngày 10/9/1953, thứ trưởng Bộ tài chính Trịnh Văn Bính ký nghị định
số 204 – TG – ND thành lập các khu và chi sở thuế xuất nhập khẩu Tổ chứccủa ngành xuất nhập khẩu gồm 4 cấp, cụ thể là: ở trung ương có Phòng thuếxuất nhập khẩu thuộc Sở thuế trung ương; ở các liên khu có phân sở thuế liênkhu (có bộ phận thuế xuất nhập khẩu), ở tỉnh có chi sở thuế xuất nhập khẩu, ở
cơ sở có đồn và trạm kiểm soát thuế suất nhập khẩu Trong giai đoạn này độingũ cán bộ, nhân viên trong bộ máy thuế quan và thuế gián thu phải đảmnhiệm công tác xuất nhập khẩu, quản lý việc xuất nhập khẩu hàng hóa giữavùng tự do và vùng tạm chiếm, xây dựng biểu thuế xuất nhập khẩu
Giai đoạn 1954 – 1975
Trong giai đoạn này miền Bắc đang đẩy mạnh công cuộc xây dựng chủnghĩa xã hội và là hậu phươn vững chắc cho miền Nam chống Mỹ xâm lược,giải phóng miền Nam thống nhất đất nước Trong thời gian này, Bộ CôngThương đã thành lập Sở hải quan hay cho ngành thuế xuất nhập khẩu Trongthời kỳ này dịch vụ hải quan chủ yếu cung cấp hoặc làm những nhiệm vụ sau:
- Giám sát quản lý hàng hóa, hành lý, tiền tệ, kim khí quý, đá quý, ngọc trai, bưu phẩm, bưu kiện, công cụ vận tải khi xuất hay nhập
Trang 35- Thi hành chính sách thuế xuất nhập khẩu và thu các loại thuế khác đối với hàng hóa xuất nhập khẩu
- Ngăn ngừa và chống những hành vi vi phạm luật lệ hải quan
- Phát hiện và ngăn ngừa các thiếu sót trong bốc dỡ vận chuyển, sắp xếp, bảo quản hàng hóa xuất nhập khẩu…
Giai đoạn 1975 – 1986
Sau khi nước nhà hoàn toàn giải phóng , đứng trước bối cảnh kinh tế xãhội mới, ngành hải quan đã đẩy mạnh đổi mới về đội ngũ cán bộ hay trình độchuyên môn để phù hợp với nhiệm vụ mới của toàn ngành, thống nhất hoạtđộng hải quan trên toàn đất nước Trong giai đoạn này chất lượng dịch vụ hảiquan đã được nâng cao hơn về chất lượng đội ngũ cán bộ hải quan trong quátrình làm thủ tục hải quan cho hàng hóa nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhucầu phát triển của nền kinh tế.Các phương tiện vận tải xuất nhập cảnh ngàycàng tăng mạnh, mạng lưới bưu điện ngoại dịch được mở rộng Trong bốicảnh như vậy, ngành hải quan gặp phải những khó khăn về lực lượng cán bộ,trình độ nghiệp vụ, phương tiện phục vụ cho công tác chyên môn
Giai đoạn từ 1986 đến nay
Ngành hải quan đã không ngừng phát triển về số lượng cũng như chấtlượng phục vụ phù hợp với các mục tiêu kinh tế đề ra và nhanh chóng hộinhập cùng với các tổ chức hải quan trên thề giới để học tập kinh nghiệm.Trong giai đoạn hiện nay, dịch vụ hải quan đã có nhiều đổi mới như về thờigian thông quan hàng hóa, trong quá trình thực hiện đã áp dụng máy mócthiết bị chuyên dụng nhằm làm cho quá trình kiểm tra hàng hóa được chínhxác cao, đỡ tốn kém chi phí cả về tiền và thời gian.Đẩy mạnh hiện đại hóa hảiquan nâng cao tính chuyên nghiệp của cán bộ công nhân viên chức hải quan,
áp dụng tiến bộ khoa học vào việc quản lý hải quan Thực hiện hải quan điện
tử trên phạm vi lớn tạo điều kiện cho doanh nghiệp khai báo hải quan Dịch
Trang 36vụ kho bãi hải quan cũng được đẩy mạnh mở rộng tạo thuận lợi cho doanhnghiệp muốn lưu kho hàng hóa.
1.2.Thực hiện cải cách thủ tục hành chính
Trong hoạt động xuất nhập khẩu,các doanh nghiệp phải tuân thủ rấtnhiều quy định của thủ tục hành chính.Các thủ tục hành chính đang là rào cảnđối với các doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh,nó gây ra tốn kém vềthời gian, chi phí cũng như ảnh hưởng về tính cạnh tranh của các doanhnghiệp trên thị trường
Hải quan Việt Nam đã tham gia Công ước Kyoto về Đơn giản hoá vàHài hoà hoá Thủ tục Hải quan, năm 1997, Công ước Hài hoà mô tả và mãhoá hàng hoá (Công ước HS), năm 1998 Về cơ bản rất nhiều thủ tục về hảiquan đã dần tiến tới thống nhất với hải quan quốc tế.Bên cạnh đó hải quanViệt Nam cũng đẩy mạnh thực hiện cải cách thủ tục hành chính trên cơ sở đề
án 30 của thủ tướng chính phủ (Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định
số 30/QĐ-TTg ngày 10/1/2007 phê duyệt đề án đơn giản hóa thủ tục hànhchính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007- 2010 gọi tắt là đề
án 30).Việc thực hiện thành công giai đoàn đầu của Đề án 30 đã nhận được
sự ủng hộ mạnh mẽ của cộng đồng doanh nghiệp.Tuy nhiên, Hải quan ViệtNam cần rà soát và thực hiện nhanh các quy trình thông quan, thủ tục thuếquan và đặc biệt là tạo sự công bằng giữa các DN.Với việc cải cách các thủtục hành chính trong quá trình thực hiện các dịch vụ hải quan do từ phíangành hải quan sẽ là động lực phát triển mạnh mẽ cho các doanh nghiệp kinhdoanh các mặt hàng xuất nhập khẩu.Bởi khi các doanh nghiệp là đối thủ cạnhtranh của nhau thì việc hàng sớm thông quan cũng tạo một lợi thế đáng kể
Ngày 31/8/2009, Tổng cục Hải quan đã có công văn 5224/TCHQ-PChướng dẫn Cục Hải quan các tỉnh, thành phố và các đơn vị thuộc cơ quanTổng cục triển khai thực hiện bộ thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực hải quan
Trang 37Mục tiêu của hoạt động này là rà soát, bổ sung vào bộ TTHC các thủ tục đã
và đang thực hiện, nhưng chưa thống kê kê tại bộ TTHC đã công bố Phấnđấu cắt giảm 30% trên tổng số TTHC của bộ TTHC đảm bảo gọn nhẹ, giảmthiểu các bước, tối thiểu hoá giấy tờ, chứng từ kèm theo thủ tục
Lãnh đạo ngành Hải quan yêu cầu các đơn vị phải bố trí cán bộ, côngchức có trình độ, kinh nghiệm chuyên sâu nghiệp vụ thủ tục hải quan để làmcông tác này Đồng thời, trong quá trình triển khai các đơn vị phải tuân thủyêu cầu về tiến độ, thời gian đề ra
Để bộ TTHC phát huy tác dụng và đi vào thực tế, ngành Hải quan đangtích cực tuyên truyển tới từng cán bộ, công chức Hải quan, cộng đồng doanhnghiệp và toàn xã hội về những lợi ích của bộ TTHC cũng như những nỗ lựccủa ngành Hải quan trong thời gian để phục vụ ngày càng tốt hơn cộng đồngdoanh nghiệp và nhân dân
Trong quá trình thực hiện cải cách TTHC của ngành hải quan thì cácloại giấy tờ, hồ sơ được chuẩn hóa, đơn giản từng bước, dần hình thành thủ tụchành chính mang tính thống nhất, dễ nhớ, dễ thực hiện và dễ kiểm tra Các thủtục được công khai, minh bạch bằng nhiều hình thức để các tổ chức, doanhnghiệp biết và thực hiện thống nhất giúp giảm hẳn tệ quan liêu, sách nhiễu nóichung và loại bỏ tiêu cực tại Cục Việc thực hiện các quy định mới về quytrình thủ tục hải quan giúp xác định rõ doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật
để có những ưu đãi về mặt thủ tục Hải quan và thuế, tạo chuyển biến rõ rệt vềchất lượng giải quyết công việc, giúp thông quan hàng hóa nhanh và chínhxác hơn Bước đầu đã thiết lập và duy trì nền tin học nhà nước thông qua hệthống máy móc thiết bị, các hệ thống mạng, đường truyền tốc độ cao, đườngtruyền cáp quang, các chương trình văn phòng điện tử xử lý công việc, chươngtrình quản lý và hỗ trợ nghiệp vụ.Việc triển khai ứng dụng Công nghệ thôngtin vào bộ phận giải quyết hồ sơ, thủ tục hành chính đã mang lại những hiệu
Trang 38quả thiết thực cho doanh nghiệp cũng như người dân Đồng thời việc giảiquyết trở nên minh bạch, gọn gàng, hạn chế được tiêu cực.
Theo kế hoạch đề ra, việc triển khai và rà soát bộ TTHC gồm ba giaiđoạn Cụ thể, giai đoạn 1: từ tháng 8/2009 đến tháng 9/2009, sẽ tiến hành ràsoát bộ TTHC và đề xuất bổ sung các thủ tục chưa được thống kê hoặc mớiđược hành hoặc đề xuất cắt giảm các thủ tục Trong đó, sẽ tập trung vào cácvăn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng như sửa đổi, bổ sung Thông tư79/2009/TT-BTC hướng dẫn về thủ tục Hải quan; Kiểm tra, giám sát Hảiquan thuế xuất nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu;hay Thông tư 116/2008/TT-BTC hướng dẫn thủ tục hải quan đối với hànghóa gia công với thương nhân nước ngoài… Kết quả rà soát trong giai đoạn
1, sau khi Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Quyết định số 1904/QĐ-BTCngày 10/8/2009 về danh mục thủ tục trong ngành hải quan với 239 thủ tục,trong đó có 15 thủ tục cấp tổng cục, 27 thủ tục cấp cục và 197 thủ tục cấp chicục, ngành hải quan đã công bố danh mục và chọn ra được 44 thủ tục ưutiên, trong đó giữ lại 20 thủ tục, sửa đổi bổ sung 22 thủ tục, thay hai thủ tục,tiết kiệm 6.000 tỷ đồng
Giai đoạn 2: từ tháng 10/2009 đến tháng 12/2010: đề xuất kiến nghịgiảm các bước trong từng thủ tục, giảm các giấy tờ, chứng từ kèm theo trongTTHC Vấn đề cải cách thủ tục hành chính ngành trong giai đoạn 2 sẽ tiếp tụccác nội dung: đơn giản hoá thủ tục, cắt bỏ những thủ tục không cần thiếtđồng thời; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, đồng thời minh bạch hoácác thủ tục để DN dễ hiểu và dễ thực hiện
Riêng trong vấn đề đơn giản hóa, tổng cục sẽ tập trung chỉ đạo giảmcác giấy tờ, giảm các chi phí, giảm các mẫu biểu , đặc biệt sẽ tập trung giảiquyết nhóm vấn đề có liên quan đến thủ tục hải quan đối với hàng gia công,sản xuất hàng xuất khẩu vì đây là lĩnh vực có liên quan tới 1/3 tổng số lượng
Trang 39tờ khai XNK của ngành, đồng thời sẽ xem xét sửa đổi, bổ sung Thông tư
116, theo đó đơn giản một số thủ tục bao gồm 7 nhóm vấn đề theo chủ trươngcủa Đề án 30 Ví dụ, trước đây DN được làm thủ tục tại nơi DN có cơ sở sảnxuất, nay theo dự kiến sửa đổi, DN được lựa chọn đối với các chi cục để làmthủ tục, kể cả nơi DN có cơ sở sản xuất lẫn nơi DN đóng trụ sở hoặc chinhánh DN đóng tại TP HCM có cơ sở sản xuất tại Long An, có thể làm thủtục ngay tại TP HCM thay vì phải xuống Long An làm thủ tục như trước.Haynhư về vấn đề thanh khoản, ngành hải quan dự kiến sẽ xóa bỏ thủ tục trình tờkhai xuất khẩu và chứng từ thanh toán Việc đăng ký định mức gia công chỉphải thực hiện khi xuất khẩu lô hàng đầu tiên thay vì khi làm hợp đồng nhậpkhẩu đã phải đăng ký ngay như trước đây cũng là nội dung đang được ngànhhải quan cân nhắc cải cách trong giai đoạn tới Theo tính toán của ngành hảiquan, chỉ riêng việc đơn giản hóa thủ tục này thôi, mỗi năm ngành sẽ tiếtkiệm được 160 tỷ đồng cho ngân sách, tương đương cắt giảm 60% thủ tục.Hiện ngành hải quan đang tiếp tục rà soát 197 thủ tục còn lại Theo đó, khi ràsoát sẽ xem xét sửa đổi bổ sung ngay những văn bản thuộc thẩm quyền Tất
cả các quy định về đơn giản hoá sẽ được thể hiện ngay trong các văn bảnmới ban hành Bên cạnh đó, ngành cũng đang xem xét xây dựng lộ trình sửacác Nghị định của Chính phủ và tính đến lộ trình xem xét sửa đổi Luật Hảiquan theo lộ trình cải cách pháp lý trong dự án hiện đại hoá do Ngân hàngThế giới tài trợ, để làm sao tiếp tục tạo dựng lòng tin cho DN và các nhà đầu
tư vào công cuộc cải cách thủ tục hành chính của Chính phủ, từng bước lànhmạnh hóa nền hành chính quốc gia, tiến đến nâng cao sức cạnh tranh của nềnkinh tế đáp ứng yêu cầu hội nhập
Giai đoạn 3: từ tháng 01/2010 đến tháng 4/2010 sẽ được dành cho việctrình cấp có thẩm quyền ban hành quyết định về cắt giảm và đơn giản hoá dựatrên những kết quả mà ngành Hải quan đạt được trong các giai đoạn trước
Trang 40Các kết quả cụ thể về cải cách hành chính tại của ngành hải quan được thểhiện qua nhiều mặt Đầu tiên là thủ tục thủ tục hải quan, đã được cải cách thôngthoáng hơn rất nhiều, giúp hàng hóa được thông quan nhanh chóng, tạo điềukiện phát triển cho doanh nghiệp.Thứ hai là nhờ dân chủ và công khai hóa chủtrương, chính sách, văn bản của Cục Hải quan mà giữa doanh nghiệp và Hảiquan tìm được tiếng nói chung trong giải quyết các vấn đề vướng mắc.Thứ ba làgiúp doanh nghiệp tiết kiệm đước khoản chi phí rất lớn về tiền của cũng nhưthời gian.Thứ năm là tạo môi trường hoạt động xuất nhập khẩu thông thoáng vàminh bạch để phục vụ hội nhập và phát triển của doanh nghiệp.
Có thể nói, cải cách thủ tục hành chính đối với lĩnh vực hải quan khôngchỉ dừng lại ở con số tiền tiết kiệm chi phí mà còn tạo lòng tin của nhà đầu tư
và chuẩn mực quốc tế trong lĩnh vực hải quan sẽ tạo thuận lợi cho hoạt độngxuất nhập khẩu, góp phần đưa nền kinh tế đất nước ngày càng hội nhập sâurộng với kinh tế thế giới
1.2.Đẩy mạnh quan hệ hợp tác, hội nhập quốc tế
Ngày nay, các quốc gia trên thế giới không ngừng mở rộng quan hệ hợptác kinh tế cũng như hội nhập kinh tế trên tất cả các lĩnh vực.Nhằm tận dụngđược các lợi thế của các quốc gia khác cũng đồng thời khai thác được lợi thếtiềm năng của quốc gia mình Cùng với xu thế phát triển các quan hệ kinh tếrộng khắc toàn cầu thì hàng hóa của mỗi quốc gia sẽ có điều kiện được nhiềungười tiêu dùng ở các quốc gia khác biết đến ngày càng nhiều hơn Ngày nay,quá trình lưu thông hàng hóa giữa các quốc gia không ngừng được xúc tiếnnhằm tạo điều kiện cho thương mại quốc tế thông thoáng, hàng hóa lưu thôngnhanh hơn.Và một trong những đóng góp không nhỏ trong quá trình lưu thônghàng hóa đó là có sự phối hợp hải quan của các nước Bởi vì, bất cứ hàng hóanào muốn vào được thị trường nước khác đều phải làm thủ tục thông quan chohàng hóa đó.Các thủ tục thông quan này ở mỗi quốc gia là khác nhau, hay độ