Trong nền kinh tế thị trường, kinh doanh dịch vụ là lĩnh vực hứa hẹn nhiều tiềm năng phát triển. Xã hội phát triển càng cao thì đòi hỏi các dịch vụ được cung cấp phải thể hiện tính năng ưu việt, toàn diện với mục đích đem đến sự thuận lợi nhất đối với khách hàng sử dụng. Chính vì vậy trong những năm qua, ý thức được tầm quan trọng và hiệu quả to lớn từ dịch vụ logistics, Việt Nam đã chú trọng vào việc xây dựng và phát triển dịch vụ logistics tại Việt Nam. Các cơ quan quản lý nhà nước liên quan đã từng bước xây dựng khung pháp lý và chính sách phát triển dịch vụ logistics, nhiều doanh nghiệp logistics đã được thành lập cung cấp dịch vụ logistics và từng bước hình thành chuỗi cung ứng hàng hoá, dịch vụ tới các vùng miền trong cả nước và tới các nước trên thế giới. Là sự phát triển cao của dịch vụ giao nhận kho vận, dịch vụ vận tải đa phương thức... dịch vụ Logistics đã chứng minh được những ưu điểm nổi trội của mình và những lợi ích đó có thể khiến cho khách hàng hoàn toàn yên tâm và thoả mãn về sự phong phú và tính hiệu quả của dịch vụ. Dịch vụ Logistics ngày càng phát triển trên thế giới, ở Việt Nam dù dịch vụ logistics mới được hình thành nhưng cũng đem lại nhiều giá trị trong nền kinh tế quốc dân, mở ra một cơ hội cho các doanh nghiệp có thể đầu tư và khai thác. Với đề tài “Pháp luật về dịch vụ Logistics ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp em sẽ đưa ra những vấn đề lý luận về pháp luật về dịch vụ Logistics ở Việt Nam. Đồng thời chỉ ra những vấn đề bất cập và giải pháp nhằm nâng cao chính sách pháp luật này.
Trang 1Lêi më ®Çu
Trong nền kinh tế thị trường, kinh doanh dịch vụ là lĩnh vực hứa hẹn nhiều tiềm năng phát triển Xã hội phát triển càng cao thì đòi hỏi các dịch vụ được cung cấp phải thể hiện tính năng ưu việt, toàn diện với mục đích đem đến sự thuận lợi nhất đối với khách hàng sử dụng
Chính vì vậy trong những năm qua, ý thức được tầm quan trọng và hiệu quả to lớn từ dịch vụ logistics, Việt Nam đã chú trọng vào việc xây dựng và phát triển dịch vụ logistics tại Việt Nam Các cơ quan quản lý nhà nước liên quan đã từng bước xây dựng khung pháp lý và chính sách phát triển dịch vụ logistics, nhiều doanh nghiệp logistics đã được thành lập cung cấp dịch vụ logistics và từng bước hình thành chuỗi cung ứng hàng hoá, dịch vụ tới các vùng miền trong cả nước và tới các nước trên thế giới
Là sự phát triển cao của dịch vụ giao nhận kho vận, dịch vụ vận tải đa phương thức dịch vụ Logistics đã chứng minh được những ưu điểm nổi trội của mình và những lợi ích đó có thể khiến cho khách hàng hoàn toàn yên tâm và thoả mãn về sự phong phú và tính hiệu quả của dịch vụ Dịch vụ Logistics ngày càng phát triển trên thế giới, ở Việt Nam dù dịch vụ logistics mới được hình thành nhưng cũng đem lại nhiều giá trị trong nền kinh tế quốc dân, mở ra một cơ hội cho các doanh nghiệp có thể đầu tư và khai thác
Với đề tài “Pháp luật về dịch vụ Logistics ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp" em sẽ đưa ra những vấn đề lý luận về pháp luật về dịch vụ Logistics ở Việt
Nam Đồng thời chỉ ra những vấn đề bất cập và giải pháp nhằm nâng cao chính sách pháp luật này
Trang 2Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ LOGISTICS VÀ PHÁP LUẬT KINH DOANH DỊCH VỤ LOGISTICS Ở VIỆT NAM
1.1 Khái niệm và đặc điểm của dịch vụ Logistics
Điều 233 Luật thương mại 2005 quy định: “ Dịch vụ logistics là hoạt động
thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao.”
Khái niệm dịch vụ logistics được sử dụng như hiện nay để chỉ các doanh nghiệp có khả năng kết hợp lại thành một đầu mối đứng ra cung cấp một chuỗi các dịch vụ liên hoàn nêu trên Logistics luôn là một chuỗi các dịch vụ về giao nhận hàng hoá như: làm các thủ tục, giấy tờ, tổ chức vận tải, đóng gói bao bì, ghi nhãn hiệu, lưu kho, lưu bãi, phân phát hàng hoá tới các địa chỉ khác nhau, chuẩn bị cho hàng hoá (nguyên liệu hoặc thành phẩm) luôn ở trạng thái sẵn sàng nếu có yêu cầu của khách hàng là đi ngay được (inventory level)
1.2 Đặc điểm dịch vụ logistics
Về chủ thể dịch vụ logistics: Chủ thể của quan hệ dịch vụ gồm hai bên Nhà cung cấp dịch vụ và khách hàng Nhà cung cấp dịch vụ logistics phải là thương
nhân, kinh doanh có điều kiện. Điều 234 Luật thương mại 2005 quy định:
“1 Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics là doanh nghiệp có đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics theo quy định của pháp luật.
2 Chính phủ quy định chi tiết điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics”.
Khách hàng là những người có hàng hóa cần gửi hoặc cần nhận và có nhu cầu
sử dụng dịch vụ giao nhận Khách hàng có thể là người vận chuyển hay thậm chí là
Trang 3phải là thương nhân; có thể là chủ sở hữu hàng hóa hoặc không phải là chủ sở hữu hàng hóa
Về nội dung của dịch vụ logistics bao gồm:
+ Nhận hàng từ người gửi để vận chuyển: đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, chuyển hàng từ kho của người gửi tới cảng, bến tàu, bến xe v.v theo thỏa thận giữa người vận chuyển với người thuê vận chuyển
+ Làm các thủ tục giấy tờ cần thiết: thủ tục hải quan, vận đơn vận chuyển, làm thủ tục gửi giữ hàng hóa v.v để gửi hàng hóa hoặc nhận hàng hóa được vận chuyển đến
+ Giao hàng hóa cho người vận chuyển, xếp hàng hóa lên phương tiện vận chuyển theo quy định, nhận hàng hóa được vận chuyển đến
+ Tổ chức nhận hàng, lưu kho, lưu bãi, bảo quản hàng hóa hoặc thực hiện giao hàng hóa được vận chuyển đến cho người có quyền nhận hàng
Dịch vụ logistics là một loại hoạt động dịch vụ: Logistics tồn tại để cung cấp
dịch vụ cho doanh nghiệp hoặc cho khách hàng của doanh nghiệp, dịch vụ, đối với
cả doanh nghiệp hay khách hàng đều được cung cấp thông qua việc tập trung các yếu tố khác nhau, các yếu tố này là các bộ phận tạo thành chuỗi logistics Dịch vụ logistics trong doanh nghiệp chú trọng đến các yếu tố về quản trị nguyên vật liệu, lưu kho trong nhà máy và phân phối vật chất Tuy nhiên trong hoạt động của doanh nghiệp không phải chỉ dừng lại ở yêu cầu các yếu tố cơ bản mà dịch vụ logistics cung cấp trên đây mà có thể cần cung cấp thêm các dịch vụ khác của logistics
Logistics là sự phát triển cao, hoàn chỉnh của dịch vụ vận tải và giao nhận:
Logistics là sự phát triển của dịch vụ vận tải giao nhận ở trình độ cao và hoàn thiện Qua các giai đoạn phát triển, logistics đã làm cho khái niệm vận tải giao nhận truyền thống ngày càng đa dạng và phong phú thêm Từ chỗ thay mặt khách hàng
để thực hiện các công việc đơn điệu, lẻ tẻ, tách biệt như : thuê tàu, lưu cước, chuẩn
bị hàng, đóng gói, tái chế hàng, làm thủ tục thông quan cho tới cung cấp trọn gói một dịch vụ vận chuyển từ kho đến kho (Door to Door) đúng nơi, đúng lúc để phục
Trang 4vụ nhu cầu khách hàng Từ chỗ đóng vai trò người được ủy thác trở thành một bên chính trong các hoạt động vận tải giao nhận với khách hàng, chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi của mình
Logistics là sự phát triển hoàn thiện dịch vụ vận tải đa phương thức:
Dịch vụ logistics chính là sự phát triển sâu rộng của dịch vụ vận tải đa phương thức Toàn bộ hoạt động vận tải có thể được thực hiện theo một hợp đồng vận tải
đa phương thức do người tổ chức mọi dịch vụ logistics đảm nhiệm
Tóm lại, logistics là sự phối hợp đồng bộ các hoạt động, là sự phát triển cao, hoàn thiện của dịch vụ giao nhận vận tải và là sự phát triển khéo léo của dịch vụ vận tải đa phương thức Đây chính là những đặc điểm cơ bản của logistics
1.3 Phân loại và vai trò của dịch vụ Logistics
* Phân loại dịch vụ Logistics
Theo pháp luật Việt Nam tại Điều 4, Nghị định 140/2007/NĐ-CP, ngày 05/9/2007 quy định chi tiết luật thương mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics và giới hạn trách nhiệm thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics về phân loại dịch vụ logistics Như vậy sự phân loại này rất có ý nghĩa trong việc dưa ra các quy định pháp luật điều chỉnh từng loại hình dịch vụ ligistics tương ứng vì gắn với mỗi loại hình dịch vụ có những đặc trưng riêng biệt
* Vai trò của dịch vụ Logistics
+ Dịch vụ logistics có tác dụng tiết kiệm, giảm chi phí trong quá trình lưu thông phân phối (ở đây, chủ yếu là phí vận tải chiếm tỷ lệ lớn, chi phí này cấu thành giá cả hàng hóa trên thị trường
+ Dịch vụ logistics góp phần mở rộng thị trường trong buôn bán quốc tế Các nhà sản xuất muốn chiếm lĩnh và mở rộng thị trường cho sản phẩm của mình phải cần sự hỗ trợ của dịch vụ logistics Dịch vụ này có tác dụng như cầu nối trong vận chuyển hàng hóa trên các tuyến đường đến các thị trường mới đúng yêu cầu về thời
Trang 5gian và địa điểm đặt ra Nên doanh nghiệp có thể khai thác và mở rộng thị trường nhanh và mạnh hơn
+ Dịch vụ logistics góp phần giảm chi phí, hoàn thiện và tiêu chuẩn hóa chứng từ kinh doanh quốc tế
+ Dịch vụ logistics góp phần nâng cao hiệu quả pháp lý giảm thiểu chi phí trong quá trình sản xuất, tăng cường sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp
+ Dịch vụ logistics góp phàn gia tăng giá trị kinh doanh của các doanh nghiệp giao nhận
1.4 Pháp luật kinh doanh về dịch vụ logistics
1.4.1 Quy định về đăng ký kinh doanh dịch vụ Logistics
Thương nhân, doanh nghiệp đăng ký kinh doanh dịch vụ logistcs cũng giống như những thương nhân, doanh nghiệp đăng ký kinh doanh khác đều phải tuân theo những quy định tại Chương II Luật doanh nghiệp 2014 (đây là điều kiện chung) Những quy định đặc thù được quy định tại Điều 234 Luật thương mại 2005 về đăng ký kinh doanh dịch vụ logistics là:
“1 Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics là doanh nghiệp có đủ điều kiện
kinh doanh dịch vụ logistics theo quy định của pháp luật.
2 Chính phủ quy định chi tiết điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics”.
Từ những quy định chung đó, Nghị định số 140/2007/NĐ-CP đã hướng dẫn cụ thể như sau:
- Đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics trong nước, điều kiện cụ thể: (Khoản 1 Điều 4, Khoản 1, 2 Điều 5, Điều 6, Điều 7 Cụm từ “Đăng ký kinh doanh theo pháp luật Việt Nam” được hiểu là doanh nghiệp đó đã tuân thủ những quy định chung về đăng ký kinh doanh theo Luật doanh nghiệp Các dịch vụ logistics chủ yếu và các dịch vụ logistics liên quan đến vận tải yêu cầu thương nhân phải đáp ứng những điều kiện mang tính đặc trưng của nó Những dịch vụ logistics chủ yếu như: Dịch vụ bốc xếp hàng hoá, dịch vụ kho bãi và lưu giữ hàng hoá, dịch
Trang 6vụ đại lý vận tải, dịch vụ bổ trợ khác đóng vai trò quan trọng và đặc trưng công việc có liên quan đến kho bãi, bốc dỡ đòi hỏi thương nhân kinh doanh phải có đầy
đủ phương tiện, thiết bị chuyên môn để đảm bảo an toàn lao động, và đảm bảo cho công việc được thực hiện
- Đối với thương nhân nước ngoài thì phải đáp ứng được các điều kiện quy định tại Khoản 2, 3 Điều 5 và điều 6 Nghị định 140/2007/NĐ-CP
1.4.2 Quy định về hợp đồng liên quan đến dịch vụ logistics
Hợp đồng dịch vụ logistics là sự thỏa thuận, theo đó một bên (bên làm dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện hoặc tổ chức thực hiện một hoặc một số dịch vụ liên quan đến quá trình lưu thông hàng hóa, còn bên kia (khách hàng) có nghĩa vụ thanh
toán thù lao dịch vụ Hợp đồng dịch vụ logistics có những đặc điểm sau:
+ Là hợp đồng song vụ, hợp đồng ưng thuận và mang tính chất đền bù;
+ Chủ thể của hợp đồng: Bên làm dịch vụ phải là thương nhân, còn khách hàng có thể là thương nhân hoặc không là thương nhân
+ Đối tượng của hợp đồng là dịch vụ gắn liền với hoạt động mua bán, vân chuyển hàng hóa như: tổ chức việc vận chuyển hàng hóa, giao hàng hóa cho người vận chuyển, làm các thủ tục giấy tờ cần thiết để vận chuyển hàng hóa v.v +
Hình thức của hợp đồng: Không bắt buộc bằng văn bản
* Nội dung hợp đồng dịch vụ logistics:
+ Nội dung công việc mà khách hàng ủy nhiệm cho bên làm dịch vụ giao nhận hàng hóa thực hiện;
+ Các yêu cầu cụ thể đối với dịch vụ;
+ Thù lao dịch vụ và các chi phí liên quan đến việc thực hiện dịch vụ giao nhận hàng hóa; nghĩa vụ thanh toán thù lao và các chi phí dịch vụ;
+ Thời gian và địa điểm thực hiện dịch vụ;
Trang 7+ Giới hạn trách nhiệm và các trường hợp miễn trách nhiệm đối với người làm dịch vụ;
Ngoài ra, tùy từng trường hợp cụ thể, các bên có thể thỏa thuận và ghi trong hợp đồng những nội dung khác
Như vậy, hoạt động này có nội dung rất “ mở ”, các bên có thể thoải mái lựa chọn các dịch vụ cung cấp và tùy theo từng loại hình dịch vụ để ký kết những nọi dung cụ thể
* Các loại hợp đồng dịch vụ logistics:
Hợp đồng dịch vụ logistics gồm các loại sau:
- Hợp đồng trọn gói thực hiện phối hợp các dịch vụ logistics
- Hợp đồng dịch vụ theo đơn đặt hàng một số dịch vụ trong chuỗi dịch vụ logistics theo kiểu truyền thống, tức là thực hiện dịch vụ hàng hóa, hợp đồng giao nhận vận tải và các vấn đề khác liên quan đến vận tải đa phương thức quốc tế
1.4.3 Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên trong quan hệ dịch
vụ Logistics
* Quyền và nghĩa vụ của người làm dịch vụ logistics:
- Thực hiện các Công việc theo đúng thỏa thuận với khách hàng
- Được hưởng thù lao và chi phí về việc thực hiện dịch vụ:
* Quyền và nghĩa vụ của khách hàng:
- Quyền lựa chọn người làm dịch vụ logistics theo nhu cầu và năng lực của người làm dịch vụ
- Kiểm tra, giám sát việc thực hiện hợp đồng dịch vụ
- Nghĩa vụ thông tin đầy đủ, chi tiết và chính xác về hàng hoá cho người làm dịch vụ
- Cung cấp đầy đủ, cụ thể, rõ ràng các chỉ dẫn cho người làm dịch vụ
Trang 8- Đóng gói, ghi ký mã hiệu hàng hoá theo đúng hợp đồng trừ trường hợp người làm dịch vụ đảm nhận công việc này
- Thanh toán tiền công và các chi phí hợp lý khác liên quan đến việc giao nhận hàng hoá theo thỏa thuận trong hợp đồng đã được ký kết giữa các bên
* Trách nhiệm của người làm dịch vụ logistics:
- Về giới hạn trách nhiệm: Điều 238 Luật thương mại 2005 quy định:" Trừ khi các bên có thỏa thuận khác, toàn bộ trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch
vụ logistics không vượt quá giới hạn trách nhiệm đối với tổn thất hàng hoá " Với quy định này thì giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá là 1 ngoại lệ của chế tài bồi thường thiệt hại trong hoạt động thương mại nói chung, Điều 302 Luật thương mại 2005 quy định " Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm "
Một nguyên tắc chung của trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà Bộ luật dân sự quy định là bên vi phạm hợp đồng gây thiệt hại bao nhiêu thì phải chịu trách nhiệm bồi thường bấy nhiêu
- Về các trường hợp miễn trách nhiệm: Người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá được miễn
trách nhiệm hợp đồng trong các trường hợp sau đây:
+ Người làm dịch vụ logistics không có lỗi trong việc vi phạm hợp đồng
+ Các lý do khách quan ngoài tầm kiểm soát của người làm dịch vụ như các trường hợp
bất khả kháng, đình công hay do thay đổi chính sách pháp luật
Trang 9Chương 2 NHỮNG BẤT CẬP VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ DỊCH VỤ LOGISTICS Ở VIỆT NAM
2.1 Những bất cập trong quy định pháp luật Việt Nam về dịch vụ logistics
Thứ nhất: Về số lượng doanh nghiệp tham gia cung ứng dịch vụ logistics
Việt Nam có khoảng 800 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực logistics (có tài liệu nói 1.000 doanh nghiệp) Tuy có số lượng lớn, các công ty logistics Việt Nam mới đáp ứng được 25% nhu cầu nội địa và mới chỉ tập trung vào một vài ngành dịch vụ trong chuỗi giá trị dịch vụ có doanh số hàng tỉ đô la Mỹ này
Thứ hai: Về phạm vi hoạt động của các công ty logistics của Việt Nam Hiện
nay, các công ty logistics Việt Nam mới chỉ hoạt động trong phạm vị nội địa hoặc một vài nước trong khu vực Đây là một trong những cản trở các doanh nghiệp Việt Nam cung cấp các dịch vụ trọn gói cho khách hàng Trong xu thế toàn cầu hoá, chủ hàng thường có xu hướng thuê ngoài từ rất nhiều quốc gia và lãnh thổ trên thế giới Mặc dù có thể tính đến vai trò của các đại lý mà các công ty Việt Nam thiết lập ở các quốc gia khác, nhưng quan hệ này thường khá lỏng lẻo và không đồng nhất
Thứ ba: Về tình trạng cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ
Do phần lớn các nhà xuất khẩu của Việt Nam xuất khẩu hàng theo điều kiện FOB, FCA trong incoterms, nên quyền định đoạt về vận tải đều do người mua chỉ định và dĩ nhiên người mua sẽ chỉ định một công ty nước họ để thực hiện điều này
Do đó các công ty logistics của Việt Nam sẽ là người ngoài cuộc Đơn cử như hãng giày Nike, công ty có rất nhiều hợp đồng làm ăn với các doanh nghiệp Việt Nam, nhưng riêng về khâu vận tải và logistics thì các doanh nghiệp Việt Nam không thể tham gia vào trong quá trình thương thảo. Hơn nữa, phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn chưa ý thức được việc đầu tư vào quản lý hiệu quả chuỗi cung ứng Các doanh nghiệp Việt Nam hầu hết không có phòng quản lý logistics hoặc
Trang 10chuỗi cung ứng Điều này tạo ra rào cản đối với các doanh nghiệp logistics Việt Nam trong việc chào các dịch vụ logistics giá trị gia tăng
Thứ tư: Về cơ sở hạ tầng vận tải:
Phần lớn cảng biển tại Việt Nam không được thiết kế cho việc bốc dỡ hàng cho tàu chuyên dùng, nhiều cảng nằm ngoài thành phố Hồ Chí Minh chỉ được thiết
kế cho hàng rời, không có trang thiết bị xếp dỡ container chuyên dụng Các cảng không có dịch vụ hàng hải trực tiếp kết nối Việt Nam với các cảng biển tại châu Âu hay Mỹ Mặt khác, các sân bay trong nước cũng thiếu các thiết bị phù hợp để bốc
dỡ hàng hóa, thiếu sự đầu tư các kho bãi mới trong khu vực gần các sân bay, bến cảng Hệ thống kho bãi hiện tại trên cả nước lại không phù hợp với hàng hóa bốc
dỡ nhanh, trong đó có nhiều kho bãi đã được khai thác hơn 30 năm qua và không đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế Chưa kể đến tình trạng thiếu điện và dịch vụ
hỗ trợ giao tiếp thông tin (viễn thông) Nguyên nhân chủ yếu là do quy hoạch cảng không thống nhất, tại một số địa phương quy hoạch không hợp lý và không khoa học Tốc độ phát triển cơ sở hạ tầng của Việt Nam chậm hơn rất nhiều so với nước láng giềng Trung Quốc Lượng hàng tồn trữ cao và chuỗi cung ứng chậm chạp là nguyên nhân làm chậm quá trình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam
Thứ năm: Về chi phí dịch vụ Chi phí logistics của Việt Nam được dự đoán
khoảng 25% GDP của Việt Nam, cao hơn rất nhiều so với các nước phát triển như
Mỹ và cao hơn các nước đang phát triển như Trung Quốc hay Thái Lan Nguyên nhân chính gây nên tình trạng này là cơ sở hạ tầng vận tải của Việt Nam đã quá cũ
kỹ và quá tải, hệ thống quản lý hành chính phức tạp
Thứ sáu: Về hạ tầng thông tin Đây chính là điểm yếu các doanh nghiệp
logisitics Việt Nam Mặc dù các doanh nghiệp logistics đã có nhiều ý thức trong việc áp dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào hoạt động kinh doanh của mình nhưng vẫn còn kém xa so với các công ty logistics nước ngoài
Thứ bảy: Về tính liên kết: Cho tới nay, các doanh nghiệp logistics của Việt