1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

bài giảng thiết kế sản phẩm nội thất

162 1,1K 12
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 162
Dung lượng 448 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Phân loại theo sử dụng - Phân loại theo cấu tạo của sản phẩm Phân loại theo ngành sản xuất, do đặc thù của nguyên liệu, có thể phân ra thành sản phẩm mộc ván nhân tạo, mộc gỗ tự nhiên,

Trang 1

CHƯƠNG I NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA SẢN PHẨM MỘC

MỤC TIÊU

Cung cấp những kiến thức cơ bản về sản phẩm và

thiết kế sản phẩm mộc làm nền tảng cho các phần học tiếp

theo của môn học

NỘI DUNG

- Những nguyên lý cơ bản của sản phẩm mộc

- Nguyên tắc và các bước thiết kế sản phẩm mộc

- Các phương thức liên kết cơ bản của sản phẩm

mộc

1.1 Những nguyên lý cơ bản của sản phẩm mộc

1.1.1 Tính đa dạng của sản phẩm mộc

Nói đến tính đa dạng của sản phẩm mộc, trước tiên

chúng ta phải khẳng định sản phẩm mộc vô cùng đa dạng

và phong phú Tính đa dạng của sản phẩm mộc thể hiện

qua nhiều khía cạnh, từ kiểu dáng, màu sắc, chất liệu, dạng

liên kết, kết cấu cho tới hồn văn hoá chứa đựng bên trong

từng sản phẩm đều muôn hình, muôn vẻ

Ta có thể nhận thấy sự đa dạng ấy ngay khi nhận xét

các khái niệm về sản phẩm mộc Thực tế, cho tới nay, chưa

có một định nghĩa nào cụ thể và đầy đủ về sản phẩm mộc

Trang 2

Theo truyền thuyết cổ của người Phương Đông, có lẽ

chữ "Mộc" trong khái niệm sản phẩm mộc được lấy trên

quan điểm Ngũ hành: Kim - Mộc - Thuỷ - Hoả - Thổ, năm

loại vật liệu chính cấu thành trời đất Nhưng ngày nay, với

sự phát triển của nền văn minh hiện đại thì đồ mộc đâu còn

nhất thiết là sản phẩm làm từ "Mộc" Ví dụ như các loại bàn

ghế được thay thế toàn bộ bằng vật liệu Inox và kính hoặc

nhôm, sắt uốn Song, ở một khía cạnh nào đó nó lại đúng,

rất đúng Ví dụ, một bức tượng bằng đồng hoặc thạch cao

thì không thể gọi là sản phẩm mộc, nhưng nếu nó được tạc

bằng gỗ thì lại có thể gọi là sản phẩm mộc (đồ mộc mỹ

nghệ)

Tóm lại, sản phẩm mộc chỉ là một cách gọi Tuy chúng

ta chưa có được một định nghĩa cụ thể và đầy đủ về sản

phẩm mộc, song chúng ta vẫn có thể nhận được ra nó một

cách khái quát như sau:

Các sản phẩm được làm từ gỗ được gọi chung là sản

phẩm mộc Các sản phẩm mộc có nhiều loại, có nguyên lý

kết cấu đa dạng và được sử dụng vào nhiều mục đích khác

nhau Trong đời sống hàng ngày, chúng ta tìm thấy những

sản phẩm mộc thông dụng như: bàn, ghế, giường, tủ

trong xây dựng nhà cửa, chúng ta cũng thường phải sử

dụng các loại cửa sổ và cửa ra vào bằng gỗ Ngoài ra các

sản phẩm mộc còn có thể là các công cụ, chi tiết máy hay

các mặt hàng mỹ nghệ, trang trí nội ngoại thất

Trang 3

Ngoài gỗ ra, các vật liệu khác như mây, tre, chất dẻo

tổng hợp, kim loại cũng có thể được dùng thay thế gỗ

trong sản xuất đồ mộc Các loại vật liệu này có thể thay thế

một phần hoặc thay thế toàn bộ gỗ trong sản xuất hàng

mộc

Cũng chính từ sự đa dạng của sản phẩm mộc, các

cách thức phân loại sản phẩm mộc kéo theo cũng hết sức

phong phú Để phân loại sản phẩm mộc, ta cần căn cứ vào

những quan điểm khác nhau cho phù hợp với các yêu cầu

về nghiên cứu, phát triển cũng như tổ chức sản xuất của xã

hội Phù hợp với điều kiện lịch sử, xã hội hiện nay, ta có thể

đứng trên một số quan điểm sau để phân loại sản phẩm

mộc:

- Phân loại theo ngành sản xuất

- Phân loại theo sử dụng

- Phân loại theo cấu tạo của sản phẩm

Phân loại theo ngành sản xuất, do đặc thù của nguyên

liệu, có thể phân ra thành sản phẩm mộc ván nhân tạo, mộc

gỗ tự nhiên, sản phẩm mộc song mây tre đan

Phân loại theo sử dụng, sản phẩm mộc có thể phân

ra: mộc gia đình - mộc công cộng; mộc gia dụng - mộc xây

dựng

Theo chức năng của sản phẩm thì có: sản phẩm dạng

Trang 4

(giường), sản phẩm có mặt (bàn), sản phẩm có chức năng

kết hợp

Phân loại theo cấu tạo: sản phẩm có cấu tạo dạng tủ,

sản phẩm có cấu tạo dạng giá đỡ, sản phẩm có cấu tạo

dạng rương (hòm) Hay dựa trên những đặc điểm nổi bật về

cấu tạo, sản phẩm mộc có thể phân ra: sản phẩm có cấu

tạo dạng tấm phẳng, sản phẩm có kết cấu dạng khung, sản

phẩm có cấu tạo dạng cột, sản phẩm có cấu tạo dạng hồi

liền, sản phẩm có kết cấu dạng giá đỡ, sản phẩm có kết cấu

đặc biệt khác

Ngoài các cách phân loại trên, hiện nay còn có một

cách phân loại cũng khá phổ biến, đó là phân loại theo chất

lượng hoàn thiện và tính thương mại của sản phẩm: mộc

cao cấp - mộc bình dân

1.1.2 Những yêu cầu chung của sản phẩm mộc

Mọi sản phẩm nói chung đều cần phải đáp ứng được

những yêu cầu sau:

- Chức năng

- Thẩm mỹ

- Kinh tế

* Phù hợp điều kiện công nghệ kỹ thuật

a/ Yêu cầu Chức năng

Trang 5

Mỗi sản phẩm đều có những chức năng sử dụng nhất

định được thiết lập theo ý đồ của người thiết kế, chức năng

đó có thể chỉ là trang trí Yêu cầu đầu tiên đối với một sản

phẩm mộc là phải thoả mãn các chức năng đó

Khi xem xét, phân tích sản phẩm mộc, ta cần phải

quan tâm đầy đủ đến các chức năng của mỗi một sản phẩm

vì nó không chỉ có một chức năng cố định mà còn có thể có

những chức năng phụ khác do phát sinh khi sử dụng VD:

Sản phẩm ghế, trước tiên phải đáp ứng được chức năng

chính của nó là ngồi Ngoài ra nó còn có thể được ngồi ở

nhiều tư thế khác nhau, hay có thể được làm vật kê để

đứng lên làm việc gì đó Nếu khi thiết kế, điều này không

được quan tâm đúng mức thì chắc chắn thiết kế sẽ không

đạt yêu cầu mong muốn

b/ Yêu cầu Thẩm mỹ

Trong lĩnh vực thiết kế, sản phẩm mộc không chỉ cần

đáp ứng yêu cầu về chức năng sử dụng mà nó cần phải

đáp ứng yêu cầu về thẩm mỹ Nếu không có yêu cầu về

thẩm mỹ, công việc thiết kế sản phẩm mộc dường như trở

thành vô nghĩa Thẩm mỹ của mỗi sản phẩm có thể nói là

phần hồn của mỗi sản phẩm

Một chiếc ghế để ngồi, bình thường thì nó không nói

nên điều gì nhưng khi nó được thiết kế tạo dáng theo một ý

đồ thẩm mỹ, nó lại tạo ra một cảm giác thoải mái hơn cho

Trang 6

người ngồi cũng như những người khác xung quanh khi

nhìn vào nó

Thẩm mỹ là một phần của chất lượng sản phẩm kết

tinh nên giá trị sản phẩm

c/ Yêu cầu về kinh tế

Không chỉ riêng đối với sản phẩm mộc, một trong

những yêu cầu khá quan trọng nói chung đối với một sản

phẩm đó là yêu cầu về kinh tế

Tác động của kinh tế là bành trướng, rộng khắp, sản

phẩm mộc không thể là ngoại lệ Yêu cầu đối với mỗi sản

phẩm có thể hướng theo mục tiêu: "Đáp ứng chức năng tốt

nhất, có thẩm mỹ đẹp nhất nhưng phải có giá thành thấp

nhất" Để làm được điều đó, trong mỗi sản phẩm ta cần có

kế hoạch sử dụng nguyên vật liệu hợp lý, thuận tiện cho gia

công chế tạo, giá thành sản phẩm hạ Tạo ra các sản phẩm

tốt, có cấu tạo chắc chắn, bền lâu cũng có ý nghĩa kinh tế

lớn đối với người sử dụng cũng như đối với xã hội

1.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá một sản phẩm mộc

Tương ứng với những yêu cầu đối với sản phẩm mộc

như trên, ta cũng có các chỉ tiêu để đánh giá một sản phẩm

mộc như sau:

- Mức độ đáp ứng chức năng sử dụng của sản phẩm

- Tính thẩm mỹ của sản phẩm

Trang 7

- Tính hợp lý của việc sử dụng nguyên vật liệu.

- Khả năng thực hiện gia công chế tạo sản phẩm ở

mức nào

Sản phẩm mộc có thể dựa trên những chỉ tiêu chính

này để đánh giá nó là tốt hay chưa tốt

1.2 Nguyên tắc và các bước thiết kế sản phẩm

mộc

1.2.1 Nguyên tắc thiết kế sản phẩm mộc

Chúng ta đã biết thế nào là một sản phẩm tốt, thế nào

là sản phẩm chưa tốt qua các chỉ tiêu đánh giá sản phẩm

mộc như trên Vậy để có một sản phẩm tốt, ta cần phải thực

hiện thiết kế theo một số nguyên tắc nhất định Bởi điều đó

có ý nghĩa quyết định tới chất lượng sản phẩm

Nhìn chung, khi thiết kế sản phẩm mộc ta cần dựa

trên một số nguyên tắc cơ bản sau:

- Đảm bảo công năng sản phẩm theo đúng ý đồ, mục

đích thiết kế

Trong mọi công đoạn thiết kế, người thiết kế phải lấy

công năng của sản phẩm làm định hướng xuyên suốt Khi

tạo dáng, ngoài mục tiêu là có mẫu mã đẹp, ta luôn phải chú

ý tới khả năng đáp ứng của sản phẩm trong sử dụng

Trang 8

Nguyên tắc đảm bảo công năng được chú ý nhiều

nhất trong quá trình tính toán nguyên vật liệu và các giải

pháp liên kết, kết cấu sản phẩm

- Đảm bảo các nguyên tắc thẩm mỹ trong thiết kế

Nguyên tắc này chủ yếu vận dụng trong quá trình tạo

dáng sản phẩm Nhưng trong quá trình thi công cũng không

thể xem nhẹ bởi độ tinh xảo của các mối liên kết, chất

lượng bề mặt sản phẩm ảnh hưởng không ít tới chất lượng

thẩm mỹ của sản phẩm

- Đảm bảo tính kinh tế cũng như sự phù hợp của công

nghệ chế tạo, gia công sản phẩm

Nguyên tắc này cần đảm bảo một cách "tế nhị", tránh

những lãng phí không cần thiết mà hiệu quả thiết kế vẫn

không cải thiện được nhiều Bền, đẹp và rẻ tiền đó là những

mong ước của người sử dụng, nhưng để tìm được điểm

chung đó, để có được sự giao hoà giữa người thiết kế và

người sử dụng, để đi đến một phương án thi công đòi hỏi

người thiết kế phải đưa ra phương án thiết kế của mình một

cách thuyết phục, có cơ sở khoa học

Trong thiết kế tạo dáng sản phẩm, người thiết kế phải

luôn đặt ra câu hỏi: "mẫu sẽ được gia công như thế nào?"

Đây là một trong những ưu điểm của người thiết kế có kiến

thức về công nghệ

1.2.2 Các bước thiết kế sản phẩm mộc

Trang 9

Trên cơ sở các nguyên tắc thiết kế nêu trên, công việc

thiết kế được thực hiện theo nhiều cách, nhiều công đoạn

và tuỳ the từng điều kiện cụ thể khác nhau, người thiết kế

có thể thực hiện theo cách này hay cách kia Song nhìn

chung các bước thiết kế sản phẩm mộc có thể được thực

hiện theo các bước chung như sau:

Bước 1: Thu thập thông tin làm cơ sở thiết kế

Trong từng điều kiện thực tế, bước này được thực

hiện nặng hay nhẹ Ví dụ: Xây dựng một phương án thiết kế

cải tạo tổng thể sản phẩm mộc trong một khách sạn năm

sao, hay nhà khách Chính phủ, rõ ràng ta phải tìm hiểu hết

sức cặn kẽ mọi vấn đề có liên quan như: phong tục, tôn

giáo của các đối tượng có thể tham gia sinh hoạt trong khu

nhà đó Hay trước khi tung ra thị trường một loại sản phẩm

mới với qui mô lớn, sản xuất hàng loạt, người thiết kế phải

nghiên cứu rất kỹ về đối tượng khách hàng sẽ được phục

vụ Song cũng có những trường hợp, bước này được thực

hiện nhẹ hơn Ví dụ: khách hàng cụ thể đặt hàng theo

những yêu cầu cụ thể Trong trường hợp này, rõ ràng

những thông tin ngoài công nghệ đã được khách hàng cung

cấp (thông tin thuộc công nghệ là bản chất vốn có của

người thiết kế, không nằm trong thông tin cần thu thập)

Trang 10

Bước 2: Tạo dáng sản phẩm

Trong bước này, người thiết kế cần vận dụng tối đa

các nguyên tắc thẩm mỹ để thực hiện

Trong quá trình tạo dáng, người thiết kế luôn phải liên

hệ giữa cái hiện có (các thông tin thu thập và các kiến thức

về công nghệ) với cái muốn có (phương án thiết kế) Một

phương án thiết kế tốt không chỉ là một thiết kế được tạo

dáng công phu hoa mỹ mà nó còn phải là phương án khả

thi, có thể thực hiện được

Diễn biến của quá trình tạo dáng có thể được mô tả là

quá trình xoay quanh các vòng lặp: phân tích tổng hợp

-đánh giá

Bước 3: Lựa chọn phương án kết cấu, liên kết sản phẩm và tính toán nguuyên

vật liệu.

Qua quá trình tạo dáng sản phẩm, ta đã có mẫu mã

phù hợp, bước công việc này sẽ nói lên tính khả thi của

phương án thiết kế Trong một số trường hợp bước công

việc này được kết hợp với bước lựa chọn công nghệ và lập

kế hoạch gia công

Đây là công đoạn đòi hỏi người thiết kế có một kiến

thức nhất định về công nghệ

Chiếu theo các mục đích của bước tạo dáng, ta phải

lựa chọn nguyên vật liệu cũng như các kết cấu chi tiết cho

Trang 11

phù hợp Các mối liên kết giữa các chi tiết, bộ phận phải

được lựa chọn đảm bảo công năng của sản phẩm

Cho dù chúng ta lựa chọn cách thức liên kết như thế

nào, sử dụng nguyên vật liệu ra sao thì chúng ta vẫn không

thể sao nhãng các nguyên tắc thiết kế: Đảm bảo công năng

- thẩm mỹ đẹp - kinh tế và phù hợp công nghệ sản xuất

Bước 4: Lựa chọn công nghệ và lập kế hoạch thi

công.

Phiếu công nghệ gia công chi tiết chính là sản phẩm

của bước công việc này Các phần, các bộ phận, chi tiết

của sản phẩm được bóc tách chi tiết tới mức cần thiết, phù

hợp với quy mô và điều kiện sản xuất hiện có

Mức độ bóc tách sản phẩm chi tiết tới đâu là phụ

thuộc vào điều kiện thực tiễn sản xuất hiện có Ví dụ: chi tiết

tay co ngăn kéo bằng gỗ Nếu điều kiện sản xuất hiện có

không thể sản xuất được ta có thể lựa chọn một kiểu tay co

phù hợp hiện có trên thị trường Vấn đề này, thực tế được

lưu ý ngay từ khi tạo dáng sản phẩm

Bước 5: Chế thử - kiểm tra, đánh giá - nghiệm thu.

Trong thực tiễn sản xuất, ở các cơ sở sản xuất nhỏ rất

ít diễn ra công đoạn này, nó thường chỉ được thực hiện ở

những cơ sở sản xuất có quy mô tương đối lớn, sản xuất

hàng loạt

Trang 12

Thực chất, mục đích chủ yếu của bước công việc này

là đánh giá chất lượng thiết kế từ đó rút ra các bài học qua

các ưu nhược điểm của thiết kế

Trang 13

1.3 Các phương thức liên kết cơ bản của sản

phẩm mộc

1.3.1 Phân tích cấu trúc cơ bản của một sản phẩm

mộc

Sản phẩm mộc có cấu tạo rất đa dạng và phong phú,

song phân tích cấu trúc của chúng, ta thấy sản phẩm mộc

được cấu tạo bởi các chi tiết và bộ phận giống như các loại

sản phẩm khác Các chi tiết có thể liên kết với nhau tạo

thành bộ phận Các bộ phận và các chi tiết liên kết với nhau

tạo thành sản phẩm Mức độ phức tạp về kết cấu của một

sản phẩm tuỳ thuộc vào số lượng, cách thức và giải pháp

của các liên kết

a) Chi tiết.

Chi tiết là một đơn vị cấu tạo nhỏ nhất được gia công

chế tạo theo một hình dạng xác định

Một chi tiết thường được gia công từ một loại vật liệu

và liền khối, song cũng có thể được gia công từ những

nguyên vật liệu chắp nối (nối dài, nối rộng hay nối dày) Sự

nối ghép này hoàn toàn khác với sự liên kết giữa các chi tiết

trong sản phẩm

Như vậy, chi tiết có thể được phân thành nhiều loại

khác nhau:

Trang 14

- Theo chức năng, chi tiết có thể phân thành: chi tiết

cấu trúc, chi tiết liên kết và chi tiết trang trí

Trang 15

b) Bộ phận.

Bộ phận gồm nhiều chi tiết liên kết với nhau (theo kiểu

cố định hay có thể tháo rời) tạo thành một phần cấu tạo có

chức năng xác định trong kết cấu của sản phẩm Ví dụ:

Cánh tủ là một bộ phận bao gồm cả khoá và bản lề Các bộ

phận đều có chức năng riêng xác định, được đảm bảo bằng

những giải pháp cấu rạo thích hợp Việc phân chia bộ phận

có ý nghĩa về phương diện tổ chức lắp ráp sản phẩm Các

chi tiết và bộ phận có thể được tiêu chuẩn hoá về hình dạng

và kích thước Về mặt cấu trúc, một bộ phận có thể thay thế

bằng một chi tiết

1.3.2 Liên kết cơ bản của sản phẩm mộc

Trong sản phẩm mộc có nhiều loại liên kết, các dạng

liên kết này có thể phân thành các nhóm như sau:

Ngoài cách phân loại liên kết như trên, ta còn có thể

phân loại liên kết theo khả năng tháo rời hay cố định của

liên kết Liên kết bằng vít, bulông, liên kết bản lề là những

Trang 16

liên kết có thể tháo rời Các liên kết bằng đinh, keo hay

mộng thường là những liên kết cố định không thể tháo rời

Cũng có thể phân loại liên kết theo liên kết cứng và

liên kết động (liên kết bản lề là liên kết động - có thể xoay

được)

Nhìn chung, sự phân loại các liên kết chỉ mang tính

tương đối, điều cốt yếu của sự phân loại ở đây là phải phù

hợp với mục đích sử dụng của việc phân loại

Sau đây, chúng ta sẽ đề cập đến một số giải pháp liên

kết cơ bản sau:

a) Liên kết mộng.

Mộng là một hình thức cấu tạo có hình dạng xác định

được gia công tạo thành ở đầu cuối của chi tiết theo hướng

dọc thớ, nhằm mục đích liên kết với lỗ được gia công trên

chi tiết khác của kết cấu Cấu tạo của mộng có nhiều dạng,

song cơ bản là vẫn bao gồm thân mộng và vai mộng

Thân mộng để cắm chắc vào lỗ Vai mộng để giới hạn

mức độ cắm sâu của mộng, đồng thời cũng có tác dụng

chống chèn dập mộng và đỡ tải trọng Thân mộng có thể

thẳng hoặc xiên, có bậc hay không có bậc, tiết diện có thể là

hình tròn hay hình chữ nhật Thân mộng có thể liền khối với

chi tiết, nhưng cũng có thể là thân mộng mượn, không liền

với chi tiết mà được gia công ngoài, cắm vào đầu chi tiết tạo

thành mộng

Trang 17

Liên kết mộng là loại liên kết trục và lỗ giữa thân mộng

và lỗ mộng nhằm tạo ra mối liên kết cứng giữa hai chi tiết

Độ cứng vững của liên kết phụ thuộc vào tính chất của

nguyên vật liệu, kích thước và hình dạng của lỗ và mộng,

cũng như các chế độ gia cố bằng đinh, chốt, nêm, ke hay

sử dụng keo dán

b) Liên kết bằng đinh và vít.

Đinh và vít được dùng để liên kết các chi tiết của sản

phẩm mộc Nhiều trường hợp, đinh và vít đóng một vai trò

quan trọng trong liên kết của sản phẩm mộc Tuy nhiên

chúng có một nhược điểm là dễ bị ôxy hoá làm hư hỏng mối

liên kết Đinh và vít nói chung để làm trung gian liên kết các

chi tiết lại với nhau theo cách thức liên kết cứng Song vai

trò và khả năng ứng dụng của mỗi loại đều khác biệt nhau

c) Liên kết bulông.

Liên kết bằng bulông là một dạng liên kết tháo rời có

khả năng chịu lực lớn Trong công nghệ sản xuất hàng mộc,

liên kết bằng bulông được ứng dụng phổ biến, nhất là các

sản phẩm có kích thước lớn phải vận chuyển đi xa Liên kết

bằng bu lông được ứng dụng ở các mối liên kết giữa nóc tủ

và hồi tủ, giữa vai giường và chân giường (hay đầu

giường), giữa vai bàn và chân bàn

Khi sử dụng liên kết bằng bulông cần chú ý một số

yêu cầu cơ bản sau:

Trang 18

- Đảm bảo tính thẩm mỹ của liên kết.

- Dễ tháo lắp

- Không ảnh hưởng đến không gian sử dụng bên

trong của sản phẩm

Có nhiều kiểu bulông với nhiều giải pháp liên kết khác

nhau Trong các sản phẩm có kết cấu dạng khung, các

dạng bu lông thường dùng là loại bu lông đầu tròn

Trong công nghệ sản xuất hiện đại, các sản phẩm

mộc lắp ghép tấm được chú ý nhiều về các giải pháp liên

kết tháo rời bằng bu lông - ốc vít

Trang 19

CHƯƠNG II NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG SẢN XUẤT HÀNG MỘC

MỤC TIÊU

Cung cấp những kiến thức cơ bản chung nhất về các

loại nguyên vật liệu được sử dụng trong công nghệ sản xuất

hàng mộc Đây là những kiến thức cần thiết phải trang bị

cho người làm công tác thiết kế sản phẩm mộc

NỘI DUNG

- Giới thiệu về nguyên liệu chủ yếu trong sản xuất

hàng mộc: cung cấp những kiến thức về lựa chọn và sử

dụng nguyên liệu, tính toán kỹ thuật

- Các loại vật liệu có chức năng bảo vệ và trang trí

Gỗ tự nhiên là nguyên liệu lý tưởng cho sản xuất hàng

mộc Gỗ là nguyên liệu cơ bản trong công nghệ sản xuất đồ

mộc Với tình trạng gỗ tự nhiên ngày một khan hiếm như

hiện nay, sự mất cân bằng giữa cung và cầu về loại nguyên

liệu này đã bội hoá giá trị sử dụng của mặt hàng gỗ tự

nhiên

Trang 20

Tuy nhiên giá trị của nó chỉ thực sự phát huy khi nó

được sử dụng đúng chỗ, hợp cách Khi sử dụng gỗ tự nhiên

cần chú ý tới một số đặc trưng cơ bản sau:

Tuỳ theo mục đích sử dụng, chức năng của chi tiết mà

ta lựa chọn loại gỗ có các đặc tính cơ học cho phù hợp

Nếu chọn gỗ có tính chất cơ học không phù hợp có thể gây

ra những nhược điểm lớn đối với sản phẩm và có thể dẫn

đến sự mất an toàn chức năng của sản phẩm Các tính chất

cơ học cần được quan tâm đó là: Sức chịu nén ép, sức chịu

trượt, sức chịu uốn, modul đàn hồi, độ cứng, sức chịu tách,

khả năng bám đinh

- Sức chịu nén ép của gỗ (có thể là nén dọc hoặc

ngang thớ)cần được lưu ý khi chọn giải pháp cho liên kết

mộng bởi sức chịu nén ép kém sẽ làm cho mộng dễ bị chèn

dập, liên kết yếu, có thể bị phá huỷ khi sử dụng

Trang 21

- Sức chịu trượt chủ yếu phải quan tâm khi sản phẩm

có chi tiết cong, hướng chịu lực dễ gây hiện tượng trượt dọc

thớ

- Sức chịu uốn là tính chất cần được quan tâm nhiều

nhất trong thiết kế sản phẩm mộc Trong kết cấu sản phẩm

mộc ta thường xuyên bắt gặp các chi tiết chịu uốn như các

kệ đỡ ngang Nếu ứng suất uốn xuất hiện trong chi tiết vượt

quá giới hạn cho phép của gỗ, chi tiết sẽ bị phá huỷ

- Modul đàn hồi ảnh hưởng trực tiếp tới độ võng của

chi tiết gỗ Trong thiết kế cần tính toán lựa chọn loại gỗ có

modul đàn hồi phù hợp, đảm bảo tính thẩm mỹ của sản

phẩm

- Độ cứng của gỗ cần được lựa chọn để đảm bảo sức

chống chịu va đập, cọ sát của sản phẩm với các vật xung

quanh khi sử dụng cũng như trong quá trình sản xuất, song

nó cũng phải phù hợp với điều kiện gia công

- Sức chịu tách của gỗ là tính chất cần được tìm hiểu

kỹ, trước khi gia công bởi nó ảnh hưởng trực tiếp tới chất

lượng các mối liên kết mộng và liên kết bằng đinh

b) Đặc tính chống chịu sâu mọt của gỗ.

Khả năng chống chịu sâu mọt của gỗ là một trong

những tác nhân quyết định chất lượng sản phẩm Ngày

nay, tuy có nhiều phương pháp bảo quản gỗ tương đối hữu

Trang 22

mối mọt vẫn được ưa chuộng bởi một số phương pháp bảo

quản gỗ đặc biệt là bảo quản bằng hoá chất vẫn ít nhiều

ảnh hưởng tới tâm lý người sử dụng

Tóm lại, khi sử dụng gỗ có khả năng bị sâu mọt xâm

hại, ta cần phải có phương án xử lý bảo quản phù hợp

c) Màu sắc và Vân thớ gỗ.

Màu sắc và Vân thớ gỗ là yếu tố quyết định giá trị

thẩm mỹ của sản phẩm, bởi vậy, khi lựa chọn gỗ cần tìm

hiểu kỹ vấn đề này Cần lưu ý rằng tính thẩm mỹ của sản

phẩm còn thể hiện qua sự đồng đều về màu sắc và vân thớ

gỗ của các chi tiết trong sản phẩm chứ không nhất thiết là

phải đẹp trong từng chi tiết

Vân thớ gỗ ngoài việc tác động trực tiếp tới tính thẩm

mỹ của gỗ, nó còn ảnh hưởng rất lớn tới sự biến dạng gỗ

trong quá trình sử dụng

Về màu sắc, gỗ có thể được nhuộm màu theo ý muốn,

song cần lưu ý lựa chọn phương thức nhuộm sao cho

không làm mất đi vẻ đẹp vốn có của các vân thớ gỗ

Trong từng điều kiện thiết kế, từng mục đích sử dụng

cụ thể mà ta có thể lựa chọn loại gỗ có chất lượng màu sắc,

vân thớ cho phù hợp

d) Độ mịn của bề mặt gỗ.

Do cấu tạo thô đại của mỗi loại gỗ khác nhau kéo theo

Trang 23

có độ mịn bề mặt càng cao, càng dễ cho những sản phẩm

đẹp bởi có thể tạo ra độ bóng theo ý muốn mà không cần

thiết tới lớp bả lót

Trang 24

e) Tính chất co rút của gỗ.

Gỗ có tính chất co rút khi thay đổi độ ẩm là một nhược

điểm lớn của loại nguyên liệu này Tính chất co rút phụ

thuộc vào cấu tạo của từng loại gỗ Sự co rút của các chi

tiết trong sản phẩm mộc có thể gây ra nhiều khuyết tật cho

sản phẩm như: cong vênh, nứt nẻ,

Nhìn chung, sự co rút dọc thớ của gỗ là không đáng

kể, nó chỉ vào khoảng 0,1% đến 0,3% Theo hướng xuyên

tâm, mức độ co rút vào khoảng 3% đến 6% Còn theo

hướng tiếp tuyến, mức độ co rút lớn hơn, mức độ co rút từ

5% đến 12%

Do vậy khi thiết kế cần quan tâm tới lượng dư kích

thước co rút cho phôi liệu cũng như chi tiết hoàn thiện Bản

chất của sự co rút là sự thay đổi độ ẩm gỗ bởi vậy cần hết

sức lưu ý tới độ ẩm gỗ cũng như độ ẩm của môi trường sử

dụng

f) Tỷ trọng của gỗ.

Tỷ trọng của gỗ là một chỉ tiêu mang tính tổng hợp,

nhiều chỉ tiêu khác có liên quan mật thiết với chỉ tiêu này,

đặc biệt là các chỉ tiêu về tính chất cơ học của gỗ

Đối với việc sản xuất hàng mộc dân dụng, tỷ trọng của

gỗ không nên quá lớn bởi gỗ có tỷ trọng lớn vừa khó gia

công, vừa nặng nề trong sử dụng Tất nhiên, xét về độ bền

thì thông thường, gỗ có tỷ trọng lớn sẽ có độ bề cao hơn Tỷ

Trang 25

trọng hợp lý của gỗ sử dụng trong sản xuất hàng mộc

thường là 0,4 đến 0,5 g/cm3

Trang 26

g) Tính chất gia công của gỗ.

Tính chất gia công của gỗ thường chỉ gỗ khó hay dễ

gia công Tính chất gia công của gỗ thường gắn liền với

nhiều tính chất cơ lý và cấu tạo của gỗ Gỗ để sản xuất

hàng mộc cần phải dễ gia công đặc biệt là phải phù hợp với

chế độ gia công trong một số trường hợp như chạm khắc

hay tiện tròn Cần phân biệt gỗ dễ bào với gỗ khó bào, gỗ

dễ đánh nhẵn với gỗ khó đánh nhẵn, gỗ dễ đóng đinh với

gỗ khó đóng đinh

Tóm lại gỗ khó gia công ảnh hưởng rất lớn đến quá

trình công nghệ và chất lượng sản phẩm, cần hết sức lưu ý

khi lựa chọn gỗ và phương pháp gia công

2.1.2 Ván nhân tạo.

Để nâng cao hiệu quả sử dụng gỗ cũng như nhằm

khắc phục các nhược điểm của gỗ tự nhiên, từ gỗ có thể

sản xuất ra các loại gỗ nhân tạo như ván dăm, ván dán, ván

sợi hay ván mộc

2.1.2.1 Ván dăm.

Như chúng ta đã biết, ván dăm có tính chất ổn định

kích thước cao hơn hẳn so với gỗ tự nhiên, bởi vậy, ván

dăm được sử dụng rất phổ biến trong công nghệ sản xuất

đồ mộc, nhất là các loại đồ mộc lắp ghép tấm phẳng

Ván dăm nhẹ: KLTT < 400 kg/m3

Trang 27

Ván dăm vừa: KLTT = 400 - 800 kg/m3

Ván dăm nặng: KLTT > 800 kg/m3

Cường độ uốn tĩnh của ván dăm có thể đạt trên

4000N/cm2, modul đàn hồi có thể đạt trên 240000N/cm2

Trước đây, ván dăm được sử dụng trong một số loại

sản phẩm mộc nhất định, nay nó được ứng dụng hầu hết

mọi vị trí có thể Những sản phẩm mộc mang tính truyền

thống nay cũng có mặt của ván dăm

Thông thường, trên bề mặt ván dăm đượng bọc phủ

một lớp ván vừa là để trang trí, vừa là để bảo vệ ván Hiện

nay ở một số làng nghề đã trang trí bề mặt ván dăm bằng

chạm khảm như làm trên gỗ và kết quả cho thấy chất lượng

cũng không thua kém sản phẩm chạm khảm trên gỗ Một số

cơ sở sản xuất thì phủ lên bề mặt một lớp bả matit rồi kéo

vân trang trí và phun sơn cũng cho những sản phẩm có

chất lượng thẩm mỹ khá ấn tượng

Trong công nghệ sản xuất đồ mộc từ ván dăm, một

vấn đề cần đặc biệt quan tâm là che bọc các cạnh của ván

Đối với ván dăm được trang sức bằng phương pháp bả thì

cạnh của ván thường cũng được bả kín Còn đối với các

loại ván trang trí bằng dán phủ mặt thường được trang trí

bằng cách dán cạnh (phương pháp bả cạnh cũng có thể sử

dụng trong trường hợp này) Nẹp dán cạnh ván dăm có thể

là ván lạng tự nhiên, nẹp nhựa (PVC), nẹp gỗ chữ T, nẹp

Trang 28

Khi lựa chọn ván dăm làm nguyên liệu trong sản xuất

hàng mộc cần quan tâm tới các tính chất cơ - lý - hoá, tính

độc hại và một số tính chất có yêu cầu đặc biệt khác

Trang 29

2.1.2.2 Ván dán.

Ván dán thường được sử dụng thay thế cho ván gỗ tự

nhiên ở nhiều vị trí như mặt bàn, mặt ghế hay các hồi tủ,

vách tủ ván dán có thể uốn cong hay được gia công theo

phương pháp ép định hình Ván dán trước đây thường

được sử dụng với chiều dày từ 4 đến 6mm, và kết cấu từ 3

đến 5 lớp Ngày nay, các loại ván dán có chiều dày từ

10mm trở lên đã được sử dụng tương đối nhiều, ứng dụng

như ván dăm

Ván dán thông thường được trang sức bằng một lớp

ván lạng tự nhiên hoặc ván lạng tổng hợp có chất lượng bề

mặt tương đối đẹp, các cạnh thường được xử lý bằng các

nẹp gỗ hoặc phẳng, hoặc có hình chữ T, có mòi hoặc không

mòi cạnh

Các khuyết tật thường gặp khi sử dụng ván dán trong

sản xuất hàng mộc là phồng rộp bề mặt hoặc bong mép ván

bởi vậy khi lựa chọn các phương án liên kết cần hết sức lưu

ý tới phần mép cạnh của ván

Trong công nghệ sản xuất hàng mộc hiện nay, chúng

ta thường thấy ván dán được sử dụng trong các kết cấu

tấm pano Nếu được xử lý trang trí bề mặt tốt, chất lượng

thẩm mỹ của chúng không thua kém sản phẩm được làm

bằng gỗ tự nhiên, hơn nữa nó lại hơn hẳng gỗ tự nhiên bởi

tính ổn định kết cấu của nó

Trang 30

Hiện nay, ở một số nước đã xuất hiện một loại ván

dán đặc biệt, chúng được kết cấu bởi các tấm ván mỏng

xếp song song (ván dán xếp vuông góc) đó là ván LVL Loại

vật liệu này đã và đang được nghiên cứu đưa vào sản xuất

tại Việt Nam Loại vật liệu này có thể thay thế các loại gỗ tự

nhiên ở các vị trí có kết cấu khung, hộp rất tốt bởi chúng có

thể khắc phục rất tốt các yếu điểm của gỗ tự nhiên Ván

LVL có chiều dày lớn hơn nhiều so với ván dán thông

thường và nó có thể được xẻ thành các thanh, có thể làm

khung cửa, chân bàn

2.1.2.3 Ván sợi.

Ván sợi có nhiều loại, theo phương pháp có ván sợi

ướt, ván sợi khô; theo hình thức sản phẩm có ván sợi định

hình và ván sợi không định hình; theo tính chất có ván sợi

chịu nước, ván sợi cách âm, cách nhiệt

Ván sợi thông thường có cường độ uốn tĩnh khoảng

2000 đến 4000 N/cm2 KLTT loại ép cứng là trên 800 kg/m3,

loại ép vừa từ 500 đến 700 kg/m3, loại nhẹ (xốp) có thể dưới

400 kg/m3

Ván sợi được chú ý chủ yếu là nhờ những tính năng

đặc biệt như cách âm, cách nhiệt của nó

2.1.2.4 Ván mộc, ván ghép thanh.

Ván mộc là loại ván được sản xuất để làm đồ mộc có

cấu tạo cơ bản là lõi được ghép bằng gỗ xẻ hay tấm tổ ong

Trang 31

cho một khung xác định và lớp áo được dán bọc bằng các

lớp ván mỏng (ván dán, ván bóc hoặc ván lạng)

Ván mộc thường được sản xuất từ các tấm định hình

tạo thành các bộ phận của sản phẩm mộc Ví dụ như mặt

bàn, đầu giường, vách, hồi tủ, cánh cửa Hiện nay, trong

sản xuất cũng có những loại ván mộc không có khung

Ván ghép thanh là loại ván được ghép từ các thanh gỗ

xẻ nhỏ gọi là thanh cơ sở để tạo ra một tấm ván có độ rộng

lớn hơn rất nhiều so với kích thước của thanh cơ sở Loại

ván này có thể được phủ mặt hoặc không phủ mặt tuỳ theo

yêu cầu sản phẩm cụ thể Người ta có thể trang sức ván

ghép thanh bằng một màng trang sức trong suốt nếu các

thanh cơ sở đã được tuyển chọn có chất lượng tốt, tương

đối đồng đều

2.2 Vật liệu dán mặt.

Đối với các loại ván nhân tạo, thường thì bề mặt có

chất lượng thẩm mỹ thấp nên nó thường được phủ bọc

bằng một lớp ván phủ mặt có thể là ván mỏng, ván lạng tự

nhiên, ván lạng tổng hợp hay giấy trang trí

Việc dán phủ bề mặt ván không chỉ là để giải quyết

yếu điểm thẩm mỹ của ván nhân tạo mà còn có ý nghĩa như

một lớp bảo vệ (đôi khi nó cũng làm tăng cường độ ván một

cách đáng kể) Bởi vậy khi lựa chọn cần chú ý tới tính bảo

vệ của ván phủ mặt phù hợp với từng điều kiện sử dụng cụ

Trang 32

2.2.1 Ván lạng.

Ván lạng là một loại ván có chiều dày rất nhỏ, thường

từ 0,3 đến 0,7mm và còn có thể mỏng hơn như thế Loại

ván này thường được lạng từ những loại gỗ quý, có vân thớ

đẹp, dễ gia công

Về cơ bản, tính chất của ván lạng gỗ cũng giống như

tính chất của loại gỗ làm ra nó Song cần lưu ý là ván rất

mỏng nên dễ bị rách nát và bị hút ẩm trở lại Kích thước ván

thường không được lớn nên cần lợi dụng một cách triệt để

nhất

Khi sử dụng ván lạng để trang trí cho các loại ván

nhân tạo cần lưu ý tới chất lượng bề mặt ván nền và keo

dán bởi ván lạng có chiều dày rất mỏng nên chất lượng bề

mặt ván nền xấu hay tính toán keo không tốt sẽ làm giảm

chất lượng trang trí

2.2.2 Giấy trang trí.

Giấy trang trí là sản phẩm nhân tạo nên kích thước

của nó có thể lớn hơn rất nhiều so với ván lạng (có thể tới

10 m2); chiều rộng thường từ 1,2 đến 1,5m; chiều dài từ 1,5

đến 2m

Chính vì đây là một loại sản phẩm nhân tạo, bởi vậy

mà các hoa văn hoạ tiết và màu sắc trên nó được tạo ra rất

đa dạng, phong phú Các hoạ tiết có thể chính là các vân

thớ giống như gỗ tự nhiên, có thể hoạ tiết là một motuyp

Trang 33

trang trí nào đó hay là cả một bức tranh phong cảnh Và

đặc biệt độ nhẵn, bóng bề mặt của nó có thể rất cao, điều

mà gỗ tự nhiên khó có thể đạt được bởi cấu tạo sợi gỗ, lỗ

mạch của gỗ

Giấy trang trí có thể tạo được bề mặt có độ rắn chắc

rất cao, sự va chạm cơ giới thường không để lại dấu vết

trên bề mặt ván Nhiệt độ mà giấy trang trí có thể chịu được

cũng tương đối cao, tính chống ẩm và chống hút nước tốt,

chịu được các loại hoá chất có tính Bazơ hay Axít yếu

2.3 Vật liệu xử lý cạnh.

Có nhiều phương pháp để xử lý cạnh ván sử dụng

trong sản xuất hàng mộc Bả matít rồi phun sơn cạnh ván là

một trong những phương pháp xử lý cạnh ván Song điều

chúng ta cần tìm hiểu trong mục này là các loại vật liệu khác

Trong xử lý dán cạnh ván, ngoài việc quan tâm tới

chất lượng chung của chất liệu và chất lượng của mối liên

kết, cần đặc biệt lưu ý tới phần chuyển tiếp giữa bề mặt ván

với mặt cạnh Đây là vị trí dễ gây hư hỏng nhất, khi thiết kế

cần có những giải pháp phù hợp

Trang 34

Đối với những chi tiết có đường cong lượn cần lựa

chọn loại vật liệu dán cạnh có độ dẻo dai phù hợp

2.4 Linh kiện liên kết.

Các loại linh kiện liên kết có thể kể tới là các loại đinh,

vít, bản lề hay các loại ke kim loại liên kết trợ lực, ngăn

kéo

2.4.1 Đinh.

Có nhiều loại đinh khác nhau, nó có thể được phân

theo kích thước của đinh, hình dạng của đinh, chất liệu làm

đinh hay phương pháp sử dụng đinh

Theo kích thước, có đinh 1 phân, đinh phân rưỡi, đinh

2 phân, đinh 3, đinh 5, đinh 7, đinh 10 phân

Theo hình dạng thì đi có mũ, đinh không mũ, đinh hình

sao, đinh tròn, đinh tam giác, đinh vuông

Theo vật liệu có đinh sắt, đinh đồng, đinh nhôm

Theo phương pháp sử dụng có đinh đóng thường,

đinh ghim, đinh bắn

2.4.2 Vít.

Về công dụng thì cũng giống như đinh, song để tăng

khả năng bám đinh, vít có các vòng gen xoắn ốc Liên kết

bằng vít có thể tháo lắp một cách dễ dàng mà lại có khả

năng bám đinh vượt trội so với liên kết bằng đinh

Trang 35

Liên kết bằng vít thường được sử dụng trong những

trường hợp hai chi tiết liên kết có ứng suất tách, kéo vuông

góc bề mặt Ví dụ đối với các cánh cửa có kích thước lớn,

liên kết giữa bản lề với khung và cánh cần được sử dụng

bằng vít (lưu ý khi thi công cần yêu cầu vặn vít chứ không

đóng vít để đảm bảo chất lượng liên kết)

Vít cũng có nhiều loại khác nhau, song chúng được

phân biệt chủ yếu bởi đầu mũ của nó Có loại đầu mũ lục

lăng, đầu mũ tròn vát, đầu mũ lồi, đầu mũ phẳng, khoá mở

một rãnh (sử dụng torvit dẹt - 2 cạnh), khoá mở 2 rãnh (sử

dụng torvit 4 cạnh)

Trang 36

2.4.3 Liên kết bulon, vít cấy.

Loại liên kết này hoàn toàn có thể tháo lắp dễ dàng,

chủ yếu được sử dụng để liên kết các modul thành một sản

phẩm có kích thước lớn

Khác với vít, các gen của bulon không bám trực tiếp

vào chi tiết mộc cần liên kết mà nó bám vào gen của đai ốc

Điều này tránh được sự phá huỷ liên kết khi tháo lắp nhiều

lần

2.4.2 Liên kết bản lề.

Tất cả các loại linh kiện liên kết trên đều là những loại

linh kiện liên kết dùng cho liên kết cứng (cố định), liên kết

bản lề là loại liên kết động (xoay)

Hiện nay có rất nhiều kiểu xoay khác nhau kéo theo là

nhiều loại bản lề khác nhau Bản lề quay với trục cố định (1

điểm cố định), trục quay di động (2 điểm cố định)

Loại trục quay cố định có thể kể đến như: Bản lề quả

nhót, bản lề lá, bản lề goong, bản lề Pi vô,

Bản lề có trục quay di động là loại bản lề khi quay, vị

trí tâm quay thay đổi (do có 2 điểm cố định) tạo ra một sức

căng định hướng, trong sản xuất còn gọi loại bản lề này là

bản lề bật

2.5 Các vật liệu khác.

Trang 37

Trong thiết kế và sản xuất hàng mộc, thực tế còn rất

nhiều những loại vật liệu khác mà chúng ta có thể sử dụng

Ví dụ: đá xẻ, gương kính, vải, da, sợi

CHƯƠNG III MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỒ MỘC VỚI CON NGƯỜI

MỤC TIÊU

Giúp sinh viên tìm hiểu các mối quan hệ giữa các yếu

tố trong thiết kế để từ đó có các tư duy logic trong quá trình

thiết kế

NỘI DUNG

- Phân tích các mối quan hệ giữa đồ mộc với con

người

- Phân tích các mối quan hệ giữa sự sắp đặt đồ mộc

với các hoạt động của con người

3.1 Quan hệ giữa đồ mộc với con người

Con người là nguồn gốc của mọi thiết kế Thiết kế sản

phẩm mộc thực chất là giải quyết mối quan hệ giữa con

người với đối tượng thiết kế Mối quan hệ ấy càng được

nghiên cứu sâu sắc thì khả năng đáp ứng của đồ mộc đối

với nhu cầu sử dụng của con người càng hiệu quả

3.1.1 Mối quan hệ trực tiếp

Kích thước của mỗi sản phẩm được tạo ra đều dựa

trên cơ sở kích thước của con người, có nghĩa là sản phẩm

Trang 38

kích thước của sản phẩm chịu sự chi phối bởi kích thước và

trạng thái tư thế hoạt động của con người

Những mối quan hệ gắn liền với các hoạt động ổn

định trong thời gian tương đối dài như: ngồi, nằm, tì mặt,

tựa được gọi là những mối quan hệ trực tiếp Trong mối

quan hệ trực tiếp, các kích thước của sản phẩm thường có

ràng buộc tương đối chặt chẽ với kích thước con người hơn

rất nhiều so với mối quan hệ gián tiếp Ví dụ: Kích thước

chiều cao của mặt ngồi luôn gắn liền với kích thước từ đầu

gối tới gót chân và tư thế ngồi của con người

3.1.2 Mối quan hệ gián tiếp

Mối quan hệ gián tiếp là mối quan hệ không phải trực

tiếp Trong mối quan hệ gián tiếp, kích thước của các sản

phẩm ít chịu ràng buộc hơn bởi các kích thước của con

người, tất nhiên nó vẫn chịu sự chi phối nhất định Ví dụ:

Chiều rộng tủ rộng hay hẹp một chút cũng không ảnh

hưởng đến trạng thái ổn định của con người

Mục đích của việc phân loại các mối quan hệ là để

chúng ta có thể phân tích yêu cầu sản phẩm trong thiết kế

Sau khi phân tích, chúng ta sẽ thiết lập được hệ thống ưu

tiên các yêu cầu đặt ra cho sản phẩm

3.2 Quan hệ giữa hoạt động của con người với bố

trí đồ mộc

Trang 39

Bố trí đồ mộc ảnh hưởng trực tiếp tới các hoạt động

của con người

3.2.1 Tác dụng của đồ mộc

Khi thiết kế, chúng ta đều cần phân tích tác dụng của

đồ mộc đối với con người Bởi tác dụng của chúng sẽ quyết

định việc sắp đặt phù hợp với các hoạt động của con người

Ví dụ: Ghế để ngồi Chúng ta cần quan tâm tơí các

vấn đề như: lối đi để vào chỗ ngồi, tư thế ngồi, hướng nhìn

khi ngồi (theo mục đích của việc ngồi), không gian quanh vị

trí ngồi

Mỗi một sản phẩm được tạo ra đều có một chức năng

nhất định theo mục đích của người thiết kế Khi phân tích

chức năng của sản phẩm cần chú ý tới mọi chức năng

chính, chức năng phụ và cả những chức năng có thể phát

sinh trong quá trình sử dụng Ví dụ: Bàn làm việc, khi phân

tích chịu lực, ta không nên chỉ tính tới lực tỳ tác dụng lên

mặt bàn khi viết mà cần chú ý tới những tác động phát sinh

như: vận chuyển, kê đặt, có những lúc nó có thể bị ngồi tựa

lên; Hay ghế ngồi có đôi khi được sử dụng để kê hoặc đứng

lên mặt ngồi Tất cả những vấn đề này đều phải được

quan tâm một cách thấu đáo

3.2.2 Các kích thước trong bố trí đồ mộc

Khi bố trí các sản phẩm mộc trong phông gian nội

Trang 40

phẩm đó Ngoài ra cần phải đặc biệt lưu ý đến tính thẩm

mỹ, môi trường cũng như một số nguyên tắc mang tính

truyền thống văn hoá

Trong phần này, chúng ta quan tâm chủ yếu đến các

kích thước cần thiết để đáp ứng công năng của sản phẩm,

còn các nguyên tắc về thẩm mỹ và truyền thống văn hoá sẽ

được trình bày ở phần sau (Phần trang trí nội thất)

Ngày đăng: 08/04/2015, 12:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 6.1. Chỉ dẫn bệ số phản xạ (ρ) của màu sơn, tiêu chuẩn Caveleva 1978 - bài giảng thiết kế sản phẩm nội thất
Bảng 6.1. Chỉ dẫn bệ số phản xạ (ρ) của màu sơn, tiêu chuẩn Caveleva 1978 (Trang 121)
Bảng 6.1. Thành phần diện tích trong căn hộ (Viện Nghiên cứu Kiến trúc - Bộ Xây dựng) - bài giảng thiết kế sản phẩm nội thất
Bảng 6.1. Thành phần diện tích trong căn hộ (Viện Nghiên cứu Kiến trúc - Bộ Xây dựng) (Trang 136)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w