- Độ cứng của gỗ cần được lựa chọn để đảm bảo sức chống chịu va đập, cọ sát của sản phẩm với các vật xung quanh khi sử dụng cũng như trong quá trình sản xuất, song nó cũng phải phù hợp v
Trang 1Trang 19
Chương II Nguyên vật liệu trong sản xuất hàng mộc
Mục tiêu
Cung cấp những kiến thức cơ bản chung nhất về các
loại nguyên vật liệu được sử dụng trong công nghệ sản
xuất hàng mộc Đây là những kiến thức cần thiết phải
trang bị cho người làm công tác thiết kế sản phẩm mộc
Nội dung
- Giới thiệu về nguyên liệu chủ yếu trong sản xuất
hàng mộc: cung cấp những kiến thức về lựa chọn và sử
dụng nguyên liệu, tính toán kỹ thuật
- Các loại vật liệu có chức năng bảo vệ và trang trí
(dán mặt, dán cạnh)
- Giới thiệu các loại linh kiện liên kết và các loại vật
liệu phụ khác
2.1 Gỗ xẻ và ván nhân tạo
2.1.1 Gỗ xẻ (gỗ tự nhiên)
Gỗ tự nhiên là nguyên liệu lý tưởng cho sản xuất
hàng mộc Gỗ là nguyên liệu cơ bản trong công nghệ sản
xuất đồ mộc Với tình trạng gỗ tự nhiên ngày một khan
hiếm như hiện nay, sự mất cân bằng giữa cung và cầu về
loại nguyên liệu này đã bội hoá giá trị sử dụng của mặt
hàng gỗ tự nhiên
Trang 2Tuy nhiên giá trị của nó chỉ thực sự phát huy khi nó
được sử dụng đúng chỗ, hợp cách Khi sử dụng gỗ tự
nhiên cần chú ý tới một số đặc trưng cơ bản sau:
- Tính chất cơ học
- Tính chống chịu sâu mọt
- Màu sắc - vân thớ
- Độ mịn bề mặt gỗ
- Tính co rút của gỗ
- Tỷ trọng của gỗ
- Tính chất gia công của gỗ
a) Đặc tính cơ học của gỗ
giải pháp cho liên kết mộng bởi sức chịu nén Tuỳ
theo mục đích sử dụng, chức năng của chi tiết mà ta lựa
chọn loại gỗ có các đặc tính cơ học cho phù hợp Nếu
chọn gỗ có tính chất cơ học không phù hợp có thể gây ra
những nhược điểm lớn đối với sản phẩm và có thể dẫn đến
sự mất an toàn chức năng của sản phẩm Các tính chất cơ
học cần được quan tâm đó là: Sức chịu nén ép, sức chịu
trượt, sức chịu uốn, modul đàn hồi, độ cứng, sức chịu tách,
khả năng bám đinh
- Sức chịu nén ép của gỗ (có thể là nén dọc hoặc
ngang thớ)cần được lưu ý khi chọn ép kém sẽ làm cho
Trang 3Trang 21
mộng dễ bị chèn dập, liên kết yếu, có thể bị phá huỷ khi
sử dụng
- Sức chịu trượt chủ yếu phải quan tâm khi sản phẩm
có chi tiết cong, hướng chịu lực dễ gây hiện tượng trượt
dọc thớ
- Sức chịu uốn là tính chất cần được quan tâm nhiều
nhất trong thiết kế sản phẩm mộc Trong kết cấu sản phẩm
mộc ta thường xuyên bắt gặp các chi tiết chịu uốn như các
kệ đỡ ngang Nếu ứng suất uốn xuất hiện trong chi tiết
vượt quá giới hạn cho phép của gỗ, chi tiết sẽ bị phá huỷ
- Modul đàn hồi ảnh hưởng trực tiếp tới độ võng của
chi tiết gỗ Trong thiết kế cần tính toán lựa chọn loại gỗ có
modul đàn hồi phù hợp, đảm bảo tính thẩm mỹ của sản
phẩm
- Độ cứng của gỗ cần được lựa chọn để đảm bảo sức
chống chịu va đập, cọ sát của sản phẩm với các vật xung
quanh khi sử dụng cũng như trong quá trình sản xuất, song
nó cũng phải phù hợp với điều kiện gia công
- Sức chịu tách của gỗ là tính chất cần được tìm hiểu
kỹ, trước khi gia công bởi nó ảnh hưởng trực tiếp tới chất
lượng các mối liên kết mộng và liên kết bằng đinh
b) Đặc tính chống chịu sâu mọt của gỗ
Khả năng chống chịu sâu mọt của gỗ là một trong
những tác nhân quyết định chất lượng sản phẩm Ngày
Trang 4nay, tuy có nhiều phương pháp bảo quản gỗ tương đối hữu
hiệu song những loại gỗ có sức chống chịu tự nhiên đối
với mối mọt vẫn được ưa chuộng bởi một số phương pháp
bảo quản gỗ đặc biệt là bảo quản bằng hoá chất vẫn ít
nhiều ảnh hưởng tới tâm lý người sử dụng
Tóm lại, khi sử dụng gỗ có khả năng bị sâu mọt xâm
hại, ta cần phải có phương án xử lý bảo quản phù hợp
c) Màu sắc và Vân thớ gỗ
Màu sắc và Vân thớ gỗ là yếu tố quyết định giá trị
thẩm mỹ của sản phẩm, bởi vậy, khi lựa chọn gỗ cần tìm
hiểu kỹ vấn đề này Cần lưu ý rằng tính thẩm mỹ của sản
phẩm còn thể hiện qua sự đồng đều về màu sắc và vân thớ
gỗ của các chi tiết trong sản phẩm chứ không nhất thiết là
phải đẹp trong từng chi tiết
Vân thớ gỗ ngoài việc tác động trực tiếp tới tính
thẩm mỹ của gỗ, nó còn ảnh hưởng rất lớn tới sự biến
dạng gỗ trong quá trình sử dụng
Về màu sắc, gỗ có thể được nhuộm màu theo ý
muốn, song cần lưu ý lựa chọn phương thức nhuộm sao
cho không làm mất đi vẻ đẹp vốn có của các vân thớ gỗ
Trong từng điều kiện thiết kế, từng mục đích sử dụng
cụ thể mà ta có thể lựa chọn loại gỗ có chất lượng màu
sắc, vân thớ cho phù hợp
d) Độ mịn của bề mặt gỗ
Trang 5Trang 23
Do cấu tạo thô đại của mỗi loại gỗ khác nhau kéo
theo độ mịn bề mặt của chúng cũng khác nhau Nhìn
chung gỗ có độ mịn bề mặt càng cao, càng dễ cho những
sản phẩm đẹp bởi có thể tạo ra độ bóng theo ý muốn mà
không cần thiết tới lớp bả lót
Trang 6e) Tính chất co rút của gỗ
Gỗ có tính chất co rút khi thay đổi độ ẩm là một
nhược điểm lớn của loại nguyên liệu này Tính chất co rút
phụ thuộc vào cấu tạo của từng loại gỗ Sự co rút của các
chi tiết trong sản phẩm mộc có thể gây ra nhiều khuyết tật
cho sản phẩm như: cong vênh, nứt nẻ,
Nhìn chung, sự co rút dọc thớ của gỗ là không đáng
kể, nó chỉ vào khoảng 0,1% đến 0,3% Theo hướng xuyên
tâm, mức độ co rút vào khoảng 3% đến 6% Còn theo
hướng tiếp tuyến, mức độ co rút lớn hơn, mức độ co rút từ
5% đến 12%
Do vậy khi thiết kế cần quan tâm tới lượng dư kích
thước co rút cho phôi liệu cũng như chi tiết hoàn thiện
Bản chất của sự co rút là sự thay đổi độ ẩm gỗ bởi vậy cần
hết sức lưu ý tới độ ẩm gỗ cũng như độ ẩm của môi trường
sử dụng
f) Tỷ trọng của gỗ
Tỷ trọng của gỗ là một chỉ tiêu mang tính tổng hợp,
nhiều chỉ tiêu khác có liên quan mật thiết với chỉ tiêu này,
đặc biệt là các chỉ tiêu về tính chất cơ học của gỗ
Đối với việc sản xuất hàng mộc dân dụng, tỷ trọng
của gỗ không nên quá lớn bởi gỗ có tỷ trọng lớn vừa khó
gia công, vừa nặng nề trong sử dụng Tất nhiên, xét về độ
bền thì thông thường, gỗ có tỷ trọng lớn sẽ có độ bề cao
Trang 7Trang 25
hơn Tỷ trọng hợp lý của gỗ sử dụng trong sản xuất hàng
mộc thường là 0,4 đến 0,5 g/cm3
Trang 8g) Tính chất gia công của gỗ
Tính chất gia công của gỗ thường chỉ gỗ khó hay dễ
gia công Tính chất gia công của gỗ thường gắn liền với
nhiều tính chất cơ lý và cấu tạo của gỗ Gỗ để sản xuất
hàng mộc cần phải dễ gia công đặc biệt là phải phù hợp
với chế độ gia công trong một số trường hợp như chạm
khắc hay tiện tròn Cần phân biệt gỗ dễ bào với gỗ khó
bào, gỗ dễ đánh nhẵn với gỗ khó đánh nhẵn, gỗ dễ đóng
đinh với gỗ khó đóng đinh
Tóm lại gỗ khó gia công ảnh hưởng rất lớn đến quá
trình công nghệ và chất lượng sản phẩm, cần hết sức lưu ý
khi lựa chọn gỗ và phương pháp gia công
2.1.2 Ván nhân tạo
Để nâng cao hiệu quả sử dụng gỗ cũng như nhằm
khắc phục các nhược điểm của gỗ tự nhiên, từ gỗ có thể
sản xuất ra các loại gỗ nhân tạo như ván dăm, ván dán,
ván sợi hay ván mộc
2.1.2.1 Ván dăm
Như chúng ta đã biết, ván dăm có tính chất ổn định
kích thước cao hơn hẳn so với gỗ tự nhiên, bởi vậy, ván
dăm được sử dụng rất phổ biến trong công nghệ sản xuất
đồ mộc, nhất là các loại đồ mộc lắp ghép tấm phẳng
Ván dăm nhẹ: KLTT < 400 kg/m3
Trang 9Trang 27
Ván dăm vừa: KLTT = 400 - 800 kg/m3
Ván dăm nặng: KLTT > 800 kg/m3
Cường độ uốn tĩnh của ván dăm có thể đạt trên
4000N/cm2, modul đàn hồi có thể đạt trên 240000N/cm2
Trước đây, ván dăm được sử dụng trong một số loại
sản phẩm mộc nhất định, nay nó được ứng dụng hầu hết
mọi vị trí có thể Những sản phẩm mộc mang tính truyền
thống nay cũng có mặt của ván dăm
Thông thường, trên bề mặt ván dăm đượng bọc phủ
một lớp ván vừa là để trang trí, vừa là để bảo vệ ván Hiện
nay ở một số làng nghề đã trang trí bề mặt ván dăm bằng
chạm khảm như làm trên gỗ và kết quả cho thấy chất
lượng cũng không thua kém sản phẩm chạm khảm trên gỗ
Một số cơ sở sản xuất thì phủ lên bề mặt một lớp bả matit
rồi kéo vân trang trí và phun sơn cũng cho những sản
phẩm có chất lượng thẩm mỹ khá ấn tượng
Trong công nghệ sản xuất đồ mộc từ ván dăm, một
vấn đề cần đặc biệt quan tâm là che bọc các cạnh của ván
Đối với ván dăm được trang sức bằng phương pháp bả thì
cạnh của ván thường cũng được bả kín Còn đối với các
loại ván trang trí bằng dán phủ mặt thường được trang trí
bằng cách dán cạnh (phương pháp bả cạnh cũng có thể sử
dụng trong trường hợp này) Nẹp dán cạnh ván dăm có thể
là ván lạng tự nhiên, nẹp nhựa (PVC), nẹp gỗ chữ T, nẹp
cao su, nhựa mềm
Trang 10Khi lựa chọn ván dăm làm nguyên liệu trong sản
xuất hàng mộc cần quan tâm tới các tính chất cơ - lý - hoá,
tính độc hại và một số tính chất có yêu cầu đặc biệt khác
Trang 11Trang 29
2.1.2.2 Ván dán
Ván dán thường được sử dụng thay thế cho ván gỗ tự
nhiên ở nhiều vị trí như mặt bàn, mặt ghế hay các hồi tủ,
vách tủ ván dán có thể uốn cong hay được gia công theo
phương pháp ép định hình Ván dán trước đây thường
được sử dụng với chiều dày từ 4 đến 6mm, và kết cấu từ 3
đến 5 lớp Ngày nay, các loại ván dán có chiều dày từ
10mm trở lên đã được sử dụng tương đối nhiều, ứng dụng
như ván dăm
Ván dán thông thường được trang sức bằng một lớp
ván lạng tự nhiên hoặc ván lạng tổng hợp có chất lượng bề
mặt tương đối đẹp, các cạnh thường được xử lý bằng các
nẹp gỗ hoặc phẳng, hoặc có hình chữ T, có mòi hoặc
không mòi cạnh
Các khuyết tật thường gặp khi sử dụng ván dán trong
sản xuất hàng mộc là phồng rộp bề mặt hoặc bong mép
ván bởi vậy khi lựa chọn các phương án liên kết cần hết
sức lưu ý tới phần mép cạnh của ván
Trong công nghệ sản xuất hàng mộc hiện nay, chúng
ta thường thấy ván dán được sử dụng trong các kết cấu tấm
pano Nếu được xử lý trang trí bề mặt tốt, chất lượng thẩm
mỹ của chúng không thua kém sản phẩm được làm bằng
gỗ tự nhiên, hơn nữa nó lại hơn hẳng gỗ tự nhiên bởi tính
ổn định kết cấu của nó
Trang 12Hiện nay, ở một số nước đã xuất hiện một loại ván
dán đặc biệt, chúng được kết cấu bởi các tấm ván mỏng
xếp song song (ván dán xếp vuông góc) đó là ván LVL
Loại vật liệu này đã và đang được nghiên cứu đưa vào sản
xuất tại Việt Nam Loại vật liệu này có thể thay thế các
loại gỗ tự nhiên ở các vị trí có kết cấu khung, hộp rất tốt
bởi chúng có thể khắc phục rất tốt các yếu điểm của gỗ tự
nhiên Ván LVL có chiều dày lớn hơn nhiều so với ván
dán thông thường và nó có thể được xẻ thành các thanh, có
thể làm khung cửa, chân bàn
2.1.2.3 Ván sợi
Ván sợi có nhiều loại, theo phương pháp có ván sợi
ướt, ván sợi khô; theo hình thức sản phẩm có ván sợi định
hình và ván sợi không định hình; theo tính chất có ván sợi
chịu nước, ván sợi cách âm, cách nhiệt
Ván sợi thông thường có cường độ uốn tĩnh khoảng
2000 đến 4000 N/cm2 KLTT loại ép cứng là trên 800
kg/m3, loại ép vừa từ 500 đến 700 kg/m3, loại nhẹ (xốp) có
thể dưới 400 kg/m3
Ván sợi được chú ý chủ yếu là nhờ những tính năng
đặc biệt như cách âm, cách nhiệt của nó
2.1.2.4 Ván mộc, ván ghép thanh
Ván mộc là loại ván được sản xuất để làm đồ mộc có
cấu tạo cơ bản là lõi được ghép bằng gỗ xẻ hay tấm tổ ong
Trang 13Trang 31
cho một khung xác định và lớp áo được dán bọc bằng các
lớp ván mỏng (ván dán, ván bóc hoặc ván lạng)
Ván mộc thường được sản xuất từ các tấm định hình
tạo thành các bộ phận của sản phẩm mộc Ví dụ như mặt
bàn, đầu giường, vách, hồi tủ, cánh cửa Hiện nay, trong
sản xuất cũng có những loại ván mộc không có khung
Ván ghép thanh là loại ván được ghép từ các thanh
gỗ xẻ nhỏ gọi là thanh cơ sở để tạo ra một tấm ván có độ
rộng lớn hơn rất nhiều so với kích thước của thanh cơ sở
Loại ván này có thể được phủ mặt hoặc không phủ mặt tuỳ
theo yêu cầu sản phẩm cụ thể Người ta có thể trang sức
ván ghép thanh bằng một màng trang sức trong suốt nếu
các thanh cơ sở đã được tuyển chọn có chất lượng tốt,
tương đối đồng đều
2.2 Vật liệu dán mặt
Đối với các loại ván nhân tạo, thường thì bề mặt có
chất lượng thẩm mỹ thấp nên nó thường được phủ bọc
bằng một lớp ván phủ mặt có thể là ván mỏng, ván lạng tự
nhiên, ván lạng tổng hợp hay giấy trang trí
Việc dán phủ bề mặt ván không chỉ là để giải quyết
yếu điểm thẩm mỹ của ván nhân tạo mà còn có ý nghĩa
như một lớp bảo vệ (đôi khi nó cũng làm tăng cường độ
ván một cách đáng kể) Bởi vậy khi lựa chọn cần chú ý tới
tính bảo vệ của ván phủ mặt phù hợp với từng điều kiện sử
dụng cụ thể
Trang 142.2.1 Ván lạng
Ván lạng là một loại ván có chiều dày rất nhỏ,
thường từ 0,3 đến 0,7mm và còn có thể mỏng hơn như thế
Loại ván này thường được lạng từ những loại gỗ quý, có
vân thớ đẹp, dễ gia công
Về cơ bản, tính chất của ván lạng gỗ cũng giống như
tính chất của loại gỗ làm ra nó Song cần lưu ý là ván rất
mỏng nên dễ bị rách nát và bị hút ẩm trở lại Kích thước
ván thường không được lớn nên cần lợi dụng một cách
triệt để nhất
Khi sử dụng ván lạng để trang trí cho các loại ván
nhân tạo cần lưu ý tới chất lượng bề mặt ván nền và keo
dán bởi ván lạng có chiều dày rất mỏng nên chất lượng bề
mặt ván nền xấu hay tính toán keo không tốt sẽ làm giảm
chất lượng trang trí
2.2.2 Giấy trang trí
Giấy trang trí là sản phẩm nhân tạo nên kích thước
của nó có thể lớn hơn rất nhiều so với ván lạng (có thể tới
10 m2); chiều rộng thường từ 1,2 đến 1,5m; chiều dài từ
1,5 đến 2m
Chính vì đây là một loại sản phẩm nhân tạo, bởi vậy
mà các hoa văn hoạ tiết và màu sắc trên nó được tạo ra rất
đa dạng, phong phú Các hoạ tiết có thể chính là các vân
thớ giống như gỗ tự nhiên, có thể hoạ tiết là một motuyp
Trang 15Trang 33
trang trí nào đó hay là cả một bức tranh phong cảnh Và
đặc biệt độ nhẵn, bóng bề mặt của nó có thể rất cao, điều
mà gỗ tự nhiên khó có thể đạt được bởi cấu tạo sợi gỗ, lỗ
mạch của gỗ
Giấy trang trí có thể tạo được bề mặt có độ rắn chắc
rất cao, sự va chạm cơ giới thường không để lại dấu vết
trên bề mặt ván Nhiệt độ mà giấy trang trí có thể chịu
được cũng tương đối cao, tính chống ẩm và chống hút
nước tốt, chịu được các loại hoá chất có tính Bazơ hay
Axít yếu
2.3 Vật liệu xử lý cạnh
Có nhiều phương pháp để xử lý cạnh ván sử dụng
trong sản xuất hàng mộc Bả matít rồi phun sơn cạnh ván
là một trong những phương pháp xử lý cạnh ván Song
điều chúng ta cần tìm hiểu trong mục này là các loại vật
liệu khác dùng để xử lý dán cạnh cho ván
Xử lý dán cạnh ván có rất nhiều loại vật liệu và
nhiều phương pháp thực hiện Có thể dán cạnh bằng ván
lạng, gỗ xẻ, PVC và có thể là dán keo trực tiếp, ép nhiệt
hay ép nguội, liên kết mộc
Trong xử lý dán cạnh ván, ngoài việc quan tâm tới
chất lượng chung của chất liệu và chất lượng của mối liên
kết, cần đặc biệt lưu ý tới phần chuyển tiếp giữa bề mặt
ván với mặt cạnh Đây là vị trí dễ gây hư hỏng nhất, khi
thiết kế cần có những giải pháp phù hợp