Cơ sở của trang trí nội thất Theo khái niệm về trang trí nội thất như trên thì cơ sở của trang trí nội thất trước tiên là không gian kiến trúc bên trong của công trình.. Các nguyên tắc
Trang 1Chương VI Các khái niệm cơ bản về trang trí nội thất
Mục tiêu
Cung cấp các kiến thức khái quát về trang trí nội
thất
Nội dung
- Các khái niệm cơ bản trong trang trí nội thất
- Các nguyên lý mỹ thuật trong thiết kế nội thất
những không gian có mối quan hệ tương đối với nhau
được gọi là không gian kiến trúc Trong các mối quan hệ
ấy có mối quan hệ giữa không gian kiến trúc bên trong và
không gian kiến trúc bên ngoài
Không gian kiến trúc bên ngoài, sau khi hoàn thiện
công trình được gọi là không gian ngoại thất Còn phần
không gian kiến trúc bên trong sau khi hoàn thiện được
gọi là không gian nội thất
Công việc hoàn thiện không gian kiến trúc bên trong
đưa công trình vào sử dụng được gọi là trang trí nội thất
Trang 2Trang trí nội thất có thể là sắp đặt các đồ đạc trong phòng,
có thể là sơn hoàn thiện một bề mặt hay gắn lên đó những
hoạ tiết, hoa văn trang trí Trang trí nội thất cũng có thể là
đưa vào đó một lọ hoa, một chậu cây cảnh Song nhìn
chung những công việc như vậy đều được gọi là trang trí
nội thất, mặc dù mức độ công việc có thể là khác nhau rất
xa về độ phức tạp
Trang trí nội thất luôn hướng tới mục tiêu là làm đẹp
không gian kiến trúc bên trong của công trình, cho dù đôi
lúc hiệu quả của việc trang trí không được như mong
muốn
6.1.2 Cơ sở của trang trí nội thất
Theo khái niệm về trang trí nội thất như trên thì cơ
sở của trang trí nội thất trước tiên là không gian kiến trúc
bên trong của công trình Việc trang trí nội thất không chỉ
dựa trên cơ sở hình học của không gian kiến trúc mà còn
dựa vào ý đồ của kiến trúc sư thiết kế công trình Nếu hai
yếu tố này không ăn khớp thì mọi sự nỗ lực của nhà thiết
kế đều là vô nghĩa
"Kiến trúc là mẹ đẻ của trang trí nội thất" - GS.HS
Lê Thanh Quả thực, chức năng của mỗi căn phòng đã
được hoạch định bởi kiến trúc sư, trên cơ sở đó người thiết
kế nội thất phải làm nổi bật chức năng của mỗi căn phòng
đó
Trang 3Ngoài ra trang trí nội thất cần dựa trên những cái đã
có, những kiểu dáng, đồ đạc, những trang thiết bị và công
nghệ đã biết trong xã hội hiện đại
6.1.3 Các nguyên tắc của trang trí nội thất
- Trong trang trí nội thất, nguyên tắc đầu tiên cần
đảm bảo đó là không làm ảnh hưởng tới kết cấu kiến trúc
cũng như ý đồ của kiến trúc sư (trừ trường hợp thay đổi
mục đích sử dụng của không gian nội thất)
- Nguyên tắc thứ hai đó là phải tạo ra được một
không gian nội thất độc đáo có tiếng nói riêng, có tâm hồn
và đầy ý nghĩa Qua cách bài trí không gian nội thất,
chúng ta có thể đọc biết được nhiều điều về gia chủ như
tính cách, sở thích tất nhiên là trong trường hợp căn
phòng đó được trang trí đúng cách, không bạ gì dùng nấy
- Trang trí nội thất phải được thực hiện theo các
nguyên tắc mỹ thuật cơ bản Một không gian được trang
trí tồi, không tuân theo các nguyên tắc mỹ thuật sẽ một
không gian nội thất luộm thuộm, đồ đạc như nhảy múa,
cãi vã nhau, cho ta cảm giác khó chịu khi bước vào đó
6.2 Khái niệm về thiết kế nội thất và quá trình
thiết kế nội thất
ở một góc độ nào đó, việc thiết kế nội thất cũng
giống như công việc trang trí nội thất Tuy nhiên chúng ta
vẫn có thể phân biệt được nhờ những khái niệm về thiết
Trang 4kế Trong thiết kế, việc bố trí thế này hay thế khác đều
được lập phương án và kế hoạch thực hiện rõ ràng chính
xác
6.2.1 Các bước và nội dung thiết kế nội thất
Nhìn chung, thiết kế nội thất được thực hiện theo các
bước sau:
- Thu thập thông tin làm cơ sở thiết kế
- Xây dựng và lựa chọn phương án thiết kế
- Trình bày bản vẽ và thuyết minh, đánh giá thiết kế
- Lập kế hoạch thi công và nghiệm thu
Nội dung công việc của các bước tiến hành như sau:
Bước 1: Thu thập thông tin làm cơ sở thiết
Trang 5+ Các yêu cầu:
Yêu cầu của nhóm là gì? Yêu cầu của từng cá nhân
ra sao?
Sự cần thiế về không gian cá nhân, sự riêng tư
Quan hệ qua lại, lối đi
Các đồ vật ưa chuộng, màu ưa thích,
Các vị trí đặc biệt, các sử thích riêng tư
- Các yêu cầu về hoạt động:
Hoạt động chủ yếu là gì? thứ yếu là gì?
Bản chất của hoạt động là chủ động hay thụ động?
Hoạt động ồn ào hay yên tĩnh?
Hoạt động công cộng, nhóm nhỏ hay cá nhân riêng
biệt?
Nếu không gian được sử dụng cho nhiều hoạt động
thì các hoạt động quan hệ với nhau như thế nào?
Hoạt động có diễn ra thường xuyên hay không?
Thời gian hoạt động là ngày hay đêm?
Hoạt động cần có các yêu cầu như thế nào:
Riêng tư và ngăn cách Lối ra vào ra sao
Trang 6Các yêu cầu đối với chiếu sáng, chất lượng âm thanh
Phân theo nhóm công năng, bố trí phù hợp theo kiểu
dáng hay bố trí linh hoạt
- Phân tích không gian:
+ Lấy mặt bằng, mặt cắt các tường
Trang 7+Phân tích không gian:
Hình dạng, qui mô và tỷ lệ của không gian
Vị trí hiện trường, các điểm ra vào và đường đi lại
Cửa sổ, chiếu sáng, tầm nhìn, sự thông thoáng
Các vật liệu làm sàn, trần, tường
Các chi tiết kiến trúc cần chú ý
Vị trí của các thiết bị điện, máy móc cố định và
điểm đấu điện
Nếu cần thì có thể sửa đổi những gì?
- Các yêu cầu về kích thước:
+ Xác định các yêu cầu về kích thước đối với không
gian và các nhóm trang thiết bị:
Diện tích cần thiết cụ thể cho mỗi nhóm được trang
bị
Không gian cần thiết cho lối vào và di chuyển trong
phạm vi giữa các khu vực hoạt động
Số người phù hợp
Khoảng cách phù hợp và tác động qua lại
+ Xác định sự phù hợp giữa hoạt động và các kích
thước của không gian:
Trang 8Nghiên cứu các phương thức và nhóm hoạt động phù
hợp trong phạm vi hình dáng, tỷ lệ của diện tích sàn với
chiều cao của không gian
- Các chất lượng yêu cầu: Xác định chất lượng phù
hợp với khung cảnh không gian và sở thích hoặc nhu cầu
của khách hàng hoặc người sử dụng
Cảm xúc, tâm trạng hoặc môi trường
Hình tượng và phong cách
Mức độ thông thoáng bao quanh
Tiện lợi và an toàn
Trọng điểm và hướng không gian
Môi trường âm thanh
Tính năng động
- Mối quan hệ yêu cầu:
Mối quan hệ yêu cầu giữa các khu vực hoạt động
liên quan
Giữa các khu vực liên quan tới sự hoạt động
Giữa căn hộ và không gian bên cạnh
Giữa căn hộ và bên ngoài
+ Phân khu yêu cầu cho các hoạt động: tổ chức các
hoạt động thành các nhóm hoặc theo các tập hợp tương
xứng và thuận tiện cho sử dụng
Trang 9đó tổng hợp lại đưa ra một phương án thiết kế Tiếp đó sẽ
là đánh giá phương án vừa tạo ra xem ưu, nhược ở đâu để
tiếp tục rút kinh nghiệm cho các phương án kế tiếp Sau
khi đánh giá, nếu kết quả chưa đạt được như mong muốn,
ta lại tiến hành phân tích, tổng hợp rồi lại đánh giá cho
tới khi điều đạt được xấp xỉ với điều mong đợi
- Phân tích:
Trong công đoạn này, chúng ta cần phân tích các nội
dung theo các thông tin đã thu thập được ở bước thứ nhất,
nói đúng hơn là ta cần phải trả lời các câu hỏi sau:
+ Cái gì đang tồn tại?
Các tư liệu về vật chất, văn hoá hiện tại
Mô tả các yếu tố hiện có
Cái gì có thể thay đổi, cái gì không thể?
+ Người sử dụng muốn gì?
Trang 10Xác định các yêu cầu và sở thích của người sử dụng
Đề ra những mục tiêu, những yêu cầu về chức năng
Yêu cầu về hình ảnh và phong cách thẩm mỹ
Sự kích thích và ý nghĩa về mặt tâm lý
+ Điều gì có thể thực hiện?
Xác định có thể chọn cái gì, cái gì không thể chọn?
Xác định cái gì có thể điều chỉnh, cái gì không thể?
Xác định cái gì được phép, cái gì bị cấm?
Xác định các giới hạn về: thời gian, kinh tế, pháp lý,
kỹ thuật
Từ việc phân tích các phần của vấn đề, chúng ta có
thể đặt ra các giải pháp, phương án thiết kế Điều này đòi
hỏi sự tổng hợp, kết hợp giải đáp những vấn đề về các
phương diện khác nhau để các giải pháp gắn bó với nhau
Có nhiều cách tiếp cận lựa chọn để tạo ra các ý đồ và
tổng hợp các giải pháp cho một vấn đề Chúng ta có thể
tách ra một hoặc hai vấn đề chủ chốt có giá trị hoặc có
tầm quan trọng và dựa vào các vấn đề này mà đưa ra các
giải pháp Nghiên cứu các trường hợp tương tự và sử dụng
chúng làm mẫu để phát triển các giải pháp của vấn đề đã
nắm chắc Phát triển các giải pháp thích hợp cho các bộ
phận của vấn đề có thể kết hợp vào các giải pháp tổng thể
và làm cho chúng hài hoà với cái hiện có
Trang 11Nếu không có sự phân tích, tổng hợp từ đầu thì khó
có thể phát triển một ý đồ tốt
- Tổng hợp:
Việc thiết kế đòi hỏi sự suy nghĩ hợp lý dựa trên kiến
thức và sự hiểu biết tích luỹ được qua kinh nghiệm và
nghiên cứu Nội dung chính của công đoạn tổng hợp này
là:
+ Lựa chọn các phần:
Tiến hành lựa chọn và ấn định các giá trị cho các vấn
đề hoặc yếu tố then chốt
Nghiên cứu bản chất của các phần này
Hình dung ra cách làm cho các phần này có thể phù
hợp với các phần khác
+ Tạo ý đồ:
Nhìn nhận tình hình từ các quan điểm khác nhau
Bố trí các phần để thấy sự thay đổi có thể tác động
Trang 12Thiết kế đòi hỏi phải xét duyệt chặt chẽ các giải
pháp lựa chọn và so sánh các ưu điểm, nhược điểm của
từng đề xuất cho đến khi đạt được sự phù hợp nhất giữa
vấn đề thiết kế cụ thể và giải pháp Nội dung của công
đoạn này là:
+ So sánh các ý đồ đã lựa chọn:
So sánh mỗi giải pháp với mục tiêu và tiêu chuẩn của
thiết kế
Cân nhắc các thuận lợi và ưu điểm so với các chi phí
và độ tin cậy của mỗi giải pháp
Xếp thứ tự các giải pháp về sự thích hợp và hiệu quả
+ Đưa ra các quyết định về thiết kế
Tiêu chí để đánh giá thiết kế:
- Mức độ đáp ứng chứng năng và mục đích của
phương án thiết kế
- Chất lượng thẩm mỹ của thiết kế
- Chất lượng tinh thần của thiết kế: có ý nghĩa, gây
ấn tượng, độc đáo
- Tính kinh tế của thiết kế
Trang 13Bước 3: Trình bày bản vẽ và thuyết minh
thiết kế
Sau khi đã quyết định lựa chọn được một phương án
thiết kế, chúng ta tiến hành trình bày bản vẽ và thuyết
phối cảnh tổng thể Trong một số thiết kế, số bản vẽ có thể
lên tới hàng trăm bản, có đầy đủ các góc nhìn phối cảnh
và những phương án thiết kế khác để giúp người xem dễ
dàng so sánh, dễ dàng thấy được tính ưu việt của phương
án thiết kế
Trong bản vẽ các mặt tường, màu của các chi tiết
được thể hiện một cách trung thực để người thi công có
thể lấy đó làm màu chuẩn thiết kế, không lấy theo màu
của bản vẽ phối cảnh
Các bản vẽ mặt cắt tường cũng như các chi tiết khác
được thực hiện theo tiêu chuẩn bản vẽ kỹ thuật hiện hành
Thuyết minh thiết kế
Thuyết minh thiết kế phải làm rõ các nội dung sau:
Trang 14Lý do thực hiện thiết kế: theo đơn đặt hàng, theo tính
cấp thiết phải thay đổi cải tạo
Thực trạng của phương án cũ (nếu có trong trường
hợp thiết kế cải tạo)
Tính ưu việt của phương án thiết kế mới so với
phương án thiết kế cũ
Đánh giá tổng hợp về phương án thiết kế
Bước 4: Lập kế hoạch thi công và nghiệm thu
Trong bước này, người thiết kế cần lập ra một kế
hoạch thi công để khẳng định tính khả thi của thiết kế Cụ
thể các đồ đạc nào là thiết kế, đồ đạc nào là mua sẵn Nếu
là thiết kế cần có bản vẽ thiết kế sơ bộ Còn nếu là đồ đạc
mua sẵn phải có mẫu mã catalog với đầy đủ kích thước
kèm theo
(Với phạm vi của bài giảng này, chúng tôi không thể
đề cập hết toàn bộ nội dung mà chỉ giới thiệu một số tài
liệu tham khảo ở phần tài liệu tham khảo của bài giảng)
6.2.2 Phương pháp thiết kế nội thất
Qua phần mô tả nội dung của các bước thiết kế như
trên, phần nào chúng ta đã thấy được phương pháp thiết
kế Đó chính là phương pháp nghiên cứu hình mẫu
Một hình mẫu với hàng loại các thông tin về nó ở
đầu vào qua quá trình phân tích, tổng hợp và đánh giá, một
Trang 15phương án thiết kế ra đời Phương án này sau khi được cân
nhắc, đánh giá tiếp tục được phân tích tổng hợp và đánh
giá để tạo ra một phương án khác Cứ như vậy cho tới khi
phương án thiết kế phù hợp với các yêu cầu đặt ra thì thôi
Trang 166.3 Các nguyên lý mỹ thuật ứng dụng trong thiết
kế nội thất
6.3.1 Màu sắc, ánh sáng và chất liệu
6.3.1.1 Tác dụng tâm sinh lí của màu sắc
Ai cũng phải thừa nhận rằng chỉ có thể nhìn thấy khi
chiếu sáng thích hợp thì mới cảm thụ được màu sắc Nhà
triết học Gôttơ và nhà bác học Niutơn đã chứng minh rằng
màu sắc tác động đến hệ thần kinh trung ương của con
người
Bản thân màu sắc không làm tăng hoặc giảm nhiệt
độ trong phòng cũng như không làm tăng hay giảm kích
thước không gian 3 chiều của phòng trong căn hộ Trong
phạm vi một bề mặt phẳng cùng màu, được tô vẽ những
điểm màu sáng và tối thì thực tế, bề mặt đó vẫn bằng
phẳng (nếu ta sờ vào nó) Nhưng về mặt cảm giác của con
người thì khi nhìn vào đó, ta vẫn cảm thấy nóng, nhìn vào
màu xanh lại cảm thấy mát Tường hay trần nhà có màu
sáng ta cảm thấy phòng rộng ra và cao lên, ngược lại sơn
màu tối sẽ cảm thấy chật hẹp và thấp xuống Nếu mặt
tường màu vàng, điểm một ô nhỏ màu đen, thấy nó như
một hốc sâu, ngược lại điểm ô nhỏ màu trắng, thấy chỗ đó
như tường lồi lên Màu sắc có tác động lừa dối thị giác,
lừa dối cảm thụ màu sắc của con người Một gia đình có 5
người cùng ở trong một phòng sinh hoạt chung, dùng đèn
màu đỏ sau 3 - 8 phút họ thấy dàu đầu mệt mỏi, chóng
Trang 17mặt, rồi bóng đèn đỏ trở thành màu xanh lá cây thẫm, các
đồ đạc được phủ màu đỏ trở thành màu vàng pha xanh lá
cây, và các đồ đạc còn lại đều thay đổi thành màu khác
Sau đó người ta đổi thành bóng đèn màu xanh da trời nhạt,
mọi người đó trở lại tươi tỉnh, sảng khoái, màu các đồ đạc
trong phòng trở lại màu thực của nó Đó là hiện tượng màu
tác động hệ thần kinh, cơ quan nội tạng của con người
Bằng khoa học kỹ thuật, người ta đã chứng minh màu sắc
tác động đến tâm hồn giúp người bệnh trở lại bình yên:
Nhóm màu tích cực gồm đỏ, da cam, vàng do mang nhiều
tia hồng ngoại giúp cho người yếu thần kinh quan sát
chúng sẽ được kích thích hồi phục lại bình thường Nhóm
màu xanh lá cây, xanh lá mạ, xanh da trời, thuộc nhóm
màu thụ động, có tác dụng an thần, chữa bệnh rối loạn
thần kinh Nếu người mang bệnh này tích cực dạo chơi ở
công viên, núi, rừng, bơi thuyền trên sông, hồ một thời
gian sẽ sảng khoái, yêu đời ở phòng ngủ, nếu dùng các
màu xanh kể trên sẽ có tác dụng an thần trở lại Màu tím
có trong tia sáng mặt trời, tác dụng chữa liệt thần kinh,
đau tim nhờ chất kích thích nội tạng Vì vậy, cửa sổ cho
phòng người bệnh này hướng tới phương mặt trời mọc để
thu được nhiều lượng ánh sáng tím vào phòng, đồng thời
sơn tường màu tức thì sau một thời gian bệnh sẽ thuyên
giảm
Tránh trang trí phòng ở bằng các màu có thể gây hại
Trang 18khủng khiếp, lo sợ, hồi hộp, choáng váng, và khi cảm thụ
nhiều quá sẽ gây điên loạn; còn màu đen gây buồn thảm,
tang tóc
6.3.1.2 Tác động của màu sắc tới cảm xúc
của con người
Trang trí màu sắc có ý nghĩa rất lớn đối với nội thất,
gợi lên cảm xúc tích cực hay thụ động người ở Theo
Gôttơ, cần lưu ý những vấn đề sau đây:
- Màu có sắc ký
Màu đỏ và da cam tuy có ảnh hưởng tích cực, kích
động trong quá trình sống, nâng cao khả năng lao động
Nhưng những tác động đó thường xảy ra theo chu kì, lúc
đầu tăng sau lại giảm dần Màu đỏ kích động mạnh hơn
màu da cam Màu vàng gây cảm xúc lạc quan nhất, có liên
tưởng tới màu của ánh sáng mặt trời Nó góp phần làm tốt
đẹp tính khí con người, gây sảng khoái trong lao động
Màu xanh lá cây là màu trung lập gây cảm xúc yên tâm,
không gây mệt, cũng góp phần nâng cao năng suất lao
động, rồi lại giảm dần như thuộc tính của màu đỏ Màu
xanh da trời và màu xanh nước biển là các màu lạnh, thụ
động cũng có quá trình giảm dần tính tích cực trong lao
động theo quá trình tĩnh Màu tím và màu đỏ thắm làm
giảm dần sự cố gắng trong quá trình sống, cũng như tạo ra
một vài cảm xúc không yên tâm, không an toàn Màu nâu
Trang 19gây cảm xúc bền chắc, nhẫn nại, ấm cúng, tạo ra ấn tượng
ổn định, song có đôi phần gây cảm giác cực nhọc
- Màu không có sắc ký
Màu đen là màu tối tăm, nặng nề, huyền bí làm giảm
sắc khí con người ở nội thất, màu xám gây cảm xúc buồn
chán, thờ ơ Màu trắng gây cảm xúc khoan dung, vị tha,
nhường nhịn khiêm tốn, giúp đỡ, cao cả, tạo nên sắc khí
lạc quan
Mức độ lác động của màu sắc phụ thuộc vào bề mặt
mang màu Diện tích của nó càng lớn, tác động của nó
càng mạnh Bởi thế cho nên mọi cố gắng áp dụng màu vào
nội thất phải phù hợp để tạo ra các tác động tích cực cho
từng đối tượng ở Màu sắc trong nội thất được dùng tích
cực hơn ngoại thất bởi các yếu tố tự nhiên thường xuyên
tác động, làm cho tâm lý con người lên xuống thất thường
Trong phạm vi nhất định thì các yếu tố bụi, bẩn, độc hại
thải ra môi trường đô thị gây nên ảnh hưởng tiêu cực tới
màu sắc kiến trúc
Các giải pháp màu sắc giúp cho nội thất có những ấn
tượng tốt với người ở như vui tươi, độ lượng, kiên trì hay
thậm chí điên loạn Màu sắc mang ý nghĩa tượng trưng
cũng gây cảm xúc tốt cho mọi người, ví dụ: áo trắng trang
trọng, nhưng màu đen là màu tang tóc Song biết phối hợp
với màu trắng lại mang ý nghĩa trọng thể Tấm áo màu
Trang 20ưa màu xanh da trời, trẻ trung hơn, thơ ngây hơn mà cả
người dùng và người ngắm nhìn đều ưa thích
Nhiều công trình nghiên cứu đặc điểm màu sắc có
ảnh hưởng đến tính tình, cảm xúc của con người, tới thế
giới xung quanh Từ đó người ta rút ra một số giải pháp
màu để trang trí nội thất Màu sắc có những biểu hiện
riêng, sự hài hoà của chúng không giống ở các phương
tiện nghệ thuật khác Nghiên cứu một số quy luật cảm thụ
màu theo nhịp điệu hệ mét, người ta thấy nó gắn bó rất
chặt chẽ với các tính chất màu sắc chủ yếu Đó là tông
màu, ánh sáng, bão hoà màu và sự phối hợp màu khác
nhau
Con người cảm thụ màu sắc nhanh hơn sự cảm thụ
về hình dáng Đó là do kết quả phản quang của bề mặt
mang màu, đặc biệt là màu có sắc ký Trong đó các màu
nóng trên nền đen nổi hơn trên nền trắng Hiện tượng này
chứng tỏ rằng khả năng mô phỏng của mắt người là nhờ
vào chính màu có sắc ký
Với kích thước của các vệt màu như nhau, được đặt
trên phông có các mảng màu đen trắng Lượng phát quang
khác nhau là do màu của phông đen và trắng ý nghĩa trình
bày các vệt màu cùng kích thước tương quan với phông,
khiến cho người quan sát thấy bề mặt phẳng rất rộng lớn,
thì sự phát quang của màu đỏ (nóng) càng nổi bật hơn
màu vàng, xanh và tím Từ thực nghiệm đó người ta rút ra
Trang 21được quy luật phối hợp màu có các hệ số phản quang khác
nhau để vận dụng trang trí bề mặt nội thất có hiệu quả về
cảm thụ
Sự phối hợp 2 hay mặt số màu trang trí trong nội thất
thường gắn liền với kích thước các bề mặt mang màu và
khoảng cách nhìn Trong nội thất khoảng cách nhìn có
cảm thụ tốt không lớn hơn từ 3 - 4m Đối với các vệt màu
không nhỏ hơn từ 2 - 3mm thì khoảng cách nhìn tốt là 2m
Hiệu quả cuối cùng của màu sắc trang trí là phải đạt
chỉ tiêu thẩm mỹ và sự truyền cảm Cần chọn lựa cho sự
phối hợp màu hài hoà trong các phạm vi chênh lệch các hệ
số phản xạ từ 10 - 15% (số màu ở cạnh nhau trên vòng
tròn màu nên ít hơn 4) Hoặc các màu ở cách xa nhau trên
vòng tròn màu có hệ số phản xạ chênh lệch từ 20 - 30%
Hiện tượng trang trí màu sặc sỡ trong sự phối hợp các vệt
màu là do sự tách rời từng mảng màu, đồng thời các hệ số
phản xạ chênh lệch nhau quá lớn Nhưng cũng không nên
áp dụng trang trí nội thất các màu có cùng hệ số phản xạ,
khi đó quan sát thấy chói mắt, khó chịu Bảng 6.1 dưới
đây giới thiệu hệ số phản xạ một số vật liệu, màu trang trí:
Trang 22Bảng 6.1 Chỉ dẫn bệ số phản xạ () của màu sơn, tiêu chuẩn
Caveleva 1978
ST
T
Màu sơn Tiêu chuẩn đo
lường của màu
Sự cảm thụ màu sắc trong nội thất phụ thuộc nhiều
vào đặc điểm chiếu sáng cho phòng
Trang 23Hãy xem xét qua sự ảnh hưởng chiếu sáng cảnh
quan trong thiên nhiên tới màu sắc: Chiếu sáng tự nhiên
được thay đổi theo thời tiết của ngày, tháng trong năm và
đồng thời kéo theo sự thay đổi cảm thụ màu sắc của con
người Nhờ có ánh sáng phản xạ của bầu trời vào trong
phòng, ánh sáng đó lại khuếch tán định hướng giúp ta cảm
nhận màu sắc tốt hơn Song trong một số trường hợp, do
ánh sáng tự nhiên làm cho ta cảm thụ màu sắc bị sai lệch
Ví dụ: Theo kết quả nghiên cứu ở Nga, ánh sáng mặt trời
chiếu vào phòng ở mỗi vùng có khác nhau Các cửa sổ
phòng hướng về phía nam thì nhận được ánh sáng quanh
năm Cửa sổ hướng về phía đông và phía tây chỉ nhận
được ánh sáng có nửa ngày Cửa mở hướng bắc không thu
được chiếu sáng trực tiếp cũng như ánh sáng khuếch tán
Muốn cảm nhận được màu sắc trong phòng tốt thì cửa sổ
phải đón được tia sáng mặt trời qua cửa sổ, tốt nhất là
hướng nam, nên sơn phòng màu lạnh Ngược lại, ở phía
bắc sơn màu ấm, ở phía đông và tây sơn phòng màu trung
tính Để cảm thụ màu sắc phong phú hơn, người ta xác
nhận dùng chiếu sáng nhân tạo bằng đèn huỳnh quang cho
suốt cả năm để phòng khi trời bị mây u ám cả ngày, đặc
biệt là mùa đông hàng tháng thiếu ánh sáng mặt trời áp
dụng chiếu sáng nhân tạo như thế chủ động hơn, việc
trang trí bằng các màu ấm sẽ có tác dụng tích cực hơn Vì
thế mà việc chọn màu sắc và chọn hướng chiếu sáng nói
lên vai trò của tường và cửa sổ là rất quan trọng