Về quan điểm, tư tưởng chỉ đạo : Lấy mục tiêu SXKD ngành nhựa là ngành nghề SXKD chính, tập trung mọi nguồn lực tạo ra năng lực cạnh tranh cốt lõi, tích cực nắm bắt cơ hội mới đễ tại ra
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA SAU ĐẠI HỌC
-o0o -TIỂU LUẬN PHÂN TÍCH VÀ QUẢN TRỊ ĐẦU TƯ
ĐỀ TÀI:
PHÂN TÍCH MÃ CỔ PHIẾU DTT
Hà Nội, 15/01/2015
Trang 2MỤC LỤC
Trang 31 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN KỸ NGHỆ ĐÔ THÀNH 1.1 Lịch sử hình thành
Quá tr ì nh thành lậ p:
- Năm 1994 : thành lập Công ty nhựa Đô Thành trên cơ sở sáp nhập Xí nghiệp Quốc doanh Nhựa 2 và Xí nghiệp Quốc doanh Nhựa 5
o Giấy ĐKKD số : 103027 do sở Kế hoạch Đầu tư Tp.HCM cấp ngày 13/06/1994
o Cơ quan quản lý : Sở công nghiệp Tp Hồ Chí Minh
- Năm 2008, Công ty mua đất và nhà xưởng Giá mua :26.300.000.000VND
Vị trí khu đất tại thửa số 760 tờ bản đồ số 2, Xã Tân Thạnh Đông, Huyện Củ Chi Diện tích khuôn viên đất có tường rào bao quanh: 38.770 m2 Diện tích nhà xưởng: 1.325m2
- Năm 2009, Công ty đầu tư xây dựng nhà máy Củ Chi trị giá 75.144.465.153 VND gồm: 3 block nhà xưởng, nhà ở cho CNV, hệ thống PCCC, nhà ăn cùng các công trình cơ bản khác Tháng 07/2010 chính thức hoạt động và sản xuất ổn định
Chuyể n đổ i sở hữ u thành công ty c ổ p hầ n v à tăng vố n đ i ề u l ệ :
- Ngày 01/07 2004 : Chuyển thành Công ty cổ phần nhựa Đô Thành theo Quyết định số 5777/QĐ-UB ngày 31/12/2003 của Chủ tịch UBND Tp.HCM với Vốn điều lệ là 12.000.000.000 VND (Nhà nước nắm giữ 20% Vốn Điều lệ)
- Năm 2005: Công ty đã phát hành thêm cổ phiếu bổ sung vốn lưu động Vốn điều lệ là 14.040.000.000 VND
- Năm 2006: Công ty đã phát hành thêm cổ phiếu với tổng trị giá 5.960.000.000VND cho cổ đông hiện hữu mua theo mệnh giá.Vốn Điều lệ là
20.000.000.000 VND (Hai mươi tỷ đồng).
- Đổi tên:Công ty Cổ phần Nhựa Đô Thành thành Công ty Cổ phần Kỹ nghệ Đô Thành ngày 01/10/2006
N
i ê m yế t:
- Ngày 06/12/2006: quyết định: 100/UBCK-GPNY cuả UBCK Nhà nước cấp giấy phép niêm yết cổ phiếu Công Ty CP Kỹ Nghệ Đô Thành trên Trung Tâm Giao Dịch Chứng Khoán TP.HCM
Số lượng : 2.000.000 CP
Mệnh giá : 10.000 VND/CP Tổng trị giá : 20.000.000.000VND
- Ngày 15/12/2006: Công ty tại được cấp giấy chứng nhận số 81/2006/GCNCP-CNTTLK về
Trang 4việc cổ phiếu Công Ty đã đăng ký lưu ký CK với mã chứng khoán DTT.
- Năm 2007 : Công ty được phép niêm yết và giao dịch 3.200.000 cổ phiếu phát hành thêm tại Sở Giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh Vốn
điều lệ 52.000.000.000VND (Năm mươi hai tỷ đồng).
- Năm 2009: Công ty phát hành thêm 2.951.820 cổ phiếu Trong đó:
Bán ra thị trường: 800.000 CP phổ thông, mệnh giá:10.000 VND/CP Nhà đầu
tư chiến lược: 800.000 CP, mệnh giá:10.000 -11.000VND/CP Cổ phiếu thưởng: 1.351.820 CP, mệnh giá:10.000 VND/CP
- Năm 2010: Thay đổi giấy phép kinh doanh lần 4 ngày 05/01/2010 do
tăng vốn điều lệ thành :81.518.200.000VND (Tám mươi mốt tỷ năm trăm mười tám
triệu hai trăm ngàn đồng
1.2 Thông tin về mô hình quản trị, tổ chức kinh doanh và bộ máy quản lý
C
ơ cấ u b ộ máy quả n l ý :
Công ty con v à công ty l i ên kế t :
Tháng 6/2009, Cty CP Kỹ nghệ Đô Thành tham gia góp 1,5 Tỷ thành lập Cty
CP Nhựa Đại Thành Long Chiếm 25% tổng vốn điều lệ ban đầu của Công ty CP Nhựa Đại Thành Long
Một số thông tin về Công ty CP Nhựa Đại Thành Long :
-Công ty CP nhựa Đại Thành Long được thành lập theo luật Doanh nghiệp
và theo
Giấy CN ĐKKD số : 0800640880 ngày 18/5/2009 của Sở Kế hoạch và đầu
Trang 5tư tỉnh Hải Dương.
-Địa chỉ văn phòng công ty : Quốc lộ 15, Thôn Phương Độ, xã Hưng Thịnh, huyện
Bình Giang, tỉnh Hải Dương
-Điện thoại : 03203776558
-Lĩnh vực kinh doanh : Sản xuất và mua bán các sản phẩm nhựa ( đang sx và kinh doanh Băng keo dính và màng PE ở thị trường miền Bắc )
-Năm 2011, Công ty CP nhựa Đại Thành Long tăng vốn , tổng vốn điều lệ của công ty đạt giá trị 8.500.000.000 đồng Vốn của công ty CP Kỹ nghệ Đô Thành chiếm tỷ lệ 17,65% tổng vớn điều lệ sau khi tăng vốn
Thời gian hoạt động còn ít, đang còn trong giai đoạn củng cố tổ chức và phát triển thị trường, qui mô hoạt động còn nhỏ, hiệu quả chưa cao Năm 2012 lỗ do
đó không trích chia lãi Đến 31/12/2012, Công ty CP Nhựa Đại Thành Long lỗ tổng cộng : 3.339.829.975đồng Riêng năm 2013, Công ty hoạt động bắt đầu có lãi: 307.241.564 đồng
1.3 Lĩnh vực kinh doanh
Ngành ngh ề k i nh doan h :
Sản xuất các sản phẩm nhựa từ chất dẻo
Bao bì chai nhựa PET, ống nhựa PP, PE (không tái chế phế thải nhựa tại
trụ sở)
Chế tạo và sản xuất các khuôn mẫu nhựa (không tái chế phế thải kim loại
và xi mạ điện).
Mua bán hóa chất (trừ hóa chất có tính độc hại mạnh) nguyên liệu, phụ
tùng, thiết bị khuôn mẫu ngành nhựa
Kinh doanh nhà ở
Môi giới bất động sản
Cho thuê văn phòng
Đ
ịa bàn k i nh doan h :
- Thị trường trong nước : Bao bì thực phẩm ( chai PET, két nhựa, …), phụ tùng sản phẩm công nghiệp ( quạt nhựa , Khay giống cây trồng, ống chỉ may mặc,… )
- Thị trường Campuchia : Phôi Pet, Chai nước mắm,…
- Thị trường Mỹ : Chai dược phẩm
1.4 Chiến lược phát triển trung và dài hạn
Với đặc điểm tình hình , thuận lợi , khó khăn, thách thức hiện tại của công
Trang 6ty Công ty khẳng định lại mục tiêu chiến lược SXKD trong giai đoạn trước mắt và lâu dài nhằm phát huy được thuận lợi , thế mạnh hiện có , khắc phục được những khó khăn thách thức trước mắt đễ công ty tồn tại và từng bước phát triễn bền vững
Về quan điểm, tư tưởng chỉ đạo : Lấy mục tiêu SXKD ngành nhựa là ngành nghề SXKD chính, tập trung mọi nguồn lực tạo ra năng lực cạnh tranh cốt lõi, tích cực nắm bắt cơ hội mới đễ tại ra ngành nghề sản xuất kinh doanh mới, thích ứng với tình hình thị trường, phù hợp với tiềm năng sẵn có của công ty
Về mục tiêu chiến lược sản xuất kinh doanh :
- Phát huy thành quả và lợi thế của năm 2013, tiếp tục mở rộng thị trường , phát triễn khách hàng hiện có, tìm kiếm bổ sung thêm khách hàng chủ lực mới, tăng trên 20% thị trường tiêu thụ sản phẩm so với năm 2013, đạt và vượt kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2014 và những năm kế tiếp Định vị lại uy tín thương hiệu trên thị trường sản phẩm PET chủ lực
- Tiếp tục cải tiến, áp dụng hệ thống các giải pháp phần mềm ( ERP ) trong việc quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, tổ chức sản xuất trên
cơ sở áp dụng hệ thống 5S và KAIZEN , táo lập ứng dụng hện thống chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn ISO 9001 – 2008
- Tiếp tục cải tiến và đổi mới và hoàn thiện qui trình công nghệ sản xuất theo hướng cơ khí hóa và tự động hóa chiếm tỷ trọng trên 80% , tăng năng suất thiết
bị trên 10% và tăng năng suất lao động trên 10%
- Phấn đấu thực hiện kéo giảm chi phí sản xuất, tiết kiệm 10% chi phí / năm , giảm giá vốn hàng bán 5% so với 2013 và cố gắng duy trì giá vốn hàng bán ở mức
độ thấp hơn 85% so Doanh thu
- Duy trì mức lợi nhuận bình quân lớn hơn 5% VĐL / năm, đảm bảo quyền lợi chia cổ tức cho cổ đông và cải thiện thu nhập tiền lương của CBCNV ngày càng cao
Trang 72 PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG KINH DOANH
2.1 Môi trường kinh tế vĩ mô
2.1.1 Chính trị - Pháp luật (P-L)
Hệ thống chính trị, luật pháp, chính sách ổn định của Việt Nam đã góp phần vào sự ổn định và khả năng phát triển của các ngành kinh tế nói chung và ngành nhựa nói riêng Trong Quyết định số 2992/QĐ-BCT ngày 17 tháng 06 năm 2011 về quy hoạch tổng thể phát triển ngành nhựa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm
2025, Chính phủ đặt mục tiêu phát triển ngành nhựa thành ngành kinh tế mạnh Quyết định số 55/2007/QĐ-TTg phê duyệt danh mục 10 ngành công nghiệp ưu tiên, mũi nhọn giai đoạn 2007-2010, tầm nhìn đến năm 2020 và một số chính sách khuyến nghị phát triển, ngành nhựa cũng nằm trong danh sách các ngành công nghiệp ưu tiên phát triển Qua đó ta thấy ngành nhựa được tạo điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh hoạt động sản xuất cũng như xuất khẩu
Tuy nhiên ngành nhựa vẫn còn gặp nhiều khó khăn do vẫn còn thiếu quy định của nhà nước về việc nhập khẩu phế liệu sản xuất tái sinh để giảm bớt chi phí đầu vào cho các doanh nghiệp nhựa giúp chủ động hơn về nguyên liệu và giảm giá thành sản xuất
2.1.2 Kinh tế (E)
Kinh tế vĩ mô năm 2013 đã từng bước ổn định Tăng trưởng và sản xuất đã có
sự chuyển biến tích cực đi lên về cuối năm Tuy nhiên, tăng trưởng vẫn còn ở mức thấp, cân đối ngân sách còn nhiều thách thức và các doanh nghiệp vẫn chưa thực sự thoát khỏi khó khăn là những vấn đề tiếp tục đặt ra cho năm 2014
Lạm phát tiếp tục ổn định Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 11 tăng chậm lại, ở mức 0,34% so với tháng 10, tăng 5,5% so với tháng 12/2012 và tăng 5,78% so với cùng kỳ năm 2012 Như vậy, tốc độ lạm phát (so với cùng kỳ) trong tháng 11/2013 đã chậm lại ở mức thấp thứ 2 kể từ năm 2003 trở lại đây (chỉ sau năm 2009)
Nguyên nhân chủ yếu là do tổng cầu của nền kinh tế vẫn còn yếu, khiến cho mức tăng giá của các tháng cuối năm nay tăng thấp, trái với thông lệ thường thấy trong
10 năm gần đây Lạm phát năm 2013 bị chi phối chủ yếu bởi yếu tố chi phí đẩy (điều
chỉnh giá dịch vụ công và giá các nhóm hàng cơ bản do Nhà nước quản lý) Dự báo cả
năm, lạm phát sẽ không quá 6,3%, mục tiêu kiềm chế lạm phát thấp hơn so với năm ngoái là hoàn toàn khả thi
Cán cân thanh toán quốc tế năm 2013 dự báo thặng dư khoảng 1,5-2 tỷ USD Trong đó, cán cân vãng lai thặng dư khoảng 6% GDP trong nửa đầu năm, là năm thứ 2 liên tiếp thặng dư sau nhiều năm tăng trưởng âm, nhờ vào thặng dư thương mại và kiều hối đạt khá Vốn FDI tăng mạnh thể hiện việc tái lập niềm tin trong trung hạn của
Trang 8các nhà đầu tư nước ngoài đối với kinh tế Việt Nam Điều này góp phần gia tăng nguồn cung ngoại tệ, tạo điều kiện tăng dự trữ ngoại hối và ổn định tỷ giá
Thị trường tiền tệ - ngoại hối ổn định Tỷ giá ổn định, mặt bằng lãi suất giảm mạnh so với năm ngoái Tình trạng nợ xấu có sự cải thiện hơn nhờ nỗ lực tái cơ cấu nợ
và xử lý nợ xấu từ phía các ngân hàng thương mại và Ngân hàng Nhà nước Nhờ đó đã giúp tháo gỡ khó khăn về chi phí tài chính cho doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi
để doanh nghiệp tiếp cận vốn vay dễ dàng hơn
80% nguyên liệu đầu vào của ngành nhựa Việt Nam là phải nhập khẩu do đó phụ thuộc nhiều vào tỷ giá hối đoái Bên cạnh đó, nguyên liệu đầu vào của ngành được tạo ra từ sản phẩm dầu mỏ, nên giá dầu mỏ cũng là yếu tố chính ảnh hưởng đến giá nguyên liệu Một nhân tố khác cũng ảnh hưởng đến ngành đó là lãi suất 95% doanh nghiệp nhựa Việt Nam là các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việc huy động vốn để
mở rộng sản xuất chủ yếu là sử dụng nguồn vốn tín dụng của ngân hang Do dó, lãi suất ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của doanh nghiệp
Tuy nhiên, năm vừa qua tình hình kinh tế đang dần ổn định trở lại sau suy thoái, ngành nhựa cũng có nhiều điều kiện thuận lợi hơn cho phát triển sản xuất
2.1.3 Xã hội (S)
Cuộc sống phát triển, thu nhập càng cao thì sản phẩm làm bằng nhựa ngày càng được sử dụng rộng rãi và yêu cầu về chất lượng, mẫu mã của sản phẩm nhựa ngày càng tăng Khác với các mặt hàng khác, giá các mặt hàng bằng nhựa cao hơn xuất khẩu nên lợi nhuận cao hơn Mặt khác, sản phẩm nhựa Việt Nam cũng được các nước nhập khẩu đánh giá cao và chưa bị áp dụng thuế chống bán phá giá, nên rất thuận lợi cho xuất khẩu
Tuy nhiên, xu hướng trên thế giới đang dần chuyển sang các sản phẩm thân thiện với môi trường trong khi các sản phẩm nhựa của Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu nên dễ mất thị trường trên thế giới
2.1.4 Công nghệ (T)
Đây là nhân tố tác động to lớn đến sự phát triển của ngành nhựa Khoa học công nghệ giúp nhựa trở thành nguyên liệu thay thế các sản phẩm như: gỗ, kim loại… Công nghệ hiện đại đang góp phần tạo ra các sản phẩm nhựa có mẫu mã đẹp, chất lượng cao đáp ứng yêu cầu thẩm mỹ của người tiêu dùng Tuy nhiên, bên cạnh việc đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị phục vụ cho ngành nhựa hiện nay hầu hết đều phải nhập khẩu nên làm ảnh hưởng đến hoạt động và doanh thu của ngành
2.2 Cạnh tranh ngành
2.2.1 Sự cạnh tranh của các đối thủ hiện tại
Hiện tại, trong nước có rất nhiều doanh nghiệp hoạt động trong ngành nhựa, trong đó có tới 90% là các doanh nghiệp vừa và nhỏ và doanh nghiệp tư nhân Các
Trang 9doanh nghiệp này chủ yếu tập trung hầu hết ở khu vực Miền Nam với 80%, Miền Bắc với 15% và còn lại ở Miền Trung với 5% Do vậy, mức độ cạnh tranh trong ngành chủ yếu là ở Miền Nam, các doanh nghiệp hai vùng còn lại sẽ chịu ít sự cạnh tranh hơn
2.2.2 Sự cạnh tranh của các đối thủ tiềm năng
Sản phẩm nhựa của Việt Nam đã có mặt tại 55 quốc gia, tính đến ngày 15/5 kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này đạt khoảng 536 triệu USD, trong đó những thị trường
có kim ngạch lớn nhất là Nhật Bản, EU, Mỹ và Campuchia Điều đó cho thấy ngành nhựa Việt Nam có nhiều tiềm năng cho các doanh nghiệp đầu tư, phát triển Tuy nhiên vẫn còn những hạn chế nhất định gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong ngành đầu
tư và phát triển, cũng như làm chậm sự phát triển của ngành Nhựa như: nguyên liệu sản xuất trong nước mới chỉ đáp ứng 15% nhu cầu nên phần lớn phải phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu, giá thành sản xuất luôn bị biến động mỗi khi có biến động tỷ giá ngoại tệ, số lượng mẫu mã, vốn của các doanh nghiệp trong nước còn yếu nên chịu
áp lực cạnh tranh đối với các doanh nghiệp FDI có thế mạnh về kỹ thuật cũng như kinh nghiệm thị trường
2.2.3 Sự cạnh tranh của các sản phẩm thay thế
Ngành nhựa vẫn đang phải cạnh tranh không ngừng với các ngành Giấy, Thủy tinh, Sành sứ, Gỗ…những ngành thường có những sản phẩm tương tự Hơn nữa một hạn chế nữa của ngành nhựa là hiện nay chưa có các cơ sở nghiên cứu, phát minh về công nghệ và kỹ thuật ngành nhựa, đội ngũ công nhân chưa có tay nghề cao, hệ thống đào tạo công nhân chưa có…
2.2.4 Quyền lực của nhà cung ứng
Để đáp ứng thị trường nội địa và xuất khẩu, mỗi năm ngành nhựa cần nhập khẩu hàng triệu tấn các loại nguyên liệu như PE, PP, PS… Các công ty nhập khẩu hạt nhựa từ nước ngoài, đem về bán trên thị trường Các công ty sản xuất nhựa-bao bì thì mua lại nguyên liệu từ những công ty này Việt Nam không có tạo ra hạt nhựa, chỉ là tái chế từ hàng phế phẩm Hạt nhựa nguyên chất là bắt buộc phải nhập từ nước ngoài
Khả năng trong nước mới chỉ đáp ứng được khoảng từ 15-20% nhu cầu nguyên phụ liệu Trong đó, chi phí nguyên vật liệu chiếm hơn 70% giá thành sản phẩm Nếu tình trạng quá phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu còn kéo dài, tất sẽ có những tác động tiêu cực đến quá trình sản xuất, và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Xét giữa mức xuất khẩu và nhập khẩu, cán cân thương mại của ngành nhựa tỏ
ra mất cân đối
Nếu không chủ động được nguồn nguyên liệu, ngành nhựa Việt Nam chủ yếu vẫn chỉ được biết đến là một ngành kỹ thuật gia công chất dẻo Đầu tư nhà máy chế biến hạt nhựa trong nước để chủ động nguồn nguyên liệu, hạn chế nhập khẩu là một nhu cầu thiết thực của ngành nhựa
Trang 102.2.5 Quyền lực của khách hàng
Mặc dù ngành nhựa có mặt ở nhiều nước trên thế giới song sản phẩm nhựa trong nước vẫn phải cạnh tranh khá vất vả về giá với các sản phẩm nhiều nước khác bởi chính sách nhập phế liệu để tái chế của họ thuận lợi và họ có công nghệ tái chế tốt như Trung Quốc, Singapore, Thái Lan… Điều này đã tạo ra nhiều sự lựa chọn cho khách hàng, cho thấy quyền lực của khách hàng đối với ngành nhựa là không hề nhỏ