Luận văn phân tích mã cổ phiếu ACB của ngân hàng thương mại cổ phần Á châu từ năm 2009 tới năm 2011
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Bất kì kênh đầu tư nào đều tồn tại những rủi ro nhất định, thị trường chứng khoáncũng không ngoại lệ Bất kì động thái nào của thị trường hay các yếu tố vĩ mô cũng ảnhhưởng tới thị trường chứng khoán Vì tính rủi ro nên kênh đầu tư này cũng mang lại lợinhuận cao cho các nhà đầu tư ra quyết định mua, bán hay giữ cổ phiếu đúng lúc Để cóthể ra được quyết định chính xác, nhà đầu tư cần phải luôn có những thông tin chínhxác về nền kinh tế Đánh giá đúng xu hướng và tác động của các thông tin này sẽ làcông cụ hữu hiệu trong hành trình tiềm kiếm lợi nhuận của các nhà đầu tư
Hệ thống ngân hàng là một trong những “mạch máu” của thị trường tài chính, gắnliền với “sức khỏe” nền kinh tế quốc gia, chính vì thế rủi ro ngành luôn được các nhàhoạch định chính sách đặt mối quan tâm hàng đầu và luôn tìm cách hạn chế đến mứcthấp nhất có thể Vì tầm quan trọng của ngành nên cổ phiếu ngành ngân hàng luôngiành một ưu thế và luôn thu hút sự quan tâm của nhà đầu tư trong và ngoài nước.Nhằm góp phần trong việc cung cấp thông tin thông qua việc phân tích và đánhgiá cổ phiếu, giúp nhà đầu tư đưa ra được quyết định chính xác, em xin chọn đề tài:
“Phân tích mã cổ phiếu ACB của Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu từ năm
2009 đến năm 2011”.
Trong quá trình tìm hiểu và trình bày bài làm của em khó tránh sai sót,kínhmong cô góp ý để bài thêm hoàn chỉnh hơn
Trang 2CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU
Khái quát chung:
Tên gọi: Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu
Tên giao dịch quốc tế: ASIA COMMERCIAL BANK
Tên viết tắt: ACB
Trụ sở chính: 442 Nguyễn Thị Minh Khai, Q 3, TP Hồ Chí Minh
Mã số thuế: 0301452948
Ngành nghề kinh doanh:
Huy động vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn dưới các hình thức tiền gửi có kỳhạn, không kỳ hạn, tiếp nhận vốn ủy thác đầu tư và phát triển của các tổ chức trongnước, vay vốn của các tổ chức tín dụng khác;
Cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn; chiết khấu thương phiếu, trái phiếu vàgiấy tờ có giá; hùn vốn và liên doanh theo luật định;
Làm dịch vụ thanh toán giữa các khách hàng;
Thực hiện kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc và thanh toán quốc tế, huy động các
Trang 3Pháp lệnh về Ngân hàng nhà nước và Pháp lệnh về ngân hàng thương mại, hợptác xã tín dụng và công ty tài chính được ban hành vào tháng 5 năm 1990 đã tạo dựngmột khung pháp lý cho hoạt động ngân hàng thương mại tại Việt Nam Trong bối cảnh
đó, Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB) đã được thành lập theo Giấy phép
số 0032/NH-GP do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp ngày 24/04/1993, GIấy phép
số 553/GP-UB do Ủy ban Nhân dân TP Hồ Chí Minh cấp ngày 13/05/1993
- Ngày 04/06/1993, ACB chính thức đi vào hoạt động
- Ngày 30/6/1994 tăng vốn điều lệ lên 70 tỷ đồng
- Ngày 17/2/1996 tăng vốn điều lệ lên 341 tỷ đồng và là ngân hàng đầu tiên tạiViệt Nam phát hành thẻ tín dụng quốc tế ACB-Master Card
- Trong năm 2003, các sản phẩm ngân hàng điện tử phone banking, mobilebanking, home banking và Internet banking được đưa vào hoạt động trên cơ sở tiệních của TCBS
- 10/12/2004 – Công nghệ sản phẩm cao: Đưa ra sản phẩm quyền chọn vàng,
quyền chọn mua bán ngoại tệ ACB trở thành một trong các ngân hàng đầu tiên củaViệt Nam được cung cấp các sản phẩm phái sinh cho khách hàng
- Năm 2005 tăng vốn điều lệ lên 948,32 tỷ đồng
- Ngày 14/2/2006 tăng vốn điều lệ lên 1.100 tỷ đồng, đến tháng 11/2006 niêmyết cổ phiếu tại HaSTC
- Ngày 25/5/2007 tăng vốn điều lệ lên 2.530 tỷ đồng
- Vốn điều lệ đến tháng 3/2009 là 6.355.812.780.000 đồng
- Kể từ ngày 31/12/2011 vốn điều lệ của ACB là 9.376.965.060.000 đồng (Chínnghìn ba trăm bảy mươi sáu tỷ chín trăm sáu mươi lăm triệu không trăm sáu mươinghìn đồng
Mạng lưới kênh phân phối
Gồm 339 chi nhánh và phòng giao dịch tại những vùng kinh tế phát triển trêntoàn quốc:
Tại TP Hồ Chí Minh: 1 Sở giao dịch, 29 chi nhánh và 107 phòng giao dịch
Tại khu vực phía Bắc (Hà Nội, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh,Hải Dương, Hưng Yên, Quảng Ninh, Hải Phòng, Nam Định, Hà Nam ): 16 chi nhánh
và 68 phòng giao dịch
Tại khu vực miền Trung (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Huế, ĐàNẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Kon Tum, Gia Lai, Bình Định, Phú Yên, Đak Lak,
Trang 4Lâm Đồng, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận): 17 chi nhánh và 34 phòng giaodịch
Tại khu vực miền Tây (Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, An GIang,Vĩnh Long, Cần Thơ, Trà Vinh, Sóc Trăng, Hậu Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu và CàMau): 13 chi nhánh, 15 phòng giao dịch
Tại khu vực miền Đông (Đồng Nai, Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước, VũngTàu): 5 chi nhánh và 26 phòng giao dịch
Trên 2.000 đại lý chấp nhận thanh toán thẻ của Trung tâm thẻ ACB đang hoạtđộng
969 đại lý chi trả của Trung tâm chuyển tiền nhanh ACB-Western Union
Công ty trực thuộc
Công ty Chứng khoán ACB (ACBS)
Công ty Quản lý và khai thác tài sản Ngân hàng Á Châu (ACBA)
Công ty cho thuê tài chính Ngân hàng Á Châu (ACBL)
Công ty Quản lý Quỹ ACB (ACBC)
Công ty liên kết
Công ty Cổ phần Dịch vụ Bảo vệ Ngân hàng Á Châu (ACBD)
Công ty Cổ phần Địa ốc ACB (ACBR)
Công ty liên doanh
Công ty Cổ phần Sài Gòn Kim hoàn ACB- SJC (góp vốn thành lập với SJC)
Sơ đồ tổ chức
Trang 6CHƯƠNG II:
PHÂN TÍCH NỀN KINH TẾ VĨ MÔ VÀ KINH TẾ NGÀNH
Phân tích kinh tế vĩ mô:
Ảnh hưởng của nền kinh tế toàn cầu:
Năm 2009:
Kinh tế thế giới trải qua một năm được xem là tồi tệ nhất từ sau cuộc đại suythoái năm 1930-1931 Hiện tại, kinh tế thế giới đang cho thấy những dấu hiệu phụchồi khá mạnh mẽ, một điều mà những người lạc quan nhất trong các tháng đầu nămcũng không nghĩ tới Các chính sách tiền tệ và tài khóa mạnh mẽ của chính phủ cácnước trên thế giới đã có tác dụng tích cực
GDP của hầu hết các quốc gia đã tăng trưởng hoặc cải thiện mức suy giảm trongquý 3 và quý 4 Chỉ số giá tiêu dùng nhiều quốc gia bắt đầu tăng trưởng dương Nhiềuchỉ báo kinh tế khác như chỉ số lòng tin người tiêu dùng, tăng trưởng công nghiệp,doanh số bán nhà, số đơn đặt hàng cũng được cải thiện khá tích cực
Tuy vậy, tình trạng thất nghiệp của nhiều nước vẫn còn ở mức rất cao Thấtnghiệp tại Mỹ đã lên tới 10%, là mức cao nhất trong nhiều năm qua Thất nghiệp củaLiên minh châu Âu hiện tại đang ở mức 9.8%, mức cao nhất trong hơn 20 năm qua.Những số liệu trên cho thấy kinh tế thế giới đã có những đấu hiệu phục hồi songvẫn chưa vững chắc Tình trạng thất nghiệp cao ở nhiều quốc gia đang là những mối
lo ngại lớn đối với những nhà làm chính sách Nhiều quốc gia vẫn cam kết tiếp tụcduy trì chính sách tiền tệ mở rộng và giữ lãi suất ở mức thấp để hỗ trợ cho nền kinh tếbất chấp cảnh báo về những hệ lụy
Các Thị trường Chứng khoán đều phục hồi ấn tượng
Ở thời điểm hiện nay, hầu hết các chỉ số chứng khoán trên thế giới đều đã tăngcao hơn so với trước cuộc khủng hoảng tài chính nổ ra hồi tháng 10 năm ngoái Cụthể, nếu so với đầu năm 2008 các chỉ số chứng khoán thế giới vẫn còn sút giảm 15-30% Tuy nhiên, so đến cuối năm 2008, các chỉ số này đều tăng 25-30%, còn so vớimức đáy được thiết lập trong năm nay thì mức tăng khoảng 50%
Các chỉ số chứng khoán bật lại mạnh mẽ cùng với những tín hiệu phục hồi củanền kinh tế Trong các chỉ số chứng khoán, Hang Seng của Hong Kong và Shanghai
Trang 7Thị trường chứng khoán Việt Nam đã có sự tăng trưởng hết sức bất ngờ và ấntượng từ mức đáy 234.66 được thiết lập vào 24/2/2009 lên đỉnh cao 633.21 vào ngày23/10/2009.
Năm 2010:
Theo đánh giá mới nhất của Liên Hợp Quốc, tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm
2010 đạt 3,6% Trong đó các nước đang phát triển dẫn đầu với mức tăng 7,1%, cácnước chậm phát triển tăng 5,5% và các nước phát triển tăng trưởng khiêm tốn với2,3% (Mỹ 2,6%, EU 1,6% ) Châu Âu là khu vực hồi phục chậm nhất do khủnghoảng nợ công tại nhiều quốc gia thành viên Sau khi đi xuống mạnh năm 2009, kinh
tế toàn cầu tăng trưởng trở lại trong năm 2010 cho thấy kết quả ban đầu của những nỗlực kích thích kinh tế của năm trước và các hỗ trợ vẫn được duy trì trong năm nay.Nhìn chung kinh tế thế giới đã tạm vượt qua giai đoạn khó khăn nhất, sản xuất côngnghiệp, thương mại đã tăng trưởng trở lại và thị trường tài chính tiền tệ đều sự hồiphục và ổn định hơn trong năm 2010
Tuy nhiên, sự hồi phục kinh tế thế giới hiện tại vẫn khiêm tốn ẩn chứa những rủi
ro và bộc lộ dấu hiệu kìm hãm đà hồi phục Đó là tỷ lệ thất nghiệp vẫn cao ở các nềnkinh tế chủ chốt, nguy cơ vỡ nợ công ở châu Âu đe dọa hồi phục kinh tế do các góikích thích kinh tế phải cắt giảm, tăng trưởng kinh tế nhiều nước đang phát triển chưahồi phục trở lại mức trung bình trước khủng hoảng kinh tế, sự thiếu hợp tác giữa cácnền kinh tế tăng lên hình thành nguy cơ xung đột thương mại, nguy cơ lạm phát tăng(đặc biệt tại các nước đang phát triển), sự phối hợp thiếu đồng bộ giữa chính sách tàikhóa và tiền tệ bộc lộ làm suy giảm niềm tin vào chính sách vĩ mô
Năm 2011:
Có thể nói, nợ công và thâm hụt ngân sách Chính phủ là chủ đề nóng trong suốtnăm vừa qua, đặc biệt ở khu vực sử dụng đồng Euro (Eurozone) Năm 2011 đã khởiđầu với một loạt các diễn biến tiêu cực xung quanh vấn đề giải cứu đồng Euro Hànhđộng của Moody’s trong việc hạ mức tín nhiệm của Hi Lạp và Tây Ban Nha đã làmdấy lên những lo ngại trong giới đầu tư, khiến chi phí vay nợ của những thành viênyếu nhất trong khu vực Eurozone này liên tục tăng cao Bạo loạn xảy ra tại Hi Lạpcàng tạo thêm áp lực lên Chính phủ nước này, khiến lãi suất trái phiếu tăng cao kỉ lục.Bên kia bờ Đại Tây Dương, Standard & Poor’s đã chuyển đánh giá về vấn đề nợ của
Mỹ từ ổn định sang tiêu cực, khi quá trình thỏa hiệp chính trị giữa các Đảng pháitrong Chính phủ liên bang Mỹ về cắt giảm chi tiêu diễn ra rất chậm chạp Cùng với
đó, thảm họa động đất và sóng thần ở Nhật Bản xảy ra vào tháng 3 đã kéo lùi các thị
Trang 8trường tài chính trên thế giới Giá dầu bất ngờ tăng cao trong tháng 4 do lo ngại về sựgiảm sút nguồn cung bởi bất ổn chính trị ở Trung Đông và Bắc Phi Những diễn biếnphức tạp này đã khiến giá vàng liên tục thiết lập những mức kỉ lục mới trong giai đoạn
từ tháng 7 tới tháng 9, khi giới đầu tư quốc tế vội vã tìm kiểm một nơi trú ẩn tài chính
an toàn, đặc biệt khi Standard & Poor’s hạ bậc tín nhiệm của Mỹ từ AAA xuống AA+vào tháng 8 Đáng chú ý, trong năm 2011 này, Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản trởthành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới Trong bối cảnh hậu kích cầu, Chính phủ nước này
đã phải liên tiếp tiến hành nâng các mức lãi suất điều hành để ngăn ngừa lạm phát do
lo ngại tăng trưởng đã trở nên quá nóng Chính phủ Trung Quốc cũng bắt đầu tái cânbằng nền kinh tế bằng việc khuyến khích tiêu dùng của dân cư và giảm tăng trưởngdựa vào xuất khẩu, qua Kế hoạch 5 năm lần thứ 12 được công bố vào tháng 3.Theothống kê mới nhất của OECD, thương mại thế giới trong 3 quý đầu năm nay đã tăngtrưởng 6,8% so với cùng kì năm 2010, và con số của cả năm sẽ khó có thể khả quanhơn khi quý 4 bị ảnh hưởng bởi lực cầu suy yếu do sự tăng trưởng chậm chạp của khuvực EU Cụ thể, thương mại của các nước OECD đã tăng 6%, trong khi của các nướcngoài OECD tăng 8,2% Những chính sách tài khóa thắt chặt sẽ làm chậm quá trìnhphục hồi kinh tế ở các nước phát triển Theo IMF, kinh tế thế giới sẽ tăng trưởngkhoảng 3,8% trong năm 2012, giảm từ mức 3,9% của năm 2011 và 5,2% của năm
2010 Những dự báo mới cập nhật vào tháng 12 này đã được điều chỉnh giảm so vớinhững con số dự báo được công bố vào tháng 1 đầu năm 2011 Sự giảm tốc này là hậuquả của những bất ổn tài chính và nỗi lo sợ rủi ro nợ công lan tỏa ra bên ngoài phạm
vi những nền kinh tế châu Âu Các 3 biện pháp thắt lưng buộc bụng sẽ thay thế cácchương trình kích thích của giai đoạn 2010-2011, và phần lớn các nước phát triển có
sẽ có mức GDP dưới sản lượng tiềm năng trong năm 2012 Mặc dù vậy, so với cácnước phát triển, triển vọng tăng trưởng của các nền kinh tế đang phát triển sáng sủahơn, bởi sự suy yếu của cầu ngoại sinh được dự báo sẽ được bù đắp bởi cầu nội địanhờ những chính sách kinh tế linh hoạt của các Chính phủ
Ảnh hưởng của nền kinh tế vĩ mô nội địa:
Tổng sản phẩm quốc nội(GDP):
Trang 9Năm 2009, tổng sản phẩm (GDP) ước đạt 90,273 tỷ USD, đạt ốc độ tăng trưởngkinh tế 5,3% Đây là mức tăng trưởng thấp nhất kể từ năm 2002 đến nay và là nămđầu tiên trong vòng 5 năm qua có mức tăng dưới 2 chữ số GDP bình quân đầu ngườiđạt khoảng 18,85 triệu đồng
Năm 2010, tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tính theo giá thực tế, đạt 97,146 tỷUSD, tốc độ tăng trưởng 6,78% tăng hơn so với năm 2009 gần 7 tỷ USD cùng 1,48%.Đây là mức tăng ấn tượng nhất kể từ năm 2002
Năm 2011
Tốc độ tăng trường GDP đạt 5,89% so với năm 2010 với tổng giá trị 103,571 tỷUSD Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước năm nay tuy thấp hơn mức tăng 6,78%của năm 2010 nhưng trong điều kiện tình hình sản xuất rất khó khăn và cả nước tậptrung ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô thì mức tăng trưởng trên là khácao và hợp lý
Tỷ lệ lạm phát:
Năm 2009
Năm 2009, suy thoái của kinh tế thế giới khiến sức cầu suy giảm, giá nhiều hànghóa cũng xuống mức khá thấp, lạm phát trong nước được khống chế CPI năm 2009 tăng 6.52%, thấp hơn đáng kể so với những năm gần đây Tuy vậy, mức tăng này nếu
so với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới lại cao hơn khá nhiều
Trang 10Năm 2011
Tỷ lệ lạm phát là 18,13% Theo nghiên cứu của các nhà kinh tế học thế giới, năm
2011 Việt Nam đã vượt ngưỡng lạm phát và sẽ có tác động tiêu cực đến tăng trưởng.Nguyên nhân chủ yếu gây lạm phát cao ở nước ta là do hệ quả của việc nới lỏng chínhsách tiền tệ, tài khóa kéo dài trong nhiều năm để đáp ứng yêu cầu đầu tư phát triển,bảo đảm an sinh xã hội, và phúc lợi xã hội trong khi cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư cònkém hiệu quả, cùng những hạn chế trong quản lý điều hành và tác động cộng hưởng
của các yếu tố tâm lý
Lãi suất:
Lãi suất huy động của các NHTM Việt Nam có dấu hiệu tăng mạnh trong nhữngnăm gần đây Đỉnh điểm của lãi suất là vào năm 2008 khi lãi suất huy động của cácNHTM VN có lúc lên tới 17 – 18%, mức tăng cao nhất kể từ năm 1993 (22.04%) Lãisuất năm 2009 tuy có hạ xuống còn 8.5%, nhưng so với lãi suất huy động của năm
2000 (3.65%) thì lãi suất huy động của các NH đã tăng tới 133% trong giai đoạn 2000– 2009 Năm 2010, chính sách điều hành của chính phủ vẫn tập trung vào việc kiểmsoát lạm phát, mục tiêu duy trì chỉ số CPI cả năm 2010 ở mức dưới 8% Đây là chínhsách đúng và hợp lý trong giai đoạn hiện nay Tuy nhiên việc đẩy lãi suất lên quá cao
để thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt không những không giúp thị trường ổn định
mà còn khiến kinh tế gặp khó khăn thực sự Thay vì chỉ cần áp mức lãi suất huy động
Trang 11đồng thuận lãi suất 11%, 12% rồi 14%/năm được đặt ra nhưng đến đầu 2011 lại tiếptục bị phá vỡ Và ngày 3/3/2011, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư chính thức
áp trần 14%/năm, buộc các tổ chức tín dụng phải thực hiện nghiêm quy định trần, một
số ngân hàng bị xử lý do sai phạm một số lại cho rằng bị các ngân hàng khác “càibẫy“
Thâm hụt ngân sách:
Năm 2009
Theo báo cáo về thực hiện nhiệm vụ tài chính ngân sách năm 2009 tại hội nghịtổng kết công tác năm 2009 và triển khai nhiệm vụ năm 2010 của ngành tài chínhngày 30-11, bội chi ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2009 là 115.900 tỉ đồng, bằng6,9% GDP, tăng 28.600 tỉ đồng so với dự toán Trong tổng chi NSNN, chi đầu tư pháttriển ước đạt 135.500 tỉ đồng, chiếm 25,4% tổng chi NSNN và bằng 8,1% GDP, xấp
xỉ mức thực hiện năm 2008; chi trả nợ và viện trợ cả năm ước đạt 64.800 tỉ đồng, tăng10,2% so với dự toán; chi thường xuyên ước thực hiện cả năm đạt 332.605 tỉ đồng.Năm 2010
Quốc hội cũng đã thông qua toàn bộ Nghị quyết với tổng số thu cân đối ngânsách Nhà nước là 461.500 tỷ đồng, bằng 23,9% GDP; tính cả 1.000 tỷ đồng thuchuyển nguồn năm 2009 sang năm 2010 thì tổng số thu cân đối ngân sách Nhà nước là462.500 tỷ đồng
Trang 12Tổng số chi cân đối ngân sách Nhà nước là 582.200 tỷ đồng; mức bội chi ngânsách nhà nước là 119.700 tỷ đồng, bằng 6,2% GDP.
Năm 2011
Theo thông tin từ Bộ Tài Chính, sau khi thảo luận đánh giá thực hiện ngân sáchnhà nước năm 2010, dự toán ngân sách nhà nước năm 2011 với các Bộ, cơ quanTrung ương và 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, mức bội chi ngân sách nhànước năm 2011 là 120.600 tỷ đồng, bằng 5,3% GDP
Đánh giá chung:
Năm 2009, nền kinh tế Việt Nam đã thoát khỏi tình trạng suy thoái bằng chứng
là tổng sản phẩm quốc nội tăng lên so với năm 2008, lạm phát đã hạ nhiệt nhiều so vớinăm 2008 nhờ đó lãi suất cũng được giảm xuống giúp cho các doanh nghiệp dễ dàngtiếp cận được vốn vay và giảm chi phí sản xuất Những yếu tố này đã hỗ trợ cho thịtrường chứng khoán năm 2009 có những bước tăng trưởng ấn tượng Bội chi NSNNtăng trong bối cảnh chính sách tiền tệ nới lỏng luôn tiềm ẩn nguy cơ lạm phát cao trởlại Từ đó có thể đe dọa đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp
Năm 2010, Việt Nam ghi nhận những điểm sáng từ kinh tế vĩ mô là tổng sảnphẩm quốc nội khả quan đạt 6,78% vượt mục tiêu ban đầu là 6,5% của chính phủ caohơn nhiều so với các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á Tuy nhiên, chất lượngtăng trưởng chưa được cải thiện, lạm phát đã có dấu hiệu tăng so với năm trước, VND
bị mất giá, lãi suất tăng cao, rủi ro hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam gâybất ổn cho nền kinh tế vĩ mô
Có thể thấy thị trường chứng khoán năm 2010 là tình trạng đi ngang và giảmđiểm kéo dài, sự rút đi của dòng tiền và suy giảm niềm tin của nhà đầu tư
Năm 2011, kinh tế gặp khó khăn, lạm phát tăng cao, mức tăng của chỉ số CPImạnh nhất là vào tháng 4 năm 2011 với mức 3,32% Yếu tố này sẽ tác động trực tiếpđến chi phí đầu vào của doanh nghiệp, ngoài ra, CPI tăng cao thì sẽ dẫn đến lạm phátbuộc chính phủ phải thực hiện các biện pháp thắt chặt tiền tệ dẫn đến việc lãi suất tăngcao khiến cao khiến cho doanh nghiêp gặp khó khăn
Dòng tiền và chứng khoán đã thắt chặt trước thông tư 13 được phát hành năm
2010 nay còn thắt chặt hơn khi mà lạm phát tăng cao như vậy Đây là những nguyên
Trang 13nghiệp Hiện nay các nước ASEAN có thị trường tại chỗ tiềm năng lớn với 600 triệungười, dân số trẻ chiếm phần lớn, đô thị hóa nhanh, số người có mức thu nhập từ5.000 - 35.000 USD/năm ngày càng tăng cao…, để kích cầu thị trường nội địa, cácnước ASEAN phải trang bị hệ thống tiếp vận, hậu cần, có chính sách hỗ trợ người tiêudung, sản xuất hàng hóa với mức giá mà người tiêu dùng tiếp cận được, phát triển hệthống bán lẻ…
Dù thị trường nội địa tiềm năng như vậy, nhưng không dễ khai thác hết vì vănhóa tiêu dùng của người châu Á theo lối “tích trữ phòng cơ”, do vậy không thể sớmchiều có thể chuyển đổi vị trí giữa thị trường nội địa và xuất khẩu trong đóng góp vàongân sách của quốc gia Do đó, các nước ASEAN không thể bỏ lơ xuất khẩu, tập trungxuất khẩu sẽ vẫn duy trì trong thời gian tới Bởi lẽ suốt thời gian dài vừa qua, 60%hàng hóa được sản xuất tại khu vực này được xuất sang EU, Mỹ, Nhật Bản Bắt đầu từngày 1/10, Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (EPA) đã chính thức cóhiệu lực.Theo đó, trên 90% hàng hóa Việt Nam xuất khẩu vào Nhật được hưởng mứcthuế quan thấp hơn trước khá nhiều.Dù hiện tại hoạt động xuất khẩu đang gặp nhiềukhó khăn, nhưng mọi việc sẽ ổn khi nền kinh tế thế giới phát triển trở lại
Tại Việt Nam, việc giá xăng dầu liên tục tăng với tốc độ chóng mặt trong thờigian gần đây đã khiến giá cả của các mặt hàng tăng theo.,giá điện cũng tăng theo xuhướng này khiến nhiều doanh nghiệp đầu tư khó khăn trong quá trình sản xuất Ngoài
ra các nước thuộc khu vực Châu Á hang năm luôn đối mặt với các vấn đề thiên tai, lũlụt, điều này ảnh hưởng không nhỏ tới tăng trưởng kinh tế
Chính sách chính phủ
Năm 2009:
Vào ngày 25/11/2009, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có thông báo về việcđiều chỉnh tăng lãi suất cơ bản lên 1% Theo đó, từ ngày 01/12/2009, mức lãi suất cơbản bằng đồng Việt Nam sẽ là 8%/năm thay vì 7%/năm như trước đây Lãi suất táichiết khấu và tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước cũng lần lượt được điều chỉnh tăng1%, lên mức 6 và 8%/năm, đồng thời Ngân hàng Nhà nước vẫn áp dụng cơ chế chovay đối với đồng Việt Nam theo lãi suất tối đa 150% lãi suất cơ bản Do đó, mức lãisuất trần cho phép cũng tăng từ mức 10,5 lên mức 12%/năm
Trang 14lại tăng cường phát hành trái phiếu đã khiến dòng vốn ngân hàng đổ vào trái phiếuchính phủ làm cho các doanh nghiệp khó tiếp cận được với nguồn vốn với mức lãisuất hợp lý Trước áp lực giải quyết khó của khăn doanh nghiệp trong việc tiếp cậnnguồn vốn, chính sách tiền tệ của NHNN cũng buộc phải điều chỉnh theo hướng nớilỏng hơn vào giữa năm khi áp lực lạm phát có dấu hiệu giảm bớt vào các tháng giữanăm (mặc dù đây là thời điểm thấp điểm của lạm phát theo chu kỳ các năm) Tuynhiên, với mức lạm phát hàng tháng trong quý IV/2010 tăng cao trên 1% và khả năngmức lạm phát mục tiêu khó có thể đạt được và áp lực tỷ giá tăng cao, nên ngày5/11/2010, NHNN đã chính thức nâng mức lãi suất cơ bản tăng thêm 1%, mặc dùtrước đó vào 27/10/10, Ngân hàng Nhà nước vẫn quyết định giữ mức lãi suất này là8%/năm trong tháng 11 11
Theo đó, mức lãi suất cơ bản bằng VND sẽ là 9% thay vì 8% như trước đây, vàlãi suất tái chiết khấu và tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước cũng được điều chỉnhtăng 1% lên mức 7%/năm và 9%/năm Mặc dù vậy, chính sách tiền tệ trong năm 2010khó có thể nói là đã thắt chặt khi NHNN đã tăng tổng phương tiện thanh toán 25,3%,
và tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng là 29,81% so với năm 2010
Việc điều hành thiếu nhất quán và ổn định trong chính sách đã khiến các doanhnghiệp găp nhiều khó khăn hơn trong việc hoạch định kế hoạch và phương án kinhdoanh cũng như giảm hiệu quả của chính sách Hệ quả là một trong những rủi ro đượcnhận diện trong năm 2010 là rủi ro về chính sách đồng thời cũng khiến Việt Namkhông đạt được mục tiêu về ổn định vĩ mô và giá trị đồng tiền
Năm 2011:
Tình hình lãi suất tăng cao vào thời điểm cuối năm 2010 và tiếp tục trong năm
2011 khiến lãi suất cho vay trong 2011 luôn duy trì ở mức trên 17%, thậm chí lúc caođiểm lên tới 23% - 24% Điều này xuất phát từ hai nguyên nhân chính sau (1) Lạmphát tăng cao khiến các ngân hàng phải đẩy lãi suất huy động lên cao, có lúc lên đến18% - 19%, nhằm thu hút người gửi tiền (2) Kèm theo đó là chính sách tiền tệ thắtchặt nhằm mục tiêu kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô, khiến nhiều ngânhàng gặp khó khăn về thanh khoản và phải huy động bằng mọi giá bằng cách đẩy lãisuất huy động tăng cao hơn nữa Hệ quả là không nhiều doanh nghiệp có thể tiếp cận
Trang 15trần thông qua các hình thức khuyến mại và hợp đồng ủy thácđầu tư Chỉ đến khiNHNN ban hành Chỉ thị 02 vào ngày 7/9/2011, trong đó quy định rõ các hình thức xửphạt cùng với việc NHNN kiên quyết xử lý tổ chức tín dụng huy động vượt trần,trongtháng 9/2011 lãi suất huy động VND mới chính thức quay về mức 14%
Những diễn biến kể trên đã khiến cho tốc độ tăng trưởng huy động và tín dụngnăm 2011 đạt mức thấp kỷ lục kể từ năm 2000 trở lại đây Tín dụng ước tăng 12% vàothời điểm cuối năm, trong đó tín dụng VND tăng 10,2% và tín dụng ngoại tệ tăng18,7% Số liệu về tăng trưởng huy động cho cả năm 2011 không được NHNN công
bố Tuy nhiên, tính đến thời điểm cuối tháng 10, huy động toàn ngành ngân hàng chỉtăng 8,52% Tại thời điểm cuối năm, con số công bố của Hà Nội và TP Hồ Chí Minhlần lượt là 1,6% và 10% Như vậy, tăng trưởng huy động trên cả nước có thể đạtkhoảng trên dưới 10% cho năm 2011
Ngoài ra, tăng trưởng tín dụng còn bị cản trở bởi dòng vốn không được lưuthông tốt trong hệ thống ngân hàng Do tín dụng năm 2011 giới hạn tăng ở mức 20%,nhiều ngân hàng đã đẩy mạnh tín dụng ngay từ đầu năm, dẫn đến tình trạng dư thừavốn vào thời điểm cuối năm nhưng không thể giải ngân Trong khi đó, một số ngânhàng vẫn còn room tín dụng lại thiếu vốn để đáp ứng nhu cầu cho vay.Thêm vào đó,những quy định chặt chẽ trong Thông tư 13 và 19 khiến hai bộ phậnngân hàng nàykhó trao đổi vốn với nhau thông qua thị trường liên ngân hàng cũng như cung cấp tíndụng cho nền kinh tế Chỉ đến khi Thông tư số 22/2011/TT-NHNN ra đời vào cuốitháng 8 quy định bỏ tỷ lệ cấp tín dụng từ nguồn vốn huy động, cùng với sự ra đời củanhóm ngân hàng G12+1 với cam kết đưa mức lãi suất cho vay về mức 17% - 19% thìtình hình tăng trưởng tíndụng mới được cải thiện phần nào
Ngoài nguyên nhân lãi suất và thanh khoản, tín dụng tăng chậm còn bắt nguồn từkhó khăn nội tại của nền kinh tế do nhiều doanh nghiệp hoạt động đình trệ, thu hẹpqui mô hoặc rơi vào tình trạng phá sản Tính đến cuối tháng 9, có gần 49.000 doanhnghiệp đã dừng hoạt động, dừng nộp thuế, hoặc đã giải thể, phá sản, đóng cửa; tăng11.000 doanh nghiệp so với năm 2010 (tương đương 28%), trong đó, phá sản, giải thể
là 5.800 doanh nghiệp Do đó, tăng trưởng tín dụng khó có thể tăng trưởng tốt trongthời gian này do nhu cầu giảm sút
Đầu tháng 3, NHNN đã ban hành Chỉ thị 01/CT-NHNN yêu cầu các TCTD giảm
tỷ lệ cho vay phi sản xuất xuống 22% vào cuối tháng 6 và 16% vào cuối năm 2011.Theo báo cáo của NHNN, tính đến hết tháng 10 vẫn còn nhiều ngân hàng có tỷ trọngtín dụng phi sản xuất từ 17% - 19% trong đó cho vay bất động sản chiếm 85% - 90%,
Trang 16cho thấy một số ngân hàng khó có thể đưa tỷ trọng này về 16% vào cuối năm Tuynhiên, với quy định mới của NHNN về cách phân loại tín dụng phi sản xuất, tỷ lệ nàycủa các ngân hàng sẽ giảm đi đáng kể và có khả năng thực hiện được yêu cầu đưa racủa NHNN
Ngoài ra, NHNN cũng đưa ra chính sách yêu cầu các NHTM phải dành tối thiểu20% tổng dư nợ để đảm bảo tín dụng cho lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn, ngânhàng nào không có điều kiện cho vay thì phải chuyển một số vốn tương ứng choAgribank thực hiện việc cho vay này Sự thay đổi này là một bước đi phù hợp nhằmgiảm thiểu rủi ro khi quá nhiều vốn chảy vào các lĩnh vực kinh doanh rủi ro và tạomột cơ cấu tín dụng khỏe mạnh và bền vững hơn cho nền kinh tế
Ảnh hưởng của chu kỳ kinh doanh
Khái niệm chu kỳ kinh doanh
Chu kỳ kinh doanh được hiểu là sự biến động của các hoạt động kinh tế ngắnhạn trong một thời kỳ nhất định, trong đó các giai đoạn tăng trưởng và các giai đoạnsuy giảm luân chuyển lẫn nhau không ngừng Là mô hình lặp lại của quá trình suythoái và phục hồi
Chu kỳ kinh doanh là một loại dao động được nhận thấy trong các hoạt độngkinh tế tổng hợp của những quốc gia mà tổ chức công việc chủ yếu của họ diễn ratrong các đơn vị sản xuất kinh doanh: một chu xdkỳ gồm có các quá trình mở rộng sảnxuất xuất hiện vào các khoảng thời gian giống nhau ở rất nhiều hoạt động kinh tế, kếtheo là các giai đoạn giảm sút, thu hẹp và các giai đoạn phục hồi tương tự mà nhữnggiai đoạn này hợp nhất vào giai đoạn mở rộng của chu kỳ tiếp theo; quá trình thay đổiliên tiếp này thường xuyên diễn ra nhưng không mang tính định kỳ
Lịch sử phát triển kinh tế của nhiều nước khác nhau, nhất là của những nướccông nghiệp phát triển, đã trải qua nhiều chu kỳ kinh doanh khác nhau Song thực tếcho thấy, chu kỳ kinh doanh ở nước nào cũng lặp đi lặp lại không theo một độ dàithời gian giống nhau, không theo một biên độ dao động giống nhau về các kết quảhoạt động kinh tế vĩ mô như GDP (theo giá so sánh), thất nghiệp, lạm phát Do vậy,rất khó dự báo trước được với độ chính xác cao Sự kế tiếp nhau các chu kỳ kinhdoanh có thể được mô tả một cách hình thức theo đồ thị sau đây:
Trang 17Ở đồ thị trên:
- Đỉnh là điểm cao nhất mà GDP đạt tới trong một chu kỳ
- Đáy là điểm thấp nhất mà GDP giảm xuống trong một chu kỳ
- Giai đoạn suy giảm của chu kỳ được xét là khoảng thời gian giữa đỉnh của chu
kỳ liền trước với đáy của chu kỳ được xét
- Giai đoạn tăng trưởng của chu kỳ được xét là khoảng thời gian giữa đáy củachu kỳ được xét với đỉnh của chu kỳ liền sau
Mặc dù đã đơn giản hoá thực tế đi rất nhiều, song đồ thị mô tả sự kế tiếp nhaucác chu kỳ kinh doanh được vẽ ở trên cũng chứa đựng ba điểm đáng lưu ý sau:
- Đỉnh được xét đều cao hơn đỉnh liền trước, đáy được xét đều sâu hơn đáy liền sau
- Giai đoạn tăng trưởng thường dài hơn giai đoạn suy giảm
- Các chu kỳ kinh doanh thường khác nhau về độ dài thời gian
Các chu kỳ kinh doanh ở nước ta từ sau Đổi mới
Sau hơn 20 năm đổi mới nước ta đã trải qua ba giai đoạn suy thoái chu kỳ vớitần suất từ 9-10 năm Lần đầu tiên là năm 1989-1990 khi tăng trưởng GDP trung bìnhchỉ đạt 4,9% trong khi tỷ lệ thất nghiệp lên đến 13% năm 1989 và 9% năm 1990
Từ năm 1990, sau khi tư duy cải cách thực sự được chuyển hóa thành các chínhsách kinh tế và đi vào cuộc sống, nền kinh tế đã nhanh chóng vượt qua giai đoạn khókhăn và bước vào thời kỳ phát triển mạnh với tốc độ tăng GDP bình quân 8,2%/nămtrong giai đoạn 1991-1995, đạt mức cao nhất trong chu kỳ là 9,5% năm 1994, thấtnghiệp chỉ còn 5,8%
Từ năm 2000-nay, việc tiếp tục kiên trì đường lối đổi mới với nhiều cải cáchmạnh mẽ, đặc biệt là sự ra đời Luật Doanh nghiệp đã giải phóng nguồn lực dồi dàotrong khu vực dân doanh GDP liên tục tăng qua các năm và đạt 8,5% năm 2007, thất
Thu hẹp Mở rộng Thu hẹp Mở rộng Thu hẹp
Cực đại
Cực đại
Cực tiểu
Cực tiểu
Trang 18nghiệp giảm xuống chỉ còn 4,2% Tuy nhiên, để đạt được kết quả đó, trong giai đoạn2003-2007 cung tiền cũng tăng cao trung bình 25%/năm, tín dụng nội địa tăng trên35%/năm và đạt mức cao nhất thế giới là 53% trong năm 2007.
Ảnh hưởng của chu kỳ kinh doanh đến TTCK Việt Nam
Nền kinh tế trong suốt xu hướng vận động dài hạn của nó phải trải qua nhiều chu
kỳ Mỗi chu kỳ đều gồm một giai đoạn mở rộng, tăng trưởng lên đến đỉnh điểm, sau
đó là giai đoạn thu hẹp, suy thoái và chạm đáy Thị trường chứng khoán cũng vậy,luôn có tính chu kỳ và lấy nền kinh tế làm nền tảng
Năm 2009
Đầu năm 2009, chỉ số VN-Index ở mức 313.3 điểm và dao động dưới mức nàytrong 2 tháng đầu với đáy là 241.5 điểm vào ngày 03/03 Từ đó chỉ sô VN-Index đã cóbước phục hồi thần kỳ với đà tăng mạnh liên tiếp cho đến giữa tháng 6, sau đó từ nửasau tháng 6 đến gần cuối tháng 7, chỉ số VN-Index có những bước điều chỉnh khá nhẹ.Bắt đầu từ tháng 8 đến nửa đầu tháng 10 tiếp tục ghi nhận đà tăng mạnh mới khi thiếtlập đỉnh trong năm ở mức 617.4 điểm vào ngày 17/10 Các tháng cuối năm 2009 ghinhận sự giằng co của chỉ số VN-Index và kết thúc năm 2009 ở mức 494.8 điểm, tăng181.5 điểm (tương ứng 57.9%)
Năm 2010
Trang 19Mở đầu phiên giao dịch năm 2010, chỉ số VN-Index đã có bước tăng mạnh mẽ
từ 494,8 điểm lên 517,1 điểm (tăng 23,3 điểm) Trong suốt năm 2010, chỉ số Index hầu như chỉ dao động trong khoảng 420-540 điểm, với đỉnh là 549,5 điểm ngày06/05 và đáy là 423,9 điểm ngày 25/08 Kết thúc năm 2010, chỉ số VN-Index chốt ởmức 484,7 điểm, giảm 10,1 điểm tương ứng 2,04%
VN-Năm 2011
Chỉ số VN-Index mở đầu năm 2011 ở mức 484,7 điểm và chỉ có dấu hiệu đi lêntrong 2 tháng đầu năm với mức đỉnh là 522,5 điểm ngày 09/02 Sau đó là chuỗi ngàygiảm điểm liên tục và dốc đứng, thậm chí từ ngày 12/05 đến 25/05 là 10 phiên giảmliên tục làm bốc hơi gần 100 điểm (từ 482,1 điểm còn 386,4 điểm), sau đó tăng lên lạilại thành đồ thị hình nến ngược trong tháng 5 Trong giai đoạn từ 25/08 đến 14/09 là
xu hướng ngược lại tháng 5 với 13 phiên tăng điểm liên tiếp từ 401,7 điểm lên 469,4điểm Đó được coi là lần vụt sang duy nhất trong năm 2011, sau đó là chuỗi giảmthẳng để lập mức đáy mới là 347,8 điểm Kết thúc giao dịch năm 2011, VN-Indexchốt ở mức 351,6, giảm 133,1 điểm tương ứng 27,5 % so với đầu năm
Trang 20CHƯƠNG III :
PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG NGÀNH TÁC ĐỘNG ĐẾN CỔ PHIẾU NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU (MÃ CP: ACB)
Phân tích ngành có vai trò quan trọng với cùng những lý do như phân tích kinh
tế vĩ mô: một ngành khó mà hoạt động tốt khi nền kinh tế vĩ mô đang ốm yếu; tương tựnhư vậy, doanh nghiệp trong một ngành đang gặp rắc rối thì thường cũng không hoạtđộng tốt được
3.1.Sự nhạy cảm của của chu kì kinh doanh
3.1.1 Sự nhạy cảm của doanh thu:
Với đặc thù ngành hoạt động trong lĩnh vực tài chính nên ngành ngân hàng códoanh thu rất nhạy cảm với các điều kiện kinh tế vĩ mô như lạm phát và các chínhsách tiền tệ của chính phủ Mỗi thay đổi của nền kinh tế đều có tác động tới hoạt độngchung của ngành, vì vậy ngân hàng là nhanh có tính chu kì cao
Đồ thị tăng trưởng ngân hàng 2009
Trang 21Năm 2010:
Tác động của các chính sách vĩ mô
Ngành ngân hàng trong năm 2010 đã đối mặt với nhiều khó khăn đáng kể nhưnhững thay đổi về chính sách vĩ mô liên quan đến tỷ giá, biến động lãi suất trên thịtrường, cạnh tranh huy động (đặc biệt trở nên gay gắt hơn vào nửa cuối năm 2010).Trong khi đó, các ngân hàng vẫn phải chịu sức ép hạ lãi suất cho vay theo hướng dẫncủa NHNN, kéo theo lợi nhuận từ lãi của các ngân hàng bị giảm đáng kể Tăng trưởngtín dụng của hệ thống ngân hàng cả năm 2010 theo NHNN ước khoảng 29.81% (trong
đó tăng trưởng tín dụng bằng ngoại tệ cao hơn hẳn với 49.3%, trong khi VND là25.3%) Con số này đã vượt chỉ tiêu do NHNN đề ra từ đầu năm là 25
Đa số các ngân hàng hầu như không đạt được chỉ tiêu về huy động theo như kếhoạch Mặc dầu vậy, cũng có một số ngân hàng lớn như VCB, CTG, STB, và MB cókhả năng đạt hoặc vượt kết quả kinh doanh theo như kế hoạch đề ra
MỘT SỐ CHỈ TIÊU NGÀNH NGÂN HÀNG 3 QUÝ ĐẦU NĂM 2010
DVT: TỶ ĐỒNG
Trang 22Trong quý 4/2010, tăng trưởng tín dụng của toàn ngành ước đạt khá cao (khoảnghơn 12%) do nhu cầu vốn cho thanh toán của các doanh nghiệp đặc biệt tăng cao vàocuối năm Lãi suất huy động trong quý 4 cũng tăng cao do nhu cầu đáp ứng thanhkhoản của ngân hàng vào cuối năm
Năm 2011:
Là 1 năm nhiều biến động về tình hình kinh tế vĩ mô, điển hình như Nghị Quyết
11 tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội Trong
đó, thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng; thực hiện chính sách tài khóa thắtchặt, cắt giảm đầu tư công, giảm bội chi ngân sách nhà nước…, lãi suất huy động vàlãi suất vay tăng liên tục tới khi có quy định trần 14% của NHNN, việc điều chỉnh tỷgiá 9,3%, xảy ra hàng loạt vụ vỡ nợ tín dụng đen, giá vàng biến động mạnh, TTCK rớtgiá thê thảm, và công cuộc tái cấu trúc ngành ngân hàng đã ảnh hưởng rất lớn tới lợinhuận ròng của các ngân hàng mặc dù doanh thu thuần tăng so với năm 2010 Mức lợinhuận của ngành ngân hàng Việt Nam trong năm 2011 chỉ ở mức trung bình và thấphơn năm trước Cụ thể, lợi nhuận của năm 2011 tăng 15,1% so với năm 2010, trongkhi tốc độ tăng vốn chủ sở hữu 22,85% và tốc độ tăng quy mô tài sản có 18,55% Hai chỉ số quan trọng nhất phản ánh hiệu quả kinh doanh và tỷ suất sinh lời củacác tổ chức tín dụng là chỉ số ROA (lợi nhuận so với tổng tài sản) và ROE (lợi nhuận
so với vốn chủ sở hữu) năm 2011 ở mức thấp hơn năm 2010 Cụ thể, ROA của ngànhnăm 2011 đạt 1,09% và ROE đạt 11,86%, từ mức lần lượt 1,29% và 14,56% của năm2010
Tính chất tổng hợp đó ngày càng phức tạp hơn cho việc đánh giá các thiệt hại docung ứng từng dịch vụ bởi vì rất khó có thể phân chia chúng từ trong mối liên kết Do
đó các ngân hàng truyền thống thường định hướng tới việc xác định tổng lợi nhuận mà
Trang 23ngân hàng còn yếu ớt Tuy nhiên sự cạnh tranh mạnh mẽ ngày càng tăng từ phía các tổchức ngân hàng cũng như các tổ chức phi ngân hàng đã làm suy yếu đáng kể sự canthiệp của Chính phủ trong việc hình thành giá của ngân hàng Từ đó giá cả trong kinhdoanh ngân hàng có cơ hội vận động theo quy luật cung cầu như các giá cả của cáchàng hoá khác.
Thực tiễn hoạt động của các ngân hàng trên thế giới đã tích luỹ được nhiều kinhnghiệm trong việc vạch chiến lược hình thành giá cả
Giá cả trong hoạt động ngân hàng chính là chi phí mà khách hàng phải trả chongân hàng để được sử dụng các dịch vụ do ngân hàng cung cấp Vì thế, chỉ 1 thay đổinhỏ trong lãi suất cũng ảnh hưởng rất lớn tới lợi nhuận của ngân hàng
3.1.3 Đòn bẩy tài chính
Với hoạt động kinh doanh chính là hoạt động huy động và cho vay, có thể thấynguồn vốn chính trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng là từ vốn vay, vì vậyđòn bẩy tài chính là 1 công cụ không thể thiếu trong ngành ngân hàng Đi kèm với đònbẩy tài chính lớn là rủi ro về thanh khoản cũng như rủi ro về nợ xấu
3.2 Chu kì sống của ngành
Chu kì sống của ngành trải qua 4 giai đoạn :Giai đoạn khởi điểm (giới thiệu), giaiđoạn phát triển (củng cố), giai đoạn chín muồi (sung mãn), giai đoạn suy thoái Khi nềnkinh tế đi qua các giai đoạn khác nhau trong chu kỳ kinh doanh, lợi nhuận tương đốicủa các nhóm ngành khác nhau dự kiến cũng thay đổi theo môi trường vĩ mô
Trang 24Biểu đồ : chu kì sống của ngành
Sau 1 thời gian tăng trưởng nhanh cả về số lượng với hàng chục ngân hàng lớnnhỏ từ 1991 – 2007, tỉ lệ tăng trưởng của ngành đã có dấu hiệu chững lại Bên cạnh đóviệc tái cấu trúc ngành dẫn đến sự sát nhập nhiều ngân hàng đã cho thấy ngành ngânhàng Việt Nam đang dần bước vào giai đoạn ổn định và hoàn thiện hơn nhằm có khảnăng thích ứng kịp thời với những biến đổi của nền kinh tế Có thể nói đây là giaiđoạn củng cố của ngành ngân hàng
Giai đoạn củng cố Sau khi một sản phẩm đã được thiết lập, các đơn vị dẫn đầungành bắt đầu nổi lên Những công ty sống sót từ giai đoạn khởi sự sẽ ổn định hơn, và thịphần dễ dàng dự đoán hơn Do đó, kết quả của các công ty tồn tại sẽ theo sát hơn với kếtquả của toàn ngành nói chung Ngành vẫn tăng trưởng nhanh hơn phần còn lại của nềnkinh tế khi sản phẩm thâm nhập thương trường và trở nên được sử dụng phổ biến hơn
Trang 25mở cửa dần theo lộ trình bảy năm Ngành ngân hàng đã có những thay đổi cơ bản khicác tổ chức tài chính nước ngoài có thể nắm giữ cổ phần của các ngân hàng Việt Nam
và sự xuất hiện của các ngân hàng 100% vốn nước ngoài
Ngay từ năm 2006, Việt Nam đã gỡ bỏ dần các hạn chế về tỷ lệ tham gia cổ phầntrong ngành ngân hàng của các định chế tài chính nước ngoài theo cam kết trong Hiệpđịnh thương mại với Hoa Kỳ
Còn theo các cam kết trong khuôn khổ Hiệp định chung về hợp tác thương mạidịch vụ (AFAS) của Hiệp hội các nước ASEAN, Việt Nam phải gỡ bỏ hoàn toàn cácquy định về khống chế tỷ lệ tham gia góp vốn, dịch vụ, giá trị giao dịch của các ngânhàng nước ngoài từ năm 2008
Đã có năm ngân hàng 100% vốn nước ngoài được cấp phép thành lập tại ViệtNam Tuy nhiên khi nhìn vào con số các ngân hàng nước ngoài có văn phòng đại diệntại Việt Nam và các ngân hàng nước ngoài có vốn cổ phần trong các ngân hàngthương mại nội địa, số ngân hàng 100% vốn nước ngoài nhất định sẽ còn tăng lêntrong tương lai
Các ngân hàng nước ngoài là vậy, rào cản cho sự xuất hiện của các ngân hàng cónguồn gốc nội địa đang được nâng cao lên sau khi Chính phủ tạm ngưng cấp phépthành lập ngân hàng mới từ tháng 8-2008 Ngoài các quy định về vốn điều lệ, quãngthời gian phải liên tục có lãi, các ngân hàng mới thành lập còn bị giám sát chặt bởiNgân hàng Nhà nước Tuy nhiên điều đó sẽ không thể ngăn cản những doanh nghiệp,
đủ điều kiện, tham gia vào ngành ngân hàng một khi Chính phủ cho phép thành lậpngân hàng trở lại
Rào cản gia nhập còn được thể hiện qua các phân khúc thị trường, thị trườngmục tiêu mà các ngân hàng hiện tại đang nhắm đến, giá trị thương hiệu cũng như cơ
sở khách hàng, lòng trung thành của khách hàng mà các ngân hàng đã xây dựng được.Những điều này đặc biệt quan trọng bởi vì nó sẽ quyết định khả năng tồn tại của mộtngân hàng đang muốn gia nhập vào thị trường Việt Nam
Một khi các ngân hàng hiện tại đã xây dựng được cho mình một thương hiệu bềnvững, với những sản phẩm, dịch vụ tài chính hiệu quả và khác biệt cộng với một cơ sởkhách hàng đông đảo và trung thành, chi phí chuyển đổi (switching cost) để lôi kéo kháchhàng của ngân hàng mới thành lập sẽ cực kỳ cao và do đó họ bắt buộc phải cân nhắc thật
kỹ trước khi quyết định gia nhập thị trường hay không Thực tế trên thị trường ngànhngân hàng Việt Nam cho thấy chi phí chuyển đổi nhìn chung không cao do các ngân hàngchưa thật sự tạo được điểm khác biệt về chiến lược sản phẩm, dịch vụ
Trang 26Một yếu tố có thể làm tăng chi phí chuyển đổi lên một chút và tạo một lợi thếcạnh tranh cho các ngân hàng đang hoạt động là hệ thống phân phối Các ngân hàngthành lập sau này sẽ gặp khá nhiều rắc rối trong việc tìm một địa điểm ưng ý để đặtvăn phòng chính cũng như các chi nhánh văn phòng giao dịch bởi vì các vị trí đẹp vàtiện lợi đều đã bị các ngân hàng đang hoạt động dành mất Tuy vậy, các ngân hàngthành lập sau này vẫn có thể dựa vào lợi thế công nghệ để phát triển hệ thống kinhdoanh của mình thông qua Internet banking hoặc hệ thống ATM.
Nhìn vào ngành ngân hàng Việt Nam hiện tại trong bối cảnh Việt Nam cũng nhưthế giới đang bị bao trùm bởi cuộc khủng hoảng kinh tế, rào cản gia nhập khá caokhiến cho nguy cơ xuất hiện ngân hàng mới trong tương lai gần là khá thấp Nhưngmột khi kinh tế thế giới hồi phục cộng với sự mở cửa của ngành ngân hàng theo cáccam kết với WTO và các tổ chức khác, sự xuất hiện của các ngân hàng mới là mộtđiều gần như chắc chắn
3.3.2 Nguy cơ bị thay thế
Cơ bản mà nói, các sản phẩm và dịch vụ của ngành ngân hàng Việt Nam có thểxếp vào 5 loại:
• Là nơi nhận các khoản tiền (lương, trợ cấp, cấp dưỡng…)
• Là nơi giữ tiền (tiết kiệm…)
• Là nơi thực hiện các chức năng thanh toán
• Là nơi cho vay tiền
• Là nơi hoạt động kiều hối
Đối với khách hàng doanh nghiệp, nguy cơ ngân hàng bị thay thế không cao lắm
do đối tượng khách hàng này cần sự rõ ràng cũng như các chứng từ, hóa đơn trong cácgói sản phẩm và dịch vụ của ngân hàng Nếu có phiền hà xảy ra trong quá trình sửdụng sản phẩm, dịch vụ thì đối tượng khách hàng này thường chuyển sang sử dụngmột ngân hàng khác vì những lý do trên thay vì tìm tới các dịch vụ ngoài ngân hàng.Đối với khách hàng tiêu dùng thì lại khác, thói quen sử dụng tiền mặt khiến chongười tiêu dùng Việt Nam thường giữ tiền mặt tại nhà hoặc nếu có tài khoản thì khi cótiền lại rút hết ra để sử dụng Các cơ quan Chính phủ và doanh nghiệp trả lương quatài khoản ngân hàng nhằm thúc đẩy các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt,
Trang 27Ngay ở các siêu thị, người tiêu dùng cũng phải chờ đợi nhân viên đi lấy máy đọcthẻ hoặc đi tới một quầy khác khi muốn sử dụng thẻ để thanh toán Chính sự bất tiệnnày cộng với tâm lý chuộng tiền mặt đã khiến người tiêu dùng muốn giữ và sử dụngtiền mặt hơn là thông qua ngân hàng.
Ngoài hình thức gửi tiết kiệm ở ngân hàng, người tiêu dùng Việt Nam còn cókhá nhiều lựa chọn khác như giữ ngoại tệ, đầu tư vào chứng khoán, các hình thức bảohiểm, đầu tư vào kim loại quý (vàng, kim cương…) hoặc đầu tư vào nhà đất Đó làchưa kể các hình thức không hợp pháp như “chơi hụi” Không phải lúc nào lãi suấtngân hàng cũng hấp dẫn người tiêu dùng Chẳng hạn như thời điểm này, giá vàngđang sốt, tăng giảm đột biến trong ngày, trong khi đô la Mỹ ở thị trường tự do cũngbiến động thì lãi suất tiết kiệm của đa số các ngân hàng chỉ ở mức 7-8% một năm
3.3.3 Quyền lực của khách hàng
Sự kiện nổi bật gần đây nhất liên quan đến quyền lực của khách hàng có lẽ làviệc các ngân hàng quyết định thu phí sử dụng ATM trong khi người tiêu dùng khôngđồng thuận Trong vụ việc này, ngân hàng và khách hàng ai cũng có lý lẽ của mìnhnhưng rõ ràng nó đã ảnh hưởng không ít đến mức độ hài lòng và lòng tin của kháchhàng Nhưng không vì thế mà ta có thể đánh giá thấp quyền lực của khách hàng trongngành ngân hàng tại Việt Nam
Điều quan trọng nhất vẫn là: việc sống còn của ngân hàng dựa trên đồng vốn huyđộng được của khách hàng Nếu không còn thu hút được dòng vốn của khách hàng thìngân hàng tất nhiên sẽ bị đào thải Trong khi đó, như đã nói ở phần trên, nguy cơ thaythế của ngân hàng ở Việt Nam, đối với khách hàng tiêu dùng, là khá cao Với chi phíchuyển đổi thấp, khách hàng gần như không mất mát gì nếu muốn chuyển nguồn vốncủa mình ra khỏi ngân hàng và đầu tư vào một nơi khác
3.3.4 Quyền lực của các nhà cung cấp
Khái niệm nhà cung cấp trong ngành ngân hàng khá đa dạng Họ có thể là những
cổ đông cung cấp vốn cho ngân hàng hoạt động, hoặc là những công ty chịu tráchnhiệm về hệ thống hoặc bảo trì máy ATM Hiện tại ở Việt Nam các ngân hàng thường
tự đầu tư trang thiết bị và chọn cho mình những nhà cung cấp riêng tùy theo điều kiện.Điều này góp phần giảm quyền lực của nhà cung cấp thiết bị khi họ không thể cungcấp cho cả một thị trường lớn mà phải cạnh tranh với các nhà cung cấp khác Tuynhiên khi đã tốn một khoản chi phí khá lớn vào đầu tư hệ thống, ngân hàng sẽ khôngmuốn thay đổi nhà cung cấp vì quá tốn kém, điều này lại làm tăng quyền lực của nhàcung cấp thiết bị đã thắng thầu
Trang 28Quyền lực của các cổ đông trong ngành ngân hàng thì như thế nào? Không nhắcđến những cổ đông đầu tư nhỏ lẻ thông qua thị trường chứng khoán mà chỉ nói đếnnhững đại cổ đông có thể có tác động trực tiếp đến chiến lược kinh doanh của mộtngân hàng Nhìn chung hầu hết các ngân hàng Việt Nam đều nhận đầu tư của mộtngân hàng khác Quyền lực của nhà đầu tư sẽ tăng lên rất nhiều nếu như họ có đủ cổphần và việc sáp nhập với ngân hàng được đầu tư có thể xảy ra Ở một khía cạnh khác,ngân hàng đầu tư sẽ có một tác động nhất định đến ngân hàng được đầu tư.
3.3.5 Cường độ cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành
Trong năm 2008, McKinsey dự báo doanh số của lĩnh vực ngân hàng bán lẻ ởViệt Nam có thể tăng trưởng đến 25% trong vòng 5-10 năm tới, đưa Việt Nam trởthành một trong những thị trường ngân hàng bán lẻ có tốc độ cao nhất châu Á Tuykhủng hoảng kinh tế làm cho tốc độ tăng trưởng chậm lại, tác động xấu tới ngànhngân hàng nhưng thị trường Việt Nam chưa được khai phá hết, tiềm năng còn rất lớn.Ảnh hưởng tạm thời của cuộc khủng hoảng kinh tế sẽ khiến cho các ngân hàng gặpkhó khăn trong việc tìm kiếm khách hàng mới, dẫn đến việc cường độ cạnh tranh sẽtăng lên Nhưng khi khủng hoảng kinh tế qua đi, với một thị trường tiềm năng còn lớnnhư Việt Nam, các ngân hàng sẽ tập trung khai phá thị trường, tìm kiếm khách hàngmới, dẫn đến cường độ cạnh tranh có thể giảm đi
Cường độ canh tranh của các ngân hàng càng tăng cao khi có sự xuất hiện củanhóm ngân hàng 100% vốn nước ngoài Ngân hàng nước ngoài thường sẵn có mộtphân khúc khách hàng riêng, đa số là doanh nghiệp từ nước họ Họ đã phục vụ nhữngkhách hàng này từ rất lâu ở những thị trường khác và khi khách hàng mở rộng thịtrường sang Việt Nam thì ngân hàng cũng mở văn phòng đại diện theo
Ngân hàng ngoại cũng không vướng phải những rào cản mà hiện nay nhiều ngânhàng trong nước đang mắc phải, điển hình là hạn mức cho vay chứng khoán, nợ xấutrong cho vay bất động sản Họ có lợi thế làm từ đầu và có nhiều chọn lựa trong khivới không ít ngân hàng trong nước thì điều này là không thể Ngoài ra, ngân hàngngoại còn có không ít lợi thế như hạ tầng dịch vụ hơn hẳn, dịch vụ khách hàng chuyênnghiệp, công nghệ tốt hơn (điển hình là hệ thống Internet banking)
Quan trọng hơn nữa, đó là khả năng kết nối với mạng lưới rộng khắp trên nhiều
Trang 29sẵn Ngân hàng trong nước sẵn sàng linh hoạt cho vay với mức ưu đãi đối với nhữngkhách hàng quan trọng của họ.
3.3.6 Xu hướng trong ngành ngân hàng
Hiện nay Việt Nam đang có quá nhiều ngân hàng nhưng chưa có một ngân hàngthực sự mạnh tầm cỡ quốc tế Nhìn chung, các ngân hàng đã đua nhau mở rộng quy
mô mạng lưới để huy động nhiều vốn (phát triển theo chiều rộng) Việc này dẫn đếntình trạng các ngân hàng đang cạnh tranh quyết liệt với nhau trong hoạt động tín dụng
mà quên mất các sản phẩm và dịch vụ tiện ích kèm theo (chiều sâu) Đồng thời, cácngân hàng mở rộng quy mô nhưng do thiếu nguồn nhân lực có chất lượng cho nêncông tác quản trị lại không theo kịp quy mô phát triển
Khủng hoảng kinh tế cũng mang lại rất nhiều khó khăn cho ngành ngân hàng,một số ngân hàng đã không thể duy trì được mức tăng trưởng trong năm vừa qua
Trang 30CHƯƠNG 4:
PHÂN TÍCH VÀ ĐỊNH GIÁ TRÁI PHIẾU4.1 Khái quát về thị trường trái phiếu Việt Nam
Nền kinh tế được chi phối chủ yếu bởi hệ thống ngân hàng
Tín dụng ngân hàng chiếm 135% GDP năm 2010, gấp 4 lần giá trị củaTTCKVN, và khoảng 10 lần giá trị của trái phiếu trong nước
Thị trường TPVN có quy mô khá nhỏ so với các nước trong khu vực và TPchính phủ chiếm đa số
Trái phiếu doanh nghiệp chỉ chiếm 8% tổng giá trị trái phiếu trong nước, cuốinửa đầu 2012
Thanh khoản thị trường thấp
Chưa có đường cong lãi suất chuẩn
4.2 Trái phiếu ngân hàng ACB
4.2.1 Các đợt phát hành trái phiếu từ năm 2009 - 2011:
Đợt phát hành 3.000 tỷ VND trái phiếu đáo hạn năm 2020
(trái phiếu 10 năm 1 ngày)