1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận môn thủy văn môi trường

20 686 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bằng phương pháp quan sát, thu thập thông tin, kiểm kê và phân tích dữ liệu, số liệu về các đặc trưng, hình thái và cấu trúc của vũng – vịnh để có thể phân loại các dạng tồn tại của hệ t

Trang 1

Mục Lục



Chương mở đầu 2

Chương I: Khái quát về vũng -vịnh ở Việt Nam 2

1.1 Khái niệm vũng-vịnh 2

1.2 Tổng quan hệ thống vũng – vịnh ven bờ biển Việt Nam 3

1.3 Các yếu tố hình thái cơ bản của vũng – vịnh 4

Chương II: Phân loại các dạng vũng - vịnh ven bờ 4

2.1 Phân loại vũng - vịnh dựa vào kiểu loại và tính chất chuyển tiếp về hình 5

2.2 Phân loại vũng - vịnh theo quy mô 5

2.3 Phân loại vũng – vịnh theo độ sâu 5

2.4 Phân loại vũng – vịnh theo hình thức tạo vịnh và cấu tạo thạch học bờ 6

2.5 Phân vùng vũng – vịnh ven bờ biển Việt Nam 8

Chương kết luận 17

Tài liệu tham khảo 19

Trang 2

Chương mở đầu

Vũng - vịnh ven bờ biển phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới Nhiều trung tâm kinh tế, đô thị và cảng biển lớn cỡ Quốc tế phát triển gắn với vũng vịnh ven bờ biển

Việt Nam có vùng biển chủ quyền rộng khoảng 1.000.000 km2 và bờ biển dài trên 3200km với 3 loại địa hệ ven bờ tiêu biểu là các vũng – vịnh, vùng cửa sông (hình phễu, châu thổ và liman) và đầm phá Chúng là kết quả tương tác giữa các quá trình nội sinh và ngoại sinh, là kết quả tương tác giữa các yếu tố động lực ngoại sinh sông, sóng và thủy triều ở dải bờ biển Mỗi loại có những đặc trưng riêng không chỉ về mặt hình thái mà về quá trình tiến hóa bờ, động lực hình thành và tổ hợp các dạng địa hình phản ánh đặc trưng hình thái đó Dưới góc độ địa lý tự nhiên – địa mạo chúng là các địa hệ ven bờ Dưới góc độ địa chất đó là các thể địa chất hiện đại Dưới góc độ trầm tích học, chúng là các nhóm tướng trầm tích theo nguồn góc phát sinh Dưới góc độ sinh thái, chúng là các hệ sinh thái lớn và quan trọng ở dải bờ biển, bao gồm các tiểu hệ thành phần

Trong phạm vi hạn hẹp của tiểu luận nên em chỉ nghiên cứu về một loại địa hình ven bờ biển Việt Nam đó là hệ thống vũng – vịnh và các dạng tồn tại của chúng Trong khi nghiên cứu không khỏi những thiếu sót, mong thầy cô và các bạn giúp đỡ, đóng góp ý kiến để em có thể bổ sung và hoàn thiện bài tiểu luận cũng như kiến thức của bản thân

Bằng phương pháp quan sát, thu thập thông tin, kiểm kê và phân tích dữ liệu,

số liệu về các đặc trưng, hình thái và cấu trúc của vũng – vịnh để có thể phân loại các dạng tồn tại của hệ thống vũng – vịnh ven bờ biển Việt Nam

Chương I: Khái quát về vũng -vịnh ở Việt Nam

1.1 Khái niệm vũng-vịnh

Theo “Từ điển Địa chất giải thích” (Nguyễn Văn Chiển và nnk, 1979) thì "Vịnh

là phần biển ăn sâu vào lục địa, có cửa mở rộng ra phía khơi với chiều rộng đáng

kể Vũng biển là phần biển ăn sâu vào lục địa, nối với ngoài khơi thường chỉ bằng các khe, lạch không lớn Vũng biển còn được gọi là vịnh nhỏ"

Trang 3

Theo từ điển Việt Nam thì vũng – vịnh ven bờ biển Việt Nam được hiểu là một phần của biển lõm vào lục địa hoặc do đảo chắn tạo thành một vùng nước khép kín

ở mức độ nhất định mà trong đó động lực biển thống trị

Có thể so sánh thuật ngữ tương đương với nước ngoài như sau:

1.1.1 Vịnh biển (Gulf): Nằm trên một vùng rộng lớn của thềm lục địa, hoặc vùng

biển nước sâu Trên đáy có thể có mặt trầm tích di tích hoặc các di tích các dạng địa hình cổ

1.1.2 Vịnh ven bờ (Bay): Nằm trong dải bờ biển, độc lập hoặc là một phần của vịnh

biển, độ sâu thường không vượt quá 30m, là nơi xảy ra quá trình bờ mạnh mẽ và tương tác lục địa và biển rất rõ Thường không có mặt các trằm tích di tích

1.1.3 Vịnh bờ đá (Embayment): Nằm trong dãi bờ biển, độc lập hặc là một phần

của vịnh biển Bờ xâm thực mài mòn ưu thế Bờ đá gốc là chủ yếu

bờ Vùng lõm khá thoải và tương đối hở Đường bờ thường khá đơn giản

Khá kín, hình thái đường bờ thường khúc khuỷu phức tạp kiểu tùng và áng

1.2 Tổng quan hệ thống vũng – vịnh ven bờ biển Việt Nam

Các vũng – vịnh ven bờ biển Việt Nam được tạo nên do các mũi nhô, bán đảo, đảo chắn, đa dạng về kiểu loại, hình dáng và kích thước, phân bố rộng rãi nhưng tập trung chủ yếu ở vùng biển Đông Bắc, tạo nên bộ phận cấu trúc hình thái của kiểu bờ dalmatic và karst cấu tạo từ các đá vụng nguyên và cacbonat, và ở vùng

bờ biển miền trung (từ Thanh hóa tới Vũng Tàu), tạo nên bộ phận cấu trúc của kiểu

bờ riat đang trong giai đoạn san bằng bờ, cấu tạo từ các đá vụn lục nguyên và macma Động lực phát triển bờ vịnh chủ yếu là sóng thống trị, trừ vịnh Hạ Long đông bắc triều thống trị Trao đổi nước trong vịnh thường rất tốt, hay có mặt bãi cát biển, thềm mài mòn và vách đá, rạn san hô Bờ vách nói chung khá ổn định

Hệ thống vũng – vịnh ven bờ gồm có 48 chiếc với tổng diện tích khoảng 4000km2, phân bố kéo dài trên 10 vĩ độ Bắc dọc bờ biển, từ bắc vào Nam, thuộc các vùng địa lý khác nhau, có tính chất và mức độ tập trung khác nhau Mặc dù diện

Trang 4

tích mặt nước các vũng – vịnh chỉ bằng 1,4% diện tích đất liền và 0,44% diện tích vùng biển, nhưng là các vị trí trọng điểm vô cùng quan trọng đối với phát triển kinh

tế - xã hội và an ninh quốc phòng của đất nước

1.3 Các yếu tố hình thái cơ bản của vũng – vịnh

Các yếu tố hình thái cơ bản của một vũng – vịnh có thể phân biệt như sau:

- Bờ vịnh: bờ đá gốc, bờ cát (bãi cát biển) và có thể có những đoạn bờ bùn Nói

chung bờ đá gốc phổ biến nhất Trong trường hợp bờ vũng – vịnh hầu như là đá gốc thì gọi là bờ vịnh đá Bờ cát phổ biến ở một số vịnh, nơi tác động của sóng mạnh và ngồn bồi tích cát phong phú cung cấp tờ phá hủy các mũi nhô hoặc đưa ra từ các con sông gần đấy Bờ bùn có thể xuất hiện ở vịnh thủy triều thống trị (ven bờ Đông Bắc), hoặc khu vực lân cận cửa sông đổ vào vịnh

- Mũi nhô: thường cấu tạo từ đá gốc rắn chắc và có khi vươn ra phía biển tạo nên

hình thái bán đảo Các vũng – vịnh thường có ít nhất một mũi nhô che chắn, có khi hai mũi nhô chính chắn Một số vịnh lớn có thể them nhũng mũi nhô nhỏ trong cung bờ vịnh

- Lòng vũng - vịnh: là phần không gian chủ yếu của vũng – vịnh và bao gồm

nhiều dạng địa hình khác nhau như luồng lạch ngầm, các mỏm đá ngầm, các rạn san

hô (kiểu viền bờ là chính, hiếm khi gặp kiểu chắn bờ) Địa hình lòng vịnh thường thoải, sâu dần ra phía trục long chính của vũng – vịnh và sâu dần ra phái cửa Một

số vịnh ven bờ Đông Bắc như Hạ Long và Bái Tử Long có các luồng lạch rất sâu

- Cửa vũng - vịnh: đó là khoảng không gian nằm giữa hai mũi nhô xa nhất của

vịnh Phía ngoài cửa vũng – vịnh là chế độ biển hở Phía trong cửa vịnh, chế độ hoàn lưu nước mang đặc điểm khác

- Đảo chắn hoặc đảo nằm trong vịnh: có thể một hoặc nhiều, góp phần khép kín

vịnh và làm phức tạp hoàn lưu nước trong vịnh Bờ các đảo vùng nước trong thường là nơi phát triển các rạn san hô ngầm Phổ biến bờ đảo đá gốc Một số đảo lớn có thể có các bãi cát biển quy mô lớn như trường hợp Ngọc Vừng, Cô Tô

Trang 5

Chương II: Phân loại các dạng vũng - vịnh ven bờ

biển Việt Nam 2.1 Phân loại vũng - vịnh dựa vào kiểu loại và tính chất chuyển tiếp về hình thái:

Vũng- vịnh ven bờ biển Việt Nam được chia thành 3 cấp cơ bản:

- Cấp 1: Vịnh biển(Gulf) Ví dụ: vịnh Bắc Bộ,…

- Cấp 2: Vịnh ven bờ (Bay), trong đó có vịnh bờ đá Ví dụ: vịnh Hạ Long, vịnh Lan Hạ,…

- Cấp 3: Vũng hoặc vụng (Bight và Shelter) , trong đó vũng chỉ hình thái hở hơn,

còn vụng chỉ hình thái kín hơn Ví dụ: vụng Cửa Lục, vụng Gấu,…

2.2 Phân loại vũng - vịnh theo quy mô

Phân loại vũng vịnh theo quy mô căn cứ vào diện tích mặt nước ở mực biển trung bình Diện tích của hệ thống vũng - vịnh ven bờ biển Việt Nam trong khoảng

2 – 560km2 Ở mức độ khái quát, các vũng – vịnh này có diện tích phổ biến từ 50 – 150km2, lớn nhất là vịnh Bái Tử Long với diện tích 560km2 và nhỏ nhất là vụng Ông Diên (Sông Cầu – Phú Yên) với diện tích 2km2 Ở mức độ chi tiết hơn, vũng – vịnh ven bờ biển Việt Nam được phân thành các cấp: Vũng - vịnh loại lớn( diện tích trên 100km2), trung bình(50 – 100km2), nhỏ(10 – 50 km2), rất nhỏ( diện tích dưới 10km2)

Bảng 1: Đặc trưng các nhóm vũng – vịnh theo quy mô

ST

Tổng diện tích(km 2 )

Số lượng(cái)

Phẩn trăm diện tích(%)

Phần trăm

số lượng(%)

Trang 6

2.3 Phân loại vũng – vịnh theo độ sâu

Dựa theo phân tích thống kê tài liệu, có xem xét đến các mức độ sâu biến dạng của sóng khi truyền vào bờ, độ sâu các vũng – vịnh ven bờ biển Việt Nam được phân chia thành các cấp sau:

- Nhóm có độ sâu rất lớn: trên 25m

- Nhóm có độ sâu lớn: sâu từ 15m – 25m

- Nhóm có độ sâu trung bình: từ 5 – 15m

- Nhóm có độ sâu nhỏ: dưới 5m

Bảng 2: Tỷ lệ nhóm vũng – vịnh phân loại theo độ sâu

lượng(%)

Giá trị độ sâu trung bình của toàn bộ hệ thống vũng – vịnh Việt Nam là 11,5m, phổ biến trong khoảng 5-15m, lớn nhất không quá 30m Nhóm vũng – vịnh

có độ sâu lớn và trung bình chủ yếu tập trung tại Trung Bộ, từ vịnh Diễn Châu(Nghệ An) đến vịnh Phan Thiết(Bình Thuận) và các đảo tương đối xa bờ(vịnh

Cô Tô, vịnh Côn Sơn,…) Vũng – vịnh có độ sâu nhỏ chủ yếu phân bố ở phần đông bắc bờ biển Việt Nam: vịnh Tiên Yên – Hà Cối, Quán Lạn(Vân Đồn), Bái Tử Long,

2.4 Phân loại vũng – vịnh theo hình thức tạo vịnh và cấu tạo thạch học bờ

2.4.1 Hình thức tạo vịnh

Dựa vào hình thức tạo vịnh, hệ thống vũng – vịnh Việt Nam được phân thành

2 nhóm: Nhóm do mũi nhô tạo bán đảo và nhóm do đảo chắn hỗn hợp Hầu hết các vũng – vịnh tạo ra do có mũi nhô đá gốc tạo thành bán đảo tiêu biểu cho hình thức này là vịnh Đà Nẵng với bán đảo Sơn Trà, vịnh Văn Phong với bán đảo Hòn Gốm Một số ít các vũng – vịnh tạo ra do các đảo chắn hỗn hợp như: vịnh Bái Tử Long và vịnh Hạ Long

Trang 7

Bảng 3: Tỷ lệ nhóm vũng – vịnh phân loại theo chỉ tiêu hình thức tạo thành

Ngoài ra, còn tồn tại hình thức vịnh ven đảo, được hình thành từ cung lõm

của các đảo có kích thước lớn nằm tách khỏi bờ Ví dụ: vụng ở Hòn Tre, Hòn Mun(Nha Trang), vịnh Côn Sơn(Côn Đảo), vịnh Cô Tô( Quảng Ninh).

2.4.2 Cấu tạo thạch học bờ

Vũng – vịnh ven bờ có cấu tạo thạch học rất phức tạp Một vũng – vịnh có cấu tạo thạch học bờ là trầm tích bở rời bùn, cát hoặc đá gốc nhưng lại có thể là tổ hợp của cả hai hay ba loại nêu trên Dựa vào tính ưu thế, có thể chia thành 3 nhóm cấu tạo bờ: bờ cấu tạo từ đá gốc, bờ cấu tạo từ cát và bờ cấu tạo từ bùn Việc xác định 3 nhóm cấu tạo bờ trên được tiến hành dựa trên tập bản đồ Địa chất các tỉnh ven biển Việt Nam, tỷ lệ 1/200000 của Cục Địa Chất và Khoáng sản Việt Nam(1999-2000)

Bảng 4: Tỷ lệ nhóm vũng – vịnh phân loại theo chỉ tiêu cấu tạo thạch học bờ.

- Nhóm vũng – vịnh cấu tạo bờ từ đá gốc là vịnh bờ đá tiêu biểu, phân bố tại những đá gốc lan ra sát biển, sông suối chảy vào ít hoặc không đáng kể Nhóm này phổ biến tại Đông Bắc Bộ, miềm Trung và ven các đảo, tiêu biểu là vịnh bái Tử Long, Quán Lạn, Hạ Long, Lan Hạ(Bắc Bộ), Nghi Sơn(Bắc Trung Bộ), Làng Mai,

Cù Mông, Xuân Đài,…(Nam Trung Bộ), hoặc ven đảo như vịnh Cô Tô, Lan Hạ, Cù Lao Chàm(Quang Nam), Hòn Tre(Nha Trang - Khánh Hòa), Côn Sơn

- Nhóm vũng – vịnh cấu tạo từ bờ cát chủ yếu phân bố ở miền Trung

Trang 8

- Nhóm vũng – vịnh được cấu tạo từ bờ bùn chiếm một tỷ lệ rất ít, điểm hình

là vịnh Tiên Yên – Hà Cối và vịnh Cửa Lục(Quảng Ninh)

2.5 Phân vùng vũng – vịnh ven bờ biển Việt Nam

Việc phân vùng vũng – vịnh căn bản dựa theo phân vùng tự nhiên lãnh thổ và phân vùng dải bờ biển Việt Nam Tuy nhiên, phân vùng vũng -vịnh còn dự theo mức độ phân bố tập trung của chúng và đặc biệt dựa vào đặc trưng của nhóm chỉ tiêu động lực hình thái phản ánh nguồn gốc, tiến hóa và tương quan động lực của các tập hợp vũng – vịnh trên một không gian nhất định Vũng – vịnh ven bờ biển Việt Nam được phân bố theo 4 vùng địa lý với các đặt trưng khác nhau là Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và vùng các đảo phía Nam

2.5.1 Vùng bờ biển Bắc Bộ (Quảng Ninh – Ninh Bình)

Có tổng số 7 vũng – vịnh: Tiên Yên- Hà Cối, Bái Tử Long, Quán Lạn, Hạ Long, Cô Tô, Lan Hạ và Cửa Lục.Vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh, chỉ ảnh hưởng mạnh của gió mùa Đông Bắc về mùa đông và gió mùa Tây Nam về mùa hè Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9, lượng mưa trung bình năm khoảng 2000 – 2400mm và giảm dần về phía Nam Động lực thủy triều đóng vai trò chủ đạo Hệ thống sông – suối đổ vào vũng – vịnh khá phong phú và đóng vai trò nhất định trong việc thành tạo địa hình bờ vịnh

2.5.1.1 Vịnh Tiên Yên – Hà Cối

- Địa điểm: Đông bắc Quảng Ninh: Hải Hà, Đầm Hà, Tiên Yên.

- Diện Tích: 400km2

- Hình thức tạo vịnh: đảo chắn

- Cấu tạo thạch học bờ: bùn

- Vịnh Tiên Yên - Hà Cối hình

thành do ngập chìm các vùng

cửa sông Ba Chẽ, Tiên Yên và

Hà Cối và được che chắn bởi hệ

thống đảo Cái Bầu, Vạn Vược,

Trang 9

Vạn Mực, Cái Chiên và Vĩnh Thực Vịnh trao đổi nước với Vịnh Bắc Bộ qua 5 cửa chính gồm Cửa Tiểu, Cửa Đại, Bò Vàng, Cửa Mô và Đầu Tán

2.5.1.2 Vịnh Bái Tử Long

- Địa điểm: Đông bắc Quảng

Ninh: Vân Đồn, Cẩm Phả

- Diện tích: 560km2

- Hình thức tạo vịnh: đảo chắn

- Cấu tạo thạch học bờ: đá gốc

- Vịnh Bái Tử Long còn có hệ

thống thủy triều với mức triều

vào khoảng 3,5- 4m/ngày Các

đảo của Vịnh thường là đảo đá vôi và đảo phiến thạch, là địa hình có tuổi kiến tạo địa chất khoảng 300 triệu năm, do quá trình vận động nâng lên, hạ xuống nhiều lần

từ lục địa thành trũng biển

2.5.1.3 Vịnh Quán Lạn

- Địa điểm: Đông bắc Quảng Ninh: Vân Đồn

- Diện tích: 105km2

- Hình thức tạo vịnh: Đảo chắn

- Cấu tạo thạch học bờ: Đá gốc

- Mức độ đóng kín: Nửa kín

- Vịnh Quán Lạn là một vịnh

nhỏ nằm trong vịnh Bái Tử

Long Chế độ nước sông đổ vào

không đáng kể

2.5.1.4 Vịnh Hạ Long

- Địa điểm: Đông nam Quảng Ninh: Thành phố Hạ Long

Trang 10

- Diện tích: 420km2

- Hình thức tạo vịnh: Đảo chắn

- Cấu tạo thạch học bờ: Đá gốc

- Vịnh Hạ Long như một bức

tranh thuỷ mặc khổng lồ vô

cùng sống động Hàng nghìn

đảo đá nhấp nhô trên sóng nước

lung linh huyền ảo, vừa khoẻ

khoắn hoành tráng nhưng cũng

rất mềm mại duyên dáng, sống

động

- Ngày 11/11/2011, Vịnh Hạ Long chính thức lọt vào danh sách 7 kỳ quan thiên nhiên thế giới mới

2.5.1.5 Vịnh Cô Tô

- Địa điểm: Đông bắc Quảng Ninh: Cô Tô

- Diện tích: 32km2

- Hình thức tạo vịnh: Mũi nhô

- Cấu tạo thạch học bờ: Đá gốc

- Vịnh Cô Tô nằm ở đảo xa đất

liền, hầu như không chịu ảnh

hưởng của động lực sông Các

hệ sinh thái rừng nhiệt đới, san

hô, vùng triều, đáy mềm phát

triển mạnh Thậm chí còn tìm thấy cả các khu rừng ngập mặn nhưng lại không hề thấy các bãi cỏ biển

Trang 11

2.5.1.6 Vịnh Lan Hạ

- Địa điểm: Đông nam Cát Bà (Hải Phòng)

- Diện tích: 33km2

- Hình thức tạo vịnh: Đảo chắn

- Cấu tạo thạch học bờ: Đá gốc

- Vịnh Lan Hạ nằm ở phía

Đông đảo Cát Bà, trông ra cửa

Vạn, liền kề vịnh Hạ

Long Đây là một vùng vịnh rất

êm ả hình vòng cung với

khoảng 400 hòn đảo lớn nhỏ

2.5.1.7 Vịnh Cửa Lục

- Địa điểm: Bắc vịnh Hạ Long

- Diện tích: 80km2

- Hình thức tạo vịnh: Đảo chắn

- Cấu tạo thạch học bờ: Bùn

- Vịnh Cửa Lục là một vịnh

biển nhỏ ở thành phố Hạ

Long, tỉnh Quảng Ninh Phía

bắc vịnh là huyện Hoành Bồ

Vịnh chỉ rộng 18 km² và chỗ sâu

nhất chỉ 17 m Phía bờ tiếp giáp với Hoành Bồ có nhiều vũng nhỏ hẹp ăn sâu vào đất liền Một số sông nhỏ trút nước vào vịnh này như sông Diễn Vọng, sông Trới

2.5.2 Vùng bờ biển Bắc Trung Bộ ( Thanh hóa – Thừa Thiên Huế)

Có tổng số 5 vũng – vịnh: vũng Nghi Sơn, vũng Quỳnh Lưu, vịnh Diễn Châu, vũng Áng, vịnh Chân Mây Vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh vùa, mừa mưa muộn dần về phía nam rồi trùng vời gió mùa Đông Bắc (từ

Ngày đăng: 02/04/2015, 10:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Đặc trưng các nhóm vũng – vịnh theo quy mô - tiểu luận môn thủy văn môi trường
Bảng 1 Đặc trưng các nhóm vũng – vịnh theo quy mô (Trang 5)
Bảng 2: Tỷ lệ nhóm vũng – vịnh phân loại theo độ sâu - tiểu luận môn thủy văn môi trường
Bảng 2 Tỷ lệ nhóm vũng – vịnh phân loại theo độ sâu (Trang 6)
Bảng 3: Tỷ lệ nhóm vũng – vịnh phân loại theo chỉ tiêu hình thức tạo thành - tiểu luận môn thủy văn môi trường
Bảng 3 Tỷ lệ nhóm vũng – vịnh phân loại theo chỉ tiêu hình thức tạo thành (Trang 7)
Hình mẫu tự nhiên hiếm có của - tiểu luận môn thủy văn môi trường
Hình m ẫu tự nhiên hiếm có của (Trang 15)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w