Trong 9 tháng đầu năm 2013, Việt Nam xuất khẩu sang thị trườngĐài Loan những mặt hàng chủ yếu như: điện thoại các loại và linh kiện; hàng dệt may;máy móc, thiết bị dụng cụ phụ tùng; máy
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
TIỂU LUẬN MÔN KỸ THUẬT NGHIỆP VỤ NGỌAI THƯƠNG
ĐỀ TÀI
XUẤT KHẨU LINH KIỆN ĐIỆN TỬ SANG THỊ
TRƯỜNG ĐÀI LOAN
Giảng viên hướng dẫn: LÊ MINH HIẾU
NHÓM 2
TP HCM, THÁNG 04 NĂM 2014
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
Trang 3
MỤC LỤC
Lời mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Chương 1: NGHIÊN CỨU VỀ SẢN PHẨM
2.1 Tên gọi của sản phẩm
2.2 Phân loại sản phẩm
2.3 Tính năng, công dụng của sản phẩm
2.3.1 Linh kiện điện tử thụ động
2.3.1.1 Điện trở
2.3.1.2 Cuộn cảm
2.3.1.3 Tụ điện
2.3.1.4 Đi-ốt
2.3.2 Linh kiện điện tử chủ động
2.3.2.1 Transistor
2.3.2.2 Mạch tích hợp
2.3.2.3 Bộ cảm biến
2.3.3 Ăngten
2.4 Chất lượng sản phẩm
CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU VỀ THỊ TRƯỜNG
2.1 Nghiên cứu thị trường trong nước
2.1.1 Đặc điểm tình hình kinh tế chính sách thương mại Việt Nam
2.1.2 Điều kiện tiền tệ
2.1.3 Triển vọng xuất khẩu sang thị trường Đài Loan
Trang 42.2 Nghiên cứu thị trường nước ngoài
2.2.1 Kinh tế
2.2.2 Chính trị
2.2.3 Chính sách thương mại
2.3 Điều kiện tiền tệ, tín dụng
2.4 Dung lượng thị trường
2.5 Tập quán và thị hiếu người tiêu dùng
2.6 Đối thủ cạnh tranh
CHƯƠNG 3: LỰA CHỌN THƯƠNG NHÂN & SOẠN THẢO HỢP ĐỒNG
3.1 Tư cách pháp lý và lĩnh vực kinh doanh
3.2 Uy tín
3.3 Soạn thảo hợp đồng
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Theo số liệu thống kê sơ bộ mới nhất của Tổng cục Hải quan, tổng kim ngạch xuấtnhập khẩu hàng hóa của cả nước trong tháng 10/2013 đạt mức kỷ lục từ trước tới nay là25,12 tỷ USD, tăng 11,9% so với tháng trước; trong đó, xuất khẩu đạt 12,61 tỷ USD,tăng 12,8% và nhập khẩu là 12,51 tỷ USD, tăng 11% Với kết quả này, cán cân thươngmại hàng hóa trong tháng 10 của Việt Nam có mức thặng dư hơn 100 triệu USD
Như vậy, tính từ đầu năm đến hết tháng 10 năm 2013, tổng trị giá xuất nhập khẩu hànghoá của Việt Nam đạt 217,59 tỷ USD, tăng hơn 15,9% so với cùng kỳ năm trước; trong
đó, xuất khẩu đạt 108,72 tỷ USD, tăng 16% và nhập khẩu là 108,87 tỷ USD, tăng15,9% Kết quả là mức thâm hụt thương mại trong 10 tháng/2013 là 146 triệu USD,giảm 6,8% so với cùng kỳ năm trước
Trong thời kì công nghệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hoạt động xuất nhập khẩu đóngmột vai trò vô cùng to lớn Chính phủ và Nhà nước ta luôn ban hành những chính sách,tạo những điều kiện thuận tốt nhất để phát triển lĩnh vực này Việt Nam đang ngàycàng mở rộng thị trường của mình ra rộng hơn
Trong những thị trường mà Việt Nam xuất khẩu, có thể nói Đài Loan là một thị trườngtiềm năng, đã và đang đem lại cho nước ta nhiều lợi nhuận đáng kể Theo thống kê của
Bộ Tài chính Đài Loan, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 8 tháng đầu năm 2013 giữanước ta với Đài Loan đạt 7,48 tỷ USD tăng 6,02% so với cùng kỳ năm trước Việt Namxuất khẩu qua thị trường Đài Loan rất nhiều sản phẩm, trong số đó, không thể khôngnhắc tới mặt hàng linh kiện điện tử
Theo thống kê cho biết Việt Nam xuất khẩu nhóm hàng này trongtháng 9/2013 đạt 2,13 tỷ USD, tăng 15,6% so với tháng trước, trị giá xuất khẩu nhómhàng này trong 9 tháng/2013 là 15,52 tỷ USD,tăng mạnh 79,8% (tương đương tăng6,89 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2012 Xuất khẩu linh kiện điện tử đã góp phần đáng
kể, làm tăng tỉ trọng GDP của nước ta
Trang 61.1 Lí do chọn đề tài
Trong bối cảnh mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động xuất nhập khẩu của cácnước là thước đo kết quả quá trình hội nhập quốc tế và phát triển trong mối quan hệphụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia.Hoạt động xuất nhập khẩu còn là yếu tố quantrọng nhằm phát huy mọi nguồn nội lực, tạo thêm vốn đầu tư để đổi mới công nghệ,tăng thêm việc làm, thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.Trong nhiều năm qua, lĩnh vực xuất khẩu của Việt Nam đã giành được nhiều thành tựuđáng kể Trong sự thành công của ngành xuất khẩu không thể không kể đến sự đónggóp tuy không lớn nhưng cũng góp phần đáng kể của mặt hàng linh kiện điện tử với4,8% trong tổng kim ngạch xuất khẩu, mặc dù ngành công nhiệp điện tử mới xuất hiệncách đây không lâu
Tiềm năng hợp tác kinh tế - thương mại giưã Việt Nam và Đài Loan là hết sức to lớn.Cùng với việc kí kết các hiệp định thương mại song phương, Việt Nam gia nhập WTO,quan hệ thương mại giữa hai nước đã bước sang trang mới Vì vậy, việc xem xét khảnăng thâm nhập cuả hàng linh kiện điện tử vào thị trường Đài Loan- một thị trường códung lượng tiêu thụ lớn đã trở nên rất cần thiết Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợicũng có không ít những khó khăn thách thức, đòi hỏi không chỉ sự nỗ lực của doanhnghiệp Việt Nam mà còn sự hỗ trợ tích cực từ phía nhà nước để có thể tiếp cận và đẩymạnh xuất khẩu hàng linh kiện điện tử Việt Nam vào thị trường tiềm năng nhưng cũnglắm chông gai này Trong 9 tháng đầu năm 2013, Việt Nam xuất khẩu sang thị trườngĐài Loan những mặt hàng chủ yếu như: điện thoại các loại và linh kiện; hàng dệt may;máy móc, thiết bị dụng cụ phụ tùng; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; cao su;giấy và các sản phẩm từ giấy; gỗ và sản phẩm gỗ; giày dép các loại;…Trong đó, mặthàng chiếm kim ngạch xuất khẩu lớn nhất trong 9 tháng qua tiếp tục là điện thoại cácloại và linh kiện đạt 345.713.031 USD, tăng 39,2% so với cùng kỳ năm trước, chiếm21,3% tổng trị giá xuất khẩu Có thể nói rằng, đây là một trong những thành công củaViệt Nam trong lĩnh vực công nghiệp điện tử nói riêng và xuất khẩu nói chung
Xuất phát từ vai trò, tính cấp thiết của việc xuất khẩu mặt hàng linh kiện điện tử đốivới nền kinh tế thị trường và thông qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu về nghiệp vụ
ngoại thương, nhóm chúng em quyết định chọn đề tài “ Xuất khẩu linh kiện điện tử
từ Việt Nam sang Đài Loan”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Hiểu rõ về sản phẩm linh kiện điện tử xuất khẩu
Trang 7 Nắm bắt thông tin về thị trường Đài Loan trong tất cả các lĩnh vực, đặc biệt làxuất nhập khẩu.
Biết được thông tin về thương nhân tại Đài Loan trong lĩnh vực linh kiện điệntử
Củng cố kiến thức về nghiệp vụ ngoại thương
Vận dụng các điều khoản thương mại trong giao dịch, xuất khẩu hàng hóa
Vận dụng kiến thức về nghiệp vụ ngoại thương, các kĩ năng về đàm phán, soạnthảo hợp đồng thương mại
Trang 8CHƯƠNG 1: NGHIÊN CỨU VỀ SẢN PHẨM
1.1 Tên gọi của sản phẩm
Các linh kiện điện tử là các thành phần cơ bản có thể ghép nối thành mạch điện tử haythiết bị điện tử
1.2 Phân loại sản phẩm
BẢNG PHÂN LOẠI LINH KIỆN ĐIỆN TỬ
Linh kiện điện tử
Mạch tích hợp
Bộ cảm biến
Cáp dẫn sóng
1.3 Tính năng, công dụng của sản phẩm
1.3.1 Linh kiện điện tử thụ động
1.3.1.1 Điện trở
Điện trở đặc trưng cho tính chất cản trở dòng điện Chính vì thế, khi sử dụng điện trởcho một mạch điện thì một phần năng lượng điện sẽ bị tiêu hao để duy trì mức độchuyển dời của dòng điện Nói một cách khác thì khi điện trở càng lớn thì dòng điện điqua càng nhỏ và ngược lại khi điện trở nhỏ thì dòng điện dễ dàng được truyền qua.Khidòng điện cường độ I chạy qua một vật có điện trở R, điện năng được chuyển thànhnhiệt năng với công suất theo phương trình sau:
P = I 2 R
trong đó:
Trang 9P là công suất, đo theo W
I là cường độ dòng điện, đo bằng A
R là điện trở, đo theo Ω
Chính vì lý do này, khi phân loại điện trở, người ta thường dựa vào công suất mà phânloại điện trở Và theo cách phân loại dựa trên công suất, thì điện trở thường được chialàm 3 loại:
Điện trở công suất nhỏ
Điện trở công suất trung bình
Điện trở công suất lớn
Tuy nhiên, do ứng dụng thực tế và do cấu tạo riêng của các vật chất tạo nên điện trởnên thông thường, điện trở được chia thành 2 loại:
Điện trở: là các loại điện trở có công suất trung bình và nhỏ hay là các điện trởchỉ cho phép các dòng điện nhỏ đi qua
Điện trở công suất: là các điện trở dùng trong các mạch điện tử có dòng điện lớn
đi qua hay nói cách khác, các điện trở này khi mạch hoạt động sẽ tạo ra một lượngnhiệt năng khá lớn Chính vì thế, chúng được cấu tạo nên từ các vật liệu chịu nhiệt
Cách đọc giá trị các điện trở này thông thường cũng được phân làm 2 cách đọc, tuỳtheo các ký hiệu có trên điện trở Dưới đây là hình về cách đọc điện trở theo vạch màutrên điện trở
Trang 10Đối với các điện trở có giá trị được định nghĩa theo vạch màu thì chúng ta có 3 loạiđiện trở: Điện trở 4 vạch màu và điện trở 5 vạch màu và 6 vạch màu Loại điện trở 4vạch màu và 5 vạch màu được chỉ ra trên hình vẽ Khi đọc các giá trị điện trở 5 vạchmàu và 6 vạch màu thì chúng ta cần phải để ý một chút vì có sự khác nhau một chút vềcác giá trị Tuy nhiên, cách đọc điện trở màu đều dựa trên các giá trị màu sắc được ghitrên điện trở 1 cách tuần tự:
Đối với điện trở 4 vạch màu
Vạch màu thứ nhất: Chỉ giá trị hàng chục trong giá trị điện trở
Vạch màu thứ hai: Chỉ giá trị hàng đơn vị trong giá trị điện trở
Vạch màu thứ ba: Chỉ hệ số nhân với giá trị số mũ của 10 dùng nhân với giá trịđiện trở
Vạch màu thứ tư: Chỉ giá trị sai số của điện trở
Đối với điện trở 5 vạch màu
Vạch màu thứ nhất: Chỉ giá trị hàng trăm trong giá trị điện trở
Vạch màu thứ hai: Chỉ giá trị hàng chục trong giá trị điện trở
Vạch màu thứ ba: Chỉ giá trị hàng đơn vị trong giá trị điện trở
Vạch màu thứ tư: Chỉ hệ số nhân với giá trị số mũ của 10 dùng nhân với giá trịđiện trở
Vạch màu thứ năm: Chỉ giá trị sai số của điện trở
1.3.1.2 Cuộn cảm
Cuộn cảm là linh kiện điện tử thụ động tạo từmột dây dẫn điện với vài vòng quấn, sinh ra từtrường khi có dòng điện chạy qua Cuộn cảm
có một độ tự cảm L đo bằng Henry (H)
Trong kĩ thuật điện tử, cuộn cảm thường dùng
để dẫn dòng điện một chiều, chặn dòng điệncao tần và khi mắc phối hợp với tụ điện sẽ hìnhthành mạch cộng hưởng
Tùy vào cấu tạo và phậm vi sử dụng, người taphân loại cuộn cảm như sau: cuộn cảmcao,cuộn cảm trung tần, cuộn cảm âm tần
Trang 11
1.3.1.3 Tụ điện
Tụ điện là một linh kiện điện tử thụ động tạo bởi hai bề mặt dẫn điện được ngăn cáchbởi điện môi Khi có chênh lệch điện thế tại hai bề mặt, tại các bề mặt sẽ xuất hiện điệntích cùng cường độ, nhưng trái dấu
Sự tích tụ của điện tích trên hai bề mặt tạo ra khả năng tích trữ năng lượng điệntrường của tụ điện Khi chênh lệch điện thế trên hai bề mặt là điện thế xoay chiều, sựtích luỹ điện tích bị chậm pha so với điện áp, tạo nên trở kháng của tụ điện trong mạchđiện xoay chiều
Về mặt lưu trữ năng lượng, tụ điện có phần giống với ắc qui Mặc dù cách hoạt độngcủa chúng thì hoàn toàn khác nhau, nhưng chúng đều cùng lưu trữ năng lượng điện Ắcqui có 2 cực, bên trong xảy ra phản ứng hóa học để tạo ra electron ở cực này và chuyểnelectron sang cực còn lại Tụ điện thì đơn giản hơn, nó không thể tạo ra electron - nóchỉ lưu trữ chúng Tụ điện có khả năng nạp và xả rất nhanh Đây là một ưu thế của nó
so với ắc qui
1.3.1.4 Đi-ốt
Điốt bán dẫn là các linh kiện điện tử thụ động và phi tuyến, cho phép dòng điện đi qua
nó theo một chiều mà không theo chiều ngược lại, sử dụng các tính chất của cácchất bán dẫn Có nhiều loại điốt bán dẫn, như điốt chỉnh lưu thông thường, điốt
Trang 12Zener, LED Chúng đều có nguyên lý cấu tạo chung là một khối bán dẫn loại P ghépvới một khối bán dẫn loại N.
Vì điốt có đặc tính chỉ dẫn điện theo một chiều từ a-nốt đến ca-tốt khi phân cực thuậnnên điốt được dùng để chỉnh lưu dòng điện xoay chiều thành dòng điện một chiều.Ngoài ra điốt có nội trở thay đổi rất lớn, nếu phân cực thuận RD 0 (nối tắt), phân cựcnghịch RD (hở mạch), nên điốt được dùng làm các công tắc điện tử, đóng ngắt bằngđiều khiển mức điện áp Điốt chỉnh lưu dòng điện, giúp chuyển dòng điện xoay chiềuthành dòng điện một chiều, điều đó có ý nghĩa rất lớn trong kĩ thuật điện tử Vì vậyđiốt được ứng dụng rộng rãi trong kỹ thuật điện và điện tử
1.3.2 Linh kiện điện tử chủ động
1.3.2.1 Transistor
Transistor (viết tắt của: "Transfer-resistor" tức điện trở chuyển)là một linh kiện bándẫn thường được sử dụng như một thiết bị khuếch đại hoặc một khóa điện tử.Transistor là khối đơn vị cơ bản xây dựng nên cấu trúc mạch ở máy tính điện tử và tất
cả các thiết bị điện tử hiện đại khác Vì đáp ứng nhanh và chính xác nên các transistorđược sử dụng trong nhiều ứng dụng tương tự và số, như khuếch đại, đóng cắt, điềuchỉnh điện áp, điều khiển tín hiệu, và tạo dao động.Transistor cũng thường được kếthợp thành mạch tích hợp (IC),có thể tích hợp tới một tỷ transistor trên một diện tíchnhỏ
Cũng giống như điốt, transistor được tạo thành từ hai chất bán dẫn điện Khi ghép mộtbán dẫn điện âm nằm giữa hai bán dẫn điện dương ta được một PNP Transistor Khighép một bán dẫn điện dương nằm giữa hai bán dẫn điện âm ta được một NPNTransistor
Mỗi transistor đều có ba cực:
1 Cực gốc B (base)
Trang 132 Cực góp C (collector)
3 Cực phát E (emitter)
Để phân biệt PNP hay NPN Transistor ta căn cứ vào ký hiệu linh kiện dựa vào mũi têntrên đầu phát Nếu mũi tên hướng ra thì transistor là NPN, và nếu mũi tên hướng vàothì transistor đó là PNP
Transistor thường được sử dụng trong các mạch công tắc, mạch logic, mạch điềukhiển, khi hoạt động người ta có thể đưa trực tiếp áp lệnh 5V vào chân B để điều khiểnđèn ngắt, mở
Transistor có công suất lớn thường được gọi là sò Sò dòng, sò nguồn…các sò nàyđược thiết kế để điều khiển bộ cao áp hoặc biến áp nguồn xung hoạt động Chúngthường có điện áp hoạt động cao và cho dòng chịu đựng lớn
1.3.2.2 Mạch tích hợp
Vi mạch tích hợp, hay vi mạch, hay mạch tích hợp (integrated circuit, gọi tắt IC, còn
gọi là chip theo thuật ngữ tiếng Anh) là các mạch điện chứa các linh kiện bándẫn (như transistor) và linh kiện điện tử thụ động (như điện trở) được kết nối với nhau,kích thước cỡ micrômét (hoặc nhỏ hơn) chế tạo bởi công nghệ silicon cho lĩnh vực điện
tử học
Các vi mạch tích hợp được thiết kế để đảm nhiệm một chức năng như một linh kiệnphức hợp Một mạch tích hợp sẽ giúp giảm kích thước của mạch điện đi rất nhiều,bêncạnh đó là độ chính xác tăng lên.IC là một phần rất quan trọng của các mạch logic Cónhiều loại IC,lập trình được và cố định chức năng,không lập trình được.Mỗi IC có tínhchất riêng về nhiệt độ,điện thế giới hạn,công suất làm việc,được ghi trong bảng thôngtin (datasheet) của nhà sản xuất Hiện nay, công nghệ silicon đang tính tới những giớihạn của vi mạch tích hợp và các nhà nghiên cứu đang nỗ lực tìm ra một loại vậtliệu mới có thể thay thế công nghệ silicon này
1.3.2.3 Bộ cảm biến
Bộ cảm biến là thiết bị điện tử cảm nhận những thay đổi từ môi trường bên ngoài vàbiến đổi thành các tín hiệu điện để điều khiển các thiết bị khác Cảm biến là một trong
ba thành phần cơ bản của hệ thống điều khiển
Có nhiều loại cảm biến khác nhau như cảm biến nhiệt, cảm biến quang, cảm biến hồngngoại,
Bộ cảm biến được chia thành các loại sau:
1 Biến trở tuyến tính, biến trở góc quay dùng để chuyển đổi sự dịch chuyển thành điện
áp Ngoài ra còn có thể chuyển đổi kiểu điện cảm và điện dung Nguyên tắc chung để
đo các đại lượng không điện như nhiệt độ, quang thông, lực, ứng suất, kích thước, di
Trang 14chuyển, tốc độ bằng phương pháp điện là biến đổi chúng thành tín hiệu điện Cấutrúc thiết bị đo gồm ba thành phần:
Bộ phận chuyển đổi hay cảm biến, cơ cấu đo điện và các sơ đồ mạch trung gian haymạch gia ông tín hiệu ví dụ như mạch khuếch đại, chỉnh lưu, ổn định Cảm biến xenxinlàm phần tử đo lường trong các hệ bám sát góc quay, truyền chỉ thị góc quay ở cự ly xa
mà không thực hiện được bằng cơ khí
Biến áp xoay (quay) dùng để biến đổi điện áp của cuộn sơ cấp hoặc góc quay của cuộn
sơ cấp thành tín hiệu ra tương ứng với chúng Biến áp xoay sin, cos để đo góc quaycủa rôto, trên đặt cuộn sơ cấp, thành điện áp tỉ lệ thuận với sin hay cos của góc quay
đó Biến áp xoay tuyến tính biến đổi độ lệch góc quay của rôto thành điện áp tỉ lệ tuyếntính
Con quay 3 bậc tự do và con quay 2 bậc tụ do được sử dụng làm các bộ cảm biến đosai lệch góc và đo tốc độ góc tuyệt đối trong các hệ thống ổn định đường ngắm của cácdụng cụ quan sát và ngắm bắn
2 Cảm biến tốc độ - bộ mã hóa quang học là đĩa mã trên có khắc vạch mà ánh sáng cóthể đi qua được Phía sau đĩa mã đặt phototransistor chịu tác dụng của một nguồn sáng.Động cơ và đĩa mã được gắn đồng trục, khi quay ánh sáng chiếu đến phototransistorlúc bị ngăn lại, lúc không bị ngăn lại làm cho tín hiệu ở cực colecto là một chuỗi xung.Trên đĩa mã có khắc hai vòng vạch, ngoài A trong B có cùng số vạch, nhưng lệch 90°(vạch A trước B là 90°) Nếu đĩa mã quay theo chiều kim đồng hồ thì chuỗi xung B sẽnhanh hơn chuỗi xung A là ½ chu kỳ và ngược lại Thiết bị đo tốc độ như DCTachometer, AC Tachometer, Optical Tachometer
3 Cảm biến nhiệt độ như Pt 56Ω, Pt 100Ω, Thermocouple…
Cảm biến có vai trò quan trọng trong các bài toán điều khiển quá trình nói riêng vàtrong các hệ thống điều khiển tự động nói chung - Là thiết bị có khả năng cảm nhậncác tín hiệu điều khiển vào, ra - Có vai trò đo đạc các giá trị - Giới hạn cảm nhận vớiđại lượng vật lý cần đo
1.3.3 Ăngten
Ăngten (từ tiếng Pháp: antenne) là một linh kiện điện tử có thể bức xạ hoặc thu
nhận sóng điện từ Có nhiều loại ăngten: ăngten lưỡng cực, ăngten mảng Trong một
hệ thống thông tin vô tuyến, ăng-ten có hai chức năng cơ bản Chức năng chính là đểbức xạ các tín hiệu RF từ máy phát dưới dạng sóng vô tuyến hoặc để chuyển đổi sóng
vô tuyến thành tín hiệu RF để xử lý ở máy thu Chức năng khác của ăngten là để hướngnăng lượng bức xạ theo một hay nhiều hướng mong muốn, hoặc “cảm nhận” tín hiệuthu từ một hay nhiều hướng mong muốn còn các hướng còn lại thường bị khóa lại Về
Trang 15mặt đặc trưng hướng của ăngten thì có nghĩa là sự nén lại của sự phát xạ theo cáchướng không mong muốn hoặc là sự loại bỏ sự thu từ các hướng không mong muốn.Các đặc trưng hướng của một ăng-ten là nền tảng để hiểu ăng-ten được sử dụng nhưthế nào trong hệ thống thông tin vô tuyến Các đặc trưng có liên hệ với nhau này baogồm Tăng ích, tính định hướng, mẫu bức xạ (ăng-ten), và phân cực Các đặc trưng khácnhư búp sóng, độ dài hiệu dụng, góc mở hiệu dụng được suy ra từ bốn đặc trưng cơ bảntrên Trở kháng đầu cuối (đầu vào) là một đặc trưng cơ bản khác khá quan trọng Nócho ta biết trở kháng của ăng-ten để kết hợp một cách hiệu quả công suất đầu ra củamáy phát với ăng-ten hoặc để kết hợp một cách hiệu quả công suất từ ăng-ten vào máythu Tất cả các đặc trưng ăngten này đều là một hàm của tần số.
1.4 Chất lượng sản phẩm
Sản phẩm điện tử nói chung, theo quan điểm chất lượng phải chịu sự điều chỉnh củahai yếu tố cơ bản, đó là:
- Đảm bảo an toàn cho người sử dụng, đây là yếu tố pháp luật Sản phẩm điện tử sản
xuất trong nước phải chịu sự kiểm tra, thanh tra các chỉ tiêu liên quan đến an toàn.Trong tương lai con người chịu sự kiểm tra nhà nước các chỉ tiêu liên quan đến tươngthích điện tử từ trường (EMC) và các chỉ tiêu nhiễu tần số radio (RTEE) Trong nhữngnăm gần đây tốc độ phát triển của các ngành công nghiệp và dịch vụ với mức tự độnghoá ngày càng cao cũng như việc phát triển mạng viễn thông có sự tham gia tích cựccủa công nghệ thông tin vấn đề liên quan đến EMC và nhiễu tần số radio đang trởthành vấn đề nóng bỏng cần có những giải pháp hữu ích để phòng ngừa những tác độngtiềm ẩn gây rối loạn hệ thống điều khiển tự động, từ xa và mạng viễn thông mang tínhtoàn cầu Tuy nhiên do năng lực thử nghiệm còn quá hạn chế cho nên việc quản lý chấtlượng về mặt an toàn, tương thích điện từ trường và nhiễu tần số radio mới chỉ thựchiện được một số chỉ tiêu liên quan đến an toàn điện là chính
- Yếu tố thứ hai liên quan đến chất lượng chính là các chỉ tiêu công dụng Với tốc độ
phát triển của ngành công nghiệp chế tạo linh kiện cũng như công nghệ và cấu trúc củacác linh kiện thì đây là vấn đề đi trước cả yêu cầu mong đợi của người tiêu dùng Cóthể nói người tiêu dùng ngày nay chưa kịp hưởng thụ hết các chức năng công dụng,chưa khai thác hết tính năng sử dụng của thiết bị điện tử thì các mẫu mới đã xuất hiệnvới thiết kế hoàn hảo hơn, có tính năng hơn hẳn đã có mặt trên thị trường Đây chính làmột yếu tố kích thích tiêu dùng, tạo cơ hội cho phét triển của ngành công nghiệp điện
tử, tạo ra các sản phẩm có giá cả hợp lý để thoả mãn các đối tượng tiêu dùng có mứcthu nhập khác nhau chính vì vậy có thể nói ngày nay khó có có thể tìm thấy người tiêudùng chê bai, phàn nàn về hàng điện tử kể cả sản xuất trong nước và nhập khẩu từnước ngoài
Trong thời kỳ bao cấp, công tác tiêu chuẩn hoá đã được quan tâm một cách đáng kể từviệc ban hành khá nhiều tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) cho đến việc bắt buộc các nhàmáy quốc doanh phải tuân thủ các tiêu chuẩn Việt Nam Từ việc ban hành các TCVN
Trang 16cho các loại linh kiện như điện trở, tụ điện các loại bóng bán dẫn, diốt cho đến cácTCVN cho các sản phẩm hoàn chỉnh Đến khi thị trường được mở cửa thì hầu hết cáctiêu chuẩn này đã quá lạc hậu về tính năng của linh kiện vì vậy không còn thích hợp.Hoạt động tiêu chuẩn hoá nói chung là để phục vụ cho hoạt động thương mại, là cầunối giữa ngành công nghiệp sản xuất với thị trường, cầu nối giữa nhà chế tạo với ngườitiêu dùng và do đó tiêu chuẩn phải đi trước một bước Tuy nhiên lĩnh vực công nghệđiện tử lại có bước nhảy vọt và có tốc độ cải tiến rất nhanh làm cho tiêu chuẩn bị chậmlại so với nhu cầu sản xuất Đơn cử một ví dụ đối với linh kiện: Nếu như trước đây một
linh kiện chỉ thực hiện được một chức năng đơn giản thì ngày nay một linh kiện - linh
kiện tích hợp (IC) lại thực hiện được rất nhiều chức năng của các linh kiện trước đây
Nó có thể thay thế cho hẳn một mạch điện tử với hàng chục linh kiện khác nhau để rồithực hiện được chức năng cho một mạch điện tử phức tạp Từ đặc thù như vậy mà côngtác tiêu chuẩn hoá cần có cái nhìn mới ở các cấp độ tiêu chuẩn khác nhau
Trong những năm gần đây công tác xây dựng và ban hành tiêu chuẩn đã và đang điđúng hướng cả về cấp tiêu chuẩn (TCVN, TC công ty) và đối tượng tiêu chuẩn hoá.+ Tiêu chuẩn Việt Nam
Tiêu chuẩn Việt Nam đã tập trung vào hướng phục vụ hội nhập kinh tế, tự do hoáthương mại; đó là các tiêu chuẩn chịu sự điều chỉnh của các qui định kỹ thuật(Technical regulations) liên quan đến an toàn, tương thích điện từ trường, nhiều tần sốradio, đó là các tiêu chuẩn đòi hỏi tính thống nhất hoá cao trong thương mại tự do khuvực và quốc tế có tính ổn định về chất lượng tương đối dài
Ví dụ TCVN (IEC 65), An toàn đối với thiết bị điện tử và các thiết bị đi kèm
TCVN 5699- 1 : 2004 (IEC 60335- 1 : 2001) Thiết bị điện gia dụng và thiết bị điện tương tự - An toàn - Phần 1: Yêu cầu chung
Các tiêu chuẩn trên đã được ban hành vừa để phục vụ hội nhập vừa phục vụ công tácquản lý nhà nước về chất lượng, đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng và hạn chế,phòng ngừa những rối loạn trong thông tin, và điều chỉnh tự động
TCVN 6611 : 2000 (IEC 326), Tấm mạch in- Bộ tiêu chuẩn Việt Nam gồm 11 tiêu
chuẩn) đã được ban hành theo chương trình hài hoà tiêu chuẩn của ASEAN Đây là cácsản phẩm có tính thống nhất hó tương đối cao, ẩn chứa những nguy cơ tiềm năng liênquan đến an toàn, độ tin cậy của thiết bị, linh kiện
Mảng thiếu hụt quan trọng của hệ thống TCVN đối với thiết bị điện tử là các thiết bịđiện tử y tế mà phần 1 đã đề cập đến Đây là nhóm sản phẩm điện tử nhạy cảm liênquan đến hoạt động chữa trị bệnh nhân, liên quan đến đội ngũ y bác sỹ vận hành cácthiết bị này
+ Tiêu chuẩn công ty (cơ sở)
Trang 17Hoạt động tiêu chuẩn hó công ty đang còn rất yếu kém Mặc dù mấy năm qua, kể từkhi pháp lệnh chất lượng hàng hoá (sửa đổi/được ban hành cùng với quyết định 2425của Bộ Khoa học và Công nghệ nhằm khuyến khích, thúc đẩy công tác TCH ở công ty,nâng cao tính tự chủ, khả năng cạnh tranh về chất lượng, song hoạt động này chỉ mangtính hình thức Biểu hiện của sự yếu kém, mang tính hình thức được thể hiện thông quahoạt động công bố tiêu chuẩn chất lượng hàng hoá:
- Phần lớn các công ty đã lấy TCVN để công bố tiêu chuẩn chất lượng cho sản phẩm
của mình, trong khi sản phẩm của họ có nhiều tính năng mới, nhiều chỉ tiêu kỹ thuậtkhác với TCVN
- Các sản phẩm điện tử chưa có TCVN, các công ty rất lúng túng không có khả năng
thể hiện các thông số, đặc tính kỹ thuật của thiết bị thành tiêu chuẩn công ty Đây chính
là hậu quả của việc sao chép các thiết kế, mẫu mã có sẵn trên thị trường thiếu sựnghiên cứu sáng tạo để có được sản phẩm riêng, thiếu tính cạnh tranh dẫn đến hoạtđộng TCH ở công ty kém hiệu quả