1.2 Mục tiêu Giới thiệu các phương pháp, nguyên tắc trong công nghệ xử ký nước thải sinh hoạt có hiệu quả, tiết kiệm chi phí, an toàn đồng thời đưa ra những nghiên cứu và ứng dụng của cá
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2Nước thải sinh hoạt chiếm 80% trong tổng số nước thải ở các thành phố lớn hầu hết nước thải sinh hoạt đều thải trực tiếp nước thải vào hệ thống thoát nước không qua xử
lý Số liệu thống kê mới đây cho thấy, trung bình một ngày Hà Nội thải 458000 m3 nước thải, trong đó 41% là nước thải sinh hoạt, 57% nước thải công nghiệp, 2% nước thải bệnh viện Chỉ có khoảng 4% nước thải được xử lý Việc thải một lượng lớn chất thải hữu cơ ra môi trường sẽ tạo nguồn ô nhiễm và các dịch bệnh, ảnh hưởng tới toàn cộng đồng, gây những hậu quả nghiêm trọng cho môi trường
Từ thực trạng trên, vấn đề cấp thiết đặt ra là tìm phương án khả thi để giảm thiểu lượng nước thải và tải lượng ô nhiễm, đồng thời tiến hành xử lý ô nhiễm nước thải sinh hoạt trước khi thải ra môi trường
1.2 Mục tiêu
Giới thiệu các phương pháp, nguyên tắc trong công nghệ xử ký nước thải sinh hoạt có hiệu quả, tiết kiệm chi phí, an toàn đồng thời đưa ra những nghiên cứu và ứng dụng của các phương pháp được ứng dụng vào thực tế
1.3 Phương pháp thực hiện
Trong quá trình thực hiện đề tài xử lý nước thải sinh hoạt nhóm đã tham khảo các nguồn tài liệu từ sách giáo trình , các bài báo cáo khoa học, các quy trình công nghệ về xử lý nước thải, các công cụ tìm kím đáng tin cậy và sử dụng các phần mềm hỗ trợ việc tính toán để đưa ra số liệu hợp lý
Trang 3II TỔNG QUAN VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1 Giới thiệu đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Định nghĩa nước thải sinh hoạt
Nước thải sinh hoạt là nước được thải bỏ sau khi sử dụng cho các mục đích sinh hoạt của cộng đồng: tắm, giặt giũ,tẩy rửa, vệ sinh cá nhân,vệ sinh nhà cửa… Chúng thường được thải ra từ các căn hộ, nhà dân, cơ quan, trường học, bệnh viện, chợ, và các công trình công cộng khác Như vậy, NTSH được hình thành trong quá trình sinh hoạt của con người Lượng nước thải sinh hoạt của một khu dân cư phụ thuộc vào dân số, vào tiêu chuẩn cấp nước và đặc điểm của hệ thống thoát nước Tiêu chuẩn cấp nước sinh hoạt cho một khu dân cư phụ thuộc vào khả năng cung cấp nước của các nhà máy nước hay các trạm cấp nước hiện có Các trung tâm đô thị thường có tiêu chuẩn cấp nước cao hơn so với các vùng ngoại thành và nông thôn, do đó lượng nước thải sinh hoạt tính trên một đầu người cũng có sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn Nước thải sinh hoạt ở các trung tâm đô thị thường thoát bằng hệ thống thoát nước dẫn ra các sông rạch, còn các vùng ngoại thành và nông thôn do không có
hệ thống thoát nước nên nước thải thường được tiêu thoát tự nhiên vào các ao hồ hoặc thoát bằng biện pháp tự thấm
2.1.2 Thành phần, cấu tạo
Bảng 1 - Giá trị các thông số ô nhiễm làm cơ sở tính toán giá trị tối đa cho phép trong
nước thải sinh hoạt(QCVN 14 : 2008/BTNMT)
Trang 4Trong đó:
- Cột A quy định giá trị C của các thông số ô nhiễm làm cơ sở tính toán giá trị
tối đa cho phép trong nước thải sinh hoạt khi thải vào các nguồn nước được dùng cho
mục đích cấp nước sinh hoạt (có chất lượng nước tương đương cột A1 và A2 của Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt)
- Cột B quy định giá trị C của các thông số ô nhiễm làm cơ sở tính toán giá trị
tối đa cho phép trong nước thải sinh hoạt khi thải vào các nguồn nước không dùng cho
mục đích cấp nước sinh hoạt (có chất lượng nước tương đương cột B1 và B2 của Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt hoặc vùng nước biển ven bờ)
Thành phần của nước thải sinh hoạt gồm 2 loại:
Nước thải nhiễm bẩn do chất bài tiết của con người từ các phòng vệ sinh
Nước thải nhiễm bẩn do các chất thải sinh hoạt: cặn bã từ nhà bếp, các chất rửa trôi,
kể cả làm vệ sinh sàn nhà
Nước thải sinh hoạt chứa nhiều chất hữu cơ hàm lượng chất hữu cơ cao (55-65% tổng lượng chất bẩn), chứa nhiều vi sinh vật, vi khuẩn phân hủy chất hữu cơ cần thiết cho các quá trình chuyển hóa chất bẩn trong NT Chất hữu cơ chứa trong nước thải bao gồm các hợp chất như protein (40-50%);hydrat cacbon(40-50%) Nồng độ chất hữu cơ trong nước thải sinh hoạt dao động trong khoảng 150-450mg/l theo trọng lượng khô Có khoảng 20-40% chất hữu cơ khó bị phân huỷ sinh học Các hợp chất hữu cơ có thể tồn tại dưới các dạng hòa tan, keo, không tan, bay hơi, không bay hơi, dễ phân hủy, khó không hủy, Phần lớn các chất hữu cơ trong nước đóng vai trò là cơ chất đối với vi sinh vật Nó tham gia vào quá trình dinh dưỡng và tạo năng lượng cho vi sinh vật Ơ những khu dân cư đông đúc, điều kiện vệ sinh thấp kém, nước thải sinh hoạt không được
xử lý thích đáng là một trong những nguồn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
Ngoài ra còn có cả các thành phần vô cơ như: H2S, Sunfit, ammonia, Nitơ,… vi sinh vật và vi trùng gây bệnh rất nguy hiểm
2.1.3 Tác hại đến môi trường
Tác hại đến môi trường của nước thải sinh hoạt do các thành phần ô nhiễm tồn tại trong nước thải gây ra
Trang 5COD,BOD: sự khoáng hóa, ổn định chất hữu cơ tiêu thụ một lượng lớn và gây thiếu hụt oxy của nguồn tiếp nhận dẫn đến ảnh hưởng đến hệ sinh thái môi trường nước nếu ô nhiễm quá mức, điều kiện yếm khí có thể hình thành Trong quá trình phân hủy yếm khí sinh ra các sản phẩm như H2S,NH3,CH4,… làm cho nước có mùi hôi thúi và làm giảm
pH của môi trường
SS: lắng đọng ở nguồn tiếp nhận, gây điều kiện yếm khí
Nhiệt độ: nhiệt độ của nước thải sinh hoạt thường không ảnh hưởng đến đời sống của thủy sinh vật nước
Vi trùng gây bệnh: gây ra các bệnh lan truyền bằng đường nước như tiêu chảy, ngộ độc thức ăn, vàng da,…
Ammoniac, P: đây là những nguyên tố dinh dưỡng đa lượng nếu nồng độ trong nước quá cao dẫn đến hiện tượng phú dưỡng hóa ( sự phát triển bùng phát của các loại tảo, làm cho nồng độ oxy trong nước rất thấp vào ban đêm gây ngạt thở và diệt vong các sinh vật, trong khi đó vào ban ngày nồng độ oxy rất cao do các quá trình quang hợp của tảo thải ra)
Màu: gây mất mỹ quan
Dầu mỡ: gây mùi, ngăn cản khuếch tán oxy lên bề mặt
Song chắn rác (SCR), lưới chắn rác làm nhiệm vụ giữa lại các chất bẩn kích
thướclớn có nguồn góc hữu cơ
Loại bỏ tất cả các tạp vật có thể gây sự cố trong quá trính vận hành hệ thống XLNT như: tắc ống bơm, đường ống hoặc ống dẫn
Trong XLNT đô thị người ta dùng song chắn để lọc nước và dùng máy nghiền nhỏ các vật bị giữ lại, còn trong XLNT công nghiệp người ta đặt thêm lưới chắn
SCR được phân loại theo cách vớt rác:
Trang 6+SCR vớt rác thủ công, dùng cho trạm xử lý có công suất nhỏ dưới 0,1 m3/ngày+SCR vớt rác cơ giới bằng các bằng cào dùng cho trạm có công suất lớn hơn 0,1
m3/ngày
Rác được vớt 2-3lần trong ngày và được nghiền để đưa về bể ủ bùn hoặc xả trực tiếp phía trước thiết bị
Bể lắng cát được thiết kế trong công nghệ xử lý nước thải nhằm loại bỏ các tạp chất vô
cơ, chủ yếu là cát chứa trong nước thải
b) B ể lắn g c á t
Trong XLNT, quá trình lắng được sử dụng để loại các tạp chất ở dạng huyền phù thô ra khỏi nước thải Theo chức năng, các bể lắng được phân thành: bể lắng cát , bể lắng sơ cấp, bể lắng thứ cấp.Yêu cầu: có hiệu suất lắng cao và xả bùn dễ dàng
Cũng có thể sử dụng bể lắng như công trình xử lý cuối cùng, nếu điều kiện vệ sinh nơi đó cho phép
Bể lắng sơ cấp: đặt trước công trình xử lý sinh học dùng để gữi lại các chất hữu
cơ không tan trong NT trước khi cho NT vào các bể xử lý sinh học và loại bỏ các chất rắn có khả năng lắng (tỉ trọng lớn hơn tỉ trọng của nước) và các chất nổi (tỉ trọng bé hơn tỉ trọng nước) Nếu thiết kế chính xác bể lắng sơ cấp có thể loại bỏ 50 -70% chất rắn lơ lửng, 25 - 40% BOD
của NT
Bể lắng thứ cấp: đặt sau công trình xử lý sinh học
Căn cứ vào chiều nước chảy phân biệt các loại: bể lắng ngang, đứng, radian
2.2.2 Xử lý sinh học
Cơ sở của phương pháp xử lý sinh học nước thải là dựa vào vào khả năng oxy hóa các liên kết hữu cơ dạng hòa tan và không hòa tan của vi sinh vật- chúng sử dụng các liên kết đó như là nguồn thức ăn của chúng
Các công trình xử lý sinh học có nguồn gốc tự nhiên:
Hồ sinh vật, hệ thống xử lý bằng thực vật nước(lục bình,lau, sậy,rong-tảo, ), cánh đồng tưới, cánh đồng lọc, đất ngập nước,
Trang 7 Các công trình xử lý sinh học trong điều kiện nhân tạo : Bể lọc sinh học các loại, quá trình bùn hoạt tính, lọc sinh học tiếp xúc dạng trống quay(RBC), hố sinh học thổi khí, mương oxy hóa,
a) Đĩa quay sinh học(RBC)
Được áp dụng đầu tiên ở Cộng Hòa Liên Bang Đức 1960, sau đó ở Mỹ và Canada
để khử BOD và Nitrat rất hiệu quả
RBC gồm hàng loạt đĩa tròn, thẳng bằng polystryren(PS) hoặc PVC lắp trên một trục bằng thép có đường kính 3,5m Các đĩa được đặt ngập một phần trong nước thải và quy từ từ với vận tốc 1-3 vòng/phút Trong quá trình vận hành, các vi sinh vật sẽ sinh trưởng gắng kết trên bề mặt đĩa và hình thành lớp màng mỏng nhày trên bề mặt ướt của đĩa (1-4mm).khi đĩa quay, lần lượt làm cho lớp màng vi sinh vật tiếp xúc với chất hữu cơ trong nước thải và với không khí để hấp thụ oxy Đĩa quay cũng là cơ chế để tách các chất rắn thừa ra khỏi bề mặt các đĩa nhờ lực ly tâm
b) XLNT bằng bùn hoạt tính
Trang 8Các vi sinh vật thường tồn tại ở trạng thái huyền phù Bể được sục khí để đảm bảo yêu cầu oxy và duy trì bùn hoạt tính ở trạng thái lơ lửng Huyền phù lỏng của các
vi sinh vật trong bể thông khí được gọi chung là chất lỏng hỗn hợp và sinh khối
(MLSS)
Khi NT đi vào bể thổi khí (bể aeroten), các bông bùn hoạt tính được hình thành
mà hạt nhân của nó là các phần tử cặn lơ lửng
Các loại vi khuẩn hiếu khí đến cư trú, phát triển dần cùng với các động vật nguyên sinh, nấm, xạ khuẩn,… tạo nên các bông bùn màu nâu sẫm, có khả năng hấp thụ các chất hữu cơ hòa tan, keo và không hòa tan phân tán nhỏ
Vi khuẩn và vi sinh vật sống dùng chất hữu cơ và chất ding dưỡng (N, P) lam thức ăn để chuyển hóa chúng thành các chất trơ không hòa tan và thành tế bào mới
Dẫn đến trong bể aeroten lượng bùn hoạt tính tăng dần lên, sau đó được tách ra tại bể lắng đợt 2, một phần được quay trở lại đầu bể aeroten để tham gia xử lý NT theo chu trình mới Quá trình cứ tiếp diễn đến khi chất thải cuối cùng không thể là thức ăn của các vi sinh vật được
nữa
Nếu trong NT đậm đặc chất hữu cơ khó phân hủy, cần có thời gian để chuyển hóa thì phần bùn hoạt tính tuần hoàn phải được tách riêng và sục khí oxy cho chúng
tiêu hóa thức ăn đã hấp thụ Quá trình này gọi là tái sinh bùn hoạt tính.Như vậy quá
trình XLNT bằng bùn HT bao gồm các giai đoạn sau:
Trang 9+Khuấy trộn tạo điều kiện tiếp xúc NT với bùn HT
+Cung cấp oxy để vi khuẩn và vi sinh vật oxy hóa chất hữu cơ
+Tách bùn HT ra khỏi NT
+Tái sinh bùn HT tuần hoàn và đưa chúng về bể aeroten
Yêu cầu chung về vận hành:
+Các bể aeroten phải đảm bảo bề mặt tiếp xúc lớn giữa không khí, NT và bùn.+Không khí được cấp vào NT bằng: nén khí qua bộ phận khuếch tán ngập trong nước bằng sục khí hoặc dùng khuấy cơ học thổi vào chất lỏng bằng thông khí cơ học
+NT đưa vào DO ≥ 2mg/l, SS ≤ 150mg/l (đối với hàm lượng sản phẩm dầu mỏ thì ≤ 25mg/l), pH 6,5-9, nhiệt độ 6-30oC, độc tố: GHCP, khoáng hòa tan: đầy đủ, BOD (chất hữu cơ dễ bị phân hủy), nồng độ các chất dinh dưỡng khác: đảm bảo
Phân loại bể aeroten:
+Theo chế độ thủy động lực có: bể aeroten đẩy, khuấy trộn, trung gian
+Theo phương pháp tái sinh bùn hoạt tính: loại có tái sinh tách riêng, loại không
có tái sinh tách riêng
+Theo tải lượng bùn: loại tải trọng cao, trung bình, thấp
+Theo số bậc: 1 bậc, 2 bậc, nhiều bậc
+Theo chiều dẫn NT vào: xuôi chiều, ngược chiều
2.2.3 Xử lý hóa học(Khử trùng nước thải)
Khử trùng nước thải là giai đoạn cuối cùng của công nghệ xử lý nước nước thải nhằm loại bỏ các vi trùng vá virus gây bệnh trước khi xả vào nguồn nước
Để khử trùng nước thải có thể sử dụng clo và các hợp chất chứa clo, có thể tiến hành khử trùng bằng ozon, tia hồng ngoại, ion, bạc, nhưng cần nhắc kỹ về mặt kinh tế
K h ử t r ùn g nư ớ c t h ả i b ằ n g c l o
Rẻ tiền, đơn giản, hiệu quả cao
Thường dùng: clo lỏng, natri hypoclorit lỏng NaClO, canxi hypoclorit rắn CaCl
2(ClO)2.H2O
Trang 10Tổng lượng Cl2, ClO- trong nước gọi là lượng clo hoạt tính Khử trùng được tiến hành theo các bước:
-Xáo trộn hóa chất khử trùng với NT trong các bể trộn 1-2 phút
-Thực hiện phản ứng tiếp xúc hóa chất khử trùng với NT trong các bể tiếp xúc và máng dẫn NT ra nguồn với thời gian 15-20 phút, phụ thuộc vào các điều kiện xáo trộn
và phản ứng
Tuy nhiên, nếu trong NT chứa nhiều chất hữu cơ chúng sẽ kết hợp với clo tạo các sản phẩm độc hại, dễ gây hại cho nguồn nước đặc biệt đối nguồn nước cấp cho mục đích sinh
hoạt
-Khử trùng bằng clo nước: để định lượng clo, xáo trộn clo với hơi nước công tác, điều chế và vận chuyển đến nơi sử dụng người ta thường dùng cloratơ (cloratơ hoạt động liên tục đều, cloratơ hoạt động liên tục tỷ lệ với lưu lượng nước, cloratơ chân không) Nguyên tắc hoạt động của cloratơ: các banlon clo sử dụng để trên cân để theo dõi lượng clo tiêu thụ Đối với clo hơi khi nén vào banlon có thể bị lẫn bụi vì vậy trước khi qua lưu lượng kế, clo cần được khử bụi, lưu lượng được điều chỉnh bằng lưu lượng kế và hóa lỏng bằng nước sạch Thường dùng cloratơ chân không có áp lực thấp hơn áp suất không khí do đó hơi clo không bay ra ngoài Các banlon clo được cung
Trang 11-Các thùng pha clorua vôi có thể làm bằng composit, gỗ, bêtông có bọc nhựa, dung dịch clo được khuấy trộn bằng cánh khuấy và trục chịu hóa chất.
Áp dụng: các trạm XLNT công suất < 1000 m3/ngày
2.2.4 Quy trình công nghệ
Nước thải từ khu dân cư trước khi đi vào bể lắng cát thổi khí được cho
qua song chắn rác Khi qua song chắn rác, các thành phần như nhánh cây, gỗ, nhựa, giấy,
lá cây, rễ cây, giẻ rách, bị giữ lại và được thu gom bằng thủ công cho vào thùng chứa rác
Bể lắng cát có nhiệm vụ tạo thời gian lưu và thu giữ các hạt cát sỏi có kích thước lớn hơn 0,2mm Tại bể lắng cát, các chất vô cơ có trọng lượng lớn sẽ bị tách ra khỏi nước, và được xả vào sân phơi cát Sau đó nước thải được dẫn đến bể điều hòa lưu lượng với hệ thống sục khí để chống khả năng lắng cặn tại bể
Trang 12Sau đó nước thải được bơm đến bể aeroten, tại bể aeroten nước thải được xử
lý bằng quá trình sinh học lơ lửng
Nước sau khi ra khỏi bể aeroten, được dẫn đến bể lắng đợt 2 Bể lắng đợt 2 được xây dựng theo mô hình bể lắng ly tâm có thời gian lưu nước từ 1,5-3 giờ Dưới tác dụng của trong lực và lực ly tâm các hạt bông bùn hoạt tính sa lắng xuống đáy Một phần bùn hoạt tính được trở lại bể aeroten, phần bùn dư được đưa ra sân phơi bùn Bùn được tách nước và đưa đi làm phân bón cây Sau đó nước thải được khử trùng bằng clo tại bể tiếp xúc
Nước thải sau khi qua hệ thống có các chỉ tiêu thõa mãn với yêu cầu xả thải và được xả vào nguồn nước mặt của địa phương
III CÁC NGHIÊN CỨU VÀ ỨNG DỤNG
3.1 Các nghiên cứu
3.1.1 Đề tài: Hiệu suất xử lý nước thải sinh hoạt của hệ thống đất ngập nước kiến tạo nền
cát vận hành với mức tải nạp thủy lực cao
• Đề tài do: Ngô Thụy Diễm Trang, trường Đại học Cần Thơ và Hans Brix, trường
Đại học Aarhus – Đan Mạch thực hiện
• Nơi nghiên cứu: Tại khu 1, đại học Cần Thơ.
• Thời gian thực hiện: Hệ thống hoàn thành trong năm 2002
• Nội dung:
Tầm quan trọng của việc sử dụng hệ thống bãi lọc trồng sậy qui mô nhỏ trong việc xử lý nước thải sinh hoạt phi tập trung ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, Việt Nam, với kết quả là nước thải đầu ra của hệ thống có chất lượng tốt Hệ thống đất ngập nước kiến tạo nền cát trồng sậy có dòng chảy ngầm ngang (HSSF CWs) được xây dựng tại khu 1, Đại học Cần Thơ Hệ thống được vận hành với hai mức tải nạp thủy lực (HLRs) là 31 và
62 mm/ngày Khả năng xử lý TSS, lân hòa tan (PO
4-P) và lân tổng (TP) là rất hiệu quả
và không đổi cho cả hai mức HLRs với hiệu suất xử lý trung bình tương ứng khoảng 94,
99 và 99%, trong khi đó hiệu suất xử lý nhu cầu oxy sinh học (BOD
5), nhu cầu oxy
Trang 13hóa học (COD), tổng đạm Kjeldahl (TKN) và đạm amôn (NH
4-N) giảm khi HLR tăng,
và có giá trị trung bình nằm trong khoảng tương ứng là 47-71, 68-84, 63-87 và 69-91% Kết quả cho thấy bằng cách sử dụng HSSF CWs trong việc xử lý nước thải sinh hoạt là phương pháp khả thi Chất lượng nước thải đầu ra của hệ thống ở mức HLR cao62
mm/ngày (tương đương 1200 L/ngày) đạt tiêu chuẩn Việt Nam cho phép xả thải vào nguồn nước mặt
• Phương pháp nghiên cứu: Lý luận khoa học và nghiên cứu thực tiễn.
• Mục tiêu:
Đề tài này được thực hiện nhằm đánh giá hiệu suất xử lý nước thải sinh hoạt của hệ thống với lưu lượng nạp vào cao hơn thông qua chất lượng nước thải đầu ra so với tiêu chuẩn QCVN 24:2009/BTNMT (thay thế cho TCVN 5945:2005) (Loại A: cho phép thải vào nguồn tiếp nhận là nguồn nước dùng cho mục đích sinh hoạt; Loại B: cho phép thải vào nguồn tiếp nhận là nguồn nước dùng cho mục đích khác) Từ đó làm
cơ sở cho việc thiết kế hệ thống ĐNN khi áp dụng ở diện rộng hơn hay cho những
nghiên cứu tiếp theo trên cùng hệ thống
• Sản phẩm: Xử lí nước thải sinh hoạt phi tập trung bằng hệ thống Đất ngập nước (ĐNN) kiến tạo theo phương ngang (HSSF) ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long
• Mô tả hệ thống
Hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt bằng đất ngập nước kiến tạo dòng chảy ngầm theo phương ngang (HSSF) được thiết kế phục vụ nghiên cứu tốc độ dòng chảy trong hệ thống do Dự án VLIR – A2 tài trợ Hệ thống bao gồm các bể liên tiếp: (1)
bể vào (bể điều lưu) (2,0m x 1,6m x 2,2m: dài x rộng x cao) chứa nước thải đầu vào được bơm vào từ thùng nhựa thu gom 500L từ các hộ gia đình, bơm qua 1 tấm lưới lọc rác; (2) bể lọc than đước (0,6m x 1,6m x 1,3m) để lọc giữ lại các chất rắn, khử mùi, một
số chất ô nhiễm và vi sinh có trong nước thải; (3) bể lọc xơ dừa (0,4m x 1,6m x 1,05m) được ngăn cách với bể xử lý phía sau bằng một lưới thép, trong bể có kẹp xơ dừa để ngăn cát tràn ngược về phía trước và ngăn không cho các mảnh vụn của than cũng như các mảnh vụn hữu cơ có kích thước lớn đi vào bể xử lý; (4) bể cát có trồng
Trang 14Sậy Phragmites sp (25 cây/m2) là phần chính của hệ thống có kích thước dài x rộng (12,0m x 1,6m) và chiều cao ở đầu khu đất là 1,75m, chiều cao ở cuối khu đất
là 2m, đáy bể được đặt nghiêng hướng bể đầu ra với độ dốc i = 1%; và (5) cuối cùng là
bể đầu ra (1,0m x 1,6m x 1,2m) Đầu ra đặt ở cuối hệ thống với 2 vòi chảy tràn đặt cách đáy hệ thống 1,3m Ngoài ra, có một vòi xả đặt cách đáy hệ thống là 0,6m để lấy mẫu nước ra và một van xả đáy
• Vận hành hệ thống
Hai lưu lượng đã được áp dụng là 0,6 và 1,2 m3/ngày tương ứng với mức tải nạp thủy lực (HLR) là 31 và 62 mm/ngày Mức tải nảp thủy lực thấp (31 mm/ngày) sẽ được vận hành đầu tiên, nước thải được bơm vào bể điều lưu Lượng nước thải được chia làm 2 lần bơm sáng và chiều Trong bể điều lưu có lắp một dây thước, mỗi lần bơm nước thải vào, van ở bể điều lưu được khóa lại, và bơm một thể tích nước có chiều cao 11cm đối với nghiệm thức 600L, và 22 cm với nghiệm thức 1200L (trong suốt bài viết sẽ sử dụng NT 600L và NT 1200L) Khi đủ lượng thì mở van cho nước chảy vào hệ thống Hệ thống được vận hành liên tục 15 ngày cho mỗi lưu lượng nhằm ổn định
hệ thống trước khi thu mẫu Việc thu mẫu nước tiến hành 2 ngày 1 lần liên tục trong 10 ngày cho mỗi NT