Các công cụ của thị trường tiền tệ: chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng tín phiếu kho bạc thương phiếu chấp nhận thanh toán của ngân hàng hợp đồng mua bán lại.. I.Chứng chỉ
Trang 1B CÔNG TH Ộ CÔNG THƯƠNG ƯƠNG NG
TR ƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG THƯƠNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NG CAO Đ NG CÔNG TH ẲNG CÔNG THƯƠNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ƯƠNG NG THÀNH PH H CHÍ MINH Ố HỒ CHÍ MINH Ồ CHÍ MINH
Ti u lu n môn ểu luận môn ận môn : Tài chính – Tín d ng ụng.
Đ tài ề tài : Các công c trên th tr ụng ị trường tài chính ường tài chính ng tài chính.
Tp Hồ
Chí Minh, ngày 12 tháng 9 năm 2013
.
Trang 2Gi ng viên h ảng viên hướng dẩn: ướng dẩn: ng d n: ẩn:
Cao Th Miên Thùy ị Miên Thùy
Sinh viên th c hi n: ực hiện: ện:
1 Mai Tr ường tài chính ng Đoàn
2 Nguy n Th Ng c Bích ễn Thị Ngọc Bích ị trường tài chính ọc Bích
3 Ph m Th Bích Tuy n ạm Thị Bích Tuyền ị trường tài chính ền
4 Nguy n Th Kim Đào ễn Thị Ngọc Bích ị trường tài chính.
5 Lâm Th Huy n Linh ị trường tài chính ền
6 Ngô Th Bé ị trường tài chính.
Trang 3 THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
1.Khái niệm:
Thị trường tài chính là nơi diễn ra các hoạt động mua bán các loại giấy có giá, nơi gặp gỡ các nguồn cung cầu về vốn, qua đó hình thành nên giá mua và giá bán các loại
cổ phiếu, trái phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu…hình thành nên giá cả các loại vốn đầu tư bao gồm: lãi suất đi vay, lãi suất cho vay, lãi suất ngắn hạn, trung hạn và dài hạn
2.Phân loại:
căn cứ vào thời gian vận động của vốn chia làm 2 loại:
thị trường tiền tệ
thị trường vốn
A.Thị trường tiền tệ:
Khái niệm:
Thị trường tiền tệ là thị trường bán có giá ngắn hạn có kỳ hạn dưới 1 năm, là nơi đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn cho nền kinh tế
Các công cụ của thị trường tiền tệ:
chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng
tín phiếu kho bạc
thương phiếu
chấp nhận thanh toán của ngân hàng
hợp đồng mua bán lại
I.Chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng (certificates of deposit_CD)
1.Khái niệm:
Chứng chỉ tiền gửi là công cụ ngắn hạn do ngân hàng phát hành nhằm huy động vốn trên thị trường với bản chất tương tự như một khoản tiền gửi kỳ hạn Theo đó người sở hữu được hưởng các lãi suất định kỳ
Nói đến CD, người ta thường nghĩ ngay tới những lúc nghe nhạc thư giãn hay xem những bộ phim hay Tuy nhiên, CD không chỉ là một chiếc đĩa nó còn được biết đến là một công cụ tài chính ưa thích của các nhà đầu tư đi tìm sự an toàn
Chứng chỉ tiền gửi lần đầu tiên tại Mỹ đầu những năm 60, sau đó được lưu hành tại Anh Tại Việt Nam chứng chỉ tiền gửi mới chỉ xuất hiện những năm gần đây
Quyền lợi cơ bản của chủ sỡ hữu:
Được hưởng lãi trên số tiền đã mua
Trang 4 Được quyền cho, tặng, chuyển nhượng theo quy định của pháp luật và tổ chức phát hành
Các quyền lợi khác do tổ chức phát hành quy định
2.Đặc tính:
Đồng tiền: VNĐ, ngoại tệ
Mệnh giá tối thiểu: 100.000 VNĐ, 100 USD, ngoại tệ tương đương
Mệnh giá tối đa: 1 tỷ VNĐ, 100.000 USD, ngoại tệ tương đương
3.Ưu điểm:
Chứng chỉ tiền gửi là là một tài sản đầu tư phi rủi ro vì thường được bảo đảm bởi các chính phủ Điều này rất hấp dẫn đối với những nhà đầu tư đang tìm kiếm sự an toàn
Vd: ở Mỹ, chứng chỉ tiền gửi của ngân hàng được bảo đảm bởi Cơ quan bảo hiểm tiền gửi Liên bang Còn chứng chỉ tiền gửi do các tổ chức tín dụng phát hành được đảm bảo bởi Hội liên hiệp tín dụng quốc tế
Có lãi suất cao hơn so với các tài khoản tiết kiệm thông thường cùng kỳ
4.Nhược điểm:
Tính thanh khoản của nó không cao bằng tiền gửi ở tài khoản tiết kiệm.tính thanh khoản là một tài sản bất kỳ cơ thể mua hoặc bán trên thị trường mà không ảnh hưởng đến giá của thị trường đóvà có thể dễ dàng chuyển sang tiền mặt
Về dài hạn, chứng chỉ tiền gửi trả lãi suất thấp hơn so với trái phiếu doanh nghiệp
II.Tín phiếu kho bạc
1 Khái niệm:
Tín phiếu kho bạc là một loại giấy nợ do chính phủ phát hành,có kỳ hạn dưới 1 năm để bù đắp thiếu hụt tạm thời của ngân hàng nhà nước và là một trong những công cụ quan trọng để ngân hàng trung ương điều hành các chính sách tiền tệ
Tại Việt Nam ,tín phiếu kho bạc do Bộ Tài Chính phát hành ,tín phiếu kho bạc thường có các kỳ hạn như 1 tháng, 2 tháng,3 tháng, 6 tháng, 9 tháng với một hay nhiều mức mệnh giá
Tín phiếu kho bạc thường được coi là không có rủi ro tín dụng (Rủi ro phá sản)
2 Hình thức, mệnh giá tín phiếu kho bạc
a Hình thức
Trang 5 Tín phiếu kho bạc đấu thầu qua Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam được phát hành dưới hình thức chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ,có ghi danh hoặc không ghi danh
Tín phiếu kho bạc khi phát hành được thực hiện theo hình thức bút toán ghi sổ Trong trường hợp chủ sở hữu muốn nhận chứng chỉ tín phiếu Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam thông báo cho kho bạc Nhà Nước để cấp chứng chỉ
b Mệnh giá
Mệnh giá của Tín phiếu kho bạc do Bộ Tài Chính thông báo cho từng đợt phát hành
Các kỳ hạn:91 ngày,182 ngày,273 ngày,364 ngày
Lãi suất :
+ Bộ Trưởng Bộ Tài Chính thông báo lãi suất trần, Tổng giám đốc kho bạc Nhà Nước quyết định lãi suất cụ thể cho từng phiên đấu trong phạm
vi lãi suất trần cho phép Tùy điiều kiện cụ thể ,Bộ trưởng Bộ Tài Chính
có thể không quyết định mức lãi suất trần để tổ chức đấu thầu
+ Lãi suất phát hành Tín phiếu kho bạc đã xác định trên cơ sở của từng phiên đấu thầu
3 Hình thức bán Tín phiếu kho bạc
Gồm 2 hình thức:
- Ngang mệnh giá
- Chiết khấu
4 Thanh toán tín phiếu kho bạc
a Thanh toán tín phiếu kho bạc khi hết hạn
- Việc thanh toán gốc,lãi tín phiếu kho bạc khi hết hạn được thực hiện thông qua Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam Trước ngày đến hạn thanh toán gốc lãi 1 ngay làm việc
- Nhà nước, NHNN Việt Nam được tự động trích tài khoản tiền gởi của kho bạc Nhà Nước tại Sở giao dịch NHNN để thanh toán cho chủ sở hữu tín phiếu kho bạc
- Nếu ngày đến hạn thanh toán gốc ,lãi suất tín phiếu kho bạc,là ngày chi theo chế độ,thì tiền lãi tín phiếu,trái phiếu được thanh toán vào ngày làm việc tiếp theo ngày nghỉ đó
b Chi phí phát hành thanh toán
-Toàn bộ chi phí tổ chức đấu thầu ,thanh toán tín phiếu kho bạc do Ngân Sách Trung Ương báo và chi trả Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam theo tỉ lệ
là 0.05% trên tín phiếu kho bạc đấu thầu
- Các khoản chi phí cho công tác đấu thầu ,thanh toán tín phiếu kho bạc được hoạch toán vào nghiệp vụ của NHNNVN
Trang 6III.Thương phiếu
1 Cơ sở ra đời
- Trên thực tế,do có sự khác biệt giữa chu kỳ sản xuất-kinh doanh giữa các doanh nghiệp,viêc thừa vốn ở doanh nghiệp này và thiếu vốn ở doanh nghiệp khác là hiện tượng phổ biến và có tinh tất yếu Trong điều kiện thành phẩm của doanh nghiệp thừa tồn tại là nguyên, nhiên, vật liệu của doanh nghiệp thiếu vốn, nếu quan hệ mua bán chịu được thực hiện trong một thời gian nhất định thì đều có lợi Đó chính là mối quan hệ tín dụng thương mại
- Để đảm bảo nguồn mua chịu trả nợ khi đúng hạn,bên cạnh sự tin tưởng, người bán chịu còn đòi hỏi phải có 1 chứng cứ pháp lý , đó chính là giấy chứng nhận mối quan hệ mua bán chịu,có thể do chủ nợ lập để đòi
tiền ,hoặc do con nợ lập để cam kết trả tiền Nó được gọi là “ký phiếu thương mại” hay “thương phiếu”
2 Khái niệm
Thương phiếu là chứng chỉ có giá ghi nhận lệnh yêu cầu thanh toán hoặc cam kết thanh toán không điều kiện 1 số tiền nhất định trong 1 thời gian nhất định
3 Hình thức: gồm 2 hình thức
a Hối phiếu
- Khái niệm: là chứng chỉ có giá do người ký phát lập, yêu cầu người bị
ký phát thanh toán không điều kiện 1 số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời gian nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng
- Nội dung:
+ Từ “Hối phiếu”được ghi trên mặt trước của Hối phiếu
+ Lệnh yêu cầu thanh toán không điều kiện 1 số tiền xác định
+ Thời hạn thanh toán Hối phiếu
+ Tên và địa chỉ của người bị ký phát
+ Tên và địa chỉ của người thụ hưởng
+ Địa chỉ và ngày ký phát hành
+ Tên, địa chỉ và chữ ký của người ký phát
- Hối phiếu thiếu 1 trong những nội dung trên thì không có giá trị
b Lệnh phiếu
- Khái niệm:là chứng chỉ có giá cho người phát hành lập,cam kết thanh toán không điều kiện 1 số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào 1 thời gian nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng
- Nội dung:
+ Từ “Lệnh phiếu” được ghi trên mặt trước của Lệnh phiếu
+ Cam kết chi trả không điều kiện 1 số tiền xác định
+ Thời hạn thanh toán Lệnh phiếu
+ Địa điểm thanh toán Lệnh Phiếu
+ Tên và địa điểm của người thụ hưởng
+ Địa điểm và ngày ký phát hành
Trang 7+ Tên, địa chỉ và chữ ký của người phát hành.
4 Tính chất:
- Tính trừu tượng: Trên thương phiếu không ghi cụ thể nguyên nhân phát sinh khoản nợ mà chi phí các thông tin về số tiền phải trả,thời hạn trả tiền
và người trả tiền
- Tính bắt buột: Quy định người trả tiền phải thanh toán cho người thụ hưởng đúng hạn,không được phép từ chối hoặc trì hoãn việc trả tiền
- Tính lưu thông: Thương phiếu được chuyển nhượng từ người thụ hưởng sang người khác bằng phương pháp ký hậu, nó có thể chuyển hóa ra tiền khi mang đến ngân hang xin chiết khấu hoặc cầm cố
5 Ưu ,nhược điểm
a Ưu điểm:
- Thương phiếu đã trở thành 1 công cụ lưu thông tín dụng thay thế tiền mặt,tiết kiệm tiền mặt và ghóp phần ổn định tiền tệ
- Là cở sở pháp lý trong quan hệ mua bán chịu, bảo vệ quyền lợi của các chủ thể trong tín dụng thương mại, loại bỏ được tình trạng nợ nần đẩy đưa giữa các doanh nghiệp
- Là loại tài sản đảm bảo chắc chắn khi ngân hàng nhận chiết khấu hay nhận cho vay cầm cố,có tính thanh khoản cao
- Bổ sung hàng hóa cho thị trường mở,tạo điều kiện cho Ngân Hàng Trng Ương thực hiện tốt công tác điều khối tiền trong lưu thông
- …
b Nhược điểm:
- Do tính trừu tượng của thương phiếu sẽ dẫn đến tình trạng 2 doanh nghiệp thông đồng nhau lập ra thương phiếu khống (Thương phiếu không phát sinh từ quan hệ mua bán chịu) để mang đến Ngân Hàng xin chiết khấu hoặc cầm cố Làm cho cơ sở đảm bảo của thương phiếu là tín dụng hàng hóa Làm cho cơ sở đảm bảo của thương phiếu là tín dụng hàng hóa không thể tồn tại,số tiền cho vay được ngân hàng phát ra không có cơ sở đảm bảo
- Khó có thể mở rộng quy mô và thời gian mua bán chịu hàng hóa trong trường hợp nhu cầu mua chịu quá lớn và thời gian quá lâu
6 Chiết khấu thương phiếu
a Khái niệm: Là hình thức tín dụng của ngân hàng Thương Mại, thực hiện
bằng việc Ngân Hàng mua lại thương phiếu chưa đáo hạn của khách hàng
- Đăc điểm:khoản lãi phải trả ngay khi nhận vốnkhoản lợi tức này sẽ được Làm cho cơ sở đảm bảo của thương phiếu là tín dụng hàng hóa khấu trừ ngay tại thời điểm chiết khấu
b Ý nghĩa:
- Đối với người sở hữu thương phiếu: Giúp cho họ có tiền để đáp ứng nhu cầu thanh toán,biến các thương phiếu chưa đến hạn thanh toán trở thành phương tiện lưu động,phương thức thanh toán
- Đối với ngân hàng: Tạo tài sản sinh lời cho ngân hàng vừa tạo ra 1 lực lượng dự trữ sẵn sàng đáp ứng nhu cầu thanh toán
Trang 8IV Chấp Phiếu Ngân Hàng
1 Khái niệm:
Chấp phiếu ngân hàng (BAs) là do công ty phát hành và được ngân hàng chấp nhận
thanh toán bằng cách đánh dấu chấp nhận lên, và để giảm mức độ rủi ro với ngân hàng khi chủ thể phát hành hối phiếu không đảm bảo khả năng thanh toán thì ngân hàng chấp nhận thanh toán thường yêu cầu chủ thể phát hành kí gửi một lượng tiền nhất định trong ngân hàng và thường được bán lại trên thị trường thứ cấp với mệnh giá thấp hơn số tiền ghi trên
Khi đã được ngân hàng đóng dấu “chấp nhận” thanh toán thì nó sẽ trở thành chấp phiếu (coi như đã được ngân hàng bảo đảm chi trả).Trên chấp phiếu ghi rõ ngày và số tiền cần thanh toán Các chấp phiếu có thời hạn từ 30-270 ngày (trong vòng 90 ngày là phổ biến) và được xem là công cụ tài chính ngắn hạn có chất lượng thượng đẳng: kì hạn ngắn, rủi ro thấp, tính linh hoạt cao là phương tiện tài trợ có chi phí thấp Do đó chấp phiếu ngân hàng có một thị trường thứ cấp ưu việt
2.Chủ thể tham gia
gồm 3 đối tượng cở bản
• Là người phát hành hối phiếu ,trái phiếu…người có nhu cầu về vốn và đi vay Vd:doanh nghiệp,tổ chức,cá nhân
• Là người chịu trách nhiệm thanh toán cho người thụ hưởng khi đến thời hạn Vd:VietinBank, ACB, DongABank
• Là người hưởng quyền lợi từ người ký phát,do người ký phát chỉ định…
Vd: Doanh nghiệp, cá nhân…
3 Đặc điểm của chấp phiếu
Một là, ngân hàng đứng ra bảo lãnh thanh toán
Trong quan hệ buôn bán với nhau, việc không chắc chắn về năng lực tài chính và khả năng thanh toán của đối tác là một điều dễ hiểu Do vậy nhu cầu cần có người bảo lãnh, đảm bảo cho đối tác về mặt thanh toán là một xu hướng tất yếu Người bán cần một ngân hàng uy tín chấp nhận thay mặt doanh nghiệp đối tác trả nợ cho mình trong trường hợp đối tác mất khả năng thanh toán nợ nần cho mình.Như vậy, khi ngân hàng đóng dấu chấp nhận bảo lãnh thanh toán thì người trả tiền bây giờ không còn là người mua hàng nữa mà là ngân hàng bảo lãnh Ngân hàng sẽ yêu cầu người mua chịu phải
kí quỹ vào gửi ngân hàng một phần hoặc toàn bộ giá trị nhất định, hoặc ngân hàng sẽ đồng ý cho vay để thanh toán, bên cạnh đó ngân hàng sẽ thu một khoản phiếu đảm bảo thanh toán
Trang 9Hai là, người sở hữu chấp phiếu có thể bán lại chấp phiếu trên thị trường tiền tệ với giá chiết khấu
Do được ngân hàng chấp nhận thanh toán nên chấp phiếu ngân hàng là một công cụ
nợ có độ an toàn khá cao Khi cần tiền mặt gấp thì người chủ sở hữu chấp phiếu sẽ có thể đem bán chúng trên thị trường tiền tệ
Các công ty muốn phát hành phải kí gửi một món tiền bắt buộc vào tài khoản của họ tại ngân hàng hoặc được ngân hàng đồng ý cho vay để đảm bảo khả năng chi trả tối thiểu.Điều này nhằm hạn chế rủi ro cho ngân hàng với tư cách chấp nhận thanh toán
4.Ưu điểm chấp phiếu
• Chấp phiếu ngân hàng thường được sử dụng trong ngoại thương, xuất nhập khẩu hoặc trong thị trường mua bán chịu Khi mà người bán không tin vào khả năng thanh toán của người mua thì họ sẽ yêu cầu người mua đảm bảo thanh toán từ ngân hàng có uy tín, khi đã được ngân hàng kí dấu “chấp nhận” chi trả, thì lúc này người trả tiền không phải là người mua nữa mà là ngân hàng, do vậy người bán được đảm bảo khá chắc chắn về khả năng thanh toán
• Do được ngân hàng chấp nhận thanh toán nên các chấp phiếu là một công cụ
nợ có độ an toàn khá cao, nhất là khi ngân hàng chấp nhận là những ngân hàng lớn, có uy tín Đồng thời, chấp phiếu có thể được đem bán lại trên thị trường thứ cấp với giá chiết khấu, nhỏ hơn mệnh giá khi cần vốn
• Giúp doanh nghiệp đáp ứng được yêu cầu của đối tác trong trường hợp đối tác yêu cầu phải có bảo lãnh của ngân hàng;
• Giúp tăng độ tin cậy của doanh nghiệp với đối tác của mình bằng bảo lãnh từ một ngân hàng có uy tín;
• Giúp gia tăng cơ hội vay vốn cho doanh nghiệp phục vụ sản xuất kinh doanh
.5 Hạn chế của chấp phiếu
Do thời hạn ngắn nên những biến động về giá của các công cụ tài chính do ảnh hưởng của sự biến động lãi suất thị trường là không đáng kể, các công cụ của thị trường tiền tệ thường được phát hành theo dạng được chuẩn mực hóa cao và thị trường thứ cấp của chúng rất phát triển Hơn nữa thông thường các công cụ này được đảm bảo bằng tài sản hoặc các dạng đảm bảo khác của người đi vay chúng là những công cụ đầu tư có tính thanh khoản cao và ít rủi ro Do đó dẫn đến lợi nhuận đem lại từ chấp phiếu ngân hàng thấp hơn so với các công cụ thị trường vốn dài hạn
Một khi rủi ro thì NH sẽ mất uy tín,không còn sự tín nhiệm của khách
hàng.Bên cạnh là do giả mạo chữ ký,con dấu của người lãnh đạo để đạt mục đích
Hình thức chấp phiếu ngân hàng còn chưa thực sự phát triển ở Việt Nam
Trang 106.Tình hình sử dụng chấp phiếu tại Việt Nam
Trong các giao dịch xuất khẩu hàng hóa từ Việt Nam đi các nước, phương thức thanh toán phổ biến nhất và được các doanh nghiệp Việt Nam (nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ) ưu chuộng nhất hiện nay là thanh toán theo tín dụng chứng từ (gọi tắt là thanh toán L/C-letter of credict) Các thông lệ và tập quán liên quan đến L/C được quy định chi tiết trong các bộ quy tắc UCP 600 của phòng thương mại quốc tế ICC Về bản chất L/C là một cam kết thanh toán có điều kiện của ngân hàng phát hành Do vậy, nhà xuất khẩu Việt Nam có thể an tâm về khả năng thanh toán của người mua hàng
Nhưng không phải cứ có L/C là có tiền.Nguyên nhân là các rủi ro có thể xảy đến từ bản chất cam kết thanh toán có điều kiện của L/C rất dễ bị các doanh nghiệp Việt Nam không chú ý khiến cho bộ hồ sơ gặp lỗi và ngân hàng từ chối chi trả Hình thức chấp phiếu ngân hàng còn chưa thực sự phát triển ở Việt Nam
V Hợp Đồng Mua Bán Lại
1 Khái niệm:
Hợp đồng mua bán lại (Repurchase agreement- Repo): Đây là một thỏa thuận mua-bán (thông thường là tín phiếu kho bạc hay trái phiếu chính phủ) theo đó người mua đồng ý mua lại chứng khoán theo giá thỏa thuận với thời gian được
ấn định Repo không chỉ là phương tiện đầu tư rộng rãi trên thị trường tiền tệ
mà ngân hàng trung ương cũng áp dụng trên thị trường mở (open market) như một phương pháp điều chỉnh cung-cầu tiền tệ
2 Đặc điểm:
- Hợp đồng Repo thể hiện một khoản vay có bảo đảm Khoản lãi trả cho người cho vay chính là phần chênh lệch giữa giá bán ban đầu thấp hơn giá mua lại chứng khoán đó Ngoài ra, giá trị thực tế của khoản vay thường thấp hơn giá trị thị trường của chứng khoán làm tài sản cầm cố Phần chênh lệch này cao hay thấp phụ thuộc mức độ an toàn của tài sản cầm cố Ví dụ, nếu người cho vay chỉ cho vay 90% giá trị theo thị trường của chứng khoán thì khoản chênh lệch là 10%
- Bên cạnh đó, hợp đồng Repo cũng thể hiện giao dịch mua và bán hẳn do trong hợp đồng có sự chuyển giao quyền sở hữu tài sản cầm cố Người mua trong giao dịch Repo có quyền kinh doanh chứng khoán đã mua trong suốt thời hạn của hợp đồng Repo thể hiện sự chuyển giao quyền sở hữu Đặc điểm này không xuất hiện trong các hợp đồng cho vay có tài sản cầm cố
- Người bán chứng khoán (người đi vay) có quyền thay thế tài sản cầm cố nhưng phải đảm bảo thực hiện các điều khoản gắn liền với thị trường
- Kỳ hạn hợp đồng ngắn và được điều chỉnh để đáp ứng một cách chính xác các nhu cầu đầu tư đa dạng Các kỳ hạn chuẩn, phổ biến của hợp đồng Repo là qua đêm, vài ngày hoặc 1, 2 hay 3 tuần hoặc 1, 2, 3 hoặc 6 tháng Nhưng còn có các hợp đồng Repo mà kỳ hạn có thể được thương lượng hoặc để mở và được duy trì liên tục cho đến khi một trong 2 bên yêu cầu chấm dứt hợp đồng Các hợp đồng duy trì liên tục giống với một