MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DÂN SỐ HỌC
Trang 1Trường Đại học Khoa học Tự Nhiên
Khoa Môi Trường
BÀI TIỂU LUẬN NHÓM 1
Môn: Dân số và phát triển bền vững
Đề tài: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DÂN SỐ HỌC
Giảng viên hướng dẫn: Th.s Phạm Thị Thu Hà
Thành viên nhóm:
Vũ Thị Lan Anh Thái Văn Bảo Nguyễn Long Biên
Lê Hồng Chiến
Trang 2đề dân số.
Dân số vẫn là nguyên nhân chủ yếu tác động chủ yếu tới sự suy thoái và tàn phá của môi trường trong hiện tại và tương lai Trong bài
Trang 3NỘI DUNG
KHÁI NIỆM VỀ
DÂN SỐ HỌC
ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA DÂN SỐ
HỌC
CÁC THỜI KỲ DÂN SỐ HỌC VÀ MÔI TRƯỜNG
III
Trang 4I KHÁI NIỆM VỀ DÂN SỐ HỌC
Năm 1953 các nhà khoa học lớn nhất nước tư bản: Mĩ, Anh, Pháp, Thụy Điển, Brazil, Cộng Hòa Liên Bang Đức và Ấn Độ hợp tác viết cuốn “nghiên cứu dân số”( the study of Population) với tham vọng bức tranh toàn cảnh và đầy đủ về dân số học như một khoa học và nghề nghiệp của thế kỷ XX Trong đó các tác đã đưa
ra định nghĩa:
“ Dân số học là môn khoa học nghiên cứu số lượng, phân bố và cơ cấu dân
cư cũng như những biến động xảy ra trong dân cư mà yếu tố của những biến
Trang 5Trong cuốn giáo trình dân số học xuất bản năm 1985 của nhiều trường đại học ở Liên Xô (cũ) định nghĩa:
“ Dân số học là khoa học nghiên cứu số lượng, phân bố theo lãnh thổ
và cơ cấu của dân số với những biến động của chúng, giải thích nguyên nhân và hậu quả của những biến động đó Mối quan hệ lẫn nhau giữa yếu tố kinh tế xã hội với những biến động trong dân cư” Trường phái Mác xít của Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô cũng trong năm đó đã đưa ra định nghĩa về dân số học như sau: “ Dân số học là khoa học nghiên cứu những quy luật của tái sản xuất dân số trong những điều kiện xã hội và lịch sử nhất định”
Trang 6Ngày nay dân số học được hiểu theo nghĩa cụ thể hơn:
“Dân số học (Demography) là một môn khoa học nghiên cứu dân số và quy luật vận động, phát triển của dân số trong mối quan hệ tương tác với các yếu tố tự nhiên và xã hội, nghiên cứu
cơ cấu dân số, những hiện tượng biến đổi và sự đoán biến đổi dân số trong một thời kỳ dài, có ý nghĩa quan trọng trong đời sống kinh tế- xã hội”
Các phương pháp dân số học được sử dụng.
1) Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Trang 7II ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA DÂN SỐ HỌC
Tỉ lệ sinh có thể được tính bằng số cá thể được sản xuất bởi cá thể cái trong môt đơn vị thời gian so với tổng số cá thể của loài ở cùng một thời điểm Ðối với loài người, tỷ lệ sinh bằng số trẻ em được sinh ra trong năm so với số dân trung bình ở cùng thời điểm Đơn
Trang 8Với CBR > 30 ‰ được gọi là cao (tập trung ở đường cận xích đạo và nam bán cầu)
Với CBR <20 ‰ được coi là thấp ( đặc trưng cho các nước công nghiệp phương Bắc như các nước Châu Âu, Bắc Mỹ, Nhật) Với CBR trong khoảng 20 đến 30 ‰ được gọi là trung bình ( đặc trưng
cho một số nước mới phát triển)
CBR < 15 ‰ ứng với các nước giảm dần dân số
Đây là thước đo được sử dụng rộng rãi để đánh giá mức sinh.
Trang 92) Tỷ lệ tử (Crude Death Rate – CDR)
Tỷ lệ tử được tính bằng số lượng cá thể chết đi trong một đơn vị thời gian so với tổng số cá thể của loài ở cùng một thời điểm Đối với con người thì tỷ lệ tử được tính bằng số người chết trong năm
so với số dân trung bình ở cùng thời điểm Đơn vị tính là phần nghìn (‰).
Trang 10Tỉ lệ tử trên toàn thế giới nói chung, ở các khu vực và trong từng nước nói riêng có xu hướng giảm đi rõ rệt so với thời gian trước đây nhờ các điều kiện sống, mức sống và thu nhập ngày càng được cải thiện Các nguyên nhân dẫn tới tỉ suất tử thô cao chủ yếu là kinh tế - xã hội (chiến tranh, đói nghèo, bệnh tật…) và thiên tai (động đất, núi lửa, hạn hán, bão lụt,…).
Mức tử vong của dân số còn liên quan chặt chẽ đến tuổi thọ trung bình của dân số một nước Nhìn chung, tuổi thọ trung bình của dân số trên thế giới ngày càng tăng và được coi là một trong những chỉ số cơ bản đánh giá trình độ phát triển con người.
Trang 11Các vùng Tỷ lệ sinh Tỷ lệ tử Tỷ lệ tăng
trưởng trung bình năm
Thời gian tăng gấp đôi
Tổng số dân
số (triệu)
Tổng diện tích
(10 6 km 2 )
Mật độ trên
km 2
Mật độ( trên
km 2 ) năm 2000
Trang 123) Tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh IMR
Tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh (Infant Mortality Rate - IMR.) là số tử vong của trẻ sơ sinh dưới một năm tuổi trong một năm cho mỗi
1000 ca sinh trong cùng một năm đó
IMR = ( Số trẻ dưới 1 tuổi/ Số ca sinh đẻ)*1000
Tỷ lệ này thường được sử dụng như là một chỉ báo về mức độ sức khỏe trong một quốc gia Hiện nay trên thế giới tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh là 49,4 theo Liên Hợp Quốc và 42,64 theo CIA World Fact Book.
Trang 13Những nước có nền kinh tế phát triển, có cơ sở vật chất y tế đầy đủ như các nước Châu Âu như Thụy Sĩ là 4,23, Phần Lan
là 3,50, các nước Châu Á như Hồng Kông là 2,93, Nhật Bản là 2,8 Trong đó Thụy Điển và Xingapo là quốc gia có tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh ít nhất thế giới, chỉ là 2,75 và 2,30 Việt Nam
có tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh vào khoảng 23,61, xếp trong tổng số
222 quốc gia.
Trang 144) Tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên (Growth rate)
Tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên (r) được xác định bằng hiệu số giữa
tỉ lệ sinh và tỉ lệ tử, đơn vị tính là phần trăm ( ‰)
Trang 155) Độ mắn tổng số ( total fertility Rate - TFR)
TFR phản ánh lượng sinh sản của cộng đồng người, là số con trung bình có thể được sinh ra bởi một người mẹ, nếu giả thiết trong suốt độ tuổi sinh đẻ của mình ( 15- 49), người phụ nữ đó sinh
đẻ với tốc độ trung bình của phụ nữ trong cộng đồng TFR có thể được định nghĩa tóm gọn là “ số con trung bình còn sống trong đời
Trang 16CIA World Factbook Factbook Thế giới cung cấp một cập nhật danh sách xếp hạng độ mắn tổng số ( phụ lục) và bản đồ độ mắn tổng số cho các
Màu sắc Độ mắn tổng số Tác động lâu dài
Đỏ Ít hơn 2 Giảm dân số
Màu vàng khoảng 2 Ổn định dân số
Xanh lục 3 đến 4 Dân số tăng
Xanh lam 4 hoặc nhiều hơn Dân số tăng nhanh
Trang 17Theo thống kê của CIA World Fact Book, Việt Nam có độ mắn tổng số năm 2000 là 2,53 ( năm 2000) và 1,86 ( 2008 ) xếp thứ 150 trong tổng số 195 quốc gia và vùng lãnh thổ So với trung bình thế giới thì Việt Nam có TFR nhỏ hơn ( 2,65 và 2,55) Dự báo năm
2009 con số này sẽ tiếp tục giảm xuống còn 1,83
Một số nước có độ mắn tổng số cao như Afghanistan 6,64; 6,49 tại Yemen và Samoa là 4,21; Ma-li có độ mắn tổng số là 7,38; Niger là 7,37 ( kể từ giữa năm 2007) Một số nước có độ mắn tổng số thấp như: Singapore là 1,07; tại Lithuania là1,21; Cộng hòa Séc là 1,22…
Nhóm văn hóa khác nhau trong một quốc gia có thể có độ mắn tống số khác nhau
Trang 18Đồ biểu thị mối quan hệ giữa thu nhập bình quân đầu người và độ mắn
tổng số
Trang 196) Sức ỳ dân số
Khi đạt đến độ mắn tổng số TFR = 2.1 không có nghĩa là chấm dứt sự tăng dân số Do cấu trúc tuổi dân cư, khi nhóm dân cư trẻ bước vào trưởng thành, có khả năng sinh đẻ thì số trẻ em sinh ra vẫn ngày càng tăng lên Hiện tượng này gọi là sức ỳ dân số hay còn gọi là hiện tượng quán tính dân
số Sức ỳ chỉ thật sự chấm dứt khi nhóm này vượt qua độ tuổi sinh đẻ ( 49 tuổi ).
Sức ỳ dân số có thể sẽ dẫn tới mật độ dân số vượt qua khả nằng tải của lãnh thổ Lúc đó xảy ra hiện tượng quá tải dân số Những vùng có khả năng tải lớn là những vùng có khí hậu thuận hòa, trình độ công nghệ cao Vì vậy mật độ dân số cao chưa chắc là đã quá tải dân số, ngược lại vùng dân số thưa chưa chắc là vùng đã đủ người
Đối với những vùng đất có dân tái định cư thì cần phải chú ý đến sức ỳ dân
số của cộng đồng bản địa trong khoảng vài thập kỷ tới, nếu không chắc chắn
sẽ xảy ra quá tải dân số vùng tái định cư.
Trang 20III CÁC THỜI KỲ DÂN SỐ HỌC
Trải qua nhiều năm tiến hóa, từ Người Vượn (Australopithecus) xuất hiện sớm nhất, cách chúng ta khoảng 5 triệu năm đến Người Homo ra đời vào khoảng 1,7 triệu năm về trước và cuối cùng là Người Thông minh (Homo sapiens) sinh ra muộn nhất vào khoảng 200.000 năm trước Những con người này chủ yếu định cư ở Châu Phi
Sự phát triển của dân số thế giới thực tế phụ thuộc chủ yếu vào trình độ phát triển kinh tế xã hội loài người Theo đó có thể chia quá trình phát triển dân số theo các thời kỳ khác nhau của lịch sử Các thời
Trang 211) Tiền sản xuất nông nghiệp
Thời kỳ này tính từ khi loài người xuất hiện đến khoảng 7000 năm trước công nguyên, dân số có khoảng 125.000 người sống tập trung ở Châu Phi Con người trong giai đoạn này có đời sống hoàn toàn phụ thuộc vào thiên nhiên, chủ yếu là leo trèo, săn bắt, hái lượm,…sống tập hợp nhau lại thành bầy, đàn để tránh thú dữ, kẻ thù Sau khi dời khỏi cuộc sống leo trèo để sống dưới đất, qua quá trình kiếm ăn được tích lũy đã giúp con người đứng thẳng, chi trước biến đổi thành tay linh hoạt
Trang 22
Qua quá trình tích lũy dần về tri thức, học hỏi và tìm con đường phát triển, từ việc hình thành các tổ chức xã hội,…cho đến cách đây khoảng 200.000 năm xuất hiện người khôn ngoan
Dân số thời kỳ này có tỷ lệ sinh khoảng 0,4 – 0,5% Các tiến
bộ về văn hóa đã làm cho con người thời kỳ này phần nào giảm
tỷ lệ tử Tỷ lệ tăng dân số tuyệt đối vào khoảng 0,0004% Con người chết vì đói, rét, bệnh tật và xung đột giữa các bộ lạc Tuổi
Trang 23( Nguồn http://codockhach.blogdns.net)
Hình 3: Quá trình tiến hóa của loài người
Trang 242) Cách mạng nông nghiệp
Giai đoạn này tính từ năm 7000 – 5500 trước Công nguyên đến năm 1650 Các nghiên cứu cho thấy canh tác nông nghiệp đã xuất hiện vào khoảng năm 7000 – 5500 trước Công nguyên ở vùng Trung Đông, làm xuất hiện ngành chăn nuôi, trồng trọt và chuyển hoạt động săn bắt, hái lượm thuần túy sang sản xuất các sản phẩm nông nghiệp Cuộc sống của con người lúc này được an toàn hơn, ít hiểm họa hơn, tuổi thọ trung bình đã cao hơn lên đến 25 – 30 năm.
Trang 25Từ sau cuộc cách mạng nông nghiệp sự gia tăng dân số lúc này không còn tiếp diễn liên tục mà lúc tăng lúc giảm nhưng về cơ bản thì vẫn tăng Cũng như những thời kỳ trước, thời kỳ này không thể tránh khỏi những mất mùa, dịch bệnh, chiến tranh, có nhiều biến động xã hội Những điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự gia tăng dân số Vào những năm 1348 – 1350 bệnh dịch hạch đã làm cho dân số Châu Âu giảm đi 25%, ở Anh từ năm
1348 – 1379 giảm tới gần 50% dân số Bên cạnh đó nạn đói hoành hành, xảy ra liên tiếp do mất mùa, thiên tai
Trang 26Chiến tranh kéo dài từ hàng chục đến hàng trăm năm cho đến khi hiệp ước hòa bình Westphalia (1648) được kí kết thì thế giới mới bước vào một thời kỳ yên ổn Từ đó sản phẩm nông nghiệp gia tăng, thương mại bắt đầu ra đời và phát triển Chính quyền phong kiến dần bị suy yếu và nhiều nơi đã dẫn đến tan dã, thay vào đó là nền kinh tế công nghiệp mà tiêu biểu là tiểu thủ công nghiệp ra đời
và phát triển Đó thực sự là bước ngoặt cho sự phát triển dân số
Trang 273) Tiền Cách mạng công nghiệp
Giai đoạn này tính từ năm 1650 – 1850 Đây là thời kỳ thế giới tương đối ổn định và hòa bình Cùng với cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra ở Châu Âu, thương mại trở thành động lực chính cho sự phát triển kinh tế - xã hội Trồng trọt, chăn nuôi phát triển,
dự trữ lương thực tăng, hàng hóa được trao đổi giữa các vùng ngày càng nhiều hơn và phong phú hơn về chủng loại, bệnh dịch, đói kém bị đẩy lùi Chính những điều này đã dẫn đến dân số thế giới, đặc biệt là ở Châu Âu tăng vọt Trong đó dân số Châu Âu và Nga tăng từ 103 đến 144 triệu
Trang 28Từ khi Châu Mỹ được khám phá thì diện tích đất canh tác
trồng mới được bổ sung cho quỹ cây trồng là ngô và khoai tây Dân số Châu Á thời kỳ này chỉ tăng thêm 50 - 75% Do người Châu Âu sang lập nghiệp ở Tân thế giới đã làm cho dân số vùng đất của Mỹ ngày nay tăng từ 4 triệu năm 1790 lên đến 23 triệu vào năm 1850 Dân số Châu Phi (1650 – 1850) ước tính có khoảng 100 triệu Tỷ lệ gia tăng dân số thế giới vào giữa những năm 1650 –
1750 là 0,3% và khoảng 0,5 % giữa những năm 1750 – 1850.
Trang 294) Từ cách mạng công nghiệp đến chiến tranh thế
giới thứ 2
Cách mạng công nghiệp ở châu Âu đánh dấu bước phát triển của nền kinh tế hiện đại Trong công nghiệp và nông nghiệp có nhiều đổi mới, năng suất lao động tăng lên, nền y học hiện đại
và sự cải thiện điều kiện vệ sinh bắt đầu được quan tâm trên quy
mô lớn Điều đó đã quyết đinh sự gia tăng dân số thế giới.
Từ thế kỉ XVIII nhịp độ phát triển dân số liên tục tăng lên 0,45% (năm 1800); 0,52% (1850); 0,62% (1900) và trên 1% vào những năm trước chiến tranh thế giới II Dân số thế giới vượt qua ngưỡng 1 tỷ vào năm 1850 và 2 tỷ vào năm 1930.
Trang 30
Nét nổi bật của thời kì này là sự chuyển cư quốc tế với quy mô lớn, do đó làm thay đổi sự phân bố dân cư thế giới Từ năm
1846 - 1930 có hơn 50 triệu người rời khỏi châu Âu sang định
cư ở các châu lục khác, hàng triệu người từ Trung Quốc và Ấn
Độ di cư sang các nước Đông Nam Á, Châu Phi và Nam Thái Bình Dương
Trang 315) Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2
Thời kì này trải qua nhiều thay đổi về kinh tế và công nghệ, con người đã tìm cách khắc phục nạn đói, dịch bệnh và thiên tai Đặc biệt là nhiều dân tộc thoát khỏi ánh thống trị của đế quốc, đó là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới động lực dân số thế giới Trên bình diện thế giới số dân gia tăng liên tục, chưa bao giờ nhịp độ gia tăng dân số lại nhanh như thời kì này Nguyên nhân chủ yếu là do sự thay đổi về mức độ tử vong và tuổi thọ trung bình Mặt khác hệ số sinh vẫn ở mức rất cao ,cùng với việc giảm
hệ số tử vong đã tạo nên nhịp độ gia tăng dân số rất lớn
Trang 32Chỉ trong vòng chưa đầy nửa thế kỉ dân số đã tăng lên gấp đôi đạt mức 5 tỷ người vào năm 1987 Tuy nhiên quá trình phát triển dân số diễn ra rất khác nhau thậm chí trái ngược nhau giữa các khu vực Các nước kinh tế phát triển trải qua thời kì biến đổi dân
số và tiến tới chỗ dân số ổn định.Trong khi đó ở các nước đang phát triển dân số vẫn phát triển ở nhịp độ cao.
Thời gian Dân số (triệu người)
Trang 33KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu vấn đề khái quát về dân số học, chúng tôi đưa ra được một số kết quả sau:
- Đưa ra những khái niệm khác nhau về dân số học.
- Tìm hiểu những đặc trưng cơ bản của dân số học
- Các thời kỳ dân số học
Việc nghiên cứu các vấn đề về dân số học là rất quan trọng
Nó không chỉ giúp các nhà quản lý có thể ra quyết định quy hoạch, đề ra những chiến lược về kinh tế xã hội mà đồng thời
nó cũng giúp các nhà quản lý có thể đưa ra những chính sách sử dụng tài nguyên và môi trường một cách hợp lý.
Trang 34TÀI LIỆU THAM KHẢO
Danh mục sách