Giai cấp chủ nô đã lập ra cơ quan quyền lực là nhà nước dân chủ đối với chủ nô để thực hiện sự thống trị của mình đối với những người nô lệ.. Thứ hai, dân chủ với tư cách là một phạm
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
ĐỀ TÀI : DÂN CHỦ VÀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM
Tiểu luận cuối khóa (Môn học: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác–Lênin )
BUỔI HỌC:
TP.HỒ CHÍ MINH – 05/2015
Trang 2Họ tên SV thực hiện đề tài:
1)
2
3.
Giảng viên hướng dẫn: Trần Ngọc Chung
ĐIỂM:
NHẬN XÉT CỦA GV:
GV ký tên
Trang 3DÂN CHỦ VÀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM
1.1 Quan điểm dân chủ sơ khai
1.2 Quan điểm dân chủ theo Mac-Lenin 3
1.3 Quan điểm dân chủ theo xã hội chủ nghĩa. 3
2 Các loại hình dân chủ lớn trong lịch sử 4
II Nền dân chủ của Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 9
III Thực tiễn xây dựng dân chủ ở Việt Nam 10
IV.Kiến nghị và giải pháp cho vấn đề dân chủ ở Việt Nam.
Trang 4I Định nghĩa vể dân chủ
1 Dân chủ là gì?
1.1 Quan điểm dân chủ sơ khai
Trong ngôn ngữ Hy Lạp cổ đại, khái niệm “dân chủ” được hiểu là việc “cử
ra và phế bỏ người đứng đầu” đó là “quyền và sức lực của nhân dân Ngay
từ xã hội công xã nguyên thủy, để duy trì sự tồn tại của mình, con người đã biết tự tổ chức ra những hoạt động có tính cộng đồng, các thành viên công
xã đều bình đẳng tham gia vào mọi công việc của xã hội Việc cử ra những người đứng đầu các cộng đồng và phế bỏ những người đứng đầu được thực thi đúng những quy định chung : giao do mọi thành viên công xã quyết định thông qua đại hội nhân dân Đây được coi là hình thức dân chủ sơ khai, chất phác của những tổ chức cộng đồng tự quản trong xã hội chưa có giai cấp
Khi chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất ra đời, các hình thức tự quản của xã hội trước đây đã không còn thích hợp nữa, xã hội cần đến những tổ chức chính trị mới phù hợp với điều kiện mới Trong điều kiện như vậy, một tổ chức đặc biệt đã ra đời, đó là nhà nước Giai cấp chủ nô đã
lập ra cơ quan quyền lực là nhà nước dân chủ đối với chủ nô để thực hiện
sự thống trị của mình đối với những người nô lệ Khi đó người ta đã ghép hai từ trong tiếng Hy Lạp cổ là “Demos” có nghĩa là “dân” và “Kratos” có nghĩa là “quyền lực” để diễn đạt nội dung của dân chủ Nhà nước chủ nô
chính thức sử dụng thuật ngữ “dân chủ” với nghĩa là nhà nước dân chủ chủ
nô có “quyền lực của dân”
Như vậy, về thực chất, ngay từ thế kỷ VIII trước Công Nguyên, với nhà nước đầu tiên trong lịch sử, giai cấp tư hữu (giai cấp chủ nô) đã dùng pháp luật và bộ máy thống trị của mình để chiếm đoạt quyền lực, áp bức bóc lột người lao động (những người nô lệ ) Nền dân chủ ở đây là nền dân chủ phục vụ cho giai cấp thống trị
Theo trang web : dangcongsan.org.com
Trang 51.2 Quan điểm dân chủ theo Mac-Lenin
Thứ nhất, dân chủ là sản phẩm tiến hóa của lịch sử, là nhu cầu khách quan của con người Với tư cách là quyền lực của nhân dân, dân chủ là sự phản ánh những giá trị nhân văn, là kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài của nhân dân chống lại áp bức, bóc lột, bất công
Thứ hai, dân chủ với tư cách là một phạm trù chính trị gắn với một kiểu nhà nước và một giai cấp cầm quyền thì sẽ không có “dân chủ phi giai cấp”, “dân chủ chung chung”.Trong xã hội có giai cấp, việc thực hiện dân chủ cho những tập đoàn người này là đã loại trừ hay hạn chế dân chủ của tập đoàn người khác Mỗi chế độ dân chủ gắn với nhà nước đều mang bản chất của giai cấp thống trị
Thứ ba, dân chủ còn được hiểu với tư cách là một hệ giá trị phản ánh trình độ phát triển của cộng đồng xã hội trong quá trình giải phóng xã hội, chống áp bức, bóc lột và nô dịch để tiến tới tự do, bình đẳng Theo V.I Lênin, dân chủ là bình đẳng Bình đẳng phải được hiểu theo nghĩa là xóa bỏ giai cấp
Trong xã hội có giai cấp và nhà nước, quyền lực của nhân dân được thể chế hóa bằng chế độ nhà nước và pháp luật Từ khi xã hội có giai cấp, dân chủ được thực
hiện dưới hình thức mới là hình thức nhà nước với tên gọi là “nền dân chủ”.
o Nền dân chủ hay chế độ dân chủ là hình thái dân chủ gắn với bản chất, tính chất của nhà nước; là trạng thái được xác định trong những điều kiện lịch
sử cụ thể của xã hội có giai cấp Nền dân chủ do giai cấp thống trị đặt ra được thể hóa hóa bằng pháp luật
Theo Tạp chí cộng sản số 3 năm 1998
1.3 Quan điểm dân chủ theo xã hội chủ nghĩa.
Nền dân chủ Xã Hội Chủ Nghĩa là nền dân chủ thực hiện quyền lực của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Dân chủ xã hội chủ nghĩa xuất hiện khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động đấu tranh giành được chính quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Với tính cách là một chế độ chính trị, dân chủ xã hội chủ nghĩa là hình thức chính trị của nhà nước, do nhân dân lao động lập ra dựa trên nền tảng liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức Đây là một nền dân chủ thực sự, đầy đủ và triệt để nhất
Nền dân chủ Xã Hội Chủ Nghĩa gắn liền với công bằng và bình đẳng xã hội, chống áp bức, bóc lột và bất công.Và được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế văn hoá, xã hội.Đồng thời được thể chế bằng hiến pháp, pháp luật của Nhà Nước
Trong nền dân chủ Xã Hội Chủ Nghĩa người dân tham gia tích cực các công việc Nhà nước
Theo Giáo Trình Nguyên Lý Cơ bản Của Chủ Nghĩa Mác-Lênin
Trang 62 Các loại hình dân chủ lớn trong lịch sử
2.1 Dân chủ nguyên thủ:
Khi xã hội chưa phát triển, con người đã biết kết hợp với nhau để sản xuất
và tự tổ chức ra những hoạt động chung mang tính xã hội
Cử ra những người đứng đầu, thực thi những quy định chung của cộng đồng Các thành viên trong cộng đồng có quyền bầu ra hay bãi miễn người đứng đầu
Mang tính tự quản, sơ khai, chất phát tự nhiên, dựa trên điều kiện kinh tế -
xã hội thấp kém
Đây là hình thái tiền dân chủ, dân chủ phi chính trị
• Đặc trưng cơ bản của tự quản nguyên thuỷ:
Người đứng đầu thị tộc, bộ lạc do tất cả các thành viên trong thị tộc bầu ra
Mọi thành viên trong thị tộc đều có quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau
Tất cả mọi công việc trong thị tộc, bộ lạc đều được các thành viên tham gia bàn bạc
Đối với khu vực có cư dân đông hơn và lãnh thổ rộng lớn hơn, DCNT được thực hiện một cách gián tiếp Người đứng đầu là do hội đồng những người đứng đầu bộ lạc bầu ra
Ý nghĩa:
Hình thức dân chủ của nhà nước chủ nô sau này là sự phát triển có tính kế thừa nền Dân chủ nguyên thủy đó
Trang 72.2 Chủ nô
Chế độ chiếm hữu nô lệ ra đời - phân chia xã hội thành 2 giai cấp cơ bản:
nô lệ và chủ nô
Quyền lực thuộc về giai cấp chủ nô và một số ít nào đó thuộc về các công dân tự do
Thân phận người lao động không được coi trọng, đặc biệt là người nô lệ chỉ
là “những công cụ biết nói”
• Đóng góp:
Tạo ra và đạt được nhiều thành tựu trong khoa hoc,thiên văn,nghệ thuật,kiến trúc
Là bước đi tiến bộ hơn so với nền dân chủ nguyên thủy
• Mặt hạn chế:
Hệ thống chính trị hạn chế, chật hẹp và khép kín, chỉ dành cho dân tự do, tức công dân
Bị tước quyền làm người, trong suốt nhiều thế kỷ người nô lệ liên tục nổi lên chống giai cấp chủ nô, dẫn đến sự suy yếu chế độ chiếm hữu nô lệ
Giữa các tầng lớp dân cư tự do cũng nảy sinh mâu thuẫn trong việc phân chia tài sản, nô lệ, tranh giành quyền lực
• Ví dụ:
Nền dân chủ chủ nô của Hy Lạp chính thức được khẳng định và phát triển rực rỡ vào nửa sau thế kỷ V TCN Trong nền dân chủ chủ nô tại Aten quyền lực tối cao thuộc về Hội nghị công dân Người Hy Lạp gọi kiểu nhà nước đó là Dân chủ.Nền dân chủ Aten được coi là hình thức cai trị ưu việt nhất trong thế giới cổ đại
Trong chế dộ này mọi công dân nam từ 18 tuổi trở lên đều có quyền tham gia các cơ quan quản lí nhà nước theo cách bầu cử rút thăm.Về thực chất nền dân chủ này nhằm bảo vệ quyền lợi của quý tộc chủ nô,bảo đảm cho quyền thống trị của họ.Các quyền dân chủ của con người bị hạn chế, còn quyền lợi của nô lệ bị chà đạp tàn bạo
Sau thời kỳ tồn tại và phát triển hưng thịnh, nền dân chủ chủ nô bộc lộ dần những mặt trái của nó
Một đằng thì người Hy Lạp đã khám phá, hay phát minh ra dân chủ, kịch nghệ, triết
lý, nhưng đằng khác họ lại bo bo giữ lấy những nghi lễ, tín ngưỡng cổ hủ và không tránh được nội chiến
Trang 8Họ thực hiện được những kiến trúc cân đối, hoàn mỹ, và nền giáo dục của họ phát triển toàn diện con người về thể xác cũng như về trí tuệ, họ thường tỏ ra khinh mạn con người…Ngạo mạn đã mang hình phạt tời cho họ
Trang 92.3 Dân chủ tư sản
Trong chủ nghĩa tư bản mặc dù có tên chế độ dân chủ, nhà nước dân chủ nhưng vẫn không phải là nhà nước thực sự của nhân dân
• Nền Dân chủ Tư sản có ba thiết chế cơ bản:
1/ Nhà nước dân chủ phải được tổ chức theo quy chế phân lập tam quyền
2/Nhà nước dân chủ phải được làm chủ theo nguyên tắc đa nguyên bình đẳng bởi toàn thể công dân
3/Nhà nước dân chủ phải được bảo tồn theo chế độ bầu cử tự do hoặc phải hoạt động theonhiệm kỳ; sau mỗi nhiệm kỳ nhất định, nhà nước này phải thay đổi nhân sựthông qua bầu cử tự do, theo đó mọi công dân đều phải được tham gia lựa chọn những người có cả tài năng lẫn đức hạnh làm người lãnh đạo
• Hạn chế:
Công dân trong nền Dân chủ Tư sản chỉ bao gồm các nhà giàu, tức là nền Dân chủ Tư sản chỉ bảo đảm Tự do – Bình đẳng – Bác ái cho Giai cấp Tư sản mà không bảo đảm các giá trị đó cho toàn thể nhân dân, không những không xoá
bỏ mâu thuẫn đối kháng giữa nhà giàu với nhà nghèo mà còn dựa vào mâu thuẫn đó để tồn tại
• Kết luận:
Vậy về thực chất, nền Dân chủ Tư sản chỉ là nềnChuyên chế Giai cấp để Giai cấp Tư sản thống trị Giai cấp Vô sản
Trang 102.4 Dân chủ xã hội chủ nghĩa
Sau CM Tháng Mười Nga - với sự ra đời của chế độ công hữu về tư liệu sản xuất thì dân chủ Xã hội chủ nghĩa đã thực hiện quyền lực thực sự của nhân dân
Dân chủ Xã hội chủ nghĩa đã thực hiện quyền lực của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân
Trong nền dân chủ Xã hội chủ nghĩa , người dân tham gia tích cực các công việc Nhà nước
Trang 11II Nền dân chủ của Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định: "Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước" Vì vậy, xây dựng nền dân chủ XHCN là vấn đề quan trọng xuyên suốt quá trình cách mạng của nước ta
Và theo Hồ Chí Minh dân chủ chính là: “Dân chủ là dân là chủ và dân làm chủ” Ở đây dân có quyền lực, trách nhiệm, và năng lực trong bộ máy nhà nước, phát triển xã hội Tuy Đảng lãnh đạo, Đảng cầm quyền nhưng phải luôn lấy dân làm gốc Nghĩa là Đảng cầm quyền, Đảng lãnh đạo nhưng phải luôn để cho dân làm chủ và dân là chủ
Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước ở thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII thông qua năm 1991 đã ghi: Dân chủ XHCN là bảo đảm mọi quyền lực thuộc về nhân dân Hiến pháp năm 1992 cũng khẳng định tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và phải được thể chế hóa quyền lực đó bằng pháp luật, được pháp luật bảo hộ Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và công bằng xã hội đòi hỏi phải được thực hiện trong thực tế cuộc sống trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Trải qua 25 năm đổi mới và 20 năm thực hiện Cương lĩnh 1991 nền dân chủ XHCN ở Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng và được thế giới thừa nhận
Dân chủ XHCN là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước, xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ XHCN, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Dân chủ phải được thực hiện trong cuộc sống thực tế ở từng cấp và trên tất cả các lĩnh vực thông qua hoạt động của Nhà nước do nhân dân bầu ra và phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm Cách mạng Việt Nam từ khi có Ðảng lãnh đạo, bất kỳ ở
Trang 12giai đoạn lịch sử nào, dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng Nước ta đi theo con đường xã hội chủ nghĩa cần xây dựng, phát triển nền dân chủ
xã hội chủ nghĩa vì đây là một mục tiêu quan trọng của cách mạng Không có dân chủ thì không có chủ nghĩa xã hội Chủ nghĩa xã hội mà không thực hiện quyền dân chủ rộng rãi trên tất cả các lĩnh vực của đời sống với quảng đại quần chúng thì chỉ là chủ nghĩa xã hội hình thức.
III Thực tiễn xây dựng dân chủ ở Việt Nam
3.1 Kinh tế
Dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, thõa mãn nhu cầu lợi ích kinh
tế ngày càng cao của nhân dân
Thực hiện quyền làm chủ và công bằng của công dân đối với tư liệu sản xuất, trên cơ sở đó làm chủ quá trình sản suất và phân phối sản phẩm
Ví dụ:
Công dân được quyền tham gia vao tất cả các thành phần kinh tế:Kinh tế quốc dân, cá thể, tập thể, tư bản nhà nước, tư nhân, Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, được làm chủ tư liệu sản xuấtvà thực hiện nghĩa vụ đóng thuế cho nhà nước
Công dân lựa chọn thức kinh tế phù hợp với mình
3.2 Chính trị
Thứ nhất, quyền được có một Nhà nước thực sự dân chủ Nhà nước thực sự
là công cụ thực thi những quyền chính đáng của nhân dân Nhà nước và mọi hoạt động của nó phải đặt dưới sự kiểm soát trực tiếp và thông qua các
tổ chức đại diện của nhân dân Nhân dân có quyền bày tỏ tín nhiệm hay bất tín nhiệm với mọi cơ quan nhà nước, công chức nhà nước
Thứ hai, mở rộng quyền của người dân tham gia vào công việc nhà nước
Mức độ nhân dân tham gia vào công việc nhà nước và xã hội, hiệu quả của
sự tham gia đó là thước đo trình độ dân chủ về chính trị của nhân dân , trình
Trang 13 Thứ ba, bảo đảm giữ vững định hướng XHCN, giữ vững nền tảng chủ
nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo đảm cho mọi người dân quyền tự do suy nghĩ, tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng
Thứ tư, mọi đại biểu của dân phải được nhân dân bầu ra một cách thực sự
dân chủ; mọi công dân đều được bình đẳng trước pháp luật Nhìn vào thực
tế, trên cả bốn vấn đề vừa nêu, chúng ta đều có những bước tiến căn bản, góp phần nâng cao quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực đời sống
xã hội; từ đó, tính tích cực chính trị của nhân dân có bước tiến mới về chất
Điểm cốt lõi của dân chủ trong chính trị là chế độ uỷ quyền của dân thong
qua bầu cử, bằng phương thức dân chủ đại diện, bầu ra Chính phủ với chế độ phổ thông đầu phiếu Khi Chính phủ đó ra đời, nhiệm vụ chủ yếu cấp bách là phải thực hiện dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân Đó là mục đích căn bản sâu xa của dân chủ trong chính trị
Ví dụ:
o Hoàn thiện nhà nước xã hội chủ nghĩa, trước hết là hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
o Hoàn thiện cơ chế đảm bảo cho nhân dân thực sự tham gia vào quá trình quản
lý nhà nước
o Đào tạo, bồi dưỡng, bố trí đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước có phẩm chất đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ giỏi
o Phải có cơ chế và biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa, và trừng trị những hành vi quan liêu, tham nhũng, lộng quyền, vô trách nhiệm, xâm phạm quyền dân chủ của công dân
Theo Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2002, tập 6, tr.515
3.3 Văn hóa
Sự dân chủ trong lĩnh vực văn hóa thể hiện ở việc ban hành các bộ luật đảm bảo cho các hoạt động văn hóa được thực hiện trên nền tảng công bằng, tự do Điều đó thể hiện bằng việc ban hành các quyền như: Tự do ngôn luận, tự do báo chí, luật bản quyển các tác phẩm văn hóa… Các quyền được ban hành giúp người dân có thể tự do tiếp cận hoặc sáng tạo văn hóa theo nhu cầu và sở thích, hội nhập với quốc tế
Ví dụ thực tiễn:
3.4 Xã hội