Những vấn đề chung về thẻ và hoạt động thanh toán thẻ
Trang 1NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THẺ VÀ HOẠT ĐỘNG
THANH TOÁN THẺ1.1 TỔNG QUAN VỀ THẺ THANH TOÁN
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của thẻ
Dấu hiệu của phương thức tín dụng tiêu dùng với phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt xuất hiện lần đầu tại Mỹ vào năm 1920 dưới cái tên gọi tạm thời là “đĩa mua hàng” (shopper’s plate) Trên thực tế, đây là một hình thức
sơ khai của thẻ mua hàng (store card) hiện đại Người chủ sở hữu của loại đĩa này có thể mua hàng tại cửa hiệu phát hành ra chúng và hàng tháng họ phải hoàn trả đầy đủ tiền hàng cho chủ cửa hiệu Thực chất các cửa hàng phát hành ra đĩa này đã đồng thời cung cấp cho người mua hàng một hình thức tín dụng cơ bản,
đó là “mua hàng trước và chi trả sau” (buy now, pay later)
Tuy nhiên, thẻ ngân hàng được coi là chính thức xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1949 tại Mỹ xuất phát từ một trường hợp rất ngẫu nhiên Một doanh nhân tên là Frank Mc Namara trong một bữa ăn tối tại nhà hàng, chợt nhận ra mình không mang theo tiền để thanh toán, ông ta đành gọi điện về nhà nhắn người mang tiền đến giúp Chính trong tình huống đó, ông chợt nảy ra ý tưởng
về một loại phương tiện thanh toán thay thế cho tiền mặt có thể sử dụng ở nhiều nơi Năm 1950, chiếc thẻ nhựa đầu tiên bắt đầu ra đời với tên gọi là thẻ tín dụng Diners Club Với lệ phí hàng năm là 5 USD, những người mang thẻ Diners Club
có thể ghi nợ khi ăn tại 27 nhà hàng nằm trong hoặc ven thành phố New York Ngược lại, các nhà bán lẻ trong hệ thống Diners Club bị tính chiết khấu 5% trên mỗi món hàng bán ra
Xuất phát từ một ý tưởng, nhưng những tiện ích mà những chiếc thẻ đầu tiên mang lại đã nhanh chóng chinh phục được đông đảo khách hàng Các khách hàng - chủ thẻ rất hài lòng về sự tiện lợi khi sử dụng thẻ cũng như các khoản vay
từ thẻ Người tiêu dùng khi sử hữu phương tiện thanh toán này có thể mua hàng
Trang 2hoá, dịch vụ trước mà không phải trả tiền mặt ngay khi đó Mặc dù hàng tháng
họ phải hoàn trả toàn bộ các chi tiêu nhưng họ đã có được một khoản ứng trước không phải trả lãi trong vòng một tháng
Về phía các cơ sở cung ứng hàng hoá dịch vụ, phương thức thanh toán này cũng hấp dẫn họ Họ nhận thấy rằng mặc dù bị tính chiết khấu trên mỗi món hàng bán ra nhưng bù lại các khách hàng - chủ thẻ dường như thoải mái hơn trong các quyết định mua hàng hoá dịch vụ và thực sự đã mua nhiều hàng hoá dịch vụ hơn khi dùng tiền mặt Chấp nhận thẻ lại an toàn hơn nhiều so với dùng séc Thêm vào
đó, việc sử dụng hệ thống tín dụng của các tổ chức ngân hàng sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí hơn so với việc thiết lập một mạng lưới tín dụng cục bộ
Hình thức thanh toán mới không chỉ dừng lại ở việc mang lại tiện ích cho người tiêu dùng, hơn thế nữa nó hứa hẹn một ngành kinh doanh mới với khả năng sinh lãi hàng tỷ đô la mà ngay cả người phát mình ra nó, Frank Mc Namara, cũng không tiên liệu được Đến năm 1951, hơn 1 triệu USD được tính
nợ và số lượng thẻ ngày càng tăng lên, công ty phát hành thẻ Diners Club nhanh chóng thu được lãi Một cuộc cách mạng về thẻ diễn ra sau đó đã nhanh chóng đưa thẻ trở thành phương tiện thanh toán phổ dụng toàn cầu Tiếp nối thành công của thẻ tín dụng Diners Club, năm 1955 hàng loạt thẻ như Trip Change, Golden Key, Gourmet Club, Esquire Club… nối tiếp ra đời Phần lớn các thẻ này trước hết được phát hành nhằm phục vụ giới doanh nhân, nhưng sau đó ngân hàng đã nhận thấy rằng giới bình dân mới là đối tượng chủ yếu sử dụng thẻ trong tương lai Vào cuối những năm 1950, một số ngân hàng tại Mỹ đã tiến hành cung cấp dịch vụ thẻ tín dụng theo cơ chế tín dụng tuần hoàn.Với dịch vụ này, các chủ thẻ có thể duy trì số dư có trên tài khoản vay bằng một hạn mức tín dụng nếu họ hoàn thành trách nhiệm thanh toán hàng kỳ theo quy định của Ngân hàng
Trang 3Tuy vậy, trong giai đoạn này, hệ thống tín dụng thẻ vẫn chỉ dừng lại ở mối quan hệ tương đối đơn giản được xác lập giữa nhà phát hành thẻ, cơ sở chấp nhận thẻ và chủ thẻ.
Năm 1960, Bank of America giới thiệu sẩn phẩm thẻ đầu tiên của mình - BANKAMERICARD Thẻ BANKAMERICARD phát triển rộng khắp và trong những năm tiếp theo, ngày càng nhiều các tổ chức tài chính ngân hàng trở thành thành viên của BANKAMERICARD Những thành công của BANKAMERICARD đã thúc đẩy các nhà phát triển thẻ khác trên khắp nước Mỹ bắt đầu tìm kiếm phương thức cạnh tranh với loại thẻ này
Đến năm 1966, 14 ngân hàng hàng đầu của Mỹ thành lập Interbank - một
tổ chức mới với chức năng là đầu mối trao đổi các thông tin về giao dịch thẻ Ngay sau đó, năm 1967, 4 ngân hàng bang California đổi tên của họ từ California Bank Card Association thành Western State Bank Card Association (WSBA), WSBA đã liên kết với Interbank để phát hành thẻ MASTERCHARGE Tổ chức WSBA cho phép Interbank sử dụng tên và biểu tượng MASTERCHARGE của mình Vào cuối những năm 60, một số lớn các tổ chức tài chính ngân hàng trở thành thành viên của MASTERCHARGE - đối thủ cạnh tranh của BANKAMERICARD
Những năm sau đó, tất cả các tổ chức tài chính ngân hàng đã hoặc đang quan tâm đến việc phát hành thẻ ở Mỹ đều trở thành thành viên của BANKAMERICARD hoặc MASTERCHARGE Các Hiệp hội ngân hàng và các thành viên của họ cùng chia sẻ chi phí hệ thống hoạt động thẻ, làm cho ngay cả các tổ chức tài chính ngân hàng rất nhỏ cũng có thể tham gia vào hệ thống này Tuy nhiên, điều này cũng có nghĩa là các nhà phát hành thẻ chỉ tìm kiếm được lợi nhuận cao nếu họ biết cách phát triển rộng khắp mạng lưới khách hàng, chủ thẻ và cở sở chấp nhận thẻ Hệ thống này mang lại lợi nhuận cho tất cả các thành viên và thúc đẩy sự tăng trưởng mạnh mẽ về mạng lưới chủ thẻ, cơ sở chấp nhận thẻ cũng như doanh số bán hàng bằng thẻ
Trang 4Sức ép về việc phải tăng mạnh số lượng chủ thẻ làm cho nhiều tổ chức tài chính bắt đầu phát hành thẻ một cách bừa bãi, thậm chỉ bỏ qua cả quá trình xét duyệt đơn xin phát hành và thẩm định khả năng tài chính của khách hàng Một
số lượng lớn thẻ đã bị mất trên đường gửi từ nhà phát hành thẻ đến khách hàng
mà không được quan tâm Bên cạnh đó có nhiều chủ thẻ mới chưa có kinh nghiệm về sử dụng thẻ, họ mau chóng tiêu vượt quá hạn mức tín dụng được cấp
và thường xuyên gặp khó khăn khi đến hạn thanh toán các khoản vay Vì những
lý do đó, nhiều nhà phát hành rơi vào tình trạng thất thoát về tín dụng và gánh chịu nhiều rủi ro Khó khăn lại càng chồng chất thêm cho các nhà phát hành thẻ bởi sự chậm trễ trong thanh toán bù trừ giữa các thành viên trong Hiệp hội Số lượng thẻ bị mất cắp, bị làm giả mạo tăng nhanh càng làm nghiêm trọng hơn mức độ tổn thất cho các nhà phát hành thẻ Chính vì vậy, một hệ thống quản lý thẻ hiệu quả và được tiêu chuẩn hoá để xử lý các chứng từ giao dịch và các hoạt động thẻ là vô cùng cần thiết cho các nhà phát hành cũng như thanh toán thẻ
Interbank (MASTERCHARGE) và Bank of America
(BANKAMERICARD) đã tạo lập nên một hệ thống các quy tắc tiêu chuẩn Hai
tổ chức này cũng đã xây dựng nên các hệ thống xử lý toàn cầu được tiêu chuẩn hoá với chức năng xử lý các giao dịch thẻ, thanh toán và trao đổi thông tin cũng như đưa ra các nguyên tắc tra soát, khiếu kiện để giải quyết tranh chấp giữa các thành viên Với thành tựu này, Interbank và Bank of America đã trở thành người
đi đầu trong lĩnh vực thanh toán và phát hành thẻ trên thế giới
Năm 1977, tổ chức thẻ BANKAMERICARD đổi tên thành VISA USA và sau đó là tổ chức thẻ quốc tế VISA Năm 1979, tổ chức thẻ MASTERCHARGE đổi tên thành MASTERCARD Các thành viên của hai tổ chức thẻ quốc tế này cũng như bản thân cả hai tổ chức bắt đầu mua các chương trình phần mềm cũng như các thiết bị phần cứng phát hành, thanh toán và quản lý thẻ của các công ty bên ngoài với mục đích tiết kiệm chi phí cho các thành viên và tạo điệu kiện cho ngày càng nhiều tổ chức tài chính ngân hàng có thể tham gia hệ thống
Trang 5Với những thành công vang dội ở nước Mỹ, thẻ ngân hàng đã nhanh chóng lan rộng sang các nước và khu vực khác và được tiếp nhận nồng nhiệt Vào năm 1960, chiếc thẻ nhựa Diners Club đầu tiên có mặt tại Nhật đã mở đầu cho hoạt động thanh toán thẻ tai Châu Á Vào năm 1961, ngân hàng Sanwa tại Nhật Bản lần đầu tiên cho ra đời thẻ JCB với mục tiêu chủ yếu hướng vào thị trường giải trí và du lịch Chiếc thẻ nhựa đầu tiên do ngân hàng Barclay Bank phát hành trên cơ sở thẻ VISA năm 1966 tại Anh cũng đã mở ra một thời kỳ sôi động tại lục địa Châu Âu.
Thẻ ngân hàng lần đầu tiên được chấp nhận tại Việt Nam vào năm 1990, khi Vietcombank ký hợp đồng làm đại lý chi trả thẻ Visa với ngân hàng Pháp BFCE và đã mở đầu cho phương thức thanh toán mới này tại Việt Nam
Ngày nay thẻ ngân hàng đã có mặt trên khắp thế giới với các hình thức, chủng loại đa dạng, phong phú đang ngày càng đáp ứng đầy đủ những nhu cầu riêng lẻ của người tiêu dùng Cùng với sự phát triển của hai tổ chức thẻ quốc tế Visa và Mastercard, trên thế giới còn có hàng loạt tổ chức thẻ khác mang tính quốc tế và khu vực ra đời như: JCB Card, American Express Card, Airplus, Maestro Eurocard, Visioncard… Sự phát triển mạnh mẽ này đã khẳng định xu thế phát triển tất yếu của thẻ Tiếp thu và ứng dụng những thành tựu khoa học của thế giới về khoa học kỹ thuật, nhất là về công nghệ tin học, hệ thống thẻ ngày càng hoàn thiện Không chỉ dừng lại ở mối quan hệ đơn giản như thời kỳ trước, hệ thống tín dụng thẻ ngày nay bao gồm cả các tổ chức thẻ quốc tế, các tổ chức tài chính ngân hàng, các công ty cung ứng thiết bị và giải pháp kỹ thuật, các công ty viễn thông quốc tế… Cùng với mạng lưới thành viên và khách hàng phát triển từng ngày, các tổ chức thẻ quốc tế đã xây dựng hệ thống xử lý giao dịch và trao đổi thông tin toàn cầu về phát hành, cấp phép, thanh toán, tra soát, hoàn trả, khiếu kiện và quản lý rủi ro Với doanh số giao dịch hàng trăm tỷ USD mỗi năm, thẻ đang cạnh tranh quyết liệt cùng tiền mặt và séc trong hệ thống thanh toán toàn cầu Đây là một thành công đáng kể đối với một ngành kinh doanh mới chỉ có vài thập kỷ hình thành và phát triển
Trang 61.1.2 Khái niệm thẻ
“Thẻ ngân hàng” (Bank card) hay còn gọi là “tiền nhựa” (Plastic money), sau đây gọi tắt là thẻ, là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt do ngân hàng hoặc các tổ chức tài chính phát hành và cung cấp cho khách hàng (gọi
là chủ thẻ) dùng để rút tiền mặt hoặc thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ tại các cơ
sở chấp nhận thẻ Do đặc điểm dùng thẻ để thanh toán nên thẻ ngân hàng còn được gọi là “thẻ thanh toán”
Từ khái niệm nêu trên, ta có thể rút ra một số đặc điểm của thẻ ngân hàng nói chung:
− Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, ra đời
từ phương thức mua bán chịu hàng hoá bán lẻ và phát triển gắn liền với việc ứng dụng công nghệ tin học trong lĩnh vực tài chính ngân hàng
− Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng để thanh toán hàng hoá dịch vụ tại các điểm cung ứng hàng hoá dịch vụ có hợp đồng thanh toán với ngân hàng, hoặc rút tiền mặt tại các máy giao dịch tự động hay các ngân hàng đại
lý trong phạm vi số dư tiền gửi của mình hoặc định mức tín dụng được cấp
− Thẻ ngân hàng còn dùng để thực hiện nhiều chức năng khác như xem
số dư, đặt lệnh chuyển tiền, … thông qua hệ thống giao dịch tự động hay còn gọi là hệ thống tự phục vụ ATM
1.1.3 Nội dung
Hầu hết các loại thẻ ngân hàng hiện nay đều làm bằng nhựa cứng, có hình chữ nhật chung một kích cỡ 84mm x 54mm x 0.76mm có góc tròn gồm 2 mặt với các nội dung sau:
− Tên, biểu tượng của thẻ và huy hiệu của tổ chức phát hành thẻ
− Số thẻ (Card number)
Trang 7− Ngày hiêu lực của thẻ (Expiry date)
− Họ và tên chủ thẻ (Cardholder)
− Dãy băng từ (Magnetic Stripe) chứa các thông tin đã được mã hoá theo một thể thống nhất như: số thẻ, ngày hết hạn, các yếu tố kiểm tra an toàn khác
− Băng giấy ghi chữ ký
− Ngoài ra còn có thể có các thông tin khác để tăng tính an toàn của thẻ như: số mật mã đợt phát hành, ký hiệu riêng của từng tổ chức, hình của chủ thẻ…
Biểu tượng của một số thẻ ngân hàng thông dụng trên thế giới
1.1.4 Phân loại thẻ
Đứng trên nhiều góc độ khác nhau để phân chia thì ta thấy thẻ ngân hàng rất đa dạng Người ta có thể nhìn nhận nó từ góc độ chủ thể phát hành, công nghệ sản xuất hay là phương thức hoàn trả
1.1.4.1 Phân loại theo chủ thể phát hành thẻ
Thẻ do ngân hàng phát hành
Là loại thẻ do ngân hàng phát hành giúp cho khác hàng sử dụng linh động tài khoản của mình tại ngân hàng hoặc sử dụng một số tiền do ngân hàng cấp tín dụng Đây là loại thẻ được sử dụng rộng rãi nhất trên toàn cầu hiện nay, ví dụ như thẻ Visa, Mastercard, JCB
Thẻ do các tổ chức phi ngân hàng phát hành
Đó là thẻ du lịch và giải trí gọi tắt là T&E (Travel and Entertainment) của
các tập đoàn kinh doanh lớn như Diners Club, Amex… Ngoài ra, một số công ty
Trang 8lớn cũng phát hành thẻ riêng cho các đối tượng của công ty hướng theo mục đích kinh doanh: công ty xăng dầu, các cưa hiệu lớn …
1.1.4.2 Phân loại theo công nghệ sản xuất
Thẻ khắc chữ nổi (Embossing card)
Đây là loại thẻ được làm dựa trên kỹ thuật khắc chữ nổi với các thông tin cần thiết được khắc trên thẻ Công nghệ này được sử dụng từ khi phát hành tấm thẻ nhựa đầu tiên và hiện nay không còn được sử dụng nữa vì kỹ thuật sản xuất quá thô sơ, dễ bị lợi dụng làm giả
Thẻ băng từ (Magnetic Stripe)
Đây là loại thẻ được sản xuất dựa trên kỹ thuật thư tín với hai băng từ chứa thông tin ở mặt sau của thẻ Thẻ này được sử dụng phổ biến trong vòng 20 năm nay nhưng đã bộc lộ một số nhược điểm Thứ nhất, khả năng bị lợi dụng cao do thông tin ghi trong thẻ không tự mã hoá được, do đó người ta có thể đọc dễ dàng bằng các thiết bị đọc gắn với máy vi tính Thứ hai, thẻ từ chỉ mang thông tin cố định, khu vực chứa tin hẹp không áp dụng được các kỹ thuật mã đảm bảo an toàn Do những nhược điểm nêu trên, gần đây loại thẻ này đã bị lợi dụng lấy cắp tiền
Thẻ thông minh (Smart Card/Chip Card)
Là loại thẻ dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học nhờ thẻ được gắn thêm vào một “chip” điện tử có cấu trúc giống như một máy vi tính hoàn hảo Thẻ thông minh có nhiều nhóm với dung lượng nhớ của “chip” điện tử khác nhau
Hiện nay có khoảng 20 triệu thẻ thông minh trên thế giới Sự ra đời của thẻ thông minh là một tiến bộ vượt bậc của ngành ngân hàng, người ta thậm trí còn so sánh một con “chip” trong thẻ thanh toán cũng có sức mạnh như máy điện toán NASA đưa người lên mặt trăng lần đầu tiên vào năm 1969 Thẻ thông minh an toàn và hiệu quả hơn thẻ từ vì con “chip” vi tính này có thể chứa một lượng thông tin lớn hơn 80 lần thông tin trong giải băng từ
Trang 9Trong thời gian trước mắt thẻ thông minh sẽ đồng xuất hiện cùng với thẻ băng từ đồng thời hàng triệu máy rút tiền và máy đọc thẻ trên toàn thế giới sẽ dần chuyển đổi để đọc các con “chip” điện tử Cuối cùng thì công nghệ mới sẽ dần thay thế công nghệ cũ.
1.1.4.3 Phân loại theo tính chất
Nếu xét theo tính chất thanh toán của thẻ, thẻ ngân hàng được chia làm hai loại sau:
a Thẻ tín dụng (Credit card)
Đây là loại thẻ được sử dụng phổ biến nhất, theo đó chủ thẻ được phép sử dụng một hạn mức tín dụng qui định không phải trả lãi (nếu chủ thẻ hoàn trả số tiền đã sử dụng đúng kỳ hạn) để mua sắm hàng hoá, dịch vụ tại những cơ sở kinh doanh, cửa hàng, khách sạn … chấp nhận loại thẻ này
Về bản chất đây là một dịch vụ tín dụng thanh toán với hạn mức chi tiêu nhất định mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng căn cứ vào khả năng tài chính,
số tiền ký quĩ hoặc tài sản thế chấp của khách hàng Khoảng thời gian từ khi thẻ được dùng để thanh toán hàng hoá, dịch vụ tới lúc chủ thẻ phải trả tiền cho ngân hàng có độ dài phụ thuộc vào từng loại thẻ tín dụng của các tổ chức khác nhau Nếu chủ thẻ thanh toán toàn bộ số dư nợ vào ngày đến hạn, thời gian này sẽ trở thành thời gian ân hạn và chủ thẻ hoàn toàn được miễn lãi đối với số dư nợ cuối
kỳ Tuy vậy, nếu hết thời gian này mà một phần hay toàn bộ số dư nợ cuối kỳ chưa được thanh toán cho ngân hàng thì chủ thẻ sẽ phải chịu những khoản phí
và lãi chậm trả Khi toàn bộ số tiền phát sinh được hoàn trả cho ngân hàng, hạn mức tín dụng của chủ thẻ được khôi phục như ban đầu Đây chính là tính chất
“tuần hoàn” (revolving) của thẻ tín dụng
Thẻ tín dụng là công cụ thanh toán hiện đại, văn minh và có tính thông dụng trên toàn thế giới Không chỉ thanh toán giới hạn trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia mà thẻ tín dụng quốc tế có thể được chấp nhận thanh toán ở tất
cả các cơ sở có trưng biểu tượng của thẻ đó trên khắp thế giới Các ngân hàng
Trang 10nội địa của nhiều nước khác nhau thường áp dụng song song hai hệ thống thẻ tín dụng: trong nước bằng đồng bản tệ và sử dụng ở nước ngoài bằng đồng đô la dưới những thương hiệu thẻ nổi tiếng Do vậy dù trong nước hay nước ngoài các loại thẻ này cũng mang đến tiện ích cho khách hàng và là nguồn lợi nhuận quan trọng của ngân hàng Trên thế giới hiện nay phổ biến hai loại thẻ tín dụng được khác du lịch rất ưa chuộng là VISA và Mastercard.
Bên cạnh thẻ tín dụng thông thường, sau đây là một số hình thức thẻ tín dụng khác được sử dụng trên thế giới:
• Thẻ ngân sách (Budget Card)
Thẻ ngân sách là một hình thức riêng của thẻ tín dụng thường do các nhà bán
lẻ phát hành Chủ thẻ hàng tháng phải trả tối thiểu một khoản tiền nhất định đã cam kết trước và được cấp một hạn mức tín dụng lớn gấp một số lần khoản thanh toán cam kết trước này Ví dụ chủ thẻ cam kết hàng tháng sẻ trả tối thiểu
là 10 Pounds và số nhân của ngân hàng là 25 lần, như vậy chủ thẻ có một hạn mức tín dụng là 250 pounds Thẻ này khác thẻ tín dụng thông thường ở giới hạn mức tín dụng Chủ thẻ cam kết với ngân hàng sẽ thanh toán một khoản tiền cố định vào mỗi tháng bằng cách ghi nợ trực tiếp Hạn mức tín dụng mà chủ thẻ được cấp trong trường hợp này là khoản tiền chủ thẻ đã cam kết sẽ trả ngân hàng hàng tháng
• Thẻ liên kiết (Co-branded Cards)
Đây là thẻ tín dụng được cơ sở phát hành thẻ kết hợp với tổ chức hoặc công
ty có tên tuổi đồng phát hành và thông thường, tên hoặc nhãn hiệu thương mại, logo của cơ sở đồng phát hành này cũng đồng thời xuất hiện trên tấm thẻ như Ford/Barclaycard và GM/HFC Card Ngoài những đặc điểm sẵn có của thẻ ngân hàng thông thường, thẻ liên kết có sức hấp dẫn hơn đối với khách hàng bởi chính những lợi ích phụ trội do cơ sở đồng phát hành mang lại Ví dụ, thẻ Visa co-brand do ngân hàng Standard Chartered và Tập đoàn thời trang Espirit phát hành mang lại cho chủ thẻ những tiện ích phụ trội riêng biệt như: được chăm sóc
Trang 11sắc đẹp miễn phí, giảm giá 20% cho tất cả các mặt hàng hiệu Espirit trong 3 tháng đầu tiên, chương trình điểm thưởng tích luỹ theo lượng tiền thanh toán bằng thẻ.
Thẻ tín dụng liên kết giữa một ngân hàng hay tổ chức tài chính với một tổ chức kinh doanh vì mục đích lợi nhuận như trên có thể là thẻ liên kết co-brand Bên cạnh đó, hình thức liên kết về thẻ tín dụng giữa ngân hàng và một tổ chức
phi lợi nhuận cũng cho ra đời sản phẩm thẻ liên kết Affinity Card Điều khác biệt
cơ bản giữa hai loại thẻ liên kết nói trên là thẻ liên kết Affinity Card không mang lại cho chủ thẻ những lợi ích phụ trội về mặt vật chất như giảm giá, điểm thưởng… mà đem tới cảm giác khác biệt vì được tôn trọng về mặt tinh thần, về các giá trị xã hội vì trở thành thành viên của một nhóm người ủng hộ một phong trào hoặc chủ trương nào đó Một trong những ví dụ của thẻ Affinity card là thẻ MasterCard liên kết giữa ngân hàng DBS của Singapore với Liên đoàn bóng đá thế giới phát hành sản phẩm thẻ DBS MasterCard 2002 FIFA World Cup
• Thẻ mua hàng (Store Card)
Thẻ mua hàng do một số cửa hiệu siêu thị và trạm xăng phát hành Thẻ mua hàng cũng giống như thẻ tín dụng, thẻ tính tiền hoặc thẻ ngân sách nhưng chỉ khác một điểm là thẻ này chỉ sử dụng tại các cửa hiệu hoặc một nhóm các cửa hiệu phát hành thẻ Thẻ mua hàng thông thường chịu lãi suất cao hơn thẻ tín dụng thông thường được chấp nhận trên toàn thế giới Mọi giao dịch thẻ chỉ diễn
ra giữa người sản xuất và chủ thẻ Chủ thẻ có thể sử dụng thẻ để thanh toán và
sử dụng tín dụng nhưng không thể rút tiền mặt
b Thẻ ghi nợ (Debit card)
Thẻ ghi nợ là phương tiện thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ hay rút tiền mặt trên cơ sở số tiền của chính chủ thẻ, mà ngân hàng phát hành không cấp tín dụng cho khách hàng Mỗi khi chủ thẻ thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ thì ngân hàng phát hành sẽ tự động trích nợ số tiền từ tài khoản của chủ thẻ và chuyển tiền đó
Trang 12vào tài khoản của người bán Thẻ ghi nợ còn được sử dụng để rút tiền mặt tại các máy giao dịch tự động ATM.
Với tính chất không có hạn mức tín dụng, thẻ ghi nợ thường được cấp cho khách hàng có số dư tài khoản tiền gửi thường xuyên ghi Có Tuy nhiên, tuỳ theo sự thoả thuận của chủ thẻ và ngân hàng phát hành, nếu số dư trên tài khoản của chủ thẻ không đủ thanh toán, ngân hàng sẽ cấp cho chủ thẻ một mức thấu chi (Chi vượt quá số tiền hiện có trên tài khoản) Với hình thức thấu chi, thẻ ghi
nợ đã giúp cho cá nhân, doanh nghiệp được cấp một khoản tín dụng ngắn hạn
mà không cần làm nhiều thủ tục
Đứng ở góc độ ngân hàng mà nói thì việc phát hành thẻ ghi nợ an toàn hơn vì việc chi tiêu của chủ thẻ dựa trên số dư tiền gửi của chủ thẻ tại ngân hàng, như vậy ngân hàng đỡ phải gánh chịu những rủi ro do việc khách hàng chi tiêu số tiền vượt quá số tiền trong tài khoản của họ và nói về mức độ có thể thay thế tiền mặt thẻ ghi nợ chiếm ưu thế vượt trội hơn thẻ tín dụng
Có hai loại thẻ ghi nợ cơ bản:
Thẻ ghi nợ online: Là thẻ ghi nợ mà giá trị những giao dịch được khấu trừ
ngay lập tức vào tài khoản chủ thẻ khi xuất hiện giao dịch:
Thẻ ghi nợ offline: Là thẻ ghi nợ mà giá trị những giao dịch sẽ được khấu
trừ vào tài khoản chủ thẻ sau khi giao dịch được thực hiện vài ngày
Một số dạng khác của thẻ ghi nợ
• Thẻ tính tiền (Charge Card)
Là một hình thức thẻ ghi nợ nhưng thẻ tính tiền được phát hành theo phương thức giống như thẻ tín dụng, tuy nhiên hàng tháng chủ thẻ phải hoàn trả đầy đủ hóa đơn thanh toán Thẻ này được nối mạng cùng hệ thống với thẻ tín dụng nhưng lệ phí hàng năm lớn hơn lệ phí thẻ tín dụng, đặc biệt là đối với các loại thẻ vàng (Gold Charge Card) Loại thẻ này có thể mang đến các lợi ích khác như
ưu tiên đặt chỗ, mua vé hay bao gồm phí bảo hiểm du lịch và thường do các tổ chức du lịch và giải trí như Diners Club và American Express phát hành
Trang 13• Thẻ rút tiền mặt (ATM Card)
ATM là viết tắt của Automatic Tellers Machine có nghĩa là máy giao dịch tự động Thẻ rút tiền mặt là một hình thức của thẻ ghi nợ, tuy nhiên thẻ này chỉ có mỗi chức năng duy nhất là rút tiền mặt tại các máy ATM mà không có chức năng thanh toán tại các điểm chấp nhận thẻ
Sự tiện lợi là đặc điểm quan trọng nhất của thẻ ATM Thông qua việc nhập
mã số bí mật của chủ thẻ gọi là PIN (Personal Identification Number), chủ thẻ
có thể sử dụng tài khoản cá nhân của mình tại ngân hàng mọi nơi, mọi lúc 24/24h một ngày và 7 ngày trong tuần Điều này có nghĩa là cùng với thẻ ATM,
hệ thống ATM đã cung cấp cho khách hàng sử dụng thẻ khả năng giao dịch ngoài giờ làm việc, ngoài trụ sở của ngân hàng và khả năng tự phục vụ
Theo thời gian, các tổ chức thẻ đã chủ động kết nối hệ thống ATM với nhau tạo nên một mạng ATM khu vực, cho phép khách hàng có thể thực hiện giao dịch tại nhiều máy ATM hơn Hiện nay, hai hệ thống ATM lớn nhất trên thế giới
là CIRRUS của MasterCard và PLUS của VISA, sẵn sàng cho phép thẻ của các ngân hàng và những tổ chức tín dụng khác kết nối, tạo nên một mạng lưới rộng khắp toàn cầu
1.1.4.4 Phân loại theo mục đích sử dụng:
a Thẻ cá nhân
Là loại thẻ dùng cho mục đích thanh toán của cá nhân, chủ thẻ chịu trách nhiệm thanh toán bằng nguồn tiền của mình thông qua tài khoản mở tại ngân hàng phát hành
b Thẻ công ty (Business card/commercial card)
Là loại thẻ được phát hành cho nhân viên của công ty sử dụng, nhằm giúp cho các công ty này quản lý chặt chẽ việc chi tiêu của nhân viên mình vì mục đích công việc Hàng tháng, hàng quý và hàng năm, công ty sẽ được cung cấp những thông tin quản lý một cách tóm tắt và chi tiết về sự chi tiêu của từng chủ
sở hữu thẻ của công ty này
Trang 14Thẻ công ty có một số hình thức như sau:
• Thẻ du lịch (Travel cards/Corporate Cards)
Là một loại thẻ công ty chuyên dùng để trả tiền du lịch, giải trí, ăn uống và các chi phí liên quan Thẻ thường dùng để các cơ quan như trường học quản lý các khoản chi tiêu của nhân viên thường xuyên phải đi công tác và dùng thẻ để xin chiết khấu với khách sạn và hãng hàng không Thẻ này cho phép đơn vị không phải ứng tiền mặt trước cho nhân viên và nhân viên thì có thể sử dụng tín dụng cá nhân phục vụ mục đích kinh doanh
• Thẻ mua sắm (Purchasing Card/Procurement Cards)
Thẻ này dùng để mua hàng hoá với các hợp đồng giá trị thấp và có tính chất thường xuyên như mua văn phòng phẩm, mua vé (dưới 2500USD) và giúp đơn
vị không phải mất công làm các thủ tục như chuẩn bị đơn đặt hàng, viết séc, chuyển tiền… Thẻ mua sắm thường được phát hành dưới tên của cá nhân hoặc phòng ban, tuy nhiên ngân hàng phát hành đã ấn định một số giới hạn cho người
sử dụng thẻ như hạn chế về loại hình cơ sở chấp nhận thẻ, khối lượng giao dịch
và tổng số tiền thanh toán trong một kỳ báo cáo
Thẻ mua sắm là một bộ phận phát triển rất nhanh chóng của ngành công nghiệp thẻ ngân hàng Các nhà cung cấp nhận thấy rằng chấp nhận thẻ mua sắm của công ty sẽ giúp họ giảm bớt việc lập hoá đơn, xin cấp hạn mức tín dụng, thanh toán tiền hàng qua séc… Đây là một phần mà các công ty hướng đến chính sách thương mại điện tử hiện nay
1.1.4.5 Phân loại theo đối tượng sử dụng
• Thẻ thường (Standard Card)
Đây là loại thẻ căn bản nhất, là loại thẻ mang tính chất phổ thông, đại chúng ,được hơn 142 triệu người trên thế giới sử dụng mỗi ngày
• Thẻ vàng (Gold Card)
Là loại thẻ phục vụ cho thị trường “cao cấp”, được xem như là loại thẻ ưu hạng phù hợp với mức sống và nhu cầu tài chính của khách hàng có thu nhập cao Thẻ được phát hành cho các đối tượng có uy tín, khả năng tài chính lành
Trang 15mạnh, nhu cầu chi tiêu lớn Loại thẻ này có thể có những điểm khác nhau tuỳ thuộc vào tập quán, trình độ phát triển của mỗi vùng, tuy nhiên đặc điểm chung nhất vẫn là thẻ có hạn mức tín dụng cao hơn thẻ thường.
Trang 161.1.4.6 Phân loại theo phạm vi lãnh thổ
- Thẻ trong nước
Là thẻ được giới hạn trong một quốc gia, do vậy đồng tiền giao dịch phải
là đồng bản tệ của nước đó Có hai loại thẻ trong nước:
+ (Local use only card) là loại thẻ do tổ chức tài chính hoặc ngân hàng
trong nước phát hành, chỉ được dùng trong nội bộ hệ thống tổ chức đó mà thôi
+ (Domestic use only card) là thẻ mang thương hiệu của tổ chức thẻ quốc
tế được phát hành để sử dụng trong nước
- Thẻ quốc tế (International card)
Là loại thẻ không chỉ dùng tại quốc gia nó được phát hành mà còn dùng được trên phạm vi quốc tế Muốn phát hành loại thẻ này thì ngân hàng phát hành phải là thành viên của Tổ chức phát hành thẻ quốc tế
Thẻ quốc tế được khách du lịch rất ưa chuộng vì tính an toàn tiện lợi Do phạm vi hoạt động dải khắp thế giới nên quy trình hoạt động của thẻ này phức tạp hơn, việc kiểm soát tín dụng và các yêu cầu thủ tục thanh toán cũng vì vậy
mà rắc rối hơn Thẻ quốc tế được sự hỗ trợ và quản lý trên toàn thế giới bởi các
tổ chức thẻ lớn như: MasterCard, Visa… hoặc những công ty điều hành lớn như Amex, JCB… hoạt động trong một hệ thống nhất, đồng bộ
Thuận lợi chủ yếu của thẻ quốc tế là ở chỗ các ngân hàng nhận được nhiều sự giúp đỡ về nghiên cứu thị trường, xử lý và nâng cao những yếu tố kỹ thuật của chủ thẻ từ phía trung tâm thẻ với chi phí thấp hơn nhiều so với sự hoạt động Ngoài ra, do được phát hành qua chương trình độc quyền, thẻ được nhiều người biết đến và dễ dàng được chấp nhận rộng rãi ở hầu hết mọi nơi
1.1.5 Vai trò của thẻ ngân hàng đối với việc phát triển kinh tế xã hội
Đã từ lâu, việc sử dụng tiền mặt trong thanh toán được coi là một lãng phí lớn đối với nền kinh tế quốc gia vì nó luôn đi kèm với các rủi ro về mất mát, chi phí vận chuyển, kiểm đếm, in ấn, bảo quản… do đó, tiền mặt không được coi là
Trang 17phương tiện thanh toán ưu việt Tỉ phần sử dụng tiền mặt trong hoạt động thanh toán được xem như một thước đo đánh giá sự phát triển của nền kinh tế Đây chính là tiền đề cho việc ra đời hàng loạt các phương tiện thanh toán phi tiền mặt như: uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, séc, ngân phiếu thanh toán, thư tín dụng.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế các phương tiện thanh toán phi tiền mặt trên ngày càng đựơc sử dùng rộng rãi trong giao dịch kinh doanh của các tổ chức kinh tế Tuy nhiên, các phương tiện thanh toán này mới chỉ giới hạn trong các giao dịch kinh tế, ít được phổ biến trong đời sống sinh hoạt của đại bộ phận dân cư Sự ra đời của thẻ ngân hàng chính là nhằm đáp ứng nhu cầu giao dịch đơn lẻ của các cá nhân nhằm từng bước dần thay thế tiền mặt trong giao dịch của xã hội
Nhờ những thành tựu rực rỡ trong lĩnh vực công nghệ thông tin những năm gần đây, công dụng của thẻ ngày càng được phát triển và mở rộng Thẻ ngày càng thể hiện vai trò to lớn của mình trong phát triển kinh tế xã hội Điều này được thể hiện trên các mặt sau:
• Giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông: Là một phương tiện thanh toán
không dùng tiền mặt, vai trò đầu tiên của thẻ là giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông Ở các nước phát triển, thanh toán tiêu dùng bằng thẻ chiếm
tỷ trọng lớn nhất trong tổng số các phương tiện thanh toán Nhờ vậy mà khối lượng cũng như áp lực tiền mặt trong lưu thông giảm đáng kể
• Tăng nhanh khối lượng chu chuyển, thanh toán trong nền kinh tế: Hầu
hết mọi giao dịch thẻ trong phạm vi quốc gia hay toàn cầu đều được thực hiện và thanh toán trực tuyến (online) vì vậy tốc độ chu chuyển, thanh toán nhanh hơn nhiều so với những giao dịch thanh toán khác như: séc, uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu… Thay vì thực hiện các giao dịch trên giấy tờ, với giao dịch thẻ, mọi thông tin đều được xử lý qua hệ thống máy móc điện tử thuận tiện, nhanh chóng
Trang 18• Thực hiện chính sách quản lý vĩ mô của nhà nước: Trong thanh toán thẻ,
các giao dịch đều nằm dưới sự kiểm soát của ngân hàng Nhờ đó các ngân hàng có thể dễ dàng kiểm soát được mọi giao dịch, tạo nền tảng cho công tác quản lý thuế của nhà nước, thực hiện chính sách ngoại hối quốc gia Thực tế hiện nay, mọi chế độ, chính sách liên quan đến thẻ đều dựa trên chính sách quản lý ngoại hối của nhà nước
• Thực hiện biện pháp “kích cầu” của nhà nước: Sự tiện lợi mà thẻ mang lại
cho người sử dụng, cơ sở chấp nhận thẻ, ngân hàng… khiến cho ngày càng
có nhiều người ưa chuộng sử dụng thẻ, tăng cường chi tiêu bằng thẻ Điều nàylàm cho thẻ trở thành một công cụ hữu hiệu, góp phần thực hiện biện pháp “kích cầu” của nhà nước Khuyến khích phát hành thanh toán thẻ cũng
là khuyến khích tăng cầu tiêu dùng Điều này cũng tạo nên một kênh cung ứng vốn hiệu quả của các ngân hàng thương mại
• Cải thiện môi trường văn minh thương mại, thu hút khách du lịch và đầu
tư nước ngoài: Thanh toán bằng thẻ là giảm bớt các giao dịch thủ công, tiếp
cận với một phương tiện văn minh của thế giới do đó sẽ tạo ra một môi trường thương mại văn minh, hiện đại hơn Đây cũng là yếu tố thu hút khách
du lịch, các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam Bên cạnh việc đem lại lợi ích to lớn cho xã hội, thẻ đựơc sử dụng ngày càng rộng rãi cũng là nhờ những tiện ích thiết thực mà nó đem lại cho những đối tượng liên quan trực tiếp: chủ thẻ, cơ sở chấp nhận thẻ, ngân hàng
1.2 NGHIỆP VỤ THANH TOÁN THẺ
1.2.1 Các chủ thể tham gia hoạt động thanh toán thẻ
Trong một giao dịch thanh toán thẻ, thông thường có 5 bên tham gia: Chủ thẻ (Cardholder); Ngân hàng phát hành thẻ (Card Issuer); Cơ sở chấp nhận thẻ (Merchant);Ngân hàng thanh toán thẻ (Acquirer) và tổ chức thẻ Quốc tế dưới các hình thức Hiệp hội (Card Associations) như Visa và MasterCard hay Công
Trang 19ty độc lập (Independent Companies) như American Express, Diners Club, Discover…
1.2.1.1 Ngân hàng phát hành (Card Issuer)
Ngân hàng phát hành là ngân hàng được sự cho phép của tổ chức thẻ hoặc công ty thẻ trao quyền phát hành cho những thẻ mang thương hiệu của tổ chức
và công ty mình Ngân hàng phát hành là ngân hàng có tên in trên thẻ do ngân hàng đó phát hành thể hiện thẻ đó là sản phẩm của mình Ví dụ như thẻ Visa do Vietcombank phát hành có tên là Vietcombank Visa Đối với thẻ quốc tế, ngân hàng phát hành phải là thành viên chính thức của các tổ chức thẻ quốc tế Ngân hàn phát hành chịu trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ xin cấp thẻ, xử lý và phát hành thẻ, mở và quản lý tài khoản thẻ, đồng thời thực hiện việc thanh toán cuối cùng với chủ thẻ
Ngân hàng phát hành quy định các điều khoản, điều kiện sử dụng thẻ cho chủ thẻ tuân thủ Ngân hàng phát hành có quyền ký kết hợp đồng đại lý với bên thứ ba, là một ngân hàng hoặc một tổ chức tài chính tín dụng khác trong việc thanh toán hoặc phát hành thẻ tín dụng Trong trường hợp này, ngân hàng phát hành tận dụng đựoc ưu thế của bên thứ ba về kinh nghiệm, khả năng thâm nhập thị trường và những ưu việt về vị trí địa lý Bên thứ ba khi ký hợp đồng đại lý với ngân hàng phát hành được gọi là ngân hàng đại lý phát hành Nếu tên của ngân hàng đại lý xuất hiện trên tấm thẻ của khách hàng thì nhất thiết ngân hàng đại lý phải là thành viên chính thức của tổ chức thẻ hoặc các công ty thẻ
Một số lợi ích của ngân hàng phát hành thẻ
- Tạo nguồn thu cho ngân hàng Các nguồn thu đó là
+ Lệ phí thường niên: Là khoản phí mà chủ thẻ phải trả cho quyền sử dụng
thẻ hàng năm, ví dụ với loại thẻ Visa Card do VCB phát hành có 2 mức là 200.000 VND cho thẻ vàng và 100.000 VND cho thẻ thường
+ Lãi cho vay: Thẻ tín dụng không chỉ đơn thuần là một dịch vụ thanh toán
mà nó còn là một dịch vụ cho vay với độ an toàn cao Sự an toàn thể hiện ở ngay
Trang 20cơ chế phát hành và thanh toán thẻ, thẻ tín dụng được phát hành dựa trên 3 hình thức: thế chấp, tín chấp, kết hợp giữa thế chấp và tín chấp
• Thế chấp: Chủ sở hữu thẻ tín dụng phải thế chấp 100% hoặc hơn số tiền trên hạn mức tín dụng của mình tại NHPH (ở NHNTVN, số tiền thế chấp là 125% hạn mức tín dụng), như vậy có thể coi hợp đồng thẻ
là tuyệt đối an toàn Tuy nhiên việc phát hành theo cách thức này sẽ gây khó khăn lớn cho sự phát triển của thị trường thẻ tín dụng vì mức thế chấp cao
• Tín chấp: Theo hình thức này thì ngân hàng chỉ căn cứ vào nhân thân, mức thu nhập thường niên của khách hàng để quy định hạn mức tín dụng Rủi ro lớn nhất của hợp đồng thẻ là trường hợp khách hàng không trả được nợ Tuy nhiên, nếu ngân hàng kiểm soát chặt chẽ được thu nhập định kỳ của khách hàng và có biện pháp giám sát tốt thì hoàn toàn có thể hạn chế được rủi ro trên để phát triển thị trường thẻ thông qua cho vay tín chấp Hình thức này được quan tâm đến như một thể thức tự do nhất để phát triển thị trường thẻ
• Hình thức kết hợp: Đây là sự kết hợp giữa cả hai điều kiện tín chấp và thế chấp, nó mang lại sự liên kết, mối quan hệ lâu dài giữa khách hàng
và ngân hàng trong việc thực hiện các dịch vụ ngân hàng bán lẻ trong
đó bao gồm cả các CSCNT Hình thức này góp phần hạn chế nhược điểm và phần nào phát huy ưu điểm cả hai loại phát hành trên
Thông thường, vào cuối tháng, khách hàng sẽ nhận được kê chi tiêu trong
đó ghi rõ số tiền đã sử dụng và số tiền phải thanh toán lại cho ngân hàng Trong trường hợp khách hàng không còn khả năng thanh toán hết thì số dư nợ còn lại
sẽ được tính lãi như một khoản ngân hàng cho khách hàng vay Đây cũng là một khoản thu không nhỏ mang lại cho ngân hàng