Sách báo thường đưa tin về sự xuất hiện thuật ngữ “Văn hóa” trong một cuốn từ điển tiếng Anh vào năm 1920. Tuy nhiên, người đầu tiên sử dụng từ này trong khoa học là Samuel von Pufendorf (1632 1692), nhà nghiên cứu lịch sử, pháp luật người Đức.Cho đến nay, đã có hàng trăm định nghĩa về văn hóa. Ở đây, có thể đặc biệt lưu ý tới những quan điểm chủ yếu như sau: Văn hóa là những gì do con người sáng tạo nên, đối lập với trạng thái tự nhiên Văn hóa là toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần Văn hóa là cái được con người thừa kế, tiếp nhận Văn hóa là “sự tiến bộ của những tiến bộ”Từ những quan niệm nói trên và xuất phát từ đối tượng và nhiệm vụ tâm lý học, văn hóa có những định nghĩa riêng, khác nhau.
Trang 1NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1 Về khái niệm “văn hóa”
Sách báo thường đưa tin về sự xuất hiện thuật ngữ “Văn hóa” trong một cuốn từ điển tiếng Anh vào năm 1920 Tuy nhiên, người đầu tiên sử dụng từ này trong khoa học
là Samuel von Pufendorf (1632 - 1692), nhà nghiên cứu lịch sử, pháp luật người Đức
Cho đến nay, đã có hàng trăm định nghĩa về văn hóa Ở đây, có thể đặc biệt lưu ý tới những quan điểm chủ yếu như sau:
- Văn hóa là những gì do con người sáng tạo nên, đối lập với trạng thái tự nhiên
- Văn hóa là toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần
- Văn hóa là cái được con người thừa kế, tiếp nhận
- Văn hóa là “sự tiến bộ của những tiến bộ”
Từ những quan niệm nói trên và xuất phát từ đối tượng và nhiệm vụ tâm lý học, văn hóa có những định nghĩa riêng, khác nhau
Theo A A Belik, “những định nghĩa tâm lý về văn hóa tạo thành nhóm lớn nhất”2, ví dụ:
- W Sumner định nghĩa văn hóa như là tổng thể những thích nghi của con người với các điều kiện sống của nó
- R Benedict hiểu văn hóa là hành vi ứng xử có được mà mỗi thế hệ người cần phải nắm lại từ đầu
- G Stein cho rằng văn hóa là sự tìm kiếm phép trị liệu trong thế giới hiện đại
- M Kerskovits coi văn hóa là tổng số những hành vi và kiểu tư duy tạo nên một
xã hội nào đó
Ngoài ra, chúng ta có thể bổ sung thêm những định nghĩa khác như:
- Văn hóa là một lối sống (Jae-Hyeon Choe)33, (C.W.Wissler)4
- Văn hóa theo nghĩa rộng là tập tục, tín ngưỡng, ngôn ngữ, tư tưởng, thị hiếu, thẩm mỹ, những hiểu biết kỹ thuật cũng như toàn bộ tổ chức môi trường của con người (Bách khoa toàn thư Encyclopaedia Universalis của Pháp)5
- Văn hóa là khái niệm chung “chỉ các khía cạnh trí tuệ của văn minh trong một nhóm dân cư nào đó, được hiểu như là sự thống nhất nhân chủng, địa lý hay ngôn ngữ Theo nghĩa rộng, văn hóa liên quan tới toàn bộ những huyền thoại, các nghệ thuật, khoa
2
3
4 A.A Bekik: Đã dẫn ở chú thích (CT)2,tr 15
5 Theo Hoàng Trinh (1996): Vấn đề văn hóa và phát triển Nxb Chính trị Quốc gia, tr14 (Tác giả không nêu nguồn trích dẫn
cụ thể)
Trang 2học, các chuẩn mực xã hội và những thói quen, bao gồm cả sự hình thành và tác động của chúng”6
Từ giác độ tâm lý học, có thể hiểu văn hóa là phức tạp tâm lý cỉnh thể được hình
thành và phát triển cao độ trong hoạt động của cá nhân, phản ánh dấu ấn của một cộng đồng và là một nhân tố quan trọng bậc nhất của sự phát triển toàn diện nhân cách con người.
2 Những đặc điểm của văn hóa
Xét từ giác độ tâm lý học, văn hóa có những đặc điểm cơ bản sau:
2.1 Văn hóa là một nhân tố quan trọng bậc nhất tạo ra con người và sự phát triển
tâm lý ở trình độ cao Sự phát triển đó được coi như kết quả của những sự tương tác giữa kiểu gen, văn hóa và môi trường hoạt động của con người
2.2 Văn hóa luôn mang tính chất kép, tiềm ẩn và tường minh, tùy thuộc vào sự
phát hiện, tiếp thu những giá trị của nó Có thể nói khác đi như M Herskovits: Văn hóa tồn tại không phụ thuộc vào con người và văn hóa không phải là gì khác, mà là một thực hiện tâm lý tồn tại trong đầu óc của mỗi cá nhân
3 Tâm lý học văn hóa
3.1 Một số xu hướng tâm lý học trong nghiên cứu văn hóa
Có thể nói, lịch sử của tâm lý học văn hóa bắt nguồn từ những xu hướng chủ yếu, được trình bày dưới đây
3.1.1 Tâm lý học các dân tộc (Voelkerpsychologie)
Đây là xu hướng tâm lý học ra đời năm 1860, xuất phát từ những quan niệm của
M Lazarus và H Steinthal khi xuất bản “Tạp chí nghiên cứu tâm lý các dân tộc và khoa học ngôn ngữ” khắc phục được tình trạng chỉ chú ý tới cá nhân và bỏ qua mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, xem nhẹ sự tham gia vào tinh thần chung, tinh thần của nhân dân (Volksgeist)
Từ 1990, W.Wundt tiếp tục nghiên cứu sâu hơn và cho công bố một tác phẩm lớn gồm 10 tập phản ánh quan điểm cơ bản cho rằng tâm lý học các dân tộc có nhiệm vụ nghiên cứu các quá trình tâm lý trong mọi mối quan hệ vượt ra khỏi sự sinh tồn riêng lẻ
và dẫn đến sự tác động qua lại về tinh thần như điều kiện của chúng
Theo G.G.Shpet, tâm lý học dân tộc có ba nhiệm vụ cơ bản:
+ Nhận thức tâm lý về bản chất tinh thần dân tộc
+ Phát hiện các quy luật của hoạt động tinh thần hoặc lý tưởng của dân tộc được thực hiện trong cuộc sống, trong nghệ thuật và khoa học
6 W.D Froehlich (1993): Woerterbuch zur Psychologie Deutscher Taschenbuch Verlag Tr.250
Trang 3+ Tìm ra các cơ sở, nguyên nhân làm xuất hiện, phát triển hoặc thủ tiêu những đặc điểm của một dân tộc nào đó
3.1.2 Tâm lý học nhóm
Một số nhà tâm lý học xã hội ở Pháp như G.Le Bon (1841-1931), G Tarde (1843-1904), ở Mỹ như W.James đã nghiên cứu các cơ chế tâm lý của sự tương tác của con người trong những nền văn hóa, cũng như những biến đổi văn hóa có liên quan đến ngôn ngữ, tôn giáo, tình cảm, tư tưởng, chính trị
Ở đây, chúng ta cũng có thể nhắc đến K Lewin (1890-1947) Với khái niệm trung tâm là “không gian sống” (Lebensraum), ông mô tả toàn bộ những gì quy định hành vi của con người Trong công thức V=f (PU) = f (L), K Lewin đã nhấn mạnh vai trò quy định tính cách và hành vi của cá nhân sống trong một nền văn hóa nào đó
3.1.3 Phân tâm học
Phân tâm học ra đời vào thế kỷ thứ XX và như S Fereud viết, tạo ra cái mới cùng với tác phẩm “Lý giải giấc mơ” (Traumdeutung), được xuất bản năm 1900
Việc coi trọng vai trò của văn hóa đã dẫn đến một cách tiếp cận mới khi lý giải giấc mơ Theo A Hamburger hay A Lorenzer, thay vì xuất phát từ sự phát triển của tuổi
ấu thơ, các nhà phân tâm học phải chú ý tới mối quan hệ với các chuẩn mực xã hội, tới quá trình xã hội hóa “đặc thù”7
Lý luận về văn hóa của Freud trong “Totem unt Tabu” (1912) phát triển trên nền của tư duy tiến hóa luận “Totem và Tabu” xuất hiện trong tiền sử loài người ở một bộ tộc nguyên thủy Ở đây, một người đàn ông tàn bạo đã chiếm đoạt các phụ nữ và cho đầy ải, xua đuổi các con trai đến tuổi trưởng thành của mình Về sau, những người con trai này trốn thoát, giết và ăn thịt người cha, lấy mẹ và chị em gái
Tình cảm tội lỗi và sự ân hận đã tạo nên điều cấm loạn luân (Inzesttabu) và cấm
ăn thịt động vật được coi là vật tổ (Totemtier) Đối với Freud, đó là lúc con người bắt đầu có năng lực văn hóa
3.1.4 Tâm lý học nhân văn
Sự ra đời của tâm lý học nhân văn trong những năm 60 của thế kỷ vừa qua là một minh chứng rõ rệt cho sự phát triển tâm lý học, thể hiện ở việc phản đối tâm lý học hàn lâm, hướng vào khoa học tự nhiên, xa rời thực tiễn và cuộc sống Theo A.Maslow, sự sai lầm, phiến diện đó đã dẫn đến hậu quả tất yếu là tâm lý học không thể nào nhận biết, hiều được con người và các nền văn hóa
7 Theo A Hamburger: Psychoanalyse und Literatur Trong Wolgang Mertens (Hg,1995): Schluesselgergriffe der
Psychoanalyse Verlag Internationale Psychoanlyse Stuttgart, tr.396.
Trang 4Tuy nhiên, hoạt động thực tiễn và những nguyên tắc hoạt động quan trọng nhất của các nhà tâm lý học nhân văn lại chưa chú ý đầy đủ đến những biến đổi của xã hội, của văn hóa Vì thế, khi phân tích các khái niệm cơ bản nhất của tâm lý học nhân văn như “sự thực hiện bản ngã” hay “sự hiện thức hóa bản ngã”, “trải nghiệm bản ngã” trong
“quá trình nhóm”, R.O Zucha đã coi đó là duy tâm vì, tồn tại quyết định ý thức chứ
không phải ý thức quyết định tồn tại.
Tâm lý học nhân văn của A.Maslow (1908-1970) cũng thường được nhắc đến không chỉ vì sự phân biệt hai nền văn hóa trong xã hội hiện đại, được tạo ra trên cơ sở định hướng theo những giá trị cao đẹp hay khuynh hướng quan liêu – kỹ trị trong cuộc sống xã hội
Cũng như E.Fromm, A.Maslow cho rằng xã hội phải coi trọng các mục tiêu phát triển con người, những nhu cầu ở những cấp độ khác nhau, mà cao nhất là sự tự hiện thực hóa tới mức tốt đẹp nhất có thể được Tư tưởng này có ý nghĩa quan trọng đối với
sự hoàn thiện nhân cách, thực hiện một đường lối giáo dục chân chính, thậm chí, như có người đã nói, trở thành nền tảng cho các quan niệm phát triển kinh tế như ở Nhật vào những năm 70-80
3.1.5 Tâm lý học so sánh văn hóa
Tâm lý học xuyên văn hóa hoặc so sánh văn hóa (cross-cultural psychology, kulturvergleichende) được các nhà tâm lý học như W.D.Froehlich, A.J Marsella, H.C Triandis quan niệm như một phân ngành tâm lý học ra đời trên cơ sở của tâm lý học văn hóa và tâm lý học các dân tộc trước đây Phạm vi nghiên cứu của nó là những chức năng nhận thức cơ bản (ví dụ tri giác, tư duy), động cơ, thái độ, các khuynh hướng nghệ thuật,
sự phát triển và thực tiễn giáo dục, các quan hệ và chuẩn mực mang tính văn hóa
3.2 Tâm lý học văn hóa
3.2.1 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu
Trong tham luận về “Tâm lý học – Một khoa học cơ bản về con người” tại Hội nghị các nhà tâm lý học của các nước xã hội chủ nghĩa năm 1978 ở Postdam, G.Pirop quy tâm lý học văn hóa vào nhóm các phân ngành gắn kết với thực tiễn như tâm lý học
sư phạm, tâm lý học xã hội, tâm lý học quản lý, tâm lý học lao động, tâm lý học lâm sàng, tâm lý học sinh thái, tâm lý học tôn giáo,v.v8
Dựa theo 27 lĩnh vực chủ yếu của APA (American Psychological Association), nhiều nhà tâm lý học hàng đầu của các nước nói tiếng Đức đã tiến hành phân loại theo 3
8 Adolf Kossakowski (Hg 1980): Psychologie im Sozialismus, Veb Deutscher Verlag der Wissenschaften Berlin, tr
295-296
Trang 5lĩnh vực chủ yếu là tâm lý học kinh nghiệm (empirical, dựa trên cơ sở quan sát và cả thực nghiệm), tâm lý học thuyết và tâm lý học triết học Theo các danh mục, tâm lý học văn hóa được xếp chung vào nhóm thứ nhất cùng với tâm lý học đại cương, tâm lý học phát triển, tâm lý học so sánh, tâm lý học xã hội, tâm lý học pháp lý, tâm lý học quân sự, tâm lý học lao động, nghề nghiệp và kinh tế, tâm lý học lâm sàng v.v9 Còn xét về nghiên cứu và giảng dạy, họ coi tâm lý học văn hóa là một phân ngành hướng vào mặt
xã hội (như tâm lý học ngôn ngữ, tâm lý học tôn giáo, tâm lý học chính trị, tâm lý học y học ), chứ không thuộc nhóm tâm lý học ứng dụng thực tiễn (như tâm lý học công nghiệp, tâm lý học quảng cáo, tâm lý học hàng không, trị liệu tâm lý, tâm lý học giao thông )10
Có nhiều quan niệm khác nhau về phân ngành tâm lý học ví dụ:
- Tâm lý học văn hóa (Cultural Psychology, Psychology of culture) là một lĩnh vực của tâm lý học xã hội, nghiên cứu các quá trình phát triển, tiếp nhận (Rezeption) và ảnh hưởng của các tài sản văn hóa theo nghĩa rộng nhất, ví dụ nghệ thuật và các phong cách nghệ thuật, phong tục và tập quán, các nhóm và chuẩn mực luật pháp, ngôn ngữ, sự truyền đạt tri thức và khoa học, các mặt giá trị chung thể hiện văn hóa Mục đích nghiên cứu của nó là phân tích sự quy định qua lại lẫn nhau của các hiện tượng văn hóa, các chuẩn mực của nhóm hay xã hội và các thái độ cá nhân, hứng thú và hành động11 Tuy nhiên, đây không phải là một bộ phận hợp thành của tâm lý học xã hội
- Tâm lý học văn hóa nghiên cứu cái tâm lý trong văn hóa như là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch
sử và sự tương tác giữa văn hóa và tâm lý con người12
Cách hiểu như quan niệm thứ hai là phù hợp với cách phân chia các ngành tâm lý học hiện nay, phản ánh được đối tượng cơ bản của tâm lý học trong mối quan hệ với văn hóa
Để làm rõ đối tượng và nhiệm vụ của nó, chúng tôi xác định tâm lý học văn hóa
nghiên cứu các hiện tượng, quá trình và quy luật tâm lý trong sáng tạo, truyền (transmission) và tiếp nhận các giá trị văn hóa để góp phần phát triển toàn diện nhân cách con người phù hợp với trình độ tiến hóa và văn minh đương đại.
9 Dorch Psychologisches Woerterbuch (1996), Verlag Hans Huber, Bern Goettinggen Toronto Seattle, tr.607
10 Dorsch Psychologisches Woerterbuch (1996): Đã dẫn ở chú thích 9, tr 608
11 W Froehlich: Đã dẫn ở chú thichs6, tr 250-251
12 D.Likhachop: Văn hóa và văn minh Báo ảnh Liên Xô, 2/90
13 Xin xem thêm Lê Đức Phúc: Một số điểm cần được chú ý trong nghiên cứu văn hóa, con người, nguồn nhân lực Trong Phạm Minh Hạc, Lê Đức Phúc (Chủ biên, 2004): Một số vấn đề nghiên cứu nhân cách Nxb Chính trị Quốc gia Hà nội,
Trang 6Trước hết, có thể nói, việc nghiên cứu tâm lý học văn hóa cũng sử dụng các nhóm phương pháp và những phương tiện tâm lý học nói chung với những biến thái khác nhau của chúng: chọn đối tác (patner) cùng hành động thay vì trắc đạc xã hội (Soziometrie), quan sát có tham gia (participant observation) trong quá trình điền dã (field work) để có thể nhìn từ bên trong (emic view) thay vì chỉ xuất phát từ cách nhìn của người ngoài cuộc (etic view), thực nghiệm thông qua việc tổ chức hành động giải quyết các vấn đề của tình huống thực tế trên cơ sở truyền lại và tiếp nhận, sử dụng giá trị văn hóa thay vì chỉ thuyết giảng, thảo luận, kiểm tra trên nhận thức v.v
Không chỉ có tâm lý học văn hóa mà tất cả các phân ngành tâm lý học đều phải coi trọng yếu tố văn hóa khi lựa chọn hoặc xây dựng phương pháp nghiên cứu Một vấn
đề hết sức có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, còn mang tính thời sự cho đến bây giờ là nhiều công trình từ nửa cuối thế kỷ XX đã cho thấy có những khác biệt do văn hóa tạo nên ngay từ khi trẻ em mới được sinh ra
Nếu không chú ý đến những đặc điểm văn hóa khác biệt (differential) mà chỉ quan tâm đến những cái phổ quát (universal) thì sự thiên lệch này sẽ dẫn đến tình trạng phản ánh và lý giải phiến diện, thậm chí sai lầm Các công trình nghiên cứu mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng như của R.A Levin ở Kenia, những người khác ở châu Phi, Guatermala, Nam Tư, Mỹ, Nhật đã chứng minh cho sự thật là phải khắc phục những mặt yếu kém về phương pháp xuất phát từ quan điểm lý luận không khoa học Và từ lâu, các nhà tâm lý học đã cố gắng tạo lập một cách nhìn tổng thể về mối tương liên (transaction) giữa cá nhân – môi trường trên cơ sở của một mô hình bao hàm đầy đầy đủ các khía cạnh sinh học, tâm lý và xã hội- sinh thái như Klaus A Schneewind kết luận
VĂN HÓA VÀ SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ CỦA CON NGƯỜI
Mối quan hệ giữa văn minh và văn hóa cũng như giữa văn minh và sự phát triển của con người cho đến nay vẫn cần được nghiên cứu thêm, sâu hơn cả về lý luận lẫn thự tiễn Trên lĩnh vực tâm lý học, đó là vấn đề văn hóa và sự phát triển tâm lý, nhân cách trong thời đại văn minh hiện nay
tr.380-379
Trang 71 Văn minh
Trước hết, văn minh là một khái niệm được hiểu theo những quan niệm khác nhau
- “Văn minh (Latinh, Pháp và Anh): 1/ Toàn bộ những điều kiện vật chất và xã hội của cuộc sống được tạo ra (được cải thiện) nhờ sự tiến bộ của khoa học và kỹ thuật 2/ Học vấn và văn hóa”14
- “Tất cả biến đổi do con người tạo ra ở ngoài cơ thể gọi là các thành tựu văn hóa; tập hợp toàn bộ những thành tựu ấy gọi là văn hóa; các thời kỳ đặc trưng đỉnh cao của văn hó gọi là văn minh Hay nói văn hóa đi liền với văn minh, có thể coi văn hóa và văn minh là hai từ đồng nghĩa với nhau”15
- “Văn minh đồng nghĩa với văn hóa khi người ta đối lập văn minh với bạo tàn Nhưng thông thường, văn minh được dùng để chỉ trình độ phát triển của nhân loại đạt được ở một thời kỳ lịch sử nào đó Văn minh là thể hiện văn hóa trong lối sống”16
- “Văn minh I Trình độ phát triển đạt đến một mức nhất định của xã hội loài người, có nền văn hóa vật chất và tinh thần với những đặc trưng riêng II.1/ Có những đặc trưng riêng của văn minh, của nền văn hóa phát triển cao 2/ Thuộc về giai đoạn phát triển thứ ba sau thời đại dã man, trong lich sử xã hội loài người kể từ khi có thuật luyện kim và chữ viết (theo phân kỳ lịch sử xã hội của L.H Morgan)”17
- “Từ văn minh thường được dùng như là đồng nghĩa với từ văn hóa Tuy nhiên,
nó bao gồm một cái gì hon thế, hay đúng hơn, nó chỉ định một tình trạng nào đáy của văn hóa, được coi là cao hơn và cũng thực sự là cao hơn”18
Như vậy, Jean Golfin cũng quan niệm như G Lebon: “Một nền văn minh bao hàm ngững nguyên tắc cố dịnh, kỷ luật, sự chuyển từ bản năng sang lý trí, có viễn kế về tương lai, một trình độ cao về văn hóa”19
Trong tâm lý học, xét theo những ý kiến thống nhất, chúng ta có thể định nghĩa
văn minh là trình độ phát triển tâm lý, nhân cách của con người phù hợp với những điều kiện kinh tế, xã hội và văn hóa của thời đại.
2.1 Lối sống
Có những định nghĩa khác nhau về lối sống và dưới đây là một số ví dụ:
14 Das Fremdwoerterbuch (1990): Meyers Lexikonverlag Manheim Leipzig Zuerich, tr.829-830
15 Bách khoa toàn thư Anh, T1, tr721 (Tiếng Anh) Theo Phạm Minh Hạc (Chủ biên,2001): Nghiên cứu con người và nguồn
nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, tr.28
16 Trần Văn Bính (Chủ biên, 1997), Văn hóa xã hội chủ nghĩa Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, tr.8
17 Hoàng Phê (Chủ biên, 1994): Từ điển Tiếng Việt, Nxb Khoa học xã hội, Trung tâm từ điển học Hà Nội, tr.1062
18 Jean Golfin (2003): 50 từ then chốt của xã hội học Nxb Thanh niên, tr.28
19 Gustave Le Bon (2006): Tâm lý học đám đông Nxb Tri thức, tr.30
Trang 8- “Lối sống là một phạm trù xã hội học khái quát toàn bộ hoạt động sống của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định, và biểu hiện trên các lĩnh vực của đời sống: trong lao động và hưởng thụ, trong quan hệ giữa người với người, trong sinh hoạt tinh thần và văn hóa”20
- “Lối sống là sinh hoạt cá nhân, chủ quan hóa của hệ thống những quan hệ xã hội, của toàn bộ tổng thể những điều kiện sống, thể hiện trong hoạt động của con người”21
- “Lối sống là toàn bộ những hình thức hoạt động sinh sống tiêu biểu xuất hiện trong những quan hệ kinh tế - xã hội nhất định của các dân tộc, giai cấp, các nhóm xã hội, cá nhân trong sản xuất vật chất và tinh thần, trong phạm vi xã hội – chính trị và riêng tư thường ngày, trong những mối quan hệ qua lại của mọi người và trong đời sống
cá nhân”22
Từ đó có thể rút ra ba kết luận cơ bản về những quan niệm nói trên như sau:
1 Lối sống là toàn bộ những hình thức hoạt động tiêu biểu, tương đối ổn định của
cá nhân và nhóm
2 Lối sống được hình thành và thay đổi thông qua các quan hệ sản xuất vật chất
và tinh thần, chính trị và xã hội trong những điều kiện của các môi trường cụ thể khác nhau
3 Lối sống và những biểu hiện của nó, tuy phản ánh cái phổ quát, dấu ấn chung của các thiết chế xã hội, dân tộc, vùng miền, song luôn có sự khác biệt các nhân, và “sự khác biệt văn minh”cần được chú ý nghiên cứu và tôn trọng
Xuất phát từ đó, lối sống là khái niệm được dùng để chỉ toàn bộ những hình thức
hoạt động mang tính ổn định, đặc trưng cho cá nhân hay nhóm Những hình thức này
được quy định bởi trình độ nhận thức về lẽ sống, cũng như điều kiện, khả năng thỏa mãn nhu cầu liên quan đến những giá trị văn hóa
2.2 Lẽ sống
2.2.1 Bàn về khái niệm
Cuộc sống cá nhân hay cộng đồng thường diễn ra theo một quan niệm nào đó, còn được gọi là lẽ sống Hiện nay, lẽ sống vẫn còn được hiểu rất khác nhau Điều đó dẫn đến những trường hợp như sau:
20 Trần Văn Bính (Chủ biên): Đã trích dẫn ở chú thích 20, tr.211
21 V Đô-bơ-ri-a-nôp (1985): Xã hội học Mác – Lenin, Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội, tr.213
22 E.V Soorrokhova: Sozialistische Lebensweise und die Psychologie des Menschen Trong: Adlof Kossakowki (Hg.,
1980), Psychologie im Sozialismus VEB Deutscher Verlag der Wissenschaften Berlin, tr.29
Trang 9- Thu hẹp phạm vi nội hàm của khái niệm, coi lẽ sống là “Điều thường thấy ở đời, được coi là hợp với quy luật, với đạo lý”23 Song, lẽ sống của mỗi cá nhân có thể là rất khác nhau, tích cực hoặc tiêu cực Từ một giác độ khác, những ý kiến phê phán của chủ nghĩa Machiavel (1469-1527) có liên quan đến kiểu hiện đương sống, đang làm và kiểu đáng lẽ phải sống, phải làm24 cũng chứng minh thêm điều đó
- Mâu thuẫn trong quan niệm, khi một mặt cho rằng “Lẽ sống được coi là mặt ý thức của lối sống, là sự lựa chọn chủ quan của con người về một lối sống”, nhưng mặt khác lại khẳng định “lối sống là cơ sở đầu tiên để hình thành nếp sống và lẽ sống”25
Thực ra, lẽ sống là triết lý về cuộc đời, là mặt ý thức về cuộc sống của con người Đây
không chỉ là quan niệm mang tính hệ thống về ý nghĩa, mục đích của cuộc sống mà còn
là cơ sở lý giải cách sống và sự thay đổi lối sống Và vì thế, lẽ sống liên quan đến thế giới quan, định hướng giá trị , giáo dục giá trị
2.3 Nếp sống
Nếp sống là khái niệm được dùng để chỉ thói quen, sinh sống, hoạt động theo
một hướng quy định, một trật tự nào đó Nếp sống là mặt ổn định của lối sống và cũng
bị chi phối bởi lẽ sống
Nếp sống không phải là mặt bản năng như một số người quan niệm Nó được hình thành và phát triển thông qua những hoạt động thực tiễn các nhiệm vụ đặc thù của từng lứa tuổi trong mối quan hệ với môi trường đa dạng xung quanh Và vì thế, các giá trị văn hóa luôn đóng vai trò quan trọng Việc nghiên cứu kỹ năng và thói quen đã cho thấy mối quan hệ qua lại giữa chúng thể hiện đặc biệt rõ rệt, cụ thể trong nếp sống nói chung Là những phương thức hành vi được củng cố, các thói quen vừa góp phần làm cho việc điều khiển hành động được dễ dàng, vừa làm cho con người hướng mạnh hơn vào những giá trị thiết yếu đối với mình
3 Về lối sống trong thời đại văn minh hiện nay
Trên bình diện tâm lý học, văn hóa được nghiên cứu như là mục tiêu cần đạt tới
để có sự phát triển nhân cách của con người văn minh đích thực Tuy nhiên, khác với
tâm lý học nhân cách, tâm lý học văn hóa nghiên cứu sự tác động qua lại của văn hóa và lối sống cũng như những điều kiện tâm lý của sự hình thành một lối sống có văn hóa trong thời đại văn minh hiện nay
23 Hoàng Phê (Chủ biên, 1994): Đã dẫn ở chú thích 21, tr.537
24 Có thể xem thêm TS Nguyễn Văn Đáng – Vũ Xuân Hương (1996): Văn hóa và nguyên lý quản trị Nxb Thống kê, tr
22-27
25 Trần Văn Bính (Chủ biên): Đã dẫn ở chú thích 20, tr 215-216
Trang 10Trong mọi thời đại, lối sống lý tưởng là lối sống có văn hóa Đó còn là lối sống
của người văn minh nhờ văn hóa ngày càng đạt tới trình độ cao hơn Và một khi đã suy nghĩ như vậy, thì “Phải quyết định lấy kiểu sống mà chúng ta mong muốn và phải ra tay biến nó thành thiện thực”26
3.1 Những định hướng chung
Tuy bao giờ cũng thuộc về mỗi cá nhân, song lối sống luôn chịu ảnh hưởng của những quan niệm, định hướng chung, mà phần nội dung này chỉ nêu lên những điểm cơ bản nhất
Trước hết, lối sống hiện nay, trong một thời đại văn minh mới, xuất hiện và diễn
ra như là hiệu quả của sự tương tác giữa truyền thống và hiện đại Sách báo cũng đã nói
nhiều về mối quan hệ này mà qua đó, có thể khái quát thành 3 cách nhìn dưới đây:
- Truyền thống chuyển sang hiện đại
- Truyền thống chuyển sang hiện đại qua các giai đoạn “nửa truyền thống” và
“nửa hiện đại”;
- Truyền thống và hiện đại chính là sự biểu hiện đồng thời của hai mặt chi phối lẫn nhau là sự liên tục và biến đổi
3.2 Mức sống
Mức sống là: “Mức đạt được của các điều kiện sinh hoạt vật chất và tinh thần”27 Theo H Benesch, mức sống có văn hóa (hay không) của một dân tộc được đánh giá theo nhiều tiêu chuẩn, trong đó có sự phân tầng xã hội, gắn với những thuận lợi hoặc khó khăn, ưu tiên hoặc yếu thế Song, xét đến cùng, mức sống là trình độ thỏa mãn các nhu cầu và những chi phí cho cuộc sống thường ngày của cá nhân, gia đình và xã hội
3.3 Chất lượng cuộc sống
Chất lượng cuộc sống vừa phản ánh mức sống, vừa là tiêu chí cơ bản nhất của
việc đánh giá giá trị, hiệu quả về mặt văn hóa, tinh thần của lối sống là chủ yếu.
Chất lượng cuộc sống là quan niệm được xác định bởi ba khía cạnh như sau
- Chất lượng cuộc sống là một hiện tượng liên quan đến nhiều mặt quan trọng của cuộc sống, như các điều kiện lao động, các hoàn cảnh ăn, ở, sức khỏe, giáo dục, các quan hệ xã hội, môi trường v.v
- Chất lượng cuộc sống là sự cảm nhận, đánh giá chủ quan của con người, ví dụ
về sự hài lòng và hạnh phúc, lo âu và sợ hãi v.v
26 Charles Handy: Tìm cái hợp lý trong sự bất định Trong: Tư duy lại tương lai Nhiều tác giả, Rowan Gibson (Biên tập)
Nxb Trẻ TP.Hồ Chí Minh Thời báo Kinh tế Sài Gòn – Trung tâm Châu Á – Thái Bình Dương 2002, tr.42
27 Hoàng Phê (Chủ biên, 1994): Đã dẫn ở chú thích 21, tr 631