1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luật quốc tế và học thuyết can thiệp nhân đạo

93 832 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Vấn đề này được nghiên cứu từ rất lâu ở nhiều quốc gia, và xuất hiện sự tranh cãi gay gắt giữa những học giả ủng hộ can thiệp nhân đạo và những học g

Trang 1

đại học quốc gia hà nội

Trang 2

đại học quốc gia hà nội

khoa luật

trần thị vân trà

luật quốc tế

Chuyên ngành : Luật quốc tế

Trang 3

1.1.3.5 Xây dựng hoà bình sau xung đột 14

Trang 4

1.2 Lịch sử hình thành, phát triển và thực tiễn hoạt động của

học thuyết can thiệp nhân đạo

17

1.2.1 Từ sự hình thành khái niệm can thiệp nhân đạo tới việc trở

thành một hệ thống trong pháp luật quốc tế

1.3 Khía cạnh chủ chốt của học thuyết can thiệp nhân đạo trong

hoạt động can thiệp của NATO ở Kosovo

2.1 Khía cạnh hợp pháp của can thiệp nhân đạo: tỷ lệ hợp lý

giữa luật quốc tế hiện đại và vấn đề bảo vệ quyền con người

2.1.3 Khái niệm về "chủ quyền hạn chế" 42

2.2 Lý thuyết hiện đại về can thiệp nhân đạo 46 2.2.1 Hoàn cảnh ra đời của lý thuyết hiện đại về can thiệp nhân đạo 47 2.2.2 Lý thuyết hiện đại về can thiệp nhân đạo 49

Chương 3: CAN THIỆP NHÂN ĐẠO - MỘT HÌNH THỨC MỚI

58

3.1 Xây dựng khái niệm can thiệp nhân đạo thích hợp với luật 58

Trang 5

3.2 Phát triển luật quốc tế trong việc điều chỉnh thống nhất can

thiệp nhân đạo

3.2.2.2 Quốc gia nơi diễn ra hành vi vi phạm nghiêm trọng quyền con

người không muốn hoặc không thể chấm dứt tình trạng này

69

3.2.2.3 Sự vi phạm nghiêm trọng quyền con người đe dọa hoặc phá

hoại hòa bình và an ninh quốc tế

3.2.4.1 Cải tổ cơ cấu và hoạt động của Hội đồng bảo an 73

3.2.4.2 Xác lập thẩm quyền cho Đại hội đồng trong các hoạt động

can thiệp nhân đạo khi Hội đồng bảo an không thực hiện

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Một trong những biểu hiện của toàn cầu hóa trong lĩnh vực chính trị

và nhân đạo và yếu tố thực tế của trật tự thế giới mới là "thể chế" can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia có chủ quyền vì lý do nhân đạo, được mang tên "can thiệp nhân đạo"

Sự quan tâm gần đây nhất đến vấn đề này là cuộc tấn công của NATO đối với Nam Tư, với lý do chính thức là có một cuộc khủng hoảng nhân đạo tại Kosovo Tháng 03/1999, với lý do bảo vệ người Anbani bị người Serbia thanh lọc sắc tộc ở Kosovo, NATO đã tấn công vào Cộng hòa liên bang Nam

Tư Một chiến dịch ném bom trên không nhằm vào Serbia được NATO triển khai Hậu quả của nó là Slobodan Milosevic bị lật đổ, và lực lượng quân Serbia được thay bởi quân của NATO

Bên cạnh những mục tiêu "nhân đạo" mà NATO đạt được thì sự kiện này rõ ràng cũng đã dẫn đến sự trầm trọng hơn mối quan hệ giữa dân cư Serbia và Albania của Kosovo, cùng các hành vi khủng bố, vi phạm quyền con người ở quy mô lớn ngày càng nhiều hơn, và một dòng chảy khổng lồ những người tị nạn

NATO, dẫn đầu là Hoa Kỳ đã đảm nhiệm việc giải quyết cuộc khủng hoảng ở Kosovo, đẩy Tổ chức Hợp tác và An ninh châu Âu (OSCE) vào vị trí thứ hai Tuy nhiên, thay vì sử dụng các phương pháp chính trị, ngoại giao và các phương tiện hòa bình khác để giải quyết cuộc khủng hoảng, NATO từ rất sớm đã quyết định sử dụng tên lửa và bom quy mô lớn Đây là lần đầu tiên học thuyết can thiệp nhân đạo được thực hiện một cách công khai sau Chiến tranh lạnh và đến tháng 05/2008, nó đã trở thành một phần chiến lược mới của NATO

Trang 8

Với cuộc chiến này, các nhà phân tích tin rằng, đã xuất hiện một chiều hướng chính trị thế giới mới, làm rõ nhiều vấn đề về can thiệp nhân đạo ở giai đoạn hiện nay trong cách giải quyết vấn đề của các nhà lãnh đạo các nước phương Tây

Năm 2003, Mỹ tấn công vào Iraq bất chấp sự phản đối của Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế Lý do được Mỹ đưa ra là Iraq đang sở hữu vũ khí hủy diệt hàng loạt, đe dọa nền hòa bình của các quốc gia trong khu vực; Iraq đang chứa chấp các tổ chức khủng bố quốc tế; nước này không tuân thủ chương trình đổi dầu lấy lương thực và tất nhiên là Iraq đã và đang tiến hành diệt chủng người Kurd Một lần nữa học thuyết can thiệp nhân đạo được sử dụng làm phương tiện cho những cuộc tấn công quân sự vào một quốc gia có chủ quyền

Tác giả chọn đề tài nêu trên để nghiên cứu vì những lý do sau đây:

- Học thuyết can thiệp nhân đạo vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc

cơ bản của Luật quốc tế hiện đại, trong đó có nguyên không dùng vũ lực hoặc

đe dọa dùng vũ lực, nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác

- Học thuyết can thiệp nhân đạo đề cao vấn đề nhân quyền Trong thời đại hiện nay, nhân quyền là một đề tài nóng bỏng, nhất là nạn diệt chủng và thảm sát Chúng nhận được sự quan tâm xác đáng của cộng đồng quốc tế Tuy nhiên, trong quá khứ gần và hiện nay, những vụ thảm sát vẫn cứ diễn ra một cách âm thầm hay công khai, núp dưới những "tấm khiên" chủ quyền quốc gia, lợi ích của đa số cộng đồng, đối lập về niềm tin tôn giáo,… Nhưng dù với bất kỳ lý do gì thì chúng vẫn là những hành vi cần lên án và ngăn chặn

- Học thuyết này đang được một số quốc gia sử dụng một cách tùy tiện vì lợi ích của mình Hậu quả gây nên sự mất ổn định tình hình thế giới cũng như lấn át sự cân bằng của trật tự pháp lý quốc tế Tình hình đó làm các quốc gia khác, nhất là những quốc gia có nguồn tài nguyên thiên nhiên

Trang 9

quan trọng hay vị trí địa - chính trị đặc biệt lo lắng cho sự an toàn của quốc gia mình

- Học thuyết can thiệp nhân đạo đang nhận được những quan điểm trái chiều nhau Bên ủng hộ thì cho rằng học thuyết này đề cao vấn đề nhân quyền - vấn đề ngày càng trở nên quan trọng trong thế giới hiện đại và văn minh, và quan trọng hơn cả chủ quyền quốc gia Bên phản đối thì đưa ra chính kiến rằng việc vận dụng học thuyết vi phạm chủ quyền của các quốc gia, can thiệp thô bạo vào công việc của quốc gia khác Hai quan điểm này,

có quan điểm nào là đúng hoàn toàn hay không, hay là có thể có một nhận định dung hoà giữa chúng? Bởi một vấn đề luôn có hai mặt của chúng, nên đánh giá những tác động tích cực và tiêu cực của học thuyết tới luật quốc tế hiện đại sẽ cho chúng ta cái nhìn đúng đắn hơn về học thuyết Và Luật quốc

tế sẽ cần những thay đổi để phát huy tính tích cực, giảm thiểu tính tiêu cực của học thuyết

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

- Tình hình nghiên cứu trong nước

Học thuyết can thiệp nhân đạo được nghiên cứu khá khiêm tốn ở Việt Nam Nó mới được đề cập ở mức độ một số bài viết, ở góc độ mặt tiêu cực của học thuyết Hiện nay chưa có một nghiên cứu cụ thể về học thuyết can thiệp nhân đạo, về những ảnh hưởng của nó tới Luật quốc tế hiện đại dưới góc

độ là một nhân tố tác động nhằm hoàn thiện Luật quốc tế

- Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Vấn đề này được nghiên cứu từ rất lâu ở nhiều quốc gia, và xuất hiện

sự tranh cãi gay gắt giữa những học giả ủng hộ can thiệp nhân đạo và những học giả phản đối can thiệp nhân đạo, nhất là sau năm 1945, với sự ra đời của Liên hợp quốc là hệ thống các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế, đánh dấu

sự mất căn cứ pháp lý cho hoạt động can thiệp nhân đạo

Trang 10

Từ sau năm 1989, các cuộc xung đột vũ trang và các vụ việc khác làm gia tăng các vi phạm quyền con người nghiêm trọng trên diện rộng, mà Mỹ và phương Tây gọi chúng là "khủng hoảng mang tính chất nhân đạo" hay "khủng hoảng nhân đạo", "thảm họa nhân đạo" Các học giả luật quốc tế ủng hộ can thiệp nhân đạo tiếp tục đưa ra những luận điểm mới chứng minh sự hợp lý và cần thiết của hoạt động can thiệp nhân đạo Có thể kể đến như cuốn

Humanitarian Intervention: Ethical Endeavours and the Politics of Interests của Roy Isbister (2000), cuốn Humanitarian Intervention Legal and political Aspects của Copenhagen (1999), …

Bên cạnh đó, xuất hiện một xu thế nghiên cứu về can thiệp nhân đạo nhằm tìm cách áp dụng hoạt động này một cách hiệu quả hơn Ở Mỹ, quốc gia dẫn đầu trong hoạt động can thiệp nhân đạo, một số trường đại học và viện nghiên cứu vẫn đang tiến hành các dự án có liên quan Đi đầu phong trào này

là Brooking Institutes hoặc trường đại học John Hopkins với một số tác phẩm

sau: cuốn Chaos and Dissolution after the Cold War, Balkan Stratery của Susan Woodward (1995); cuốn Intervention: the Use of American Military Foce in the Post-cold War World của Richad N.Haass (1999), cuốn U.S Intervention from Northen Iraq to Kosovo của Robert C.DiPrizio (2002),…

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của sự hình thành và phát triển của học thuyết can thiệp nhân đạo, và từ đó đánh giá những hạt nhân tích cực của học thuyết này Bên cạnh đó đề tài phân tích các tác động tiêu cực lẫn tích cực của học thuyết tới Luật quốc tế hiện đại Qua đó

đề xuất những giải pháp cho Luật quốc tế hiện đại nhằm phát huy những ưu điểm và hạn chế những nhược điểm của học thuyết

4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đề tài tập trung chủ yếu vào việc nghiên cứu vấn đề can thiệp nhân

đạo theo nghĩa hẹp: can thiệp có sử dụng vũ lực Luận văn đề cập đến tính

Trang 11

chất nhân đạo là hệ quả của hoạt động sử dụng vũ lực, chứ không đề cập đến tính chất nhân đạo là hệ quả của các thảm họa tự nhiên như: động đất, núi lửa,

lũ lụt, sóng thần,…

Đề tài sẽ đi sâu vào việc phân tích can thiệp nhân đạo dưới góc độ là một học thuyết pháp lý với lịch sử hình thành và các hoạt động thực tiễn Qua

đó chỉ ra những đặc điểm của hoạt động can thiệp nhân đạo cùng với tính ưu

và nhược của nó Từ đó xây dựng một cơ chế pháp lý cho hoạt động can thiệp nhân đạo trong quan hệ quốc tế hiện nay

5 Đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu

Các quan điểm hình thành nên học thuyết can thiệp nhân đạo và hoạt động can thiệp nhân đạo theo tiến trình lịch sử Bên cạnh đó, cũng sẽ nghiên cứu các quy định của pháp luật quốc tế hiện đại liên quan đến hoạt động giữ gìn hòa bình quốc tế của Liên hợp quốc, vấn đề bảo vệ quyền con người cũng như vấn đề can thiệp theo các nguyên tắc cơ bản

- Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Mác - Lênin Bên cạnh đó kết hợp các biện pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, nghiên cứu và đánh giá các sự kiện, quan điểm

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Đề tài là một nghiên cứu vào một vấn đề còn khá mới ở Việt Nam Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp một phần vào bộ tài liệu tham khảo trong lĩnh vực pháp luật quốc tế

Đề tài khai thác các vấn đề của học thuyết can thiệp nhân đạo, đưa ra các nhận định, đánh giá về những vấn đề lý luận và thực tiễn của hoạt động

Trang 12

can thiệp nhân đạo Bên cạnh đó, đề tài cũng gợi mở những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứ và tìm hiểu về can thiệp nhân đạo

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Can thiệp nhân đạo trong hoạt động giữ gìn hòa bình quốc tế Chương 2: Luật quốc tế và lý thuyết về can thiệp nhân đạo

Chương 3: Can thiệp nhân đạo - một hình thức mới và đặc biệt để giữ

gìn hòa bình quốc tế

Trang 13

1.1.1 Khái niệm giữ gìn hòa bình quốc tế

Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc đã để lại những hậu quả thảm khốc về tính mạng, tinh thần, vật chất cho loài người Nhằm phòng ngừa một cuộc chiến tương tự sẽ xảy ra trong tương lai, các quốc gia trên thế giới đã thành lập nên Liên hợp quốc - một tổ chức quốc tế toàn cầu, với mục đích hàng đầu và trước hết là nhằm duy trì hòa bình và an ninh quốc tế

Tại Điều 1 khoản 1 - Hiến chương Liên hợp quốc đã ghi nhận:

Duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, và để đạt được mục đích đó: dùng những biện pháp tập thể có hiệu quả nhằm phòng ngừa và gạt bỏ mọi mối đe dọa hòa bình, trừng trị mọi hành động xâm lược hay phá hoại hòa bình khác, và điều chỉnh hoặc giải quyết bằng phương pháp hòa bình theo đúng những nguyên tắc của công

lý và của pháp luật quốc tế những vụ tranh chấp hoặc những tình thế có tính chất quốc tế, có thể dẫn đến phá hoại hòa bình [1, tr 9]

Vì vậy, về bản chất, giữ gìn hòa bình quốc tế là những hoạt động đóng góp cho tương lai quá trình giải quyết và thiết lập nền hòa bình Những hoạt động đó bao gồm các biện pháp thông qua con đường ngoại giao (thương lượng, đàm phán, hòa giải, thu thập thông tin về xung đột,…); quan sát và giám sát ngừng bắn; cách ly các lực lượng xung đột; thúc đẩy thực hiện luật pháp và trật tự; cung cấp hỗ trợ, giúp đỡ nhân đạo; giải trừ quân bị; hỗ trợ và giám sát bầu cử; tái thiết sau xung đột;… và cuối cùng là sử dụng lực lượng

Trang 14

vũ trang trong trường hợp có sự đe dọa hòa bình, có sự phá hoại hòa bình hoặc có một hành vi xâm lược

Theo nghĩa hẹp, giữ gìn hòa bình được Liên hợp quốc xem là các biện pháp có tính chất đem lại hòa bình, nhằm mục đích làm ổn định tình hình trong khu vực xung đột, tạo ra những điều kiện thuận lợi để giải quyết xung đột một cách hòa bình cũng như khôi phục trở lại và duy trì hòa bình [9, tr 313] Lực lượng gìn giữ hòa bình theo dõi và giám sát tiến trình hòa bình trong những vùng hậu xung đột và giúp đỡ các bên xung đột trong việc thực hiện những thỏa thuận hoà bình mà họ đã ký Các sự trợ giúp như vậy có nhiều dạng, gồm phương pháp xây dựng lòng tin, thỏa thuận về việc chia sẻ quyền lực, hỗ trợ bầu cử, củng cố luật pháp, và việc phát triển kinh tế - xã hội, Lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc có thể bao gồm những binh lính, cảnh sát dân

sự và các dân thường khác

1.1.2 Lịch sử hình thành của hoạt động giữ gìn hòa bình quốc tế

Hoạt động giữ gìn hòa bình quốc tế được hình thành và thực hiện lần đầu tiên bởi Liên hợp quốc Và từ năm 1945 cho đến nay, hoạt động cũng do Liên hợp quốc thực hiện là chủ yếu Ngoài ra, nó còn được các tổ chức quốc tế khu vực thực hiện nhằm giữ gìn hòa bình và an ninh khu vực, như OSCE, SNG, AU,

Những người sáng lập Liên hợp quốc đã thực sự hy vọng rằng tổ chức này sẽ hoạt động để ngăn chặn những cuộc xung đột giữa các quốc gia và các cuộc chiến tranh trong tương lai Nhưng hy vọng đó đến nay vẫn chưa thể trở thành hiện thực Từ năm 1948 cho đến nay, Liên hợp quốc đã tiến hành trên

60 hoạt động cần thiết để giữ gìn hòa bình ở các khu vực khác nhau trên thế giới, nhưng không phải hoạt động nào cũng mang lại được kết quả, thậm chí

có những trường hợp Liên hợp quốc hoàn toàn bất lực

Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, sự phân chia thế giới thành hai cực thù địch khiến thỏa thuận gìn giữ hòa bình rất khó được thông qua Hoạt động giữ gìn hòa bình vì thế được thực hiện rất ít, và hiệu quả đạt được không cao Sứ

Trang 15

mạng hòa bình đầu tiên của Liên hợp quốc là vào năm 1948 ở Palestin Những binh sĩ đầu tiên của Liên hợp quốc được giao nhiệm vụ giữ gìn hòa bình quốc tế là tại vùng kênh đào Suez vào tháng 11/1956 Đối với cuộc xung đột nội bộ tại Cộng hòa nhân dân Congo năm 1960, Liên hợp quốc đã triển khai lực lượng giữ gìn hòa bình nhưng không mang lại kết quả

Sau chiến tranh lạnh, các nước lớn chuyển từ đối đầu sang đối thoại và hợp tác để giải quyết những vấn đề quốc tế, giải quyết những tranh chấp, xung đột vũ trang dai dẳng Vì vậy, ngoài việc duy trì một số chiến dịch gìn giữ hoà bình đã khởi đầu từ thời kỳ chiến tranh lạnh, Liên hợp quốc đã liên tiếp tổ chức các chiến dịch gìn giữ hoà bình mới để giải quyết các cuộc xung đột giữa các quốc gia

Đây là những chiến dịch gìn giữ hoà bình mang tính chất truyền thống, lực lượng gìn giữ hoà bình đứng giữa các bên tham chiến Hầu hết các chiến dịch này là phân tách lực lượng của các bên xung đột; thiết lập và tuần tra, kiểm tra các cùng phân tách, các vùng đệm và vùng phi quân sự; quan sát

và giám sát các thỏa thuận ngừng bắn, rút quân, về sự phát triển của tình hình,

về sự di chuyển của lực lượng vũ trang và về vũ khí trong vùng căng thẳng Các chiến dịch hoà bình truyền thống không chỉ đáp ứng nhu cầu của các bên xung đột, mà còn phù hợp với yêu cầu của các nước lớn, muốn tận dụng vai trò "trung lập" tương đối của Liên hợp quốc để kiềm chế, tránh chiến tranh tại một số khu vực chiến lược

Lực lượng gìn giữ hoà bình trong hoạt động giữ gìn hoà bình truyền thống đã đảm bảo được tính trung lập về quân sự và chính trị đối với các quốc gia đối địch Việc thành lập các lực lượng gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc ở các nước xung đột dều được các bên liên quan yêu cầu hoặc chấp nhận sáng kiến của các nước khác hoặc của Tổng thư lý Liên hợp quốc Điều đó thể hiện rất rõ vai trò của Liên hợp quốc trong việc dàn xếp, giải quyết các cuộc xung đột khu vực, duy trì hoà bình, ổn định thế giới

Trang 16

Từ năm 1988 đến nay, các cuộc xung đột nội bộ liên quan sắc tộc, tôn giáo, văn hoá, tranh chấp tài nguyên bùng lên dữ dội Tại một số nước như Somali, Liberia, Haiiti, Siera Leon và Cộng hòa dân chủ nhân dân Congo, các cuộc xung đột dẫn đến tình trạng hỗn loạn, chính quyền trung ương không quản lý được đất nước… Những cuộc xung đột này rất phức tạp và nhiều thách thức khó khăn, đòi hỏi phải đổi mới hoạt động của lực lượng gìn giữ hoà bình để xây dựng hoà bình, tái thiết đất nước đã bị chiến tranh tàn phá Nhiệm vụ mới này không còn bó hẹp trong phạm vi các hoạt động gìn giữ hoà bình truyền thống mà còn đảm nhiệm thêm nhiều chức năng Ngoài chức năng quân sự, hoạt động này còn thực hiện các chức năng khác như kiểm soát các

cơ quan hành chính, tổ chức và tiến hành bầu cử, thúc đẩy phát triển kinh tế

và xã hội, quan sát về việc thực hiện quyền con người, giúp đỡ công cuộc xây dựng nhà nước,… Và để thực hiện các chức năng mới này, hoạt động giữ gìn hòa bình còn cần sự tham gia của các nhân viên cảnh sát và nhân viên dân sự

Cũng từ cuối những năm 80 của thế kỷ XX đã xuất hiện một tính chất mới trong hoạt động giữ gìn hòa bình quốc tế Nếu như trước đây hoạt động này chủ yếu nhằm tạo ra các điều kiện các điều kiện để tiến hành thắng lợi đàm phán về giải quyết xung đột thì từ đây nó còn được tiến hành sau khi tiến hành đàm phán, với mục đích giúp đỡ các bên thực hiện các điều kiện về giải quyết xung đột một cách toàn diện Những hoạt động như thế được tiến hành

ở Namibia, Angola, El Salvador, Campuchia, Mozambique,… Phần lớn trong

số các hoạt động này đều mang lại hiệu quả tốt, góp phần làm ổn định tình hình ở nhiều khu vực nóng trên thế giới

Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh rằng trong nhiều trường hợp hoạt động giữ gìn hòa bình của Liên hợp quốc đã không mang lại thành công, thậm chí là thất bại lớn lao Có thể kể đến là các trường hợp tại Bosnia và Herzegovina, Somali, Rwanda, Congo trong những năm 90 của thế kỷ XX Chúng là những dẫn chứng cho thấy hiệu quả của hoạt động giữ gìn hòa bình

Trang 17

quốc tế đang giảm sút khi mà các bên tham chiến không chịu tuân thủ các thỏa thuận ngừng bắn, sự hợp tác giữa họ hạn chế hoặc không hề có Nguyên nhân dẫn đến kết quả này là khá nhiều, đáng chú ý là nhiệm vụ đặt ra trước hoạt động giữ gìn hòa bình vượt ra ngoài khuôn khổ giữ gìn hòa bình (ví dụ: yêu cầu áp dụng cưỡng chế trong điều kiện thiếu sự lãnh đạo chính trị vững chắc của Hội đồng bảo an) Vì thế mà yêu cầu cải thiện hoạt động giữ gìn hòa bình để phù hợp với thực tế là hoàn toàn cấp thiết

Bên cạnh đó, cũng trong thập kỷ cuối của thế kỷ XX, hàng loạt hệ thống an ninh khu vực được thiết lập và hoạt động trên cơ sở tuân thủ mục đích và nguyên tắc của Liên hợp quốc, nhằm giữ gìn hòa bình trong khu vực

Có thể kể đến là hoạt động giữ gìn hòa bình của OSCE trong trường hợp có xung đột giữa các thành viên của tổ chức hoặc xung đột nội bộ mỗi nước thành viên Nhiệm vụ chính là kiểm soát về thực hiện thỏa thuận ngừng bắn; theo dõi việc rút quân; giúp đỡ giữ gìn an ninh trật tự; giúp đỡ nhân đạo,… Trong khi đó lực lượng gìn giữ hòa bình của SNG không được sử dụng vào các hoạt động tác chiến Quy chế của nó là giữ gìn hòa bình, trung lập và không thiên vị Lực lượng này chỉ được sử dụng vũ khí với mục đích bảo đảm

an ninh của binh lính và nhân viên ở mức độ phòng thủ; trong trường hợp có biểu hiện dùng vũ lực ngăn cản thực hiện chức năng gìn giữ hòa bình; nhằm chống lại sự tấn công vũ trang của các nhóm khủng bố, biệt kích và thổ phỉ; nhằm bảo vệ thường dân khỏi mọi sự xâm hại đến tính mạng và sức khỏe Ngoài ra còn có các hoạt động giữ gìn hòa bình của AU, OSA,…cũng đã đóng góp tích cực vào công cuộc gìn giữ hòa bình và an ninh quốc tế

1.1.3 Các hình thức cơ bản của hoạt động giữ gìn hòa bình quốc tế

1.1.3.1 An ninh tập thể

An ninh tập thể là hệ thống các biện pháp chung của cả cộng đồng quốc tế hay của một nhóm quốc gia trong cùng khu vực địa lý nhất định, được

Trang 18

áp dụng nhằm ngăn ngừa hoặc loại trừ mối đe doạ hoà bình và chặn đứng hành vi xâm lược hoặc các hành vi phá hoại hoà bình khác.

Đặc điểm: mỗi một hệ thống an ninh tập thể được thành lập trên cơ sở điều ước quốc tế Sự tấn công vào một quốc gia thành viên sẽ được coi như là

sự tấn công vào mọi thành viên Các quốc gia thành viên của hệ thống này có nghĩa vụ giúp đỡ các thành viên khác trong trường hợp bị tấn công vũ trang từ phía quốc gia thứ ba

An ninh tập thể được chia thành an ninh toàn cầu và an ninh khu vực

- An ninh toàn cầu: là hoạt động giữ gìn hòa bình do Liên hợp quốc đảm nhiệm, thông qua vai trò của Hội đồng bảo an

Hội đồng bảo an Liên hợp quốc là cơ quan có thẩm quyền xác định những trường hợp đe dọa hòa bình và an ninh quốc tế, từ đó đề ra các biện pháp để bảo vệ hòa bình Các biện pháp này có thể bao gồm việc đình chỉ một phần hay toàn bộ các quan hệ kinh tế, giao thông hay cắt đứt quan hệ ngoại giao Và biện pháp cuối cùng là sử dụng lực lượng vũ trang Đây là lực lượng quân đội cùng với sự giúp đỡ và mọi phương tiện phục vụ cần thiết khác (như

hỗ trợ kỹ thuật, rà phá mìn, y tế,…) do các quốc gia thành viên Liên hợp quốc cung cấp

- An ninh khu vực: là hoạt động giữ gìn hòa bình ở phạm vi khu vực thông qua các điều ước quốc tế và các tổ chức quốc tế khu vực phù hợp với mục đích và nguyên tắc của Liên hợp quốc

An ninh khu vực là một bộ phận của hệ thống an ninh toàn thế giới Vì vậy, mọi hành động cưỡng chế do các điều ước quốc tế hay các tổ chức quốc tế khu vực thực hiện phải được sự cho phép của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc

Các tổ chức quốc tế khu vực hiện nay được thừa nhận là có chức năng giữ gìn hòa bình và an ninh quốc tế là: OAS, AU, Liên đoàn các quốc gia Ả Rập, SNG, OSCE

Trang 19

1.1.3.2 Ngoại giao phòng ngừa

Ngoại giao phòng ngừa được hiểu là hoạt động được tiến hành nhằm

"ngăn ngừa tranh chấp có thể nảy sinh giữa các bên, ngăn ngừa những tranh chấp đang diễn ra để tránh leo thang thành các cuộc xung đột và hạn chế mức độ lan rộng của các cuộc xung đột khi xảy ra" [15, tr 3]

Ngoại giao phòng ngừa chính là xác định rõ mục tiêu cơ bản của nó là hoạt động chính trị và ngoại giao do các quốc gia cùng tiến hành với sự đồng

ý của tất cả các bên trực tiếp có liên quan nhằm ba mục đích: phòng ngừa các cuộc tranh chấp và đụng độ nổ ra giữa các quốc gia, có thể đe doạ hoà bình khu vực; phòng ngừa các xung đột sẵn có leo thang thành xung đột vũ trang; hạn chế tác động của các cuộc tranh chấp đối với khu vực

1.1.3.3 Cưỡng chế hoà bình

Theo chương VII Hiến chương Liên hợp quốc, cưỡng chế hoà bình là hoạt động được tiến hành không cần sự chấp nhận của các bên để đảm bảo tuân thủ ngừng bắn theo quyết định của Hội đồng Bảo an

Lực lượng cưỡng chế hoà bình bao gồm lực lượng quân sự của một số quốc gia đựơc trang bị đầy đủ vũ khí, hoạt động theo sự chỉ đạo gián tiếp của Tổng thư kí Liên hợp quốc Hành động cưỡng chế được quy định tại chương VII Hiến chương Liên hợp quốc là hành động trong trường hợp hoà bình bị đe doạ, bị phá hoại và có hành vi xâm lược

1.1.3.4 Kiến tạo hoà bình

Theo Tổng thư ký Liên hợp quốc Boutros Ghali, kiến tạo hoà bình là các hoạt động thương lượng và trung gian hoà giải, nhằm đưa các bên thù địch đi đến thoả thuận bằng các biện pháp hoà bình, theo tinh thần chương VI Hiến chương Liên hợp quốc [15, tr 3]

Thông qua các biện pháp giải quyết về mặt pháp lý, các hoạt động trung gian và các hình thức thương lượng khác, các bên sáng kiến "kiến tạo

Trang 20

hoà bình" của Liên hợp quốc sẽ thuyết phục các bên giải quyết một cách hoà bình những bất đồng giữa các bên xung đột.

Ví dụ:Tổng Thư ký Liên hợp quốc Ban Ki-moon và Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đã kêu gọi tất cả các bên trong cuộc xung đột đẫm máu ở Darfur, Sudan, tham gia tiến trình hòa bình Trước đó, với vai trò trung gian hòa giải của Liên hợp quốc, các bên đã ký thỏa ước ngừng các hành động thù địch và xung đột ở Darfur Tại Cote d'Ivoire, Đại diện đặc biệt của Tổng Thư

ký Liên hợp quốc Y J Choi đã hòa giải làm dịu tình hình căng thẳng ở nước này sau khi chính phủ và Ủy ban bầu cử bị giải tán

1.1.3.5 Xây dựng hoà bình sau xung đột

Xây dựng hòa bình sau xung đột là các biện pháp được tiến hành để thúc đẩy hợp tác kinh tế và xã hội, nhằm xây dựng lòng tin giữa các bên đã từng tham chiến, phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội và chính trị, ngăn ngừa bạo lực xảy ra trong tương lai, củng cố và giữ gìn hoà bình lâu bền như viện trợ phát triển, cai quản hành chính, dân sự và thúc đẩy thực hiện các quyền con người

Hoạt động này là một phần cơ bản trong nỗ lực của Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế nhằm bảo đảm quá trình chuyển tiếp từ xung đột sang hòa bình, phát triển và tái thiết của các nước trải qua chiến tranh và xung đột vũ trang

Trong suốt thế kỷ XX, hàng loạt các điều ước quốc tế song phương và

đa phương về giải trừ quân bị với nội dung và phạm vi khác nhau đã được ký kết Bên cạnh đó là các chương trình giải trừ quân bị được thực hiện, và

Trang 21

chúng được coi là biện pháp phòng ngừa trong thời bình để loại trừ phương tiện, vũ khí cho những cuộc xung đột vũ trang, tạo điều kiện cho các giải pháp hòa bình, phục vụ cho mục đích nhân đạo, tránh tổn thất và thương vong cho dân thường Chương trình giải trừ quân bị của Hội đồng bảo an được thực hiện trên ba lĩnh vực lớn: giải trừ vũ khí hạt nhân và không phổ biến vũ khí hạt nhân; vũ khí hóa học và sinh học; vũ khí thông thường

1.1.3.7 Các biện pháp củng cố lòng tin

Các biện pháp củng cố lòng tin là các biện pháp tổ chức - kỹ thuật riêng biệt do các quốc gia cùng nhau xây dựng, nhằm đạt tới sự hiểu biết lẫn nhau, giảm trừ đối kháng quân sự, ngăn chặn các cuộc tấn công bất ngờ hoặc các cuộc xung đột không tuyên bố, trong đó có xung đột hạt nhân Các biện pháp này bao gồm quan sát, thông báo, thông tin, trao đổi thông tin về vũ khí,

về lực lượng vũ trang và hoạt động quân sự

Để củng cố lòng tin, các quốc gia đã chủ động thỏa thuận về những biện phá cải thiện thông tin liên lạc qua lại thông qua các điều ước quốc tế song phương và đa phương

1.1.3.8 Các biện pháp bảo đảm an ninh quốc tế

Các biện pháp bảo đảm an ninh quốc tế là các biện pháp do các cường quốc hạt nhân chủ động bảo đảm và thực hiện đối với các nước không có vũ khí hạt nhân nhằm bảo đảm hòa bình và an ninh quốc tế Các biện pháp này được phân biệt thành biện pháp chủ động và biện pháp thụ động

- Các biện pháp bảo đảm an ninh quốc tế chủ động: là việc các cường quốc hạt nhân cam kết giúp đỡ bất kỳ quốc gia không hạt nhân nào trong trường hợp bị đe doạ sử dụng vũ khí hạt nhân

- Các biện pháp bảo đảm an ninh quốc tế thụ động: là cam kết của các cường quốc hạt nhân kiềm chế không sử dụng vũ khí hạt nhân chống các quốc

gia không sở hữu vũ khí hạt nhân

Trang 22

1.1.4 Nguyên tắc hoạt động giữ gìn hòa bình quốc tế

Hoạt động giữ gìn hòa bình quốc tế trước hết phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế, trong đó đáng chú ý nhất là nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác, nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc

tế Bên cạnh đó, hoạt động này còn có các nguyên tắc đặc thù riêng của mình, bao gồm nguyên tắc an ninh không chia cắt và nguyên tắc an ninh bình đẳng

1.1.4.1 Nguyên tắc an ninh không chia cắt

Trong thời kỳ toàn cầu hóa hiện nay, các quốc gia đều tồn tại trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau về mọi mặt, từ kinh tế, chính trị cho đến an ninh quốc phòng Và vì thế, trong một thế giới không chia cắt cũng đòi hỏi một nền

an ninh chung, trong đó an ninh của mỗi quốc gia phụ thuộc vào an ninh của mọi quốc gia khác Không thể xây dựng an ninh của một hay một nhóm quốc gia mà bỏ qua an ninh của các quốc gia khác hay của cả cộng đồng quốc tế

Nguyên tắc an ninh không chia cắt không có nghĩa là loại bỏ nhu cầu bảo đảm an ninh của một quốc gia, vì mỗi quốc gia là một thực thể độc lập, có chủ quyền nên đều có quyền thiết lập nền an ninh riêng biệt của mình để bảo

vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, trong đó có quyền tự vệ hợp pháp được ghi nhận tại Hiến chương Liên hợp quốc

Tuy nhiên, để bảo đảm an ninh chung cho cộng đồng quốc tế, an ninh của mỗi quốc gia cần được giữ ở mức độ cần thiết, phù hợp giữa an ninh riêng của quốc gia và an ninh chung của cả cộng đồng Bên cạnh đó, nhằm tránh chạy đua vũ trang, mỗi quốc gia chỉ cần xây dựng lực lượng vũ trang và trang

bị vũ khí ở mức độ vừa đủ để phòng thủ đất nước

1.1.4.2 Nguyên tắc an ninh bình đẳng

Để đảm bảo an ninh chung của cả cộng đồng quốc tế, các quốc gia có nghĩa vụ tôn trọng sự cân bằng về quân sự trong khu vực và trên thế giới

Trang 23

Hiến chương Liên hợp quốc xác định nghĩa vụ của các quốc gia là phải kiềm chế, không chạy đua vũ trang Trong quan hệ song phương, quan hệ khu vực

và toàn cầu, từng quốc gia phải luôn tính đến an ninh của các quốc gia khác

Mặt khác, an ninh của các quốc gia đều phải được đảm bảo như nhau, không một quốc gia hoặc một nhóm quốc gia nào có quyền tìm mọi cách để tạo ra ưu thế về an ninh cho mình trước các quốc gia khác trong khu vực và trong cả cộng đồng quốc tế

1.2 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG CỦA HỌC THUYẾT CAN THIỆP NHÂN ĐẠO

1.2.1 Từ sự hình thành khái niệm can thiệp nhân đạo tới việc trở thành một hệ thống trong pháp luật quốc tế

Khái niệm "can thiệp nhân đạo" được hình thành từ khá sớm Lần đầu tiên thuật ngữ này được nhắc tới là vào thế kỷ XIII với nhận định của Thomas

Aguinas: "Các quốc gia có chủ quyền có quyền can thiệp vào công việc nội

bộ của quốc gia khác khi có sự đối xử thô bạo đối với công dân của mình ở mức độ không thể chấp nhận được" [18, tr 233] Đây cũng chính là quan niệm cổ điển về can thiệp nhân đạo Nó bao gồm mọi hình thức sử dụng lực lượng vũ trang của một quốc gia nhằm bảo vệ cuộc sống và sự tự do của công dân nước mình đang cư trú trên lãnh thổ của quốc gia khác do quốc gia đó không tự nguyện và không có khả năng để làm việc đó một mình

Đến thế kỷ XVI, XVII, can thiệp nhân đạo được xây dựng thành hệ thống có nguồn gốc từ thuyết pháp quyền tự nhiên và chủ nghĩa tự do Các nhà

lý luận tự do kinh điển cho rằng cá nhân là đơn vị quan trọng nhất, nhà nước và dân tộc chỉ đóng một vai trò tối thiểu trong xã hội, chủ yếu là làm trọng tài phân

xử các tranh chấp giữa các cá nhân và đảm bảo duy trì được các điều kiện để cá nhân có thể hưởng thụ các quyền của mình Còn các nhà tự do dân chủ thì cho rằng sự lan rộng của hệ thống chính trị dân chủ sẽ khiến cho quyền lực không

Trang 24

còn tập trung vào trong tay một số người Những nhà lý luận theo trường phái này trong lĩnh vực quan hệ quốc tế được nhiều người biết đến là I Kant và H Grotius

I Kant cho rằng, trên thế giới có một giá trị đạo đức, nhân đạo phổ quát, vĩnh cửu và bất biến Những nhân tố này khi cần thiết có thể đòi hỏi sự lật đổ hệ thống các quốc gia, thành lập một cộng đồng phổ quát của loài người Các nước phương Tây dựa trên học thuyết của Kant để rút ra nhận định, các giá trị cơ bản của con người là hoàn toàn giống nhau Vì thế mà các quốc gia này thường gắn các quyền cơ bản của con người và dân chủ của mình cho các quốc gia khác

Trong khi đó, Hugo Grotius lại mong muốn điều chỉnh các quan hệ quốc tế bằng việc đưa ra các tiêu chuẩn đạo đức và chính trị mới, trong mối quan hệ với những quy định khác liên quan đến việc tôn trọng chủ quyền quốc gia và các thỏa thuận Với mục đích cải thiện trật tự thế giới, ông đã đưa

ra thuật ngữ "chiến tranh chính nghĩa" để minh họa cho quyền can thiệp nhân

đạo trong tác phẩm Quyền chiến tranh và hòa bình Trong đó ông nhấn mạnh rằng: "Chiến tranh chỉ được phép nếu dựa trên những lý do đặc biệt" [29, tr 2]

Ông mô tả chính trị quốc tế như một xã hội của các quốc gia Các quốc gia này, trong quan hệ quốc tế, không những bị giới hạn bởi những nguyên tắc cẩn trọng và lợi ích thiết thực mà còn bởi cả những yêu cầu về đạo lý và pháp luật Ông cho rằng có sự tồn tại quyền thực hiện các cuộc Cách mạng, đặc biệt trong trường hợp chế độ độc tài Khi đối tượng bị đàn áp yêu cầu sự giúp

đỡ từ bên ngoài thì can thiệp nhân đạo sẽ được thực hiện ngay Lập luận của ông được gắn liền với học thuyết chống lại sự đàn áp và dựa cơ sở thực tế rằng vào thời điểm đó nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực không tồn tại

Quan điểm của Hugo Grotius về can thiệp nhân đạo nhận được sự ủng

hộ mạnh mẽ của nhiều học giả luật quốc tế khác Có thể kể đến là học giả luật

quốc tế người Pháp, Vattel, với khẳng định: "Bất cứ quốc gia nước ngoài nào cũng có quyền ủng hộ một dân tộc bị áp bức nếu được yêu cầu" [45, tr 298]

Trang 25

Với đặc điểm chưa xuất hiện các quy định về cấm sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế, và các quốc gia đang coi chiến tranh là phương tiện hữu hiệu để giải quyết các tranh chấp, xung đột quốc tế nên vào thế kỷ XIX học thuyết can thiệp nhân đạo được các học giả chấp nhận và ủng hộ Tính hợp pháp của can thiệp nhân đạo được chấp nhận trên cơ sở luật tập quán quốc tế Các học giả ủng hộ quan điểm này đã viện dẫn tiền lệ về hành động của Pháp ở Syria năm 1860-1861 nhằm bảo vệ người Thiên chúa giáo Hành động của Pháp được công nhận và giám sát bởi năm cường quốc châu Âu Họ coi đây là một ví dụ điển hình cho các hoạt động can thiệp nhân đạo

Trong suốt thế kỷ XIX, các hoạt động can thiệp nhân đạo được tiến hành rộng rãi Có thể kể đến là: can thiệp tập thể của Anh, Pháp, Nga ở Hy Lạp 1827-1830 để chấm dứt thảm họa tàn sát người dân Thổ Nhĩ Kỳ và sự đàn áp những người dân mang tư tưởng Cách mạng Thổ Nhĩ Kỳ; can thiệp của Nga vào Bosnia-Herzegovina và Bulgaria năm 1877-1878; can thiệp của

Mỹ vào Cuba năm 1898; can thiệp của Hy Lạp, Bulgaria, Serbia vào Macedonia trong các năm 1903-1908 và 1912-1913,…

1.2.2 Những hoạt động can thiệp nhân đạo trong thời gian chiến tranh lạnh (1945-1991)

Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, cuộc cạnh tranh về tư tưởng và đấu tranh giành ảnh hưởng giữa hai cường quốc Liên Xô và Mỹ diễn ra quyết liệt

Nó làm tê liệt hoạt động của Hội đồng bảo an, và vì thế hạn chế hoạt động giữ gìn hòa bình quốc tế của Liên hợp quốc Hội đồng bảo an không có nhiều quyền hạn trong việc đưa ra những quyết định thực thi can thiệp nhân đạo Hầu như không một nước lớn nào muốn làm đảo lộn trật tự hai cực vốn đã được thiết lập Bất chấp các hội nghị quốc tế về nhân quyền và ngăn chặn chế

độ diệt chủng, khái niệm "công lý" bản thân nó đã lệ thuộc vào bối cảnh của thời kỳ này

Trang 26

Do vậy, hoạt động can thiệp nhân đạo dưới sự cho phép của Liên hợp quốc trong giai đoạn chiến tranh lạnh diễn ra rất ít và đạt được kết quả cực kỳ khiêm tốn Một số quốc gia đơn lẻ vẫn tiến hành can thiệp nhân đạo, và đạt được những kết quả rất khó đánh giá Bên cạnh đó là hàng loạt các vi phạm quyền con người nghiêm trọng, thậm chí trở thành thảm họa nhân đạo, vẫn diễn ra suốt thời gian này mà không có sự can thiệp hay thậm chí là sự quan tâm của cộng đồng quốc tế Chúng ta có thể điểm qua một số trường hợp can thiệp nhân đạo sau:

Vào năm 1960 diễn ra hoạt động can thiệp nhân đạo "với các kết quả nghèo nàn" được triển khai bởi Liên hợp quốc tại Cộng hòa dân chủ Congo Lúc này, Cộng hòa dân chủ Congo mới giành được độc lập đã yêu cầu Liên hợp quốc can thiệp giúp ổn định tình hình trước những xung đột vũ trang trong nước đang ngày càng leo thang, có nguy cơ bùng phát thành nội chiến Trước yêu cầu của quốc gia sở tại cũng như trước một thảm họa nhân đạo đang diễn ra, Hội đồng bảo an đã thông qua một Nghị quyết, theo đó quân đội Liên hợp quốc sẽ được ủy quyền gìn giữ hòa bình và trật tự tại Congo Chỉ trong vòng 48 tiếng, đội quân đầu tiên trong lực lượng mũ nồi xanh với hơn 11.000 binh lính và sĩ quan của cả chục nước khác nhau đã được chuyển tới châu Phi Sau một thời gian ngắn, lực lượng của Liên hợp quốc tuyên bố đã kiểm soát được Congo Tuy nhiên, thủ tướng Lumumba bị ám sát, và tình hình Congo lại trở nên rối loạn hơn, bất chấp mọi nỗ lực vãn hồi của Liên hợp quốc

Năm 1965, một sự kiện nổi lên là sự can thiệp của Mỹ vào Cộng hoà Dominica Tháng 05/1961, tổng thống Dominica - nhà độc tài Rafael Trujillo

bị ám sát, đất nước này rơi vào tình trạng bất ổn chính trị Một cuộc nội chiến diễn ra giữa chính phủ và những người Dominica lưu vong Lấy lý do nhân đạo, Mỹ đã đem 22.000 quân vào lãnh thổ Dominica Cuộc nội chiến chấm dứt dưới sự can thiệp của Mỹ và mở đầu cho cuộc di cư quy mô lớn của người Dominica sang Mỹ

Trang 27

Tháng 03/1971, cộng đồng người Hồi giáo phía đông Pakistan tuyên

bố thành lập quốc gia Bangladesh do những bất đồng và bị đàn áp từ chính phủ Pakistan Quân đội Pakistan lập tức tiến hành giải thể chính quyền mới này bằng vũ lực Hậu quả là hàng triệu người đông Pakistan phải chạy tị nạn vào lãnh thổ Ấn Độ nhằm tránh các vụ thảm sát gây ra bởi quân đội Pakistan Trước sự ủng hộ của Ấn Độ đối với việc thành lập nhà nước Bangladesh, Pakistan tấn công Ấn Độ bằng các cuộc ném bom ồ ạt vào các khu vực quân

sự dọc theo biên giới hai nước Cuộc chiến Ấn Độ - Pakistan diễn ra, cuối cùng kết thúc với chiến thắng của Ấn Độ Và với lực lượng quân đội tiến sâu vào lãnh thổ Pakistan, Ấn Độ tiến hành can thiệp nhằm giải phóng người Bengal (đã bị quân đội Pakistan thảm sát tới 300.000 người), và nhà nước Cộng hòa Bangladesh ra đời

Cộng hòa Trung Phi giành độc lập năm 1960 từ Pháp Vào tháng 01 năm 1966, Jean Bedel Bokassa lên nắm chính quyền sau cuộc đảo chính Tháng 12 năm 1976, Bokassa cho công bố Hiến pháp mới, cải tổ đất nước thành Đế quốc Trung Phi và lên ngôi hoàng đế Trong thời gian nắm quyền, Bokassa tiến hành những chính sách tàn bạo không chỉ đối với những người chống đối mình mà còn với cả nhân dân, được mệnh danh là "kẻ ăn thịt người" Trước thảm họa nhân đạo diễn ra tại đất nước này, Pháp đã tiến hành can thiệp bằng vũ lực, lật đổ Bokassa vào năm 1979 và Đế quốc Trung Phi lại trở về với chế độ cộng hòa

Vào ngày 12/10/1983, Grenada xảy ra cuộc đảo chính lật đổ thủ tướng đương nhiệm Bishop Chính biến này đẩy đất nước Grenada vào rối loạn và bất ổn, thường dân trở thành nạn nhân của bạo lực Khi đó Hoa Kỳ đang có hơn 800 sinh viên đang theo học tại Học viện Y khoa Grenada Lấy lý do tính mạng của những sinh viên này đang gặp nguy hiểm, và để khôi phục lại "dân chủ và trật tự" ở Grenada, Hoa Kỳ nhanh chóng tập kết tàu thuyền tại khu vực biển gần Grenada và kêu gọi sự ủng hộ của các quốc gia Caribe Sáng ngày

Trang 28

25/10/1983, khoảng 18.000 quân Mỹ đã tham gia hành động tác chiến xâm nhập Grenada cùng với vài trăm binh lính của các tiểu quốc Caribê như Antigua, Bacbados, Dominica, Jamaica, Saint Lucia Họ nhanh chóng "giải cứu" các sinh viên tại Học viện, đồng thời đánh tan quân đội Grenada chỉ có 2.000 người, thậm chí không có một máy bay chiến đấu và tàu chiến Được sự giúp đỡ của Hoa Kỳ, một chính phủ "dân chủ" mới được thành lập tại Grenada sau đó mà không có quân đội, chỉ giữ lại hơn 600 cảnh sát phụ trách duy trì an ninh quốc gia

1.2.3 Thực tiễn của hoạt động can thiệp nhân đạo trong giai đoạn hiện nay

Kết thúc chiến tranh lạnh, mở đầu cho hoạt động can thiệp nhân đạo trong giai đoạn mới là hoạt động can thiệp tại Iraq năm 1991

Sáng 02/08/1990, quân đội Iraq tấn công xâm lược Kuwait và nhanh chóng giành thắng lợi Chỉ vài giờ sau cuộc tấn công đầu tiên, các phái đoàn Kuwait và Hoa Kỳ đã yêu cầu Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhóm họp, thông qua Nghị quyết 660, lên án cuộc xâm lược và yêu cầu Iraq rút quân Ngày 06/08, Hội đồng Bảo an thông qua Nghị quyết 661, áp đặt trừng phạt kinh tế lên Iraq Tiếp theo đó, hàng loạt nghị quyết của Hội đồng bảo an được đưa ra về cuộc xung đột Một trong những nghị quyết quan trọng nhất là Nghị quyết 678, thông qua ngày 29/11, trao cho Iraq hạn chót để rút quân là ngày

15/01/1991, và cho phép sử dụng "mọi biện pháp cần thiết để duy trì và thực hiện Nghị quyết 660" [39, tr 1]

Vì vậy, một lực lượng đồng minh với hơn 30 quốc gia, được sự cho phép của Liên hợp quốc, đã tiến hành can thiệp vào Iraq Lý do để Liên quân tiến hành tấn công Iraq (trên cả lãnh thổ Kuwait và Iraq): đầu tiên là để giải phóng Kuwait trước sự xâm lược của Iraq; thứ hai, là mục đích nhân đạo, nhằm ngăn chặn những vi phạm nhân quyền của chế độ Saddam Hussein,

Trang 29

trong đó bao gồm sự đàn áp tàn bạo đối với người Shi'ite ở miền Nam và người Kurd ở miền Bắc; và cuối cùng là nguy cơ Iraq có thể phát triển vũ khí hạt nhân hay vũ khí huỷ diệt hàng loạt, đe dọa tới hòa bình và an ninh không chỉ của khu vực mà còn của thế giới.

Ngày 17/01/1991 lực lượng quân đội đa quốc gia bắt đầu mở các cuộc tiến công chống quân đội Iraq Ngày 28/02/1991 chiến tranh chấm dứt sau khi tổng thống Saddam Hussein ra lệnh ngừng bắn Đây là hoạt động can thiệp đầu tiên, cũng là một hoạt động can thiệp nhân đạo, được sự đồng ý của Liên hợp quốc sau chiến tranh lạnh Kết quả của hoạt động can thiệp là:

- Kuwait được giải phóng

- Không tìm thấy chứng cứ chắc chắn rằng Iraq đang sản xuất vũ khí hạt nhân hay vũ khí hủy diệt hàng loạt

- Ước chừng 100.000 thường dân Iraq thiệt mạng trong cuộc chiến, cơ

sở hạ tầng bị tàn phá nặng nề, môi trường suy thoái dẫn đến những đau khổ, mất mát lớn lao cho người dân sau này

Sau khi chiến tranh chấm dứt, chính phủ Iraq lại tiếp tục sử dụng sức mạnh quân sự chống lại sự nổi dậy của người Kurd ở miền bắc và người Shi'ite ở miền nam Quân đội Iraq đã đàn áp dã man hai tộc người này Trước tình hình đó, Mỹ và Anh đơn phương thiết lập "Vùng cấm bay" trên các khu vực tương ứng của lãnh thổ Iraq, với lý do là bảo vệ người Kurd và người Shi’ite Và chính những báo cáo về tình trạng của người Kurd và người Shi’ite đã đưa đến việc ngày 05/04/1991, Hội đồng bảo an Liên hợp quốc thông qua nghị quyết "nhân đạo" số 688 Nghị quyết này đã gây ra một cơn bão tranh luận không chỉ giữa các quốc gia mà còn giữa các chuyên gia về luật quốc tế

Một số chuyên gia luật quốc tế cho rằng, Nghị quyết 688 thiết lập một

cơ sở pháp lý để lực lượng liên quân can thiệp vũ trang trên các vùng lãnh thổ

Trang 30

của các quốc gia với lý do nhân đạo, thiết lập nên "vùng cấm bay" Họ cho rằng nghị quyết có hiệu lực cho phép, lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại, và theo đúng tinh thần Chương 7 của Hiến chương Liên hợp quốc, thực hiện các hoạt động can thiệp với mục tiêu có tính chất nhân đạo, cụ thể là: công tác phòng ngừa hoặc ngăn chặn các hành vi đàn áp dã man đối với thường dân và hành vi xâm phạm quyền con người trên quy mô lớn Nhưng quan trọng nhất

là ủng hộ sự can thiệp vũ trang vì lý do nhân đạo - Nghị quyết 688 lần đầu tiên xác nhận tính hợp pháp của hành động can thiệp nhân đạo đối với nguyên tắc bất khả xâm phạm về chủ quyền, lãnh thổ của các quốc gia, tức là thành lập một tiền lệ pháp lý cho sự can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia trong những điều kiện nhất định

Tuy nhiên nhiều chuyên gia không đồng ý với cách diễn giải này Họ tin rằng việc sử dụng các biện pháp cưỡng chế liên quan đến can thiệp mạnh

mẽ vào công việc nội bộ của các nước là không có cơ sở pháp lý và trên thực

tế là bất hợp pháp, ngay cả khi họ bị truy tố bởi lý do nhân đạo Điều này cũng áp dụng cho việc tạo ra một "vùng cấm bay" Liên hợp quốc đã giải thích sau đó, ngày 21/04/1993, rằng Nghị quyết số 688 của Hội đồng bảo an

Liên hợp quốc là "không dựa trên Chương 7 của Hiến chương Liên hợp quốc

và không quy định vùng cấm bay, và không ràng buộc" Và Ủy ban pháp luật

Bộ ngoại giao Hoa Kỳ cũng giả thích rằng, việc lập ra vùng cấm bay của Hoa

Kỳ là sự tự nguyện, và Nghị quyết 688 là "trọng tâm của bản chất nhân đạo

và mang tính tự nguyện, không tham chiếu từ Chương 7 của Hiến chương Liên hợp quốc" [24, tr 187]

Các cuộc thảo luận xung quanh Nghị quyết số 688 của Hội đồng bảo

an Liên hợp quốc có thể rút ra hai kết luận Thứ nhất, hành động đơn phương của Hoa Kỳ thiết lập nên vùng cấm bay ở Iraq, từ quan điểm của luật quốc tế,

nó thực sự là bất hợp pháp Thứ hai, hiện nay hệ thống các nguyên tắc của luật pháp quốc tế đặt ra trong Hiến chương Liên hợp quốc và các quan hệ

Trang 31

quốc tế hiện đại, loại trừ bất kỳ hành vi xâm lược và can thiệp vào công việc nội bộ của bất kỳ quốc gia có chủ quyền nào, bao gồm cả lý do nhân đạo, mà không có sự uỷ quyền thích hợp từ Hội đồng bảo an Liên hợp quốc Một quyết định về việc áp dụng các chế tài chỉ được Hội đồng bảo an ban hành chỉ khi có các mối đe dọa cho hòa bình quốc tế, và đánh giá sự tồn tại thực tế của mối đe dọa đó Chức năng này chỉ duy nhất thuộc về Hội đồng bảo an Liên hợp quốc

Sự phức tạp trong sự kiện chiến tranh vùng Vịnh báo hiệu cho sự phức tạp của tình hình thế giới sau năm 1991 Và cuộc chiến này, trong một chừng mực nào đó, đã dần tạo ra một khuôn mẫu mới cho hoạt động can thiệp nhân đạo cũng như góp phần phát triển lý thuyết mới về can thiệp nhân đạo Trong những năm tiếp theo, chúng ta chứng kiến Hoa Kỳ tiến hành can thiệp nhân đạo tại Somali (1992-1993) dưới sự ủy thác của Liên hợp quốc và thất bại hòa toàn Năm 1994 diễn ra thảm họa diệt chủng tại Rwanda, và Lực lượng cứu trợ Liên hợp quốc tại Rwanda hoàn toàn không làm được gì trong việc ngăn chặn thảm họa diệt chủng này Thất bại tương tự của Liên hợp quốc tiếp tục diễn ra ở Bosnia trong thời gian 1992-1995

Và hoạt động của NATO tại Kosovo, dẫn đầu bởi Hoa Kỳ năm 1999,

đã trở thành nguyên mẫu của hình thức can thiệp nhân đạo mới - một cuộc

"chiến tranh nhân đạo"

Với một mô hình đã được dựng sẵn, đầu thế kỷ XXI, thế giới tiếp tục chứng kiến những sự kiện tương tự Năm 2003, bất chấp sự phản đối của Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế, Mỹ tấn công Iraq, với nhiều lý do mà trong

đó bao gồm mục đích nhân đạo là bảo vệ người Kurd đang bị diệt chủng Năm 2006, quân đội Nga tấn công vào lãnh thổ Gruzia nhằm bảo vệ thường dân là dân tộc Osetia và các binh lính gìn giữ hòa bình người Nga đóng tại Nam Osetia đang bị chính quyền Gruzia giết hại Tháng 12/2008, với lý do bảo vệ dân thường trước những cuộc tấn công bằng rocket của các chiến binh

Trang 32

Hammas nhằm vào dân thường nước mình, Israel tấn công vào dải Gaza Các cuộc không kích và tấn công trên bộ của Israel từ cuối tháng 12/2008 đến giữa tháng 01/2009 đã làm khoảng 1.400 người Palestine thiệt mạng cùng hơn 5.000 người bị thương

1.3 KHÍA CẠNH CHỦ CHỐT CỦA HỌC THUYẾT CAN THIỆP NHÂN ĐẠO TRONG HOẠT ĐỘNG CAN THIỆP CỦA NATO Ở KOSOVO

Hoạt động can thiệp của NATO tại Kosovo năm 1999 đã tạo ra một bước ngoặt không chỉ trong sự phát triển của học thuyết can thiệp nhân đạo,

mà còn đối với quan hệ quốc tế cũng như tương quan lực lượng trên thế giới Với sự kiện này, nhiều giá trị pháp lý quốc tế bị xem xét lại, bị vi phạm Nó còn mở ra một dạng mới của can thiệp nhân đạo, trong đó mục tiêu "nhân đạo" đã được các cường quốc hiểu theo nghĩa rất rộng, cũng như xem đó là nhiệm vụ của bất kỳ quốc gia "văn minh" nào

Những sự kiện nào đã thúc đẩy Liên minh Bắc đại tây dương hành đông? Khía cạnh chủ chốt của học thuyết can thiệp nhân đạo được NATO áp dụng cho trường hợp này là như thế nào? Đó là những vấn đề chúng ta cần phải làm rõ ở phần này

1.3.1 Diễn biến khủng hoảng tại Kosovo

Kosovo là một tỉnh phía Nam của Serbia, có biên giới chung với Montenegro, Albania và Macedonia thuộc Liên bang Nam Tư cũ Năm 1946, nhà lãnh đạo Nam Tư - Josip Broz Tito cho thông qua một Hiến pháp mới cho Nam Tư, qua đó thành lập nên sáu nước cộng hòa, gồm: Serbia, Croatia, Slovenia, Bosnia-Herzegovina, Motenegro và Macedonia với các quyền lợi,

vị trí và quyền lực chính trị ngang nhau Dù nhiều người thiểu số Albania muốn Kosovo trở thành một nước cộng hòa, nhưng lúc đó Kosovo chỉ trở thành một tỉnh tự trị của Serbia Người Albania được hưởng những quyền lợi

và sự bảo vệ nhất định nhưng trong thời gian tiếp theo họ phải chịu sự phân

Trang 33

biệt đối xử và đàn áp của chính quyền Serbia Sau nhiều thập kỷ đấu tranh, những người Albania ở Kosovo đã đòi được thêm quyền kiểm soát của mình Hiến pháp năm 1974 của Liên bang Nam Tư đã trao quyền tự trị đầy đủ cho Kosovo, và người Albania có quyền tự quyết rộng lớn đối với các vấn đề nội

bộ của Kosovo Trong liên bang, Kosovo được có đại diện ở tất cả các cơ quan và có vị trí gần như bình đẳng với sáu nước cộng hòa

Năm 1980, Tito mất và những căng thẳng sắc tộc gia tăng trên lãnh thổ Nam Tư Tháng 05/1989, Slobodan Milosevic được bầu lên vị trí Tổng thống Serbia và ông nhanh chóng tìm mọi cách để bãi bỏ quyền tự trị của Kosovo Tháng 07/1990, Serbia giải tán quốc hội Kosovo, và sau đó người Albania Kosovo đã tự thành lập một quốc hội riêng và tuyên bố độc lập Quyết định này được đa số người Albania Kosovo ủng hộ trong một cuộc trưng cầu dân ý được tiến hành một thời gian sau Ibrahim Rugova, một chính khách theo đường lối ôn hòa, được bầu lên làm tổng thống của nước cộng hòa mới này Tuy nhiên, Belgrade tuyên bố đây là hành động không hợp pháp Vào thời điểm đó, chỉ có Albania công nhận sự độc lập của Kosovo

Từ khi Kosovo mất đi quyền tự trị cho tới năm 1998, những người Albania Kosovo chủ yếu tiến hành những biện pháp hòa bình để phản kháng Năm 1996, thất vọng trước việc tiếp tục bị đàn áp và không thấy được khả năng có sự đổi thay dưới sự lãnh đạo ôn hòa của Rugova, một số người Albania bắt đầu chống đối Belgrade bằng bạo lực Quân đội giải phóng Kosovo (KLA) được thành lập và bắt đầu tiến hành những hành động bạo lực với quy mô nhỏ, nhằm chống lại cảnh sát và quan chức Serbia Đầu năm

1998, Belgrade quyết định tiến hành đàn áp lực lượng Albania Đến mùa hè, bạo lực giữa chính quyền Nam Tư và những người Albania Kosovo trở nên căng thẳng, quân đội Serbia tiến hành nhiều đợt tấn công bằng pháo binh và không kích vào các làng mạc của người Albania và trả đũa quân KLA Giữa tháng 07/1998, sau sự kiện hơn 60 cảnh sát Serbia thiệt mạng khi giao tranh

Trang 34

với KLA, Milosevic đã ra lệnh tấn công toàn lực Kết quả, hơn 200 người Albania bị sát hại và hơn 300.000 người phải chạy trốn khỏi Kosovo [42, tr 2].

Trước tình hình đó, Hội đồng bảo an Liên hợp quốc với Nghị quyết số

1160 và 1119 năm 1998 đã xác định tình trạng nhân đạo ở Kosovo đang đe dọa hòa bình, an ninh quốc tế và nhấn mạnh sự cần thiết phải ngăn chặn thảm họa nhân đạo này Nhưng thẩm quyền can thiệp quân sự của Hội đồng bảo an cho trường hợp này đã không thể thực hiện do hai thành viên thường trực của Hội đồng bảo an đã dùng quyền phủ quyết veto là Nga và Trung Quốc

Khi chiến sự tại Kosovo tiếp tục căng thẳng, NATO đưa ra tối hậu thư với Nam Tư yêu cầu chấm dứt tấn công quân sự tại Kosovo, nếu không NATO sẽ tiến hành ném bom Trước đe dọa này, Nam Tư ký thỏa thuận ngừng bắn vào tháng 10/1998 và đồng ý rút quân đội Nam Tư xuống bằng số lượng quân hồi tháng 02/1998 Nam Tư cũng quyết định ân xá cho những người Albania bị bắt giữ và hợp tác với Tòa án Hình sự quốc tế được Hội đồng bảo an thành lập để xét xử những tội ác đã được thực hiện tại Liên bang Nam Tư Nhưng Milosevic đã không tuân thủ thỏa thuận này và tháng 01/1999, xung đột lại leo thang Giữa tháng 03/1999, chính quyền Nam Tư và KLA thất bại trong việc đàm phán hiệp định hòa bình do NATO đưa ra Và NATO bắt đầu tiến hành chiến dịch không kích vào Nam Tư để đặt dấu chấm hết cho sự đàn áp chống lại tộc người Albania ở Kosovo

Trong vòng 11 tuần, từ 24/03/1999 đến 10/06/1999, NATO đã thực hiện các cuộc ném bom quân sự trên lãnh thổ Liên bang Nam Tư, một thành viên của Liên hợp quốc mà không có sự đồng ý hay cho phép của Hội đồng bảo

an Chiến dịch kết thúc khi Belgrade đồng ý ký hiệp định với G8 về vùng tự trị Kosovo và chấp thuận sự có mặt của quân đội quốc tế tại Kosovo Mặc dù NATO cho rằng đã đạt được mục tiêu đề ra là làm tê liệt khả năng tấn công của Serbia đối với thường dân Albania, nhưng song song với đó là một số lượng lớn dân thường thiệt mạng và hơn một triệu người Albania phải chạy tị nạn

Trang 35

1.3.2 Khía cạnh chủ chốt của học thuyết can thiệp nhân đạo trong hoạt động can thiệp của NATO ở Kosovo

Những học giả ủng hộ học thuyết can thiệp nhân đạo cho rằng, quyết

định can thiệp tại Kosovo của NATO là hành động được thôi thúc bởi động

cơ nhân đạo Theo quan điểm này, không một người bình thường nào lại có

thể đứng bên cạnh, quan sát và chịu đựng được việc giết người có hệ thống của nhà nước Serbia

Tổng thống cộng hòa Sec, Vaclav Havel, trong phát biểu tại Thượng viện và Hạ viện Canada ngày 29/04/1999 đã khẳng định điều mà ông cho là đương nhiên trong quyết định can thiệp vào Kosovo:

Nhưng có một điều mà không một người có suy nghĩ nào có thể phủ nhận: đây có lẽ là cuộc chiến đầu tiên được tiến hành không mang danh nghĩa "lợi ích quốc gia", mà mang danh nghĩa của các nguyên tắc và giá trị Nếu ai đó có thể nói đến bất kỳ cuộc chiến nào mang tính đạo lý hay được tiến hành vì những lý do đạo

lý thì đó chính là cuộc chiến này Kosovo không có mỏ dầu nào để

có thể khai thác; không thành viên nào trong liên minh (NATO) có tham vọng về lãnh thổ Kosovo; Milosevic cũng chẳng đe dọa sự toàn vẹn lãnh thổ của bất kỳ thành viên nào trong liên minh [44, tr 6]

Do vậy, "cộng đồng các quốc gia dân chủ" đã sử dụng vũ lực để chấm dứt đau thương tại Kosovo vì những gì diễn ra tại đây đã xúc phạm tới

"những giá trị đạo lý của chúng ta" [27, tr 294]

Giải thích chính thức của chính quyền Clinton đối với hành động không kích là do lo ngại về các vấn đề nhân đạo, sự ổn định của khu vực và

uy tín của NATO Trong một bài phát biểu trước toàn dân ngày 24/03/1999,

B Clinton tuyên bố:

Chấm dứt thảm kịch này là một sự thôi thúc mang tính đạo lý… Chúng ta hành động để bảo vệ hàng chục ngàn dân thường

Trang 36

Kosovo trước sự tấn công quân sự ngày càng leo thang Chúng ta hành động để ngăn chặn một cuộc chiến rộng lớn hơn, để tháo ngòi cho một thùng thuốc nổ tại trung tâm châu Âu vốn là nơi đã nổ ra hai cuộc chiến trong thế kỷ qua với những hậu quả vô cùng nghiêm trọng.… Bằng cách hành động ngay bây giờ, chúng ta đang giương cao những giá trị của chúng ta, bảo vệ những lợi ích của chúng ta

và thúc đẩy sự nghiệp vì hòa bình [46, tr 17]

Những lập luận này được chính quyền Clinton nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong suốt thời gian diễn ra cuộc khủng hoảng, trong giai đoạn diễn ra cuộc không kích và cả sau khi nó chấm dứt

Như vậy, hoạt động can thiệp của NATO ở Kosovo được các học giả ủng hộ và các quốc gia thực hiện coi là can thiệp vì mục đích nhân đạo thuần khiết, không vụ lợi Mục đích nhân đạo này chính là cơ sở để NATO thực hiện can thiệp vũ trang vào Kosovo, cũng như xác định tính hợp pháp của hoạt động can thiệp mà không cần đến sự cho phép của Liên hợp quốc hay sự đồng thuận của cộng đồng quốc tế

Một khía cạnh nữa của học thuyết can thiệp nhân đạo mới được áp đụng trong hoạt động can thiệp của NATO tại Kosovo là hoạt động này được

thực hiện bởi vì có những vi phạm nghiêm trọng quyền con người tại đây

Sự đàn áp của chính quyền Belgrade đối với người Albania bao gồm hành vi giết hại và bạo lực dã man Hơn thế nữa, có thông tin cho rằng nhà nước Serbia đang tiến hành diệt chủng người Albania Các nước phương Tây, dẫn đầu là NATO, mà chính xác là các quốc gia lãnh đạo NATO, xác định rằng đây là một thảm họa nhân đạo, cùng với dòng người tị nạn cũng như di tản khổng lồ trong lãnh thổ Nam Tư Các quốc gia này cũng đánh giá rằng, tình hình ở Kosovo sẽ đe dọa đến hòa bình và an ninh khu vực Balkan, một vùng đất nóng của thế giới về bất ổn và xung đột vũ trang

Trang 37

Bên cạnh đó, chúng ta cũng thấy được sự bất lực của Liên hợp quốc trước sự kiện này Dù Nghị quyết số 1160 và 1119 đã xác định rằng thảm họa nhân đạo tại Kosovo đe dọa tới hòa bình và an ninh quốc tế và yêu cầu việc phải ngăn chặn thảm họa này Tuy nhiên, Hội đồng bảo an lại không thể thực hiện được quyền can thiệp vũ trang do Nga và Trung Quốc sử dụng quyền phủ quyết của mình Sau đó, một Nghị quyết lên án việc sử dụng vũ lực ở Kosovo của NATO được đề xuất lên Hội đồng bảo an nhưng đã không thành công với 3 phiếu thuận và 12 phiếu chống Một Nghị quyết tương tự của Đại hội đồng 55/101 về việc tôn trọng nguyên tắc không can thiệp cũng đã thất bại với 52 phiếu chống Rõ ràng, xuất phát từ quan điểm và lợi ích của từng quốc gia thành viên mà vai trò của Đại hội đồng và Hội đồng bảo an trong việc giữ gìn hòa bình quốc tế đã không được thực hiện

Trong tài liệu cuối cùng của Hội nghị thuợng đỉnh NATO, Mỹ và Anh muốn xác định những quyền của Liên minh được tiến hành các hoạt động quân sự bên ngoài lãnh thổ quốc gia của họ mà không được phép của Hội

đồng bảo an Liên hợp quốc Và kết quả là cụm từ, "Hội đồng bảo an Liên hợp quốc mang trách nhiệm chính trong việc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế"

được ghi nhận Và sau đó là Nato, tại cuộc họp cuối cùng khẳng định lại rằng đối với việc triển khai thực hiện các hoạt động quân sự của khối ở bên ngoài lãnh thổ của mình, không bắt buộc phải được sự cho phép của Hội đồng bảo

an Liên hợp quốc

Một tổ chức khu vực - NATO dường như đang cố gắng để thay thế cho Liên hợp quốc - tổ chức thế giới đại diện cho cộng đồng quốc tế Đây là một nhóm nhỏ các cường quốc đơn phương cố gắng để tự đoạt lấy quyền can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác với mục tiêu giải quyết khủng hoảng nhân đạo Và như vậy sự can thiệp luôn luôn ở đằng sau lòng nhân ái

và thậm chí chỉ ra mục tiêu cao cả: ngăn ngừa hoặc ngăn chặn một thảm họa nhân đạo, cung cấp sự trợ giúp cho những cư dân bị ảnh hưởng, và thúc đẩy

Trang 38

hòa bình và sự ổn định trong đất nước và cả khu vực, hình thành của các quyền tự do và dân chủ

Hơn thế nữa, các quốc gia này tự cho mình quyền định đoạt sự tồn tại của một cuộc khủng hoảng nhân đạo tại một đất nước, mức độ nghiêm trọng

và nguy hiểm của nó, tác động nó tới sự ổn định của khu vực và toàn cầu Và những đánh giá này được thực hiện theo các tiêu chí riêng của họ, trong nhiều trường hợp không phù hợp với các nguyên tắc quốc tế và pháp luật quốc tế đã được thừa nhận chung

Và cuối cùng, hoạt động can thiệp của NATO tại Kosovo sử dụng sức

mạnh vũ trang Đứng trước khủng hoảng nhân đạo ở Kosovo, phản ứng của

NATO là yêu cầu chính quyền Serbia ngừng các cuộc tấn công đối với người Albania Nếu không tuân thủ, NATO sẽ tiến hành không kích Và trong thời gian của cuộc khủng hoảng, các phương pháp hòa bình để giải quyết hầu như không được NATO áp dụng, mà chủ yếu là đe dọa sử dụng vũ lực để các bên liên quan chấm dứt xung đột Và khi đàm phán giữa các bên xung đột không thành công, NATO ngay lập tức tiến hành sử dụng bom và rocket để giải quyết khủng hoảng

Là một tổ chức quân đội thuần túy, NATO có kế hoạch phù hợp và tiến hành hoạt động nhân đạo với việc sử dụng lực lượng vũ trang của mình,

mà trên thực tế là các hoạt động quân sự quy mô lớn chống lại kẻ thù thực sự Tại Kosovo, kẻ thù của khối là Serbia và lực lượng vũ trang của họ Nhưng tại những cuộc khủng hoảng nhân đạo loại này thường khó xác định thủ phạm chính, bởi vì mỗi bên của xung đột đều góp phần vào việc làm xấu hơn tình hình và phát triển cuộc khủng hoảng Các bên xung đột đều là thủ phạm gây nên giết chóc và tàn phá Do đó, sự can thiệp mạnh mẽ này của NATO có thực sự là khách quan, thận trọng và đem lại hiệu quả?

Thực tế đã trả lời cho câu hỏi trên Chấm dứt hoạt động can thiệp, NATO để lại sau lưng mình hàng nghìn người thiệt mạng và rất nhiều người

Trang 39

bị thương cùng với số lượng khổng lồ dân chúng chạy tị nạn Tuy nhiên, những mâu thuẫn sắc tộc và chính trị tại vùng đất này vẫn không được giải quyết Hiện nay, Balkan vẫn là vùng đất nóng của xung đột vũ trang và biến động chính trị

Như vậy, bằng hoạt động can thiệp của NATO tại Kosovo, học thuyết can thiệp nhân đạo đã phát triển thêm một bước mới Ở đây, can thiệp nhân đạo đã trở thành "chiến tranh nhân đạo" - những cuộc chiến thật sự được phát động vì mục tiêu nhân đạo Lực lượng vũ trang được huy động trên diện rộng nhằm ngăn chặn các khủng hoảng nhân đạo mà việc đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm của chúng tới hòa bình và an ninh quốc tế không còn phụ thuộc vào Liên hợp quốc

Một khuôn mẫu mới về can thiệp nhân đạo đã được hình thành do tiền

lệ xuất hiện trước đó Và trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI, thế giới được chứng kiến các quốc gia, bất kể có phải là cường quốc hay không, áp dụng mô hình mới này trong hoạt động đối ngoại của mình

Trang 40

Chương 2

LUẬT QUỐC TẾ VÀ LÝ THUYẾT VỀ CAN THIỆP NHÂN ĐẠO

2.1 KHÍA CẠNH HỢP PHÁP CỦA CAN THIỆP NHÂN ĐẠO: TỶ LỆ HỢP

LÝ GIỮA LUẬT QUỐC TẾ HIỆN ĐẠI VÀ VẤN ĐỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI

2.1.1 Can thiệp nhân đạo theo quan điểm của Luật quốc tế hiện đại

Can thiệp nhân đạo không phải là vấn đề mới và thực tế nó đã được nghiên cứu từ rất lâu Những tranh luận dữ dội về vấn đề này không chỉ diễn

ra trong một vài thập kỷ Tuy nhiên, từ thế kỷ XX cho đến nay, can thiệp nhân đạo bước vào sự phát triển phức tạp và có những ảnh hưởng lớn tới tình hình thế giới

Trong thế kỷ XX, lý thuyết can thiệp nhân đạo mất dần cơ sở thực tế trong quan hệ giữa các nước và cũng mất dần cơ sở pháp lý trong luật pháp quốc tế Tổ chức toàn cầu Liên hợp quốc ra đời cùng với Hiến chương và các văn bản pháp lý khác của tổ chức này đánh dấu sự ghi nhận chính thức nguyên tắc cấm sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác, nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế,… Chúng đã tạo ra cản trở cho hoạt động can thiệp, dù

là can thiệp vì mục đích nhân đạo

Hiến chương Liên hợp quốc là văn bản pháp lý quan trọng nhất quy

định về vấn đề chống can thiệp Khoản 4, điều 2 Hiến chương quy định: "Tất

cả các quốc gia thành viên kiềm chế không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị của các quốc gia khác không phù hợp với mục đích của Liên hợp quốc" [1, tr 9] Hoạt động

can thiệp chỉ được coi là hợp pháp trong những trường hợp đặc biệt nhất định, được thực hiện theo quy định của Hiến chương Liên hợp quốc Và rất nhiều văn kiện pháp lý quốc tế khác cũng coi can thiệp là hành vi bất hợp pháp Có

Ngày đăng: 25/03/2015, 14:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Ngoại giao - Vụ hợp tác kinh tế đa phương (2001), Việt Nam hội nhập kinh tế trong xu thế toàn cầu hóa - vấn đề và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam hội nhập kinh tế trong xu thế toàn cầu hóa - vấn đề và giải pháp
Tác giả: Bộ Ngoại giao - Vụ hợp tác kinh tế đa phương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
2. Các văn bản công pháp quốc tế và văn bản pháp luật Việt Nam có liên quan (2006), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các văn bản công pháp quốc tế và văn bản pháp luật Việt Nam có liên quan
Tác giả: Các văn bản công pháp quốc tế và văn bản pháp luật Việt Nam có liên quan
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
3. Nguyễn Văn Dân (2001), Những vấn đề của toàn cầu hóa kinh tế, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề của toàn cầu hóa kinh tế
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2001
4. Jared Diamond (2008), Loài tinh tinh thứ ba - sự tiến hóa và tương lai của loài người, Nxb Tri thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Loài tinh tinh thứ ba - sự tiến hóa và tương lai của loài người
Tác giả: Jared Diamond
Nhà XB: Nxb Tri thức
Năm: 2008
5. J. Russo (2007), Bàn về Khế ước xã hội, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về Khế ước xã hội
Tác giả: J. Russo
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2007
6. Ngô Hữu Phước (2010), Luật quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật quốc tế
Tác giả: Ngô Hữu Phước
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010
7. Nguyễn Hồng Thao (2008), Việt Nam và Hội đồng bảo an Liên hợp quốc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam và Hội đồng bảo an Liên hợp quốc
Tác giả: Nguyễn Hồng Thao
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2008
8. Nguyễn Hồng Thao, Nguyễn Trung Tín, Lê Mai Thanh (1999), Giáo trình Luật quốc tế, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật quốc tế
Tác giả: Nguyễn Hồng Thao, Nguyễn Trung Tín, Lê Mai Thanh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
9. Trường Đại học Luật Hà Nội (2008), Giáo trình Luật quốc tế, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật quốc tế
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2008
10. Võ Anh Tuấn (2004), Hệ thống Liên hợp quốc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống Liên hợp quốc
Tác giả: Võ Anh Tuấn
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
11. Đinh Ngọc Vượng (2005), "Cải tổ Hội đồng bảo an Liên hợp quốc: những nỗ lực đảm bảo hòa bình và an ninh quốc tế", Nhà nước và pháp luật, (10).TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải tổ Hội đồng bảo an Liên hợp quốc: những nỗ lực đảm bảo hòa bình và an ninh quốc tế
Tác giả: Đinh Ngọc Vượng
Nhà XB: Nhà nước và pháp luật
Năm: 2005
12. A. Rougier, Humanitatian Intervention, International Journal, RGDIP, 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Humanitatian Intervention
13. Baylis, The Globalization of World Politics Oxford University Press, New York, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Globalization of World Politics
15. Boutros Ghali, Agenda for peace: preventive diplomacy, peacemakers and peacekeepers, UN, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Agenda for peace: preventive diplomacy, peacemakers and peacekeepers
Tác giả: Boutros Ghali
Nhà XB: UN
Năm: 1992
16. Brown, M.E, Ethnic Conflic and International Security, Princeton University Press, Princeton, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ethnic Conflic and International Security
17. Copenhagen, Humanitarian Intervention. Legel and Political Aspects, DUPI, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Humanitarian Intervention. Legal and Political Aspects
Tác giả: Copenhagen
Nhà XB: DUPI
Năm: 1999
18. Damrochs, Law and Force in the New International Order, Westveiew Press, Clarados, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Law and Force in the New International Order
19. Diehl, International Peacekeeping, Johns Hopkins University Press, Baltimore, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Peacekeeping
20. E. Stepanov, Internationalization of local-regional conflicts, International Affairs, Moscow, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Internationalization of local-regional conflicts
21. F.Teson, Humanitarian Intervention: An Inquiry into Law anh Morality, Transnational Publisher, New York, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Humanitarian Intervention: An Inquiry into Law anh Morality

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w