1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định của luật thương mại Việt Nam năm 2005 và các quy định của pháp luật quốc tế

139 957 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó, MBHHQT là hoạt động phổ biến và quan trọng nhất trong bối cảnh Việt Nam đã, đang và sẽ ký kết nhiều điều ước quốc tế về thương mại trong khuôn khổ của WTO và của nhiều tổ chức

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

QUỐC TẾ

luËn v¨n th¹c sÜ luËt häc

Hµ néi - 2009

Trang 2

ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ

6

1.1 Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng

hóa quốc tế

6

1.1.1 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 6

1.1.2 Đặc điểm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 11 1.1.2.1 Về chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 12 1.1.2.2 Về đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 12

1.2 Vai trò của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và sự

điều chỉnh của pháp luật đối với loại hợp đồng này

15

1.2.1 Vai trò của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 15

1.2.2 Luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 16 1.2.2.1 Điều ước quốc tế trong thương mại quốc tế 17

2005 VÀ PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ

25

2.1 Những tập quán thương mại thường hay sử dụng trong 25

Trang 3

hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế quy định tại

Incoterms

2.1.1 FOB (Free on board) - Giao hàng lên tàu 26

2.1.2 FCA (Free Carrier) - Giao cho người chuyên chở 28

2.1.3 CFR (Cost and Freight) - Tiền hàng và cước phí 29

2.1.4 CPT (Cariage paid to) - Cước phí đã trả tới 30

2.1.5 CIF (Cost - Insurance - Freight) - Tiền hàng, bảo hiểm và

2.1.8 FAS (Free alongside ship) - Giao dọc mạn tàu 34

2.1.9 DAF (Delivered at frontier) - Giao hàng tại biên giới 35

2.1.10 DES (Delivered ex ship) - Giao hàng trên tàu 36

2.1.11 DEQ (Delivered ex quay) - Giao hàng trên cầu cảng 36 2.2 Ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 37

2.2.1 Điều kiện hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 37

2.2.2.1 Chủ thể có quyền ký hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 45

2.2.2.2 Trình tự đàm phán và ký hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 45 2.3 Một số nội dung thường quy định trong hợp đồng mua bán

hàng hóa quốc tế

50

2.3.1 Tên hàng (đối tượng của hợp đồng mua bán) 51

Trang 4

2.6 Xung đột pháp luật và giải quyết xung đột pháp luật về

hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

66

NHẰM HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÁP

70

Trang 5

LÝ CỦA HOẠT ĐỘNG KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM

3.1.3 Những vấn đề cần chú ý trong quá trình soạn thảo và

ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

76

3.1.4 Những vấn đề cần chú ý trong khi thực hiện hợp đồng nhập

khẩu

87

3.1.4.1 Những vấn đề cần chú ý đối với nghĩa vụ mà người mua (người

nhập khẩu) phải thực hiện theo hợp đồng

87

3.1.4.2 Những vấn đề cần chú ý đối với việc thực hiện nghĩa vụ

của người xuất khẩu nước ngoài

94

3.2 Một số giải pháp hạn chế rủi ro trước khi ký kết, thực hiện

hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế đối với các chủ thể

hợp đồng phía Việt Nam

95

3.2.1 Trong phương thức đàm phán trực tiếp để ký kết hợp

đồng nhập khẩu

95

3.2.2 Trong phương thức đàm phán gián tiếp thông qua thư

từ, điện tín, telex, fax

95

3.2.3 Những giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong việc ký kết hợp

đồng mua bán hàng hóa quốc tế

99

3.2.4 Những giải pháp hạn chế rủi ro trong thực hiện hợp đồng

mua bán hàng hóa quốc tế (chủ yếu đối với hợp đồng xuất

khẩu, nhập khẩu)

110

Trang 6

3.2.4.1 Những giải pháp đối với nghĩa vụ mà người mua (người

nhập khẩu) thực hiện theo hợp đồng mua bán hàng hóa

quốc tế

110

3.2.4.2 Những giải pháp đối với việc thực hiện nghĩa vụ xuất

khẩu của người bán hàng (người xuất khẩu) phía nước

ngoài

114

3.3 Các giải pháp hoàn thiện về khung pháp lý về hợp đồng

mua bán hàng hóa quốc tế

121

3.3.1 Việc hoàn thiện chế độ pháp lý về hợp đồng mua bán

hàng hóa quốc tế phải hướng tới việc tăng cường quyền

tự do hợp đồng của các chủ thể

121

3.3.2 Có chiến lược xây dựng và kiện toàn chế độ pháp lý về

hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phù hợp và song

song với đường lối đổi mới kinh tế nói chung của đất

nước

122

3.3.3 Việc hoàn thiện khung pháp lý về hợp đồng mua bán

hàng hóa quốc tế phải đảm bảo sự phù hợp với xu

hướng quốc tế hóa của các quan hệ kinh tế thương mại,

phù hợp với các Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã và sẽ

ký kết hoặc tham gia

123

3.3.4 Tham gia các công ước quốc tế về thương mại, các công

ước quốc tế hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

124

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 130

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Tên tiếng Anh Tên tiếng Việt

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

B/L Bill of lading Vận đơn đường biển

CIF Cost - Insurance - Freight Tiền hàng, bảo hiểm và cước phí CIP Carriage insurance Paid to Cước phí và bảo hiểm đã trả tới

CFR Cost and Freight Tiền hàng và cước phí

CFS Container Freight Station Đóng gói Côngtenơ

CPT Cariage paid to Cước phí đã trả tới

COR Cargo Outturn Report Biên bản hàng đổ vỡ hư hỏng

CY Container yard Cho hàng vào bãi côngtenơ

DAF Delivered at frontier Giao hàng tại biên giới

DDP Delivered duty paid Giao hàng thuế đã trả

DDU Delivered duty unpaid Giao hàng thuế chưa trả

DEQ Delivered ex quay Giao hàng trên cầu cảng

DES Delivered ex ship Giao hàng trên tàu

FAS Free alongside ship Giao dọc mạn tàu

FCL Full container load Giao hàng nguyên

L/C Letter of credit Thư tín dụng

LCL Less than Container load Giao hàng lẻ

NOR Notice Of Readiness Thông báo sẵn sang xếp dỡ

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề

Trong quá trình hội nhập sâu và rộng của nền kinh tế nước ta với các nên kinh tế thế giới hiện nay, đặc biệt là sau thời điểm Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Quan hệ thương mại toàn diện giữa các tổ chức, cá nhân Việt Nam với các tổ chức, cá nhân nước ngoài ngày càng mở rộng, nhất là trong lĩnh vực thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ Do

đó, hoạt động kinh tế đối ngoại của nước ta rất đa dạng bao gồm mua bán hàng hóa quốc tế (MBHHQT), đầu tư quốc tế, chuyển giao công nghệ, hợp tác lao động quốc tế Trong đó, MBHHQT là hoạt động phổ biến và quan trọng nhất trong bối cảnh Việt Nam đã, đang và sẽ ký kết nhiều điều ước quốc

tế về thương mại trong khuôn khổ của WTO và của nhiều tổ chức quốc tế khác như: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC)…

Các quan hệ MBHHQT giữa các chủ thể hiện nay được thể hiện dưới hình thức pháp lý là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (HĐMBHHQT) hay còn gọi là hợp đồng xuất nhập khẩu (HĐXNK) Quan hệ HĐMBHHQT là quan hệ pháp lý quan trọng trong việc xác lập căn cứ pháp lý cho các hoạt động MBHHQT của các chủ thể Hoạt động thương mại hàng hóa chủ yếu thông qua các hợp đồng mua bán hàng hóa và giữ vị trí trung tâm trong các giao dịch thương mại quốc tế, HĐMBHHQT là dạng hợp đồng được các chủ thể của quan hệ thương mại quốc tế sử dụng phổ biến và thường xuyên nhất trong trong các hoạt động thương mại của mình Do đó, các quan hệ này đã được pháp điển hóa thành các quy phạm pháp luật của Việt Nam cũng như pháp luật các nước trên thế giới, các điều ước quốc tế, tập quán quốc tế

Trang 9

Đối với Việt Nam, đã xác định xây dựng và hoàn thiện chế độ pháp lý

về HĐMBHHQT là một vấn đề rất quan trọng trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật thương mại quốc tế ở nước ta Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt hiện nay, các quan hệ MBHHQT chỉ mang lại hiệu quả kinh tế

xã hội khi nó được thiết lập dựa trên chế độ pháp lý về HĐMBHHQT chặt chẽ, hợp lý và sự hiểu biết sâu sắc của các chủ thể tham gia về pháp luật nói chung, pháp luật HĐMBHHQT nói riêng Nhận thức được tầm quan trọng này, nhà nước đã ban hành Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại năm 2005 trong đó các quy định về hợp đồng và HĐMBHHQT đã được quy định chi tiết cho phù hợp hơn các các quy phạm pháp luật quốc tế

Tuy nhiên, chỉ trong thời gian ngắn sau khi Việt Nam gia nhập WTO trước những thay đổi nhanh chóng và mạnh mẽ của các hoạt động kinh tế đối ngoại và những tác động và ảnh hưởng sâu sắc của nền kinh tế thế giới, pháp luật về HĐMBHHQT của Việt Nam đã bộc lộ những hạn chế, gây khó khăn cho các chủ thể kinh doanh khi tham gia quan hệ MBHHQT Thêm vào đó, hiểu biết về luật pháp nói chung, pháp luật về HĐMBHHQT nói riêng của các chủ thể kinh doanh còn hạn chế làm giảm hiệu quả của hoạt động MBHHQT

Luật Thương mại năm 2005 về cơ bản đã có các quy định về hoạt động mua bán hàng hóa và HĐMBHHQT đã được sửa đổi toàn diện cho phù hợp với thực tiễn quan hệ kinh tế đã đáp ứng được những yêu cầu đòi hỏi đặt ra về mặt pháp lý Tuy nhiên, việc triển khai thực thi, áp dụng có hiệu quả quy định này trong hoạt động MBHHQT mới là vấn đề quan trọng giúp cho các quy định này thực sự đi vào cuộc sống và phát huy vai trò của mình

Đồng thời cũng cần phải tìm hiểu và nghiên cứu trong quan hệ so sánh với các quy định của pháp luật các nước, điều ước quốc tế, tập quán quốc tế

về HĐMBHHQT mới mang lại nhận thức toàn diện và sâu sắc về những vấn chế độ pháp lý của quan hệ hợp đồng

Do vậy, việc nghiên cứu để làm sáng tỏ nội dung và hoàn thiện chế độ pháp lý nâng cao khả năng nhận thức và vận dụng pháp luật Việt Nam và pháp

Trang 10

luật quốc tế vào các quan hệ pháp lý về HĐMBHHQT là nhiệm vụ quan trọng

và cần thiết hiện nay nhằm ổn định các quan hệ HĐMBHHQT và đảm bảo sự tham gia có hiệu quả của các chủ thể kinh doanh vào quan hệ MBHHQT hạn chế thấp nhất những rủi ro và tranh chấp

Những điều dẫn ở trên là lý do chúng tôi chọn đề tài "Hợp đồng mua

bán hàng hóa quốc tế theo quy định của Luật Thương mại Việt Nam năm

2005 và các quy định của pháp luật quốc tế" để nghiên cứu trong khuôn khổ

luận văn thạc sĩ của mình

Với đề tài này, chúng tôi đi sâu phân tích về lý luận và thực tiễn, những vấn đề pháp lý cần lưu ý trong quá trình ký kết và thực hiện HĐMBHHQT, đồng thời làm rõ những hạn chế của các chủ thể kinh doanh trong việc nhận thức và áp dụng pháp luật về HĐMBHHQT qua đó góp phần nhỏ bé vào việc đổi mới và hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thực thi của pháp luật trong thực tiễn

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

2.1 Mục đích

Trên cơ sở những tri thức đã tiếp thu được trong học tập, nghiên cứu

và thực tiễn công tác, đề tài góp phần làm sáng tỏ vấn đề pháp lý trong việc thực thi áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế trong quá trình ký kết và thực hiện HĐMBHHQT, giải quyết tranh chấp phát sinh có liên quan Qua đó tìm ra những giải pháp thiết thực và hữu hiệu nhất

để từng nâng cao nhận thức, kỹ năng vận dụng có hiệu quả pháp luật về HĐMBHHQT trong thực tiễn kinh doanh ở nước ta

2.2 Nhiệm vụ

Việc nghiên cứu đề tài là nhằm làm sáng tỏ một số vấn đề về lý luận

về nội dung các quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế về HĐMBHHQT và thực tiễn áp dụng các quy định này, từ đó phát hiện những

Trang 11

tồn tại và nguyên nhân của nó từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao nhận thức và kỹ năng áp dụng pháp luật về HĐMBHHQT

3 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu đề tài giới hạn trong những quy định của pháp luật Việt Nam, pháp luật một số quốc gia có quan hệ thương mại song phương với Việt Nam, một số điều ước quốc tế, tập quán quốc tế vê HĐMBHHQT được áp dụng phổ biến hiện nay trong quan hệ MBHHQT

4 Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu

Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu đề tài là dựa trên phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh

Việc nghiên cứu đề tài được tiến hành bằng các phương pháp nghiên cứu như:

- Phương pháp phân tích

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp quy nạp

- Phương pháp tổng hợp, phản ánh thực tiễn và rút ra kết luận

5 Tình hình nghiên cứu, những điểm mới và ý nghĩa thực tiễn của

đề tài

Cho đến nay, vấn đề HĐMBHHQT đã có một số công trình, bài báo, tạp chí nghiên cứu Các công trình này đã đề cập đến khái niệm, bản chất, những lưu ý khi ký kết và thực hiện, những hạn chế của pháp luật Việt Nam

về HĐMBHHQT ở những mức độ khác nhau Điều này được thể hiện trong

các công trình của một số nhà khoa học như: Giáo trình trình pháp luật trong

hoạt động kinh tế đối ngoại - Trường Đại học Ngoại thương, 1997; Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam - Trường Đại học Luật Hà Nội, 2006; Tư pháp quốc tế Việt Nam và vấn đề dẫn chiếu trong lĩnh vực hợp đồng, của tác giả Đỗ

Trang 12

Văn Đại Tuy nhiên, những công trình này nhìn chung mới chỉ tháo gỡ, giải quyết những vấn đề mang tính lý luận, nhiều vấn đề có tính chất tổng thể liên quan đến thực tiễn áp dụng pháp luật và thực hiện HĐMBHHQT còn chưa được giải quyết Vì vậy, việc nghiên cứu vấn đề này một cách cơ bản là rất thiết thực, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam là thành viên của WTO và một số

tổ chức quốc tế khác

Với mong muốn đưa ra một sự phân tích sâu và rộng về mặt lý luận và thực tiễn, những vấn đề pháp lý cần lưu ý khi ký kết, thực hiện và giải quyết tranh chấp HĐMBHHQT, đồng thời làm rõ những bất cập trong thực tiễn nhận thức và áp dụng của pháp luật về HĐMBHHQT, tác giả rút ra những kiến nghị, đổi mới tư duy, kỹ năng áp dụng, hoàn thiện và nâng cao hiệu lực hiệu quả thực thi chế độ pháp lý về HĐMBHHQT

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về HĐMBHHQT

Chương 2: Các quy định của Luật Thương mại Việt Nam 2005 và pháp

luật quốc tế về HĐMBHHQT

Chương 3: Những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về

HĐMBHHQT nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động MBHHQT ở Việt Nam

Trang 13

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HỢP ĐỒNG

MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ

1.1 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ

1.1.1 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 chưa định nghĩa về HĐMBHHQT, nhưng HĐMBHHQT trước hết là hợp đồng mang đầy đủ những đặc điểm của hợp đồng mua bán tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005: hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa

vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán

Đồng thời, HĐMBHHQT còn mang các đặc trưng cơ bản của hợp đồng thương mại quốc tế Tính quốc tế của quan hệ chính là điểm khác biệt của HĐMBHHQT với hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường Tính quốc tế có thể được quy định khác nhau trong pháp luật của các quốc gia, pháp luật quốc

tế nhưng tựu chung lại đó là các yếu tố nước ngoài liên quan đến quốc tịch, nơi cư trú hoặc trụ sở của các chủ thể, liên quan đến nơi xác lập quan hệ hợp đồng, nơi thực hiện hợp đồng hoặc nơi có tài sản là đối tượng của hợp đồng

HĐMBHHQT mang những đặc trưng cơ bản của hợp đồng mua bán tài sản, tức là có sự thỏa thuận giữa bên bán và bên mua, nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ mua bán, hợp đồng mua bán hàng hóa là hợp đồng song vụ, có đền bù [28, tr 207] Về bản chất, hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa ít nhất là hai bên Sự thỏa thuận này có thể bằng lời nói hoặc bằng văn bản Chủ thể của hợp đồng mua bán tài sản là người bán và người mua Người bán và người mua có thể là thể nhân, pháp nhân hoặc cũng có thể

là Nhà nước Nội dung của hợp đồng là toàn bộ nghĩa vụ của các bên xung

Trang 14

quanh việc chuyển giao quyền sở hữu về hàng hóa từ người bán sang người mua, xung quanh việc làm thế nào để người bán lấy được tiền và người mua nhận được hàng… Xét về tính chất pháp lý, hợp đồng mua bán tài sản là loại hợp đồng song vụ, có bồi hoàn và là hợp đồng ước hẹn Những đặc trưng này

là điểm phân biệt giữa HĐMBHHQT với các loại hợp đồng được ký kết trong các lĩnh vực khác của thương mại quốc tế như dịch vụ, đầu tư Luật pháp của các nước trên thế giới đều có quan điểm thống nhất với nhau về những điểm nêu trên

HĐMBHHQT được thực hiện dưới các hình thức hợp đồng xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu HĐMBHHQT

là sự thỏa thuận giữa các chủ thể có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau, theo đó một bên gọi là bên bán có nghĩa vụ chuyển vào quyền sở hữu tài sản cho một bên khác gọi là bên mua một tài sản nhất định gọi là hàng hóa; bên mua có nghĩa vụ nhận hàng và trả tiền hàng Định nghĩa trên nêu rõ bản chất của hợp đồng này là sự thỏa thuận của các bên ký kết

Các chủ thể của HĐMBHHQT là bên bán và bên mua Họ có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau Bên bán giao một giá trị nhất định, và để đổi lại, bên mua phải trả một đối giá cân xứng với giá trị đã được giao

Ðối tượng của hợp đồng này là tài sản; do được đem ra mua bán tài sản này trở thành hàng hóa Khách thể của hợp đồng này là sự di chuyển quyền sở hữu hàng hóa (chuyển chủ hàng hóa) Ðây là sự khác biệt so với hợp đồng thuê mướn (vì hợp đồng thuê mướn không tạo ra sự chuyển chủ sở hữu),

so với hợp đồng tặng cho (vì hợp đồng tặng cho không có sự cân xứng giữa nghĩa vụ và quyền lợi)

Tính chất quốc tế của HĐMBHHQT được hiểu không giống nhau tùy theo quan điểm của luật pháp các nước

Do đó, để xác định một hợp đồng mua bán là hợp đồng mua bán quốc

tế, các luật gia thường dựa trên một số tiêu chí như sau:

Trang 15

Thứ nhất, hợp đồng mua bán có tính quốc tế nếu trụ sở kinh doanh của

bên mua và bên bán được đăng ký tại hai quốc gia khác nhau

Thứ hai, hợp đồng mua bán có tính chất quốc tế nếu đối tượng của

hợp đồng là hàng hóa phải được giao tại một nước khác với nước mà hàng hóa đó đang được tồn trữ hoặc sản xuất ra khi hợp đồng được ký kết

Thứ ba, được coi là HĐMBHHQT khi:

+ Có sự vận chuyển hàng hóa là đối tượng của hợp đồng từ lãnh thổ của quốc gia này sang lãnh thổ của quốc gia khác

+ Tất cả các hành vi cấu thành sự chào hàng và sự ưng thuận không được thực hiện trên lãnh thổ của cùng một quốc gia

+ Sự giao hàng được thực hiện trên lãnh thổ của một quốc gia khác với quốc gia mà ở đó các hành vi cấu thành sự chào hàng và sự ưng thuận đã được hoàn thành Quan điểm trên đã được đề nghị trong dự thảo luật Roma 1956

Công ước Viên ngày 11/04/1980 đã không chấp nhận quan điểm trong

dự thảo luật Roma và chấp thuận tiêu chuẩn thứ nhất: Hợp đồng mua bán có tính chất quốc tế khi hai bên có trụ sở tại hai quốc gia khác nhau Dấu hiệu quốc tịch của các bên không phải là yếu tố để phân biệt

+ Theo Công ước Lahay năm 1964 về mua bán quốc tế những động sản hữu hình, HĐMBHHQT là tất cả các hợp đồng mua bán trong đó các bên ký kết có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau và hàng hóa được chuyển từ nước này sang nước khác, hoặc là việc trao đổi ý chí ký kết hợp đồng giữa các bên ký kết được lập ở những nước khác nhau (Điều 1 Công ước) [27, tr 144]

Như vậy, tính chất quốc tế, theo Công ước này gồm có:

- Chủ thể ký kết là các bên có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau

- Hàng hóa là đối tượng của hợp đồng được chuyển hoặc sẽ được chuyển

từ nước này sang nước khác

- Chào hàng và chấp nhận chào hàng có thể được lập ở những nước khác nhau

Trang 16

Nếu các bên ký kết không có trụ sở thương mại thì sẽ dựa vào nơi cứ trú của họ Vấn đề quốc tịch của các bên không có ý nghĩa trong việc xác định yếu tố nước ngoài của HĐMBHHQT

Công ước Viên năm 1980 của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (United Nations Convention on Contracts for international sale of goods, Vienna 1980) chỉ đưa ra một tiêu chuẩn để khẳng định tính chất quốc tế của HĐMBHHQT, đó là các bên ký kết hợp đồng có trụ sở thương mại đặt ở các nước khác nhau Cũng giống như Công ước Lahay 1964, Công ước Viên 1980 cũng không quan tâm đến vấn đề quốc tịch của các bên khi xác định yếu tố nước ngoài của HĐMBHHQT

Pháp luật một số nước Châu Âu, khi xác định tính chất quốc tế của HĐMBHHQT, người ta căn cứ vào hai tiêu chuẩn kinh tế và pháp lý

- Theo các tiêu chuẩn kinh tế, một hợp đồng quốc tế là hợp đồng tạo

ra sự di chuyển qua lại biên giới các giá trị trao đổi tương ứng giữa hai nước, nói cách khác, hợp đồng đó thể hiện quyền lợi của thương mại quốc tế

- Theo tiêu chuẩn pháp lý, một hợp đồng mua bán hàng hóa được coi

là HĐMBHHQT nếu nó bị chi phối bởi các tiêu chuẩn pháp lý của nhiều quốc gia như quốc tịch của các bên, nơi cư trú của các bên, nơi thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, đồng tiền thanh toán

Theo quy định pháp luật về hợp đồng của Pháp, một hợp đồng mua bán hàng hóa mang tính quốc tế khi các bên ký hợp đồng này ở các nước khác nhau, hoặc quá trình đàm phán hợp đồng diễn ra ở một nơi khác với ký kết hợp đồng đó, hoặc có một khoản nộp quốc tế, dịch vụ chuyển khoản hay chuyển hàng hóa từ một nước này đến một nước khác, tựu chung lại một hợp đồng được gọi là HĐMBHHQT khi nó bao hàm các điều khoản gắn liền với nhiều hệ thống luật

Theo quy định tại Bộ nguyên tắc của UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế 2004 thì tính chất quốc tế của một hợp đồng có thể được xác định

Trang 17

bằng nhiều cách Nếu như pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế đưa ra nhiều phải pháp, từ việc căn cứ vào trụ sở hay nơi cư trú thường xuyên của các bên tại các quốc gia khác nhau đến việc áp dụng những tiêu chí tổng quát hơn như việc hợp đồng có các mối liên hệ mật thiết với hơn một quốc gia, hay hợp đồng đòi hỏi sự lựa chọn giữa pháp luật của các quốc gia khác nhau, hay hợp đồng có ảnh hưởng đến các lợi ích trong thương mại quốc tế Trong quy định của Bộ nguyên tắc UNIDROIT không nhấn mạnh bất cứ tiêu chí nào trong các tiêu chí trên, theo Bộ nguyên tắc UNIDROIT thì quan niệm về các hợp đồng thương mại quốc tế cần được giải thích theo nghĩa rộng nhất có thể, chỉ loại trừ những trường hợp tất cả các yếu tố cơ bản của hợp đồng chỉ liên quan đến một quốc gia, tức là không có bất kỳ một yếu tố quốc tế nào [17, tr 32]

Đối với Việt Nam, khái niệm về HĐMBHHQT chưa được quy định chính thức trong bất kỳ một văn bản pháp luật nào Tuy nhiên, trong Quy chế tạm thời số 4794 TN-XNK ngày 31/7/1991 của Bộ Thương nghiệp (nay là Bộ Công thương) hướng dẫn việc ký kết HĐMBHHQT hay còn gọi là HĐXNK, trong đó đưa ra ba tiêu chuẩn để hợp đồng mua bán được thừa nhận là HĐMBHHQT, đó là:

Thứ nhất, chủ thể của hợp đồng là các bên có quốc tịch khác nhau Thứ hai, hàng hóa là đối tượng của hợp đồng thông thường được di

chuyển từ nước này qua nước khác

Thứ ba, đồng tiền thanh toán trong hợp đồng là ngoại tệ đối với một

hoặc hai bên ký hợp đồng

Khái niệm và cách hiểu này đã được thừa nhận trong thực tiễn hoạt động MBHHQT của Việt Nam trong nhiều năm Tuy nhiên, quy định trên khi

áp dụng vào thực tiễn hoạt động MBHHQT bộc lộ nhiều hạn chế và không phù hợp

Ví dụ 01: Một công ty ở Việt Nam ký hợp đồng bán hàng hóa cho một thương nhân ở Nhật Thương nhân này có trụ sở đặt ở Nhật nhưng vẫn mang

Trang 18

quốc tịch Việt Nam Nếu theo quan điểm mà lâu nay thực tiễn hoạt động MBHHQT chúng ta vẫn thừa nhận, tức là quan điểm cho rằng chủ thể HĐMBHHQT là các bên có quốc tịch khác nhau thì hợp đồng này không phải

là HĐMBHHQT mặc dù về bản chất nó chính là HĐMBHHQT

Ví dụ 02: một trường hợp khác là hợp đồng mua bán hàng hóa được

ký kết và thực hiện giữa hai công ty cùng nằm trên lãnh thổ Việt Nam nhưng công ty bán hàng nằm trong khu chế xuất và công ty mua hàng nằm ngoài khu chế xuất, về mặt pháp lý khi thực hiện hợp đồng này vẫn được coi là hợp đồng nhập khẩu vì vẫn phải làm thủ tục hải quan và chịu thuế nhập khẩu nếu thuộc danh mục hàng không được miễn thuế Như vậy, trường hợp này cả 02 bên chủ thể đều cùng quốc tịch Việt Nam, hàng hóa không có sự di chuyển từ nước này qua nước khác nhưng quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa giữa hai chủ thể về bản chất là HĐMBHHQT

Luật Thương mại Việt Nam 2005 không đặt vấn đề quốc tịch hay sự dịch chuyển của hàng hóa là đối tượng của HĐMBHHQT mà nêu cụ thể tại Điều 27 các hình thức MBHHQT được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu [11, tr 23] Việc MBHHQT phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương So với các quy định của pháp luật Việt Nam trước khi ban hành Luật Thương mại năm 2005 thì quy định này gián tiếp khẳng định việc không coi dấu hiệu quốc tịch của chủ thể hoặc dấu hiệu về phạm vi lãnh thổ quốc gia là căn cứ xác định HĐMBHHQT

mà chủ yếu dựa vào tính chất của quan hệ hợp đồng Quy định này phù hợp với thực tiễn thương mại hiện nay, đặc biệt là việc phát triển các khu chế xuất, đặc khu kinh tế, khu kinh tế mở

1.1.2 Đặc điểm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

So với các hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước, HĐMBHHQT có những đặc điểm khác biệt thể hiện ở những khía cạnh sau:

Trang 19

1.1.2.1 Về chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Theo pháp luật của một số nước trên thế giới (Anh, Mỹ ) hoặc theo quy định của các văn bản pháp luật quốc tế về MBHHQT (Công ước Lahay

1964, Công ước Viên 1980 ) thì chủ thể của HĐMBHHQT là các thương nhân có trụ sở ở các quốc gia khác nhau Theo quy định của Luật Thương mại Việt Nam 2005, chủ thể tham gia là những thương nhân mang quốc tịch khác nhau Nếu thương nhân là pháp nhân thì thương nhân mang quốc tịch quốc gia nơi pháp nhân được thành lập Quốc tịch của thương nhân nước ngoài được xác định theo pháp luật của quốc gia mà thương nhân mang quốc tịch

Pháp luật của các nước khác nhau thì quy định khác nhau về điều kiện chủ thể tham gia HĐMBHHQT Tuy nhiên, theo pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới thì mọi thương nhân có đủ năng lực tài chính để chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của mình đều có thể trở thành chủ thể của HĐMBHHQT, không kể thương nhân đó tồn tại dưới hình thức pháp nhân hay

cá nhân Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì chủ thể có quyền tham gia

ký kết HĐMBHHQT có sự thay đổi theo từng thời kỳ phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng như quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật về thương mại theo hướng mở rộng phạm vi chủ thể của HĐMBHHQT, cụ thể là:

Trước năm 1986 Nhà nước độc quyền trong lĩnh vực ngoại thương nên việc ký kết HĐMBHHQT cũng do Nhà nước độc quyền, những điều kiện

để một doanh nghiệp được cấp giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu phải đáp ứng các điều kiện về vốn, nhân lực, lĩnh vực ngành nghề rất khắt khe

Để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các chủ thể kinh doanh trong việc

ký kết và thực hiện HĐMBHHQT trong bối cảnh Việt Nam là thành viên của WTO, Luật Thương mại Việt Nam 2005, tại Điều 6 và Điều 3 Nghị định số 12/2006/NĐ - CP ngày 23/01/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại 2005 về hoạt động MBHHQT và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài đã mở rộng phạm vi chủ thể có quyền ký kết và thực hiện HĐMBHHQT bằng việc chỉ hạn chế hoặc

Trang 20

cấm ký kết các HĐMBHHQT đối với những mặt hàng thuộc danh mục cấm của Nhà nước, việc ký kết HĐMBHHQT không bị hạn chế bởi tư cách chủ thể(cá nhân, pháp nhân), quốc tịch, ngành nghề kinh doanh của thương nhân như các văn bản trước đó Đây là điểm mới quan trọng so với quy định của Luật Thươmg mại 1997 phù hợp với thực tiễn thương mại và góp phần thúc đẩy các hoạt động thương mại phát triển với nước ngoài

1.1.2.2 Về đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Đối tượng của hợp đồng là yếu tố quan trọng nhất trong một hợp đồng mua bán hàng hóa Không có đối tượng của hợp đồng thì không thể có một hợp đồng mua bán hàng hóa bởi vì mọi sự thỏa thuận giữa các bên tham gia hợp đồng đều nhằm đến việc chuyển quyền sở hữu đối tượng của hợp đồng từ bên bán sang bên mua và chuyển tiền từ bên mua sang bên bán Tuy nhiên, không phải mọi tài sản mà các bên mua bán với nhau đều là đối tượng của HĐMBHHQT bởi vì nếu nó không đáp ứng được những yêu cầu mà pháp luật đặt ra thì sự thỏa thuận giữa các bên là bất hợp pháp và hợp đồng đó bị vô hiệu

Đối tượng của HĐMBHHQT phải thỏa mãn được các điều kiện sau đây:

- Đối tượng của HĐMBHHQT phải được phép mua bán giữa thương nhân Việt Nam với thương nhân nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt nam và của pháp luật nước ngoài có liên quan

- Đối tượng của HĐMBHHQT phải xác định, tồn tại thực tế và có thể dịch chuyển được từ nước này sang nước khác hoặc từ thị trường nội địa vào khu chế xuất Điều kiện này tuy không được quy định rõ ràng trong các văn bản pháp luật nhưng chúng ta có thể suy ra từ bản chất và đặc điểm của HĐMBHHQT Như vậy, bất động sản thì không thể trở thành đối tượng của HĐMBHHQT hoặc các loại hàng hóa đặc thù như: Các cổ phiếu, cổ phần, chứng khoán đầu tư, các chứng từ lưu thông hoặc tiền tệ; tàu thủy, máy bay và các chạy trên đệm không khí; điện năng (Điều 2 Công ước Viên 1980) [21, tr 57]

- Đối với mỗi quốc gia, việc trao đổi hàng hóa quốc tế đều ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của cộng đồng Do vậy, mỗi quốc gia đều có quy định về

Trang 21

mặt hàng được phép mua bán với thương nhân nước ngoài Tại Việt Nam hàng năm Chính phủ đều ban hành các văn bản điều hành xuất nhập khẩu trong đó quy định danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu và các mặt hàng xuất nhập khẩu có điều kiện

Nhìn chung, việc quy định những mặt hàng xuất nhập khẩu của Việt Nam nhằm mục đích bảo đảm hòa bình, an toàn trật tự và sức khỏe con người, ngăn chặn việc di chuyển các tài nguyên thiên nhiên đang bị khai thác cạn kiệt hoặc những động vật quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng ra nước ngoài Với tinh thần đó, hiện nay Việt Nam cấm xuất khẩu các mặt hàng sau:

Vũ khí, đạn dược, trang thiết bị quân sự, đổ cổ, các loại chất ma túy, hóa chất độc, các loại gỗ theo quy định cụ thể của Chính phủ tại các văn bản pháp luật liên quan, các loại động vật hoang, động thực vật quý hiếm…

Đồng thời, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội, an ninh quốc phòng, truyền thống văn hóa, thuần phong mỹ tục của dân tộc Pháp luật Việt Nam cấm nhập khẩu các mặt hàng sau:

+ Vũ khí, đạn dược, trang thiết bị quân sự

+ Hóa chất độc

+ Các loại ma túy

+ Các loại văn hóa phẩm phản động, đồi trụy

+ Pháo các loại và đồ chơi trẻ em có ảnh hưởng xấu đến giáo dục nhân cách, trật tự an toàn xã hội

+ Thuốc lá điếu

+ Hàng tiêu dùng đã qua sử dụng…

Về các nguyên tắc thì không được ký kết các hợp đồng mua bán các loại mặt hàng trên Tuy nhiên, trong những trường hợp đặc biệt nếu được phép của Thủ tướng Chính phủ thì các mặt hàng này có thể trở thành đối tượng của HĐMBHHQT

Trang 22

Các mặt hàng ngoài danh mục các mặt hàng xuất nhập khẩu thì Nhà nước điều tiết chủ yếu bằng biện pháp thuế quan Tuy nhiên, đối với một số mặt hàng quan trọng Nhà nước phải quản lý hoạt động xuất nhập khẩu bằng hạn gạch, giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu để bảo vệ sản xuất trong nước

+ Đối với các mặt hàng nhà nước quản lý bằng hạn gạch (gạo, phân bón ) hoặc bằng giấy phép xuất nhập khẩu (thuốc chữa bệnh, giống cây trồng ) khi ký kết HĐMBHHQT phải tuân theo các quy định cụ thể của Chính phủ về việc xuất nhập khẩu các mặt hàng này Các mặt hàng này chỉ trở thành đối tượng của HĐMBHHQT nếu bên Việt Nam đã xin được hạn ngạch hoặc giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu

Như vậy, hàng hóa muốn trở thành đối tượng của HĐMBHHQT là những hàng hóa được phép mua bán với thương nhân nước ngoài theo pháp luật của nước bên bán và nước bên mua Đồng thời phải là hàng hóa mà doanh nghiệp được phép kinh doanh theo ngành nghề đa dạng ký tại giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

1.1.2.3 Về đồng tiền thanh toán

Đối với các hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước, các bên thường

sử dụng nội tệ làm đồng tiền thanh toán Trong HĐMBHHQT thì đồng tiền thanh toán cho các bên thỏa thuận nhưng thông thường là ngoại tệ đối với một bên hoặc cả hai bên Theo quy định của Chính phủ về quản lý ngoại hối tại Pháp lệnh ngoại hối thì đồng tiền chung của các quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu - EU (ví dụ đồng Euro) cũng được coi là ngoại tệ

1.2 VAI TRÒ CỦA HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI LOẠI HỢP ĐỒNG NÀY

1.2.1 Vai trò của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

HĐMBHHQT có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội hiện đại, đặc biệt là trong xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới hiện nay Vai trò của HĐMBHHQT thể hiện ở những khía cạnh sau đây:

Trang 23

Thứ nhất: HĐMBHHQT là công cụ thể hiện ý chí của các chủ thể

tham gia quan hệ MBHHQT bởi vì bản chất của hợp đồng là sự bày tỏ và thống nhất ý chí giữa các chủ thể Thông qua HĐMBHHQT các bên bày tỏ và thống nhất ý chí giữa các chủ thể Thông qua HĐMBHHQT các bên bày tỏ mong muốn thiết lập quan hệ mua bán hàng hóa với nhau, cụ thể là bên bán đồng ý bán hàng cho bên mua và bên mua đồng ý nhận hàng và trả tiền cho bên bán theo đúng các điều kiện mà hai bên đã thỏa thuận

Thứ hai: HĐMBHHQT là công cụ để bảo vệ lợi ích của các bên chủ

thể, một HĐMBHHQT được thành ký kết hợp pháp có giá trị bắt buộc đối với các bên giao kết Nếu một bên có hành vi vi phạm những điều khoản đã cam kết trong hợp đồng thì bên đó phải chịu trách nhiệm vật chất trước bên bị vi phạm Mặt khác, khi có tranh chấp xảy ra HĐMBHHQT là bằng chứng quan trọng để cơ quan giải quyết tranh chấp đưa ra phản quyết đúng đắn, phù hợp với thực tế khách quan, đảm bảo quyền lợi của các bên đương sự

Thứ ba: HĐMBHHQT là một trong những cơ sở để xây dựng và thực

hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh doanh xuất nhập khẩu

Thứ tư: HĐMBHHQT cũng là công cụ để thực hiện các kế hoạch, chỉ

tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra

1.2.2 Luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

HĐMBHHQT mặc dù được pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật quốc tế quy định rất chặt chẽ, trong quá trình ký kết thực hiện cũng được các bên thỏa thuận chi tiết, nhưng dù được ký kết hoàn chỉnh, chi tiết đến đâu bản thân nó cũng không thể dự kiến, chứa đựng, bao gồm tất cả những vấn đề, những tình huống có thể phát sinh trong thực tế Vì vậy, cần phải bổ sung cho HĐMBHHQT một cơ sở pháp lý cụ thể bằng cách lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng đó Điều này có nghĩa là mỗi một HĐMBHHQT đã được ký kết là một cơ sở pháp lý quan trọng để các bên dựa vào đó xác định quyền, nghĩa vụ

và trách nhiệm của mình, để các bên tự kiểm tra lại mình và kiểm tra đối tác

Trang 24

Nhưng, trong thực tế lại thường xảy ra những trường hợp mà tranh chấp phát sinh giữa các bên lại không được quy định hoặc quy định không đầy đủ trong hợp đồng Trường hợp này, các bên phải dựa vào luật điều chỉnh hợp đồng, tức là dựa vào luật được áp dụng cho hợp đồng đó để giải quyết tranh chấp Không chỉ các bên chủ thể phải tìm hiểu luật áp dụng cho hợp đồng mua bán

đã ký kết mà cả tòa án (hoặc trọng tài), được giao giải quyết tranh chấp phát sinh, cũng phải nghiên cứu vấn đề luật áp dụng cho hợp đồng đó thì mới có thể làm tốt được chức năng, nhiệm vụ của mình

Theo nguyên tắc chung của tư pháp quốc tế trong MBHHQT, các bên đương sự hoàn toàn có quyền tự do thảo thuận chọn nguồn luật áp dụng cho quan hệ hợp đồng của mình Nguồn luật đó có thể là luật quốc gia, điều ước quốc tế về thương mại, hợp đồng thương mại hoặc tập quán thương mại quốc

tế và cả các án lệ (tiền lệ xét xử)

Song, điều quan trọng là ở chỗ nên chọn nguồn luật nào, làm thế nào để chọn luật thích hợp nhất để có thể bảo vệ được quyền lợi của mình Vấn đề này thật không đơn giản Cần phải nghiên cứu tất cả các nguồn luật nói trên và cách áp dụng cũng như vai trò giá trị pháp lý của từng nguồn luật đối với HĐMBHHQT

1.2.2.1 Điều ước quốc tế trong thương mại quốc tế

Khi có tranh chấp phát sinh từ HĐMBHHQT liên quan đến vấn đề không được quy định hoặc quy định không đầy đủ trong hợp đồng, các bên ký kết hợp đồng có thể dựa vào các điều ước quốc tế trong thương mại Do đó, điều ước quốc tế về thương mại quốc tế là nguồn luật đầu tiên của HĐMBHHQT

Điều ước quốc tế về thương mại là sự thỏa thuận bằng văn bản được các quốc gia ký kết trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng nhằm ấn định, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ đối với nhau trong quan hệ buôn bán quốc tế

Điều ước quốc tế về thương mại, xét về mặt chủ thể ký kết, có thể có hai loại là điều ước quốc tế có tính chất song phương và điều ước quốc tế có

Trang 25

tính chất đa phương Xét về mặt phạm vi, quy mô ảnh hưởng, có thể có điều ước quốc tế về thương mại có tính chất khu vực và điều ước thương mại có tính chất toàn cầu Xét về mặt nội dung, có điều ước quốc tế chuẩn tắc (là điều ước định ra các quy tắc có tính chất bắt buộc đối với các bên ký kết cũng như với tự nhiên nhân, pháp nhân của họ) và điều ước mang tính thực chứng (là điều ước thể chế hóa hoạt động của các tổ chức quốc tế, các hội nghị quốc

tế, các văn phòng, ủy ban mà điều ước có đủ thẩm quyền đưa ra nghị quyết, chỉ thị, quy tắc)

Vai trò, hiệu lực, tác dụng cũng như mối quan hệ qua lại giữa các điều ước quốc tế về thương mại thế giới với luật quốc gia thường do tính chất của các loại điều ước nói trên quyết định

Về tên gọi, các điều ước quốc tế về thương mại có thể được gọi là Hiệp định thương mại, Công ước, Hiệp ước

Một trong những điều ước quốc tế quan trọng điều chỉnh lĩnh vực ký kết và thực hiện HĐMBHHQT là Công ước Viên 1980 về Hợp đồng MBHHQT Công ước gồm 3 phần 101 điều quy định rõ những vấn đề liên quan tới việc

ký kết và thực hiện HĐMBHHQT Công ước là kết quả của một quá trình cố gắng, là một thành tựu đáng kể của Liên hợp quốc nhằm tiến tới việc nhất thể hóa luật về mua bán quốc tế, loại bỏ những cản trở do những quy định quá khác xa nhau trong hệ thống pháp luật quốc gia về những vấn đề liên quan đến thủ tục ký kết và thực hiện hợp đồng giữa người mua với người bán

Tuy nhiên, Công ước Viên chỉ đương nhiên áp dụng cho những hợp đồng mua bán giữa những nước là thành viên tham gia Công ước Cho đến nay Việt Nam vẫn chưa tham gia Công ước Viên 1980, vì vậy, Công ước này chỉ được áp dụng để điều chỉnh những HĐMBHHQT mà các chủ thể Việt Nam đã ký với các thương nhân hoặc pháp nhân nước ngoài nếu trong HĐMBHHQT có các điều khoản sẽ áp dụng Công ước Viên 1980, hoặc hai bên thỏa thuận với nhau sẽ dựa vào Công ước Viên để giải quyết những tranh chấp về HĐMBHHQT Nếu không có thỏa thuận đó Công ước viên 1980 sẽ

Trang 26

không có ý nghĩa, không có bất kỳ giá trị pháp lý nào đối với các chủ thể Việt Nam

Vì vậy, những điều ước quốc tế về thương mại mà Nhà nước ta không

ký kết, chưa ký kết, tham gia hoặc không thừa nhận thì không có giá trị bắt buộc đối với các chủ thể Việt Nam trong HĐMBHHQT Những điều ước quốc tế này không phải là nguồn luật đương nhiên của HĐMBHHQT do các chủ thể Việt Nam ký kết với thương nhân và pháp nhân nước ngoài Chúng chỉ trở thành nguồn luật điều chỉnh HĐMBHHQT nếu các bên thỏa thuận dẫn chiếu tới chúng trong hợp đồng

Khi áp dụng điều ước quốc tế để điều chỉnh HĐMBHHQT, cần phải chú ý đến tính chất pháp lý của các loại quy phạm có trong điều ước quốc tế

đó Nếu là các loại quy phạm có tính chất mệnh lệnh, các bên đương sự là chủ thể của HĐMBHHQT phải tuyệt đối tuân thủ Nếu làm sai, hợp đồng đó sẽ vô hiệu Nếu là quy phạm có tính chất tùy nghi, các bên có thể tuân theo hoặc không tuân theo mà hợp đồng vẫn có giá trị Nếu trong các điều ước quốc tế

về MBHHQT (mà Chính phủ Việt Nam đã tham gia ký kết hoặc do các bên dẫn chiếu tới) có những quy định khác với luật pháp Việt Nam thì, theo Luật ký kết và thực hiện điều ước quốc tế ngày 14/6/2006 và Bộ luật Dân sự năm 2005 tại Điều 759 và 760 có thể giải quyết theo phương thức phù hợp với điều kiện thực hiện và không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam:

Đối với điều ước quốc tế về thương mại quốc tế mà Nhà nước ta đã tham gia ký kết và phê chuẩn chúng ta sẽ tuân thủ theo những quy định trong điều ước quốc tế;

Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của pháp luật Việt Nam thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó

Trong trường hợp pháp luật Việt Nam, các văn bản pháp luật khác của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã

Trang 27

hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên dẫn chiếu đến việc áp dụng pháp luật nước ngoài thì pháp luật của nước đó được áp dụng, nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trường hợp pháp luật nước đó dẫn chiếu trở lại pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì áp dụng pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 759 Bộ luật Dân sự 2005)[10, tr 325]

Pháp luật nước ngoài cũng được áp dụng trong trường hợp các bên có thỏa thuận trong hợp đồng, nếu sự thỏa thuận đó không trái với quy định của pháp luật Việt Nam và các văn bản pháp luật khác của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trong trường hợp quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài không được pháp luật Việt Nam điều chỉnh, các văn bản pháp luật khác của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc hợp đồng giữa các bên điều chỉnh thì áp dụng tập quán quốc tế, nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Những quy phạm pháp luật của điều ước quốc tế là những quy phạm luật thực chất đã được các quốc gia thống nhất Do vậy, dựa vào điều ước quốc tế, các chủ thể của HĐMBHHQT, dù ở các nước khác nhau, có thể sẽ có một sự hiểu thống nhất trong việc giải quyết nhanh chóng tranh chấp phát sinh, tiết kiệm thời gian Song hiện nay, đối với Việt Nam thì do nước ta chưa

ký nhiều điều ước quốc tế về mua bán hàng hóa trong thương mại với các nước ngoài, đặc biệt là các nước các nước phát triển, nên điều ước quốc tế về thương mại và HĐMBHHQT với ý nghĩa là nguồn luật điều chỉnh HĐMBHHQT chưa phát huy thật sự vai trò của nó

1.2.2.2 Luật quốc gia

Vấn đề về quyền và nghĩa vụ của các bên trong HĐMBHHQT, các chủ thể của hợp đồng có thể lựa chọn luật pháp của một quốc gia nào đó để

Trang 28

giải quyết các quan hệ hợp đồng Trong trường hợp này, luật quốc gia trở thành nguồn luật điều chỉnh HĐMBHHQT

Luật quốc gia của một nước sẽ được áp dụng cho HĐMBHHQT khi:

- Các bên thỏa thuận trong HĐMBHHQT, điều này có nghĩa là ngay từ lúc đàm phán ký kết hợp đồng, các bên có thể thỏa thuận đưa vấn đề này vào thành một điều khoản của HĐMBHHQT, gọi là điều khoản về luật áp dụng

- Các bên thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng sau khi hợp đồng sau khi HĐMBHHQT đã được ký kết Phương pháp này thường được

áp dụng khi trong hợp đồng mua bán hàng hóa mà các bên đã ký kết trước đó,

vì một lý do có tính chất khách quan hoặc chủ quan (hợp đồng được soạn thảo quá đơn giản, ngắn gọn để chớp thời cơ, chính bản thân các bên ký kết chưa thấy rõ được tầm quan trọng của điều khoản luật áp dụng ) không có điều khoản về luật áp dụng Lúc này thường là tranh chấp đã xảy ra nhưng các bên vẫn có thể đàm phán với nhau để thỏa thuận chọn luật áp dụng Tất nhiên, trong thực tế, trường hợp này rất khó có được một sự nhất trí trong việc chọn luật của nước nào trong số luật của hai nước liên quan, song, nếu chúng ta chọn luật của nước thứ ba hoặc dẫn chiếu tới một điều ước quốc tế thì vấn đề cũng có thể được tháo gỡ

- Khi luật đó được quy định trong các điều ước quốc tế liên quan Điều này có nghĩa là nếu trong các điều ước quốc tế mà quốc gia đã tham gia

ký kết (hoặc thừa nhận) có quy định điều khoản về luật áp dụng cho các hợp đồng mua bán quốc tế thì luật đó đương nhiên được áp dụng, các chủ thể của HĐMBHHQT không phải mất thời gian đàm phán về vấn đề đó nữa

Luật quốc gia được các bên lựa chọn có thể là luật nước người bán, luật nước người mua, luật của nước thứ ba hoặc luật của bất kỳ nước nào khác

có mối liên quan với HĐMBHHQT, chẳng hạn như luật nơi ký kết hợp đồng, luật nơi thực hiện nghĩa vụ, như thanh toán, giao hàng…

Việc chọn luật của nước nào hoàn toàn do các chủ thể của HĐMBHHQT tự thỏa thuận và quyết định Thông thường đối với các tổ chức,

Trang 29

cá nhân Việt Nam chúng ta luôn muốn áp dụng luật Việt Nam làm luật điều chỉnh cho HĐMBHHQT của mình Nhưng ngược lại, đối tác đàm phán cũng lại chỉ muốn áp dụng luật của chính nước họ Nếu hai bên không nhân nhượng nhau thì việc ký kết hợp đồng có thể bị cản trở Trong trường hợp này, ta có thể đề nghị với đối phương cùng chọn luật của nước thứ ba hoặc bản thân đối phương cùng chọn luật của nước thứ ba hoặc bản thân đối tác cũng có thể đề nghị hãy áp dụng luật của nước thứ ba nào đó

Khi nói luật quốc gia là nguồn luật điều chỉnh HĐMBHHQT không có nghĩa là toàn bộ hệ thống luật quốc gia đều được đem áp dụng, mà chỉ áp dụng những văn bản pháp luật có liên quan tới MBHHQT nói chung và hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng Trong hệ thống luật quốc gia, luật có liên quan tới MBHHQT là luật dân sự (civil law), luật thương mại (commercial law)

Đặc biệt, khi pháp luật Việt Nam được chọn áp dụng để điều chỉnh các mối quan hệ về HĐMBHHQT nhưng ở Việt Nam, ngoài những quy định chung của luật dân sự còn có những quy tắc pháp luật được quy định để điều chỉnh riêng những mối quan hệ phát sinh từ hợp đồng trong hoạt động kinh doanh, thương mại (Luật thương mại, Luật sở hữu trí tuệ, Luật xây dựng…) Vậy chúng ta sẽ dựa vào những quy tắc nào? Chúng ta chỉ áp dụng những quy tắc đã giành riêng cho những hợp đồng đặc thù Nói một cách cụ thể hơn, nếu luật áp dụng cho HĐMBHHQT là luật Việt Nam thì những quy định về hợp đồng mua bán có trong Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại Việt Nam 2005

sẽ được áp dụng Ngoài ra còn có những quy định trong luật và các văn bản luật khác liên quan đến MBHHQT thuộc lĩnh vực đặc thù cũng sẽ được áp dụng

1.2.2.3 Tập quán quốc tế về thương mại

Tập quán quốc tế về thương mại cũng là nguồn luật của HĐMBHHQT Tập quán thương mại là những thói quen thương mại được công nhận rộng

Trang 30

rãi Những thói quen thương mại sẽ được công nhận và trở thành tập quán thương mại khi thỏa mãn ba yêu cầu sau:

- Là một thói quen phổ biến, được nhiều nước áp dụng và áp dụng thường xuyên

- Về từng vấn đề và ở từng địa phương, đó là thói quen độc nhất

- Là một thói quen có nội dung rõ ràng mà người ta có thể dựa vào đó

để xác định quyền và nghĩa vụ đối với nhau

Thông thường, các tập quán thương mại quốc tế được chia thành ba nhóm: các tập quán có tính chất nguyên tắc; các tập quán thương mại quốc tế chung và các tập quán thương mại khu vực

Tập quán thương mại quốc tế chung là các tập quán thương mại được nhiều nước công nhận và áp dụng ở nhiều nơi, nhiều khu vực: các điều kiện thương mại quốc tế do Phòng thương mại quốc tế tập hợp và soạn thảo (gọi tắt là Incoterms 1953 - 1980 - 1990 - 2000) trong đó quy định các điều kiện thương mại khác nhau (như điều kiện FOB, CFR ) được rất nhiều nước trên thế giới thừa nhận và áp dụng

Các tập quán thương mại khu vực (địa phương) là các tập quán thương mại quốc tế được áp dụng ở từng nước, từng khu vực hoặc từng cảng Ví dụ,

ở Hoa kỳ cũng có điều kiện FOB nhưng theo điều kiện FOB Hoa Kỳ, nghĩa

vụ của người bán sẽ nặng hơn nhiều (như người bán phải thuê tàu hộ người mua) so với nghĩa vụ của người bán FOB trong Incoterms 1990

Trong các loại tập quán quốc tế về thương mại Incoterms là một loại

có nội dung bao hàm nhiều nhất, phạm vi sử dụng rộng rãi nhất và ảnh hưởng lớn nhất

Ngoài ba nguồn nói trên, thực tiễn buôn bán của các nước phương Tây còn thừa nhận cả án lệ và các bản điều kiện chung, các hợp đồng mẫu chuyên nghiệp làm nguồn luật áp dụng cho hợp đồng mua bán ngoại thương

Trang 31

Tập quán quốc tế về thương mại sẽ được áp dụng cho HĐMBHHQT trong các trường hợp:

- Khi chính HĐMBHHQT quy định

- Khi các điều ước quốc tế liên quan quy định

- Khi luật thực chất (luật quốc gia) do các bên thỏa thuận lựa chọn, không có hoặc có nhưng không đầy đủ, còn khiếm khuyết về vấn đề tranh chấp, về vấn đề cần được điều chỉnh

Trong ba trường hợp trên, tập quán thương mại quốc tế sẽ được áp dụng để điều chỉnh HĐMBHHQT

Tuy nhiên, cần chú ý là: vì tập quán quốc tế thường có nhiều loại cho nên, để tránh sự nhầm lẫn hoặc sự hiểu không thống nhất về một tập quán nào

đó Khi áp dụng tập quán thương mại quốc tế, các bên cần phải chứng minh nội dung của tập quán đó Bởi vậy, sẽ là thuận lợi nếu người bán và người mua có được thông tin đầy đủ về tập quán thương mại khi họ bước vào đàm phán ký kết HĐMBHHQT Tập quán quốc tế hoặc thông tin về các tập quán quốc tế có thể tìm ở sách báo, tài liệu hoặc ở các văn bản của các Phòng Thương mại, ở các cơ quan đại diện Thương mại của Việt Nam nằm ở nước ngoài

Theo quy định của Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005 các bên trong hợp đồng được thỏa thuận áp dụng mọi điều ước và tập quán thương mại quốc tế nếu điều ước hoặc tập quán thương mại đó không trái với các nguyên tắc cơ bản pháp luật Việt Nam

Trang 32

Chương 2

CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 2005

VÀ PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ

2.1 NHỮNG TẬP QUÁN THƯƠNG MẠI THƯỜNG HAY SỬ DỤNG TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ QUY ĐỊNH TẠI INCOTERMS

Buôn bán hàng hóa quốc tế có đặc điểm là hàng hóa được vận chuyển trên quãng đường dài, qua nhiều khâu liên quan đến hải quan, ngân hàng, bảo hiểm và mang tính rủi ro cao Do vậy, để đảm bảo quyền lợi cho mình, các bên thường đàm phán rất kỹ và quy định chi tiết, cụ thể trong hợp đồng về các vấn đề như: địa điểm giao hàng, phương thức giao hàng, nghĩa vụ của mỗi bên trong việc gánh chịu rủi ro, chi phí; trách nhiệm các bên trong việc làm thủ tục thông quan xuất khẩu, nhập khẩu

Ngày nay, các công việc đó được các bên tiến hành tương đối nhanh chóng và thuận lợi nhờ sử dụng các điều kiện đã trở thành tập quán thông dụng trong thương mại quốc tế Những điều kiện này được sử dụng và giải thích thông qua các thuật ngữ trong thương mại quốc tế Đây là các thuật ngữ

đã hình thành từ lâu trong thực tiễn buôn bán hàng hóa quốc tế dùng để biểu thị rủi ro, trách nhiệm của các bên đối với việc chịu chi phí vận tải, bảo hiểm

và các chi phí khác

Việc nghiên cứu các thuật ngữ về những điều kiện tập quán trong thương mại quốc tế này giúp chúng ta xác định chính xác quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng Đồng thời, việc sử dụng các thuật ngữ này cũng giúp cho quá trình đàm phán và ký kết hợp đồng của các bên diễn ra nhanh chóng, tiết kiệm thời gian và chi phí Thay vì phải đàm phán về một loạt các vấn đề như trên các bên chỉ cần chỉ ra thuật ngữ sẽ được áp dụng trong hợp đồng Ngoài ra, việc sử dụng các điều kiện mang tính tập quán thương mại

Trang 33

quốc tế còn giúp cho văn bản hợp đồng ngắn gọn, súc tích tạo điều kiện thuận lợi cho các bên cũng như các chủ thể có liên quan như hải quan, công ty bảo hiểm, ngân hàng thực hiện nhiệm vụ của mình

Để các chủ thể kinh doanh hiểu thống nhất về các thuật ngữ thương mại quốc tế này Phòng Thương mại quốc tế đã soạn thảo và ban hành một văn bản tập hợp các quy tắc giải thích thống nhất các thuật ngữ đó gọi là INCOTERMS (International commerial terms) Bản quy tắc này được ban hành lần đầu tiên vào năm 1936 và đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần vào các năm 1953, 1967, 1976, 1980, 1990, 2000 Sau đây là một số thuật ngữ thương mại được sử dụng rộng rãi nhất theo cách giải thích của Incoterms

1990 và Incoterms 2000, bao gồm FOB, CFI, CFR (dùng trong vận tải đường biển và vận tải nội thủy) và FCA, CPT, CIP… (dùng cho các phương thức vận tải khác nhau)

2.1.1 FOB (Free on board) - Giao hàng lên tàu

Theo quy định về FOB: "Giao hàng lên tàu" có nghĩa là người bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng khi hàng hóa được chuyển qua khỏi lan can tàu tại cảng giao hàng quy định Điều này có nghĩa là người mua phải chịu rủi

ro và chi phí về việc mất mát hoặc hư hỏng hàng hóa kể từ lúc đó Điều kiện FOB đòi hỏi người bán phải hoàn tất thủ tục hải quan xuất khẩu cho hàng hóa Điều kiện này chỉ sử dụng cho việc vận chuyển hàng hóa bằng đường biển, nếu các bên không muốn giao hàng qua lan can tàu thì nên sử dụng điều kiện FCA [25, tr 317]

Từ quy định trên có thể thấy rằng trong điều kiện FOB thì người bản

có nghĩa vụ cơ bản sau: Cung cấp hàng cho người mua theo đúng hợp đồng cùng với các chứng từ phù hợp; chịu trách nhiệm thông quan xuất khẩu và chịu mọi chi phí, rủi ro về việc đó; giao hàng lên tàu do người mua chỉ định tại cảng bốc hàng quy định vào thời gian đã nêu trong hợp đồng và thông báo cho bên mua biết: chịu mọi rủi ro về mất mát hư hại hàng hoá và chịu mọi chi phí cho mua thời điểm hàng đã qua lan can tàu lại cảng bốc xếp đã quy định

Trang 34

Còn nghĩa vụ cơ bản của người mua là trả tiền hàng, thuê tàu và trả cước phí bảo hiểm, thông báo cho bên bản biết thời gian tàu đến cảng bốc xếp Nếu bên bán đưa hàng đến cảng bốc xếp đúng thời gian quy định mà bên mua chưa có tàu để sẵn sàng xếp hàng thì mọi chi phí phát sinh do bên mua gánh chịu Bên mua còn phải gánh chịu toàn bộ trách nhiệm, rủi ro, chi phí kể từ khi hàng hóa đã chuyển qua lan can tàu Tuy nhiên, trong nghiệp vụ MBHHQT,

để sử dụng FOB một cách linh hoạt và hiệu quả cần chú ý các vấn đề sau đây:

- Nếu người mua không nắm vững tập quán cảng nước ngoài thì phải yêu cầu ghi thêm chi tiết về chi phí bốc xếp Ví dụ: FOB Under Tackle: bên bán chỉ đưa hàng tới chỗ cấu hàng lên tàu, các chi phí còn lại do bên mua chịu

- Khi sử dụng thuật ngữ FOB khi ký kết hợp đồng với các nước Bắc

Mỹ cần thận trọng bởi vì quy định về FOB trong "bản sửa đổi định nghĩa ngoại thương năm 1941" mà các nước Bắc Mỹ sử dụng có điều khoản 6 loại FOB quy định ranh giới phân chia rủi ro, chi phí, trách nhiệm không phải là lan can mà là lên tàu, ví dụ:

FOB (named inland carrier at named inland point of departure) Freight Allowed to (Named point) - FOB(Người chuyên chở nội địa quy định tại điểm khởi hành nội địa quy định) cước phí đã trừ tới (điểm quy định): theo

điều kiện này giá quy định chỉ áp dụng tại điểm gửi hàng nội địa và người bán thu xếp việc bốc hàng trên, hoặc gửi trong toa xe lửa đường sắt, ô tô vận tải,

sà lan, thuyền, máy bay, hoặc phương tiện khác dùng cho việc chuyên chở Theo quy định này:

Người bán phải: Đặt hàng hóa trên hoặc trong phương tiện chuyên chở hoặc giao hàng cho người chuyên chở nội địa để bốc hàng; cung cấp vận đơn hoàn hảo hoặc biên nhận vận tải khác, cước phí trả sau; chịu trách nhiệm về bất cứ mất mát hư hại nào, hay cả hai, cho tới khi hàng hóa đã được đặt trên hoặc trong phương tiện chuyên chở tại điểm bốc hàng, và vận đơn hoàn hảo hay biên nhận vận tải khác đã được người chuyên chở cung cấp; giúp đỡ người mua, theo yêu cầu và phí tổn của người mua, nhận được các chứng từ

Trang 35

phát hành ở nước xuất xứ, hoặc nước gửi hàng, hoặc cả hai mà người mua có thể cần đến hoặc cho việc xuất khẩu, hoặc cho việc nhập khẩu tại nơi đến

Người mua phải: Chịu trách nhiệm đối với toàn bộ sự chuyên chở hàng hóa từ điểm bốc hàng nội địa, và trả toàn bộ chi phí vận tải; trả thuế xuất khẩu, hoặc chi phí hay phí tổn khác, nếu có, được thu vì việc xuất khẩu; chịu trách nhiệm đối với bất cứ mất mát hay hư hại nào, hoặc cả hai, xảy ra sau khi bốc hàng tại điểm khởi hành nội địa quy định; trả toàn bộ chi phí tổn và chi phí để lấy các chứng từ phát hành ở nước xuất xứ, hoặc nước gửi hàng, hoặc

cả hai mà người mua cần đến hoặc cho việc xuất khẩu, hoặc cho việc nhập khẩu tại nơi đến [33, tr 87]

2.1.2 FCA (Free Carrier) - Giao cho người chuyên chở

Theo quy định về FCA: "Giao cho người chuyên chở" có nghĩa là người bán giao hàng đã hoàn tất thủ tục hải quan xuất khẩu cho người chuyên chở được chỉ định bởi người mua tại nơi quy định Cần chú ý là địa điểm được lựa chọn để giao hàng có ảnh hưởng quan trọng đến nghĩa vụ bốc hàng

và dỡ hàng tại địa điểm đó [25, tr 275]

Nếu giao hàng được thực hiện tại cơ sở của người bán, người bán có trách nhiệm chất hàng lên phương tiện Nếu việc giao hàng được thực hiện ở bất cứ nơi nào khác, thì người bán không có trách nhiệm dỡ hàng ra khỏi phương tiện

Điều kiện FCA áp dụng không phân biệt phương tiện vận tải nào được

sử dụng, sử dụng cả cho phương tiện vận tải đa phương thức

Theo quy định của FCA thì "Người chuyên chở" là bất cứ người nào

đó theo hợp đồng vận tải đứng ra thực hiện hay chịu trách nhiệm về việc thực hiện vận chuyển bằng đường sắt, đường bộ, đường hàng không, đường biển, đường thủy nội địa hoặc bằng việc kết hợp các phương thức kể trên

Nếu người mua chỉ định một người khác không phải là người vận chuyển để nhận hàng, thì người bán được coi là hoàn thành nghĩa vụ giao hàng của mình khi đã giao hàng cho người đó

Trang 36

Từ quy định trên của điều kiện FCA có thể thấy rằng: FCA được áp dụng với bất kỳ phương thức vận tải nào Nhìn chung, nghĩa vụ của bên mua

và bên bán trong điều kiện giao hàng FCA cũng giống như trong điều kiện FOB, chỉ khác về thời điểm chuyển dịch rủi ro, chi phí, trách nhiệm FCA không lấy lan can tàu làm ranh giới chuyển dịch rủi ro, chi phí, trách nhiệm

mà lấy nơi giao hàng cho người vận tải làm ranh giới Theo FCA người bán chỉ chịu rủi ro đến khi hàng hóa được đặt dưới sự quản lý của người vận chuyển được chỉ định Khi rủi ro được chuyển dịch từ người bán sang người mua thì trách nhiệm và chi phí cũng chuyển dịch theo

Điều kiện giao hàng FCA theo Incoterms 2000 còn quy định rõ: nếu địa điểm giao hàng là một cơ sở của người bán thì người bán chỉ chịu chi phí đến khi hàng đã được xếp lên phương tiện vận tải do người mua đưa đến Nếu địa điểm giao hàng là nơi khác cơ sở của người bán thì người bán chịu chi phí cho đến khi hàng hóa đã được đặt dưới sự định đoạt của người mua trên phương tiện của mình mà không phải trả chi phí dỡ hàng xuống Tuy nhiên, Incoterms 2000 lại không đề cập đến việc giao nhận, vận chuyển theo phương thức nào như Incoterms 1990

2.1.3 CFR (Cost and Freight) - Tiền hàng và cước phí

Theo quy định về CFR: "Tiền hàng và cước phí " có nghĩa là người bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng khi hàng hóa được chuyển qua khỏi lan can tầu tại cảng giao quy định Người bán phải trả tiền hàng và cước phí cần thiết để mang hàng tới cảng dỡ hàng nơi đến nhưng rủi ro về việc mất mát hoặc hư hỏng hàng hóa cũng như bất cứ chi phí phát sinh thêm do những sự cố xẩy ra sau khi giao hàng đã được chuyển từ người bán sang người mua kể từ lúc đó [25, tr 335]

Điều kiện CFR đòi hỏi người bán phải hoàn tất thủ tục hải quan xuất khẩu cho hàng hóa

Điều kiện CFR chỉ sử dụng cho việc vận chuyển hàng hóa bằng đường biển và đường thủy nội địa, nếu các bên không muốn giao hàng qua lan can tàu thì nên sử dụng điều kiện CPT

Trang 37

Từ những quy định trên của điều kiện CFR có thể thấy rằng: cũng giống như FOB, người bán hàng theo điều kiện CFR cũng phải giao hàng tại cảng bốc xếp chịu trách nhiệm, chi phí và rủi ro trong việc làm thủ tục thông quan xuất khẩu, thông báo cho bên mua về việc giao hàng lên tàu CFR cũng lấy lan can tàu làm ranh giới chuyển dịch rủi ro Nhưng trách trách của người bán theo điều kiện CFR nặng nề hơn trách nhiệm của người bán theo điều kiện FOB ở chỗ người bán theo điều kiện CFR phải chịu trách nhiệm ký hợp đồng vận tải và chịu cước phí vận chuyển Một lưu ý rất quan trọng cho bên bán khi ký hợp đồng bán hàng theo điều kiện CFR là sau khi bốc xếp hàng lên tàu, bên bán cần gửi thông báo bốc xếp kịp thời cho bên mua Nếu bên bán không thông báo kịp thời để bên mua bảo hiểm cho hàng hóa thì những rủi ro đối với hàng hóa trên đường vận chuyển do bên bán phải gánh chịu Điều này

đã được quy định rõ ràng trong luật một số nước (ví dụ: Luật mua bán hàng hóa năm 1893 - bản sửa đổi năm 1979 của Anh) Hơn nữa, nếu không thông báo kịp thời cho bên mua có thể được coi là sự vi phạm hợp đồng của bên bán

và những chi phí phát sinh (ví dụ: tiền bên mua bị phạt do tàu phải lưu lại cảng đích chờ bốc hàng) do bên bán phải chịu

Theo Incoterms 2000, điều kiện CFR có sự thay đổi so với Incoterms

1990 Nghĩa vụ cung cấp hợp đồng thuê tàu cho người mua bị loại bỏ bởi vì thực tế nghĩa vụ này thường gây khó khăn cho người bán khi thanh toán bằng thư tín dụng

2.1.4 CPT (Cariage paid to) - Cước phí đã trả tới

Theo quy định về CPT: "Cước phí đã trả tới " có nghĩa là người bán hoàn thành nghĩa vụ khi đã giao hàng cho người vận chuyển do chính mình chỉ định, nhưng người bán chịu thêm chi phí cần thiết để mang hàng đến địa điểm đích quy định Theo quy định về CPT thì người mua phải chịu mọi rủi ro và bất

cứ chi phí nào khác phát sinh sau khi hàng đã được giao như thế [25, tr 377]

Theo CPT thì "Người chuyên chở" là một người nào đó, theo hợp đồng vận tải chịu trách nhiệm thực hiện hoặc ủy quyền cho người khác thực

Trang 38

hiện việc vận chuyển bằng đường sắt, đường bộ, đường hàng không, đường biển, đường thủy nội địa hoặc vận chuyển đa phương thức

Nếu có nhiều người vận chuyển nối tiếp nhau được sử dụng để vận chuyển hàng hóa đến địa điểm đích quy định, thì rủi ro được chuyển giao khi hàng hóa đó được giao xong cho người vận chuyển đầu tiên

Điều kiện CPT đòi hỏi người bán phải hoàn tất thủ tục hải quan xuất khẩu cho hàng hóa

Điều kiện này được sử dụng không phân biệt phương thức tiện vận chuyển hàng hóa bằng gì, được sử dụng cả cho phương tiện vận tải đa phương thức

Từ những quy định tại điều kiện CPT có thể thấy rằng: thuật ngữ CPT

có điểm giống với các thuật ngữ CFR ở chỗ rủi ro chuyển dịch trước (tại thời điểm người bán giao hàng cho người vận tải), chuyển dịch chi phí và trách nhiệm sau (người bán phải vận chuyển hàng hóa tới đích và trả cước phí) Ngoài ra, hợp đồng ký kết theo hai loại thuật ngữ này thì người bán chỉ có nghĩa vụ giao hàng đúng hẹn chứ không có nghĩa vụ phải đảm bảo hàng đến đích đúng hẹn

Tuy nhiên thuật ngữ CPT khác với thuật ngữ CFR ở hai điểm chủ yếu sau:

- CPT được áp dụng cho bất kỳ phương thức vận chuyển nào còn CFR chỉ thích hợp với vận tải đường biển hoặc nội thủy

- CPT lấy địa điểm xa thời điểm giao hàng cho người vận tải đầu tiên

để xác định ranh giới di chuyển rủi ro con CFR lại lấy lan can tàu làm ranh giới

2.1.5 CIF (Cost - Insurance - Freight) - Tiền hàng, bảo hiểm và cước phí

Theo quy định về CIF: "Tiền hàng, bảo hiểm và cước phí" có nghĩa là người bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng khi hàng hóa được chuyển qua khỏi lan can tàu tại cảng giao hàng quy định

Người bán phải trả tiền hàng và cước phí cần thiết để mang hàng tới cảng dỡ hàng nơi đến nhưng rủi ro về việc mất mát hư hỏng hàng hóa cũng

Trang 39

như bất cứ chi phí phát sinh thêm do những sự cố xảy ra sau khi giao hàng đã được chuyển từ người bán sang người mua kể từ lúc đó Tuy nhiên, trong điều kiện CIF người bán cũng phải mua bảo hiểm để phân tán rủi ro cho người mua về mất mát hoặc hư hỏng hàng hóa xảy ra trong thời gian vận chuyển

Kết quả là người bán phải ký hợp đồng bảo hiểm và trả phí bảo hiểm Người mua nên biết rằng theo điều kiện CIF người bán chỉ có trách nhiệm mua bảo hiểm ở mức tối thiểu Nếu người mua muốn được bảo hiểm ở mức cao hơn, thì hoặc là phải thỏa thuận cụ thể với người bán hoặc tự mình dàn xếp để mua thêm bảo hiểm cho hàng hóa của mình

Điều kiện này chỉ sử dụng cho việc vận chuyển hàng hóa bằng đường biển và đường thủy nội địa Nếu các bên không muốn giao hàng qua lan can tàu thì nên sử dụng điều kiện CIP [25, tr 355]

Từ quy định trên của điều kiện CIF có thể thấy rằng: đây cũng là thuật ngữ giao hàng tại cảng bốc xếp như FOB, tuy nhiên nghĩa vụ của người bán hàng theo điều kiện CIF nặng nề hơn theo điều kiện FOB Theo Incoterms

1990, người bán ngoài việc làm thủ tục thông quan xuất khẩu và thông báo cho người mua về việc giao hàng còn phải tự mình ký kết các hợp đồng thuê tàu, hợp đồng bảo hiểm cho hàng hóa, trả cước phí vận chuyển và phí bảo hiểm Tuy chi phí và trách nhiệm của bên bán tới cảnh đích nhưng rủi ro được chuyển dịch từ bên bán sang bên mua khi hàng hóa vượt qua lan can tàu Theo cách giải thích mà các bản Incorterms đưa ra thì bên mua phải chịu cả chi phí dỡ hàng tại cảng đích và bên bán chỉ có nghĩa vụ cung cấp mức bảo hiểm tối thiểu với thời hạn bảo hiểm là từ khi hàng hóa vượt qua lan can tàu cho đến cảng đích

Tóm lại, khi sử dụng thuật ngữ CIF trong hoạt động các bên phải lưu

ý những điểm sau đây:

- Ghi chính xác cảng đích phía sau thuật ngữ CIF

- Incoterms 2000 quy định bên bán không có nghĩa vụ phải cung cấp hợp đồng thuê tàu (mặc dù vẫn phải chịu trách nhiệm trả cước phí)

Trang 40

- Khi ký kết hợp đồng có sử dụng thuật ngữ CIF các bên quy định cụ thể về các vấn đề sau: Biên bản chỉ có trách nhiệm mua những loại bảo hiểm nào, thuê khoang tàu đạt tiêu chuẩn nào và ai là người chịu cước phí khi dỡ hàng tại cảng đích Điều này đặc biệt cần thiết khi ký kết hợp đồng với các đối tác Bắc Mỹ bởi vì các nước Bắc Mỹ thường sử dụng các thuật ngữ theo cách giải quyết của "Bản sửa đổi định nghĩa Ngoại thương của Mỹ năm 1941"

mà cách giải thích này rất mơ hồ

2.1.6 CIP (Carriage insurance Paid to) - Cước phí và bảo hiểm đã trả tới

Theo quy định về CIP: "Cước phí và bảo hiểm đã trả tới" có nghĩa là người bán hoàn thành nghĩa vụ khi đã giao hàng cho người vận chuyển do chính mình chỉ định, nhưng người bán chịu thêm chi phí cần thiết để mang hàng đến địa điểm đích quy định Điều này có nghĩa là người mua phải chịu mọi rủi ro và bất cứ chi phí nào khác phát sinh sau khi hàng đã được giao như thế Tuy nhiên, theo điều kiện CIP người bán cũng phải mua bảo hiểm để phân tán rủi ro cho người mua về mất mát hoặc hư hỏng hàng hóa xảy ra trong thời gian vận chuyển [25, tr 397]

Kết quả là người bán phải ký hợp đồng bào hiểm và trả phí bảo hiểm Khi áp dụng điều kiện này, người mua nên biết rằng theo điều kiện CIP người bán chỉ có trách nhiệm mua bảo hiểm ở mức tối thiểu Nếu người mua muốn được bảo hiểm ở mức cao hơn, thì hoặc là phải thỏa thuận cụ thể hơn với người bán hoặc tự mình dàn xếp để mua bảo hiểm cho hàng hóa của mình

"Người chuyên chở" là một người nào đó, theo hợp đồng vận tải, chịu trách nhiệm thực hiện hoặc ủy quyền cho người khác thực hiện việc vận chuyển bằng đường sắt, đường bộ, đường hàng không, đường biển, đường thủy nội địa hoặc vận chuyển đa phương thức

Như vậy, thuật ngữ CIP có nhiều điểm giống với thuật ngữ CPT và CIF (các thuật ngữ này đã được trình bày ở trên) CIP giống CPT ở cách xác định địa điểm giao hàng và ranh giới phân định rủi ro CIP chỉ khác CPT ở

Ngày đăng: 25/03/2015, 14:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2006), Thông tư số 32/TT-BNN ngày 8/5 hướng dẫn thi hành Nghị định số 12/NĐ-CP của Chính phủ ngày 23/1/2006 về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 32/TT-BNN ngày 8/5 hướng dẫn thi hành Nghị định số 12/NĐ-CP của Chính phủ ngày 23/1/2006 về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2006
2. Bộ Thương mại (2006), Thông tư số 04/TT- BTM ngày 6/4 hướng dẫn thi hành Nghị định số 12/NĐ-CP ngày 23 /01/2006 của Chính phủ về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 04/TT- BTM ngày 6/4 hướng dẫn thi hành Nghị định số 12/NĐ-CP ngày 23 /01/2006 của Chính phủ về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế
Tác giả: Bộ Thương mại
Năm: 2006
3. Bộ Thương mại và Du lịch (1994), Quy định số 229/TMDL-XNK ngày 09/4 về ký kết và quản lý Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định số 229/TMDL-XNK ngày 09/4 về ký kết và quản lý Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Tác giả: Bộ Thương mại và Du lịch
Năm: 1994
4. Bộ Thương nghiệp (1991), Quy chế tạm thời số 4794 ngày 31/7 hướng dẫn ký kết Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế tạm thời số 4794 ngày 31/7 hướng dẫn ký kết Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Tác giả: Bộ Thương nghiệp
Năm: 1991
5. Chính phủ (1994), Nghị định 33/CP ngày 19/4 về quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất, nhập khẩu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 33/CP ngày 19/4 về quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất, nhập khẩu
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1994
6. Chính phủ (1998), Nghị định 57/1998/NĐ-CP ngày 31/7 quy định chi tiết về xuất nhập khẩu, gia công, đại lý mua bán hàng hóa với nước ngoài, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 57/1998/NĐ-CP ngày 31/7 quy định chi tiết về xuất nhập khẩu, gia công, đại lý mua bán hàng hóa với nước ngoài
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1998
7. Chính phủ (1999), Quyết định 242/1999/QĐ-TTg ngày 30/12 của Thủ tướng Chính phủ về điều hành xuất nhập khẩu hàng hóa năm 2000, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 242/1999/QĐ-TTg ngày 30/12 của Thủ tướng Chính phủ về điều hành xuất nhập khẩu hàng hóa năm 2000
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1999
8. Chính phủ (2006), Nghị định số 12/NĐ-CP ngày 23/01 quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 12/NĐ-CP ngày 23/01 quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
12. Tổng cục Hải quan (1998), Thông tư 04-1998/TT-TCHQ ngày 29/8 hướng dẫn thi hành Chương II, chương IV của Nghị định 57/1998/NĐ-CP ngày 31/7/1998 của Chính phủ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 04-1998/TT-TCHQ ngày 29/8 hướng dẫn thi hành Chương II, chương IV của Nghị định 57/1998/NĐ-CP ngày 31/7/1998 của Chính phủ
Tác giả: Tổng cục Hải quan
Năm: 1998
13. Tổng cục Hải quan (1998), Thông tư 06-1998/TT-TCHQ ngày 03/9 hướng dẫn thi hành đăng ký, quản lý sử dụng mã số doanh nghiệp tiến hành hoạt động xuất, nhập khẩu, Hà Nội.CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO KHÁC Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 06-1998/TT-TCHQ ngày 03/9 hướng dẫn thi hành đăng ký, quản lý sử dụng mã số doanh nghiệp tiến hành hoạt động xuất, nhập khẩu
Tác giả: Tổng cục Hải quan
Năm: 1998
15. Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan (quyển I - VI) (1995), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan (quyển I - VI)
Tác giả: Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan (quyển I - VI)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
16. Bộ luật thương mại và những ngoại lệ đặc biệt về kiểm soát của Nhật Bản (The commercial code anh the audit special exceptions law of Japan) (1994), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật thương mại và những ngoại lệ đặc biệt về kiểm soát của Nhật Bản (The commercial code anh the audit special exceptions law of Japan)
Tác giả: Bộ luật thương mại và những ngoại lệ đặc biệt về kiểm soát của Nhật Bản (The commercial code anh the audit special exceptions law of Japan)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
17. Bộ nguyên tắc của UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế 2004 (2005), Nxb Tƣ pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ nguyên tắc của UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế 2004
Tác giả: Bộ nguyên tắc của UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế 2004
Nhà XB: Nxb Tƣ pháp
Năm: 2005
19. Kinh nghiệm thực tế giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại, hàng hải (2005), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm thực tế giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại, hàng hải
Tác giả: Kinh nghiệm thực tế giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại, hàng hải
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
20. Kỹ thuật soạn thảo hợp đồng ngoại thương (1994), Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật soạn thảo hợp đồng ngoại thương
Tác giả: Kỹ thuật soạn thảo hợp đồng ngoại thương
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 1994
21. Luật mua bán hàng quốc tế (1993), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật mua bán hàng quốc tế
Tác giả: Luật mua bán hàng quốc tế
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1993
22. Nhà pháp luật Việt - Pháp (2002), Đại cương pháp luật về hợp đồng, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương pháp luật về hợp đồng
Tác giả: Nhà pháp luật Việt - Pháp
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2002
23. Những quy định chung của Luật hợp đồng ở Pháp, Đức, Anh, Mỹ (1993), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những quy định chung của Luật hợp đồng ở Pháp, Đức, Anh, Mỹ
Tác giả: Những quy định chung của Luật hợp đồng ở Pháp, Đức, Anh, Mỹ
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1993
24. Những quy định pháp lý của Việt Nam và Công ước quốc tế về giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu (1993), Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những quy định pháp lý của Việt Nam và Công ước quốc tế về giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu
Tác giả: Những quy định pháp lý của Việt Nam và Công ước quốc tế về giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1993
25. Võ Thu Thanh, Đoàn Thị Hồng Vân (2005), Incoterms 2000 & hỏi đáp về Incoterms, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Incoterms 2000 & hỏi đáp về Incoterms
Tác giả: Võ Thu Thanh, Đoàn Thị Hồng Vân
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm