Toàn bộ hệ thống quy phạm pháp luật vũ trụ quốc tế hiện nay khá đồ sộ và còn rất nhiều vấn đề đang được thảo luận trong quá trình tiếp tục hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật về lĩnh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THỊ THU HƯƠNG
Tìm hiểu pháp luật quốc tế, pháp luật một số nước trên thế giới và liên
hệ với pháp luật Việt Nam về hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng
khoảng không vũ trụ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2009
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THỊ THU HƯƠNG
Tìm hiểu pháp luật quốc tế, pháp luật một số nước trên thế giới và liên
hệ với pháp luật Việt Nam về hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng
khoảng không vũ trụ
Chuyên ngành: LUẬT QUỐC TẾ
Mã số : 60 38 60
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN BÁ DIẾN
Hà Nội – 2009
Trang 3ESA European Space Agency - Cơ quan vũ trụ Châu Âu
ITU International Telecommunication Union - Tổ chức viễn thông
quốc tế MPE
G
The moving picture experts group – Hội phim ảnh thế giới
mSv Mili-silvert - độ lớn của phông (môi trường) phóng xạ, môi
trường được mô tả qua liều hiệu dụng trung bình trong một năm mà mỗi người nhận được
Trang 4Danh mục hình ảnh
a Hình ảnh phóng vệ tinh Vinasat 1 của Việt Nam vào lúc
5h15 (giờ Việt Nam) ngày 19/4/2008 tại Kourou – Pháp
Tr 12
Trang 5Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu được trích dẫn theo những nguồn đã công bố Kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Phạm Thị Thu Hương
Trang 61.3 Lịch sử hình thành, phát triển pháp luật vũ trụ 12
1.3.2 Khái quát các cơ sở pháp luật về khoảng không vũ trụ 14
1.3.2.1 Năm điều ước quốc tế về khoảng không vũ trụ 15
1.3.2.2 Năm bộ nguyên tắc quốc tế về khoảng không vũ trụ 17
1.3.2.3 Các nguyên tắc cơ bản của luật vũ trụ quốc tế 19
1.3.2.4 Cơ quan quản lý các hoạt động ngoài khoảng không vũ trụ 27
1.3.2.5 Pháp luật quốc gia về khoảng không vũ trụ 31
Trang 7Chương II: Nội dung Pháp luật quốc tế, pháp luật quốc gia
về hoạt động thăm dò, khai thác và sử dụng khoảng không
2.1.5 Quyền của các quốc gia trong chế độ pháp lý của thể vũ trụ 43
2.2 Quy chế pháp lý quốc tế đối với nhà du hành vũ trụ 45
2.3 Quy chế pháp lý quốc tế về việc sử dụng vệ tinh nhân tạo của
các quốc gia trong việc phát sóng truyền hình quốc tế trực tiếp
47
2.4 Quy chế pháp lý quốc tế đối với việc quan sát Trái đất từ
khoảng không vũ trụ
51
2.5 Quy chế pháp lý quốc tế về việc sử dụng nguồn năng lượng hạt
nhân trong khoảng không vũ trụ
Trang 8khác trong hệ Mặt trời (ngoại trừ Trái đất)
2.6.2 Những việc không được làm trên Mặt trăng và các thiên thể khác trong hệ Mặt trời (ngoại trừ Trái đất)
64
2.6.3 Các quy định về việc nghiên cứu, sử dụng Mặt trăng 64
2.7 Vấn đề bồi thường thiệt hại trong luật vũ trụ quốc tế 69
2.7.2 Vấn đề miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại 73
2.8 Vấn đề hợp tác quốc tế trong việc khai thác và sử dụng khoảng
không vũ trụ
77
2.9.1.1 Một số nội dung cơ bản của Luật vũ trụ và hàng không quốc gia năm 1958
81
2.9.1.2 Một số nội dung cơ bản của Luật thương mại vũ trụ năm 1998
83
2.9.2.1 Cơ cấu và bố cục đạo luật khoảng không vũ trụ năm 1986
86
2.9.2.2 Một số nội dung cơ bản của đạo luật khoảng 86
Trang 9không vũ trụ năm 1986
Chương III: Vấn đề lý luận, thực tiễn của pháp luật Việt
Nam về vũ trụ và một số phương hướng xây dựng, phát
triển
92
3.1.1 Sự ra đời và phát triển của ngành công nghệ vũ trụ 92
3.1.2 ứng dụng của ngành công nghệ vũ trụ tại Việt Nam 98
3.3 Tiêu chí và phương hướng xây dựng, phát triển pháp luật vũ trụ 110
3.2.1 Tiêu chí xây dựng và phát triển pháp luật vũ trụ ở Việt
Trang 10Phần mở đầu
1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
Hoạt động thăm dò, khai thác và sử dụng khoảng không vũ trụ của loài người đã được bắt đầu từ những năm 50 của thế kỷ trước, đánh dấu bằng sự kiện Liên Xô phóng thành công vệ tinh nhân tạo vào khoảng không vũ trụ tháng 10 năm 1957 và tiếp đó là các sự kiện con tàu vũ trụ đầu tiên do phi công người Nga Y.Gagarin điều khiển bay quanh trái đất tháng 4 năm 1961
và nhà du hành vũ trụ người Mỹ Neil Armstrong đặt chân lên vũ trụ tháng 7 năm 1969 Sau hơn nửa thế kỷ, việc thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ đã đem lại những lợi ích to lớn cho các quốc gia trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội, văn hóa, giáo dục, y tế, an ninh, quốc phòng…một
số nước trên thế giới còn đặt ra mục tiêu xây dựng căn cứ trên mặt trăng để khai thác và trung chuyển người lên sao Hoả … những điều mà trước đây chỉ
có trong các câu chuyện khoa học viễn tưởng thì nay cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ vũ trụ đang dần trở thành hiện thực
Khi quan hệ xã hội mới phát sinh thì việc xây dựng một hệ thống quy phạm pháp luật để điều chỉnh là tất yếu nhằm thiết lập một trật tự pháp lý đối với các quan hệ này Hiện nay, pháp luật vũ trụ quốc tế và pháp luật vũ trụ của một số nước trên thế giới đã được xây dựng và ngày càng hoàn thiện, bao gồm các thoả thuận, điều ước quốc tế, hiệp ước, các quy tắc, các quy định của
tổ chức quốc tế, luật pháp quốc gia, các quy định về điều hành, quản lý, các quyết định… Mục tiêu của pháp luật vũ trụ là đảm bảo một cách hợp lý về việc chịu trách nhiệm cho các phương pháp tiếp cận, thăm dò, sử dụng không gian vũ trụ vì lợi ích quốc gia và vì lợi ích chung của nhân loại Pháp luật vũ trụ điều chỉnh các hoạt động: quân sự bên ngoài khoảng không vũ trụ, bảo tồn không gian, môi trường chung của Trái đất, trách nhiệm pháp lý do các thiệt
Trang 11hại gây ra bởi các đối tượng không gian, giải quyết tranh chấp, bảo vệ lợi ích của quốc gia, cứu hộ phi hành gia, chia sẻ thông tin về tiềm năng nguy hiểm trong không gian bên ngoài, sử dụng không gian liên quan đến công nghệ vũ trụ và vấn đề hợp tác quốc tế Để từng bước bắt nhịp với sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ vũ trụ trên thế giới và nhu cầu thực tiễn trong quá trình xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ an ninh, quốc phòng của đất nước, Việt Nam đã và đang đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu, ứng dụng công nghệ vũ trụ vào quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá và phát triển kinh tế – xã hội, đồng thời từng bước xây dựng khung pháp lý về nghiên cứu, ứng dụng và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực công nghệ vũ trụ Chính vì vậy,
em đã chọn đề tài “Tìm hiểu pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia về hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ” làm luận văn tốt nghiệp cao học luật của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là nhằm tìm hiểu cơ sở lý luận của pháp luật về hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng trong khoảng không vũ trụ; các quy định của pháp luật quốc tế về hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ; thu thập kinh nghiệm quốc tế trong việc xây dựng nội dung các quy định pháp luật về hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng trong khoảng không vũ trụ Và hướng tới việc tìm hiểu, xây dựng pháp luật Việt Nam về hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ hiệu quả, phù hợp với pháp luật quốc tế
Từ mục đích trên, đề tài đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
- Tìm hiểu cơ sở lý luận của pháp luật về hoạt động thăm dò, khai thác,
sử dụng trong khoảng không vũ trụ;
- Tìm hiểu các quy định của pháp luật quốc tế về hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ;
Trang 12Thu thập kinh nghiệm trong việc xây dựng nội dung các quy định pháp luật về hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng trong khoảng không vũ trụ;
- Hướng tới việc tìm hiểu, xây dựng pháp luật Việt Nam về hoạt động khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ hiệu quả, phù hợp với pháp luật quốc
tế
3 Phạm vi nghiên cứu
Các quy phạm pháp luật vũ trụ quốc tế cũng như pháp luật vụ trũ của một số quốc gia trên thế giới hiện nay được xây dựng và phát triển thành một
hệ thống quy phạm pháp luật tương đối đầy đủ, hoàn thiện
Toàn bộ hệ thống quy phạm pháp luật vũ trụ quốc tế hiện nay khá đồ sộ
và còn rất nhiều vấn đề đang được thảo luận trong quá trình tiếp tục hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật về lĩnh vực này, nhưng luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu trong việc tìm hiểu một số quy chế pháp lý cơ bản của hệ thống quy phạm pháp luật vũ trụ trên cơ sở các quy định tại năm bộ nguyên tắc và năm điều ước quốc tế về khoảng không vũ trụ như: chế độ pháp lý đối với vật thể vũ trụ, vấn đề đăng ký phóng vật thể vũ trụ, việc sử dụng nguồn năng lượng hạt nhân trong khoảng không vũ trụ, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vật thể vũ trụ gây ra và một số vấn đề liên quan khác Đối với pháp luật một số quốc gia trên thế giới, luận văn cũng giới hạn phạm vi nghiên cứu trong việc tìm hiểu một số quy chế pháp lý cơ bản trong Luật vũ trụ và hàng không quốc gia 1958, Luật thương mại vũ trụ 1998 của Hợp chủng quốc Hoa
Kỳ và Luật khoảng không vũ trụ năm 1986 của Vương quốc Anh
Với tính chất của đề tài, luận văn chỉ tập trung vào việc tìm hiểu, phân tích các vấn đề pháp lý cơ bản thuộc lĩnh vực khoảng không vũ trụ, từ đó liên
hệ với các hoạt động trong lĩnh vực khoảng không vũ trụ của Việt Nam và hướng đến việc xây dựng các quy phạm pháp luật vũ trụ của Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 13Với mục đích và yêu cầu được đặt ra của đề tài, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như: phân tích, so sánh luật học, đánh giá thực tiễn, thống kê…
5 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Với mục đích nghiên cứu như đã trình bày trên, luận văn này mong muốn đưa đến cái nhìn tổng quát về pháp luật quốc tế và luật vũ trụ của một
số quốc gia trong hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ Đồng thời hướng tới việc đề xuất xây dựng, phát triển khung pháp lý đối với hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ của Việt Nam
6 Bố cục của luận văn
Luận văn có bố cục gồm:
- Mở đầu
- Chương I: Những vấn đề lý luận về pháp luật khoảng không vũ trụ
- Chương II: Nội dung pháp luật quốc tế, pháp luật quốc gia về hoạt
động thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ
- Chương III: Vấn đề lý luận, thực tiễn của pháp luật Việt Nam về vũ trụ
và một số phương hướng xây dựng, phát triển
- Kết luận
- Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 14Chương I Những vấn đề lý luận về pháp luật
khoảng không vũ trụ
1.1 Pháp luật về khoảng không vũ trụ
1.1.1 Khái niệm khoảng không vũ trụ
Để hiểu đúng khái niệm pháp luật về khoảng không vũ trụ trước hết phải hiểu khoảng không vũ trụ là gì? có gì khác giữa khoảng không vũ trụ và vùng trời thuộc quyền tài phán của quốc gia?
Vùng trời quốc gia là khoảng không gian bao trùm lên vùng đất, vùng nước của lãnh thổ quốc gia và nằm dưới chủ quyền hoàn toàn, riêng biệt của quốc gia đó [211,1] Vùng trời của mỗi quốc gia bị giới hạn bởi biên giới xung quanh và biên giới trên cao, tuy nhiên cho đến nay Luật quốc tế vẫn chưa quy định cụ thể về độ cao của biên giới trên cao
Việc xác định ranh giới giữa khoảng không thuộc quyền tài phán quốc gia và khoảng không vũ trụ trong pháp luật quốc tế cũng như trong pháp luật quốc gia vẫn chưa có quy định cụ thể Như đã nói ở trên, biên giới trên cao của vùng trời thuộc quyền tài phán quốc gia chưa được xác định, đồng thời biên giới bên trong của khoảng không vũ trụ cũng chưa được xác định, vì vậy
về mặt pháp lý chưa xác định được giới hạn giữa vùng trời thuộc quyền tài phán quốc gia và khoảng không vũ trụ – chịu sự điều chỉnh của pháp luật quốc tế về khoảng không vũ trụ Xuất phát từ thực tiễn hoạt động vũ trụ, một
số quốc gia đề xuất ranh giới này nằm ở độ cao 100 km có thể chênh lệch trên dưới 10 km Tuy nhiên, quan điểm về đường ranh giới này không được nhiều quốc gia trên thế giới ủng hộ và đến nay giới hạn giữa vùng trời thuộc quyền tài phán quốc gia và khoảng không vũ trụ vẫn bỏ ngỏ
Trang 15Khoảng không vũ trụ theo Giáo trình Luật Quốc tế của Trường Đại học
Luật Hà Nội là “khoảng không nằm ngoài khoảng không khí quyển (môi trường hoạt động của phương tiện bay hàng không) và các hành tinh”[226,1]
Định nghĩa trên về khoảng không vũ trụ đã đưa ra được cách hiểu về khoảng không vũ trụ, tuy nhiên chưa xác định ranh giới của khoảng không vũ trụ Nhưng có thể hiểu khoảng không vũ trụ là khoảng không nằm bên trên và liền kề với vùng trời thuộc quyền tài phán của quốc gia Hai vùng này có chế
độ pháp lý rất khác nhau nên việc xác định ranh giới khoảng không vũ trụ là một yêu cầu rất cần thiết nhằm xác định cơ sở pháp lý để giải quyết các vấn
đề liên quan đến chủ quyền quốc gia đối với vùng trời và giảm bớt những tranh chấp giữa các quốc gia khi thăm dò, sử dụng khoảng không vũ trụ
Pháp luật về khoảng không vũ trụ là một ngành luật mới trong hệ thống
pháp luật quốc tế và là một ngành luật độc lập với các ngành luật khác Do mới hình thành, phát triển và là “con đẻ” của khoa học kỹ thuật tiên tiến nên luật vũ trụ đã kế thừa được những tinh hoa của nhân loại trong quá trình xây dựng hệ thống quy phạm pháp luật Phạm vi điều chỉnh của pháp luật về khoảng không vũ trụ gồm hoạt động của các quốc gia trong khoảng không vũ trụ; trên các hành tinh; trên mặt đất; trong khoảng không gian là môi trường hoạt động của phương tiện bay hàng không có liên quan đến hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ của quốc gia đó
Khái niệm pháp luật về khoảng không vũ trụ được hình thành trước khi diễn ra công cuộc chinh phục vũ trụ, từ năm 1910 tác giả E.LAUDE người Pháp đã có bài viết trên “Tạp chí Pháp lý quốc tế về chuyển động trong không gian” trình bày những nguyên tắc cơ bản của ngành luật vũ trụ và theo ông ngành luật vũ trụ là một ngành luật độc lập với pháp luật về vùng trời [59,5]
Theo Giáo trình Luật Quốc tế của Trường Đại học Luật Hà Nội thì
“Luật vũ trụ quốc tế là tổng thể các nguyên tắc, các quy phạm pháp lý quốc
Trang 16tế, điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể luật quốc tế trong quá trình tiến hành các hoạt động nghiên cứu, sử dụng khoảng không vũ trụ kể cả
các hành tinh” [224,1].
Trong buổi Hội thảo Pháp – Việt về khoảng không vũ trụ, GS Philippe Achilleas, Trường Đại học tổng hợp Paris XI, Pháp đã trình bày khái niệm pháp luật về khoảng không vũ trụ bao gồm “tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các hoạt động của con người tiến hành trong khoảng không vũ trụ hoặc trên các thiên thể vũ trụ, điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực thăm dò và khai thác khoảng không vũ trụ hay các thiên thể vũ
trụ” [59,5].
Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về luật khoảng không vũ trụ,
nhưng có thể hiểu một cách khái quát pháp luật khoảng không vũ trụ là tổng thể các quy phạm pháp luật điều các mối quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thăm dò, khai thác và sử dụng khoảng không vũ trụ, các thiên thể
1.1.2 Nguồn tài nguyên vũ trụ
Khi con người khai phá được khoảng không vũ trụ cũng đồng thời khai thác sử dụng nó, dưới bàn tay khối óc của nhân loại, khoảng không vũ trụ nơi
mà trước đó vẫn còn mang tính huyền bí, thần thánh đã dần được con người chinh phục và sử dụng để phục vụ lại chính mình Những lợi ích mà con người khai thác được từ khoảng không vũ trụ có thể gọi là các nguồn tài nguyên vũ trụ là rất lớn Các nguồn tài nguyền vũ trụ được khai thác, sử dụng trên thực tế hiện nay và khá thông dụng trên thế giới là các dải tần số và các
vị trí quỹ đạo
Các dải tần số và các vị trí quỹ đạo là nguồn tài nguyên vũ trụ rất quý hiếm, được coi là tài sản chung của nhân loại, được các tổ chức quốc tế của Liên hợp quốc quản lý một cách chặt chẽ, công bằng
Trang 17Các dải tần số vô tuyến điện là nguồn tài nguyên vũ trụ không bao giờ
bị cạn kiệt, không bị tác động bởi bất kỳ điều kiện nào và không bị thoái hoá hay suy kiệt do việc sử dụng thường xuyên liên tục Các dải tần số vô tuyến điện trải rộng trên phạm vi nhiều quốc gia và không thể truyền nhiều tín hiệu trên cùng một tần số, vì vậy vấn đề hợp tác quốc tế trong tổ chức sử dụng các dải tần số vô tuyến điện được đánh giá cao
Các vị trí quỹ đạo trong quỹ đạo địa tĩnh và quỹ đạo thấp cũng là
nguồn tài nguyên vũ trụ quý hiếm và hạn chế về mặt số lượng Các vệ tinh nhân tạo được đưa vào các vị trí qũy đạo riêng để khai thác, sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau như: thông tin viễn thông, phát sóng truyền hình, quan sát Trái đất để dự báo các thay đổi về môi trường, biến đổi khí hậu…
Quỹ đạo địa tĩnh nằm ở độ cao 36.000 km so với mặt đất, nằm trong quỹ đạo này các vệ tinh luôn có vị trí cố định so với mặt đất vì bay cùng vận tốc với vận tốc của Trái đất, do đó các trạm thu dưới mặt đất có thể đứng cố định để thu sóng từ vệ tinh nằm trong quỹ đạo này Một vệ tinh được đưa lên
vị trí thuộc quỹ đạo địa tĩnh sẽ có thể phủ sóng được một vùng rộng lớn, theo Giáo sư Philippe Achileas, Trường Đại học tổng hợp Paris XI, Pháp, ở độ cao 36.000 km chỉ cần 3 vệ tinh địa tĩnh là có thể phủ sóng cho toàn bộ Trái đất [58,5]
Quỹ đạo thấp nằm rất gần mặt đất có hai loại: quỹ đạo thấp từ 400 km đến 2.000 km và quỹ đạo thấp trung bình nằm cách mặt đất khoảng 10.000
km Việc sử dụng quỹ đạo thấp có thể giảm được thời gian truyền tín hiệu, giảm được kích thước, chi phí sản xuất các thiết bị thu sóng so với việc sử dụng quỹ đạo địa tĩnh, nhưng vùng phủ sóng nhỏ hơn, đồng thời các vệ tinh ở
vị trí quỹ đạo này phải chịu lực ma sát của tầng khí quyển lớn hơn nên có nguy cơ rối loạn, tuổi thọ ngắn
Trang 18Ngoài các nguồn tài nguyên vũ trụ trên, con người còn có thể khai thác được nhiều lợi ích từ khoảng không vũ trụ Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia có ngành khoa học, công nghệ vũ trụ phát triển đang tiếp tục nghiên cứu khoảng không vũ trụ, Mặt trăng và các thiên thể khác nhằm mục đích khai thác và sử dụng chúng một cách hiệu quả phục vụ cho các nhu cầu của con người
1.2 Vai trò của sự chiếm lĩnh khoảng không vũ trụ
Khoảng vài thập kỷ gần đây cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ vũ trụ và các lĩnh vực khoa học khác có liên quan như: công nghệ thông tin, cơ khí, điện tử, công nghệ vật liệu…, hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ của con người đã có những bước phát triển mạnh mẽ, góp phần thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế và quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới
Chiếm lĩnh khoảng không vũ trụ khẳng định quyền lợi và chủ quyền của mỗi quốc gia đối với khoảng không vũ trụ Như đã trình bày ở mục 1.1.2
vị trí quỹ đạo địa tĩnh cho vệ tinh là hữu hạn nên việc “chiếm lĩnh” khoảng không vũ trụ thông qua việc sử dụng vệ tinh khẳng định quyền lợi và chủ quyền của mỗi quốc gia đối với việc sử dụng khoảng không vũ trụ
Chiếm lĩnh khoảng không vũ trụ còn có vai trò to lớn trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ an ninh – quốc phòng
Nhờ có vệ tinh mà hàng tỷ cá nhân trên khắp các châu lục có thể liên lạc với nhau một cách thuận tiện, nhanh chóng, họ có thể cùng theo dõi một trận bóng đá, một bản nhạc, một cuộc hội nghị quan trọng…thông qua truyền hình, phát thanh và điều này đã tiết kiệm rất nhiều chi phí cho con người, đáp ứng nhu cầu cho con người một cách tốt nhất Nhờ có vệ tinh mà nhiều doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thông tin, truyền thông đã thu về những khoản lợi nhuận khổng lồ Ngoài ra, trong hoạt động bảo vệ an ninh, quốc
Trang 19phòng các chủng loại vệ tinh do thám hình ảnh, vệ tinh do thám tín hiệu, vệ tinh thông tin liên lạc, vệ tinh định vị dẫn đường, các vệ tinh hỗ trợ phòng thủ
… được ứng dụng rộng rãi và trở thành nhân tố quan trọng của hoạt động này
Các vệ tinh viễn thám có độ phân giải tối ưu phục vụ cho các hoạt động nghiên cứu vật lý thiên văn, vật lý khí quyển, vật lý địa cầu, quan trắc trọng trường Trái đất, các tham số khí tượng, quan trắc độ cao mực nước biển, nhiệt
độ hoặc độ mặn của các vùng biển đã phục vụ các hoạt động nghiên cứu khoa học trái đất, nghiên cứu biến đổi khí hậu toàn cầu
Sự tích hợp của công nghệ viễn thám, công nghệ định vị nhờ vệ tinh đã cho phép số hoá công tác đo đạc bản đồ phục vụ cho việc xây dựng các hệ thống quan trắc môi trường, cảnh báo sớm các thảm hoạ thiên nhiên như bão,
lũ lụt, nắng nóng, sóng thần đồng thời còn là công cụ hữu hiệu giúp con người sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên Vệ tinh ngày càng trở thành công cụ đắc lực phục vụ các nhu cầu thiết yếu của con người, đáp ứng các nhu cầu về kinh doanh thương mại của nhiều quốc gia trên thế giới
ở Việt Nam hiện nay, các thành quả to lớn từ việc nghiên cứu và ứng dụng công nghệ vũ trụ của các nước phát triển đang có những ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển ngành công nghệ vũ trụ và ngành luật về khoảng không
vũ trụ Những nghiên cứu và ứng dụng công nghệ vũ trụ của nước ta hiện đã
có những đóng góp thiết thực vào sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội; vào quá trình hội nhập kinh tế thế giới, đảm bảo an ninh quốc phòng cho đất nước
Thật vậy, tính từ tháng 7/1980 - chuyến bay lịch sử của nhà du hành vũ trụ đầu tiên của Phạm Tuân đến nay, nước ta đã có trên 30 năm tiếp cận với công nghệ vũ trụ, việc nghiên cứu và ứng dụng công nghệ vũ trụ cũng có những bước phát triển lớn Đúng 5h15 sáng ngày 19/4/2008 (theo giờ Việt Nam) tên lửa Arian 5 đã rời bệ phóng tại Kourou – Pháp mang theo vệ tinh đầu tiên của Việt Nam - Vinasat 1 tiến vào quỹ đạo Đây là mốc lịch sử quan
Trang 20trọng đánh dấu bước phát triển mới của nền công nghệ vũ trụ Việt Nam, đồng thời khẳng định quyền lợi và chủ quyền quốc gia trên quỹ đạo, mở ra cơ hội kinh doanh dịch vụ vệ tinh Vệ tinh Vinasat 1 - vệ tinh đầu tiên của Việt Nam được phóng lên quỹ đạo nhằm phục vụ nhu cầu thông tin liên lạc, truyền hình, dịch vụ viễn thông, điều tra, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường; giám sát và cảnh báo thiên tai; quy hoạch, quản lý lãnh thổ và đáp ứng nhiều nhu cầu khác
a – Hình ảnh phóng vệ tinh Vinasat 1 của Việt Nam vào lúc 5h15 (giờ Việt Nam) ngày 19/4/2008 tại Kourou – Pháp
Đứng trước những lợi ích kinh tế, chính trị, văn hoá, an ninh quốc phòng mà ngành công nghệ vũ trụ đem lại, Việt Nam đã và đang đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ vũ trụ, đồng thời xây dựng ban hành các văn bản quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ
xã hội mới phát sinh từ hoạt động này Tuy nhiên, Việt Nam là một trong những quốc gia có trình độ phát triển kinh tế – xã hội thấp nên việc tham gia vào các hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ là một
Trang 21vấn đề mới và còn hạn chế Khi tham gia vào hoạt động này, Việt Nam phải tôn trọng và thực hiện các cam kết quốc tế về khoảng không vũ trụ
1.3 Lịch sử hình thành, phát triển pháp luật vũ trụ
1.3.1 Lịch sử hình thành
Hoạt động thăm dò, khai thác và sử dụng khoảng không vũ trụ của loài người đã được bắt đầu từ những năm 50 của thế kỷ trước, đánh dấu bằng sự kiện Liên Xô phóng thành công vệ tinh nhân tạo Spoutnik vào khoảng không
vũ trụ ngày 04/10/1957, tiếp đó là các sự kiện như: con tàu vũ trụ đầu tiên - Voxtoc do phi công người Nga Youri Gagarin điều khiển bay quanh Trái đất ngày 12/4/1961, sau đó vào tháng 2/1962 nhà du hành vũ trụ người Mỹ John Glenn đã thực hiện chuyến thám hiểm vũ trụ trên con tàu Mercury và ngày 20/07/1969 con tàu Apollo 11 đưa Neil Armstrong và Edwin ldrin lên Mặt trăng [60,4] Chính sự chạy đua giữa Liên Xô - Hoa Kỳ, Đông – Tây trong cuộc chiến tranh lạnh sau thế chiến thế giới thứ II đã thúc đẩy công nghệ vũ trụ và hoạt động thăm dò, khai thác sử dụng khoảng không vũ trụ có những bước tiến vượt bậc như trên Tuy nhiên, sau hơn nửa thế kỷ, việc phát triển công nghệ vũ trụ và hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích dân sự đã thay thế cho mục đích chính trị trước đó, chính sự chuyển hướng này đã đem lại những lợi ích to lớn cho các quốc gia trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội, văn hóa, giáo dục, y tế, an ninh, quốc phòng, đặc biệt là ngành công nghiệp viễn thông qua vệ tinh vì mục đích thương mại…, ngoài ra, một số nước trên thế giới còn đặt ra mục tiêu xây dựng căn
cứ trên mặt trăng để khai thác, trung chuyển người lên sao Hoả hay các nhà khoa học Mỹ hiện đang nghiên cứu về việc trồng cây trên Mặt trăng…
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực mà thành quả của công nghệ
vũ trụ và hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ đạt được
là hàng loạt các vấn đề bất cập cũng đồng thời phát sinh như: vấn đề rác thải
Trang 22vũ trụ; chạy đua vũ trang trên vũ trụ; sử dụng vũ trụ vào mục đích quân sự; tranh chấp về việc sử dụng khoảng không vũ trụ; tranh chấp về những va chạm giữa các vật thể do các quốc gia phóng lên vũ trụ … Có thể nói hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ hiện đang diễn ra rất sôi nổi, có tính độc đáo, chiếm vị trí quan trọng trong hoạt động kinh tế, thương mại, an ninh quốc phòng của nhiều quốc gia trên thế giới và là khu vực tiềm năng để con người khai thác, sử dụng nhưng cũng tiềm ẩn những nguy hiểm đe doạ đến cuộc sống của con người trên Trái đất
b Edwin Aldrin cắm cờ Mỹ lên Mặt trăng
Với các quan hệ xã hội mới phát sinh tất yếu cần một hệ thống quy phạm pháp luật để điều chỉnh nhằm thiết lập một trật tự pháp lý đối với các quan hệ này Các quan hệ liên quan đến hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ cũng vậy Hiện luật pháp vũ trụ quốc tế cũng như luật vũ trụ của một số quốc gia trên thế giới đã được xây dựng và ngày càng hoàn thiện, bao gồm các thoả thuận, điều ước quốc tế, hiệp ước, các quy tắc,
Trang 23các quy định của tổ chức quốc tế, luật pháp quốc gia, các quy định về điều hành, quản lý, các quyết định…, mục tiêu của pháp luật vũ trụ là đảm bảo một cách hợp lý về việc chịu trách nhiệm cho các phương pháp tiếp cận, thăm dò,
sử dụng không gian vũ trụ vì lợi ích quốc gia và vì lợi ích chung của nhân loại
Pháp luật về không gian điều chỉnh các hoạt động khác nhau như: hoạt động quân sự trong không gian bên ngoài, bảo tồn không gian, môi trường chung của trái đất, trách nhiệm pháp lý do các thiệt hại gây ra bởi các đối tượng không gian, giải quyết tranh chấp, bảo vệ lợi ích của quốc gia, cứu hộ phi hành gia, chia sẻ thông tin về tiềm năng nguy hiểm trong không gian bên ngoài, sử dụng không gian liên quan đến công nghệ vũ trụ và vấn đề hợp tác quốc tế… Chính hệ thống các quy phạm pháp luật này đã thiết lập một trật tự pháp lý chung cho hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ của nhân loại trong giai đoạn hiện nay, đồng thời phân chia rõ ràng quyền, nghĩa vụ đối với các chủ thể trong hoạt động này
1.3.2 Khái quát cơ sở pháp luật về khoảng không vũ trụ
Luật khoảng không vũ trụ là một ngành luật mới nhưng đến nay các quy phạm pháp luật về khoảng không vũ trụ đã được hình thành và trở thành một hệ thống quy phạm pháp luật khá hoàn chỉnh Cũng như các ngành luật khác, hệ thống các quy phạm pháp luật về khoảng không vũ trụ gồm các điều ước quốc tế; các hiệp định khoa học – kỹ thuật quốc tế liên quan đến hoạt động của các quốc gia trong vũ trụ; tập quán vũ trụ quốc tế; pháp luật quốc gia…
Trong hệ thống quy phạm pháp luật về khoảng không vũ trụ 5 bộ nguyên tắc được ghi nhận trong các Nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc và 5 điều ước quốc tế về vũ trụ được coi là các nguyên tắc và quy phạm pháp lý cơ bản:
Trang 241.3.2.1 Năm điều ước quốc tế về khoảng không vũ trụ [40] gồm:
a The Treaty on Principles Governing the Activities of State in the exploration and use of outer space, including the Moon and other celestial bodies (the outer space treaty, adopted by the General Assembly in its resolution 2222 (XXI), opened for signature on 27 January 1967, entered into force on 10 October 1967
Hiệp ước về các nguyên tắc hoạt động của quốc gia trong nghiên cứu
và sử dụng khoảng không vũ trụ kể cả Mặt trăng và các thiên thể khác Hiệp ước về khoảng không vũ trụ này được thông qua trong Nghị quyết 2222 (XXI) năm 1967 của Đại hội đồng Liên hợp quốc Hiệp ước được ký vào ngày 27/01/1967 và hiệu lực từ ngày 10/10/1967
Tính đến ngày 01/01/2008, Hiệp ước đã được 27 quốc gia ký kết và 90 quốc gia phê chuẩn
b The Agreement on the Rescue of Astronauts, the return of astronauts and the return of objects launched into outer space (the “Rescue agreement”, adopted by the General Assembly in its resolution 2345 (XXII), opened for signature on 22 April 1968, entered into force on 3 December 1968
Hiệp định về cứu hộ phi công vũ trụ, trao trả phi công vũ trụ và các phương tiện được đưa vào khoảng không vũ trụ Hiệp định được thông qua bởi Nghị quyết 2345 (XXII) của Đại hội đồng Liên hợp quốc, ký kết ngày 22/4/1968, có hiệu lực từ ngày 3/12/1968
Tính đến 01/01/2008, Hiệp định có 24 quốc gia ký kết, 90 quốc gia phê chuẩn và 01 quốc gia cam kết thực hiện các quyền và nghĩa vụ
c The Convention on international Liability for damage caused by space objects (the “Liability convention”, adopted by the General Assembly
in its resolution 2777 (XXVI), opened for signature on 29 march 1972, entered into force on 1 September 1972
Trang 25Công ước quốc tế về trách nhiệm pháp lý quốc tế đối với thiệt hại do các vật thể vũ trụ gây ra Công ước được thông qua bởi Nghị quyết 2777 (XXVI) của Đại hội đồng Liên hợp quốc, ký kết ngày 29/3/1972, có hiệu lực
Công ước về đăng ký các vật thể phóng vào khoảng không vũ trụ được thông qua bởi Nghị quyết 3235 (XXIX) của Đại hội đồng Liên hợp quốc, ký kết ngày 14/01/1975, có hiệu lực ngày 15/9/1976
Tính đến ngày 01/01/2008, Công ước có 4 quốc gia ký kết, 51 quốc gia phê chuẩn và 2 quốc gia cam kết thực hiện quyền và nghĩa vụ
e The Agreement governing the activities of States on the Moon and other celestial bodies (the “Moon agreement”, adopted by the General assembly in its resolution 34/68), opened for signature on 18 December 1979, entered into forced on 11 July 1984
Công ước về hoạt động của các quốc gia trên Mặt trăng và các thiên thể khác Công ước được thông qua bởi Nghị quyết 34/68 của Đại hội đồng Liên hợp quốc, ký kết ngày 18/12/1979, có hiệu lực từ ngày 11/7/1984
Tính đến ngày 01/01/2008, Công ước có 4 quốc gia ký kết và 13 quốc gia phê chuẩn
Có thể khái quát các nguyên tắc chung mà 5 công ước trên bao gồm nguyên tắc bất kỳ một quốc gia nào cũng không được chiếm dụng riêng khoảng không vũ trụ cho quốc gia mình; nguyên tắc kiểm soát vũ khí; tự do
Trang 26khai thác, nghiên cứu khoảng không vũ trụ; trách nhiệm pháp lý đối với các thiệt hại gây ra bởi các vật thể được phóng vào khoảng không vũ trụ; sự an toàn và cứu hộ của các vật thể vũ trụ và phi hành gia; công tác phòng chống nguy hại do các hoạt động vũ trụ tới môi trường; thông báo và đăng ký các hoạt động vũ trụ; nghiên cứu khoa học, khai thác các nguồn tài nguyên từ vũ trụ và việc giải quyết tranh chấp Mỗi điều ước đều được xây dựng trên cơ sở tôn trọng quyền của quốc gia trong khoảng không vũ trụ, mỗi hoạt động bên ngoài khoảng không vũ trụ đều dựa trên nguyên tắc vì lợi ích của quốc gia, con người và vì mục đích hoà bình; đồng thời mỗi công ước đều được xây dựng trên nền ý tưởng thúc đẩy sự hợp tác quốc tế trong các hoạt động bên ngoài không gian và tăng cường quan hệ hữu nghị, hiểu biết lẫn nhau giữa các quốc gia, dân tộc
1.3.2.2 Năm bộ nguyên tắc quốc tế về khoảng không vũ trụ [40] gồm:
a The declaration of Legal Principles governing the activities of state
in the exploration and uses of outer space (Genaral assembly resolution 1962 (XVIII) of 13 December 1963);
Tuyên bố hệ thống các nguyên tắc về hoạt động nghiên cứu và sử dụng khoảng không vũ trụ của các quốc gia, được thông qua bởi Nghị quyết 1962 (VVIII) ngày 13/12/1963 của Đại hội đồng Liên hợp quốc Tuy nhiên, nội dung các nguyên tắc này đã được nhắc lại trong Hiệp ước về các nguyên tắc hoạt động của quốc gia trong nghiên cứu và sử dụng khoảng không vũ trụ kể
cả Mặt trăng và các thiên thể khác năm 1967
b The Principles governing the use by states of artificial earth satellites for international direct television broadcasting (resolution 37/92 of 10 december 1982
Trang 27Các nguyên tắc sử dụng vệ tinh nhân tạo của các quốc gia cho việc phát sóng truyền hình quốc tế trực tiếp, được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua bởi Nghị quyết 37/92 ngày 10/12/1982
c The principles relating to remote sensing of the earth from outer space (resolution 41/65 of 3 deceber 1986)
Các nguyên tắc liên quan đến việc viễn thám Trái đất từ khoảng không
vũ trụ được ghi nhận trong Nghị quyết 41/65 ngày 3/12/1986 của Đại hội đồng Liên hợp quốc
d The principles relevant to the of nuclear power sources in outer space (resolution 47/68 of 14 december 1992)
Các nguyên tắc liên quan đến việc sử dụng nguồn năng lượng hạt nhân trong khoảng không vũ trụ, được ghi nhận trong Nghị quyết 47/68 ngày 14/12/1992 của Đại hội đồng Liên hợp quốc
e The declaration on international cooperation in the exploration and use of outer space for the benefit and in the interest of all states, taking into particular account the needs of developing countries (resolution 51/122 of 13 december 1996)
Tuyên bố về hợp tác quốc tế trong việc khai thác và sử dụng khoảng không vũ trụ vì quyền và lợi ích của tất cả các quốc gia, đặc biệt quan tâm đến nhu cầu của các nước đang phát triển Được thông qua tại Nghị quyết 51/122 ngày 13/12/1996 của Đại hội đồng Liên hợp quốc
Năm bộ nguyên tắc pháp lý về khoảng không vũ trụ của Đại hội đồng Liên hợp quốc trên đã bổ sung vào hệ thống các quy phạm pháp luật vũ trụ quốc tế, góp phần thúc đẩy quan hệ hợp tác quốc tế, hiểu biết lẫn nhau giữa các quốc gia trong hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ; thúc đẩy việc phổ biến và trao đổi thông tin thông qua việc phát sóng truyền hình trực tiếp qua vệ tinh; đặt ra các tiêu chuẩn để quy định vấn đề an
Trang 28toàn trong việc sử dụng các nguồn năng lượng hạt nhân khi khai thác và sử dụng khoảng không vũ trụ
Có thể nói, năm công ước và năm bộ nguyên tắc trên là những quy phạm pháp luật cơ bản của hệ thống quy phạm pháp luật khoảng không vũ trụ quốc tế, là xương sống của ngành luật vũ trụ trong thời điểm hiện nay Ngoài
ra, các quy phạm pháp luật vũ trụ còn nằm trong các hiệp định hợp tác khoa học, kỹ thuật có liên quan đến hoạt đông thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ; các điều ước thành lập các tổ chức vũ trụ liên quốc gia; các điều ước đa phương hoặc song phương về các vấn đề chung và riêng về hoạt động của các quốc gia trong vũ trụ… Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn này chỉ tập trung nghiên cứu, tìm hiểu các quy định trong năm điều ước và năm bộ nguyên tắc cơ bản trên
1.3.2.3 Các nguyên tắc cơ bản của luật vũ trụ quốc tế
Ngay từ khi một số quốc gia trên thế giới quan tâm, đầu tư phát triển các ngành khoa học kỹ thuật nhằm đáp ứng việc thăm dò, khai thác và sử dụng khoảng không vũ trụ, Mặt trăng và các thiên thể khác, thì các nguyên tắc
cơ bản của ngành luật này đã được các quốc gia quan tâm thống nhất xây dựng Thật vậy, trong Bộ nguyên tắc về hoạt động thăm dò và sử dụng khoảng không vũ trụ của các quốc gia được Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua trong Nghị quyết 1962 (VVIII) ngày 13/12/1963 được xây dựng trên cơ sở phù hợp với luật pháp quốc tế, bao gồm cả Hiến chương Liên hiệp quốc và vì mục đích hoà bình, an ninh quốc tế, thúc đẩy hợp tác, sự hiểu biết lẫn nhau giữa các quốc gia, đã đưa ra 9 nguyên tắc cơ bản đối với hoạt động này, trong đó 3 nguyên tắc sau trở thành những nguyên tắc cơ bản của ngành luật vũ trụ sau này:
- Nguyên tắc khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ phải được tiến hành vì quyền và lợi ích của tất cả nhân loại;
Trang 29- Nguyên tắc tất cả các quốc gia đều bình đẳng và có quyền tự do thăm
dò, sử dụng khoảng không vũ trụ và các thiên thể khác theo quy định của pháp luật quốc tế;
- Bất kỳ quốc gia nào cũng không được chiếm dụng riêng khoảng không vũ trụ và các thiên thể khác bằng các tuyên bố, bằng việc chiếm giữ hoặc sử dụng hay bất hình thức nào khác
Sau đó, ngày 27/01/1967 Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua Hiệp ước về các nguyên tắc hoạt động của quốc gia trong nghiên cứu và sử dụng khoảng không vũ trụ kể cả Mặt trăng và các thiên thể khác trong Nghị quyết 2222 (XXI) Kế thừa các quy định trong Bộ nguyên tắc về hoạt động thăm dò và sử dụng khoảng không vũ trụ của các quốc gia năm 1963, Hiệp ước trên đã quy định những nguyên tắc cơ bản cho mọi hoạt động ngoài khoảng không vũ trụ, kể cả Mặt trăng và các thiên thể khác gồm:
- Nguyên tắc thăm dò và sử dụng khoảng không vũ trụ kể cả Mặt trăng
và các thiên thể khác phải được thực hiện vì mục đích hoà bình và vì lợi ích của tất cả các quốc gia, không phân biệt trình độ phát triển kinh tế, khoa học; việc thăm dò và sử dụng khoảng không vũ trụ là công việc chung của toàn nhân loại (đoạn 1, Điều 1);
- Khoảng không vũ trụ, Mặt trăng và các thiên thể khác có thể được tất
cả các quốc gia thăm dò, sử dụng một cách tự do, không có sự phân biệt nào, theo nguyên tắc bình đẳng và phù hợp với luật pháp quốc tế Mọi khu vực của các thiên thể đều có thể được thăm dò và khai thác một cách tự do; Việc nghiên cứu khoa học được tiến hành tự do trong khoảng không vũ trụ, kể cả Mặt trăng và các thiên thể khác Các quốc gia phải tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích việc hợp tác quốc tế trong các hoạt động nghiên cứu khoa học này (đoạn 2, 3 - Điều 1);
Trang 30- Nguyên tắc khoảng không vũ trụ, kể cả Mặt trăng và các thiên thể khác không thể bị chiếm làm của riêng bởi bất cứ một quốc gia nào bằng hành
vi tuyên bố chủ quyền, hành vi chiếm giữ, sử dụng hay bất kỳ một hành vi nào khác (Điều 2);
Theo các quy định trên, các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động thăm
dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ, kể cả Mặt trăng và các thiên thể khác có thể được tóm lược thành 3 nguyên tắc: nguyên tắc tự do tiến hành các hoạt động trong vũ trụ; nguyên tắc không chiếm dụng làm của riêng và nguyên tắc lợi ích chung
Nguyên tắc tự do tiến hành các hoạt động trong vũ trụ được coi là
nguyên tắc cơ bản đầu tiên trong hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ, Mặt trăng, các thiên thể khác và là nguyên tắc xuyên suốt quá trình xây dựng, thực hiện luật vũ trụ quốc tế từ khi hình thành đến nay – khi mà hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích thương mại trở lên phổ biến và trở thành mục đích chính trong việc khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ của nhiều quốc gia trên thế giới Nguyên tắc tự do tiến hành các hoạt động trong khoảng không vũ trụ được áp dụng cho tất cả các quốc gia trên thế giới, mọi quốc gia đều được hưởng quyền tự do này
Tuy nhiên, nguyên tắc tự do tiến hành các hoạt động trong khoảng không vũ trụ chỉ mang tính tương đối vì trình độ phát triển khoa học, công nghệ của các quốc gia trên thế giới không đồng đều Đối với một quốc gia chưa đủ tiềm lực khoa học kỹ thuật để khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ thì nguyên tắc tự do tiến hành các hoạt động trong khoảng không vũ trụ khó được thực hiện Và khó có thể đạt được sự bình đẳng trong việc thực hiện nguyên tắc này giữa quốc gia có trình độ khoa học - kỹ thuật phát triển và quốc gia có trình độ khoa học – kỹ thuật kém phát triển Chính vì vậy, mặc dù
Trang 31nguyên tắc này được đặt ra từ những năm 1963, 1967 song việc thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ, Mặt trăng và các thiên thể khác vẫn là lĩnh vực độc quyền của các quốc gia Nga, Hoa Kỳ và một số quốc gia Đông
Âu khác… Ngày nay, nhiều quốc gia ở Châu á, Châu Phi… đã đạt được trình
độ khoa học, công nghệ vũ trụ nhất định, đã tiến hành các hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ Nước ta cũng đã bước đầu đã thực hiện được chủ quyền và có được quyền lợi của quốc gia trong khoảng không
vũ trụ sau khi phóng thành công vệ tinh nhân tạo Vinasat I Mặc dù vậy, vẫn còn rất nhiều các quốc gia trên thế giới vẫn chưa có cơ hội để thực hiện quyền
tự do này
Đồng thời, tự do khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ, Mặt trăng và các thiên thể khác không có nghĩa là được khai thác và sử dụng một cách bừa bãi Mọi hoạt động khai thác, sử dụng đều phải được tiến hành trên cơ sở tuân thủ, tôn trọng các quy định của Hiến chương Liên hợp quốc và các quy định khác của Luật vũ trụ quốc tế
Nguyên tắc không chiếm dụng làm của riêng, theo ông Philippe
Achilleas, giáo sư Trường Đại học tổng hợp Paris XI, là nguyên tắc “mang tính cách mạng, loại trừ mọi yêu sách về chủ quyền của các quốc gia đối với khoảng không vũ trụ, và chính điểm này người ta phân biệt giữa pháp luật
vũ trụ và pháp luật về vùng trời” [61,5] Có thể nói, nguyên tắc không chiếm dụng làm của riêng đã khẳng định không một quốc gia nào có quyền đòi hỏi chủ quyền đối với bất cứ khu vực nào của khoảng không vũ trụ, Mặt trăng và các thiên thể khác
Năm 1976, một số quốc gia Châu Phi ở vùng xích đạo gồm Braxin, Côlômbia, Cônggô, Xích, Kenia, Uganđa đã tuyên bố chủ quyền của mình đối với các phần quỹ đạo địa tĩnh của Trái đất nằm phía trên lãnh thổ của các quốc gia này trong Hội nghị Bôgôta tổ chức từ ngày 29/11 đến ngày
Trang 3203/12/1976 Tuy nhiên, các tuyên bố này đã không được thừa nhận vì quỹ đạo địa tĩnh được coi là nằm trong khoảng không vũ trụ và theo quy định tại Điều
2, Hiệp ước về các nguyên tắc hoạt động của quốc gia trong nghiên cứu và sử dụng khoảng không vũ trụ kể cả Mặt trăng và các thiên thể khác thì khoảng không vũ trụ không thể bị “chiếm làm của riêng của bất cứ một quốc gia nào bằng hành vi tuyên bố chủ quyền, hành vi chiếm giữ, sử dụng hay bất kỳ một hành vi nào khác”
Tuy nhiên để giải quyết tranh chấp này, cần có được sự thống nhất của các quốc gia về ranh giới giữa vùng trời thuộc quyền tài phán quốc gia và khoảng không vũ trụ Hiện nay, pháp luật quốc tế đã xây dựng được quy chế pháp lý riêng đối với vùng trời thuộc quyền tài phán quốc gia và quy chế pháp
lý riêng đối với khoảng không vũ trụ
Việc xây dựng quy định ranh giới giữa vùng trời thuộc quyền tài phán quốc gia và khoảng không vũ trụ là một yêu cầu cấp thiết, khi được xây dựng
nó sẽ là cơ sở pháp lý để thực hiện nguyên tắc “không chiếm dụng làm của riêng” trên
Ngoài ra, khi xem xét nguyên tắc “không chiếm dụng làm của riêng” trong các hoạt động ngoài khoảng không vũ trụ chúng ta cần phân biệt khái niệm “chiếm dụng làm của riêng” và khái niệm “chiếm giữ” Một quốc gia đã đăng ký và sử dụng một vị trí quỹ đạo – tức là đang “chiếm giữ” vị trí quỹ đạo đó và thời gian sử dụng vị trí quỹ đạo này có thể kéo dài trong nhiều năm, trong trường hợp này, khái niệm “chiếm giữ” và “chiếm dụng làm của riêng” rất khó phân biệt Vậy phải hiểu “nguyên tắc không chiếm dụng làm của riêng” trong luật vũ trụ như thế nào cho đúng? Theo ông Philippe Achilleas, giáo sư Trường Đại học tổng hợp Paris XI “nguyên tắc không chiếm dụng làm của riêng” trong luật vũ trụ quốc tế được hiểu là để “phân biệt giữa vùng
Trang 33trời – một phần của lãnh thổ quốc gia, đặt dưới quyền tài phán quốc gia và
khoảng không vũ trụ – vùng không thuộc quyền tài phán quốc gia” [61,5]
Có thể thừa nhận nguyên tắc “không chiếm dụng làm của riêng” là quy định đặc thù của luật vũ trụ, dựa trên nguyên tắc này có thể phân biệt luật vũ trụ với luật về vùng trời thuộc quyền tài phán quốc gia Nhưng khái niệm
“không chiếm dụng làm của riêng” cần phải được hiểu theo nghĩa rộng hơn, không thể hiểu theo nghĩa đơn thuần là một quốc gia chiếm giữ một hay nhiều
vị trí quỹ đạo nào đó trong một khoảng thời gian dài “Không chiếm dụng làm của riêng” ở đây được hiểu là không thể tuỳ tiện tuyên bố hoặc bằng bất cứ một hành động nào chiếm giữ bất cứ vùng nào thuộc khoảng không vũ trụ, kể
cả Mặt trăng, các thiên thể khác và đặt chúng thuộc quyền tài phán của quốc gia mình
Nguyên tắc “không chiếm dụng làm của riêng” được đặt ra nhằm hạn chế các hành động chiếm dụng tuỳ tiện khoảng không vũ trụ, Mặt trăng và các thiên thể, nhưng cũng không ảnh hưởng đến hiệu lực của nguyên tắc “tự do khai thác và sử dụng khoảng không vũ trụ” trong khuôn khổ pháp luật quốc tế
Nguyên tắc vì hoà bình và lợi ích chung Theo nguyên tắc này, thì
khoảng không vũ trụ, Mặt trăng và các thiên thể khác phải được sử dụng vì mục đích hoà bình và lợi ích chung của tất cả các quốc gia trên thế giới Tại Điều 1, Hiệp ước về các nguyên tắc hoạt động của quốc gia trong nghiên cứu,
sử dụng khoảng không vũ trụ kể cả Mặt trăng và các thiên thể khác đã quy định việc “thăm dò, sử dụng khoảng không vũ trụ kể cả Mặt trăng, các thiên thể phải được thực hiện vì mục đích hoà bình và vì lợi ích của tất cả các quốc gia, không phân biệt trình độ phát triển kinh tế, khoa học”
Có thể nói nguyên tắc này là điều kiện bắt buộc đối với các quốc gia khi khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ Các quốc gia có trình độ khoa
Trang 34học, công nghệ vũ trụ phát triển có các hoạt động thăm dò, khai thác vũ trụ để phục vụ cho lợi ích của quốc gia mình nhưng đồng thời cũng phải quan tâm
và có thái độ ứng xử phù hợp với lợi ích của các quốc gia khác Nghiêm cấm tất cả các quốc gia thực hiện các hành vi xây dựng, lắp đặt các cơ sở, thiết bị quân sự, các công sự đồn trú, thử vũ khí, bất kể là vũ khí gì và nghiên cứu tiến hành diễn tập, tập trận quân sự trên các thiên thể Có xem xét việc sử dụng nhân viên quân sự vào mục đích nghiên cứu khoa học hay các mục đích hoà bình khác và việc sử dụng trang thiết bị cần thiết cho hoạt động thăm dò Mặt trăng, các thiên thể vì mục đích hoà bình
Thực tế quy định trên có tính chất chung chung, không có hiệu lực trực tiếp, không thể đưa ra những tiêu chí rõ ràng cho các hoạt động khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ, mặt trăng và các thiên thể khác “vì mục đích hoà bình và vì lợi ích của tất cả các quốc gia trên thế giới” Một quốc gia có trình
độ khoa học, công nghệ vũ trụ kém phát triển khó có thể viện dẫn điều khoản này để đề nghị các quốc gia có trình độ khoa học, công nghệ vũ trụ phát triển phải quan tâm và có thái độ ứng xử phù hợp với lợi ích của quốc gia mình một cách vô điều kiện trong hoạt động khai thác và sử dụng khoảng không vũ trụ, mặt trăng và các thiên thể khác Tuy nhiên, việc hợp tác, kinh doanh, phối hợp hoạt động trên cơ sở tôn trọng lợi ích và thoả thuận giữa các quốc gia trong hoạt động khai thác và sử dụng khoảng không vũ trụ hiện nay đang được rất nhiều quốc gia quan tâm
Có thể nói, nguyên tắc vì lợi ích của tất cả các quốc gia trong hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ, mặt trăng và các thiên thể khác được đảm bảo thực hiện bằng sự tự giác của các quốc gia có trình độ khoa học, công nghệ vũ trụ phát triển Nguyên tắc này mang tính nhân văn, vì toàn bộ nhân loại và góp phần để các quốc gia có trình độ khoa học, công nghệ phát triển có thái độ ứng xử phù hợp
Trang 35Việc nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật quốc tế về khoảng không vũ trụ giúp các quốc gia và các chủ thể khác có thể hiểu và thực hiện đúng các quy định đó khi tham gia vào hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hoà bình; hài hoà lợi ích với các dân tộc khác; mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này và tăng cường quan hệ hữu nghị, hiểu biết lẫn nhau với các quốc gia khác Đồng thời, để quyền lợi và chủ quyền quốc gia trong hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ được đảm bảo thực hiện, việc tìm hiểu pháp luật quốc tế về khoảng không vũ trụ là rất cần thiết
Hiện nay, ở một số nước trên thế giới như Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Nhật Bản… ngành luật vũ trụ đã rất phát triển Tại các nước này, luật pháp về khoảng không vũ trụ đã bước sang “thế hệ thứ hai” của quá trình phát triển Thật vậy, là các cường quốc về khoa học công nghệ vũ trụ các quốc gia này
đã định hướng trước sự phát triển của luật pháp về vũ trụ song hành với sự phát triển của khoa học công nghệ vũ trụ và xu hướng phát triển của các quan
hệ xã hội – hệ quả tất yếu của thành quả khoa học công nghệ như – xu hướng thương mại hoá hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ Theo dự đoán của Yasuaki Hashimoto – Giáo sư Nhật: “trong tương lai gần không gian bên ngoài sẽ được công nhận quyền như là một thị trường hoặc khu vực dành cho du lịch, sản xuất… của khối doanh nghiệp tư nhân” [43] Vì vậy, Nhật Bản đã thiết lập một hệ thống pháp luật mới về khoảng không vũ trụ theo dự đoán về các hành vi thương mại trong tương lai sẽ diễn ra trong khoảng không vũ trụ như tình trạng của các phi hành gia, các mối quan hệ của quốc gia
và các lĩnh vực tư nhân, trách nhiệm thương mại trong khoảng không vũ trụ
Chưa thể so sánh được về trình độ phát triển của các nước trên trong lĩnh vực khoa học công nghệ vũ trụ, cũng như việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật tương ứng, song việc tìm hiểu các quy
Trang 36định pháp luật về ngành luật khoảng không vũ trụ của các quốc gia này là rất cần thiết cho việc xây dựng, ban hành khung pháp lý về nghiên cứu, ứng dụng
và hợp tác quốc tế trong hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng khoảng không
vũ trụ của nước ta
Tóm lại, việc tìm hiểu pháp luật quốc tế, pháp luật một số quốc gia trên thế giới và liên hệ với pháp luật Việt Nam về khoảng không vũ trụ là nhu cầu tất yếu, nhằm đáp ứng một phần yêu cầu thực tiễn của Việt Nam trong việc xây dựng khung pháp lý điều chỉnh các hoạt động ngoài khoảng không vũ trụ phù hợp với pháp luật quốc tế, đảm bảo quyền lợi và chủ quyền quốc gia, cũng như phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam
1.3.2.4 Cơ quan quản lý các hoạt động ngoài khoảng không vũ trụ
* Uỷ ban sử dụng khoảng không vũ trụ vào các mục đích hoà bình (COPOUS)
Ngay sau khi Liên Xô phóng vệ tinh nhân tạo Sputnik 1 lên vũ trụ, năm
1958 Liên hiệp quốc đã thành lập Uỷ ban lâm thời về việc sử dụng khoảng không vũ vào các mục đích hoà bình nhằm thảo luận các vấn đề pháp lý nảy sinh
từ hoạt động của con người ngoài khoảng không vũ trụ Đến năm 1959, trong Nghị quyết 1472 (XIV) của Liên hiệp quốc, Uỷ ban sử dụng khoảng không vũ trụ vào các mục đích hoà bình – The United Nation Committee on the Peaceful uses of outer space (COPUOS) được thành lập Ngay khi thành lập Uỷ ban có 24 quốc gia thành viên, tính đến năm 2008 Uỷ ban có 69 quốc gia thành viên gồm các quốc gia: Albani, Algria, Argentina, Autralia, Austria, Belgium, Benin, Bolivia, Brazil, Bulgaria, Burkina Faso, Cameroon, Canada, Chad, Chile, China, Colombia, Cuba, Czech Republic, Ecuador, Egypt, France, Hungary, Germany, Greece, India, Indonesia, Iran, Italy, Japan, Kazakhstan, Kenya, Lebanon, Libyan Arab Jamahiriya, Malaysia, Mexico, Mongolia, Morocco, Netherlands, Nicaragua, Niger, Nigeria, Pakistan, Peru, Philippines, Poland, Porland,
Trang 37Portugal, Republic of Korea, Romania, the Russian Federation, Saudi Arabia, Senegal, Sierra Leone, Slovakia, South Africa, Spain, Sudan, Sweden, Switzerland, Syrian Arab Republic, Thailand, Turkey, The United Kingdom of Great Britain and Northern Ireland, The United State of America, Ukraine, Uruguay, Venezuela và Việt Nam [42]
Uỷ ban sử dụng khoảng không vũ trụ vào các mục đích hoà bình được thành lập nhằm xem xét phạm vi các chương trình hợp tác quốc tế về sử dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hoà bình và các chương trình này được xây dựng trên cơ sở cam kết thực hiện dưới sự kiểm duyệt của Liên hiệp quốc; khuyến khích việc nghiên cứu và phổ biến thông tin về những vấn đề liên quan đến khoảng không vũ trụ, nhằm nghiên cứu các vấn đề pháp lý phát sinh từ việc khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ Hiện nay, Uỷ ban sử dụng khoảng không vũ trụ vào các mục đích hoà bình còn là cơ quan giám sát việc thực hiện các nguyên tắc, các điều ước quốc tế về khoảng không vũ trụ
Uỷ ban sử dụng khoảng không vũ trụ gồm có 2 tiểu ban: Tiểu ban Khoa học - Kỹ thuật và Tiểu ban Pháp lý [41]
COPOUS và hai tiểu ban trên đều tổ chức họp thường niên để xem xét các câu hỏi trước khi chúng được đưa ra Đại hội đồng, xem xét các báo cáo của các quốc gia về vấn đề vũ trụ được gửi đến và các vấn đề liên quan được đưa ra từ các quốc gia thành viên
Hiện nay, ngoài Uỷ ban sử dụng khoảng không vũ trụ vào mục đích hoà bình của Liên hiệp quốc còn có rất nhiều các cơ quan, tổ chức khác quản lý các hoạt động ngoài khoảng không vũ trụ như: cơ quan vũ trụ Châu Âu; tổ chức vệ tinh viễn thông quốc tế; tổ chức phi chính phủ Hiệp hội nghiên cứu vũ trụ; tổ chức xã hội hoá vũ trụ các quốc gia [41]…
* Cơ quan vũ trụ Châu Âu – European Space Agency (ESA) là tổ chức liên chính phủ được thành lập năm 1975, có 18 quốc gia thành viên ESA có
Trang 38nhiệm xây dựng và phát triển các hoạt động khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ của Châu Âu; xây dựng và thực hiện các chương trình vũ trụ của Châu Âu, các chương trình tìm hiểu về Trái đất, môi trường trong vũ trụ, hệ thống năng lượng mặt trời, phát triển công nghệ và dịch vụ vệ tinh; đảm bảo việc đầu tư vào các hoạt động khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ sẽ tiếp tục mang lại nhiều lợi ích cho các công dân Châu Âu và nhân dân thế giới [38]
ESA gồm có trụ sở chính của đặt tại Paris, 6 chi nhánh đặt ở các quốc gia thành viên khác (Trung tâm phi hành gia Châu Âu đặt tại Conogne, Đức; 2 Trung tâm thiên văn vũ trụ Châu Âu đặt tại Canada và Tây Ban Nha; Trung tâm các hoạt động vũ trụ Châu Âu đặt tại Đức, Trung tâm quan sát trái đất ở ý; Trung tâm nghiên cứu và công nghệ vũ trụ Châu Âu), 3 văn phòng liên lạc đặt tại Mỹ,
Bỉ, Nga, 1 sân bay vũ trụ đặt tại Guiana, Pháp và các trạm mặt đất [38]
Hội đồng thành viên là cơ quan chủ quản của ESA, có nhiệm vụ xây dựng các nguyên tắc hoạt động, các chính sách phát triển các chương trình vũ trụ của Châu Âu Mỗi quốc gia thành viên của ESA có một phiếu bầu trong Hội đồng không phụ thuộc vào độ lớn – bé của lãnh thổ và mức độ đóng góp tài chính cho các hoạt động của ESA Đứng đầu ESA là Tổng Giám đốc do Hội đồng thành viên bầu với nhiệm kỳ 4 năm [38]
Hiện nay, một số quốc gia cũng thành lập các cơ quan quản lý về vấn đề
vũ trụ của nước mình như: Nga, Pháp, Anh, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc …
* Cơ quan quản lý các hoạt động liên quan đến vũ trụ của Hoa Kỳ được thành lập năm 1958, được gọi là Cục hàng không và vũ trụ quốc gia – The national Aeronautics and Space Administration (NASA) Theo quy định tại Điều
202, Luật vũ trụ và hàng không quốc gia năm 1958, NASA là cơ quan quản lý dân sự các hoạt động vũ trụ và hàng không quốc gia, người đứng đầu NASA do Tổng thống bổ nhiệm sau khi có ý kiến và sự chấp thuận của Thượng nghị viện Như vậy, NASA là cơ quan có tính độc lập cao, hoạt động dưới sự lãnh đạo và
Trang 39giám sát trực tiếp của Tổng thống Người đứng đầu NASA có toàn quyền quản
lý và kiểm soát các nhân viên và các hoạt động của NASA Cấp phó của người đứng đầu NASA cũng do Tổng thống bổ nhiệm sau khi có ý kiến và sự chấp thuận của Thượng nghị viện và có thẩm quyền của người đứng đầu trong trường hợp người đứng đầu NASA vắng mặt hoặc khuyết Người đứng đầu và cấp phó của mình không được tham gia hoạt động ở bất cứ doanh nghiệp nào trong thời gian đương chức
NASA gồm 10 trung tâm chính gồm: Trụ sở chính của Cục hàng không
vũ trụ quốc gia, Trung tâm nghiên cứu Langley, Trung tâm nghiên cứu Glenn, Trung tâm vũ trụ Marshall, Trung tâm vũ trụ Kennedy, Trung tâm vũ trụ Johnson, Trung tâm vũ trụ Tennis, Phòng thí nghiệm Jet Propulsion, Trung tâm nghiên cứu Ames, Trung tâm nghiên cứu các chuyến bay Dryden Và các trung tâm khác như: Trung tâm dịch vụ Nasa, Cơ sở thử nghiệm White Sands, Viện vũ trụ học Goddard, Trung tâm IV và V, Trung tâm bay Wallops NASA hoạt động trên 4 lĩnh vực chủ yếu: hàng không học, khai thác hệ thống chế tạo tầu vũ trụ, robo, nghiên cứu khoa học Trái đất, Mặt trăng, sao Hoả và các thiên thể và quản
lý các hoạt động ngoài khoảng không vũ trụ như các Trạm không gian, các chuyến bay hỗ trợ [39]
* ở Anh cơ quan quản lý các vấn đề vũ trụ được thành lập năm 1985, có tên gọi là Trung tâm vũ trụ quốc gia Anh – The British National Space Centre (BNSC) Trung tâm vũ trụ quốc gia Anh được thành lập nhằm nghiên cứu, khai thác khoảng không vũ trụ; phát triển ngành công nghiệp vũ trụ; tăng cường sự hiểu biết về khoa học vũ trụ và lợi ích thiết thực từ vũ trụ từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống BNSC gồm có Ban vũ trụ, Hội đồng tư vấn vũ trụ và Hội đồng chiến lược vũ trụ; được quản lý, điều hành bởi 11 cơ quan gồm Bộ doanh nghiệp, cải tiến và kỹ năng, Bộ doanh nghiệp, kinh doanh và các quy định cải cách, Bộ trẻ em, trường học và gia đình, Bộ giao thông vận tải, Bộ quốc phòng,
Trang 40Văn phòng nước ngoài và khối thịnh vượng chung, Bộ môi trường, thực phẩm
và nông thôn, Hội đồng nghiên cứu môi trường, Hội đồng khoa học và công nghệ cao, Văn phòng khí tượng và Ban công nghệ chiến lược [36]
Liên hiệp quốc và các quốc gia có các hoạt động liên quan đến việc khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ thành lập các cơ quan quản lý về các vấn đề
vũ trụ là tất yếu trong quá trình phát triển các hoạt động này Thông qua các cơ quan quản lý các vấn đề về vũ trụ của mình, Liên hiệp quốc và mỗi quốc gia có thể quản lý một cách chặt chẽ các hoạt động khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ theo các nguyên tắc, quy định của luật quốc tế và luật của mỗi quốc gia đó Đồng thời đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu, khai thác khoảng không vũ trụ, phát triển ngành công nghiệp vũ trụ, khai thác những lợi ích thiết thực từ vũ trụ nhằm phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng, chủ quyền của mỗi quốc gia
1.3.2.5 Pháp luật quốc gia về khoảng không vũ trụ
Hiện nay khá nhiều quốc gia trên thế giới như: Argentina, Australia, Vương quốc Bỉ, Brazil, Canada, Trung Quốc, Pháp, Đức, Nhật, Hàn Quốc, Nga, Tây Ban Nha, Nam Phi, Thuỵ Sĩ, Vương quốc Anh, Mỹ… đã xây dựng, ban hành luật về khoảng không vũ trụ tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng và hợp tác với các quốc gia khác về khoảng không vũ trụ Một số cường quốc về khoảng không vũ trụ như: Hoa Kỳ, Liên bang Nga, Anh, Nhật, Pháp… đã xây dựng “thế hệ thứ hai” của luật khoảng không vũ trụ, với hệ thống các quy phạm không chỉ điều chỉnh hoạt động thăm dò và khai thác khoảng không vũ trụ của các quốc gia mà còn điều chỉnh các hoạt động mang tính chất thương mại của các tổ chức, cá nhân trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngoài khoảng không vũ trụ – nơi được xem như là một thị trường hoặc một khu vực dành cho du lịch, sản xuất, thương