1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luật quốc tế và học thuyết can thiệp nhân đạo

94 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 151,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát triển luật quốc tế trong việc điều chỉnh thống nhất canthiệp nhân đạo nhân quyền hoặc diệt chủng người không muốn hoặc không thể chấm dứt tình trạng này hoại hòa bình và an ninh quố

Trang 1

đại học quốc gia hà nội

Trang 2

đại học quốc gia hà nội

khoa luật

trần thị vân trà

luật quốc tế

và học thuyết can thiệp nhân đạo

Chuyên ngành : Luật quốc tế Mã số

luận văn thạc sĩ luật học

Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: PGS.TS Đinh Ngọc V-ợng

Hà nội - 2010

Trang 3

MỤC LỤC

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các hộp

Trang 4

1.2 Lịch sử hình thành, phát triển và thực tiễn hoạt động của

học thuyết can thiệp nhân đạo1.2.1 Từ sự hình thành khái niệm can thiệp nhân đạo tới việc trở

thành một hệ thống trong pháp luật quốc tế

tranh lạnh (1945-1991)1.2.3 Thực tiễn của hoạt động can thiệp nhân đạo trong giai đoạn

hiện nay

hoạt động can thiệp của NATO ở Kosovo

1.3.2 Khía cạnh chủ chốt của học thuyết can thiệp nhân đạo trong

hoạt động can thiệp của NATO ở Kosovo

Chương 2: LUẬT QUỐC TẾ VÀ LÝ THUYẾT VỀ CAN THIỆP

NHÂN ĐẠO

giữa luật quốc tế hiện đại và vấn đề bảo vệ quyền con người2.1.1 Can thiệp nhân đạo theo quan điểm của Luật quốc tế hiện đại

Luật quốc tế

2.2.1 Hoàn cảnh ra đời của lý thuyết hiện đại về can thiệp nhân đạo

Chương 3: CAN THIỆP NHÂN ĐẠO

VÀ ĐẶC BIỆT ĐỂ GIỮ GÌN HÒA BÌNH QUỐC TẾ

quốc tế hiện đại nhằm giữ gìn hòa bình quốc tế

Trang 5

3.2 Phát triển luật quốc tế trong việc điều chỉnh thống nhất can

thiệp nhân đạo

nhân quyền

hoặc diệt chủng

người không muốn hoặc không thể chấm dứt tình trạng này

hoại hòa bình và an ninh quốc tế

quyền của Liên hợp quốc

can thiệp nhân đạo khi Hội đồng bảo an không thực hiệnvai trò của mình

KẾT LUẬN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

Danh môc c¸c hép

Sè hiÖu

hép

3.1 Một số định nghĩa về can thiệp nhân đạo

3.1 Một số cuộc thảm sát và diệt chủng từ năm 1945 đến

năm 1994

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Một trong những biểu hiện của toàn cầu hóa trong lĩnh vực chính trị

và nhân đạo và yếu tố thực tế của trật tự thế giới mới là "thể chế" can thiệpvào công việc nội bộ của các quốc gia có chủ quyền vì lý do nhân đạo, đượcmang tên "can thiệp nhân đạo"

Sự quan tâm gần đây nhất đến vấn đề này là cuộc tấn công của NATOđối với Nam Tư, với lý do chính thức là có một cuộc khủng hoảng nhân đạotại Kosovo Tháng 03/1999, với lý do bảo vệ người Anbani bị người Serbiathanh lọc sắc tộc ở Kosovo, NATO đã tấn công vào Cộng hòa liên bang Nam

Tư Một chiến dịch ném bom trên không nhằm vào Serbia được NATO triểnkhai Hậu quả của nó là Slobodan Milosevic bị lật đổ, và lực lượng quânSerbia được thay bởi quân của NATO

Bên cạnh những mục tiêu "nhân đạo" mà NATO đạt được thì sự kiệnnày rõ ràng cũng đã dẫn đến sự trầm trọng hơn mối quan hệ giữa dân cưSerbia và Albania của Kosovo, cùng các hành vi khủng bố, vi phạm quyềncon người ở quy mô lớn ngày càng nhiều hơn, và một dòng chảy khổng lồnhững người tị nạn

NATO, dẫn đầu là Hoa Kỳ đã đảm nhiệm việc giải quyết cuộc khủnghoảng ở Kosovo, đẩy Tổ chức Hợp tác và An ninh châu Âu (OSCE) vào vị tríthứ hai Tuy nhiên, thay vì sử dụng các phương pháp chính trị, ngoại giao vàcác phương tiện hòa bình khác để giải quyết cuộc khủng hoảng, NATO từ rấtsớm đã quyết định sử dụng tên lửa và bom quy mô lớn Đây là lần đầu tiênhọc thuyết can thiệp nhân đạo được thực hiện một cách công khai sau Chiếntranh lạnh và đến tháng 05/2008, nó đã trở thành một phần chiến lược mới củaNATO

Trang 8

Với cuộc chiến này, các nhà phân tích tin rằng, đã xuất hiện một chiềuhướng chính trị thế giới mới, làm rõ nhiều vấn đề về can thiệp nhân đạo ở giaiđoạn hiện nay trong cách giải quyết vấn đề của các nhà lãnh đạo các nướcphương Tây.

Năm 2003, Mỹ tấn công vào Iraq bất chấp sự phản đối của Liên hợpquốc và cộng đồng quốc tế Lý do được Mỹ đưa ra là Iraq đang sở hữu vũ khíhủy diệt hàng loạt, đe dọa nền hòa bình của các quốc gia trong khu vực; Iraqđang chứa chấp các tổ chức khủng bố quốc tế; nước này không tuân thủchương trình đổi dầu lấy lương thực và tất nhiên là Iraq đã và đang tiến hànhdiệt chủng người Kurd Một lần nữa học thuyết can thiệp nhân đạo được sửdụng làm phương tiện cho những cuộc tấn công quân sự vào một quốc gia cóchủ quyền

Tác giả chọn đề tài nêu trên để nghiên cứu vì những lý do sau đây:

- Học thuyết can thiệp nhân đạo vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc

cơ bản của Luật quốc tế hiện đại, trong đó có nguyên không dùng vũ lực hoặc

đe dọa dùng vũ lực, nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác

- Học thuyết can thiệp nhân đạo đề cao vấn đề nhân quyền Trong thờiđại hiện nay, nhân quyền là một đề tài nóng bỏng, nhất là nạn diệt chủng vàthảm sát Chúng nhận được sự quan tâm xác đáng của cộng đồng quốc tế Tuynhiên, trong quá khứ gần và hiện nay, những vụ thảm sát vẫn cứ diễn ra mộtcách âm thầm hay công khai, núp dưới những "tấm khiên" chủ quyền quốcgia, lợi ích của đa số cộng đồng, đối lập về niềm tin tôn giáo,… Nhưng dù vớibất kỳ lý do gì thì chúng vẫn là những hành vi cần lên án và ngăn chặn

- Học thuyết này đang được một số quốc gia sử dụng một cách tùytiện vì lợi ích của mình Hậu quả gây nên sự mất ổn định tình hình thế giớicũng như lấn át sự cân bằng của trật tự pháp lý quốc tế Tình hình đó làm cácquốc gia khác, nhất là những quốc gia có nguồn tài nguyên thiên nhiên

Trang 9

quan trọng hay vị trí địa - chính trị đặc biệt lo lắng cho sự an toàn của quốc gia mình.

- Học thuyết can thiệp nhân đạo đang nhận được những quan điểm tráichiều nhau Bên ủng hộ thì cho rằng học thuyết này đề cao vấn đề nhân quyền

- vấn đề ngày càng trở nên quan trọng trong thế giới hiện đại và văn minh, vàquan trọng hơn cả chủ quyền quốc gia Bên phản đối thì đưa ra chính kiếnrằng việc vận dụng học thuyết vi phạm chủ quyền của các quốc gia, can thiệpthô bạo vào công việc của quốc gia khác Hai quan điểm này, có quan điểmnào là đúng hoàn toàn hay không, hay là có thể có một nhận

định dung hoà giữa chúng? Bởi một vấn đề luôn có hai mặt của chúng, nênđánh giá những tác động tích cực và tiêu cực của học thuyết tới luật quốc tếhiện đại sẽ cho chúng ta cái nhìn đúng đắn hơn về học thuyết Và Luật quốc tế

sẽ cần những thay đổi để phát huy tính tích cực, giảm thiểu tính tiêu cực củahọc thuyết

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

- Tình hình nghiên cứu trong nước

Học thuyết can thiệp nhân đạo được nghiên cứu khá khiêm tốn ở ViệtNam Nó mới được đề cập ở mức độ một số bài viết, ở góc độ mặt tiêu cựccủa học thuyết Hiện nay chưa có một nghiên cứu cụ thể về học thuyết canthiệp nhân đạo, về những ảnh hưởng của nó tới Luật quốc tế hiện đại dưới góc

độ là một nhân tố tác động nhằm hoàn thiện Luật quốc tế

- Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Vấn đề này được nghiên cứu từ rất lâu ở nhiều quốc gia, và xuất hiện

sự tranh cãi gay gắt giữa những học giả ủng hộ can thiệp nhân đạo và nhữnghọc giả phản đối can thiệp nhân đạo, nhất là sau năm 1945, với sự ra đời củaLiên hợp quốc là hệ thống các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế, đánh dấu

sự mất căn cứ pháp lý cho hoạt động can thiệp nhân đạo

Trang 10

Từ sau năm 1989, các cuộc xung đột vũ trang và các vụ việc khác làmgia tăng các vi phạm quyền con người nghiêm trọng trên diện rộng, mà Mỹ vàphương Tây gọi chúng là "khủng hoảng mang tính chất nhân đạo" hay "khủnghoảng nhân đạo", "thảm họa nhân đạo" Các học giả luật quốc tế ủng hộ canthiệp nhân đạo tiếp tục đưa ra những luận điểm mới chứng minh sự hợp lý vàcần thiết của hoạt động can thiệp nhân đạo Có thể kể đến như cuốn

Humanitarian Intervention: Ethical Endeavours and the Politics of Interests của Roy Isbister (2000), cuốn Humanitarian Intervention Legal and political Aspects của Copenhagen (1999), …

Bên cạnh đó, xuất hiện một xu thế nghiên cứu về can thiệp nhân đạonhằm tìm cách áp dụng hoạt động này một cách hiệu quả hơn Ở Mỹ, quốc giadẫn đầu trong hoạt động can thiệp nhân đạo, một số trường đại học và việnnghiên cứu vẫn đang tiến hành các dự án có liên quan Đi đầu phong trào này

là Brooking Institutes hoặc trường đại học John Hopkins với một số tác phẩm

sau: cuốn Chaos and Dissolution after the Cold War, Balkan Stratery của Susan Woodward (1995); cuốn Intervention: the Use of American Military Foce in the Post-cold War World của Richad N.Haass (1999), cuốn U.S Intervention from Northen Iraq to Kosovo của Robert C.DiPrizio (2002),…

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của sựhình thành và phát triển của học thuyết can thiệp nhân đạo, và từ đó đánh giánhững hạt nhân tích cực của học thuyết này Bên cạnh đó đề tài phân tích cáctác động tiêu cực lẫn tích cực của học thuyết tới Luật quốc tế hiện đại Qua đó

đề xuất những giải pháp cho Luật quốc tế hiện đại nhằm phát huy những ưuđiểm và hạn chế những nhược điểm của học thuyết

4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đề tài tập trung chủ yếu vào

đạo theo nghĩa hẹp: can thiệp có sử

việc nghiên cứu vấn đề can thiệp nhân

dụng vũ lực Luận văn đề cập đến tính

Trang 11

chất nhân đạo là hệ quả của hoạt động sử dụng vũ lực, chứ không đề cập đếntính chất nhân đạo là hệ quả của các thảm họa tự nhiên như: động đất, núi lửa,

lũ lụt, sóng thần,…

Đề tài sẽ đi sâu vào việc phân tích can thiệp nhân đạo dưới góc độ làmột học thuyết pháp lý với lịch sử hình thành và các hoạt động thực tiễn Qua

đó chỉ ra những đặc điểm của hoạt động can thiệp nhân đạo cùng với tính ưu

và nhược của nó Từ đó xây dựng một cơ chế pháp lý cho hoạt động can thiệpnhân đạo trong quan hệ quốc tế hiện nay

5 Đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên

cứu - Đối tượng nghiên cứu

Các quan điểm hình thành nên học thuyết can thiệp nhân đạo và hoạtđộng can thiệp nhân đạo theo tiến trình lịch sử Bên cạnh đó, cũng sẽ nghiêncứu các quy định của pháp luật quốc tế hiện đại liên quan đến hoạt động giữgìn hòa bình quốc tế của Liên hợp quốc, vấn đề bảo vệ quyền con người cũngnhư vấn đề can thiệp theo các nguyên tắc cơ bản

- Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài là phương phápduy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Mác - Lênin Bên cạnh đó kết hợpcác biện pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, nghiên cứu và đánh giá các sựkiện, quan điểm

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Đề tài là một nghiên cứu vào một vấn đề còn khá mới ở Việt Nam Kếtquả nghiên cứu của đề tài sẽ góp một phần vào bộ tài liệu tham khảo tronglĩnh vực pháp luật quốc tế

Đề tài khai thác các vấn đề của học thuyết can thiệp nhân đạo, đưa racác nhận định, đánh giá về những vấn đề lý luận và thực tiễn của hoạt động

Trang 12

can thiệp nhân đạo Bên cạnh đó, đề tài cũng gợi mở những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứ và tìm hiểu về can thiệp nhân đạo.

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Can thiệp nhân đạo trong hoạt động giữ gìn hòa bình quốc tế Chương 2: Luật quốc tế và lý thuyết về can thiệp nhân đạo.

Chương 3: Can thiệp nhân đạo - một hình thức mới và đặc biệt để giữ

gìn hòa bình quốc tế

Trang 13

1.1.1 Khái niệm giữ gìn hòa bình quốc tế

Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc đã để lại những hậu quả thảmkhốc về tính mạng, tinh thần, vật chất cho loài người Nhằm phòng ngừa mộtcuộc chiến tương tự sẽ xảy ra trong tương lai, các quốc gia trên thế giới đãthành lập nên Liên hợp quốc - một tổ chức quốc tế toàn cầu, với mục đíchhàng đầu và trước hết là nhằm duy trì hòa bình và an ninh quốc tế

Tại Điều 1 khoản 1 - Hiến chương Liên hợp quốc đã ghi nhận:

Duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, và để đạt được mụcđích đó: dùng những biện pháp tập thể có hiệu quả nhằm phòngngừa và gạt bỏ mọi mối đe dọa hòa bình, trừng trị mọi hành độngxâm lược hay phá hoại hòa bình khác, và điều chỉnh hoặc giải quyếtbằng phương pháp hòa bình theo đúng những nguyên tắc của công

lý và của pháp luật quốc tế những vụ tranh chấp hoặc những tìnhthế có tính chất quốc tế, có thể dẫn đến phá hoại hòa bình [1, tr 9]

Vì vậy, về bản chất, giữ gìn hòa bình quốc tế là những hoạt động đónggóp cho tương lai quá trình giải quyết và thiết lập nền hòa bình Những hoạtđộng đó bao gồm các biện pháp thông qua con đường ngoại giao (thươnglượng, đàm phán, hòa giải, thu thập thông tin về xung đột,…); quan sát vàgiám sát ngừng bắn; cách ly các lực lượng xung đột; thúc đẩy thực hiện luậtpháp và trật tự; cung cấp hỗ trợ, giúp đỡ nhân đạo; giải trừ quân bị; hỗ trợ vàgiám sát bầu cử; tái thiết sau xung đột;… và cuối cùng là sử dụng lực lượng

Trang 14

vũ trang trong trường hợp có sự đe dọa hòa bình, có sự phá hoại hòa bìnhhoặc có một hành vi xâm lược.

Theo nghĩa hẹp, giữ gìn hòa bình được Liên hợp quốc xem là các biệnpháp có tính chất đem lại hòa bình, nhằm mục đích làm ổn định tình hìnhtrong khu vực xung đột, tạo ra những điều kiện thuận lợi để giải quyết xungđột một cách hòa bình cũng như khôi phục trở lại và duy trì hòa bình [9, tr.313] Lực lượng gìn giữ hòa bình theo dõi và giám sát tiến trình hòa bìnhtrong những vùng hậu xung đột và giúp đỡ các bên xung đột trong việc thựchiện những thỏa thuận hoà bình mà họ đã ký Các sự trợ giúp như vậy cónhiều dạng, gồm phương pháp xây dựng lòng tin, thỏa thuận về việc chia sẻquyền lực, hỗ trợ bầu cử, củng cố luật pháp, và việc phát triển kinh tế - xãhội, Lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc có thể bao gồm nhữngbinh lính, cảnh sát dân sự và các dân thường khác

1.1.2 Lịch sử hình thành của hoạt động giữ gìn hòa bình quốc tế

Hoạt động giữ gìn hòa bình quốc tế được hình thành và thực hiện lần đầu tiên bởi Liên hợp quốc Và từ năm 1945 cho đến nay, hoạt động cũng do Liên hợp quốc thực hiện là chủ yếu Ngoài ra, nó còn được các tổ chức quốc tế khu vực thực hiện nhằm giữ gìn hòa bình và an ninh khu vực, như OSCE, SNG, AU,

Những người sáng lập Liên hợp quốc đã thực sự hy vọng rằng tổ chứcnày sẽ hoạt động để ngăn chặn những cuộc xung đột giữa các quốc gia và cáccuộc chiến tranh trong tương lai Nhưng hy vọng đó đến nay vẫn chưa thể trởthành hiện thực Từ năm 1948 cho đến nay, Liên hợp quốc đã tiến hành trên

60 hoạt động cần thiết để giữ gìn hòa bình ở các khu vực khác nhau trên thếgiới, nhưng không phải hoạt động nào cũng mang lại được kết quả, thậm chí

có những trường hợp Liên hợp quốc hoàn toàn bất lực

Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, sự phân chia thế giới thành hai cực thùđịch khiến thỏa thuận gìn giữ hòa bình rất khó được thông qua Hoạt động giữgìn hòa bình vì thế được thực hiện rất ít, và hiệu quả đạt được không cao Sứ

Trang 15

mạng hòa bình đầu tiên của Liên hợp quốc là vào năm 1948 ở Palestin.Những binh sĩ đầu tiên của Liên hợp quốc được giao nhiệm vụ giữ gìn hòabình quốc tế là tại vùng kênh đào Suez vào tháng 11/1956 Đối với cuộc xungđột nội bộ tại Cộng hòa nhân dân Congo năm 1960, Liên hợp quốc đã triểnkhai lực lượng giữ gìn hòa bình nhưng không mang lại kết quả.

Sau chiến tranh lạnh, các nước lớn chuyển từ đối đầu sang đối thoại vàhợp tác để giải quyết những vấn đề quốc tế, giải quyết những tranh chấp, xungđột vũ trang dai dẳng Vì vậy, ngoài việc duy trì một số chiến dịch gìn giữ hoàbình đã khởi đầu từ thời kỳ chiến tranh lạnh, Liên hợp quốc đã liên tiếp tổchức các chiến dịch gìn giữ hoà bình mới để giải quyết các cuộc xung độtgiữa các quốc gia

Đây là những chiến dịch gìn giữ hoà bình mang tính chất truyềnthống, lực lượng gìn giữ hoà bình đứng giữa các bên tham chiến Hầu hết cácchiến dịch này là phân tách lực lượng của các bên xung đột; thiết lập và tuầntra, kiểm tra các cùng phân tách, các vùng đệm và vùng phi quân sự; quan sát

và giám sát các thỏa thuận ngừng bắn, rút quân, về sự phát triển của tình hình,

về sự di chuyển của lực lượng vũ trang và về vũ khí trong vùng căng thẳng.Các chiến dịch hoà bình truyền thống không chỉ đáp ứng nhu cầu của các bênxung đột, mà còn phù hợp với yêu cầu của các nước lớn, muốn tận dụng vaitrò "trung lập" tương đối của Liên hợp quốc để kiềm chế, tránh chiến tranh tạimột số khu vực chiến lược

Lực lượng gìn giữ hoà bình trong hoạt động giữ gìn hoà bình truyềnthống đã đảm bảo được tính trung lập về quân sự và chính trị đối với các quốcgia đối địch Việc thành lập các lực lượng gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc ởcác nước xung đột dều được các bên liên quan yêu cầu hoặc chấp nhận sángkiến của các nước khác hoặc của Tổng thư lý Liên hợp quốc Điều đó thể hiệnrất rõ vai trò của Liên hợp quốc trong việc dàn xếp, giải quyết các cuộc xungđột khu vực, duy trì hoà bình, ổn định thế giới

Trang 16

Từ năm 1988 đến nay, các cuộc xung đột nội bộ liên quan sắc tộc, tôngiáo, văn hoá, tranh chấp tài nguyên bùng lên dữ dội Tại một số nước nhưSomali, Liberia, Haiiti, Siera Leon và Cộng hòa dân chủ nhân dân Congo, cáccuộc xung đột dẫn đến tình trạng hỗn loạn, chính quyền trung ương khôngquản lý được đất nước… Những cuộc xung đột này rất phức tạp và nhiềuthách thức khó khăn, đòi hỏi phải đổi mới hoạt động của lực lượng gìn giữhoà bình để xây dựng hoà bình, tái thiết đất nước đã bị chiến tranh tàn phá.Nhiệm vụ mới này không còn bó hẹp trong phạm vi các hoạt động gìn giữ hoàbình truyền thống mà còn đảm nhiệm thêm nhiều chức năng Ngoài chức năngquân sự, hoạt động này còn thực hiện các chức năng khác như kiểm soát các

cơ quan hành chính, tổ chức và tiến hành bầu cử, thúc đẩy phát triển kinh tế

và xã hội, quan sát về việc thực hiện quyền con người, giúp đỡ công cuộc xâydựng nhà nước,… Và để thực hiện các chức năng mới này, hoạt động giữ gìnhòa bình còn cần sự tham gia của các nhân viên cảnh sát và nhân viên dân sự

Cũng từ cuối những năm 80 của thế kỷ XX đã xuất hiện một tính chấtmới trong hoạt động giữ gìn hòa bình quốc tế Nếu như trước đây hoạt độngnày chủ yếu nhằm tạo ra các điều kiện các điều kiện để tiến hành thắng lợiđàm phán về giải quyết xung đột thì từ đây nó còn được tiến hành sau khi tiếnhành đàm phán, với mục đích giúp đỡ các bên thực hiện các điều kiện về giảiquyết xung đột một cách toàn diện Những hoạt động như thế được tiến hành

ở Namibia, Angola, El Salvador, Campuchia, Mozambique,… Phần lớn trong

số các hoạt động này đều mang lại hiệu quả tốt, góp phần làm ổn định tìnhhình ở nhiều khu vực nóng trên thế giới

Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh rằng trong nhiều trường hợp hoạtđộng giữ gìn hòa bình của Liên hợp quốc đã không mang lại thành công, thậmchí là thất bại lớn lao Có thể kể đến là các trường hợp tại Bosnia vàHerzegovina, Somali, Rwanda, Congo trong những năm 90 của thế kỷ XX.Chúng là những dẫn chứng cho thấy hiệu quả của hoạt động giữ gìn hòa bình

Trang 17

quốc tế đang giảm sút khi mà các bên tham chiến không chịu tuân thủ cácthỏa thuận ngừng bắn, sự hợp tác giữa họ hạn chế hoặc không hề có Nguyênnhân dẫn đến kết quả này là khá nhiều, đáng chú ý là nhiệm vụ đặt ra trướchoạt động giữ gìn hòa bình vượt ra ngoài khuôn khổ giữ gìn hòa bình (ví dụ:yêu cầu áp dụng cưỡng chế trong điều kiện thiếu sự lãnh đạo chính trị vữngchắc của Hội đồng bảo an) Vì thế mà yêu cầu cải thiện hoạt động giữ gìn hòabình để phù hợp với thực tế là hoàn toàn cấp thiết.

Bên cạnh đó, cũng trong thập kỷ cuối của thế kỷ XX, hàng loạt hệthống an ninh khu vực được thiết lập và hoạt động trên cơ sở tuân thủ mụcđích và nguyên tắc của Liên hợp quốc, nhằm giữ gìn hòa bình trong khu vực

Có thể kể đến là hoạt động giữ gìn hòa bình của OSCE trong trường hợp cóxung đột giữa các thành viên của tổ chức hoặc xung đột nội bộ mỗi nướcthành viên Nhiệm vụ chính là kiểm soát về thực hiện thỏa thuận ngừng bắn;theo dõi việc rút quân; giúp đỡ giữ gìn an ninh trật tự; giúp đỡ nhân đạo,…Trong khi đó lực lượng gìn giữ hòa bình của SNG không được sử dụng vàocác hoạt động tác chiến Quy chế của nó là giữ gìn hòa bình, trung lập vàkhông thiên vị Lực lượng này chỉ được sử dụng vũ khí với mục đích bảo đảm

an ninh của binh lính và nhân viên ở mức độ phòng thủ; trong trường hợp cóbiểu hiện dùng vũ lực ngăn cản thực hiện chức năng gìn giữ hòa bình; nhằmchống lại sự tấn công vũ trang của các nhóm khủng bố, biệt kích và thổ phỉ;nhằm bảo vệ thường dân khỏi mọi sự xâm hại đến tính mạng và sức khỏe.Ngoài ra còn có các hoạt động giữ gìn hòa bình của AU, OSA,…cũng đã đónggóp tích cực vào công cuộc gìn giữ hòa bình và an ninh quốc tế

1.1.3 Các hình thức cơ bản của hoạt động giữ gìn hòa bình quốc tế

1.1.3.1 An ninh tập thể

An ninh tập thể là hệ thống các biện pháp chung của cả cộng đồngquốc tế hay của một nhóm quốc gia trong cùng khu vực địa lý nhất định, được

Trang 18

áp dụng nhằm ngăn ngừa hoặc loại trừ mối đe doạ hoà bình và chặn đứnghành vi xâm lược hoặc các hành vi phá hoại hoà bình khác.

Đặc điểm: mỗi một hệ thống an ninh tập thể được thành lập trên cơ sởđiều ước quốc tế Sự tấn công vào một quốc gia thành viên sẽ được coi như là

sự tấn công vào mọi thành viên Các quốc gia thành viên của hệ thống này cónghĩa vụ giúp đỡ các thành viên khác trong trường hợp bị tấn công vũ trang từphía quốc gia thứ ba

An ninh tập thể được chia thành an ninh toàn cầu và an ninh khu vực

- An ninh toàn cầu: là hoạt động giữ gìn hòa bình do Liên hợp quốc đảm nhiệm, thông qua vai trò của Hội đồng bảo an

Hội đồng bảo an Liên hợp quốc là cơ quan có thẩm quyền xác địnhnhững trường hợp đe dọa hòa bình và an ninh quốc tế, từ đó đề ra các biệnpháp để bảo vệ hòa bình Các biện pháp này có thể bao gồm việc đình chỉ mộtphần hay toàn bộ các quan hệ kinh tế, giao thông hay cắt đứt quan hệ ngoạigiao Và biện pháp cuối cùng là sử dụng lực lượng vũ trang Đây là lực lượngquân đội cùng với sự giúp đỡ và mọi phương tiện phục vụ cần thiết khác (như

hỗ trợ kỹ thuật, rà phá mìn, y tế,…) do các quốc gia thành viên Liên hợp quốccung cấp

- An ninh khu vực: là hoạt động giữ gìn hòa bình ở phạm vi khu vựcthông qua các điều ước quốc tế và các tổ chức quốc tế khu vực phù hợp vớimục đích và nguyên tắc của Liên hợp quốc

An ninh khu vực là một bộ phận của hệ thống an ninh toàn thế giới Vìvậy, mọi hành động cưỡng chế do các điều ước quốc tế hay các tổ chức quốc tếkhu vực thực hiện phải được sự cho phép của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc

Các tổ chức quốc tế khu vực hiện nay được thừa nhận là có chức nănggiữ gìn hòa bình và an ninh quốc tế là: OAS, AU, Liên đoàn các quốc gia ẢRập, SNG, OSCE

Trang 19

1.1.3.2 Ngoại giao phòng ngừa

Ngoại giao phòng ngừa được hiểu là hoạt động được tiến hành nhằm

"ngăn ngừa tranh chấp có thể nảy sinh giữa các bên, ngăn ngừa những tranh chấp đang diễn ra để tránh leo thang thành các cuộc xung đột và hạn chế mức độ lan rộng của các cuộc xung đột khi xảy ra" [15, tr 3].

Ngoại giao phòng ngừa chính là xác định rõ mục tiêu cơ bản của nó làhoạt động chính trị và ngoại giao do các quốc gia cùng tiến hành với sự đồng

ý của tất cả các bên trực tiếp có liên quan nhằm ba mục đích: phòng ngừa cáccuộc tranh chấp và đụng độ nổ ra giữa các quốc gia, có thể đe doạ hoà bìnhkhu vực; phòng ngừa các xung đột sẵn có leo thang thành xung đột vũ trang;hạn chế tác động của các cuộc tranh chấp đối với khu vực

1.1.3.3 Cưỡng chế hoà bình

Theo chương VII Hiến chương Liên hợp quốc, cưỡng chế hoà bình làhoạt động được tiến hành không cần sự chấp nhận của các bên để đảm bảotuân thủ ngừng bắn theo quyết định của Hội đồng Bảo an

Lực lượng cưỡng chế hoà bình bao gồm lực lượng quân sự của một sốquốc gia đựơc trang bị đầy đủ vũ khí, hoạt động theo sự chỉ đạo gián tiếp củaTổng thư kí Liên hợp quốc Hành động cưỡng chế được quy định tại chươngVII Hiến chương Liên hợp quốc là hành động trong trường hợp hoà bình bị đedoạ, bị phá hoại và có hành vi xâm lược

1.1.3.4 Kiến tạo hoà bình

Theo Tổng thư ký Liên hợp quốc Boutros Ghali, kiến tạo hoà bình làcác hoạt động thương lượng và trung gian hoà giải, nhằm đưa các bên thùđịch đi đến thoả thuận bằng các biện pháp hoà bình, theo tinh thần chương VIHiến chương Liên hợp quốc [15, tr 3]

Thông qua các biện pháp giải quyết về mặt pháp lý, các hoạt độngtrung gian và các hình thức thương lượng khác, các bên sáng kiến "kiến tạo

Trang 20

hoà bình" của Liên hợp quốc sẽ thuyết phục các bên giải quyết một cách hoàbình những bất đồng giữa các bên xung đột.

Ví dụ: Tổng Thư ký Liên hợp quốc Ban Ki-moon và Hội đồng Bảo anLiên hợp quốc đã kêu gọi tất cả các bên trong cuộc xung đột đẫm máu ởDarfur, Sudan, tham gia tiến trình hòa bình Trước đó, với vai trò trung gianhòa giải của Liên hợp quốc, các bên đã ký thỏa ước ngừng các hành động thùđịch và xung đột ở Darfur Tại Cote d'Ivoire, Đại diện đặc biệt của Tổng Thư

ký Liên hợp quốc Y J Choi đã hòa giải làm dịu tình hình căng thẳng ở nướcnày sau khi chính phủ và Ủy ban bầu cử bị giải tán

1.1.3.5 Xây dựng hoà bình sau xung đột

Xây dựng hòa bình sau xung đột là các biện pháp được tiến hành để thúcđẩy hợp tác kinh tế và xã hội, nhằm xây dựng lòng tin giữa các bên đã từng thamchiến, phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội và chính trị, ngăn ngừa bạo lực xảy ratrong tương lai, củng cố và giữ gìn hoà bình lâu bền như viện trợ phát triển, caiquản hành chính, dân sự và thúc đẩy thực hiện các quyền con người

Hoạt động này là một phần cơ bản trong nỗ lực của Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế nhằm bảo đảm quá trình chuyển tiếp từ xung đột sang hòa bình, phát triển và tái thiết của các nước trải qua chiến tranh và xung đột vũ trang.

Trong suốt thế kỷ XX, hàng loạt các điều ước quốc tế song phương và

đa phương về giải trừ quân bị với nội dung và phạm vi khác nhau đã được kýkết Bên cạnh đó là các chương trình giải trừ quân bị được thực hiện, và

Trang 21

chúng được coi là biện pháp phòng ngừa trong thời bình để loại trừ phươngtiện, vũ khí cho những cuộc xung đột vũ trang, tạo điều kiện cho các giảipháp hòa bình, phục vụ cho mục đích nhân đạo, tránh tổn thất và thương vongcho dân thường Chương trình giải trừ quân bị của Hội đồng bảo an được thựchiện trên ba lĩnh vực lớn: giải trừ vũ khí hạt nhân và không phổ biến vũ khíhạt nhân; vũ khí hóa học và sinh học; vũ khí thông thường.

1.1.3.7 Các biện pháp củng cố lòng tin

Các biện pháp củng cố lòng tin là các biện pháp tổ chức - kỹ thuậtriêng biệt do các quốc gia cùng nhau xây dựng, nhằm đạt tới sự hiểu biết lẫnnhau, giảm trừ đối kháng quân sự, ngăn chặn các cuộc tấn công bất ngờ hoặccác cuộc xung đột không tuyên bố, trong đó có xung đột hạt nhân Các biệnpháp này bao gồm quan sát, thông báo, thông tin, trao đổi thông tin về vũ khí,

về lực lượng vũ trang và hoạt động quân sự

Để củng cố lòng tin, các quốc gia đã chủ động thỏa thuận về nhữngbiện phá cải thiện thông tin liên lạc qua lại thông qua các điều ước quốc tếsong phương và đa phương

1.1.3.8 Các biện pháp bảo đảm an ninh quốc tế

Các biện pháp bảo đảm an ninh quốc tế là các biện pháp do các cườngquốc hạt nhân chủ động bảo đảm và thực hiện đối với các nước không có vũkhí hạt nhân nhằm bảo đảm hòa bình và an ninh quốc tế Các biện pháp nàyđược phân biệt thành biện pháp chủ động và biện pháp thụ động

- Các biện pháp bảo đảm an ninh quốc tế chủ động: là việc các cườngquốc hạt nhân cam kết giúp đỡ bất kỳ quốc gia không hạt nhân nào trongtrường hợp bị đe doạ sử dụng vũ khí hạt nhân

- Các biện pháp bảo đảm an ninh quốc tế thụ động: là cam kết của cáccường quốc hạt nhân kiềm chế không sử dụng vũ khí hạt nhân chống các quốcgia không sở hữu vũ khí hạt nhân

Trang 22

1.1.4 Nguyên tắc hoạt động giữ gìn hòa bình quốc tế

Hoạt động giữ gìn hòa bình quốc tế trước hết phải tuân thủ các nguyêntắc cơ bản của Luật quốc tế, trong đó đáng chú ý nhất là nguyên tắc không canthiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác, nguyên tắc không sử dụng vũ lựchoặc đe dọa sử dụng vũ lực, nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc

tế Bên cạnh đó, hoạt động này còn có các nguyên tắc đặc thù riêng của mình,bao gồm nguyên tắc an ninh không chia cắt và nguyên tắc an ninh bình đẳng

1.1.4.1 Nguyên tắc an ninh không chia cắt

Trong thời kỳ toàn cầu hóa hiện nay, các quốc gia đều tồn tại trong mốiquan hệ phụ thuộc lẫn nhau về mọi mặt, từ kinh tế, chính trị cho đến an ninhquốc phòng Và vì thế, trong một thế giới không chia cắt cũng đòi hỏi một nền

an ninh chung, trong đó an ninh của mỗi quốc gia phụ thuộc vào an ninh của mọiquốc gia khác Không thể xây dựng an ninh của một hay một nhóm quốc gia mà

bỏ qua an ninh của các quốc gia khác hay của cả cộng đồng quốc tế

Nguyên tắc an ninh không chia cắt không có nghĩa là loại bỏ nhu cầubảo đảm an ninh của một quốc gia, vì mỗi quốc gia là một thực thể độc lập, cóchủ quyền nên đều có quyền thiết lập nền an ninh riêng biệt của mình để bảo

vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, trong đó có quyền tự vệ hợp pháp đượcghi nhận tại Hiến chương Liên hợp quốc

Tuy nhiên, để bảo đảm an ninh chung cho cộng đồng quốc tế, an ninhcủa mỗi quốc gia cần được giữ ở mức độ cần thiết, phù hợp giữa an ninh riêngcủa quốc gia và an ninh chung của cả cộng đồng Bên cạnh đó, nhằm tránhchạy đua vũ trang, mỗi quốc gia chỉ cần xây dựng lực lượng vũ trang và trang

bị vũ khí ở mức độ vừa đủ để phòng thủ đất nước

1.1.4.2 Nguyên tắc an ninh bình đẳng

Để đảm bảo an ninh chung của cả cộng đồng quốc tế, các quốc gia cónghĩa vụ tôn trọng sự cân bằng về quân sự trong khu vực và trên thế giới

Trang 23

Hiến chương Liên hợp quốc xác định nghĩa vụ của các quốc gia là phải kiềmchế, không chạy đua vũ trang Trong quan hệ song phương, quan hệ khu vực

và toàn cầu, từng quốc gia phải luôn tính đến an ninh của các quốc gia khác

Mặt khác, an ninh của các quốc gia đều phải được đảm bảo như nhau,không một quốc gia hoặc một nhóm quốc gia nào có quyền tìm mọi cách đểtạo ra ưu thế về an ninh cho mình trước các quốc gia khác trong khu vực vàtrong cả cộng đồng quốc tế

1.2 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG CỦA HỌC THUYẾT CAN THIỆP NHÂN ĐẠO

1.2.1 Từ sự hình thành khái niệm can thiệp nhân đạo tới việc trở thành một hệ thống trong pháp luật quốc tế

Khái niệm "can thiệp nhân đạo" được hình thành từ khá sớm Lần đầutiên thuật ngữ này được nhắc tới là vào thế kỷ XIII với nhận định của Thomas

Aguinas: "Các quốc gia có chủ quyền có quyền can thiệp vào công việc nội

bộ của quốc gia khác khi có sự đối xử thô bạo đối với công dân của mình ở mức độ không thể chấp nhận được" [18, tr 233] Đây cũng chính là quan

niệm cổ điển về can thiệp nhân đạo Nó bao gồm mọi hình thức sử dụng lựclượng vũ trang của một quốc gia nhằm bảo vệ cuộc sống và sự tự do của côngdân nước mình đang cư trú trên lãnh thổ của quốc gia khác do quốc gia đókhông tự nguyện và không có khả năng để làm việc đó một mình

Đến thế kỷ XVI, XVII, can thiệp nhân đạo được xây dựng thành hệthống có nguồn gốc từ thuyết pháp quyền tự nhiên và chủ nghĩa tự do Các nhà

lý luận tự do kinh điển cho rằng cá nhân là đơn vị quan trọng nhất, nhà nước vàdân tộc chỉ đóng một vai trò tối thiểu trong xã hội, chủ yếu là làm trọng tài phân

xử các tranh chấp giữa các cá nhân và đảm bảo duy trì được các điều kiện để cánhân có thể hưởng thụ các quyền của mình Còn các nhà tự do dân chủ thì chorằng sự lan rộng của hệ thống chính trị dân chủ sẽ khiến cho quyền lực không

Trang 24

còn tập trung vào trong tay một số người Những nhà lý luận theo trường phái này trong lĩnh vực quan hệ quốc tế được nhiều người biết đến là I Kant và H Grotius.

I. Kant cho rằng, trên thế giới có một giá trị đạo đức, nhân đạo phổquát, vĩnh cửu và bất biến Những nhân tố này khi cần thiết có thể đòi hỏi sựlật đổ hệ thống các quốc gia, thành lập một cộng đồng phổ quát của loàingười Các nước phương Tây dựa trên học thuyết của Kant để rút ra nhậnđịnh, các giá trị cơ bản của con người là hoàn toàn giống nhau Vì thế mà cácquốc gia này thường gắn các quyền cơ bản của con người và dân chủ củamình cho các quốc gia khác

Trong khi đó, Hugo Grotius lại mong muốn điều chỉnh các quan hệquốc tế bằng việc đưa ra các tiêu chuẩn đạo đức và chính trị mới, trong mốiquan hệ với những quy định khác liên quan đến việc tôn trọng chủ quyềnquốc gia và các thỏa thuận Với mục đích cải thiện trật tự thế giới, ông đã đưa

ra thuật ngữ "chiến tranh chính nghĩa" để minh họa cho quyền can thiệp nhân

đạo trong tác phẩm Quyền chiến tranh và hòa bình Trong đó ông nhấn mạnh rằng: "Chiến tranh chỉ được phép nếu dựa trên những lý do đặc biệt" [29, tr.

2] Ông mô tả chính trị quốc tế như một xã hội của các quốc gia Các quốc gianày, trong quan hệ quốc tế, không những bị giới hạn bởi những nguyên tắccẩn trọng và lợi ích thiết thực mà còn bởi cả những yêu cầu về đạo lý và phápluật Ông cho rằng có sự tồn tại quyền thực hiện các cuộc Cách mạng, đặc biệttrong trường hợp chế độ độc tài Khi đối tượng bị đàn áp yêu cầu sự giúp đỡ

từ bên ngoài thì can thiệp nhân đạo sẽ được thực hiện ngay Lập luận của ôngđược gắn liền với học thuyết chống lại sự đàn áp và dựa cơ sở thực tế rằngvào thời điểm đó nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực không tồn tại

Quan điểm của Hugo Grotius về can thiệp nhân đạo nhận được sự ủng

hộ mạnh mẽ của nhiều học giả luật quốc tế khác Có thể kể đến là học giả luật

quốc tế người Pháp, Vattel, với khẳng định: "Bất cứ quốc gia nước ngoài nào cũng có quyền ủng hộ một dân tộc bị áp bức nếu được yêu cầu" [45, tr 298].

Trang 25

Với đặc điểm chưa xuất hiện các quy định về cấm sử dụng vũ lựctrong quan hệ quốc tế, và các quốc gia đang coi chiến tranh là phương tiệnhữu hiệu để giải quyết các tranh chấp, xung đột quốc tế nên vào thế kỷ XIXhọc thuyết can thiệp nhân đạo được các học giả chấp nhận và ủng hộ Tínhhợp pháp của can thiệp nhân đạo được chấp nhận trên cơ sở luật tập quánquốc tế Các học giả ủng hộ quan điểm này đã viện dẫn tiền lệ về hành độngcủa Pháp ở Syria năm 1860-1861 nhằm bảo vệ người Thiên chúa giáo Hànhđộng của Pháp được công nhận và giám sát bởi năm cường quốc châu Âu Họcoi đây là một ví dụ điển hình cho các hoạt động can thiệp nhân đạo.

Trong suốt thế kỷ XIX, các hoạt động can thiệp nhân đạo được tiếnhành rộng rãi Có thể kể đến là: can thiệp tập thể của Anh, Pháp, Nga ở HyLạp 1827-1830 để chấm dứt thảm họa tàn sát người dân Thổ Nhĩ Kỳ và sựđàn áp những người dân mang tư tưởng Cách mạng Thổ Nhĩ Kỳ; can thiệpcủa Nga vào Bosnia-Herzegovina và Bulgaria năm 1877-1878; can thiệp của

Mỹ vào Cuba năm 1898; can thiệp của Hy Lạp, Bulgaria, Serbia vàoMacedonia trong các năm 1903-1908 và 1912-1913,…

1.2.2 Những hoạt động can thiệp nhân đạo trong thời gian chiến tranh lạnh (1945-1991)

Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, cuộc cạnh tranh về tư tưởng và đấutranh giành ảnh hưởng giữa hai cường quốc Liên Xô và Mỹ diễn ra quyết liệt

Nó làm tê liệt hoạt động của Hội đồng bảo an, và vì thế hạn chế hoạt động giữgìn hòa bình quốc tế của Liên hợp quốc Hội đồng bảo an không có nhiềuquyền hạn trong việc đưa ra những quyết định thực thi can thiệp nhân đạo.Hầu như không một nước lớn nào muốn làm đảo lộn trật tự hai cực vốn đãđược thiết lập Bất chấp các hội nghị quốc tế về nhân quyền và ngăn chặn chế

độ diệt chủng, khái niệm "công lý" bản thân nó đã lệ thuộc vào bối cảnh củathời kỳ này

Trang 26

Do vậy, hoạt động can thiệp nhân đạo dưới sự cho phép của Liên hợpquốc trong giai đoạn chiến tranh lạnh diễn ra rất ít và đạt được kết quả cực kỳkhiêm tốn Một số quốc gia đơn lẻ vẫn tiến hành can thiệp nhân đạo, và đạtđược những kết quả rất khó đánh giá Bên cạnh đó là hàng loạt các vi phạmquyền con người nghiêm trọng, thậm chí trở thành thảm họa nhân đạo, vẫndiễn ra suốt thời gian này mà không có sự can thiệp hay thậm chí là sự quantâm của cộng đồng quốc tế Chúng ta có thể điểm qua một số trường hợp canthiệp nhân đạo sau:

Vào năm 1960 diễn ra hoạt động can thiệp nhân đạo "với các kết quảnghèo nàn" được triển khai bởi Liên hợp quốc tại Cộng hòa dân chủ Congo Lúcnày, Cộng hòa dân chủ Congo mới giành được độc lập đã yêu cầu Liên hợp quốccan thiệp giúp ổn định tình hình trước những xung đột vũ trang trong nước đangngày càng leo thang, có nguy cơ bùng phát thành nội chiến Trước yêu cầu củaquốc gia sở tại cũng như trước một thảm họa nhân đạo đang diễn ra, Hội đồngbảo an đã thông qua một Nghị quyết, theo đó quân đội Liên hợp quốc sẽ được ủyquyền gìn giữ hòa bình và trật tự tại Congo Chỉ trong vòng 48 tiếng, đội quânđầu tiên trong lực lượng mũ nồi xanh với hơn 11.000 binh lính và sĩ quan của cảchục nước khác nhau đã được chuyển tới châu Phi Sau một thời gian ngắn, lựclượng của Liên hợp quốc tuyên bố đã kiểm soát được Congo Tuy nhiên, thủtướng Lumumba bị ám sát, và tình hình Congo lại trở nên rối loạn hơn, bất chấpmọi nỗ lực vãn hồi của Liên hợp quốc

Năm 1965, một sự kiện nổi lên là sự can thiệp của Mỹ vào Cộng hoàDominica Tháng 05/1961, tổng thống Dominica - nhà độc tài Rafael Trujillo

bị ám sát, đất nước này rơi vào tình trạng bất ổn chính trị Một cuộc nội chiếndiễn ra giữa chính phủ và những người Dominica lưu vong Lấy lý do nhânđạo, Mỹ đã đem 22.000 quân vào lãnh thổ Dominica Cuộc nội chiến chấmdứt dưới sự can thiệp của Mỹ và mở đầu cho cuộc di cư quy mô lớn của ngườiDominica sang Mỹ

Trang 27

Tháng 03/1971, cộng đồng người Hồi giáo phía đông Pakistan tuyên

bố thành lập quốc gia Bangladesh do những bất đồng và bị đàn áp từ chínhphủ Pakistan Quân đội Pakistan lập tức tiến hành giải thể chính quyền mớinày bằng vũ lực Hậu quả là hàng triệu người đông Pakistan phải chạy tị nạnvào lãnh thổ Ấn Độ nhằm tránh các vụ thảm sát gây ra bởi quân đội Pakistan.Trước sự ủng hộ của Ấn Độ đối với việc thành lập nhà nước Bangladesh,Pakistan tấn công Ấn Độ bằng các cuộc ném bom ồ ạt vào các khu vực quân

sự dọc theo biên giới hai nước Cuộc chiến Ấn Độ - Pakistan diễn ra, cuốicùng kết thúc với chiến thắng của Ấn Độ Và với lực lượng quân đội tiến sâuvào lãnh thổ Pakistan, Ấn Độ tiến hành can thiệp nhằm giải phóng ngườiBengal (đã bị quân đội Pakistan thảm sát tới 300.000 người), và nhà nướcCộng hòa Bangladesh ra đời

Cộng hòa Trung Phi giành độc lập năm 1960 từ Pháp Vào tháng 01năm 1966, Jean Bedel Bokassa lên nắm chính quyền sau cuộc đảo chính.Tháng 12 năm 1976, Bokassa cho công bố Hiến pháp mới, cải tổ đất nướcthành Đế quốc Trung Phi và lên ngôi hoàng đế Trong thời gian nắm quyền,Bokassa tiến hành những chính sách tàn bạo không chỉ đối với những ngườichống đối mình mà còn với cả nhân dân, được mệnh danh là "kẻ ăn thịtngười" Trước thảm họa nhân đạo diễn ra tại đất nước này, Pháp đã tiến hànhcan thiệp bằng vũ lực, lật đổ Bokassa vào năm 1979 và Đế quốc Trung Phi lạitrở về với chế độ cộng hòa

Vào ngày 12/10/1983, Grenada xảy ra cuộc đảo chính lật đổ thủ tướngđương nhiệm Bishop Chính biến này đẩy đất nước Grenada vào rối loạn vàbất ổn, thường dân trở thành nạn nhân của bạo lực Khi đó Hoa Kỳ đang cóhơn 800 sinh viên đang theo học tại Học viện Y khoa Grenada Lấy lý do tínhmạng của những sinh viên này đang gặp nguy hiểm, và để khôi phục lại "dânchủ và trật tự" ở Grenada, Hoa Kỳ nhanh chóng tập kết tàu thuyền tại khu vựcbiển gần Grenada và kêu gọi sự ủng hộ của các quốc gia Caribe Sáng ngày

Trang 28

25/10/1983, khoảng 18.000 quân Mỹ đã tham gia hành động tác chiến xâmnhập Grenada cùng với vài trăm binh lính của các tiểu quốc Caribê nhưAntigua, Bacbados, Dominica, Jamaica, Saint Lucia Họ nhanh chóng "giảicứu" các sinh viên tại Học viện, đồng thời đánh tan quân đội Grenada chỉ có2.000 người, thậm chí không có một máy bay chiến đấu và tàu chiến Được sựgiúp đỡ của Hoa Kỳ, một chính phủ "dân chủ" mới được thành lập tạiGrenada sau đó mà không có quân đội, chỉ giữ lại hơn 600 cảnh sát phụ tráchduy trì an ninh quốc gia.

1.2.3 Thực tiễn của hoạt động can thiệp nhân đạo trong giai đoạn hiện nay

Kết thúc chiến tranh lạnh, mở đầu cho hoạt động can thiệp nhân đạotrong giai đoạn mới là hoạt động can thiệp tại Iraq năm 1991

Sáng 02/08/1990, quân đội Iraq tấn công xâm lược Kuwait và nhanhchóng giành thắng lợi Chỉ vài giờ sau cuộc tấn công đầu tiên, các phái đoànKuwait và Hoa Kỳ đã yêu cầu Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhóm họp,thông qua Nghị quyết 660, lên án cuộc xâm lược và yêu cầu Iraq rút quân.Ngày 06/08, Hội đồng Bảo an thông qua Nghị quyết 661, áp đặt trừng phạtkinh tế lên Iraq Tiếp theo đó, hàng loạt nghị quyết của Hội đồng bảo an đượcđưa ra về cuộc xung đột Một trong những nghị quyết quan trọng nhất là Nghịquyết 678, thông qua ngày 29/11, trao cho Iraq hạn chót để rút quân là ngày15/01/1991, và cho phép sử dụng "mọi biện pháp cần thiết để duy trì và thực hiện Nghị quyết 660" [39, tr 1].

Vì vậy, một lực lượng đồng minh với hơn 30 quốc gia, được sự chophép của Liên hợp quốc, đã tiến hành can thiệp vào Iraq Lý do để Liên quântiến hành tấn công Iraq (trên cả lãnh thổ Kuwait và Iraq): đầu tiên là để giảiphóng Kuwait trước sự xâm lược của Iraq; thứ hai, là mục đích nhân đạo,nhằm ngăn chặn những vi phạm nhân quyền của chế độ Saddam Hussein,

Trang 29

trong đó bao gồm sự đàn áp tàn bạo đối với người Shi'ite ở miền Nam vàngười Kurd ở miền Bắc; và cuối cùng là nguy cơ Iraq có thể phát triển vũ khíhạt nhân hay vũ khí huỷ diệt hàng loạt, đe dọa tới hòa bình và an ninh khôngchỉ của khu vực mà còn của thế giới.

Ngày 17/01/1991 lực lượng quân đội đa quốc gia bắt đầu mở các cuộctiến công chống quân đội Iraq Ngày 28/02/1991 chiến tranh chấm dứt sau khitổng thống Saddam Hussein ra lệnh ngừng bắn Đây là hoạt động can thiệpđầu tiên, cũng là một hoạt động can thiệp nhân đạo, được sự đồng ý của Liênhợp quốc sau chiến tranh lạnh Kết quả của hoạt động can thiệp là:

- Kuwait được giải phóng

- Không tìm thấy chứng cứ chắc chắn rằng Iraq đang sản xuất vũ khí hạt nhân hay vũ khí hủy diệt hàng loạt

- Ước chừng 100.000 thường dân Iraq thiệt mạng trong cuộc chiến, cơ

sở hạ tầng bị tàn phá nặng nề, môi trường suy thoái dẫn đến những đau khổ,mất mát lớn lao cho người dân sau này

Sau khi chiến tranh chấm dứt, chính phủ Iraq lại tiếp tục sử dụng sứcmạnh quân sự chống lại sự nổi dậy của người Kurd ở miền bắc và ngườiShi'ite ở miền nam Quân đội Iraq đã đàn áp dã man hai tộc người này Trướctình hình đó, Mỹ và Anh đơn phương thiết lập "Vùng cấm bay" trên các khuvực tương ứng của lãnh thổ Iraq, với lý do là bảo vệ người Kurd và ngườiShi’ite Và chính những báo cáo về tình trạng của người Kurd và ngườiShi’ite đã đưa đến việc ngày 05/04/1991, Hội đồng bảo an Liên hợp quốcthông qua nghị quyết "nhân đạo" số 688 Nghị quyết này đã gây ra một cơnbão tranh luận không chỉ giữa các quốc gia mà còn giữa các chuyên gia vềluật quốc tế

Một số chuyên gia luật quốc tế cho rằng, Nghị quyết 688 thiết lập một

cơ sở pháp lý để lực lượng liên quân can thiệp vũ trang trên các vùng lãnh thổ

Trang 30

của các quốc gia với lý do nhân đạo, thiết lập nên "vùng cấm bay" Họ chorằng nghị quyết có hiệu lực cho phép, lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại, vàtheo đúng tinh thần Chương 7 của Hiến chương Liên hợp quốc, thực hiện cáchoạt động can thiệp với mục tiêu có tính chất nhân đạo, cụ thể là: công tácphòng ngừa hoặc ngăn chặn các hành vi đàn áp dã man đối với thường dân vàhành vi xâm phạm quyền con người trên quy mô lớn Nhưng quan trọng nhất

là ủng hộ sự can thiệp vũ trang vì lý do nhân đạo - Nghị quyết 688 lần đầutiên xác nhận tính hợp pháp của hành động can thiệp nhân đạo đối với nguyêntắc bất khả xâm phạm về chủ quyền, lãnh thổ của các quốc gia, tức là thànhlập một tiền lệ pháp lý cho sự can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc giatrong những điều kiện nhất định

Tuy nhiên nhiều chuyên gia không đồng ý với cách diễn giải này Họtin rằng việc sử dụng các biện pháp cưỡng chế liên quan đến can thiệp mạnh

mẽ vào công việc nội bộ của các nước là không có cơ sở pháp lý và trên thực

tế là bất hợp pháp, ngay cả khi họ bị truy tố bởi lý do nhân đạo Điều nàycũng áp dụng cho việc tạo ra một "vùng cấm bay" Liên hợp quốc đã giảithích sau đó, ngày 21/04/1993, rằng Nghị quyết số 688 của Hội đồng bảo an

Liên hợp quốc là "không dựa trên Chương 7 của Hiến chương Liên hợp quốc

và không quy định vùng cấm bay, và không ràng buộc" Và Ủy ban pháp luật

Bộ ngoại giao Hoa Kỳ cũng giả thích rằng, việc lập ra vùng cấm bay của Hoa

Kỳ là sự tự nguyện, và Nghị quyết 688 là "trọng tâm của bản chất nhân đạo

và mang tính tự nguyện, không tham chiếu từ Chương 7 của Hiến chương Liên hợp quốc" [24, tr 187].

Các cuộc thảo luận xung quanh Nghị quyết số 688 của Hội đồng bảo

an Liên hợp quốc có thể rút ra hai kết luận Thứ nhất, hành động đơn phươngcủa Hoa Kỳ thiết lập nên vùng cấm bay ở Iraq, từ quan điểm của luật quốc tế,

nó thực sự là bất hợp pháp Thứ hai, hiện nay hệ thống các nguyên tắc củaluật pháp quốc tế đặt ra trong Hiến chương Liên hợp quốc và các quan hệ

Trang 31

quốc tế hiện đại, loại trừ bất kỳ hành vi xâm lược và can thiệp vào công việcnội bộ của bất kỳ quốc gia có chủ quyền nào, bao gồm cả lý do nhân đạo, màkhông có sự uỷ quyền thích hợp từ Hội đồng bảo an Liên hợp quốc Mộtquyết định về việc áp dụng các chế tài chỉ được Hội đồng bảo an ban hành chỉkhi có các mối đe dọa cho hòa bình quốc tế, và đánh giá sự tồn tại thực tế củamối đe dọa đó Chức năng này chỉ duy nhất thuộc về Hội đồng bảo an Liênhợp quốc.

Sự phức tạp trong sự kiện chiến tranh vùng Vịnh báo hiệu cho sự phứctạp của tình hình thế giới sau năm 1991 Và cuộc chiến này, trong một chừngmực nào đó, đã dần tạo ra một khuôn mẫu mới cho hoạt động can thiệp nhânđạo cũng như góp phần phát triển lý thuyết mới về can thiệp nhân đạo Trongnhững năm tiếp theo, chúng ta chứng kiến Hoa Kỳ tiến hành can thiệp nhânđạo tại Somali (1992-1993) dưới sự ủy thác của Liên hợp quốc và thất bại hòatoàn Năm 1994 diễn ra thảm họa diệt chủng tại Rwanda, và Lực lượng cứutrợ Liên hợp quốc tại Rwanda hoàn toàn không làm được gì trong việc ngănchặn thảm họa diệt chủng này Thất bại tương tự của Liên hợp quốc tiếp tụcdiễn ra ở Bosnia trong thời gian 1992-1995

Và hoạt động của NATO tại Kosovo, dẫn đầu bởi Hoa Kỳ năm 1999,

đã trở thành nguyên mẫu của hình thức can thiệp nhân đạo mới - một cuộc

"chiến tranh nhân đạo"

Với một mô hình đã được dựng sẵn, đầu thế kỷ XXI, thế giới tiếp tụcchứng kiến những sự kiện tương tự Năm 2003, bất chấp sự phản đối của Liênhợp quốc và cộng đồng quốc tế, Mỹ tấn công Iraq, với nhiều lý do mà trong

đó bao gồm mục đích nhân đạo là bảo vệ người Kurd đang bị diệt chủng.Năm 2006, quân đội Nga tấn công vào lãnh thổ Gruzia nhằm bảo vệ thườngdân là dân tộc Osetia và các binh lính gìn giữ hòa bình người Nga đóng tạiNam Osetia đang bị chính quyền Gruzia giết hại Tháng 12/2008, với lý dobảo vệ dân thường trước những cuộc tấn công bằng rocket của các chiến binh

Trang 32

Hammas nhằm vào dân thường nước mình, Israel tấn công vào dải Gaza Cáccuộc không kích và tấn công trên bộ của Israel từ cuối tháng 12/2008 đến giữatháng 01/2009 đã làm khoảng 1.400 người Palestine thiệt mạng cùng hơn5.000 người bị thương.

1.3 KHÍA CẠNH CHỦ CHỐT CỦA HỌC THUYẾT CAN THIỆP NHÂN ĐẠO TRONG HOẠT ĐỘNG CAN THIỆP CỦA NATO Ở KOSOVO

Hoạt động can thiệp của NATO tại Kosovo năm 1999 đã tạo ra mộtbước ngoặt không chỉ trong sự phát triển của học thuyết can thiệp nhân đạo,

mà còn đối với quan hệ quốc tế cũng như tương quan lực lượng trên thế giới.Với sự kiện này, nhiều giá trị pháp lý quốc tế bị xem xét lại, bị vi phạm Nócòn mở ra một dạng mới của can thiệp nhân đạo, trong đó mục tiêu "nhânđạo" đã được các cường quốc hiểu theo nghĩa rất rộng, cũng như xem đó lànhiệm vụ của bất kỳ quốc gia "văn minh" nào

Những sự kiện nào đã thúc đẩy Liên minh Bắc đại tây dương hànhđông? Khía cạnh chủ chốt của học thuyết can thiệp nhân đạo được NATO ápdụng cho trường hợp này là như thế nào? Đó là những vấn đề chúng ta cầnphải làm rõ ở phần này

1.3.1 Diễn biến khủng hoảng tại Kosovo

Kosovo là một tỉnh phía Nam của Serbia, có biên giới chung vớiMontenegro, Albania và Macedonia thuộc Liên bang Nam Tư cũ Năm 1946,nhà lãnh đạo Nam Tư - Josip Broz Tito cho thông qua một Hiến pháp mới choNam Tư, qua đó thành lập nên sáu nước cộng hòa, gồm: Serbia, Croatia,Slovenia, Bosnia-Herzegovina, Motenegro và Macedonia với các quyền lợi,

vị trí và quyền lực chính trị ngang nhau Dù nhiều người thiểu số Albaniamuốn Kosovo trở thành một nước cộng hòa, nhưng lúc đó Kosovo chỉ trởthành một tỉnh tự trị của Serbia Người Albania được hưởng những quyền lợi

và sự bảo vệ nhất định nhưng trong thời gian tiếp theo họ phải chịu sự phân

Trang 33

biệt đối xử và đàn áp của chính quyền Serbia Sau nhiều thập kỷ đấu tranh,những người Albania ở Kosovo đã đòi được thêm quyền kiểm soát của mình.Hiến pháp năm 1974 của Liên bang Nam Tư đã trao quyền tự trị đầy đủ choKosovo, và người Albania có quyền tự quyết rộng lớn đối với các vấn đề nội

bộ của Kosovo Trong liên bang, Kosovo được có đại diện ở tất cả các cơquan và có vị trí gần như bình đẳng với sáu nước cộng hòa

Năm 1980, Tito mất và những căng thẳng sắc tộc gia tăng trên lãnhthổ Nam Tư Tháng 05/1989, Slobodan Milosevic được bầu lên vị trí Tổngthống Serbia và ông nhanh chóng tìm mọi cách để bãi bỏ quyền tự trị củaKosovo Tháng 07/1990, Serbia giải tán quốc hội Kosovo, và sau đó ngườiAlbania Kosovo đã tự thành lập một quốc hội riêng và tuyên bố độc lập.Quyết định này được đa số người Albania Kosovo ủng hộ trong một cuộctrưng cầu dân ý được tiến hành một thời gian sau Ibrahim Rugova, một chínhkhách theo đường lối ôn hòa, được bầu lên làm tổng thống của nước cộng hòamới này Tuy nhiên, Belgrade tuyên bố đây là hành động không hợp pháp.Vào thời điểm đó, chỉ có Albania công nhận sự độc lập của Kosovo

Từ khi Kosovo mất đi quyền tự trị cho tới năm 1998, những ngườiAlbania Kosovo chủ yếu tiến hành những biện pháp hòa bình để phản kháng.Năm 1996, thất vọng trước việc tiếp tục bị đàn áp và không thấy được khảnăng có sự đổi thay dưới sự lãnh đạo ôn hòa của Rugova, một số ngườiAlbania bắt đầu chống đối Belgrade bằng bạo lực Quân đội giải phóngKosovo (KLA) được thành lập và bắt đầu tiến hành những hành động bạo lựcvới quy mô nhỏ, nhằm chống lại cảnh sát và quan chức Serbia Đầu năm

1998, Belgrade quyết định tiến hành đàn áp lực lượng Albania Đến mùa hè,bạo lực giữa chính quyền Nam Tư và những người Albania Kosovo trở nêncăng thẳng, quân đội Serbia tiến hành nhiều đợt tấn công bằng pháo binh vàkhông kích vào các làng mạc của người Albania và trả đũa quân KLA Giữatháng 07/1998, sau sự kiện hơn 60 cảnh sát Serbia thiệt mạng khi giao tranh

Trang 34

với KLA, Milosevic đã ra lệnh tấn công toàn lực Kết quả, hơn 200 ngườiAlbania bị sát hại và hơn 300.000 người phải chạy trốn khỏi Kosovo [42, tr 2].

Trước tình hình đó, Hội đồng bảo an Liên hợp quốc với Nghị quyết số

1160 và 1119 năm 1998 đã xác định tình trạng nhân đạo ở Kosovo đang đedọa hòa bình, an ninh quốc tế và nhấn mạnh sự cần thiết phải ngăn chặn thảmhọa nhân đạo này Nhưng thẩm quyền can thiệp quân sự của Hội đồng bảo ancho trường hợp này đã không thể thực hiện do hai thành viên thường trực củaHội đồng bảo an đã dùng quyền phủ quyết veto là Nga và Trung Quốc

Khi chiến sự tại Kosovo tiếp tục căng thẳng, NATO đưa ra tối hậu thưvới Nam Tư yêu cầu chấm dứt tấn công quân sự tại Kosovo, nếu khôngNATO sẽ tiến hành ném bom Trước đe dọa này, Nam Tư ký thỏa thuận ngừngbắn vào tháng 10/1998 và đồng ý rút quân đội Nam Tư xuống bằng số lượngquân hồi tháng 02/1998 Nam Tư cũng quyết định ân xá cho những ngườiAlbania bị bắt giữ và hợp tác với Tòa án Hình sự quốc tế được Hội đồng bảo

an thành lập để xét xử những tội ác đã được thực hiện tại Liên bang Nam Tư.Nhưng Milosevic đã không tuân thủ thỏa thuận này và tháng 01/1999, xungđột lại leo thang Giữa tháng 03/1999, chính quyền Nam Tư và KLA thất bạitrong việc đàm phán hiệp định hòa bình do NATO đưa ra Và NATO bắt đầutiến hành chiến dịch không kích vào Nam Tư để đặt dấu chấm hết cho sự đàn

áp chống lại tộc người Albania ở Kosovo

Trong vòng 11 tuần, từ 24/03/1999 đến 10/06/1999, NATO đã thực hiệncác cuộc ném bom quân sự trên lãnh thổ Liên bang Nam Tư, một thành viên củaLiên hợp quốc mà không có sự đồng ý hay cho phép của Hội đồng bảo an Chiếndịch kết thúc khi Belgrade đồng ý ký hiệp định với G8 về vùng tự trị Kosovo vàchấp thuận sự có mặt của quân đội quốc tế tại Kosovo Mặc dù NATO cho rằng

đã đạt được mục tiêu đề ra là làm tê liệt khả năng tấn công của Serbia đối vớithường dân Albania, nhưng song song với đó là một số lượng lớn dân thườngthiệt mạng và hơn một triệu người Albania phải chạy tị nạn

Trang 35

1.3.2 Khía cạnh chủ chốt của học thuyết can thiệp nhân đạo trong hoạt động can thiệp của NATO ở Kosovo

Những học giả ủng hộ học thuyết can thiệp nhân đạo cho rằng, quyết

định can thiệp tại Kosovo của NATO là hành động được thôi thúc bởi động

cơ nhân đạo Theo quan điểm này, không một người bình thường nào lại có

thể đứng bên cạnh, quan sát và chịu đựng được việc giết người có hệ thốngcủa nhà nước Serbia

Tổng thống cộng hòa Sec, Vaclav Havel, trong phát biểu tại Thượngviện và Hạ viện Canada ngày 29/04/1999 đã khẳng định điều mà ông cho làđương nhiên trong quyết định can thiệp vào Kosovo:

Nhưng có một điều mà không một người có suy nghĩ nào có thể phủ nhận: đây có lẽ là cuộc chiến đầu tiên được tiến hành không mang danh nghĩa "lợi ích quốc gia", mà mang danh nghĩa của các nguyên tắc và giá trị Nếu ai đó có thể nói đến bất kỳ cuộc chiến nào mang tính đạo lý hay được tiến hành vì những lý do đạo lý thì đó chính là cuộc chiến này Kosovo không có mỏ dầu nào để có thể khai thác; không thành viên nào trong liên minh (NATO) có tham vọng về lãnh thổ Kosovo; Milosevic cũng chẳng đe dọa sự toàn vẹn lãnh thổ của bất kỳ thành viên nào trong liên minh [44, tr 6].

Do vậy, "cộng đồng các quốc gia dân chủ" đã sử dụng vũ lực để chấmdứt đau thương tại Kosovo vì những gì diễn ra tại đây đã xúc phạm tới "nhữnggiá trị đạo lý của chúng ta" [27, tr 294]

Giải thích chính thức của chính quyền Clinton đối với hành độngkhông kích là do lo ngại về các vấn đề nhân đạo, sự ổn định của khu vực và

uy tín của NATO Trong một bài phát biểu trước toàn dân ngày 24/03/1999, B.Clinton tuyên bố:

Chấm dứt thảm kịch này là một sự thôi thúc mang tính đạo lý… Chúng ta hành động để bảo vệ hàng chục ngàn dân thường

Trang 36

Kosovo trước sự tấn công quân sự ngày càng leo thang Chúng ta hành động để ngăn chặn một cuộc chiến rộng lớn hơn, để tháo ngòi cho một thùng thuốc nổ tại trung tâm châu Âu vốn là nơi đã nổ ra hai cuộc chiến trong thế kỷ qua với những hậu quả vô cùng nghiêm trọng.… Bằng cách hành động ngay bây giờ, chúng ta đang giương cao những giá trị của chúng ta, bảo vệ những lợi ích của chúng ta và thúc đẩy sự nghiệp vì hòa bình [46, tr 17].

Những lập luận này được chính quyền Clinton nhắc đi nhắc lại nhiềulần trong suốt thời gian diễn ra cuộc khủng hoảng, trong giai đoạn diễn racuộc không kích và cả sau khi nó chấm dứt

Như vậy, hoạt động can thiệp của NATO ở Kosovo được các học giảủng hộ và các quốc gia thực hiện coi là can thiệp vì mục đích nhân đạo thuầnkhiết, không vụ lợi Mục đích nhân đạo này chính là cơ sở để NATO thực hiệncan thiệp vũ trang vào Kosovo, cũng như xác định tính hợp pháp của hoạtđộng can thiệp mà không cần đến sự cho phép của Liên hợp quốc hay sự đồngthuận của cộng đồng quốc tế

Một khía cạnh nữa của học thuyết can thiệp nhân đạo mới được ápđụng trong hoạt động can thiệp của NATO tại Kosovo là hoạt động này được

thực hiện bởi vì có những vi phạm nghiêm trọng quyền con người tại đây Sự

đàn áp của chính quyền Belgrade đối với người Albania bao gồm hành vi giếthại và bạo lực dã man Hơn thế nữa, có thông tin cho rằng nhà nước Serbiađang tiến hành diệt chủng người Albania Các nước phương Tây, dẫn đầu làNATO, mà chính xác là các quốc gia lãnh đạo NATO, xác định rằng đây làmột thảm họa nhân đạo, cùng với dòng người tị nạn cũng như di tản khổng lồtrong lãnh thổ Nam Tư Các quốc gia này cũng đánh giá rằng, tình hình ởKosovo sẽ đe dọa đến hòa bình và an ninh khu vực Balkan, một vùng đấtnóng của thế giới về bất ổn và xung đột vũ trang

Trang 37

Bên cạnh đó, chúng ta cũng thấy được sự bất lực của Liên hợp quốctrước sự kiện này Dù Nghị quyết số 1160 và 1119 đã xác định rằng thảm họanhân đạo tại Kosovo đe dọa tới hòa bình và an ninh quốc tế và yêu cầu việcphải ngăn chặn thảm họa này Tuy nhiên, Hội đồng bảo an lại không thể thựchiện được quyền can thiệp vũ trang do Nga và Trung Quốc sử dụng quyền phủquyết của mình Sau đó, một Nghị quyết lên án việc sử dụng vũ lực ở Kosovocủa NATO được đề xuất lên Hội đồng bảo an nhưng đã không thành công với

3 phiếu thuận và 12 phiếu chống Một Nghị quyết tương tự của Đại hội đồng55/101 về việc tôn trọng nguyên tắc không can thiệp cũng đã thất bại với 52phiếu chống Rõ ràng, xuất phát từ quan điểm và lợi ích của từng quốc giathành viên mà vai trò của Đại hội đồng và Hội đồng bảo an trong việc giữ gìnhòa bình quốc tế đã không được thực hiện

Trong tài liệu cuối cùng của Hội nghị thuợng đỉnh NATO, Mỹ và Anhmuốn xác định những quyền của Liên minh được tiến hành các hoạt độngquân sự bên ngoài lãnh thổ quốc gia của họ mà không được phép của Hội

đồng bảo an Liên hợp quốc Và kết quả là cụm từ, "Hội đồng bảo an Liên hợp quốc mang trách nhiệm chính trong việc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế"

được ghi nhận Và sau đó là Nato, tại cuộc họp cuối cùng khẳng định lại rằngđối với việc triển khai thực hiện các hoạt động quân sự của khối ở bên ngoàilãnh thổ của mình, không bắt buộc phải được sự cho phép của Hội đồng bảo

an Liên hợp quốc

Một tổ chức khu vực - NATO dường như đang cố gắng để thay thếcho Liên hợp quốc - tổ chức thế giới đại diện cho cộng đồng quốc tế Đây làmột nhóm nhỏ các cường quốc đơn phương cố gắng để tự đoạt lấy quyền canthiệp vào công việc nội bộ của nước khác với mục tiêu giải quyết khủnghoảng nhân đạo Và như vậy sự can thiệp luôn luôn ở đằng sau lòng nhân ái

và thậm chí chỉ ra mục tiêu cao cả: ngăn ngừa hoặc ngăn chặn một thảm họanhân đạo, cung cấp sự trợ giúp cho những cư dân bị ảnh hưởng, và thúc đẩy

Trang 38

hòa bình và sự ổn định trong đất nước và cả khu vực, hình thành của cácquyền tự do và dân chủ.

Hơn thế nữa, các quốc gia này tự cho mình quyền định đoạt sự tồn tạicủa một cuộc khủng hoảng nhân đạo tại một đất nước, mức độ nghiêm trọng

và nguy hiểm của nó, tác động nó tới sự ổn định của khu vực và toàn cầu Vànhững đánh giá này được thực hiện theo các tiêu chí riêng của họ, trong nhiềutrường hợp không phù hợp với các nguyên tắc quốc tế và pháp luật quốc tế đãđược thừa nhận chung

Và cuối cùng, hoạt động can thiệp của NATO tại Kosovo sử dụng sức

mạnh vũ trang Đứng trước khủng hoảng nhân đạo ở Kosovo, phản ứng của

NATO là yêu cầu chính quyền Serbia ngừng các cuộc tấn công đối với ngườiAlbania Nếu không tuân thủ, NATO sẽ tiến hành không kích Và trong thờigian của cuộc khủng hoảng, các phương pháp hòa bình để giải quyết hầu nhưkhông được NATO áp dụng, mà chủ yếu là đe dọa sử dụng vũ lực để các bênliên quan chấm dứt xung đột Và khi đàm phán giữa các bên xung đột khôngthành công, NATO ngay lập tức tiến hành sử dụng bom và rocket để giảiquyết khủng hoảng

Là một tổ chức quân đội thuần túy, NATO có kế hoạch phù hợp và tiếnhành hoạt động nhân đạo với việc sử dụng lực lượng vũ trang của mình, màtrên thực tế là các hoạt động quân sự quy mô lớn chống lại kẻ thù thực sự TạiKosovo, kẻ thù của khối là Serbia và lực lượng vũ trang của họ Nhưng tạinhững cuộc khủng hoảng nhân đạo loại này thường khó xác định thủ phạmchính, bởi vì mỗi bên của xung đột đều góp phần vào việc làm xấu hơn tìnhhình và phát triển cuộc khủng hoảng Các bên xung đột đều là thủ phạm gâynên giết chóc và tàn phá Do đó, sự can thiệp mạnh mẽ này của NATO có thực

sự là khách quan, thận trọng và đem lại hiệu quả?

Thực tế đã trả lời cho câu hỏi trên Chấm dứt hoạt động can thiệp,NATO để lại sau lưng mình hàng nghìn người thiệt mạng và rất nhiều người

Trang 39

bị thương cùng với số lượng khổng lồ dân chúng chạy tị nạn Tuy nhiên,những mâu thuẫn sắc tộc và chính trị tại vùng đất này vẫn không được giảiquyết Hiện nay, Balkan vẫn là vùng đất nóng của xung đột vũ trang và biếnđộng chính trị.

Như vậy, bằng hoạt động can thiệp của NATO tại Kosovo, học thuyếtcan thiệp nhân đạo đã phát triển thêm một bước mới Ở đây, can thiệp nhânđạo đã trở thành "chiến tranh nhân đạo" - những cuộc chiến thật sự được phátđộng vì mục tiêu nhân đạo Lực lượng vũ trang được huy động trên diện rộngnhằm ngăn chặn các khủng hoảng nhân đạo mà việc đánh giá tính chất vàmức độ nguy hiểm của chúng tới hòa bình và an ninh quốc tế không còn phụthuộc vào Liên hợp quốc

Một khuôn mẫu mới về can thiệp nhân đạo đã được hình thành do tiền

lệ xuất hiện trước đó Và trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI, thế giới đượcchứng kiến các quốc gia, bất kể có phải là cường quốc hay không, áp dụng

mô hình mới này trong hoạt động đối ngoại của mình

Trang 40

Chương 2

LUẬT QUỐC TẾ VÀ LÝ THUYẾT VỀ CAN THIỆP NHÂN ĐẠO

2.1 KHÍA CẠNH HỢP PHÁP CỦA CAN THIỆP NHÂN ĐẠO: TỶ LỆ HỢP LÝ GIỮA LUẬT QUỐC TẾ HIỆN ĐẠI VÀ VẤN ĐỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI

2.1.1 Can thiệp nhân đạo theo quan điểm của Luật quốc tế hiện đại

Can thiệp nhân đạo không phải là vấn đề mới và thực tế nó đã đượcnghiên cứu từ rất lâu Những tranh luận dữ dội về vấn đề này không chỉ diễn

ra trong một vài thập kỷ Tuy nhiên, từ thế kỷ XX cho đến nay, can thiệp nhânđạo bước vào sự phát triển phức tạp và có những ảnh hưởng lớn tới tình hìnhthế giới

Trong thế kỷ XX, lý thuyết can thiệp nhân đạo mất dần cơ sở thực tếtrong quan hệ giữa các nước và cũng mất dần cơ sở pháp lý trong luật phápquốc tế Tổ chức toàn cầu Liên hợp quốc ra đời cùng với Hiến chương và cácvăn bản pháp lý khác của tổ chức này đánh dấu sự ghi nhận chính thứcnguyên tắc cấm sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, nguyên tắc không canthiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác, nguyên tắc hòa bình giải quyếtcác tranh chấp quốc tế,… Chúng đã tạo ra cản trở cho hoạt động can thiệp, dù

là can thiệp vì mục đích nhân đạo

Hiến chương Liên hợp quốc là văn bản pháp lý quan trọng nhất quy

định về vấn đề chống can thiệp Khoản 4, điều 2 Hiến chương quy định: "Tất

cả các quốc gia thành viên kiềm chế không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị của các quốc gia khác không phù hợp với mục đích của Liên hợp quốc" [1, tr 9] Hoạt động

can thiệp chỉ được coi là hợp pháp trong những trường hợp đặc biệt nhất định,được thực hiện theo quy định của Hiến chương Liên hợp quốc Và rất nhiềuvăn kiện pháp lý quốc tế khác cũng coi can thiệp là hành vi bất hợp pháp Có

Ngày đăng: 04/11/2020, 15:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w