Tạp chí thông tin và tư liệu số 4 năm 2002Nghiên cứu trao đổi. Nhìn ra thế giới. Nghiệp vụ kỹ thuật thông tin tư liệu. Giới thiệu các cơ quan thông tin tư liệu. Hoạt động thông tin và tư liệu, Tạp chí thông tin và tư liệu số 4 năm 2002
Trang 1* Dao tao cón bộ Đợi học thông tin-t†hư viện
+ Nghề thư viện INTERNET
+ Các giao diện OPAC trên Web
BỘ KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ VÀ MÔI TRƯỜNG
TRUNG TAM THONG TT LEU KHOA HOG WAN NE OG GA
Trang 2,
ri
h tỉ
& tư liêu
TAP CHI CHUYEN NGANH THONG TIN, TU LIEU >
THU VIEN KHOA HOC & CONG NGHE VIET NAM
TONG BIEN TAP:
TS Tạ Bá Hưng
Cc PHO TONG BIEN TAP:
Vii Van Son
@ Nguyén Hau Hung Nhiing khia cạnh lịch sử và tổ chức
của quản trị thông tin
M Bùi Loan Thùy Vấn dé đào tạo cán bộ đại học
thông tin-thư viện trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước 5
@ Phan Huy Quế Bộ tiêu chuẩn ISO 9000 và van dé áp dụng trong các tổ chức thông tin tư liệu
@ Va Duong Thuy Nga Nhân danh học và công tác
thông tin, thư viện
NHÌN RA THẾ GIỚI
I Nghề thư viện INTERNET: Vai trò truyền thống trong môi trường hiện đại 21
M Nhụ cầu thông tin và cung cấp thông tin ở các nước dang phát triển 25
M Phát triển thư viện số ở Đài Loan
30
NGHIỆP VỤ - KỸ THUẬT
M Các giao diện OPAC trên Web 34
TIN HOAT DONG
@ Lop hoc "St dung cae dich vu théng tin hiện đại" 36
Mã Khoá dào tạo 'Dịch vụ và quản lý thông tin khoa học"
dành cho các nước ASEAN 36
K Hội nghị lần thứ 68 cla IFLA 37
I8 Lớp hoc "CDSIISIS for WEB" 37
MM Bao vệ luận văn thạc sỹ khoa học chuyên ngành thư viện 38 Khoa hoc nang cao năng lực quản lý cho lãnh đạo các thư viện 38
K Hội thảo CO-EXITST-SEA lần thứ 4 39
8 Lớp 'Xây dựng va quan tri CSDL bang WINISIS" 39
Mã Hội thảo thành lập các hội nghề nghiệp thông tin-thư viện ở Việt Nam 40
M Triển lãm "Nghiên cứu- giáo dục- công nghiệp công nghệ sinh học" 42 GIỚI THIỆU TÀI LIỆU
W8 Vột cuốn sách hữu ích dành cho công tác bảo quản 43
Tổng mục lục Tạp chí TT&TL năm 2002
Tóm tắt bằng tiếng Anh 45
48
Trang 3.Ñghiên cứu - Trao đổi
KHIA CANH LICH SỬ VÀ TỔ CHUC CUA QUAN TRI THONG TIN
ÁCH Xe huh súc
ie ld Các giAi thoại
PGS TS.Nguyễn Hữu Hùng Trung tam Thông tin Tư liệu KHCN Quốc gia
› hai khía cạnh chui yếu: lịch sử và tổ chức feu fan vie aay Phan tích các đặc điểm của việc quản trị thòng tri lạc 0a Hơi có quan, ?0 Chat cha yếu là: các văn phòng, các thự viện và
Khi giới thiệu về ngành
quản trị thông tin [9] chúng tôi
đã phân biệt 2 lĩnh vực: công
nghệ thông tin và quản trị
thông tin, thứ nhất, đó là hai
mặt của vấn đẻ kinh tế thông
tin hiện nay, sau nữa là quan
hệ của phản hạ tầng thông tin
(infrastructure) với phan
thượng tầng thong tin (infor-
mation architecture) cla x4 hoi
thong tin
Là lĩnh vực áp dụng của
ngành thông tin học, quản trị
thông tin xem xét thông tin như
một nguồn lực, một đạng tài
nguyên của xã hội mới |1, 12]
Bài này để cập tới các phương
điện lịch sử phát triển và các tổ
chức tham gia vào hoạt động
quản trị thông tin hiện nay
1 Lịch sử phát triển:
Xét về mặt lịch sử, vấn dé
quản trị thông tin (QTTT)
được đặt ra từ cuối thế kỷ XIX
khi các nhà khoa học phân biệt
hai khái niệm: Vật mang tin
(Information containers) va
ndi dung thong tin
(Information content) Tir dé
Giai đoạn 1: Giai đoạn tiền
khởi bất đâu từ cuối thế kỷ XIX, khi mà những hiểu biết
về thông tin còn quá mơ hồ
Khái niệm vẻ thông tin là trừu tượng, vô hình, chủ quan, dễ
biến hoá nên trong thực tiễn QTTT không thể phân biệt
được các phạm trù kinh điển
như: giá trị, chỉ phí lợi ích,
để từ đó sử dụng chúng trong
thực tiễn quản trị thông tin
Công việc QTTT ở giai đoạn
này thực chất là quản lý các vật
thể - quản lý các vật mang tin như: công văn, báo cáo, ấn
phẩm
Giai đoạn 2: Khởi sự vào
dau thé ky XX, khi mà xuất
hiện biện tượng "bùng nổ tư liệu”, chủ yếu liên quan tới các
giấy tờ, hỗ sơ trong công tác
văn phòng và công tác tư liệu, Các thiết bị làm văn bản như máy chữ g carbon (giấy
than) các thiết bị tìm tin "cơ
giới nhỏ" như các loại phiếu lỗ được phát triển rất nhanh đã góp phần vào việc cơ khí hoá
quan trọng của các hoạt dộng
guữa tàu¿tự ti Hiện HAY,
các quá trình tư liệu (tạo lập,
ché ban, tìm kiếm, lưu trữ, phổ biến )
Giai đoạn 3: Bắt đầu từ những năm 20 đến giữa thế kỷ
XX Vấn đề QTTT gắn liên với
việc phát triển công tác hô sơ,
văn thư trong các văn phòng Công việc tài liệu trong các văn phòng đã đưa đến khái
niệm “công tác bàn giấy "để gọi tên công việc đối với các nhân viên văn phòng Việc quản lý các công văn giấy tờ trong các công sở đồi hỏi phải xem xét các công việc ở mức độ có tổ chức và hệ thống
Giai đoạn 4: Bắt đầu từ những năm 50 của thế kỷ XX
Với việc ra đời các máy tính
điện tử, bắt đầu khởi sự việc số
hóa các tài liệu ở dạng điện tử,
Ranh giới giữa tài liệu như các thực thể vật lý với việc trình bày chúng trong môi trường
điện tử đã bị mờ nhoà Vì các đặc tính ưu việt của máy tính
điện tử trong việc xử lý thông tin, lưu giữ và tìm tin nên máy
tính điện tử đã được nhanh chóng đưa vào áp dụng để tự
THONG TIN & TU LIEU - 4/2002 1
Trang 4nguồn tin chính sau đây đối
với một văn phòng:
- Tài liệu "đi” và "đến"của
cơ quan, đây là các loại công
văn, giấy tờ trả lời các câu hỏi
hoặc thư tín bên ngoài Loại
nguồn tin này có thể mở rộng
tới các cuộc trao đổi công việc
trên điện thoại, gửi thư điện tử,
tới các mạng trao đổi thông tin
- Thông tin nội bộ: Đây là
các dạng tư liệu, hồ sơ, tin tức
phản ánh hoạt động của cơ
quan
- Thông tin kỹ thuật: Các tư
liệu phản ánh quá trình, hoạt
động nghề nghiệp của cơ quan
được thực hiện thường xuyên
trợ giúp các quá trình quyết
định, quản lý
- Thông tin về nhân sự: Là
các tin tức, hỗ sơ cá nhân cán
bộ liên quan tới tổ chức (cơ
quan) như lý lịch, quyết định,
đề bạt, lương
- Các hệ thống liên lạc bao
gồm các hệ thống điện thoại,
Fax, thiết bị viễn thông thư
dùng để chuyển thư, tin
tức trong cơ quan, ra ngoài cơ
Nghiên cứu - Trao đổi
Như vậy, nguồn lực thông tin trong một văn phòng chính
là bộ nhớ của cơ quan được xây dựng để lưu giữ và quản trị
các thông tin của cơ quan:
phản ánh hoạt động của cơ quan, lưu giữ các sự kiện, đuy
trì mối quan hệ của cơ quan với môi trường
Nhìn chung, văn phòng
được xem như một địa bàn mà
ở đó thông tin được sản sinh ra
và quá trình thông tin được
thực hiện Đứng trên quan
điểm thong tin, van phòng thực
hiện chức năng trợ giúp quá trình quyết định và chỉ đạo công việc hàng ngày của cơ quan
Hệ thống tự động hoá văn
phòng ở nhiều cơ quan hiện nay được thiết kế về cơ bản vẫn dựa trên các nguyên lý thủ công với một khối lượng công
văn giấy tờ hạn chế trong hoạt
động văn phòng từ khi có cuộc cách mạng công nghiệp 300 năm vẻ trước Như vậy, những
khiếm khuyết của hệ thống cũ trong điều kiện mới không bị thủ tiêu mà ngược lại có thể
được lan rộng hơn Các hệ thống này thực chất là các hệ
thống thư ký, văn thư được tự
động hoá mà rất ít chú ý tới việc quản lý mà văn phòng đó
phải phục vụ Đến nay các hệ
thống thông tín văn phòng chủ
yếu là loại hệ thống định hướng theo nội dung mà tài
liệu ở đó được xem xét theo
gu, lam sao để có thể lưu trữ
và tìm kiếm một cách thuận
lợi Bên cạnh hệ thống định
hướng theo nội dung, trong các
Quá trình vận hành các thông tin trong van phòng lại nhắc
nhở củng cố các hệ thống thông tin văn phòng theo hướng nãng cao hiệu quả quản
lý chứ không đơn thuần là cải
thiện hiệu suất của công tác bàn giấy, tư liệu [2, 11]
2.2 Quán trị thông tin tại thự viện và các trung tâm thông tin:
Loại nguồn lực thông tin
trong các tổ chức này thể hiện
mối liên kết giữa các cơ quan với các loại nguồn tin bên
ngoài Các loại tổ chức thông
tin này có thể thực hiện nhiều
chức năng từ việc bổ sung các
loại ấn phẩm như sách tạp chí, báo như thường thấy ở các thư
viện truyền thống đến các loại trung tâm truy cập tới các nguồn lực thông tin trên mạng
Một số các loại cơ quan loại
này thực hiện thu thập loại nguồn tin bên ngoài, rồi tổ chức phân tích, đánh giá, bao
gói để phục vụ cho hoạt động của cơ quan chủ quản Trong ngành công nghiệp nơi có tổ
chức kiểu mô hình “công ty mẹ -công Iy con”, trung tâm thong
tín thường phục vụ các doanh
nghiệp thành viên các thông
tín dữ liệu về công nghệ, vẻ
sản phẩm, vẻ thị trường Sản phẩm và dịch vụ thông tin của
các loại trung tâm thông tin
này rất đa dạng và giữa các cơ
THÔNG TIN & TƯ LIỆU - 4/2002 3
Trang 5động hoá quá trình thông tin
Chính trong thời kỳ này các
thực nghiệm về định chủ đề kết
hợp, tìm tin tự động làm nền
móng ra đời của lý thuyết tìm
tin của C.N.Mooers [5] đã
được thực hiện Những thành
công trên đây đã tạo tiên đề để
nói đến việc chuyển dịch từ
vòng đời tư liệu sang vòng đời
của thông tin Giai đoạn 4 này
được gọi là quản lý các quá
trình thông tin tự động hoá
Giai đoạn 5: Đây là thời kỳ
bùng nổ thông tin và tư liệu bắt
đầu vào thập niên 60 Các tư
liệu về thông tin đều được khai
thác và sản sinh với tốc độ phi
mã Các loại hình tài liệu dạng
giấy, các vật mang tin quang
học vi hình như phim cuộn
(Micro film) và phim tấm
(Microfiche), các cơ sở dữ liệu
được phát triển rất nhanh Cơ
sở dữ liệu đầu tiên với tên gọi
"Chemical titles"(Nhan dé hoa
học) ra đời vào năm 1962 đã tỏ
rõ ưu điểm của mình và nhanh
chóng chiếm lĩnh thị phần
quan trọng trong công tác
thông tin [6] Các hệ thống
thông tin quản lý
(Management Information sys-
tem -MIS) là công cụ quan
trọng của các tổ chức, cơ quan
và là cầu nối giữa hoạt động
của tổ chức với môi trường
Khả năng của công nghệ thông
tin với 2 thành phần cốt lõi là
tin học và viễn thông được coi
là "thanh gươm hai lưỡi"đã thể
hiện các lợi thế vượt trội trong
thực tiễn của hoạt động thông
tin
Giai doan 6: Bat dau tir
mốc thập niên 70 với tên gọi
quản trị các nguồn lực thông tin (RM) Nhận biết về sự tiếp nối của xã hội công nghiệp là
sự ra đời của xã hội thông tin,
ma thong tin và tri thức sẽ trở thành nguồn lực quan trọng
nhất của sự phát triển Địa bàn quản trị thông tin được mở rộng và hoạt động QTTT được tăng cường mạnh mẽ Tại Hoa
kỳ, sau khi xuất hiện các công
trình dự báo mang tính đón đầu tới xã hội và nền kinh tế thông, tin của D Bell, F Machlup và
J Porat [4, 11], Quốc hội Hoa
Kỳ đã thành lập một Ban điều
tra đặc biệt để khảo sát và đánh giá mối quan hệ giữa "Giấy tờ, công tác giấy tờ và thông tin điện tử" Dựa trên kết quả điều tra, Quốc hội Hoa kỳ đã yêu
cầu cải cách công tác thông tin
trong tất cả các khu vực chính phủ doanh nghiệp và xã hội
Tại Liên xô (cũ), cuốn "Cơ sở
thông tin học phi văn bản"của
thống thông tin Nhiều nước trên thế giới, phong trào các
văn phòng không giấy tờ cũng
đã được đề xướng Để vận hành các hoạt động trong xã
hội cần phải dựa vào thông tin
Thong tin 1a điều kiện cần để làm các quyết định trở nên có căn cứ và hợp lý Như vậy, cần
phải xem xét dữ liệu, thông tin
và tri thức ở mọi hình thái (văn
bản hoặc là số hoá), ở mọi vật
mang (tu liệu, CSDL, vi phim ) với tư cách như một
nguôn lực của một tổ chức
2 Các tổ chức quản lý nguồn lực thông tin
Nguồn lực thông tin được hình thành và tổ chức tại nhiều
cơ sở, trong các đơn vị chuyên nghiệp, bán chuyên nghiệp về
TT-TV trong xã hội, như tại các văn phòng, các thư viện, các trung tâm tư liệu, trung tâm
phân tích tin, trung tam tri
thức QTTT suy đến cùng là
để tạo lập một tài nguyên
thông tin trong xã hội và đưa tài nguyên thông tin vào phục
vụ xã hội thông qua các hộ dùng tin Từ quan điểm của
quá trình giá trị gia tăng, quá
trình chuyển giao thông tin, từ
thông tin tiềm năng (nguồn tin) đến thông tin nguồn lực (thông
tin được khai thác và sử dụng)
có thể chia thành 5 nấc thang [14 ] theo chiêu tăng dân của
giá trị gia tăng:
Dưới đây sẽ xem xét khái
quát việc QTTT tại các tổ chức
tại các văn phòng Hoạt động
văn phòng liên quan trực tiếp
tới các loại nguồn tin Có 6 loại
THONG TIN & TU LIEU - 4/2002
Trang 6mm
quan cũng rất khác nhau Hoạt
động xử lý thông tin tại các cơ
quan thông tin này là các ví dụ
về việc thực hiện các quá trình
giá trị gia tăng Ở đây có thể
chia các cơ quan thông tin- thư
lưu thông tư liệu, Trong
trường hợp này thông tin đầu
ra cơ bản như thông tin đầu
vào, các quá trình giá trị gia
tầng trong thông tin không
đáng kể
- Loại các trung tâm phân
tích tin là tố chức thông tin
thực hiện các công việc phân
tích, xử lý, biến đổi thông tin
với các mức độ giá trị tăng cao
- Loại trung gian giữa hai
loại trên đây là các trung tâm
lý để hoạch định chiến lược và
ra các quyết định Khác với cơ quan thông tin tư liệu thông
thường, việc quản lý tri thức có
mục tiêu mới cũng cao hơn,
với hoạt động tạo ra nhiều giá tri gia tang [13, I4] Trong quá trình nhận thức, tri thức là hình thái thông tin bậc cao, nhấn mạnh tới yếu tố sáng tạo của
con người, giúp cho các nhà quản lý thực hiện cơ chế thích
nghỉ trong điều khiển Nhờ có
hoạt động như vậy, các trung tâm tri thức tích cực hỗ trợ quá
trình quyết định thông qua việc trực tiếp tham gia vào việc
hình thành đánh giá, tư vấn, cảnh giới, đề xuất các phương
CƠ CHẾ QUAN LY - CHUYEN GIAO
án để đưa ra các quyết định Như vậy, trung tâm tri thức, một mặt, là sự mở rộng các hệ
theo của việc quản trị thong tin
chuyển sang quản trị tri thức Quy trình và hoạt động thông
tín ở giai đoạn quân lý trị thức
cao hơn, tác động tích cực và trực tiếp vào tiém nang va sang tạo của con người
Với cách nhìn nhận như
trên, vai trò và cơ chế quản lý
và chuyển giao thông tin tới
người dùng tín trong xã hội có
thể được trình bày khái quát
chức
Đánh giá Thích nghĩ
Van phong/ Trung tâm tư liệu
Trung tam phân tích tin
V Tăng dân
THONG TIN & TƯ LIEU - 4/2002
Trang 7
môi trường chính trị, xã hội,
kinh tế và công nghệ, việc
thông tin trở thành nguồn lực
đã đặt ra nhiều bài toán mới
đối với hoạt động thông tin
Bài toán đó đòi hỏi đẩy mạnh
hơn quá trình giá trị gia tăng
trong các cơ quan thông tin
nếu như muốn để các cơ quan
này giữ vững vị thế trong nên
kinh tế tri thức,
Tài liệu tham khảo
1 Berry J F Cook C H
Managing Knowledge as a cor-
porate resource Washington
NTIS, 1986
2 Churchman C.W What
is Information for policy making?
In M Kocchen (Ed) information
for action: From Knowledge to
Wisdom New York, 1985
3 Giuxcov V.M Cơ sở của
thông tin hoc phi van ban.-
Moskva, 1975 (Tiéng Nga)
4 Machlup F, Manstieid U
PRONG
khẳng định vị trì quan trọng của đội ngủ cán bọ thùng ta diư
của các thư viện và cơ quan thông tìn, Nêu lên những vẫn de c+
nhân chủ yếu, trong cảng tác đào tao can bo thé
trạng công tác đào tạo cán bộ thông tin-thư vị
nước khác trên thé gibi, Dé xudt mot s6 ¢
(Eds) The study of information:
interdisciplinary messages, New York, 1983
7 Nguyễn Hữu Hùng Mô
hình và vấn đề đào tạo đại học cán bộ ngành TTH&QTTT.- Tạp
chí TT&TL, 1998, số 1, tr, 1-5
8 Nguyễn Hữu Hùng
Thông tin học- khoa học của thời
đại thông tín.- Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh KỆ yếu khoa học, 2001
Hội TT-TL KH&CN Việt Nam,
2002, số 1 (6)
11 Picot A Information Management- The Science of Solving problem- of Information Management, 1989,
information Science, 1982, 33,
tr 341-346
VAN DE DAO TAQ CAN BO DAT HOC (0Ö
TS Bui Loan Thuy Trường Đại học KHXH&NV- ĐHQG TP Hồ Chí Minh
tạo cán bộ thông tn-(hư viện ở nước ía dap ng tPu cảu
nước
Pp" triển sự nghiệp thông
tỉn-thư viện trong thời kỳ
CNH, HĐH đất nước đòi hỏi
phải xây dựng chiến lược đào
tạo và quản lý nguồn nhân lực
đối với toàn ngành Mặc dù
hầu như tất cả mọợi người đều
thờa nhận vat trò quyết định của đội ngũ cán bộ thông tin-
thư viện trong thư viện và các
tựu trong hoạt động
† Cập tà nguyên Nam M6 ta hién
eae he ON, HDA dat
co quan thong tin nhung viéc
đầu tư cho các cơ sở đào tạo để
nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ thông tin-thư viện lại
đang gặp rất nhiều khó khăn,
THÔNG TIN & TỰ LIỆU - 4/2002 §
Trang 8
nhiều vấn để bức xúc cần phải
giải quyết
Thách thức to lớn đặt ra với
các trường có đào tạo cán bộ
thông tin-thư viện là phải cùng
cấp cho xã hội đội ngũ cán bộ
thông tin-thư viện có trình độ
cao, biết sử dụng công nghệ
hiện đại để có thể xử lý, khai
thác lượng thông tin khổng lô,
cùng với những đòi hỏi cũng
gầy càng tăng lên của người
sử dụng Chắc chắn rằng, qui
luật giá trị của kinh tế thị
trường, qui luật cạnh tranh và
tính linh hoạt của thị trường
lao động hiện nay không chấp
nhận chất lượng đào tạo kém
Hơn 40 năm qua, công tác
đào tạo cán bộ thông tin-thư
viện đã đạt nhiều thành tựu
đổi mới vẻ công nghệ và lúng
túng trong việc sử dụng công
cu kỹ thuật mới là hiện tượng
phổ biến
Tại các nơi đào tạo cán bộ
thông tin-thư viện, như Khoa
Thông tin-Thư viện Trường
ĐH Văn hoá Hà Nội, Bộ môn
Thông tin-Thư viện Trường
ĐH KHXH&NV Đại học
Quốc gia Hà Nội, Khoa Thư
viện-Thông tin Trường ĐH
KHXH&NV Đại học Quốc gia
TP Hô Chí Minh, Khoa Thông
tin-Thư viện Trường Cao đẳng
Văn hoá-Nghệ thuật TP Hồ
Chí Minh, Khoa Thông tin học
Nghiên cứu - Theo đổi -:
và Quản trị thông tin Trường Đại học Dân lập Đông Đô,
tình trạng chung là việc đào tạo đều chưa đáp ứng kịp thời các đòi hói mới của sự nghiệp thông tin-thư viện Có thể nêu lên những nguyên nhân chính sau:
I Nội dung chương trình đào tạo chậm được đổi mới
theo hướng hiện đại hoá Kiến thức sinh viên được trang bị trong thời gian học bị lạc hậu
nhanh chóng trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ
Mục tiêu đào tạo cán bộ
thông tin-thư viện của các
trường tập trung chủ yếu vào đào tạo kiến thức và kỹ năng,
Việc đổi tên khoa thư viện
thành khoa thông tin-thư viện hoặc thư viện-thông tin tại các
trường là kịp thời, tuy nhiên,
điều đó không có nghĩa là nội
dung chương trình đào tạo
hoàn toàn phù hợp với tên gọi của khoa và đáp ứng kịp thời đòi hồi của thực tiễn
2 Cơ sở vật chất-kỹ thuật
của các trường còn nghèo nàn, sinh viên ngành thông tin-thư
viện học tập trong điểu kiện
thiếu thốn trang thiết bị CNTT hiện đại, tài liệu giáo khoa,
giáo trình trong các thư viện lạc hậu so với thế giới, tài liệu
tham khảo chuyên ngành ít ôi, thiếu kinh phí dành cho thực
tập, khảo sát và thực nghiệm
khoa học
3 Đội ngũ giảng viên cơ
hữu các chuyên ngành nghiệp
vụ thông tỉn-thư viện it ỏi về số
lượng, còn yếu về chất lượng
so với nhiều ngành khoa học
khác: Khoa Thông tin-Thư
viện Trường ĐH Văn hoá Hà
Nội có 13 giảng viên (trong đó
Trường ĐH KHXH&NV Đại
học Quốc gia TP Hồ Chí Minh
có 7 giảng viên (trong đó có 2 tiến sỹ và 3 thạc sỹ), Khoa
Thông tin-Thư viện Trường
Cao đẳng Văn hoá TP Hồ Chí Minh có 7 giảng viên (trong đó
có 4 thạc sỹ), Khoa Thông tin Trường Cao đẳng Văn hoá-
Nghệ thuật TP Hồ Chí Minh
có 2 giảng viên (trong đó có 1
thạc sÿ), Số lượng giảng viên được đào tạo ở nước ngoài ít,
nhiều giảng viên còn thiếu
kinh nghiệm thực tiễn, ít cơ hội
học tập nâng cao trình độ,
thiếu năng động, thiếu nghiêm trọng các giảng viên chuyên
ngành thông tin
Để có một giảng viên giỏi
với đúng nghĩa của từ này, đòi hỏi giảng viên bên cạnh năng khiếu bẩm sinh phải được đào
tạo bài bản chính qui về nghiệp
vụ chuyên môn và sư phạm,
phải có một quá trình phấn đấu
tự học tập, rèn luyện gian khổ,
gắn chặt công tác giảng dạy
với công tác nghiên cứu khoa
học, nắm chắc được sự phát
6 THONG TIN & TU LIEU - 4/2002
Trang 9giảng dạy tiên tiến chưa rộng
rãi, số giờ lên lớp lý thuyết còn
nhiều, số giờ thực hành,
sêminar, giờ tự học, tự nghiên
cứu của sinh viên ít Đặc điểm
chung của các môn học chuyên
ngành thư viện, thư mục, thông
tin là cung cấp cho sinh viên
kiến thức tổng quan về các mốt
quan hệ và qui luật vận động
cơ bản của hoạt động chuyên
môn Các môn học thường
được sắp xếp theo dây chuyển
thông tin tư liệu từ khâu thư
thập, bổ sung tài liệu, xử lý tài
liệu, tổ chức các phương tiện
tra cứu tin đến việc tìm tin, phổ
biến, khai thác tin, phục vụ bạn
đọc, Do ý thức được rằng các
môn học chuyên ngành có ý
nghiã đặc biệt đối với hoạt
động nghề nghiệp sau này nên
phân lớn sinh viên đêu cố gắng
tham dự giờ lên lớp đầy đủ để
nghe giảng và nắm bắt các vấn
đề chủ yếu, mặc dù bài giảng
có thể không có gì thích thú và
hấp dẫn đối với họ Rất tiếc
rằng, cho đến nay, phương
pháp giảng dạy của nhiều
giảng viên vẫn nặng vẻ khía
cạnh truyền đạt kiến thức, áp
đặt kiến thức đã có sẵn, hoặc
thầy độc thoại trên lớp, trò học
thuộc lòng, trả bài, thây độc
quyền đánh giá, cho điểm
Phương pháp này nặng vẻ hoạt
động thuyết giảng của thấy,
nhẹ vẻ hoạt động tích cực, chủ
động của trò và đã hạn chế đáng kể chất lượng đào tạo
Nghiên cứu một số kinh nghiệm đào tạo cán bộ thông
tin-thư viện ở nước ngoài cho thấy, tuỳ thuộc đặc điểm kinh
tế-xã hội của từng nước, thường đào tạo các loại cán bộ
sau:
- cán bộ điều hành, tổ chức
và quân lý các loại thư viện, trung tâm thông tin;
- cán bộ thông tin-thư viện
chuyên nghiệp (các chuyên gia thông tin);
- cán bộ nghiên cứu và
giảng dạy trong lĩnh vực thông
tin-thư viện;
~ cán bộ thiết kế các loại thư
viện, trung tâm thông tin;
- đào tạo người dùng tin,
Về cơ sở đào tạo: hầu hết
các nước đều gắn chặt việc đào
tạo với các trường đại học tổng hợp, hoặc trường đại học kỹ thuật
Vẻ phương thức đào tạo:
theo niên chế hoặc vừa niên
chế vừa tín chỉ (CHLB Nga và một số nước Đông Âu), theo
tín chỉ (Mỹ, các nước Tây Âu, Nhật Bản, Đông Nam Á)
Vẻ hình thức và thời gian đào tạo: hệ chính qui dai hạn 4
năm hoặc 5 năm, ngắn han 1.5
hoặc 2 năm đối với sau đại
Các xu hướng đào tạo chính
trên thế giới hiện nay là:
1 Xu hướng thư viện: nội
dung chương trình đào tạo bao gồm các môn thư viện truyền
thống, bổ sung các môn lý luận khoa học thông tin và ứng
dụng CNTT trong công tác thư
viện
2 Xu hướng mang tính
thông tin tổng hợp: nội dung chương trình đào tạo bao gồm các môn khoa học thông tin, phương pháp luận nghiên cứu
thông tin, lý luận truyền thông, đặc biệt chú trọng toán lôgic và
cơ sở kỹ thuật tính toán
4 Xu hướng hệ thống: nội
dung chương trình xem xét các van dé thong tin trên cơ sở bảo
đảm thông tin cho cac hệ thống
thực tiễn như: quản lý sản xuất,
khoa học, kinh doanh Chương
trình chú trọng phương pháp
phân tích hệ thống, các hệ thống tự động hoá và tự động
hoá trong thư viện
Từ những năm 80 trở đi, nội dung chương trình đào tạo của
hau hết các nước đều kết hợp
đào tạo truyền thống với hiện đại với những mức độ khác
nhau Nhìn chung, nội dung
chương trình của các nước phát triển đều phản ánh khuynh
hướng sử dụng mạnh mẽ ba cách tiếp cận trong van dé
Trang 10
xét thông tin trong các hệ
thống chứ không phải từng quá
trình thông tin đơn lẻ, thuần
tuý mà là một quá trình có tác
động tương hỗ qua lại trong
bản thân quá trình đó và giữa
quá trình đó với môi trường
bên ngoài Ví dụ: xem xét nội
dung hoạt động thông tin sẽ
bao gồm nghiên cứu nội tại của
nội dung hoạt động thông tin
và mối quan hệ của nội dung
hoạt động thông tin với môi
trường bên ngoài;
- Tiếp cận tin học (xuất phát
từ quan niệm coi trọng công
nghệ): xem xét thông tin dưới
góc độ công nghệ hoá quá trình
hoạt động thông tin, ví dụ, xây
dựng CSDL, quá trình lưu trữ,
bảo quản, truyền tin, tìm kiếm
thông tin, cài đặt các thiết bị
hiện đại vào quá trình thông
tin;
- Tiếp cận thị trường (xuất
phát từ quan niệm coi thông tin
là nguồn lực và là loại hàng
hoá đặc biệt): nghiên cứu
người dùng tin, điều tra nhu
cầu tin, các dịch vụ thông tin
trường và tin học Xây dựng
những chương trình hoàn toàn
mới đào tạo các chuyên gia
thông tin theo các loại hình
ngành nghề công nghiệp hoặc
hệ thống thông tin tự động hoá
Nhìn chung, mặc dù nội
dung chương trình với qui mô
đào tạo của các nước khác
nhau tuỳ theo đặc thù từng
nước, nhưng xu thế chung, các nước đều chú trọng công tác đào tạo cán bộ thông tin-thư
viện và tổ chức công tác đào
tạo một cách có hệ thống, nội
dung chương trình luôn luôn
đổi mới, hướng về công nghệ
hiện đại và bắt kịp nhịp điệu
phát triển của KHCN để thoả mãn nhu cầu của xã hội cạnh tranh trong nền kinh tế thị
trường, thông tin thương mại rất được chú ý Chẳng hạn, tại nước Mỹ, là nước nói đến thư
viện ai cũng hiểu là nói đến
thông tin, đặc điểm nổi bật
trong đào tạo là tính linh hoạt trong nội dung chương trình và coi trọng kỹ năng thực hành,
mỗi trường có chương trình, kế hoạch đào tạo riêng Nội dung
chương trình chỉ cần đáp ứng
các yêu câu của Hội Thư viện
Mỹ và thoả mãn yêu cầu của
các thư viện trên một địa bàn
cụ thể Việc đưa vào một môn
học mới hay loại bỏ một môn
nào đó trong chương trình đào tạo do ban giám hiệu trực tiếp giải quyết Điều này giúp cho việc đáp ứng rất nhanh nhu cầu
nhân sự theo từng lĩnh vực chuyên môn của các thư viện
trên địa bàn Trong thời gian từ
1,5 đến 2 năm, sinh viên được
tự do trong việc lựa chọn các môn học mà họ thích nhất hoặc các môn học mà họ cho là có
lợi về sau Sau khi thi và làm các bài tập của từng môn, sinh viên sẽ được cấp chứng chỉ
Sinh viên đạt số lượng từ 36 tín chỉ trở lên thì được cấp bằng
thạc sỹ Nếu sinh viên đạt từ
18-35 tín chỉ thì được cấp
chứng chỉ vẻ trình độ nghiệp
vụ thư viện Việc giảng dạy cùng một môn học có thể được tiến hành vào buổi sáng, chiêu,
tối, thậm chí vào cả ngày nghỉ, sinh viên có thể tự vạch cho
mình thời gian biểu phù hợp nhất Sinh viên được rèn luyện
kỹ năng kỹ sảo nghề nghiệp rất
kỹ về cách thức biên mục, xác định chỉ số tài liệu, tra cứu thư mục, sử dụng thành thạo máy tính và mạng máy tính, máy
quay video, sử dụng dễ dàng những cụm chương trình phức
tạp, thông thạo cách thức phục
vụ người sử dụng và nghệ thuật phỏng vấn người dùng tin ở
mọi lứa tuổi Để đảm bảo các
đặc điểm trên, trong bài giảng
của các giảng viên mức độ chỉ tiết hoá rất cao, các bài giảng được soạn tỷ mỷ với sự chuyên môn hoá cao và đòi hỏi sinh
viên phải để ra được nhiều phương án khi thực hiện một
nhiệm vụ nào đó, các giảng viên rất cởi mở với các ý tưởng
mới của sinh viên Tại Canada, Đức, Nhật Bản và một số nước Đông Nam Á, việc đào tạo tương tự như ở Mỹ Tại Anh,
Pháp, Ba Lan, Hungaria,
Trung Quốc, việc đào tạo được
tiến hành theo hai hướng:
truyền thống và hiện đại, từ
năm 1990 đến nay, đào tạo cán
bộ thông tin chuyên nghiệp (cung cấp kỹ năng về tạo nguồn tin, thu thập tin, truyền tỉn, cô đọng thông tin, kỹ năng
thảo luận với các chuyên gia)
theo các chuyên ngành quản trị thông tin, hệ thống thông tin,
THONG TIN & TU'LIEU - 4/2002
Trang 11
công nghệ thông tin và viễn
thông Tiệp Khắc, Bungaria
đào tạo tương tự như ở Nga,
Tại Nga, đào tạo cần bộ thư
viện tại khoa thư viện các
trường đạt học tổng hợp văn
hoá nghệ thuật (trước kia là đại
học văn hoá) với qui mô đào
tạo lớn, tuyển học sinh tốt
nghiệp trung học phổ thông,
Nội dung chương trình đào tạo
được xây dựng để đáp ứng nhu
câu của xã hội về thông tin,
nghề nghiệp thông tin và thông
tin đại chúng Các trường tổng
hợp văn hoá nghệ thuật có hai
chương trình: một chương trình
đào tạo được xây dựng trên nén
tảng khoa học thông tin, thời
gian đào tạo 5 năm đào tạo hai
chuyên ngành phục vụ cho các
thư viện khoa học (cán bộ phục
vụ thông tin tư liệu diện khoa
tâm lý sư phạm, thời gian đào
tạo 4 năm, đào tạo cán bộ phục
vu trong tác thư viện phổ thông
(đại chúng) theo hai hướng
(người lớn và thiếu nhĩ) Trong
chương trình có các môn học
tự chọn và bắt buộc Phương
thức đào tạo chủ yếu theo niên
chế Hiện nay, một số trường,
đang chuyển sang đào tạo tín
chỉ Kiến thức trang bị cho sinh
viên rất vững chắc về nên tảng
lý thuyết ở tất cả các môn học,
rất coi trọng nghiên cứu khoa
học của sinh viên, buộc sinh
viên phải tham gia nghiên cứu
khoa học ngay từ năm thứ nhất
và sinh viên phải đi các thư
viện lớn, trung bình, nhỏ thường xuyên để làm các bài
tập lý thuyết và thực hành Số giờ lý thuyết và thực hành theo
tỷ lệ 1:1 Các buổi thảo luận được tổ chức nhiều, do sinh viên tự điều khi có giảng
viên tham dự và giải đáp các thấc mắc nếu có Trong các thư
viện lớn và thư viện các
trường, có kho tài liệu nghiệp
vụ rất phong phú phục vụ riêng cho chuyên ngành thông tin- thư viện với đủ loại hình tài liệu bằng nhiễu ngôn ngữ khác nhau
Các chuyên gia thông tin tai
Nga được đào tạo tại Khoa
Thông tin Trường Đại học Tổng hợp Quoc gia về KHXH&NV một số trường đại học kỹ thuật và kinh tế, Cán bộ thông tin được đào tạo
với nhiều chuyên ngành khác
nhau về khoa học thông tin,
quản trị thông tin, hệ thống thong tin, bảo đâm thông tin:
đại học 6 chuyên ngành, trên
đại học 5 chuyên ngành, bôi dưỡng nâng cao trình độ 7
chuyên ngành
Kinh nghiệm đào tạo ở
nước ngoài rất bổ ích đối với Việt Nam nhưng cần phải lưu ý
hoàn cảnh và đặc thù của Việt
Nam, ví dụ, phải cân đối giữa
sự mong muốn khối lượng trì
thức cần trang bị cho sinh viên
với nội dung chương trình
giảng dạy là một khối lượng
xác định, thời gian đào tạo có hạn, lực lượng giảng viên còn
non yếu, cơ sở vật chất kỹ
thuật hạn chế,
Công tác thư viện trong giai đoạn CNH, HĐH đất nước đòi hỏi phải có các sẵn phẩm thông
tin-thư viện có hàm lượng khoa học cao, có giá trị gia ting cao
và tiến hành hàng loạt các dịch
vụ thông tin với chất lượng cao Khối lượng thông tin luân chuyển trong hệ thống thông
tin viễn thông toàn cầu
INTERNET ngày càng tăng cùng với việc phổ cập tiếng Ảnh đòi hỏi thúc đẩy nhanh
chóng tiến trình tin hoc hoá các thư viện ở nước ta, tạo điều kiện thuận lợi lôi cuốn đội ngũ cán bộ thư viện vào dòng chây
hiện đại hoá Việc trang bị các
phương tiện kỹ thuật hiện đại bao giờ cũng đi kèm với việc đào tạo người sử dụng chúng
Trước yêu cầu mới của sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HDH đất nước, trong bối cảnh hội
nhập kinh tế quốc tế và xu thế toàn cầu hoá công tác đào tạo
cán bộ thông tứ'n-thư viện cân
phải chuyển biến nhanh hơn,
mạnh hơn, có hiệu quả hơn đào tạo ra đội ngũ cán bộ thông
tinthư viện có thể tiếp cận nhanh chóng với trí thức và công nghệ mới nhất để hiện đại hoá các thư viện góp phần tích
cực vào việc hình thành kinh tế
tri thức, xã hội thông tin Đứng
trước tình hình này, các trường
đào tạo cán bộ thong tin-thy viện đều quan tâm đặc biệt đến
chất lượng và hiệu quả đào tạo,
cố gắng tìm ra các giải pháp mang tính đột phá để nâng cao chất lượng đào tạo nhằm đáp
ứng các yêu cầu của nghẻ
nghiệp thông tin-thu viện trong
THONG TIN & TƯ LIỆU - 4/2002 9
Trang 12
thời đại CNTT mới
Nhiệm vụ của các khoa
thông tin-thư viện của các
trường là phải góp phân tạo ra
được những cán bộ thông tin-
thư viện đa năng, họ không
những biết cách thu thập, tổ
chức, quản lý tốt nhất vốn tài
liệu mà phải là những chuyên
gia xử lý, tim tin, phân tích và
phổ biến thông tin, biết tận
dụng tối đa tiềm năng của công
nhiệm vụ trên, trong công tác
đào tạo cần thực hiện đồng bộ
các giải pháp sau:
1 Nâng cao chất lượng đội
ngũ giảng viên bởi vì chất
lượng đào tạo tuỳ thuộc rất lớn
vào trình độ chuyên môn cao,
Kỹ năng sư phạm và nhân cách
của các giảng viên Với số
lượng giảng viên it ồi hiện nay,
các khoa thông tin-thư viện của
các trường đại học và cao đẳng
khi đào tạo cán bộ phải tập
trung đầu tư nâng cao chất
lượng đội ngũ giảng viên, tạo
điêu kiện thuận lợi cho họ
được thường xuyên học tập
nâng cao trình độ, cập nhật
kiến thức mới của ngành thông
qua nhiều hình thức: đào tạo
chính quy bậc cao học, tiến sỹ
thực tập sinh cao cấp ở nước
ngoài, tập huấn phương pháp
giảng dạy tiên tiến, Phải tiến
hành quy hoạch và phát triển
đội ngũ giảng viên trên cơ sở
các tiêu chuẩn của BO GD&DT
Nghiên cứu - Trao đổi
cả về trình độ, chức danh, tuổi tác, qui định cụ thể thời hạn phấn đấu đạt các loại văn bằng, chứng chỉ, chú trọng trình độ chuyên môn, năng lực sư phạm
và năng lực nghiên cứu khoa
học Có kế hoạch đào tạo đội
ngũ giảng viên trẻ có trình độ
cao để có thể thay thế các giảng viên lớn tuổi, giải quyết
tình trạng hãng hụt về đội ngũ
2 Đổi mới kịp thời nội
dung chương trình đào tạo theo
hướng mềm hoá chương trình,
chú trọng các môn học về thông tin, loại bỏ sự trùng lặp
về nội dung trong một số môn học thư viện truyền thống Tổ
chức các hội nghị khoa học,
đánh giá nghiêm túc nội dung,
chương trình đào tạo để xây dựng nội dung, chương trình đào tạo mới, hội nhập với quốc
tế và phù hợp với điều kiện đặc thù của Việt Nam đang trên con đường đẩy nhanh tốc độ CNH, HĐH đất nước, hiện đại hoá các thư viện và cơ quan thông tin Đổi mới nội dung chương trình đào tạo chuyên
ngành tại các trường, đi đến sự
ap dung tri thức mới và cong
nghệ tiên tiến, phát huy tính sáng tạo của họ, đào tạo sinh
viên trở thành những chủ thể tích cực tham gia vào quá trình hiện đại hoá các thư viện Các
trường cần chú ý đúng mức
việc giáo dục đạo đức và phẩm chất nghề nghiệp, thúc đẩy
động cơ, nguyện vọng làm chủ công nghệ mới, cung cấp cho
các thư viện những cán bộ thư viện thực sự có trình độ và kỹ
năng tương xứng với bằng cấp
họ được đào tạo
Những yêu cầu mới của xã
hội đối với cán bộ thông tỉn-
thư viện đòi hỏi đội ngũ giảng
viên phải đổi mới phương pháp
giảng đạy các môn học chuyên ngành
Thực tiễn đã chứng mình rằng, việc giảng dạy các môn
tạo, năng lực giải quyết các
van dé sinh viên và huấn luyện
nâng cao chất lượng đào tạo
cán bộ Theo hướng này, phương pháp giảng dạy phải
phát huy được tính tích cực chủ động của sinh viên, khơi dậy, rèn luyện và phát triển năng
lực tự học, tự nghiên cứu, năng lực nghĩ và làm việc một cách
tự chủ, độc lập, biết cách đặt
vấn để và giải quyết vấn để
ngay trong quá trình học tập
Người thây đóng vai trò là
người hướng dẫn, nêu vấn đề,
10 THONG TIN & TƯ LIỆU - 4/2002
Trang 13huống, người thây giải đáp các
câu hỏi, thắc mắc của sinh
viên, cố vấn cho sinh viên tự
đánh giá kết quả học tập và là
người trọng tài đánh giá kết
quả học tập, giúp đỡ sinh viên
trong quá trình chuyển biến từ
người được đảo tạo thành
người tự đào tạo
Với phương pháp này, sinh
viên sẽ tự mình tiêu hoá kiến
thường xuyên các buổi semi-
nar, thảo luận, sinh hoạt khoa
học nhằm phát triển năng lực
lập luận lôgic, năng lực trừu
tượng hoá, khái quát hoá và
khả năng chiếm lĩnh vững chắc
nội dung các môn học chuyên
ngành của sinh viên,
Áp dụng phương pháp day
tích cực chúng ta sẽ đào tạo ra
những cán bộ thông tin-thư
viện có:
- Năng lực thu thập, phân
tích và tổ chức thông tin: nhạy
bén với thị trường, tìm ra nơi
có thông tin, lọc tin, đánh giá
và chọn những thông tin can
thiết, biết cách nắm nguồn tin,
chỉ ra nguồn tin, nơi sản xuất
tin và phương pháp lấy được
- Năng lực truyền bá thông
tin một cách hiện quả cho người khác bằng cách sở dụng các phương tiện diễn đạt bằng lời nói, viết, đồ thị, ;
- Năng lực kế hoạch hoá và
tố chức hoạt động của bản thân, bao gồm việc sử dụng tốt
thời gian và những nguồn lực,
chọn ra những vấn đề ưu tiên
và theo dõi việc thực hiện;
- Năng lực tác động một
cách có hiệu quả đến người
khác, vừa với từng cá nhân,
vừa với từng tập thể trên cơ sở hiểu biết của mình để đạt mục
tiêu chung, Có kỹ năng giao
tiếp, hiểu biết người ding tin, nắm được nhu câu của họ;
~ Năng lực sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa
học để nghiên cứu các vấn dé
khoa học;
- Năng lực giải quyết vấn đê
với mục tiêu đã định trước, với
thực hiện bước quá độ chuyển
sang "xã hội thông tin” ở Việt Nam, việc đổi mới noi dung và
phương pháp giảng dạy các môn học chuyên ngành thư viện, thư mục, thông tin là nhụ
cầu cấp thiếu Trong chương trình giảng dạy phải giảm giờ
lên lớp lý thuyết, tăng giờ thực
hành, seminar, giờ tự học cho
sinh viên Đặc biệt các môn học về xử lý tài liệu, như: mô
tả tài liệu, phân loại tài liệu,
định chủ đẻ, hay các môn học
về: tìm tin và phổ biến thông
tin, công tác với bạn đọc, tự
động hoá hoạt động thông tin-
thư viện, lại càng phải được
chú ý
4 Phải bảo đảm tài liệu
tham khảo, sách giáo khoa, giáo trình trong thư viện các
trường Việc hoàn thiện hệ
thống giáo khoa, giáo trình các
môn học chuyên ngành đòi hỏi
tỉnh thần trách nhiệm cao của
đội ngũ giảng viên, sự tự hoàn
thiện mình và sự đầu tư kinh phí thích đáng của các trung tâm đào tạo Chỉ trong điểu kiện số lượng tài liệu tham khảo phong phú, sách giáo khoa, giáo trình thường xuyên
được đổi mới, cùng với ý thức khắc phục "lối mòn cũ" trong
tư duy của người thấy, tăng kinh phí cho công tác nghiên
cứu khoa học, thực tập, thì
phương pháp giảng dạy tích cực mới phát huy được hiệu quả của nó và sẽ góp phần rất
lớn vào việc bảo đâm và nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ
thông tỉn-thư viện ở nước tạ
5 Tổ chức tốt việc đào tạo
lại cán bộ thông tin-thư viện;
nét đặc trưng của thế kỷ mới là
cho dù học tập có bằng cấp rồi
con người vẫn cứ phải học tập
suốt đời mới không bị lạc hậu
với sự phát triển của thực tiễn Trong quá trình làm việc người
cán bộ phải không ngừng học
THONG TIN & TU LIEU - 4/2002 11
Trang 14
tập Do vậy, bài toán đặt ra với
các trường đào tạo cán bộ thư
viện là bên cạnh hệ chính quy,
hệ tại chức phải trến hành đào
tạo lại bằng cách thường xuyên
mở các lớp huấn luyện bồi
đưỡng nâng cao trình độ nghề
nghiệp cho cán bộ thư vi
giúp họ trong thời gian ngắn
nhất, tiếp cận được với những
thành tựu mới nhất, kinh
nghiệm tiên tiến của ngành
Học viên theo học các lớp này
được cấp các chứng chỉ, các
chứng chỉ này cỏ giá trị trong
một thời hạn nhát định và được
miễn thi một sô môn học nếu
theo học hệ chỉnh qui hoặc tại
chức các bậc học khác nhau
Tuy nhiên, để lim được điều
này các trường đào tạo cán bộ
thư viện phải thiết kế được các
chương trình đào tạo đặc biệt,
có đội ngũ giáo viên có trình
độ cao, có mối quan hệ hợp tác
quốc tế rộng để có thể mời
được các chuyên gia nước
ngoài tham gia g dạy Các
trường phải có mối quan hệ
chặt chẽ với các thư viện, trung
tâm thông tin lớn có trách
nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn
nghiệp vụ để mở rộng loại hình
huấn luyện đào tạo nghiệp vụ
ngắn ngày một cách thường
xuyên, có hệ thông
6 Để nâng cao chất lượng
đào tạo các trường đào lao cán
bộ thông tin-thư còn phải
tăng cường cơ sở vật chất kỹ
thuật, trang thiết bị, xây dựng
thư viện thực hình hợp tác
chặt chẽ với các thư v và cơ
quan thông tin tạo điều kiện
thuận tợi cho sinh viên thực tập
zơ bản hình ảnh cán bộ thông
tin-thư viện Khái niệm các cán
bộ trở thành các chuyên gia
» tỉn-thư viện nên hiểu là
đi sâu nghiên cứu về lĩnh
vực thông tín học, thư viện
»ọc, có hiểu biết sâu sắc vẻ
hiện thực trong thời kỳ CNH
HĐH đất nước, các trường đào
tao cán bộ thông tín-thư viện
phải đào tạo đội ngũ cán bộ
thông tin-thư viện quản trị các thư viện hiện đại này hoặc họ
cũng chính là người xây dựng
bộ phận thư viện điện tử, thư
viện số trong thư viện truyền thống Họ phải có các kỹ năng
và năng lực cần thiết để quản
trị hệ thống thông tin số trong các lĩnh vực quan trọng của công nghệ †ạo ảnh, nhận dang
ký tự quang học, ngôn ngữ đánh dấu, biên mục, đánh chỉ
xô đu phương tiện, thiết kế giao
diện người dùng, công nghệ CSDL, lập trình và công nghệ Web
Công tác đào tạo còn phải gắn với chính sách sử dụng cán
bộ và chế độ đãi ngộ Đào tạo
tốt phải được sử dụng tốt, được
đãi ngộ
1 Đảm bảo chất lượng đào tao chuyên ngành thông tín-thư
viện: Kỷ yếu hội thảo khoa học
chuyên ngành thông tín-thư viện
lần thứ nhất Bộ môn Thong tin-
Thư viện Trường ĐH KHXH&NV
Đại học Quốc gia Hà Nội.-H
DHOGHN, 2001.- 230 tr
2 Kolin K.K Nén van minh
thông tín: tương tai hay thực tại⁄
Tạp chí Thư viện học.- 2001.- số
2.- tr 34-43 (tiếng Nga)
3 Mai Quốc Chánh Nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực
đáp ứng yêu cầu CNH, HDH đất
nước.- H.: Chính trị quốc gia,
1998 - 132 tr
4 Nguyễn Hữu Hùng Suy
nghĩ về nội dung đào tạo đại học
ngành thông tin hoc/ Tap chí
Thông tinã Tư liệu.- 1996.- số 1.-
tr 4-7
5 Stepanov V Dao tạo cán
bộ thư viện ở Mỹ/ Tạp chí Thư
viện học.- 1995.- số 9.- tr 66-68 (tiếng Nga)
6 Vũ Dương Thuý Ngà, Phạm Văn Hính Chương trình
đào lạo cán bộ thông tin-thư
viện ở ĐH Văn hoá Hà Nội:
những bất cập và giải pháp/
Tạp chí Thông tin&Tư liệu.- 2000.- số 2.- tr 14-16
7 Vũ Văn Sơn Đổi mới đào
tạo thư viện học và thông tin học
nhằm đáp ứng yêu cầu của thời
kỳ quá độ chuyển sang xã hội
thông tin⁄ Tạp chí Thông tin& Tư
Trang 15ta hay nói đến vấn để quân lý
chất lượng sản phẩm theo ISO
9000 Tuy nhiên, trong xã hội
tổn tại nhiều cách hiểu khác
nhau về ISO 9000, Vậy ISO
9000 là gì và chúng có thể
được áp dung trong hoat dong
của các tổ chức thông tin
KHCN hay không? Hy vọng
bài viết này sẽ làm sáng tô
được phản nào vấn đẻ trên,
Bộ Tiên chuẩn ISO 9000 do
Tổ chức Tiêu chuẩn hoá quốc
tế (viết tắt là ISO) công bố áp
dụng lần đâu tiên vào năm
1987 cho các hệ thống quan lý
chất lượng (HTQ1L.CL) của các
tổ chức/doanh nghiệp Năm
1994, bộ Tiêu chuẩn ISO 9000
này sau khi được soát xét và
ban hành gồm 27 Tiêu chuẩn
cụ thể, trong đó quan trọng
nhất là 3 Tiêu chuẩn (thường
gọi là bộ ba ISO "One -Two -
Three") bao gdm:
- ISO 9001:1994 -Quality
Systems -Model for quality
assurance in design, develop-
ment, production, installation
and servicing (Hé thong quan
Systems -Model for quality
assurance in production, instal-
lation and servicing (Hé thong
quản lý chất lượng -Mô hình
đâm bảo chất lượng sản phẩm
và dịch vụ);
- ISO 9001:1994 -Quality
Systems -Model for quality
assurance in final inspection
and test (Hệ thống quan ly chất lượng -Mô hình đảm bảo chất lượng kiểm tra và thử nghiệm cuối cùng)
Ba Tiêu chuẩn trên được dùng làm cơ sở cho việc chứng
nhận hợp chuẩn Trong đó, Tiêu chuẩn ISO 9001:9004 là
Tiêu chuẩn đầy đủ nhất, bao gồm 20 yêu cầu đối với một
HTQLCL từ khâu thiết kế, triển khai sản xuất, lắp đặt đến địch vụ sau khi bán hàng, Tiêu
chuẩn !SO 9002 bỏ bớt các yêu câu của khâu thiết kế, còn ISO
§ qua tinh áp đụng bộ tiên chuẩn này
1SO 9000:9004 lại được soát
xét, sửa đổi nhằm tăng khả
đã được thay thế bởi chỉ một
Tiêu chuẩn ISO 9001: 2000,
Bộ Tiêu chuẩn ISO 9000 phiên bản 2000 gồm 4 Tiêu chuẩn chính, là:
- ISO 10011: Các hướng dẫn vẻ đánh giá hệ thống quản
lý
Trong phiên bản 2000, Tiêu
chuẩn [SO 9001:2000 vẫn đâm bảo độ tương ứng nhất định với ISO 9001:1994 nhưng được trình bày một cách khoa học,
hệ thống và ngắn gọn hơn Ngoài các mục chung có tính
khái quát, thì 20 yêu cầu trong phiên bản cũ đã được thay thế bởi các nhóm yêu cầu là: hệ
THONG TIN & TU LIEU - 4/2002
iene
3
Trang 16
thống quản lý chất lượng; trách
nhiệm của lãnh đạo; quản lý
nguồn lực; tạo sẵn phẩm, đo
lường, phân tích và cải tiến
Thuật ngữ được sử dụng trong,
phiên bản mới rõ ràng, để hiểu
Về nội dung, các yêu cầu của
ISO 9001:2000 có sự định
hướng vào khách hàng nhiều
hơn so với ISO 9001:1994
Các mục tiêu chất lượng theo
yêu cầu của phiên bản mới
mang tính định lượng rõ tệt,
được xuyên suốt các quá trình,
từ khâu quần lý nguồn lực, tạo
năng thoả mãn nhu cầu của
người sử dụng Như vậy, sẵn
phẩm của tổ chức dịch vụ
KHCN nói chung và của các tổ
chức thông tin KHCN nói
riêng là có tính hữu hình, dễ
định lượng Vì vậy, việc ấp
dụng bộ Tiêu chuẩn ISO 9000
cho các tổ chức thông tin
KHCN là có thể, nếu không
muốn nói là cần thiết và là tất
yếu khách quan
Dưới đây sẽ liên hệ cụ thể
việc đáp ứng các nhóm yêu câu
“Nghién cứu - Trao đổi:
cơ bản của ISO 9000 đối với
các tổ chức thông tin KHCN
a Qudn lý theo phương
pháp quá trình
Yêu cầu đối với HTQLCL
là các đối tượng áp dụng Tiêu
chuẩn phải quản lý theo phương pháp quá trình, nghĩa
là phải nhận biết được các quá trình cần thiết trong HTQLCI
xác định được trình tự, mối tương tác giữa các quá trình này, đảm bảo quản lý có hệ
thống toàn bộ các quá trình để đạt tính hiệu quả và thực hiện việc cải tiến liên tục các quá
trình đó
Như vậy, để thực hiện yêu
cầu này, tổ chức thông tin KHCN 4p dung ISO 9000 can
giải quyết một số vấn dé co bản như sau:
- chuẩn hóa quá trình thực
hiện hoạt động thông tin KHCN:
- chuẩn hóa các sản phẩm
địch vụ được tạo lập trong mỗi
quá trình;
- chuẩn hóa mối quan hệ
tương tác của mỗi quá trình
nhằm tạo ra sự ảnh hưởng tích
cực của mối quan hệ đến chất
lượng sẵn phẩm dịch vụ và đến người dùng tin (khách hàng),
- tạo lập và duy trì thường
xuyên mối quan hệ cơ quan
thông tin (nhà sản xuất) -người
dùng tin (khách hàng) để đánh giá, cải tiến quá trình nhằm đạt được hiệu quả tối ưu
Trong việc thực hiện yêu
câu quản lý theo quá trình, tổ
chức thông tin KHCN cần đặc biệt lưu ý mối quan hệ tương tác của từng công đoạn trong
của công đoạn sau và ngược
lại Ví dụ, chất lượng các sản
phẩm dịch vụ thông tin phụ
thuộc rất nhiều vào công nghệ/kỹ thuật xử lý trước đó, đồng thời cũng phụ thuộc vào chất lượng nguồn thông tin của
công đoạn tạo lập và phát triển nguồn tin Tuy nhiên, chất
lượng xử lý thông tin lại phụ
thuộc nhiều vào việc xác định
cụ thể đối tượng sử dụng những thông tin này, tức là
gián tiếp phụ thuộc vào việc bộ
phận tạo nguồn khi bổ sung
thông tin, có dựa trên cơ sở như
cau tin của người dùng hay không 2, v.v Như vậy, tổ chức thông tin KHCN khi áp dụng
ISO 9000 không thể coi nhẹ (hoặc quá coi trọng) công nghệ
và sản phẩm dịch vụ của bất kỳ
công đoạn nào trong quá trình
b Trách nhiệm của lãnh đạo
Yêu câu đối với
nhiệm của lãnh dao, ng:
cam kết và hoạch định về chính sách chất lượng, mục
tiêu chất lượng, hệ thống quản
ly chất lượng nhằm thoả mãn
cao nhất yêu câu của khách hàng, người lãnh đạo tổ chức/doanh nghiệp phải đảm
bảo thiết lập được quá trình
trao đổi thông tin, nấm được những thông tin liên quan đến
hiệu lực của HTQLCIL., trên cơ
sở đó ra các quyết định phù hợp
Như vậy, để thực hiện yêu
Trang 17
Ghi chu:
cầu này, lãnh đạo tổ chức
thông tin KHCN áp dụng ISO
9000 cần thiết lập các kênh
thông tin theo sơ đồ sau:
Người lãnh đạo có thể trực
tiếp điều hành các kênh thông
tin hoặc thông qua bộ phận
tham mưu-kế hoạch Thông tin
qua các kênh này phải trung
thực, tin cậy, chính xác và
thường xuyên Như vậy, bộ
phận tham mưu-kế hoạch cho
lãnh đạo không những chỉ là
những chuyên gia giỏi vẻ
nghiệp vụ thông tin tư liệu, mà
còn là người có kinh nghiệm tổ
chức, xử lý, điều phối hệ thống
thông tin quản lý hành chính
Việc chuẩn hóa quá trình,
mối quan hệ giữa các quá trình
lịch sử tổn tại khá lâu Như
vậy, người lãnh đạo phải dũng
cảm, cương quyết, đám hy sinh
lợi ích trước mắt để đạt được
hiệu quả hoạt động lâu dài, phù
hợp với xu thế thời đại
Trong quản lý nguồn lực,
ngoài yêu cầu đối tượng áp
dụng ISO 9000 phải nhận biết,
cung cấp và duy trì những nguồn lực cần thiết đạt được sự
phù hợp của sản phẩm, ISO
9000 còn yêu cầu tổ chức/doanh nghiệp phải xác
định được năng lực cần thiết
của những người thực hiện các công việc liên quan đến chất
lượng sản phẩm, qua đó tiến
hành việc giáo dục, đào tạo để
có nguồn nhân lực có nhận thức, kỹ năng và kinh nghiệm
chuyên môn đáp ứng các yêu
cầu đã đề ra
Đối với các tổ chức thông
tin KHCN muốn áp dụng ISO
9000, những vấn dé co bin
phải giải quyết để đáp ứng yêu
cầu nói trên là;
- tạo lập và duy trì nguồn
thông tin ổn định cho quá trình
hoạt động đã được chuẩn hóa;
- xây dựng chính sách chia
SẺ nguồn thông tin với các tổ
chức trong và ngoài hệ thống thong tin KHCN quốc gia, với
các tổ chức quốc tế nhằm không ngừng bổ sung nguồn
tin đáp ứng sự cải tiến và nâng
Các công đoạn trong qui trình
~^————— hoạt động thông tin
cao hiệu quả hoạt động;
- ấp dụng công nghệ tiên tiến trong khai thác, tạo lập, xử
chuẩn hóa quá trình, chuẩn hóa các sản phẩm dịch vụ Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhân lực trở
thành nhân lực trình độ cao Có chế độ đãi ngộ thỏa đáng nhân lực tương ứng với giá trị lao động đặc biệt là giá trị gia
tăng của các sản phẩm dịch vụ
Một trong những điều kiện tiên quyết để thực hiện yêu cầu
về quản lý nguồn nhân lực là
việc xây dựng được định mức lao động cho mỗi công việc cụ
thể Nói cách khác là phải xây dựng được một Tiêu chuẩn về định mức lao động trong lĩnh vực thông tin KHCN Đây là công việc phức tạp mà trong
những năm qua, nhiều tổ chức
thông tin KHCN muốn mà
chưa làm được Việc áp dụng
định mức lao động cũng sẽ nây sinh một số phần ứng tiêu cực,
đặc biệt là trong việc sắp xếp
THONG TIN & TU LIEU - 4/2002 15
Trang 18
bố trí lại nhân lực, nhưng dù
sao đó là việc phải làm nếu áp
dung ISO 9000 Trong điều
kiện hiện nay, có lẽ công cuộc
cải cách hành chính của Đảng
và Chính phủ là chỗ dựa để các
tổ chức thông tin KHCN giải
quyết vấn đẻ sắp xếp lại nhân
lực khi áp dung [SO 9000
d Tao sén phẩm, ảo lường,
phân tích và cái tiến
Trong yêu cầu chung: Tạo
sẵn phẩm - đo lường, phân tích
và cải tiến, ISO 9000 đưa ra
khá nhiều các yêu câu cụ thể
về thông tin Trong đó chú
trọng vấn đề trao đổi thông tin
với khách hàng liên quan đến
sẵn phẩm dịch vụ Ví dụ, ISO
9000 quy định tổ chức/doanh
nghiệp phải xác định và sắp
xếp có hiệu quả việc trao đổi
thông tin với khách hàng về
miêu tả sắn phẩm địch vụ về
các yêu cầu, hợp đồng hoặc
đơn đặt hàng, kể cả các sửa
đổi; về phản hỏi của khách
hàng, kể cả khiếu nại Đông
thời tổ chức/dounh nghiệp
phải theo dõi các thông tin về
sự chấp nhận của khách hàng
về việc họ có đáp ứng yêu cầu
của khách hàng hay không, coi
đó như một trong những thước
đo mức độ thực hiện của
HTQLCL Phải xic định các
phương pháp để thu thập và sử
dụng các thông tín này
Để đáp ứng yêu câu tạo sản
phẩm đo lường, phân tích và
cải tiến, các tổ chức thông tin
KHCN cần thực hiện những
nội dung công việc cơ bản sau
đây:
~ tạo lập và duy trì thường
Nghiên cứu - Trao đổi
xuyên mối quan hệ ngược (feedback) với người dùng tin
nhằm mục đích giới thiệu các sản phẩm và dịch vụ: nhận và
xử lý yêu cầu của người dùng
ti vẻ mẫn mã, chất lượng, phương thức, giá cả cung cấp
sẵn phẩm địch vụ;
- không ngừng nghiên cứu cäi tiến sản phẩm địch vụ theo yêu cầu của người dùng tin;
tăng cường hoạt động
người dùng tin Đồng thời tạo
giả trị gia tăng cao của các sản phâm dịch vụ
Như vậy, tổ chức thông tin
KHCN sẽ phải thực hiện một cuộc "cách mạng "trong hoạt
đồng, Họ sẽ phải thiết kế các sản phẩm dịch vụ trên cơ sở ý muon của người dùng tin;
thường xuyên cải tiến và gi
thiệu mẫu mã, tính năng, tác
dụng cách khai thác các sắn phẩm dịch vụ cho người dùng
tín Đặc biệt việc đánh giá hiệu quả một số sản phẩm dịch
vụ của họ (có bán được hay
không? phải dựa trên cơ sở đo lường, tức là phải lượng hóa được bằng các số liệu thống kê
các sản phẩm dịch vụ thông tin
đâu đó trong các báo cáo tổng kết và phương hướng hoạt động của đa so tổ chức
thong tin KHCN Chi có điều
chúng ta chưa theo một chuẩn mực nào để có thể lượng hóa
từng nhiệm vụ cụ thể và có thể
đánh giá việc thực hiện chúng bằng phương pháp cân, đong,
đo, đếm chứ không phải chỉ
"ước lượng "chủ quan như hiện
nay Mặt khác, hoạt động
thông tin KHCN hiện chưa
hoàn toàn dựa trên cơ sở cung
- cầu, nên chất lượng các sản phẩm dịch vụ phần lớn chưa được đánh giá từ phía khách
đảm bảo nhiều mặt, trong đó
sự đảm bao quan trong nhất
thuộc về những người quản lý Hiện nay, Trung tâm Thông tin Tiêu chuẩn thuộc Tổng cục TC-ĐL-CL, là tổ chức thông tín KHCN đầu tiên trong Hệ
thống thông tin KHCN quốc
Trang 19
9000 trong toàn Hệ thống
thông tin KHCN quốc gia Và
trước hết có lẽ nên được tham
khảo áp dụng tại Trung tâm
Thông tin tư liệu KHCN quốc
gia, cơ quan đứng đầu Hệ
Tai liéu tham khao
1 Cơ sở tiêu chuẩn hóa/
Tổng cục Tiêu chuẩn-Ðo
lường- Chất lượng -Hà Nội,
1999.-123 tr
2 Tạp chí Tiêu chuẩn-Đo lường-Chất lượng / Tổng cục
CNG TIN, THU VIEN
Ths Va Duong Thuy Nga Đại học Văn Hoá Hà Nội
F cêu dễ mô tả, lựa vật Phản tích những
trrtong hợp khác nhau cần tú ý trong cách vinh bay hy, tôn của người Việt Nam và
ĂcHA tiột Ad đâm tộc ÄXhác trên thể giai
Đứng trên bình diện thông
tin thư viện, nhân danh học có
một ảnh hưởng không nhỏ tới
việc xây dựng các tiêu đẻ mô tả
tên người và tiêu đẻ thống nhất
về tên nhân vật trong mô tả tài
liệu cũng như trong các quá
trình đánh chỉ số tài liệu nhân
vật bao gồm: định chủ đẻ, định
từ khoá,
Trong thực tế, một trong
những nhu câu tra cứu thường
gặp ở người đọc là nhu cầu tìm
các tài liệu của những tác giả
tên nhân vật, thư viện và các cơ
quan thông tin có thể giúp cho người đọc tra tìm các thông tin
về nhân vật một
cách dễ dàng
Theo các nhà nghiên cứu về
nhân danh học, tên người Việt
đứng đầu tiên trong tên của
một người Về điểm này, cách trình bày họ của người Việt Nam hoàn toàn khác với người nước Âu Mỹ, Thông
thường họ của người châu Âu,
Mỹ luôn đứng sau tên Họ
có thể có hoặc không có trong
tên người Việt Nam Trên góc
độ lịch sử, tên đệm xuất hiện muộn hơn so với tên họ Theo các nhà nhân danh học thì tên
đệm có nhiều chức năng như:
chức năng thấm mỹ, chỉ các chỉ họ, chỉ thứ bậc con trai
trong gia đình chỉ các thế hệ
kế tiếp nhau, nhưng chức năng chủ yếu là để phân biệt giới tnh Điển hình là tên đệm Thị
chỉ nữ và đệm Văn chỉ nam Tên chính được dùng để phân biệt các cá nhân với nhau
Vẻ mặt vị trí tên luôn đứng sau cùng Tên chính được sử dụng
để gọi trong giao tiếp thông
Trang 20
trước đây trong công tác thông
tin thư viện đã từng tôn tại xu
hướng mô tả đảo với hình thức
tên trước họ sau
từ khoá có nhiều điểm chúng ta
áp dụng cũng giống như trong
quy tắc mô tả tiêu để tên tác
giả trong quy tắc hiện hành
Thông thường, với tên nhân
vật là người Việt Nam, chúng
ta sẽ trình bày cấu trúc họ tên
như sau: Họ Tên đệm Tên Tất
cả những chữ đầu âm tiết cấu
tạo nên tên người đều viết hoa
Ví dụ: Hồ Chí Minh, Trần
Văn Giáp, Chế Lan Viêi
Về điểm này, cách mô tả
của Việt Nam hoàn toàn khác
với cách mô tà theo quy tắc
biên mục Anh Mỹ Cách trình
bày tên người trong tiêu để mô
tả hoàn toàn giống như cách
trình bày trong thực tế Còn
theo quy tắc biên mục Anh Mỹ
Hồ Chí Minh giữa họ và tên
luôn có đấu phẩy ngăn cách
Ví dụ: theo quy tắc biên
mục Anh Mỹ Hô Chí Minh sẽ
được mô tả như sau: Hồ, Chí
Minh
Khác với tên Việt Nam, tên
người của các nước Âu, Mỹ có
cấu trúc theo trật tự Tên Hạ
Theo phong tục phương tây,
người ta thường lấy tên các
Thánh, Vua chứa để đặt tên
cho con Vì thế, tên thường
trùng nhau Trong giao tiếp
hình thức đảo Họ trước Tên
sau, giữa Họ và Tên có đấu
phẩy ngăn cách: Họ, Tên Giữa các âm tiết không dùng đấu gạch ngang
Ví dụ: Dewey, Menvil,
Cutter, Charles, London,
Jack
Với cúc tên nhân vật nước
ngoài, tuỳ theo trường hợp cụ thể cách trình bày tên người sẽ
có những đặc điểm riêng
Tên Hà lan: Tên của người
Hà lan sẽ được mô tả theo tên đứng sau tiền tố "Ver”
Vi du: Jan M.van ver Beek
sẽ được mô tả 1a: Beek, Jan M
Tên tiếng Pháp: Tên tiếng
Pháp trong đó tiên tố có thể là
một mạo từ, một tổ hợp cả mạo
từ và giới từ Khi mô tả mạo từ
được mô tả cùng tên họ
Vi du: Alain Le Bihan,
duoc m6 ta 1a Le Bihan, Alain
Hay: Jean de La Fontain, được mô tả là: La Fontain, Jean
như tên của người Pháp Mạo
từ cũng được đưa vào tên họ
Vi du: Jurgen Vom Scheidt, được mo ti la: Vom Scheidt, Jurgen
Tên tiếng Italia: Tên của
người Italia hiện đại, được mô
tả bao gồm cả tiền tố
Vi du: Peppino de Filippo, được mô tả là: De Filippo, Peppino
Với những nhân vật người
Trung Quốc, Nhật Bản, Triều
Tiên, các nước Đông Nam Á,
cấu trúc Họ Tên của họ có nhiều nét tương đồng như tên
của người Việt Nam, vì thế,
khi mô tả hình thức trình bày tên người các nước đồ cũng giống như tên nhân vật người
Việt Nam
Ví dụ: Lỗ Tấn, Chu Ân Lai, Kim Nhat Thanh
Hiện tượng mệt nhân vật có
nhiều tên bút đanh khác nhau
là hiện tượng phổ biến ở nhiều quốc gia Khi xây dựng tiêu dé thống nhất, chúng ta dựa trên
tiêu chí xem xét tính phổ biến,
thông dụng của tên bút danh
Ví dụ: Lê quí Đôn có tên
thật là Doãn Hậu, tên hiệu là
Quế Đường Trong các tên đó
tên Lê Quí Đôn là tên thông dụng nhất Khi đánh chỉ số cho
tài liệu nói vẽ Lê Quí Đôn, chúng ta dùng tiêu để là Lê Quí
Đôn
Tên được chọn cũng có thể
là tên bút danh t dụng
Ví dụ: Đồng chí Trường Chính vốn có tên thật là Đặng
Xuân Khu Khi sáng tác thơ,
ông còn lấy tên bút danh là
Trang 21Riêng đối với vua chúa Việt
Nam, chúng ta không lấy tên
thật mà dùng tên miếu hiệu
Trường hợp tên các nhân
vật nước ngoài có nhiều cách
phiên âm khác nhau chúng ta
kết hợp xem xét tham khảo
Quy tắc mô tả thư mục ISBD,
Quy tắc biên mục Anh Mỹ và
quy tắc chính tả trong Từ điển
Bách khoa Việt Nam để rút ra
một số qui ước cụ thể như sau:
Với những nhân vật nước
ngoài chưa quen thuộc với
người Việt Nam, khi xây dựng
tiêu để chúng ta dựa vào tên
gốc (tên nguyên ngữ)
Ví dụ: Camilla Collet (tên
một nhà văn Na Ủy) được mô
tả là Collet, Camilla
Chúng ta sẽ tiến hành phiên
chuyển tên người nước ngoài
bằng những âm vẫn và âm
tiếng Việt dựa vào cách đọc
của nguyên ngữ Nếu trên thực
tế đã tồn tại nhiều cách phiên
Tuy nhiên, đối với những
nhân vật tên gọi đã tồn tại cách phiên âm thông dụng như Mác, Ăngghen, Anhxtanh khi
đánh chỉ số ta phải chọn cách phiên âm thông dụng đó
Điều đáng lưu ý là đối với những nhân vật có nhiều tên
bút danh khác nhau hoặc tên
nhân vật nước ngoài có nhiều
cách phiên âm khác nhau thì
ngoài việc lập tiêu đề thống nhất chúng ta phải lập tham
chiếu cho các tên còn lại,
Ví dụ: Sóng Hồng
Xem: Trường Chinh,
Dang Xuan Khu
Xem: Trường Trinh Hay: Pusokin
vẻ năm sinh, năm mất của
nhân vật đó Theo Quy tắc biên mục Anh Mỹ thì cách trình bày như sau:
Họ, Tên, Năm sinh-Năm mất
Vi du: Ford, Ford Madox,
1873-1939
Hay: Hỏ Chí Minh, 1890-
1969
Theo cách làm thông dụng
của nhiều thư viện cơ quan
thông tin ở Việt Nam thì năm sinh, năm mất được để trong
thêm chú giải về nhân vật đ
để trong ngoặc đơn Nội dun
của chú giải có thể là ngh
nghiệp hoặc đặc điểm củ
nhân vật đó
: trong các danh nha
ét Nam co hai ngut
có tên trùng nhau là Nguyễ
Bính Một là nhà nho, nhà biê
soạn các than tích sống vào đẻ
Vua Lê Ý Tông- khoảng thế k
16 Một người là nhà th
Nguyễn Bính sinh năm 191%
mất năm 1966 Để có thể phâ
biệt được hai người này, chún
ta lập chú giải ghi rõ thời gia
sống và hoạt động của cá
nhân vật này Cụ thể như sau: Nguyễn Binh (thé ky 16) Nguyễn Bính (1919-1966)
Một trường hợp điển hìn khác là Alêchxăng Duyma ch
và Alêchxăng Duyma con Kt
đánh chỉ số phải ghi rõ đặ
điểm này Cụ thể là:
Đuyma, Alêchxăng (cha)
Duyma, Aléchxang (con)
Đối với một số tên vua chú
ở nước ngoài có tên trùng nha
có thể ghi thêm thời gian trị v
Ví dụ: Henrich I (876-936; Vua Đức 919-936
Henrich I (1133-1189) Vua Anh 1154-1189
Henrich II (1519-1559) Vua Pháp 1547-1559,
vào nhân danh học là cá nguồn tra cứu vẻ nhân vật cá
Trang 22
dạng từ điển danh nhân, từ điển
bách khoa hoặc các tài liệu
dang Who's Who
Tóm lại, nhân danh học có
những ảnh hưởng nhất định đối
với việc xây dựng tiêu để mô tả
tên người và trong một chừng
mực hỗ trợ cho việc tra tìm
thông tin về các nhân vật Việc
xây dựng tiêu đề thống nhất sẽ
dễ dàng hơn nếu như có sẵn những nguồn tra cứu về nhân
vật đó
Tài liệu tham khỏo
7 Form of Headings for
“ersons//introdution to
Cataloging and Clasification.- Fed, 1985
2 Nhân danh học và công lác thư viện: Đề tài
nghiên cứu cấp trường/ Vũ
Dương Thuý Ngà.-H, 1999
3 Chan, Lois Mai IFLA Principles for Subject
Headings: Bài giảng
THE LE VIET BAI CHO TAP CHi THONG TIN & TƯ LIỆU
1 Bai gin ding trén tap chi Thong tin & Tu liệu phải là bài chưa được đăng trên bất cứ tạp
chí nao va néu bai duge dang & tap chi thong tin & tư liệu thì tác giả cũng không được gửi đăng
tiếp trên các tạp chí khác
2 Tác giả viết bài lên thảo luận trước với bộ phận thường trực của Tạp chí về để cương bài
viết cũng như thời hạn cung cấp bài
3 Bài viết phải sạch sẽ, rõ ràng, không quá 4000 chữ mỗi bài viết nên có tóm tắt ngấn gọn
bằng tiếng Việt
4 Cuối bài viết tác giả cần ghi rõ họ tên, học vị, chức vụ, tên cơ quan làm việc Ngoài ra, cần
ghi địa chỉ để Tạp chí liên hệ về công việc và chỉ trả nhuận bút
§ Bài viết gửi đến Tạp chí sẽ được Ban biên tập xem xét thông qua trong kỳ họp gần nhất và
kết quả sẽ được thông báo lại cho tác giả
6 Tạp chí không trả lại bản thảo nếu không có yêu cầu đặc biệt của tác giả
7 Thư từ, bài vở xin gửi vẻ địa chí : Tạp chí Thông tín & Tư liệu
Trung tam Théng tin & Tu liệu KHON Quốc gia
24 Lg Thudng Kiét, Hd NGi * Tel : 8957039
Tạp chí nhiệt liệt hoan nghônh sự cộng tác đông đảo ban doc !
20 THÔNG TIN & TƯ LIỆU - 4/2002
Trang 23
NGHE THU VIEN INTERNET: VAI TRO TRUYEN THONG
TRONG MOI TRUONG HIEN DAI
Mở đầu
Tnternet đang góp phan dân
chủ hoả việc sử dụng thông tin,
cho phép đông đảo người sử
dụng được truy cập những
nguồn tin hết sức phong phú
Đông thời Internet cũng đang
gây ra những biến đổi quan
trọng trong hoạt động thực tiễn
của cán bộ thông tin
Bài viết này xoay quanh các
vấn để về vai trò, vị trí mà từ
trước đến nay đã được đội ngũ
cán bộ thông tin nắm giữ, đồng
thời nêu ra một lập luận rằng,
những kỳ năng nghẻ nghiệp đã
từng có tác dụng giúp người
cán bộ thông tin thực hiện
được vai trò vị trí của mình
trong quá khứ, cũng có thể
được sử đụng thích hợp trong
kỷ nguyên mới- kỷ nguyên
thông tin trên mạng
Môi trường đang thay đổi
Những tiến bộ trong việc
tạo lập các mạng máy tính đã
làm thay đổi các phương thức
truyền thông và sẽ gây ra
những thay đổi lớn trong cơ
cấu tổ chức của các thư viện,
trong việc lưu giữ và sử dựng
thông tin Ngày nay, máy tính
của bạn có thể "để dàng kết nối
với các cơ quan, các hệ thống
khác nhau và với tới những
thông tin mà trước đây, hoặc là
không thể tiếp cận, hoặc thậm
Kate Sharp
Đại học Bristol— Vương quốc Anh chí không được biết đến” Môi
trường hoạt động của người
cán bộ thư viện hiện nay có đặc điểm là: khả năng tiếp cận nguồn tin nhiều hơn; tốc độ thu nhận thông tin ngày càng nhanh; tính chất phức tạp trong
việc định vị, phân tích và kết nối thông tin; công nghệ thay
đổi thường xuyên; ủnh trạng thiếu tiêu chuẩn hoá cả phân
cứng và phản mêm; như cầu học tập thường xuyên đối với người dùng tin và cán bộ thư
viện; nhu cầu tài chính để giải
quyết các vấn để công nghệ
Các vai trò và kỹ năng truyền thống
Những thông tin mà người
sử dụng cần đến thì có thể truy cập theo những cách thức khác nhau, nhưng những kỹ năng
mà người cán bộ thông tỉn cản
có để xử lý thông tin thì có thể phông theo những kỹ năng da được hình thành từ thực tế
công tác Không phủ nhận sự
thật là đã xuất hiện một môi
trường mới, môi trường thư
viện toàn cầu, mà đó là điều
đang đòi hỏi người cán bộ thư viện phải tìm kiếm những phương pháp công tác phù hợp Tuy nhiên, vẫn còn đó những trị thức cơ bản của nghề
thư viện, và những vai trò và
kỹ năng của nghề này sẽ giúp
đảm bảo cho người cán bộ thư viện tiếp tục hoạt động có kết quả
Những kỹ năng cơ bản có
quan hệ gắn bó truyền thống
với người cán bộ thư viện như
ky nang quan ly thong tin, ky năng đào tạo và hướng dẫn, kỹ năng đánh giá và giao tiếp thì vẫn còn thích hợp Những kỹ
năng này bao gồm: biên mục,
phân loại, định chủ đẻ, điều tra khảo sát và đào tạo người dùng
tín, toàn bộ những nhiệm vụ
mà nến như người cán bộ thư
viện thực hiện tốt thì sẽ làm
chủ được Internet, làm cho
việc sử dụng Internet trở nên
dé dang hon
Đội ngũ cán bộ thư viện
hoạt động trong tất cả các loại
hình thư viện đã cùng nhau xác lập vai trò vị trí của nghề, thực
hiện các dịch vụ thư viện trên
cơ sở các kho tài liệu và nhu
câu người sử dụng, theo như ý kiến của Creth thì "những giá
trị được coi là cơ ban của nghề
thư viện sẽ vẫn còn tôn tại,
không thay đổi trong thế kỷ
mới, đó là những giá trị của dịch vụ có chất lượng, của sự tiếp cận toàn câu và sự hợp
tác", Lancaster đã nhận định rất đúng rằng, để khẳng định sự
tôn tại của mình trong thế giới
THONG TIN & Tu LIỆU - 4/2002 21
Trang 24
điện tử, thì "các thư viện phải
thực hiện một trong những
chức năng quan trọng nhất mà
hiện tại họ đang thực hiện
trong thế giới in ấn truyền
Khối lượng thông tin vô
cùng lớn trên môi trường mạng
đang chỉ cho chúng ta thấy
rằng, hiện tại, những người
môi giới có tay nghề, có kỹ
năng tìm tin, có năng lực phân
tích và đánh giá các nguồn tin,
phân tích nhu câu tin, giữ vai
trò quan trọng hơn trước đây
rất nhiều Các kỹ năng công
tác thư viện truyền thống vừa
nêu trên cũng có thể được tái
sử dụng và giá trị của chúng
đối với các dịch vụ thông tin
trong môi trường điện tử là có
thực Chẳng hạn như, các kỹ
năng biên mục và phân loại tài
liệu thì có thể giúp bạn đọc -
người dùng tin học tập, trau déi
kính nghiệm tìm tin trên mang
Việc tạo lập các tệp siêu dữ
liệu trên cơ sở các nguyên tắc
biên mục có thể giúp cho
người sử dụng tìm thấy những
thông tin cần thiết nhất trong
hằng hà sa số các thông tin trên
Internet Việc xây dựng mục
lục các nguồn tin điện tử có thể
giúp đảm bảo khả năng tiếp
cận, đảm bảo tính xác thực độ
tin cay và giá trị của các nguồn
tín trên mạng
Số lượng thông tin ngày
càng tăng được dành sẵn cho
Nhìn ra thế giới
người sử dụng cùng với các phương pháp truy cập những thông tin này, trên lý thuyết
người ta cho rằng có thể giúp giảm nhẹ rất nhiều cho người
sử dụng trong việc tìm kiếm những thông tin cân thiết Tuy
nhiên, trên thực tế thì hiện vẫn
đang tôn tại một nguy cơ là
người sử dụng bị "chết chìm”
trong biển thông tin mà họ
được tiếp cận, điểu này gây
khó khăn cho họ trong việc lựa chọn đúng thông tin mà họ
đang cần, đồng thời họ cũng thấy rất khó khăn trong việc
đảm bảo độ chính xác và tính
xác thực của thông tin Trong bối cảnh như vậy, vai trò của
người cán bộ thư viện với tự
cách vừa là người hướng dẫn,
vừa là người môi giới, càng trở
nên quan trọng
Những tri thức và kỹ năng
cơ bản của nghề thư viện, trong
đó bao gồm cả những kỹ năng
như biên mục và đào tạo người
sử dụng, như đã nêu trên, vẫn rất thích hợp trong thời đai
điện tử
Các vai trò và kỹ năng
mới Song song với những kỹ
năng nghẻ nghiệp nêu trên, để
có thể hoạt động có kết quả
trong một môi trường luôn
thay đổi, người cán bộ thư viện trong tương lai cân trang bị thêm nhiều phẩm chất cá nhân
va ky nang giao dich (transfer-
able skills) Nên lưu ý rằng kỹ
năng giao dịch có tâm quan trọng hơn nhiều so với kỹ năng
về tin học Các kỹ năng về
quản lý và trao đổi giữa các cá
nhân với nhau sẽ làm cho
người cán bộ thư viện trở thành
người quản lý có hiệu quả hơn
các nguồn tin và dịch vụ trên mang Nhu Hastings da ndi:
“Điêu quan trọng hơn là, người
cán bộ thư viện số có được những phẩm chất cá nhân đặc
biệt (do thiên phú) nhiều hơn
so voi su tinh thong vé ky thuat (có thể đào tạo được)”
Nói như vậy không có
nghĩa khuyến khích người cán
bộ thư viện né tránh kỷ nguyên
điện tử Người cán bộ thư viện phải biết thay đổi và thích nghi với môi trường mới, môi trường thông tin điện tử, phải
học tập, tìm hiểu các công
nghệ mới, và phải nhận biết
được những mặt mạnh, mặt
yếu của chúng Người cán bộ
thư viện không nên nghĩ rằng
minh dang bi de doa boi máy tính và bởi việc triển khai các
kỹ thuật mới, mà phải tiến lên
phía trước cùng với kỹ thuật mới và nắm giữ lấy vai trò chủ
chốt trong thư viện
Người cán bộ thông tin làm
việc trong các thư viện có vai
trò ngày càng lớn trong quan
hệ của họ với thông tin dưới dang dién tử, qua việc họ tạo
lập các trang Web nhằm giới thiệu các dịch vụ của họ với khách hàng, và qua việc lựa
chọn các hệ thống quản lý thư viện tự động hoá Các kỹ năng
về tổ chức thông tin lại càng
cần thiết hơn trong thời đại bùng nổ thông tín này
Như vậy, cả cán bộ thư viện
2 THONG TIN & TƯ LIEU - 4/2002
Trang 25
và cán bộ thông tin đều có vai
trò rất quan trọng trong kỷ
nguyên điện tử Chẳng hạn
như, người cán bộ thư viện
được đào tạo để tham gia các
dự án intranet qua các giai
đoạn thiết kế và bảo trì, vì họ
Vai trò của cán bộ thư viện
trong bối cảnh hiện nay là giúp
người dùng tin tìm kiếm những
thông tin cản thiết và cung cấp
cho họ những công cụ để có
thể truy cập và sử dụng những
nguồn tin cần cho nhu cầu cá
nhân của họ Creth cho rằng,
người cán bộ thư viện có thể
làm được điều đó thông qua
việc "tích cực nghiên cứu
người dùng tin bằng nhiều
phương pháp khác nhau" và
tạo điều kiện "sử dụng đây đủ
thông tn và công nghệ da
phương tiện" bằng cách cung
cấp tài liệu hướng dẫn với
dự án được xây dựng tại Viện
Công nghệ đào tạo và Nghiên
cứu, thuộc Đại học Bristol
B1Z/cd là một nguồn tin về đào
tạo dựa trên Internet nhằm mục
đích dành cho doanh nghiệp,
kinh tế, đáp ứng nhu cầu của
cần thiết
Giám đốc Dự án BIZ/cd là người phải giám sát việc khai thác, sử dụng các nguồn tin trong các lĩnh vực kính doanh,
quan ly và kính tế để hỗ trợ cho Trung tâm Khoa học Xã hội, Doanh nghiệp và Luật pháp (SOSIG) Trung tam này đã
lập ra Mạng khai thác nguồn
tín (Resource Discovery Network - RDN) [12] RDN là một thư viện chuyên về các
nguồn tin trên Internet của Vuong quốc Anh, phục vụ các nhà khoa học bằng cách đảm
bảo cho họ được truy cập các nguồn tỉn trên mạng
Biên mục Internet
Các nguồn tin trên Internet
được lựa chọn bởi ba cán bộ
thông tin, Họ được tiếp cận
mục lục Internet của Dự án
BiZ/ed, hoặc sử dụng kết quả
tra tìm của SOSIG Mục lục
này là một bộ sưu tập các
nguồn tín trên Internet có chất lượng cao, được định vị tại các máy chủ trên toàn thế giới, phản ánh trên 1.600 biểu ghi
Mục lục này được tạo ra giá trị
gia tăng cho các mô tả có thể tra tìm hoặc xem lướt qua, điều
đó cho phép người sử dụng
quyết định một nguồn tin cu
thể có đáng được truy cập hay
không Mục lục Internet của
BIZ/d là phiên bản trên mạng
của một thư viện đại học, cổng
vào được dành cho các nguồn
tin trên Internet, nhưng vẫn sử
bộ thông tin BIZ/ed có chính
sách quản lý nguồn tài liệu,
tiêu chuẩn chất lượng lựa chọn,
có một hệ thống phân loại riêng và các biểu ghi, các quy
tắc biên mục riêng Những
phương pháp này được coi là
thiết yếu đối với các cơ quan
thông tin truyền thống và
chúng đang được chuyển sang
ấp dụng rất có hiệu quả trong
môi trường điện tử
Các cổng vào theo kiểu nhự
BIZ/ed có thể được coi là thư viện tương đương dạng điện tử
của các thư viện đại học Đào tạo người dùng tín
trên Internet
Vi Web đang có chiều
hướng phát triển ngày càng tăng, trở thành địa chỉ trước
tiên cho những sinh viên đến
tìm tài liệu, cho nên vai trò của cán bộ thư viện với tư cách
người môi giới cũng ngày một
trở nên quan trọng
Tương tự như trường hợp
các thư viện đại học truyền
thống xây dựng chương trình
"Đào tạo người đùng tin" nhằm
giúp cho sinh viên và cán bộ
giảng dạy sử dụng được nhiều
nhất các tiện nghỉ mà thư viện đành cho họ, các cán bộ thư
viện của Vương quốc Anh hoạt
động trong môi trường Internet
đã phối hợp với RDN triển
THONG TIN & TU LIEU - 4/2002
23