1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhu cầu sử dụng thông tin và thực trạng hệ thống chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động du lịch tại tỉnh Ninh Bình

20 636 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 580,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.1. Tổng quan về hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. + Khái niệm, định nghĩa về hoạt động du lịch: + Thực trạng hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. 1.2. Nhu cầu thông tin và thực trạng đáp ứng nhu cầu thông tin này. 1.3. Đề xuất hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh về hoạt động du lịch trên: + Đưa ra nguyên tắc, yêu cầu xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê. + Đề xuất được danh mục chỉ tiêu thống kê. + Giải thích hệ thống chỉ tiêu thống kê. 1.4. Thử nghiệm một số chỉ tiêu hoặc phương pháp thu thập.

Trang 1

1

TỔNG CỤC THỐNG KÊ

CỤC THỐNG KÊ NINH BÌNH

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ KHOA HỌC

NHU CẦU SỬ DỤNG THÔNG TIN VÀ THỰC TRẠNG

HỆ THỐNG CHỈ TIÊU PHẢN ÁNH KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI TỈNH NINH BÌNH

NINH BÌNH -2011

Trang 2

2

TỔNG CỤC THỐNG KÊ

CỤC THỐNG KÊ NINH BÌNH

NHU CẦU SỬ DỤNG THÔNG TIN VÀ THỰC TRẠNG

HỆ THỐNG CHỈ TIÊU PHẢN ÁNH KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI TỈNH NINH BÌNH

Người thực hiện : Cử nhân Đinh Thế Thập

NINH BÌNH -2011

Trang 3

3

II.Thực trạng hệ thống chỉ tiêu phản ánh hoạt động du lịch 12

2.1 Hệ thống chỉ tiêu,phân công thu thập,xử lý,tổng hợp 12

và cung cấp thông tin

2.1.1 Hệ thống chỉ tiêu thống kê du lịch 12

2.2 Kết quả sử dụng hệ thống chỉ tiêu thống kê hoạt động du lịch tại

Ninh Bình

14

Trang 4

4

NHU CẦU SỬ DỤNG THÔNG TIN VÀ THỰC TRẠNG HỆ THỐNG

CHỈ TIÊU PHẢN ÁNH KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG

DU LỊCH TẠI TỈNH NINH BÌNH

I Nhu cầu sử dụng thông tin về hoạt động du lịch

Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, phải có hệ thống chỉ tiêu thống kê đánh giá hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh, trong NQ 15/TU về phát triển du lịch Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh đã xác định một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến những tồn tại hạn chế trong phát triển du lịch giai đoạn 2001-2008 đó là công tác điều tra cơ bản về du lịch chưa đầy đủ và đồng bộ, đồng thời trong chương trình

kế hoạch hành động thực hiện NQ15 của UBND tỉnh Ninh Bình ngày 17/7/2009 đã giao cho Cục Thống kê chủ trì phối hợp với Sở văn hoá thể thao và du lịch, Công

an tỉnh xây dựng phương án điều tra cơ bản và thống kê du lịch theo yêu cầu của tỉnh, phù hợp với Luật Du lịch và Luật Thống kê, công tác này được xác định làm thường xuyên hàng năm Mặt khác UBND tỉnh Ninh Bình cũng đã tổ chức hội nghị công tác Thống kê du lịch vào ngày 12/9/2008 thông báo kết luận của đồng chí Phó chủ tịch UBND nêu rõ công tác thống kê du lịch trên địa bàn tỉnh đã cơ bản đáp ứng được các yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra Tuy nhiên, còn một số chỉ tiêu chưa được đề cập đến trong báo cáo thống kê định kỳ, do đó chưa đánh giá hết được sự nỗ lực và ảnh hưởng tích cực của hoạt động du lịch trong sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, UBND tỉnh giao Cục Thống kê chủ trì, phối hợp với các

cơ quan liên quan bổ sung các chỉ tiêu trong báo cáo thống kê du lịch hàng năm bắt đầu từ năm 2008 gồm: Số lượng khách quốc tế lưu trú tại Ninh Bình (Nêu rõ 15 quốc gia và vùng lãnh thổ có nhiều khách du lịch); Số ngày lưu trú bình quân của khách quốc tế; Số lượng khách nội địa tại Ninh Bình; Số ngày lưu trú bình quân

Trang 5

5

của khách nội địa Đồng thời hàng năm tiến hành điều tra chi tiêu của khách du lịch quốc tế bình quân 1 ngày khách theo khoản chi, phương tiện, mục đích chuyến

đi, ngoài ra đối với khách quốc tế du lịch chia theo nghề nghiệp và độ tuổi Đề nghị Tổng Cục Thống kê cho tham gia vào cuộc điều tra “Chi tiêu khách du lịch” theo chương trình điều tra thống kê Quốc gia do Tổng cục Thống kê chủ trì Như vậy Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân, Hội đồng nhân dân tỉnh xác định Thống kê du lịch là công cụ kinh tế quan trọng để đánh giá thực trạng của hoạt động du lịch, sử dụng thông tin về hoạt động du lịch là nhu cầu cần thiết của các cấp, các ngành trong tỉnh Nhằm để đánh giá đúng nhu cầu sử dụng thông tin về hoạt động du lịch, nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát tại 48 cơ quan, đơn vị thường xuyên sử dụng và có liên quan đến hoạt động du lịch của tỉnh bao gồm: Văn phòng tỉnh uỷ, HĐND, UBND, Ban Tuyên giáo Tỉnh, Ban dân vận Tỉnh uỷ, Các sở như: Sở Văn hoá,thể thao và du lịch; Kế hoạch - đầu tư; Tài chính; Khoa học và công nghệ; Sở Tài nguyên- môi trường; Sở Y tế, Sở Xây dựng; Sở giao thông vận tải; Công an tỉnh; huyện uỷ, UBND các huyện, thị, thành phố của tỉnh; UBND các xã có các khu điểm du lịch; Các trường: Đại học Hoa Lư, chính trị Tỉnh, Kinh tế tại chức, trung cấp Đa ngành (Dân lập); Các ban quản lý các khu du lịch Tam Cốc- Bích Động, di tích cố đô Hoa Lư, vườn Quốc gia Cúc Phương; một số khách sạn, nhà hàng, công ty taxi …

Nội dung khảo sát tập trung vào một số nội dung quan trọng như: Nhu cầu

sử dụng thông tin, mức độ quan tâm tới các chỉ tiêu thống kê du lịch, nguồn thu nhận thông tin từ các cơ quan cung cấp, trong đó nguồn số liệu từ cơ quan thống

kê, cuối cùng là đánh giá chất lượng thông tin thống kê du lịch do ngành Thống kê cung cấp Kết quả khảo sát đã phản ánh cơ bản trung thực thực trạng nhu cầu sử dụng thông tin cho các đối tượng dùng tin

Trang 6

6

Qua khảo sát 100% các đối tượng đều có nhu cầu sử dụng thông tin thống kê

du lịch, mặc dù thời kỳ sử dụng khác nhau Có 83,3% có nhu cầu sử dụng hàng

tháng; 12,5% có nhu cầu sử dụng hàng quí, còn lại là nhu cầu sử dụng 6 tháng và

cả năm đều bằng nhau là 0,4% đó là Sở Khoa học và công nghệ; Sở Xây dựng

Trong số các đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin hàng tháng 100% là các Ban

quản lý du lịch, các khu du lịch, các doanh nghiệp có hoạt động phục vụ du lịch;

xếp theo các cơ quan Đảng chiếm gần 82%, các cơ quan quản lý Nhà nước chiếm

81%, các cơ quan nghiên cứu khoa học và đào tạo chiếm 75%

Biểu 06 : Nhu cầu sử dụng thông tin du lịch của các cơ quan tỉnh Ninh Bình

Đơn vị tính: Cơ sở

Không

có nhu cầu

Có nhu cầu

Tổng

số

Chia ra Hàng

tháng

Quí 6

tháng

Năm

Trang 7

7

Về mức độ quan tâm đối với một số chỉ tiêu cơ bản của hoạt động du lịch

(gồm 9 chỉ tiêu cơ bản nhất) như được chia thành 3 cấp độ: rất quan tâm, quan tâm, không quan tâm Chỉ có 2 chỉ tiêu là chi tiêu của khách du lịch (có 4,1%) và kết quả hoạt động của ngành du lịch (có 6,3%) là không quan tâm, còn các chỉ tiêu còn lại đều đạt mức độ quan tâm hoặc rất quan tâm Trong các chỉ tiêu thì chỉ tiêu môi trường du lịch (sự tín nhiệm của khách) có gần 90% đối tượng sử dụng rất quan tâm; tiếp đến chỉ tiêu số lượt khách, ngày khách và sản phẩm du lịch có 77% đối tượng rất quan tâm; kế đến là chỉ tiêu hạ tầng cơ sở du lịch (72,9%); còn các chỉ tiêu khác như kết quả hoạt động du lịch, nguồn lao động du lịch, nguồn lực đầu tư

và chi tiêu khách du lịch (có từ 60 đến 68,7% đối tượng rất quan tâm) Cụ thể xem

ở biểu sau:

Biểu 07: Mức độ quan tâm đến các chỉ tiêu thống kê du lịch

Đơn vị tính: Cơ sở

số

Chia ra

Rất quan tâm

Quan tâm

Không quan tâm

1- Số lượt khách, ngày khách 48 37 11 -

2- Chi tiêu của khách du lịch 48 29 17 2

3- Kết quả hoạt động của ngành du

lịch (Doanh thu, chi phí, lợi nhuận,

nộp ngân sách)

4- Môi trường du lịch(Sự tín nhiệm 48 43 5 -

Trang 8

8

của khách du lịch)

8- Nguồn lao động du lịch 48 32 16 -

Về nguồn thu nhận thông tin hoạt động du lịch đối với các đối tượng sử dụng, tập trung chủ yếu 4 nguồn là: Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, cơ quan

truyền thông; cơ quan thống kê, các cơ quan khác Đối tượng có thể đồng thời thu nhận từ nhiều cơ quan khác, nhưng qua đánh giá thì thông tin hoạt động du lịch chủ yếu các đối tượng thu nhận từ cơ quan thống kê cung cấp, có tới 44/48 đơn vị (chiếm 91,6%), chỉ có 4 đối tượng không thu nhận thông tin từ ngành Thống kê (chiếm 8,4 %) đó là: Sở Giao thông vận tải, UBND xã Gia Sinh (Địa phương có khu du lịch Bái Đính) và 2 doanh nghiệp kinh doanh du lịch; Nguồn thu nhận thông tin thứ hai, mà các đối tượng nhận được là từ các cơ quan truyền thông như báo chí, đài truyền hình, phát thanh, internet … có 81,2% số đối tượng ghi nhận thông tin, tiếp theo là nguồn thông tin từ cơ quan quản lý về du lịch có 4,1% số đối tượng; còn lại là từ các cơ quan khác chỉ chiếm 12,5% Điều đáng nói chỉ có 100% các cơ quan Đảng, nghiên cứu khoa học và ban quản lý các khu du lịch là đều nhận thông tin từ 3 cơ quan chính là: Quản lý nhà nước về du lịch, truyền thông và Thống kê; Cụ thể như sau:

Trang 9

9

Biểu 08: Nguồn thu nhận thông tin hoạt động du lịch

Đơn vị tính: Cơ sở

Tổng số

Trong tổng số

Cơ quan QLNN

về du lịch

Cơ quan truyền thông

Cơ quan Thống

Khác

2- Cơ quan quản lý Nhà nước 25 22 18 23 3

5- D nghiệp hoạt động du lịch 5 2 5 3 1

Đánh giá sử dụng các sản phẩm về thống kê du lịch do ngành Thống kê sản xuất và xuất bản, các sản phẩm đó là những báo cáo kinh tế- xã hội, báo cáo

chuyên đề về các chỉ tiêu du lịch, niên giám thống kê hàng năm Đây chính là nguồn số liệu chủ yếu mà các đối tượng sử dụng để hoạch định, quản lý, điều hành hoạt động ngành du lịch; báo cáo kinh tế - xã hội và niên giám thống kê là nguồn

số liệu được nhiều đối tượng sử dụng (tới 70,8%), tiếp theo là niên giám thống kê

có 66,6% đối tượng sử dụng, còn lại chỉ có 20,8% là sử dụng nguồn số liệu từ các báo cáo chuyên đề của cơ quan Thống kê

Trang 10

10

Biểu 09 : Sử dụng các sản phẩm số liệu từ cơ quan Thống kê

Tổng số

Trong tổng số

Báo cáo KT-XH

Báo cáo chuyên đề

Niên giám Thống kê

4- Ban quản lý các khu du lịch 3 2 2 2

Ghi chú : Có 4 đơn vị không sử dụng thông tin từ ngành Thống kê

Với tư cách là người sử dụng thường xuyên các thông tin thống kê, các đối

tượng được khảo sát cũng đã đánh giá chất lượng, tính kịp thời và chính xác của

thông tin du lịch do ngành Thống kê cung cấp, phục vụ quá trình hoạch định,

nghiên cứu, điều hành, quản lý hoạt động du lịch Mức độ đánh giá được chia thành 4 mức: tốt, trung bình, cần bổ sung, chưa đáp ứng và không sử dụng Qua khảo sát có 23/48 đối tượng (chiếm gần 48%) đánh giá các thông tin đáp ứng chất lượng tốt, có tới 41,6% đánh giá trung bình cần bổ sung, còn lại thì có 8,3% không

sử dụng thông tin từ cơ quan Thống kê và 2,1% đánh giá chưa đáp ứng được yêu cầu của đối tượng

Trang 11

11

Biểu 10 : Đánh giá chất lượng thông tin du lịch

do ngành Thống kê cung cấp

Đơn vị tính : Cơ sở

Tổng số

Trong tổng số

Tốt

Trung bình cần

bổ sung

Chưa đáp ứng

4- Ban quản lý các khu du lịch 3 2 1 -

Tóm lại, qua khảo sát thực trạng nhu cầu sử dụng thông tin, nhu cầu sử dụng

thông tin về hoạt động du lịch từ cơ quan Thống kê là rất lớn, nhưng nguồn số liệu

từ cơ quan Thống kê cung cấp chưa đáp ứng đầy đủ và chất lượng theo yêu cầu hiện tại, cần có sự chuẩn hoá và hoàn thiện thành 1 hệ thống chỉ tiêu thống nhất về phạm vi, phương pháp tính, nguồn số liệu

Trang 12

12

II Thực trạng hệ thống chỉ tiêu phản ánh hoạt động du lịch

2.1 Hệ thống chỉ tiêu, phân công thu thập, xử lý, tổng hợp và cung cấp thông tin

2.1.1 Hệ thống chỉ tiêu thống kê du lịch :

+ Hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh hoạt động du lịch ở cấp tỉnh phục vụ

địa phương hàng tháng, quí, 6 tháng và cả năm bao gồm các chỉ tiêu sau:

- Doanh thu hoạt động du lịch chia theo yếu tố phục vụ như khách sạn, nhà hàng, vận chuyển, bán hàng và dịch vụ khác

- Số lượt khách đến các điểm du lịch

- Số ngày khách

+ Hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh hoạt động du lịch báo cáo Tổng cục

Thống kê bao gồm các chỉ tiêu sau:

Báo cáo tháng, quí, 6 tháng :

- Hoạt động khách sạn: Doanh thu, lượt khách phục vụ và ngày khách phục

vụ

- Hoạt động nhà hàng: Doanh thu

- Hoạt động du lịch lữ hành: Doanh thu, lượt khách, du lịch theo tour, ngày khách du lịch theo tour

Báo cáo năm :

- Kết quả kinh doanh khách sạn, nhà hàng và du lịch lữ hành

Trang 13

13

- Nhân lực và kết quả hoạt động của các cơ sở lưu trú du lịch

- Khách du lịch do cơ sở lưu trú, cơ sở du lịch lữ hành phục vụ

- Danh mục khách sạn, điểm cắm trại và các dịch vụ nghỉ trọ ngắn ngày

- Chi tiêu khách du lịch trong nước và nước ngoài

2.1.2.Phân công thu thập số liệu:

Đối với hoạt động khách sạn, du lịch lữ hành hiện nay, tổng số cơ sở điều tra hàng tháng đang thu thập 9 doanh nghiệp và 13 cơ sở cá thể, nhằm phục vụ cho việc tổng hợp kết quả chỉ tiêu tổng mức bán lẻ hàng hoá, dịch vụ của Tổng cục Thống kê Công tác thu thập này được phân công cho các chi cục Thống kê thực hiện đối với các cơ sở là doanh nghiệp ngoài nhà nước và cơ sở cá thể

Riêng đối với các ban quản lý khu du lịch, do phòng thống kê Thương mại trực tiếp thực hiện Ngoài ra để phục vụ số liệu cho tỉnh, phòng Thống kê Thương mại chủ trì điều tra, thu thập số liệu về lượt khách du lịch theo mùa du lịch (cao điểm, trung bình và thấp điểm) và điều tra chi tiêu đối với các khách du lịch tập trung ở một số điểm du lịch tâm linh không bán vé tham quan và 1 số điểm khu du lịch có số lượng khách lớn như Bái Đính, Trang An, Tam Cốc- Bích Động, Đinh

Lê, nhà thờ đá Phát Diệm

2.1.3.Xử lý và tổng hợp số liệu

Sau khi có số liệu ban đầu thông qua thu thập phiếu điều tra được chuyển về phòng thống kê Thương mại tiến hành xử lý và tổng hợp Phiếu điều tra các cơ sở kinh doanh du lịch được xử lý, nhập tin báo cáo cho Tổng Cục Thống kê theo kế hoạch thông tin gồm số lượt khách và ngày khách tại các cơ sở lưu trú, doanh thu của các cơ sở lưu trú

Trang 14

14

Báo cáo thu thập thông tin từ các điểm du lịch có bán vé, phiếu điều tra số lượng khách đến các điểm du lịch (điều tra theo mùa vụ du lịch) được xử lý, tổng hợp để phục vụ nhu cầu thông tin về hoạt động du lịch của tỉnh, kết quả xử lý tổng hợp về số lượt khách đến các điểm du lịch của tỉnh, số ngày khách lưu trú và doanh thu hoạt động du lịch

2.1.4.Công bố thông tin:

Phòng Thống kê thương mại báo cáo kết quả tổng hợp cho Tổng Cục Thống

kê và đồng thời cung cấp cho các cơ quan quản lý Nhà nước địa phương

2.2 Kết quả sử dụng hệ thống chỉ tiêu thống kê hoạt động du lịch tại Ninh Bình

2.2.1 Những kết quả đạt được

Như vậy hệ thống chỉ tiêu thống kê hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình hàng tháng phải đáp ứng yêu cầu thông tin theo 2 chiều khác nhau; Đó là cung cấp thông tin cho Tổng Cục Thống kê và cung cấp thông tin cho các cấp, các ngành ở Địa phương Qua một thời gian sử dụng hệ thống chỉ tiêu trên đã đạt được một số kết quả như sau:

Thứ nhất: Cơ bản các chỉ tiêu quan trọng hàng tháng như lượt khách, ngày

khách, doanh thu hoạt động du lịch, chi tiêu của khách du lịch, cơ sở vật chất của ngành du lịch đã cơ bản đáp ứng yêu cầu của Tổng Cục Thống kê và các cơ quan

sử dụng thông tin, chất lượng số liệu bước đầu được đánh giá đảm bảo, phạm vi thu thập cơ bản đầy đủ Riêng số liệu hàng tháng phục vụ cho việc đánh giá kết quả thực hiện mục tiêu kế hoạch đề ra hàng năm của tỉnh, đồng thời đánh giá được mức độ thực hiện các chỉ tiêu của Nghị Quyết 15 về phát triển du lịch của tỉnh

Trang 15

15

Thứ hai: Hệ thống chỉ tiêu thống kê hàng năm được công bố tại niên giám

và các báo cáo chuyên đề là căn cứ quan trọng để thu hút các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài đầu tư các dự án về điểm và khu du lịch Đồng thời quảng bá tiềm năng môi trường du lịch, sản phẩm du lịch để thu hút du khách trong và ngoài nước bằng hệ thống số liệu

Thứ ba: Hệ thống chỉ tiêu thống kê là công cụ giám sát quan trọng nhất để

giúp cho các cơ quan quản lý qui hoạch hoạch định điều hành hoạt động du lịch, cơ bản đã khắc phục được lỗ hổng, thiếu thông tin trong công tác thống kê và điều tra

cơ bản về du lịch

2.2.2 Một số tồn tại và hạn chế

Thứ nhất: Thông tin chưa đầy đủ nếu chỉ sử dụng hệ thống chỉ tiêu thống kê

cấp tỉnh: Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh có 3 chỉ tiêu doanh thu dịch vụ du

lịch (mã số T1607); số lượt khách du lịch (mã số T1608); năng lực hiện có và năng lực mới tăng của các cơ sở lưu trú (mã số T1609) Như vậy một số chỉ tiêu quan trọng được nhiều đối tượng sử dụng thông tin có nhu cầu sử dụng mà chưa có như: sản phẩm du lịch, tài nguyên du lịch, môi trường du lịch (sự tín nhiệm của khách đối với tiềm năng, sản phẩm du lịch), chi tiêu của khách du lịch, ngày khách lưu trú

Thứ hai: Do nhu cầu sử dụng thông tin của địa phương và qui định của

Tổng cục Thống kê có phạm vi tính toán và khái niệm khác nhau, nên tạo ra sự chênh lệch giữa số liệu Trung ương và Địa phương, gây ra sự hiểu lầm khi sử dụng số liệu thống kê du lịch nếu không được cơ quan Thống kê giải thích.

Số lượt khách du lịch: Theo khái niệm lượt khách đến du lịch ở tỉnh bao

gồm khách quốc tế đến Việt Nam và khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam đi

Ngày đăng: 30/12/2014, 13:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w