1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xác định nguồn thông tin quy trình tính một số chỉ phản ánh mức độ hội nhập kinh tế quốc tế

22 350 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 377,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xác định nguồn thông tin quy trình tính một số chỉ phản ánh mức độ hội nhập kinh tế quốc tế. . Xác định nguồn thông tin quy trình tính một số chỉ phản ánh mức độ hội nhập kinh tế quốc tế.Xác định nguồn thông tin quy trình tính một số chỉ phản ánh mức độ hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 1

TỔNG CỤC THỐNG KÊ

VỤ HỢP TÁC QUỐC TẾ - VIỆN KHOA HỌC THỐNG KÊ

Đề tài khoa học

Nghiên cứu lựa chọn và tính toán thử nghiệm một số chỉ số phản ánh mức độ

hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam

Trang 2

TỔNG CỤC THỐNG KÊ

VỤ HỢP TÁC QUỐC TẾ - VIỆN KHOA HỌC THỐNG KÊ

Đề tài khoa học

Nghiên cứu lựa chọn và tính toán thử nghiệm một số chỉ số phản ánh mức độ

hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam

số phản ánh mức độ hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Nội dung chuyên đề này, do đó, gồm hai phần rõ rệt, đó là xác định nguồn thông tin sẵn có theo chế độ báo cáo hoặc từ các cuộc điều tra về các chỉ tiêu thống

kê phản ánh các lĩnh vực chủ chốt thể hiện mức độ hội nhập kinh tế quốc tế hiện có ở nước ta, mà trước hết là các chỉ tiêu thống kê do Tổng cục Thống kê thực hiện cùng với việc phân tích khả năng đáp ứng các chỉ tiêu này; tiếp theo là xây dựng quy trình tính toán các chỉ số thành phần cũng như chỉ số tổng hợp phản ánh lĩnh vực này; cuối cùng là đề xuất giải pháp tổ chức thực hiện áp dụng tính toán các chỉ số phản ánh hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta

HÀ NỘI, 10 - 2009

Trang 3

MỤC LỤC

Phần 1: Xác định nguồn thông tin phục vụ tính chỉ số tổng

hợp phản ánh hội nhập kinh tế quốc tế

6

1.1 Các lĩnh vực chủ yếu phản ánh hội nhập kinh tế quốc tế 6 1.2 Các chỉ tiêu chủ yếu trong từng lĩnh vực 7 1.3 Thực trạng các chỉ tiêu phản ánh hội nhập kinh tế quốc tế 8 1.4 Chọn nguồn thông tin 13

Phần 2: Xác định phương pháp tính và quy trình tính chỉ

2.1 Xác định phương pháp tính 14 2.2 Xây dựng quy trình tính toán 18 2.3 Vấn đề tổ chức tính toán và ứng dụng 20

Trang 4

MỞ ĐỀ

Vấn đề đặt ra: phải tính được chỉ số tổng hợp phản ánh mức độ hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta Muốn vậy, phải có nguồn thông tin, và phải xây dựng được phương pháp, quy trình tính toán

Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình chủ động gắn kết nền kinh tế của đất nước vào các tổ chức hợp tác kinh tế khu vực hoặc toàn cầu; trong đó, các thành viên quan hệ với nhau theo những quy định chung có

sự nhất trí của tất cả các thành viên sáng lập (tức là ra cùng một “sân chơi chung” Điều đó có nghĩa là chúng ta đứng cùng sân chơi, chơi cùng luật chơi với thế giới Trước kia, khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế được hiểu đơn thuần là những hoạt động giảm thuế, mở cửa thị trường Hội nhập kinh tế quốc tế ngày nay được hiểu là việc một quốc gia thực hiện chính sách kinh tế mở, tham gia các định chế kinh tế, tài chính quốc tế, thực hiện tự do hoá và thuận lợi hoá thương mại, đầu tư, đi lại nhằm mục tiêu mở cửa thị trường cho các luồng di chuyển vốn, di chuyển con người,

di chuyển hàng hoá và dịch vụ, loại bỏ các rào cản đối với trao đổi thương mại và các luồng di chuyển khác

Hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo cơ hội cho nước ta phát triển nhanh

và bền vững nhưng cũng đặt nước ta trước nhiều thách thức lớn Nghị quyết Đại hội IX của Đảng đề ra là chúng ta phải “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế” Tuy nhiên, Nghị quyết Đại hội X của Đảng có điểm đổi mới là đã bổ sung từ “tích cực” thành: “Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế”

“Chủ động” là ta tự quyết định đường lối phát triển kinh tế – xã hội nói chung, chủ trương, chính sách hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng; là nắm vững các quy luật, tính tất yếu của sự vận động kinh tế toàn cầu, phát huy đầy đủ năng lực nội sinh của đất nước, xác định lộ trình, nội dung, quy mô, bước đi hội nhập kinh tế quốc tế; đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ kinh tế quốc tế, không chỉ tập trung vào một thị trường, một sản phẩm; chủ động thực hiện các cam kết song phương, đa phương

và chủ động vận dụng các “luật chơi” của các thể chế kinh tế – thương mại quốc tế trên cơ sở đảm bảo lợi ích tối cao của đất nước vừa hợp tác vửa đấu tranh, không bị động và cũng không tự phát, nóng vội, chủ quan, duy ý chí; có sáng kiến, biết phân tích, chủ động lựa chọn đối tác và phương thức kinh doanh, dự báo được những thuận lợi và khó khăn khi hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 5

“Tích cực” là hội nhập kinh tế quốc tế với tinh thần mạnh mẽ hơn, khẩn trương hơn, toàn diện và sâu rộng hơn so với giai đoạn trước; không chần chừ, do dự mà đẩy mạnh đổi mới bên trong, từ phương thức lãnh đạo, quản lý đến hoạt động thực tiễn, từ Trung ương đến địa phương, doanh nghiệp; khẩn trương xây dựng và thực hiện chiến lược, lộ trình, kế hoạch hội nhập kinh tế quốc tế; tích cực tranh thủ nguồn vốn đầu tư nước ngoài đồng thời mạnh dạn đầu tư ra nước ngoài; đẩy nhanh chuyển dịch

cơ cấu kinh tế, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế – xã hội, hoàn chỉnh hệ thống luật pháp, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và nền kinh tế; mạnh dạn mở rộng, đa dạng hoá các hoạt động kinh tế đối ngoại và tham gia các thể chế, định chế kinh tế quốc tế, thực hiện các cam kết quốc tế “Tích cực” còn là không duy trì quá lâu các chính sách bảo

hộ của Nhà nước, khắc phục nhanh trình trạng trì trệ và tâm lý trông chờ,

ỷ lại ở sự bao cấp của Nhà nước Tích cực nhưng vững chắc, có sự chuẩn

bị cần thiết về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu quản lý, hệ thống luật pháp, có thông tin cập nhật và dự báo tình hình tương đối chính xác, có đội ngũ cán bộ hiểu biết về thị trường, đối tác, tinh thông nghiệp vụ kinh doanh, hội nhập kinh tế

Vai trò và nhiệm vụ của khoa học thống kê là phải mô tả, đo lường được quá trình hội nhập kinh tế quốc tế này thông qua các chỉ tiêu thống

kê, các con số thống kê, làm căn cứ cho Đảng, Chính phủ và Nhà nước đề

ra các chính sách, điều chỉnh các chính sách cho phù hợp với thực tiễn cuộc sống trong nước và trên thế giới, góp phần đẩy nhanh quá trình phát triển nâng cao mức sống của nhân dân, mau chóng thoát khỏi tình trạng nghèo đói và lạc hậu, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Vấn đề đặt ra trong chuyên đề nghiên cứu này là trên cơ sở đã xác định được các lĩnh vực chủ yếu của hội nhập kinh tế quốc tế, những chỉ tiêu thống kê phản ánh từng lĩnh vực chủ yếu của hội nhập kinh tế quốc

tế, chúng ta phải xác định rõ nguồn thông tin lấy từ đâu, lấy trên nguyên tắc nào, để xác định xác định phương pháp tính, và xây dựng quy trình tính toán một số chỉ tiêu thống kê tổng hợp phản ánh mức độ hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta trên từng lĩnh vực và trong tổng thể

Trang 6

PHẦN MỘT XÁC ĐỊNH NGUỒN THÔNG TIN PHỤC VỤ TÍNH CHỈ SỐ TỔNG

HỢP PHẢN ÁNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

1.1 Các lĩnh vực chủ yếu phản ánh hội nhập kinh tế quốc tế

Hầu như rất nhiều các hiện tượng kinh tế - xã hội diễn ra trong cuộc sống đều được tạo nên bởi các lĩnh vực, khía cạnh khác nhau Ví dụ phát triển con người được tạo nên từ các khía cạnh phát triển kinh tế, phát triển văn hoá, phát triển y tế và bảo vệ sức khoẻ, phát triển giáo dục, phát triển an sinh xã hội, an ninh con người, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững Hội nhập kinh tế quốc tế cũng bao gồm nhiều góc độ, có nhiều lĩnh vực phản ánh Hội nhập kinh tế quốc tế, như hội nhập trong lĩnh vực

di chuyển tự do xuyên quốc gia về con người (lao động, du lịch, hội họp);

di chuyển tự do xuyên quốc gia về luồng vốn (đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI, đầu tư gián tiếp nước ngoài - chứng khoán, cổ phiếu, trái phiếu, hỗ trợ phát triển ); di chuyển tự do xuyên quốc gia về luồng hàng hoá, dịch

vụ (xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ, xuất nhập khẩu thương hiệu, bản quyền, ); tham gia giải quyết các vấn đề kinh tế quốc tế (ký kết công ước quốc tế, hiệp định, hiệp ước, giải quyết tranh chấp về lĩnh vực kinh tế, tham gia các hiệp hội, khối, nhóm quốc gia trong lĩnh vực kinh tế thương mại ; tự do di chuyển các luồng thông tin toàn cầu (internet, điện thoại, bưu chính viến thông).v.v

Tuy phát triển con người gồm nhiều lĩnh vực như đã đề cập, song

để đo lường phát triển con người, người ta xây dựng chỉ số tổng hợp HDI cũng chỉ bao gồm có ba thành phần cơ bản là phát triển kinh tế với đại diện là chỉ tiêu GDP bình quân đầu người, phát triển giáo dục với đại diện

là tỷ lệ người lớn biết chữ và tỷ lệ đi học các cấp giáo dục, và phát triển y

tế bảo vệ sức khoẻ con người với đại diện là tuổi hy vọng sống trung bình tại lúc sinh Chúng tôi cho rằng hội nhập kinh tế quốc tế cũng vậy, tuy hội nhập kinh tế quốc tế cũng gồm nhiều khía cạnh khác nhau như đã đề cập

ở trên, song để đo lường mức độ hội nhập kinh tế quốc tế, chúng tôi đề xuất xây dựng chỉ số thống kê tổng hợp phản ánh hội nhập kinh tế quốc tế

IEI (Index of Economic Integration) cũng chỉ bao gồm có ba thành phần

cơ bản là tự do hoá luồng di chuyển vốn với vốn FDI đăng ký (cả ra lẫn vào); tự do hoá di chuyển con người là số người xuất nhập cảnh qua biên giới (xuất khẩu lao động, đi công tác, học tập và du lịch); tự do hoá luồng hàng hoá dịch vụ với đại diện là kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ

Sở dĩ chỉ cần chọn 3 lĩnh vực cũng đủ đại diện vì đây là 3 lĩnh vực

cơ bản nhất của quá trình sản xuất trong nền kinh tế, đó là vốn, con người

Trang 7

và kết quả đầu ra là hàng hoá và dịch vụ Nếu các lĩnh vực khác có phát triển thì cũng thúc đẩy các lĩnh vực này (giữa chúng có những mối liên hệ qua lại lẫn nhau) để tính IEI Các lĩnh vực cụ thể được chọn ở đây là:

1.2 Các chỉ tiêu chủ yếu trong từng lĩnh vực

Các chỉ tiêu trong lĩnh vực đầu tư phản ánh hội nhập kinh tế quốc

tế có khá nhiều Trước hết chúng phải phản ánh tình trạng nước ta tham gia với quốc tế trên cùng một mặt bằng sân chơi, đảm bảo luồng vốn di chuyển tự do Cụ thể, đó là các chỉ tiêu: FDI, ODA, số doanh nghiệp có FDI, đầu tư gián tiếp (theo cả hai chiều: luồng vào và luồng ra) Tuy

nhiên, để tham gia tính IEI, chúng tôi khuyến nghị chỉ chọn FDI trong

lĩnh vực này (cả luồng vào lẫn luồng ra), vì hiện nay đầu tư gián tiếp

chúng ta chưa thống kê được đầy đủ, ODA tuy có một ý nghĩa nhất định thể hiện hội nhập, nhưng không có tính lâu dài, một khi nước ta sắp thoát

ra khỏi nước nghèo đang phát triển

Trong FDI chúng tôi khuyến nghị cũng chỉ sử dụng vốn đăng ký,

vì một khi đã gia nhập WTO, đã hội nhập từng bước sâu rộng vào quá trình phân công lao động quốc tế, thì chỉ cần vốn đăng ký là đủ thể hiện ta

đã chơi cùng sân với thế giới như thế nào

Các chỉ tiêu trong lĩnh vực di chuyển nhân sự phản ánh hội nhập kinh tế quốc tế cũng có không ít, thể hiện cam kết của nước ta với quốc tế khi gia nhập WTO Cụ thể, đó là các chỉ tiêu phản ánh: (i) luồng di dân dài hạn: theo mục đích và ý nguyện cá nhân về cư trú; theo mục đích tìm kiếm việc làm thời hạn trên 1 năm; theo mục đích học tập nghiên cứu hay trao đổi theo hiệp định trên 1 năm; theo nhiệm vụ công tác được cử đi trên 1 năm ) (ii) luồng di cư ngắn hạn (du lịch, làm việc, công tác, học tập nghiên cứu ngắn hạn, thăm thân nhân, hội nghị, thi đấu thể thao ) Số chuyến bay ra/vào biên giới Luồng di chuyển nhân sự được tính theo

cả hai chiều: ra và vào Tuy nhiên, để tham gia tính IEI, chúng tôi khuyến

nghị chọn hoặc số người Việt Nam đi xuất khẩu lao động có thời hạn ở

nước ngoài, và người nước ngoài vào tìm kiếm công ăn việc làm ở Việt

Trang 8

Nam, hoặc số khách du lịch quốc tế vào, và người trong nước ra khỏi biên giới đi du lịch nước ngoài

Sở dĩ như vậy vì một khi chúng ta mở cửa cho người nước ngoài vào làm ăn, tức là chúng ta đã đồng ý chơi cùng một "sân" với họ, cũng như khi ta xuất khẩu lao động, tức là ta đã chấp nhận luật lao động của đối tác nước ngoài, và điều đó đã thể hiện mức hội nhập Còn về du lịch cũng vậy, chúng ta có theo chính sách mở cửa, có tạo điều kiện thuận lợi thì khách quốc tế mới sẵn sàng đến, và người dân trong nước mới có cơ hội đi Việc chọn người lao động, hay chọn khách du lịch, còn tuỳ thuộc vào khả năng số liệu thống kê như đã trình bày trong nguyên tắc lựa chọn chỉ tiêu để tham gia tính chỉ số tổng hợp là phải có thể và dễ dàng có được số liệu thống kê chính thức

Các chỉ tiêu trong lĩnh vực trao đổi hàng hoá và dịch vụ phản ánh hội nhập kinh tế quốc tế bao gồm: (1) xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch

vụ, (2) xuất nhập khẩu các loại thương hiệu, bản quyền, giấy phép, (3) các khoản chuyển nhượng cả luồng ra lẫn luồng vào Trong hoàn cảnh

cụ thể của thống kê nước ta, kim ngạch xuất nhập khẩu là đủ đại diện cho

lĩnh vực này để tham gia tính IEI

1.3 Thực trạng các chỉ tiêu phản ánh hội nhập kinh tế quốc tế

- Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia

Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia đã được ban hành theo Quyết định 305/2005 ngày 24/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ Hiện nay hệ thống chỉ tiêu này đang được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu phục vụ lãnh đạo, quản lý điều hành của Đảng, Nhà nước và Chính quyền các cấp theo Văn bản số 548/TTg-KHTH ngày 10-4-2009 của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng Đề án "Đổi mới đồng bộ các hệ thống chỉ tiêu thống kê" đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước thời kỳ 2011-2020 và những năm tiếp theo, đồng thời phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

Theo chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia mới này được áp dụng từ năm 2011, do vậy, các chỉ tiêu đó từ năm 2011 sẽ đảm bảo có được cho các công tác phân tích kinh tế cũng như làm nguyên liệu cho các tính toán khác, ví dụ tính chỉ số hội nhập kinh tế quốc tế theo đề xuất của đề tài nghiên cứu khoa học này

 Các chỉ tiêu thống kê về FDI

Trang 9

Hiện nay, số liệu về chỉ tiêu thống kê này đã được công bố đều đặn trên các ấn phẩm thống kê chính thức của Tổng cục Thống kê Chỉ tiêu này cũng đã được công bố trên Niên giám Thống kê hàng năm, đó là:

- Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp giấy phép thời kỳ

- Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp giấy phép thời kỳ

1998-2008 và riêng năm 1998-2008 phân theo ngành kinh tế:

+ Số dự án;

+ Tổng vốn đăng ký (bao gồm cả vốn tăng thêm của các dự án đã được cấp giấy phép từ các năm trước);

- Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp giấy phép thời kỳ

1998-2008 và riêng năm 1998-2008 phân theo đối tác đầu tư chủ yếu:

+ Số dự án;

+ Tổng vốn đăng ký (bao gồm cả vốn tăng thêm của các dự án đã được cấp giấy phép từ các năm trước);

- Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp giấy phép thời kỳ

1998-2008 và riêng năm 1998-2008 phân theo đối tác đầu tư chủ yếu:

+ Số dự án;

+ Tổng vốn đăng ký (bao gồm cả vốn tăng thêm của các dự án đã được cấp giấy phép từ các năm trước);

- Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp giấy phép thời kỳ

1998-2008 và riêng năm 1998-2008 phân theo địa phương:

+ Số dự án;

Trang 10

+ Tổng vốn đăng ký (bao gồm cả vốn tăng thêm của các dự án đã được cấp giấy phép từ các năm trước);

- Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài được cấp giấy phép thời kỳ 2008:

1998-+ Số dự án;

+ Tổng vốn đăng ký (bao gồm cả vốn tăng thêm của các dự án đã được cấp giấy phép từ các năm trước);

- Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài được cấp giấy phép thời kỳ

1998-2008 phân theo ngành kinh tế:

+ Số dự án;

+ Tổng vốn đăng ký (bao gồm cả vốn tăng thêm của các dự án đã được cấp giấy phép từ các năm trước);

- Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài được cấp giấy phép thời kỳ

1998-2008 phân theo đối tác đầu tư:

Chỉ tiêu số 61 với mã số 0507 "Số dự án và vốn đăng ký đầu tư trực tiếp ra nước ngoài được cấp phép mới và bổ sung vốn" phân theo loại dự án, nước/vùng lãnh thổ đầu tư (với định kỳ báo cáo hàng năm); do

Bộ Kế hoạch và Đầu tư chịu trách nhiệm thu thập và báo cáo;

Trang 11

Chỉ tiêu số 62 với mã số 0508 "Số vốn thực hiện của các dự án đầu

tư trực tiếp ra nước ngoài" phân theo loại dự án, nước/vùng lãnh thổ đầu

tư (với định kỳ báo cáo hàng năm); do Bộ Kế hoạch và Đầu tư chịu trách nhiệm thu thập và báo cáo;

Chỉ tiêu số 63 với mã số 0509 "Vốn hỗ trợ phát triển chính thức ký kết/thực hiện" phân theo hình thức hỗ trợ, ngành kinh tế, tỉnh/thành phố (với định kỳ báo cáo hàng quý, năm); do Bộ Kế hoạch và Đầu tư chịu trách nhiệm thu thập và báo cáo;

Chỉ tiêu số 60 với mã số 0506 "Vốn thực hiện đầu tư trực tiếp của nước ngoài" phân theo loại dự án, nước/vùng lãnh thổ đầu tư, tỉnh/thành phố (với định kỳ báo cáo hàng quý, năm), do Tổng cục Thống kê thực hiện (Tạp chí Con số & Sự kiện, Tổng cục Thống kê, số 10 năm 2009, trang 21)

 Các chỉ tiêu thống kê về xuất nhập khẩu lao động

Hiện nay, số liệu về chỉ tiêu thống kê này chưa được công bố trên các ấn phẩm thống kê chính thức của Tổng cục Thống kê Tuy nhiên chỉ tiêu này cũng đã được công bố trên Niên giám Thống kê Lao động - Người có công và Xã hội của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hàng năm Cụ thể, đó là chỉ tiêu:

"Số lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài trong năm theo hợp đồng phân theo giới tính, trình độ chuyên môn":

Ngày đăng: 30/12/2014, 09:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w