1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Học thuyết của Ph.Bêcơn về nhận thức

94 646 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với sự xuất hiện của học thuyết Bêcơn thì những đêm tối trung cổ bao trùm lên trí tuệ con người hàng bao thế kỷ đã phải nhường chỗ cho ánh sáng bình mình của khoa học mới, triết học

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Hà Nội - 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 2

B NỘI DUNG CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRIẾT HỌC BÊCƠN 1.1 Khái quát chung về triết học Bêcơn 11

1.1.1 Những điều kiện kinh tế – xã hội nước Anh thời Bêcơn 11

1.1.2 Những tiền đề lý luận 17

1.1.3 Cuộc đời và sự nghiệp của Bêcơn 26

1.2 Quan niệm của Bêcơn về các nhiệm vụ cơ bản của triết học và của khoa học 29

CHƯƠNG 2: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC BÊCƠN VỀ NHẬN THỨC 2.1 Bản chất và mục đích của nhận thức 40

2.2 Phương pháp nhận thức 46

2.2.1 Phê phán những sai lầm về phương pháp luận nhận thức phi khoa học (học thuyết về các ngẫu tượng 46

2.2.2 Học thuyết phương pháp luận của Bêcơn 59

2.3 Đánh giá khái quát nhận thức luận Bêcơn 79

Danh mục tài liệu tham khảo 85

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong sự nghiệp đổi mới của nước ta hiện nay và cụ thể là đối với sự đổi mới trên lĩnh vực tư duy lý luận, việc chú trọng hơn nữa đến việc nghiên cứu

và giảng dạy lịch sử triết học được đặt ở một vị trí có ý nghĩa rất quan trọng

Ph Ăngghen từng nói: “Một dân tộc đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận”, nhưng tư duy lý luật ấy “cần phải được phát triển hoàn thiện và muốn hoàn thiện nó thì cho tới nay, không có một cách nào khác hơn là nghiên cứu toàn bộ triết học thời trước” [33; 487 - 489] Ph.Bêcơn (1561 - 1626), nhà triết học duy vật Anh, theo nhận định của Mác là người sáng lập chủ nghĩa duy vật kinh nghiệm Anh và ông tổ của khoa học thực nghiệm tự nhiên hiện đại Mác viết: “Người bố đẻ chính tông của chủ nghĩa duy vật Anh và của toàn bộ khoa học thực nghiệm hiện đại là Bêcơn” [35; 195]

Hơn bất kỳ ai trong lịch sử triết học và lịch sử khoa học, Bêcơn chính là vĩ nhân biểu thị ý chí của tinh thần thế giới ở thời đại ông Cùng với sự xuất hiện của học thuyết Bêcơn thì những đêm tối trung cổ bao trùm lên trí tuệ con người hàng bao thế kỷ đã phải nhường chỗ cho ánh sáng bình mình của khoa học mới, triết học mới của khoa học và triết học có nhiệm vụ tô điểm cuộc sống con người bằng tri thức về giới tự nhiên và qua đó là bằng sự thống trị giới tự nhiên nhờ phát hiện ra và phục tùng các quy luật của bản thân giới tự nhiên Sinh ra vào thời kỳ chủ nghĩa tư bản bắt đầu hình thành, đòi hỏi phải có một khoa học mới, thế giới quan mới, Bêcơn đã ý thức rất rõ được nhu cầu đó

và ông cũng là người đầu tiên quyết tâm xây dựng khoa học mới, triết học mới Toàn bộ sự vĩ đại của Bêcơn chính là ở sự khởi xướng ấy, một sự khởi xướng mà tự nó đã vĩnh viễn đánh dấu một cái mốc vĩ đại trong lịch sử trí tuệ của nhân loại Nhưng Bêcơn còn làm được hơn thế rất nhiều Ông đã tiến hành

Trang 5

cải tổ khoa học và triết học, hơn nữa là cải tổ một cách đúng đắn, có phương

pháp Bêcơn đã bắt tay vào công việc vĩ đại của mình bằng cách xây dựng lại

toà nhà tri thức của nhân loại từ chính nền móng của nó - từ vấn đề nhận thức

luận Với cách suy nghĩ và cách làm như vậy, Bêcơn xứng đáng được gọi là cha đẻ đích thực của khoa học và triết học cận đại

Cho dù những quan điểm cụ thể của Bêcơn có thể đã trở nên "không vĩ đại" hay thậm chí lạc hậu đối với chúng ta, song bản thân cách đặt vấn đề của ông vẫn giữ nguyên giá trị, vẫn mang đầy đủ tính cấp bách, vì quá trình nhận thức luôn biến đổi, luôn tạo ra những bước ngoặt mà để trụ vững thì cách suy nghĩ và cách làm của Bêcơn là vô cùng quan trọng Sống trong thời đại của khoa học và công nghệ, khi mà vấn đề môi trường sống của con người ngày càng trở nên cấp bách, khi mà tất cả các khoa học đang dần hợp nhất thành

một khoa học về con người, tư tưởng của Bêcơn về sứ mệnh của khoa học, về

phân loại khoa học rất đáng được suy ngẫm một cách nghiêm túc Xuất phát

từ những lý do đó, chúng tôi chọn: “Học thuyết của Phrăngxít Bêcơn về nhận

thức" làm đề tài nghiên cứu trong luận văn thạc sĩ triết học của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Ph.Bêcơn là đại biểu tiêu biểu của chủ nghĩa duy vật Anh thế kỷ XVII – XVIII Do đó, các công trình nghiên cứu về lịch sử triết học phương Tây phần lớn đều đề cập đến thân thế, sự nghiệp, các tác phẩm và tư tưởng triết học chính của ông Các tác giả đều ghi nhận công lao to lớn của Bêcơn trong việc bảo vệ và phát triển khoa học đúng với chức năng và nhiệm vụ của nó Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu chỉ dừng lại ở tính chất khảo lược về mặt lịch

sử Từ trước đến nay, chưa có một công trình nghiên cứu nào đi sâu tìm hiểu quan niệm của Bêcơn về nhận thức một cách hệ thống và lôgíc Tuy nhiên, có thể khái quát những thành quả nghiên cứu về triết học Bêcơn ở hai loại hình chủ yếu sau:

Trang 6

Loại hình thứ nhất là những cuốn sách, kỉ yếu hội thảo và các bài báo

được đăng tải trên các tạp chí (chủ yếu là trên tạp chí triết học) và các công trình sách tham khảo chuyên luận ở Việt Nam

+ Đầu tiên là các công trình trên tạp chí Triết học: Về phương pháp luận

cải tiến của Ph.Bêcơn của Trần Văn Phòng (2011), Ph.Bêcơn với dự án “đại phục hồi khoa học” của Lê Thị Huyền (2010), Những bước đi đầu tiên của Ph.Bêcơn tới việc xây dựng phương pháp quy nạp của Hà Thiên Sơn (1996), Mối quan hệ giữa văn hóa và tiến bộ xã hội trong triết học Ph.Bêcơn của

Nguyễn Huy Hoàng (2002) Trong đó, các bài viết: Về phương pháp luận cải

tiến của Ph.Bêcơn trên cơ sở luận giải học thuyết về phê phán, về phương pháp

thực nghiệm và thuyết quy nạp mới của Bêcơn, PGS.TS Trần Văn Phòng đã chứng minh phương pháp luận của Bêcơn xứng đáng được gọi là phương pháp luận cải tiến và bản thân ông xứng đáng được coi là nhà cải tiến trong phương

pháp Còn bài viết Ph.Bêcơn với dự án “đại phục hồi khoa học” đã trình bài

khái quát những mục đích, nội dung của dự án “đại phục hồi khoa học”

+ Tiếp theo là cuốn Lịch sử triết học do GS.PTS Nguyễn Hữu Vui (Chủ biên, 2004), Nxb Chính trị Quốc gia, trong phần Triết học Anh thế kỷ XVII,

các tác giả đã đề cập khái lược đến những nội dung triết học cơ bản của Bêcơn bao gồm: về bản chất, nhiệm vụ của triết học và khoa học; về thế giới;

về nhận thức luận và phương pháp luận

+ Trong cuốn Đại cương lịch sử triết học phương Tây của tập thể tác giả:

Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Thanh, Nguyễn Anh Tuấn, Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2006 trong đó, các tác giả cũng đề cập đến những khía cạnh nổi bật trong triết học Bêcơn như: Chủ ý của “Đại phục hồi các khoa học”, Những cản trở trên con đường dẫn tới một khoa học mới; Phân loại khoa học và vai trò của triết học; Công cụ mới; Học thuyết về ngẫu tượng; Học thuyết về phương pháp và ảnh hưởng của nó đến triết học thế kỷ XVII

Trang 7

+ Cuốn Nhập môn triết học (2011, Nxb Giáo dục Việt Nam), trong phần

triết học Bêcơn, theo tác giả, Bêcơn đã nêu lên bốn ngẫu tượng phong tỏa trí tuệ con người Đó là ngẫu tượng loài, ngẫu tượng hang động, ngẫu tượng quảng trường và ngẫu tượng rạp hát Cũng theo tác giả, Bêcơn cũng đã chỉ ra nội dung, biểu hiện của từng loại ngẫu tượng này Tất cả chúng cần được giải phóng và tẩy rửa hoàn toàn

+ Trong cuốn Lịch sử triết học đại cương (2010) của Đỗ Minh Hợp, tác

giả đã khái lược con đường và phương pháp nghiên cứu khoa học tự nhiên

được luận chứng về mặt triết học bởi Ph.Bêcơn Tiếp theo trong phần các lĩnh

vực triết học mà ở đây, cụ thể là lĩnh vực lôgic học, tác giả cũng đã chỉ ra bắt

đầu từ thời Phục hưng, những phát minh khoa học vĩ đại được thực hiện nhờ

sử dụng các cách tiếp cận khác với lôgíc học hình thức Quan sát, kinh nghiệm, đo, phiên dịch “cuốn sách tự nhiên” sang ngôn ngữ toán học đã có hiệu quả hơn so với lí thuyết tam đoạn luận và suy luận mang tính hình thức

Các nhà triết học – khoa học, như Ph.Bêcơn có nhu cầu mô tả các phương

pháp nghiên cứu và phương pháp luận đã ra đời như vậy Nó thể hiện là những suy luận về các phương pháp nhận thức và biến khoa học thành khoa học về sắp xếp tri thức Đây là bước ngoặt trí tuệ căn bản mà các thời kỳ triết

học sau thường nhắc tới những hệ quả của nó Tên Organon mới được Bêcơn

đặt cho tác phẩm chính của mình, biểu thị thái độ tôn kính đối với Arítxtốt và đồng thời biểu thị ý định khu vực với các nhà triết học kinh viện nhờ sự mới

mẻ trong nội dung triết học của tác phẩm

+ Lịch sử triết học Phương Tây trước Mác (2003) của tác giả Trần

Văn Phòng và Dương Minh Đức cũng rất sâu sắc khi phân tích về bản thể luận cũng như nhận thức luận của triết học Bêcơn; bên cạnh đó, phê phán các phương pháp nhận thức cũ của triết học kinh viện và chỉ ra

phương pháp nhận thức con ong dựa trên cơ sở quy nạp mới và thực

nghiệm khoa học

Trang 8

+ Những chủ đề cơ bản của triết học Phương Tây (2001) của Phạm

Minh Lăng đã trình bày cơ bản những vấn đề về văn hóa, khoa học kỹ thuật, mối quan hệ giữa triết học và các khoa học khác; đặc biệt đã chỉ

ra mối quan hệ biện chứng giữa triết học và khoa học cũng như xác định vai trò của cả khoa học và triết học ở phương Tây thế kỷ XVII

+ Lịch sử triết học (2001) của Phương kỳ Sơn, giới thiệu một cách rất cơ

bản về triết học Bêcơn, về nhiệm vụ cũng như bản chất của triết học khoa học Trong đó, tác giả một lần nữa khẳng định quan điểm của Bêcơn khi cho rằng, sự phát triển khoa học và triết học là nền tảng của công cuộc cách tân và xây dựng đất nước

+ Đại cương triết học Tây phương (2009) của Nguyễn Ước có đề cập đến

triết học Bêcơn theo các nội dung: nội dung của tri thức, triết học khoa học và các ngành triết học

+ Cuốn Lịch sử tư tưởng trước Mác (1995), tác giả đánh giá triết học

Bêcơn nói riêng và triết học Anh nói chung phát triển theo hướng duy vật kinh

nghiệm chủ nghĩa trong đó, tác giả chỉ ra mục đích Bêcơn viết New Organon

để mở đầu một phong trào khoa học mới, tên này xuất phát từ tên một bộ sách

cũ của Arítxtốt là Organon Nhưng về nội dung và hình thức đều chống lại

Arítxtốt, đề cao kinh nghiệm chủ nghĩa, nói rằng, lý tính hình thức là cái biến hình và xuyên tạc sự thật, chỉ có kinh nghiệm cho ta biết đúng

Loại thứ hai là công trình của các tác giả nước ngoài đề cập một cách trực

tiếp hay gián tiếp về triết học Ph.Bêcơn đã được dịch ra tiếng Việt chẳng hạn như các công trình nghiên cứu của Viện triết học, Viện Hàn lâm Khoa học

Liên Xô trước đây: Lịch sử phép biện chứng, tập 2 (1998) hay cuốn Câu

chuyện triết học của (2008) Will Durant, Lịch sử triết học và các luận đề

(2004) của Samuel Enoch Stumpf,

+ Trong đó cuốn Lịch sử phép biện chứng (tập 2) của Viện Triết học, Viện

Hàn lâm Khoa học Liên Xô đã trình bày một cách chuyên sâu và có hệ thống

Trang 9

sự phát triển của phép biện chứng trong triết học tự nhiên và lý luận nhận thức của Bêcơn, qua đó chỉ ra những giá trị tích cực cũng như hạn chế trong triết học của ông

+ Còn cuốn Câu chuyện triết học (2008) của Will Durant, trong chín

chương, tác giả đã dành hẳn một chương để nói về sự nghiệp triết học của

Bêcơn Tác giả cuốn sách Câu chuyện triết học đã đi từ phân tích những điều

kiện, tiền đề chính trị, xã hội, từ Aritxtốt đến thời Phục hưng, phân tích những tiền đề chủ quan qua sự nghiệp chính trị đến việc liệt kê những tiểu

luận rồi cuối cùng tập trung ở sự nghiệp “tái tạo vĩ đại” thông qua việc phân

tích bảy tác phẩm vĩ đại làm nên việc tái tạo vĩ đại ấy Muốn thực hiện công

cuộc tái tạo đó, trước tiên con người ta phải tăng tiến tri thức và tạo ra bộ khí

cụ mới Sau khi tăng tiến tri thức (kiện toàn khoa học) và kiện toàn trật tự xã

hội bằng cách điều khiển khoa học, đó cũng là một xã hội lý tưởng rồi Tiếp

đó, Durant cũng dành một phần để nhận xét những mặt hạn chế và đi đến kết luận về triết học Bêcơn

+ Cũng trong một cuốn Câu chuyện triết học khác của Bryan Magee, Nxb

Thống kê, 2003 Theo tác giả, Bêcơn trình bày phương pháp khoa học của mình, một phương pháp mới cho khoa học mới Bêcơn nhìn thấy những tiềm năng vô hạn của nền khoa học mới nổi lên, ông đề ra nhiều chương trình phát triển khoa học ở mọi cấp độ, từ lý thuyết đến tổ chức Đồng thời ông cũng cho rằng, Bêcơn là cha đỡ đầu của khoa học

+ Trong tác phẩm Thăng trầm quyền lực của Alvil toffler, Nxb Văn hóa

Thông tin, 1999, tác giả cũng đã nhiều lần nhắc đến mối liên hệ giữa Bêcơn

và thời đại ngày nay – thời đại kinh tế tri thức

+ Cuốn Lịch sử triết học và các luận đề (2004), tác giả Samuel Enoch

Stumpf đã trình bày, chứng minh nội dung Ph.Bêcơn là người ủng hộ phương pháp khoa học Với Ph.Bêcơn thì: phương pháp là chìa khóa mở ra tri thức,

ông chỉ ra những căn bệnh của học thức (gồm học thức viễn thông, học thức

Trang 10

tranh cãi và học thức tinh vi), đồng thời chỉ ra các thần tượng (ngẫu tượng,

sai lầm) của trí khôn gồm (bộ lạc, hang, chợ và sân khấu) Sau khi chỉ ra rằng,

tri thức có thể bị bóp méo bởi các thần tượng, Bêcơn bắt đầu triển khai một

phương pháp để đạt được tri thức chân thực, chính là phương pháp quy nạp

+ Cuốn Lịch sử triết học từ cổ đại đến cận hiện đại (2007) của Dagobert D.Runes (Nxb Văn hóa Thông tin) trong phần Các triết gia cổ điển Anh cũng

đã đề cập khái quát về triết học Bêcơn Đồng thời, trong mục Tạo lập thế giới

hiện đại: chủ nghĩa duy lý của cuốn Con người và tư tưởng phương Tây (2007, Nxb Từ điển Bách khoa) do Crane Brinton viết cũng đề cập đến

Ph.Bêcơn với tư cách đại diện của chủ nghĩa duy lý

+ Cuốn Quá trình chuyển biến tư tưởng phương Tây, những tư tưởng đã

định hình thế giới quan của chúng ta (2008) của Richard Tas do Lưu Văn Hy

dịch trong đó, tác giả đã chỉ ra những chuyển biến tư tưởng trong xã hội từ thế giới quan của thời cổ điển đến thời kỳ cận đại với việc khẳng định giá trị của khoa học như ánh sáng soi đường cho sự chuyển biến tư tưởng của con người

và sự phát triển xã hội

+ Trong C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập (1995), trong các tập 2, 20, 21, 22

và 23 đã đi từ việc phân tích những điều kiện, tiền đề kinh tế, chính trị, xã hội, của nước Anh cũng như châu Âu thời bấy giờ đến việc trình bày, nhận xét, đánh giá toàn diện về triết học Bêcơn Đây là những chỉ dẫn, nhận xét, đánh giá có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc nghiên cứu triết học Bêcơn

+ Trong cuốn Đại cương lịch sử triết học phương Tây của Bertrand

Russell, tác giả cũng đã trình bày khái lược về sự nghiệp triết học Bêcơn (tr.526-530)

+ Cuốn 106 nhà thông thái (2000) của P.S Taranốp do Đỗ Minh Hợp dịch

trình bày các nét chính về cuộc đời, số phận, học thuyết (tư tưởng) của nhà triết học Bêcơn

Trang 11

Ngoài ra, còn phải kể đến một số công trình khác có đề cập ít nhiều đến

triết học Bêcơn như: Lịch sử triết học phương Tây (1956) của Viện nghiên cứu triết học Liên Xô, ngd: Đặng Thai Mai, Nxb Xây dựng; Lịch sử triết học

phương Tây (2006) của Nguyễn Tiến Dũng, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ

Chí Minh; Triết học và xã hội học Anh, Pháp (1963) của Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, Nxb Sự thật, Truy tìm triết học (2001) của Gail M.Tresdey;

Những tư tưởng lớn từ những tác phẩm vĩ đại (2004) của Dr.Mortimer

J.Adler, Triết học Tây phương từ khởi thủy đến đương đại (2010) của Bernard Morichere; Triết học (2010) của Edward Craig;, Giáo trình triết học Mác-

Lênin (2000) do Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn; Lôgíc học biện chứng (2003) của Ilencov, Nxb Văn hóa Thông tin

Như vậy, có thể nói, ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về triết học Bêcơn, song trong số các công trình đó, chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề nhận thức của triết học Bêcơn

Trên cơ sở kế thừa, vận dụng những nghiên cứu liên quan của các tác giả, luận văn đi sâu vào nghiên cứu quan niệm của Bêcơn về nhận thức, là một công trình nghiên cứu độc lập

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Mục đích của luận văn là nghiên cứu chuyên sâu và trình bày một cách có

hệ thống nội dung cơ bản quan niệm của Ph Bêcơn về nhận thức, qua đó, bước đầu đưa ra những đánh giá về ý nghĩa, những đóng góp và hạn chế của nó

Để đạt được mục đích trên, luận văn sẽ giải quyết các nhiệm vụ sau:

– Làm sáng tỏ các điều kiện kinh tế - xã hội, chính trị và văn hóa, các tiền

đề tư tưởng cho sự ra đời của quan niệm Bêcơn về nhận thức

– Phân tích quan niệm của Bêcơn về nhận thức: nội dung, phương pháp, mục đích

– Đánh giá khái quát về lập trường nhận thức luận của Bêcơn

Trang 12

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

– Đối tượng nghiên cứu là nội dung cơ bản của quan niệm Bêcơn về nhận thức

– Phạm vi nghiên cứu là quan niệm Bêcơn về nhận thức được thể hiện qua

những tác phẩm chính của Bêcơn mà điển hình là tác phẩm: Organon mới,

Đại phục hồi khoa học,

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

– Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, đặc biệt là quan điểm của triết học Mác – Lênin về mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, về lịch sử triết học

– Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy vật, sử dụng chủ yếu các phương pháp nghiên cứu lịch sử triết học, như kết hợp giữa phân tích và tổng hợp, lịch sử và lôgíc, đối chiếu, so sánh, khái quát hóa, văn bản học,

6 Đóng góp của luận văn

– Luận văn phân tích và trình bày có hệ thống những nội dung cơ bản của quan niệm Bêcơn về nhận thức

7 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Luận văn góp phần giới thiệu một trong các nội dung quan trọng của triết học Bêcơn là nội dung nhận thức luận

Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác giảng dạy và nghiên cứu lịch sử triết học, làm sáng tỏ thêm quy luật kế thừa trong lịch sử tư tưởng nhân loại

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương 5 tiết

Trang 13

A NéI DUNG CH¦¥NG 1: KH¸I QU¸T CHUNG VÒ TRIÕT HäC B£C¥N

1.1 Khái quát chung về triết học Bêcơn

1.1.1 Những điều kiện kinh tế - xã hội nước Anh thời Bêcơn

Cuộc cách mạng Anh năm 1689 đã kết thúc bằng sự thoả hiệp giữa giai cấp tư sản công - thương với giới quý tộc - điền chủ Trong lời tựa cho lần

xuất bản bằng tiếng Anh của tác phẩm Sự phát triển của chủ nghĩa xã hội từ

không tưởng đến khoa học, Ăngghen đã chỉ ra rằng, các nguyên nhân tạo ra

kết cục như vậy của cách mạng tư sản ở Anh bắt nguồn từ những đặc điểm phát triển đặc thù của chủ nghĩa tư bản Anh "Điểm xuất phát mới là sự thoả hiệp giữa giai cấp trung đẳng đang lớn lên và những địa chủ phong kiến lớn trước kia Bọn địa chủ phong kiến lớn này, mặc dầu hồi bấy giờ cũng được gọi là quý tộc như hiện nay, đã từ lâu đi theo con đường để trở thành một loại người mà Lui Philíp ở Pháp mãi sau này mới trở thành: "Người tư sản thứ nhất trong vương quốc" May mắn cho nước Anh là các nam tước phong kiến

cũ đã chém giết lẫn nhau trong trận chiến tranh Hai đoá hoa hồng Những kẻ

nối nghiệp bọn này, mặc dầu phần lớn cũng đều xuất thân từ những dòng họ

cũ ấy nhưng lại thuộc những bàng hệ quá xa đến nỗi họ hợp thành một tầng lớp hoàn toàn mới; những tập quán và những xu hướng của họ có tính chất tư sản hơn là có tính phong kiến; họ hoàn toàn biết rõ giá trị của tiền và bắt tay ngay lập tức vào việc tăng địa tô của họ bằng cách đuổi hàng trăm tá điền nhỏ

đi để thay thế vào đó bằng những con cừu Bằng cách phóng tay ban tặng và phung phí đất đai của giáo hội, Henri VIII đã tạo ra hàng loạt những quý tộc địa chủ xuất thân từ giai cấp tư sản; những cuộc tịch thu những trang trại lớn diễn ra một cách liên tục cho đến cuối thế kỷ XVII, những trang trại này sau

đó lại bán lại cho những kẻ mới phất theo nghĩa đen cũng như theo nghĩa bóng, cũng dẫn đến kết quả như trên Do đó, từ Henri VII trở đi, bọn "quý

Trang 14

tộc" Anh không những không ngăn cản sự phát triển của sản xuất công nghiệp, mà trái lại, còn tìm cách lợi dụng sự phát triển ấy Và bao giờ cũng có một bộ phận địa chủ lớn vì những động cơ kinh tế hay chính trị mà sẵn sàng hợp tác với bọn lãnh tụ của giai cấp tư sản công nghiệp và tài chính Như vậy

là, sự thoả hiệp năm 1869 đã có thể thực hiện được một cách dễ dàng Những chiến lợi phẩm chính trị - những cương vị có lợi lộc và béo bở vẫn nằm trong tay các gia đình quý tộc địa chủ lớn, với điều kiện là họ phải tôn trọng đầy đủ những lợi ích kinh tế của giai cấp trung đẳng tài chính, công nghiệp và thương nghiệp Và những lợi ích kinh tế hồi bấy giờ đã khá mạnh; cuối cùng chúng

đã chi phối chính sách chung của cả nước Về một số vấn đề cá biệt người ta

có thể cãi cọ nhau nhưng bọn trùm quý tộc hiểu quá rõ rằng, sự thịnh vượng kinh tế của bản thân chúng gắn chặt với sự thịnh vượng của giai cấp tư sản công nghiệp và thương nghiệp" [34; 443 – 444]

Ở Pháp, cách mạng tư sản Pháp đã quét sạch các đặc quyền phong kiến,

đã thủ tiêu sở hữu đất đai của quý tộc, chế độ chuyên chế và tình trạng phân tán phong kiến - những trở ngại đối với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản

"Cuộc đại cách mạng Pháp là cuộc nổi dậy thứ ba của giai cấp tư sản, nhưng

nó là cuộc nổi dậy đầu tiên đã hoàn toàn vứt bỏ chiếc áo khoác tôn giáo và tiến hành chiến đấu trên những miếng đất chính trị không che đậy Nhưng nó cũng là cuộc nổi dậy đầu tiên đã thực sự chiến đấu cho đến khi tiêu diệt một bên tham chiến, tức là bọn quý tộc và đến thắng lợi hoàn toàn của bên kia, tức

là của giai cấp tư sản" [34; 446]

Chúng ta nhận thấy một tình hình hoàn toàn khác ở nước Anh, nơi mà chế

độ phong kiến và chế độ chuyên chế không mạnh như vậy do có các đặc điểm phát triển của nền kinh tế Anh, nền kinh tế quy định sự thâm nhập sớm và tích cực của chủ nghĩa tư bản vào nông nghiệp Việc các vua Noócmăng xâm chiếm nước Anh ở thế kỷ XI - XII đã đẩy nhanh việc hợp nhất dân tộc và việc phát triển thương mại, thủ công nghiệp được chuyển vào Anh từ các nước tiên

Trang 15

tiến thời đó Sự phát triển công nghiệp dệt ở Bengơ, ở Phlăngđi đã thúc đẩy

sự phát triển ngành chăn nuôi cừu ở Anh để xuất lông cừu

Chẳng bao lâu ngành công nghiệp của nước Anh cũng đã bắt đầu phát triển, thúc đẩy nó là sự nhập cư đông đảo của người Phlăngđi vào Anh ở thế

kỷ XIV do có cuộc khủng hoảng kinh tế và cuộc đấu tranh xã hội ở Phlăngđi

Ở cuối thời trung cổ, quan hệ phong kiến ở Anh không phát triển đầy đủ như ở các nước lục địa và nguyên nhân quan trọng nhất của tình hình ấy là ở chỗ nền kinh tế của các huân tước, kể từ thế kỷ XII - XIII, không phụ thuộc hoàn toàn vào lao động nông nô Nông dân có ít đất đai, đa số họ không thể sống được trên khoảnh ruộng được phân của mình và buộc phải tìm kiếm kế sinh nhai trên mảnh đất của huân tước hay của nông dân sung túc Như vậy, cùng với sự cưỡng bức phi kinh tế thì chế độ bóc lột tư bản chủ nghĩa đối với nông dân ít đất đai cũng phát triển sớm

Một yếu tố khác không cho phép quan hệ phong kiến xác lập đầy đủ, là sự thâm nhập của quan hệ hàng hoá vào kinh tế của huân tước Hình thức điều hành kinh tế tiêu dùng của quý tộc sớm trở nên lỗi thời Ngay ở thế kỷ X - XI, quý tộc đã bán hàng hoá dư thừa tại thị trường địa phương Sự phát triển của công nghiệp và đô thị đã thúc đẩy sự phát triển của thị trường địa phương Sự thâm nhập đáng kể của kinh tế hàng hoá vào nông thôn đã làm cho quý tộc Anh không quan tâm tới việc điều hành nền kinh tế tiêu dùng dựa trên lao động tạp dịch Không phải lao động tạp dịch mà tiền mới trở thành mục đích tối cao của quý tộc

Như vậy, ngay ở thế kỷ XIII, nhiều quý tộc đã thay thế chế độ lao động tạp dịch bằng chế độ nộp tiền lao dịch Để làm cho nền kinh tế của mình thoát khỏi sự giám sát quấy nhiễu của địa chủ, nông dân đã chấp nhận điều đó Nhưng các điền chủ lớn, các tu viện không chấp nhận điều đó

Việc phát triển ngành buôn bán sợi, bắt đầu từ thế kỷ XII đã góp phần thay thế ngành trồng trọt bằng ngành chăn nuôi cừu ở hàng loạt vùng Nó biến

Trang 16

nông dân nhỏ thành thợ thủ công sơ chế sợi Sự phát triển công nghiệp đô thị

ở thế kỷ XIII - XIV đã thu hút nhiều nông dân vào thành thị kiếm sống do tiền công ở đây cao hơn và kinh tế địa chủ bắt đầu thiếu sức lao động Nông dân sung túc đã lạm dụng tình hình này để thuê đất của địa chủ với điều kiện có lợi và mua lại đất của nông dân đi vào thành phố Mác viết: "Vào cuối thế kỷ XIV, chế độ nông nô ở Anh đã thực sự không còn nữa Bấy giờ, tuyệt đại đa

số dân cư và trong thế kỷ XV thì lại càng nhiều hơn nữa là những nông dân tự

do, có kinh tế độc lập, mặc dầu quyền sở hữu của họ có thể bị che đậy dưới những chiêu bài phong kiến nào chăng nữa Ở những trang trại lớn hơn của các lãnh chúa, người quản lý, trước kia bản thân cũng là nông nô, nay đã nhường chỗ cho người phecmiê tự do" [35; 999 - 1000]

Cuộc nổi dậy của nông dân thời đó mà nông dân khá giả tích cực tham gia, đã đưa ra yêu sách xoá bỏ hoàn toàn chế độ lao động tạp dịch và chế độ nông nô, cũng như địa tô Việc nhập bánh mỳ từ các nước Bantích và ngành buôn bán sợi không ngừng phát triển đã loại bỏ ngành trồng trọt ở nhiều nơi, điều này lại càng đẩy nhanh quá trình tan rã của chế độ nông nô và chế độ lao động tạp dịch Ở nhiều nơi, nông dân đã chuộc lại tự do cá nhân của mình và nghĩa vụ lao động tạp dịch Như vậy, ở thế kỷ XV, nền kinh tế nông nô đã ở vào trạng thái tan rã hoàn toàn Công xã nông nghiệp cũng tan rã theo

Sự phát triển của thương nghiệp và công nghiệp đã góp phần hình thành giai cấp tư sản với tư cách một giai cấp và là đòn bẩy quan trọng nhất thúc đẩy chủ nghĩa tư bản phát triển "Mặc dù ngay trong thế kỷ XIV và XV, những mầm mống đầu tiên của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa đã có rải rác ở một số thành phố lẻ tẻ vùng Địa Trung Hải nhưng thời đại tư bản chủ nghĩa chỉ bắt đầu từ thế kỷ XVI mà thôi Nơi nào bước vào thời đại đó thì ở nơi ấy, chế độ nông nô đã bị xoá bỏ từ lâu và chế độ thành thị có chủ quyền - trang sử chói lọi của thời Trung cổ - cũng đã mờ nhạt từ lâu rồi” [35; 998 - 999] Và tiếp theo, "điểm xuất phát của sự phát triển (của chủ nghĩa tư bản - tg) đã tạo ra cả

Trang 17

người công nhân làm thuê lẫn nhà tư bản, là tình cảnh nô lệ của người công nhân Bước tiến triển này bao hàm ở chỗ thay đổi hình thức của sự nô dịch ấy, biến sự bóc lột phong kiến thành sự bóc lột tư bản chủ nghĩa" [35; 998]

Đất nước như vậy đã là nước Anh thế kỷ XVII Tại Anh, chế độ nông nô đã

bị xoá bỏ từ lâu, những khám phá về địa lý và sự thuộc địa hoá diễn ra sau đó

đã làm tăng rất nhiều thị trường tiêu thụ và đã đẩy nhanh sự tăng trưởng các công xưởng công nghiệp ở thành thị, từ đó, các thành thị ven biển (đặc biệt là Luân Đôn) đã mọc lên, trở thành các trung tâm thương nghiệp và công nghiệp

Sự phát triển của công nghiệp dệt và các công xưởng khác đòi hỏi cấp bách đội ngũ những người sản xuất không có tư liệu sản xuất, mà nhà tư bản

có thể gán ép các điều kiện lao động của mình Nền công nghiệp cũng cần tới việc mở rộng nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp len dạ, tới việc tăng bầy cừu lông dài, do vậy, mở rộng bãi chăn cừu Điều này giải thích một thực

tế là ở cuối thế kỷ XV, suốt thế kỷ XVI và đầu thế kỷ XVII, các điền chủ lớn

đã tổ chức cái gọi là "rào đất" và xua đuổi chủ sở hữu nhỏ, chủ lãnh canh nhỏ

ra khỏi đất đai của họ và thay cánh đồng trồng trọt bằng bãi chăn gia súc Như T.Morơ nói, cừu đã ăn thịt người Tình hình này đã góp phần phá huỷ công xã nông nghiệp và vô sản hoá nông dân nhỏ

Việc tước đoạt ruộng đất của nông dân đã tạo ra hàng trăm triệu người vô sản, hơn nữa là sự gia tăng của công xưởng không đuổi kịp mức cung số công nhân tự do tăng lên không ngừng Bị tước mất tư liệu sản xuất và đuổi khỏi nơi sinh sống, nông dân biến thành người bần cùng, kẻ lang thang ăn mày đầy rẫy ở mọi ngả đường và mọi thôn xóm nước Anh

Thế kỷ XVI và thế kỷ XVII thể hiện là thời kỳ những cuộc đấu tranh cách mạng không ngừng của nông dân chống lại việc "rào đất" Quân đội hoàng gia đàn áp các cuộc nổi dậy của nông dân một cách dã man và càng đẩy mạnh hơn nữa việc rào đất "Những người mới được giải phóng đó chỉ trở thành những người tự bán mình sau khi họ bị tước hết mọi tư liệu sản xuất mà mọi

Trang 18

thứ bảo đảm đời sống do thể chế phong kiến cũ cung cấp cho họ Và lịch sử của sự tước đoạt đó đã được ghi vào sử sách của loài người bằng máu và lửa" [35, 998]

Tômát Morơ đã mô tả sự bần cùng và cảnh điêu đứng mà sự tước đoạt tư bản chủ nghĩa đẩy nông dân vào như sau: "Thế là một kẻ háu ăn tham lam vô

độ, một tai hoạ thật sự cho quê hương hắn, tập trung vào tay hắn hàng ngàn ácrơ đất đai và quây số đất đó lại bằng phên giậu hay cọc rào hoặc dùng những thủ đoạn bạo lực và chèn ép đến mức khiến những người chủ các đất đai đó buộc phải bán hết đất đai đi Bằng cách này hay hay bằng cách khác,

dù thuận tình hay bị cưỡng bức, cuối cùng, họ cũng buộc phải bỏ đi nơi khác, những con người nghèo khổ, chất phác và bất hạnh! Đàn ông, đàn bà, những cặp vợ chồng, những mẹ goá con côi, những người mẹ đáng thương với những đứa con còn bú, với tất cả những gì họ có trong nhà, của thì ít nhưng người thì đông, vì nghề nông cần nhiều nhân lực Họ rời bỏ quê hương quen thuộc ra đi lang thang, chẳng tìm đâu được chỗ trú thân Việc bán các đồ đạc trong nhà, tuy chẳng đáng là bao, nhưng trong những điều kiện khác thì cũng

đỡ cho họ ít nhiều; khốn nỗi, bị đột ngột tống ra đường, họ đành phải bán tống bán tháo đi Và khi họ đã lang thang khắp đó đây và tiêu hết đồng xu cuối cùng rồi thì thử hỏi họ còn có thể làm được việc gì khác nếu không đi ăn cắp - và thế là, họ lại bị treo cổ với đầy đủ mọi nghi thức của pháp luật Hay

là đi ăn xin? Nhưng như vậy thì họ lại bị bắt giam như những kẻ vô lại về tội

đi lang thang và không làm việc, tuy họ là những con người mà không một ai muốn giao công việc cho làm, dù họ đã cố hết sức chạy vạy tìm kiếm" [35; 1024]

Như vậy, chúng ta nhận thấy rằng, vào cuối thế kỷ XVI và đầu thế kỷ XVII, chủ nghĩa tư bản đã nhanh chóng hình thành và phát triển ở nước Anh Nước Anh đã trở thành cường quốc tư bản chủ nghĩa tiên tiến nhất ở châu Âu

Trang 19

Chính nhờ sự phát triển sớm của chủ nghĩa tư bản mà nước Anh đã trở thành

"quê hương đầu tiên của chủ nghĩa duy vật hiện đại"

Đa số phong trào của nhân dân thời đó khoác cái vỏ của cuộc đấu tranh chống lại tôn giáo quan phương Đồng thời các tư tưởng của giới quý tộc phong kiến cũng thường phê phán giáo hội đang thống trị của giai cấp tư sản

từ lập trường vô thần Tất cả những điều này đã bắt buộc giai cấp tư sản vừa mới tiến hành cải cách giáo hội, loại bỏ các yếu tố Trung cổ khỏi nó, phải cố gắng củng cố các cơ sở của tôn giáo của mình "Đối với người chào hàng của mình, công nhân của mình, tôi tớ của mình thì người thương nhân hay ngay

cả chủ xưởng đều chiếm địa vị người chủ, hay chiếm địa vị "cấp trên tự nhiên" như mới gần đây ở Anh người ta còn gọi như vậy Hắn phải bòn rút được càng nhiều lao động của họ với một chất lượng càng cao thì càng tốt; muốn thế hắn phải giáo dục cho họ một thái độ ngoan ngoãn thích đáng Bản thân hắn tin đạo, tôn giáo đã cung cấp cho hắn ngọn cờ mà hắn đã dùng để chiến thắng bọn vua chúa và quý tộc, chẳng bao lâu hắn cũng phát hiện ra cái phương tiện mà tôn giáo ấy đã cung cấp cho hắn để tác động đến đầu óc của

bề dưới tự nhiên của hắn và làm cho họ ngoan ngoãn tuân theo lệnh của bọn chủ mà ý muốn không thể hiểu nổi của Thượng đế đã đặt lên trên họ Nói tóm lại, người tư sản Anh lúc đó đã là kẻ tham gia đàn áp "những tầng lớp dưới" - quần chúng nhân dân sản xuất đông đảo và một trong những phương tiện được sử dụng trong việc này là ảnh hưởng của tôn giáo" [34; 444 - 445] Giai cấp tư sản cố gắng làm dịu bớt chế độ chuyên chế của nhà vua và mở rộng các quyền của nghị viện Tuy vậy, trong hoạt động chống đối của mình, giai cấp đại tư sản là khá ôn hoà, không vượt ra khỏi khuôn khổ luật pháp và

có thiên hướng thoả hiệp Trong quá trình tích luỹ nguyên thuỷ, giai cấp tư sản sử dụng rộng rãi sự cưỡng bức phi kinh tế, trong đó, tầng lớp quý tộc và các tàn dư của thói chuyên quyền phong kiến giúp đỡ nó rất nhiều: Điều này đẩy nó đến với sự thoả hiệp trong chính trị và trong hệ tư tưởng

Trang 20

1.1.2 Những tiền đề lý luận

Triết học Bêcơn được khoa học và triết học ở cuối thời kỳ Trung cổ và ở thời Phục hưng chuẩn bị Các mặt mạnh và các mặt yếu của triết học Bêcơn

sẽ trở nên rõ ràng hơn sau khi chúng ta nghiên cứu các bậc tiền bối của ông

a Triết học và khoa học thời Trung cổ

Thế giới quan Thiên Chúa giáo đã được những người theo thuyết ngộ đạo Thiên Chúa xây dựng ở thế kỷ II và III, được A Ôrighien hình thành dưới hình thức hoàn chỉnh và được hình thành hoàn toàn trong học thuyết Ôgustanh (thế kỷ V) Ôgustanh hình thành hệ tư tưởng Thiên Chúa giáo như một hệ thống duy linh luận hoàn chỉnh Khác với phái Platôn mới đa thần giáo, theo Ôgustanh, Thượng đế là tinh thần có nhân cách sống vô hạn Cơ sở của các vật là bản nguyên tinh thần, do vậy, bản chất phải được biểu thị chỉ thông qua các khái niệm tinh thần mà Ôgustanh đưa vào triết học tư biện Trung cổ

Ôgustanh là người sáng lập ra nhị nguyên luận khắc kỷ Ông phân chia thế giới ra thành hai lĩnh vực không dung hoà được: những người được chọn do Chúa Giêsu đứng đầu và những người phạm tội mà ngay từ đầu đã buộc phải chết Do đó, có sự phân định như vậy giữa cái ác và cái thiện Theo học thuyết Ôgustanh, bản tính con người không có mầm mống nào của cái thiện

Ở mỗi đứa trẻ mới ra đời đều có dấu ấn của tội tổ tông, do vậy, nó nhất định

có thiên hướng thực hiện những hành vi phạm tội Vì những tội lỗi vô tình đó

mà con người phải chịu sự trừng phạt của Chúa Lẽ sống của con người là chạy trốn khỏi cuộc sống, khỏi ham muốn tự nhiên của mình và khỏi mọi niềm vui trong cuộc sống Giải thoát chỉ là chạy trốn khỏi mọi cái trần tục và

tự hành hạ: Ôgustanh đã trở thành quyền uy bất khả xâm phạm đối với thần học và triết học Trung cổ sơ kỳ

Từ thế kỷ VIII - IX, các tác phẩm của Aristốt bắt đầu thâm nhập vào châu

Âu Do đó, bên cạnh các vấn đề thần học thì các vấn đề triết học cũng được

Trang 21

đặt ra Triết học kinh viện hình thành Các nhà triết học kinh viện đặc biệt quan tâm tới triết học Aristốt Trong học thuyết Aristốt, họ tìm kiếm câu trả lời cho mọi vấn đề thắc mắc còn trong lôgíc học, quy tắc tiến hành tranh luận triết học kinh viện Thức tỉnh tư duy phê phán và sự quan tâm tới giới tự nhiên, học thuyết Aristốt lúc đầu đã bị truy nã từ phía giáo hội Nhưng triết học kinh viện cần cho giáo hội để luận chứng giáo lý và để đấu tranh chống lại kẻ thù của thần học Do vậy, ngay trong học thuyết Tômát Đacanh, giáo hội đã thử nghiệm hợp nhất triết học Aristốt với thần học, qua đó biến triết học thành tay sai của thần học Sự hợp nhất này đưa tới chỗ "Chủ nghĩa thầy tu

đã giết chết cái gì là sinh động ở Aristốt và làm thành bất tử cái gì đã chết rồi" [29, 389] "Lôgíc của Aristốt là nhu cầu, là sự cố gắng tìm tòi, là sự đến gần với

lôgíc của Hêghen, - nhưng từ lôgíc này của Aristốt (người mà bất cứ nơi nào,

cứ mỗi bước, đều đặt ra chính vấn đề phép biện chứng), người ta đã làm thành

một triết học kinh viện chết, bằng cách vứt bỏ tất cả cái gì là tìm tòi, là dao động, là cách đặt vấn đề" [29,391] Ngược lại, những điểm yếu của học thuyết Aristốt, trong đó sự dao động của ông giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm bộc lộ rõ nhất, đã hoàn toàn được đưa vào triết học kinh viện

Học thuyết Aristốt về linh hồn như hình thức của thể xác được sử dụng để luận chứng tính phi vật chất và bất tử của "linh hồn" Các nhà triết học kinh viện cố luận chứng niềm tin Thiên Chúa giáo một cách hợp lý Đồng thời họ cũng cố làm cho hệ giáo lý Cơ Đốc giáo trở thành hệ thống chân lý của lý tính trừu tượng Các nhà triết học kinh viện coi thường việc nghiên cứu giới tự nhiên Khi thảo luận một vấn đề thần học nào đó, họ sử dụng mọi luận điểm khẳng định và phủ định về vấn đề này của các cha cố hay của các nhà triết học cổ đại Theo họ, chân lý hiển nhiên ra đời trong cuộc tranh luận giữa "ủng hộ" và "phản đối" Các cuộc tranh luận được giải quyết nhờ kết hợp hài hoà giữa các nguyên tắc đối lập

Trang 22

Phương pháp cơ bản của triết học kinh viện là phép diễn dịch dưới hình

thức tam đoạn luận và phép quy nạp dưới hình thức tập hợp, khái quát lời nói của những người có quyền uy Được giáo hội phê chuẩn, học thuyết Tômát đã gặp phải nhiều sự phản bác ở bản thân các nhà triết học kinh viện Đ.Scốt nhấn mạnh sự mâu thuẫn giữa niềm tin và tri thức, giữa thần học và triết học Theo ông, cái là chân lý đối với triết học thì có thể là sai lầm đối với thần học Không thể chứng minh sự tồn tại của Chúa bằng luận cứ của lý tính mà còn phải coi Chúa là nguyên nhân tối hậu của thế giới Đ.Scốt chống lại tính trực quan của triết học kinh viện, ông chỉ ra rằng, không phải lý tính mà ý chí hoạt động sẽ đạt tới sự hoàn hảo tối cao Cuộc đấu tranh của các môn đệ Scốt chống lại các môn đệ của Tômát là nhằm giải phóng khoa học và triết học khỏi niềm tin và được tiến hành dưới chiêu bài của thuyết hai chân lý

Cuộc đấu tranh vì thế giới quan mới được phản ánh qua cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy thực và chủ nghĩa duy danh Thế giới mới này chỉ có thể

là thế giới quan duy vật và ở vào thời Trung cổ, nó được thể hiện dưới hình thức chủ nghĩa duy danh Chủ nghĩa duy danh là một trong các yếu tố đầu tiên của chủ nghĩa duy vật Anh và nói chung là biểu hiện đầu tiên của chủ nghĩa duy vật Vấn đề mà cuộc đấu tranh xoay quanh là vấn đề: cái gì là thứ nhất - khái niệm hay vật? Những người theo chủ nghĩa duy danh cho rằng, khái niệm chỉ là tên gọi của vật và tồn tại sau vật Ngược lại, những người theo chủ nghĩa duy thực khẳng định rằng, chỉ có khái niệm là thực tại, chúng tồn tại trước vật và sinh ra vật

b Khoa học và triết học thời Phục hưng

Sự phát triển của thương mại ở các thành phố bên bờ Địa Trung Hải ở cuối thế kỷ XIII đã góp phần làm tan rã nền kinh tế tự nhiên Ở các thành phố tự do ở Italia, nơi mà sự thống trị đã thuộc về giai cấp tư sản, những mầm mống đầu tiên của tri thức khoa học đã dần dần xuất hiện Nhưng bước ngoặt triệt để trong mọi mặt đời sống văn hoá và xã hội chỉ bắt đầu từ nửa sau thế kỷ XV

Trang 23

Đó là thời đại, khi mà "quyền lực nhà vua, dựa vào thị dân, đã đập tan thế lực của quý tộc phong kiến và lập ra những nước quân chủ lớn, chủ yếu dựa trên cơ sở dân tộc, trong đó các dân tộc châu Âu hiện đại và xã hội tư sản đã bắt đầu phát triển" [32; 458] Các cuộc viễn chinh đã mở ra cho người châu

Âu thấy được sự phong phú về khoa học và nghệ thuật của thế giới cổ đại mà các mẫu mực đầy sức sống phản ánh tính sáng tạo của các nhà khoa học, các nhà triết học Hy Lạp Người ta bắt đầu tìm kiếm ở đó mẫu mực để bắt chước trong mọi lĩnh vực tri thức và nghệ thuật Người châu Âu lần đầu tiên được tiếp xúc với các tác phẩm gốc của người Hy Lạp trong lĩnh vực khoa học, triết học và chúng đã làm cho họ phải kinh ngạc về tự do tư tưởng, về những kết luận độc đáo và táo bạo

Ăngghen viết về tình hình này: "Trong những sách viết tay còn sót lại khi thành Bidăngxơ bị diệt vong, qua những bức tượng cổ đào được ở các di chỉ của thành La Mã, một thế giới mới đã hiện ra trước mắt phương Tây kinh ngạc: đó là thời cổ Hy Lạp; trước những hình thức huy hoàng của nó, những bóng ma của thời Trung cổ đã biến mất; ở Italia bắt đầu một thời kỳ phồn vinh chưa từng có về nghệ thuật, nó xuất hiện giống như một ánh sáng phản chiếu của thời cổ điển và từ đó trở đi người ta không bao giờ thấy lại thời kỳ

ấy nữa Ở Italia, ở Pháp, ở Đức, một nền văn học mới, nền văn học hiện đại

đã xuất hiện; sau đó ít lâu, Anh và Tây Ban Nha, cũng có thời kỳ văn học cổ điển của mình Ranh giới của trái đất cũ bị phá vỡ; giờ đây, lần đầu tiên, người ta đã thật sự phát hiện ra trái đất, đặt nền móng cho buôn bán quốc tế sau này và để chuyển nền sản xuất thủ công sang sản xuất công trường thủ công, công trường thủ công này đến lượt nó lại trở thành điểm xuất phát của nền đại công nghiệp hiện đại Chuyên chính tinh thần của giáo hội bị đập tan;

đa số các dân tộc Giécmanh đã trực tiếp vứt bỏ nền chuyên chính đó và theo đạo Tin lành; còn trong các dân tộc La Mã thì một luồng tư tưởng tự do phóng khoáng tiếp thu được của người Ảrập và thấm nhuần tư tưởng triết học Hy Lạp

Trang 24

vừa mới được phát hiện, càng ngày càng ăn sâu, mọc rễ và chuẩn bị cho chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVIII" [32; 459]

Thế giới quan Phục hưng được đặc trưng bởi hai xu hướng: khát vọng về tư duy độc lập, không bị một quyền uy bên ngoài nào hạn chế và thiên hướng về chủ nghĩa tự nhiên tức là mong muốn nhận thức thế giới tự nhiên Sự quan tâm tới giới tự nhiên và các quy luật của nó là do lợi ích của thương mại hàng hải và của công trường thủ công quy định Khoa học cần cho giai cấp tư sản và khoa học trở thành ngọn cờ mà giai cấp tư sản đem đối lập với tư tưởng tôn giáo Đại biểu lớn của thời đại mới là Lêôna đờ Vanhxi Ông là một thiên tài đa diện: là một hoạ sĩ vĩ đại, nhà toán học, nhà vật lý học, kiến trúc sư, Ông là người sáng lập ra cơ học khoa học Theo ông, trái đất không phải là trung tâm của thế giới mà chỉ là một hành tinh của nó Ăngghen đã nói về các vĩ nhân thời này như sau: "Đó là một cuộc đảo lộn tiến bộ lớn nhất mà từ xưa tới nay, nhân loại đã trải qua; đó là một thời đại cần có những con người khổng lồ và

đã sinh ra những con người khổng lồ: khổng lồ về năng lực suy nghĩ, về nhiệt tình và tính cách, khổng lồ về mặt có lắm tài, lắm nghề và về mặt học thức sâu rộng Những người đã đặt cơ sở cho nền thống trị hiện đại của giai cấp tư sản có thể được coi bất cứ là những người như thế nào nhưng quyết không phải là những người có tính hạn chế tư sản Trái lại, ít nhiều họ đều có cái tinh thần phiêu lưu của thời đại họ cổ vũ Trong thời đại ấy, khó tìm ra được một nhân vật nào mà lại không từng đi chu du xa, không biết nói bốn, năm thứ tiếng và không nổi tiếng trong nhiều lĩnh vực sáng tạo, Những anh hùng thời ấy còn chưa bị nô dịch bởi sự phân công lao động mà tác động gây ra tính chất hạn chế, phiến diện như chúng ta rất thường thấy ở những người kế tục họ" [32; 459 - 460]

Việc Hutenbéc sáng chế ra máy in đã kéo theo việc xây dựng hàng loạt xưởng in ở Niurơbéc và Pari, chúng bắt đầu phát hành một số lượng sách lớn Trước đó, sách được chép tay, do vậy không được phổ biến rộng rãi Viết

Trang 25

sách là công việc của tu sĩ, điều này cho phép giới tăng lữ chỉ phổ biến tài liệu

có lợi cho họ In sách có nghĩa là phổ biến rộng rãi học vấn và dân chủ hoá tri thức Nhờ in sách mà thương gia và con cháu của họ có thể trở thành nhà tự nhiên học In sách trở thành công cụ mạnh mẽ trong tay giai cấp tư sản non trẻ đấu tranh chống lại sự thống trị về tinh thần của giai cấp phong kiến, vì việc phổ biến rộng rãi các văn bản gốc của người Hy Lạp trong quần chúng

đã cho phép giai cấp tư sản làm tăng số người ủng hộ mình và đoàn kết họ dưới lá cờ của mình Vai trò cách mạng của ngành in ấn còn thể hiện ở chỗ nó thủ tiêu sự độc quyền tư tưởng của giáo hội

Thuốc súng cũng đã đóng một vai trò tương tự Chỉ dựa vào hoả khí của thị dân thì chính quyền nhà vua mới có thể xuyên thủng được thiết giáp của phong kiến và trưởng thành của các lãnh địa, mới quét sạch được các pháo đài phong kiến

Việc sử dụng thuốc súng trong chiến tranh và việc phổ biến rộng rãi nghề

in sách thể hiện sự phá sản của tổ chức xã hội phong kiến Sự phát triển nhanh chóng của khoa học tự nhiên bắt đầu chính từ thời điểm này

Sự tích luỹ đáng kể tri thức thiên văn học ở thế kỷ XV cần được trình bày

về mặt lý thuyết và xây dựng một quan điểm chung về vũ trụ dựa trên chúng Hàng loạt quan sát mới đã không còn phù hợp với hệ thống Aristốt - Ptôlêmê

mà giáo hội bảo vệ Quan niệm trái đất trung tâm không thể đáp ứng được nhu cầu thực tiễn của giai cấp tư sản, do vậy, ngày càng có nhiều người lên tiếng chống lại nó

Hệ thống của Côpécníc có một ý nghĩa lớn đối với việc hình thành thế giới quan mới Ở thời Trung cổ, trung tâm của vũ trụ được coi là trái đất cấu thành

từ vật chất thô sơ Mặt độc ác và phủ định của vật chất thể hiện trên khắp trái đất Ở ranh giới của trái đất, nơi mà nó tiếp xúc với lĩnh vực cao hơn, vật chất được bản nguyên tinh thần đánh bại và biến thành khí ête trong sáng và thuần tuý Thế giới các bản chất tinh thần, thuần tuý nằm ở ngoài vũ trụ Các nhà

Trang 26

triết học kinh viện xem trái đất là đối tượng trông nom của Chúa, vì nó là nơi sinh sống của loài người tội lỗi, do vậy, cái ác và sự không hoàn hảo thống trị

ở đây

Ở Côpécníc, trái đất không còn là trung tâm của vũ trụ, trở thành một bộ phận của nó, một trong các hành tinh Bầu trời không còn đối lập với trái đất Bầu trời, nơi ngự trị sự hài hoà thần thánh giữa những thần linh sống ở đấy, hoá ra là một không gian vô cùng lớn, trong đó có các thế giới, giống như trái đất, chuyển động, cấu thành từ vật chất Từ quan niệm như vậy về vũ trụ đưa kết luận về tính vô hạn của vật chất, về sự thống nhất, về quy luật tự nhiên tác động trong vật chất

Các nhà triết học kinh viện coi con người là trung tâm lý tưởng của vũ trụ,

là tiểu vũ trụ thể hiện ý nghĩa nội tại của "cuộc sống trong vũ trụ" Côpécníc biến con người thành một sinh vật nhỏ bé ở trong một hành tinh trong vô số hành tinh xoay quanh mặt trời

Côpécníc đã đập tan quan niệm về thế giới do Giáo hội Thiên Chúa giáo xây dựng Học thuyết Côpécníc loại bỏ quan niệm về trái đất như trung tâm của vũ trụ và về vũ trụ được phân chia ra thành hai lĩnh vực đối lập: hạ giới và thượng giới Học thuyết Côpécníc khẳng định rằng, vật chất của vũ trụ là một

và như nhau ở mọi nơi, tức là không tồn tại hai thực thể - vật chất và tinh thần

- ở hai nơi khác nhau Theo Côpécníc, đối tượng của kinh nghiệm chỉ có thể

là thế giới vật chất Quan niệm của Côpécníc có một ý nghĩa khoa học và thế giới quan vô cùng quan trọng Ăngghen đánh giá ý nghĩa đó như sau: "Hành

vi cách mạng mà khoa học tự nhiên dùng để tuyên bố sự độc lập của mình và dường như lặp lại việc Luthe quẳng bức chiếu chỉ của giáo hoàng vào lửa, chính là việc xuất bản tác phẩm bất hủ trong đó Côpécníc, tuy với một thái độ rụt rè và có thể nói là chỉ trong khi hấp hối đã thách thức uy quyền của giáo hội trong các vấn đề của giới tự nhiên Từ đó trở đi khoa học tự nhiên mới bắt đầu được giải phóng khỏi thần học, mặc dù trong cuộc tranh chấp giữa hai

Trang 27

khoa học ấy trong một số vấn đề chi tiết vẫn còn kéo dài cho tới ngày nay và trong đầu óc nhiều người thì sự tranh chấp ấy vẫn còn lâu mới kết thúc Nhưng từ ngày đó, sự phát triển của các ngành khoa học cũng tiến được những bước khổng lồ" [32; 461]

Nối tiếp Côpécníc là những phát hiện vĩ đại của hàng loạt các nhà khoa học, những người đặt nền móng cho các bộ môn khoa học mới Đó là nhà vật

lý học người Anh Ginbéctơ (phát minh ra la bàn), là Galilê, là Tônicheli (người sáng lập ra thuỷ tĩnh học), Như vậy, khoa học ở thế kỷ XV - XVI đã đạt được những thành tựu to lớn, đã sản sinh ra các vĩ nhân - những người đặt nền móng cho các lĩnh vực tri thức khoa học mới Song đại bộ phận các nhà

khoa học vẫn đứng trên lập trường cũ Nguyên nhân của hiện tượng đó là, thứ

nhất, sự phản kháng vô vọng của giáo hội và sự trừng trị man rợ của giáo hội

đối với mọi cách tân, thứ hai, sự thiếu vắng một lý luận nhận thức hài hoà,

thứ ba, sự chủ yếu dựa vào các quyền uy cổ đại và sự chiếm ưu thế của suy

luận tư biện trong khoa học Quan điểm của các quyền uy cổ đại đã trở nên mâu thuẫn với tri thức kinh nghiệm tích luỹ được Sự phát triển của các khoa học và sự vận dụng thành công chúng vào thực tiễn chứng tỏ sự cần thiết của tri thức kinh nghiệm Nhưng để làm cho các nguyên tắc của tri thức kinh nghiệm trở thành tài sản của ý thức khoa học ở đại bộ phận giới khoa học thì cần phải có sự luận chứng lý luận cho một phương pháp mới Và chính Bêcơn

đã hoàn thành nhiệm vụ trọng đại này, ông đã luận chứng các nguyên tắc của tri thức kinh nghiệm với một mức độ sâu sắc hơn bất kỳ ai trước đó Việc nghiên cứu một cách có hệ thống các cơ sở lý luận của kinh nghiệm và của thí nghiệm là công lao của Bêcơn, chính điều này làm cho ông trở thành "ông tổ của mọi khoa học kinh nghiệm cận đại"

Triết học Bêcơn thay thế cho triết học Phục hưng, là sự mở đầu cho triết học cận đại Song đồng thời nó cũng bắt nguồn từ triết học Phục hưng Bêcơn

và các bậc tiền bối của ông đã bắt đầu từ chỗ hoài nghi những gì mà khoa học

Trang 28

và triết học kinh viện coi là bất di bất dịch Các nhà triết học Phục hưng đã gán cho tự nhiên các đặc điểm của Thượng đế Triết học Bêcơn là sự kế tục chủ nghĩa tự nhiên Phục hưng nhưng đã trên một cơ sở mới Đại bộ phận các nhà triết học Phục hưng coi nguồn gốc cơ bản của nhận thức là dữ liệu kinh nghiệm cảm tính mà cần được lý tính xử lý trước khi trở thành tri thức xác thực Bêcơn cũng có quan niệm tương tự, song ông coi cần phải trang bị công

cụ cho cảm tính, lôgíc quy nạp cho lý tính, vì ông không coi lý tính là xác thực một cách tiên nghiệm

Bêcơn cố gắng mở rộng học thuyết về giới tự nhiên, loại bỏ Thượng đế và các yếu tố thần bí ra khỏi nó, thiếu điều đó thì không thể xây dựng được chủ nghĩa duy vật cận đại Chỉ bằng con đường xây dựng phương pháp nhận thức mới và loại bỏ yếu tố thần bí ra khỏi giới tự nhiên thì mới có thể đi theo con đường đấu tranh thật sự chống thói tư biện trong khoa học và triết học Biến triết học từ hệ thống thành lôgíc học, kinh tế trực quan thành khoa học khám phá - đó là nhiệm vụ cơ bản của triết học Bêcơn

Bêcơn về cơ bản đã giải quyết xong nhiệm vụ này cho thời đại của mình

Do vậy, ông trở thành ông tổ chân chính của chủ nghĩa duy vật Anh hiện đại

và nói chung là của khoa học kinh nghiệm cận đại Song Bêcơn không thể khắc phục được hoàn toàn các yếu tố của chủ nghĩa thần bí thời Phục hưng

1.1.3 Cuộc đời và sự nghiệp của Bêcơn

Phranxít Bêcơn - "ông tổ đích thực của chủ nghĩa duy vật Anh và của các khoa học kinh nghiệm hiện đại nói chung" - sinh ngày 22 tháng 1 năm 1561, tại Luânđôn, trong gia đình huân tước Nicôlai Bêcơn

Cha của Phranxít thuộc tầng lớp trên của tầng lớp quan lại Anh, được chế

độ chuyên chế của triều đại Tuđôrơ trợ cấp Mẹ của Ph.Bêcơn, Anna Cook xuất thân từ một gia đình quan lại lớn, là một phụ nữ có học vấn, biết rất tốt tiếng Hy Lạp, am hiểu thần học, có tư tưởng tự do Nhà của Bêcơn là nơi xum họp thường xuyên của các đại biểu tiến bộ của tầng lớp tư sản Luânđôn và

Trang 29

quan lại cao cấp Người thân và bạn bè của Ph.Bêcơn thuộc về giai cấp non trẻ - giai cấp tư sản, giai cấp đang vươn tới quyền lực và đang trải qua cơn sốt tích luỹ ban đầu rất thuận lợi

Ph.Bêcơn bộc lộ rất sớm năng lực trí tuệ kỳ lạ và lòng ham hiểu biết rất lớn Vào năm 13 tuổi (1573), Bêcơn nhập học tại Đại học Tổng hợp Cambrigdơ, tại đây ông học 3 năm Tại Đại học Tổng hợp, ông nghiên cứu thần học và triết học Khi đó ông đã nung nấu tư tưởng phải có bước chuyển biến triệt để trong toàn bộ

hệ thống tri thức khoa học mà thời đó gần như là vô ích đối với thực tiễn của giai cấp tư sản Anh

Sau khi tốt nghiệp đại học, Bêcơn chuyển tới sống ở Pari Tại đây ông được tiến cử với sứ quán Anh, sứ quán đã đưa ông vào thành phần sứ quán và giao cho ông một số nhiệm vụ ngoại giao Vì Pari thời đó đã là một trung tâm chính trị lớn của châu Âu nên Bêcơn có khả năng làm quen với các đảng phái chính trị khác nhau và tạo ra cho mình quan niệm về kinh tế của các nước châu Âu riêng biệt và về tính chất của chế độ chính trị thống trị ở đấy Vốn là một nhà ngoại giao trẻ tuổi, song Bêcơn đã làm cho mọi người phải ngạc nhiên về những quan sát tinh vi, những đánh giá chính trị tinh tế và sắc sảo Sau khi kết thúc cao đẳng pháp lý, Bêcơn nhận được việc làm tại đó Làm việc trong lĩnh vực khoa học pháp lý, ông cố gắng luận chứng nó về mặt lý luận và loại bỏ các yếu tố Trung cổ

Chẳng bao lâu, Bêcơn được bổ nhiệm làm cố vấn đặc biệt của Nữ hoàng Chức trách này đặt lên vai ông nghĩa vụ tư vấn pháp lý về ngân khố, phải bảo

vệ lợi ích của hoàng gia trong các vụ án Sau đó, ông trở thành đại biểu của

Hạ nghị viện Trong Hạ nghị viện, ông giữ lập trường của giai cấp tư sản Ông đòi hỏi cải cách triệt để luật dân sự, loại bỏ thói chuyên quyền của quan lại, thủ tiêu các tàn dư của quan hệ pháp luật phong kiến Ông đấu tranh cho việc xây dựng bộ luật dân sự tư sản Tư tưởng của Bêcơn đã bị Thượng nghị viện thẳng thừng bác bỏ

Trang 30

Bêcơn tìm cho mình người bảo trợ là bá tước Etxétxơ Bá tước tặng cho Bêcơn một thái ấp ở gần Luânđôn Lẩn tránh trong thái ấp của mình, Bêcơn hăng say lao vào nghiên cứu khoa học Kết quả là ông cho xuất bản tác phẩm

Kinh nghiệm, trong đó, ông trình bày quan điểm của mình về các vấn đề đạo

đức và chính trị Bêcơn đứng lên chống lại sự thông thái trong ngôn ngữ “từ ngữ chỉ là hình ảnh của vật thể, bị hấp dẫn bởi từ ngữ là bị hấp dẫn bởi một bức tranh” [30; 93] và thay thế cho các nguyên tắc siêu hình học trừu tượng, ông khuyên mọi người nên xuất phát từ kinh nghiệm, nên quan sát cuộc sống và con người như là họ tồn tại trong hiện thực, nên tuân theo các tri thức ấy để dạy con người trở thành người thiện, chứ không nên gán ép cho con người những nguyên tắc khó hiểu, không truyền bá thứ đạo đức trừu tượng và tưởng tượng

Giai đoạn từ năm 1603 đến năm 1623 là thời kỳ hoạt động khoa học phát triển cao nhất của Bêcơn Những tư tưởng nung nấu từ lâu về sự phục hồi các khoa học được ông trình bày dưới dạng hàng loạt tác phẩm công bố Năm

1605, Bêcơn cho xuất bản tác phẩm Về thắng lợi của các khoa học mà sau khi sửa chữa lại vào năm 1623, đã xuất bản với tên gọi Về ưu điểm và sự hoàn

thiện của các khoa học Cũng trong năm này, ông công bố Bách khoa thư tri thức Năm 1610, ông xuất bản Lược khảo về sự thông thái của người cổ

Trong những năm này, Bêcơn công bố hàng loạt nghiên cứu về những vấn đề

riêng biệt của khoa học tự nhiên: Mô tả thế giới trí tuệ, Lược khảo về phân

loại khoa học, Hệ thống thiên thể, Tiểu luận về các nguyên tắc và các cơ sở,

Cuối cùng, vào năm 1620, ông công bố tác phẩm chính của mình - Organon

mới, "mới" tức là trái ngược với "Organon" của Arixtốt Ông dành tác phẩm

này cho Vua Giacốp đệ Nhất mới lên ngai vàng sau khi Êlidabét mất

Organon mới cấu thành từ hai phần Trong phần thứ nhất, Bêcơn phê phán

dữ dội sự bí ẩn của triết học kinh viện, chỉ ra tính vô ích của khoa học phòng giấy, tách rời thực tế và tính vô bổ của phép suy diễn kinh viện Trong phần thứ hai, ông trình bày bản chất của phương pháp quy nạp của mình Việc công

Trang 31

bố Organon mới đã gây được một tiếng vang lớn và đã đem lại cho tác giả

của nó một vinh quang lừng lẫy Cùng với vinh quang của nhà triết học, người cải tạo các khoa học và người sáng lập ra khoa học kinh nghiệm thì con đường thăng quan tiến chức của Bêcơn cũng diễn ra rất nhanh chóng Sau khi Giacốp lên ngôi, vào năm 1604, Bêcơn nhận được chức vụ luật sư hoàng gia, vào năm 1607 - danh hiệu kiểm sát trưởng, còn ngày 7 tháng 3 năm 1617 - danh hiệu huân tước - người giữ quốc ấn Chẳng bao lâu ông được bổ nhiệm vào địa vị cao nhất trong nhà nước, huân tước - thủ tướng

Ngày 2 tháng 4 năm 1626, trong lúc làm thí nghiệm để kiểm tra tác động của không khí lạnh như nhân tố làm chậm sự phân huỷ, Bêcơn đã bị cảm nặng Sau tám ngày mắc bệnh, ngày 9 tháng 4 năm 1626, Bêcơn đã tạ thế ở tuổi 66

Tên tuổi và sự nghiệp khoa học của Bêcơn mãi mãi đi vào lịch sử của nhân loại như là ông tổ của các khoa học kinh nghiệm và là người sáng lập ra triết học duy vật Cận đại Đánh giá sau đây của Ph.Ăngghen là hoàn toàn có thể áp dụng được vào Ph.Bêcơn: "Đó là cuộc đảo lộn tiến bộ nhất mà từ xưa tới nay, nhân loại đã trải qua; đó là một thời đại cần có những con người khổng lồ và đã sinh ra những con người khổng lồ: khổng lồ về năng lực suy nghĩ, về nhiệt tình và tính cách, khổng lồ về mặt có lắm tài, lắm nghề và về mặt học thức sâu rộng, Nhưng cái làm cho họ nổi bật lên là ở chỗ họ hầu hết đều hoàn toàn hoà mình vào phong trào của thời họ, họ tham gia sôi nổi vào cuộc đấu tranh thực tế, họ tham gia các chính đảng và chiến đấu, người thì dùng lời nói và cây bút, người thì dùng lưỡi kiếm và nhiều người thì dùng cả hai cách Do đó, họ có một tính cách phong phú và kiên cường khiến cho họ trở thành những con người toàn diện Những nhà bác học bàn giấy là những ngoại lệ" [32; 459 - 461]

1.2 Quan niệm của Bêcơn về các nhiệm vụ cơ bản của triết học và của khoa học

Trang 32

Bêcơn phê phán các cơ sở của khoa học và triết học kinh viện Ông nhận thấy nhiệm vụ trung tâm của triết học của ông là ở việc xây dựng một phương pháp mới để nhận thức hiện thực vật chất, để xem xét lại toàn diện các khoa học dựa trên phương pháp đó Triết học và lôgíc học có ý nghĩa thực tiễn và theo Bêcơn, không được trở thành hệ thống các chân lý bất biến và không được đưa ra "cả thủ thuật đặc biệt, lẫn công thức tỉ mỉ" Ông xác định triết học của mình như sau: "Organon của chúng tôi không hơn gì lôgíc học, chứ không phải là một hệ thống triết học" [5; 300] Nhiệm vụ thực tiễn của lôgíc học là ở việc "định hướng tư duy của chúng ta và ở việc dạy nó không bám vào những

sự trừu tượng trống rỗng, không chạy theo những ảo tưởng giống như lôgíc học được sử dụng phổ biến mà là ở việc phân tích giới tự nhiên, ở việc phát hiện ra những đặc tính đích thực của các vật, những tác động của chúng và những quy luật hoàn toàn xác định trong vật chất, tóm lại, là ở việc xây dựng một khoa học không những xuất phát từ bản chất của lý trí mà còn xuất phát

từ bản chất của bản thân các sự vật" [5; 301]

Theo Bêcơn, triết học kinh viện là "đầy tớ" của thần học Bêcơn đặt ra vấn

đề tách biệt hoàn toàn triết học khỏi thần học và bắt triết học phục tùng nhiệm

vụ thực tiễn là nghiên cứu giới tự nhiên Triết học phải cho phép tạo dựng sự

hùng mạnh và sự vĩ đại của con người trên các cơ sở vững chắc, phải cho phép mở rộng quyền lực của con người đối với giới tự nhiên Việc xem xét lại toàn diện toàn bộ tri thức khoa học phải đưa tới chỗ xây dựng được một khoa học mới, khoa học xuất phát từ thực tiễn, phục tùng các mục đích thực tiễn, khoa học có hiệu lực, có khả năng phục vụ mục đích sáng chế ra công cụ lao động và nghiên cứu khoa học

Bêcơn đả phá các nhà khoa học chỉ ngồi trong văn phòng của mình, xa rời thực tế và rút ra các kết luận của mình từ những khái niệm trừu tượng, chứ không phải là từ những sự kiện: "Người ta chiêm ngưỡng tự nhiên như từ trên một cái tháp cao và quá thoả mãn với sự quan sát hời hợt Nếu họ đồng ý tụt

Trang 33

xuống, đến với các sự kiện riêng biệt, xem xét chính các vật thể ấy một cách chăm chú và kiên nhẫn hơn thì họ sẽ có được những hiểu biết thực tế và hữu ích hơn Như vậy, phương tiện loại bỏ sự bất tiện ấy không những là ở việc kiện toàn bản thân giác quan mà còn là ở việc đưa nó lại gần đối tượng" [5; 301] Bêcơn không phủ định tác dụng to lớn của lý tính, của lý luận trong việc nhận thức giới tự nhiên: "Sự sáng suốt và tinh vi của trí tuệ có một tác dụng to lớn trong việc nghiên cứu vật chất đa dạng và các hình thức phong phú của vật" [5; 301] Bêcơn đặt ra cho mình nhiệm vụ hạ thấp một chút lý tính được

đề cao vô tận ở thời Trung cổ Theo ông, cần phải hạn chế quyền hạn của lý tính và ngược lại, cần phải mở rộng quyền hạn của khoa học kinh nghiệm Cần phải xoá bỏ tình trạng không cho phép, làm cho khoa học trở nên vô dụng, khi mà các khái niệm được rút ra không phải từ sự kiện, mà là từ các khái niệm khác bằng con đường suy luận tư biện và trừu tượng Cần phải tạo

ra sự thống nhất khăng khít giữa lý luận và thực tiễn thay cho sự tách rời lý luận với thực tiễn đã hình thành trong lịch sử, điều đó có lợi cho cả lý luận lẫn thực tiễn "Chúng tôi hy vọng dung hoà được mãi mãi, một cách vững chắc và hợp quy luật, phương pháp kinh nghiệm với phương pháp lý tính, mà sự tách rời bất hạnh và sự bất đồng đáng tiếc vẫn làm cho nhân loại phải phẫn nộ" [5; 317] Với công thức này thì Bêcơn muốn đặt cơ sơ cho khoa học kinh

nghiệm, khoa học thể hiện "ở chỗ dùng phương pháp lý tính để xem xét tài

liệu cảm tính" [31; 195] Theo Bêcơn, mặc dù có sự phong phú bề ngoài, song các nhà khoa học đương thời rất là nghèo nàn Các khoa học luôn lặp lại một điều từ năm này qua năm khác, chúng chỉ thay đổi hình thức trình bày tài liệu, chứ không thay đổi nội dung của nó

Các khoa học được tiếp nhận từ người Hy Lạp còn nằm ở trạng thái phôi thai và giống như trẻ con tán ngẫu nhiều hơn là có nội dung sâu sắc Các khoa học có những khái quát nhưng chúng không áp dụng được vào thực tiễn, vì chúng không có căn cứ thực tiễn Tính vô bổ của các khoa học thể hiện rõ qua

Trang 34

tính bất biến của chúng Trong các khoa học chỉ có thầy và trò mà lại không

có người sáng chế Triết học và khoa học giống như bức tượng: Người ta cúi đầu trước chúng, song không cải biến chúng, do vậy chúng là bất động Các nhà khoa học tuyên bố không thể khám phá ra nguyên nhân, nói về sự phức tạp của thế giới và sự bất lực của trí tuệ con người, về những gì mà họ coi là không nhận thức được "Khoa học có đầy rẫy những cuộc tranh luận và có rất

ít sự kiện Khoa học là tổ hợp lộn xộn của những chân lý tầm thường" [4; 64] Bêcơn ủng hộ việc phá huỷ khoa học cũ và xây dựng khoa học mới Ông chống lại bất kỳ sự thoả hiệp nào với khoa học cũ, chống lại những người xây dựng cái mới dựa trên cơ sở cũ, chống lại những nhà khoa học "muốn đem lại cho mình bộ mặt khiêm tốn nhờ phục tùng các ý kiến phổ biến" [4; 64] Những người như vậy hoàn toàn không làm cho khoa học phát triển "Do thái

độ tôn trọng đối với ý kiến và tập tục hiện tồn gây ra, tất cả những sự quan tâm ấy đến việc bảo vệ thái độ trung dung đều biến thành một tai hại to lớn" [4; 64] Như vậy, đối với phương pháp nhận thức và cải tạo khoa học thì Bêcơn thể hiện là một người cách mạng đích thực, người ý thức được rằng, chỉ có thể xây dựng được khoa học mới trên mảnh đất đã được dọn sạch khỏi các khái niệm và phương pháp luận trước kia Đồng thời ông cũng không phủ định những gì là tích cực đã được tích luỹ trong khoa học Ông chỉ coi trọng những gì là kết quả của trực giác cảm tính, của quan sát Mọi phát minh trước

đó chỉ là những phát minh ngẫu nhiên Bêcơn đặt ra vấn đề thay thế phát minh

ngẫu nhiên bằng phát minh có chủ ý Theo ông, đó là nhiệm vụ cơ bản của

khoa học và đó cũng là đặc điểm khác biệt của khoa học mới

Các nhiệm vụ mới của khoa học đòi hỏi phải cải cách triệt để nhận thức của con người, đòi hỏi phải xây dựng một phương pháp nhận thức mới "Để tiếp cận được với các hiện tượng xa xôi, thầm kín nhất của giới tự nhiên thì cần phải phát hiện ra, nắm bắt được một phương thức đúng đắn hơn và hoàn hảo hơn để điều khiển lý tính của con người" [4; 67] Đặt ra cho mình nhiệm

Trang 35

vụ trở thành khoa học phát minh, khoa học phải trang bị cho mình một phương pháp nhận thức hoàn hảo - lôgíc học phát minh Đứng trước các khoa học kỹ thuật có công cụ thì lý tính chỉ như một anh thợ có kỹ thuật thô sơ -

phép quy nạp và tam đoạn luận Trung cổ Do vậy, theo Bêcơn, lôgíc học mới

cần phải trang bị lại cho mọi khoa học và đưa tinh thần phát minh vào chúng Bêcơn cố gắng nắm bắt và kiện toàn tinh thần phát minh của con người về mặt triết học Triết học của ông không chịu đựng nổi tính tối hậu của hệ thống, sự ràng buộc của trường phái, tính phổ biến và đầy đủ của lý luận Phương pháp phát minh là công cụ mà Bêcơn muốn trang bị cho khoa học và làm cho khoa học trở nên có khả năng thống trị thế giới Theo Bêcơn, con người phải cố gắng chinh phục và thống trị giới tự nhiên, điều này ngày càng trở nên có thể nhờ nhận thức được giới tự nhiên và các quy luật của nó Con người có khả năng ở chừng mực mà nó nhận thức được giới tự nhiên

Nhận thức giới tự nhiên là cần thiết để phát minh Con đường dẫn tới đó là kinh nghiệm nhưng không phải là mọi kinh nghiệm, mà chỉ có kinh nghiệm khoa học Cần phải nghiên cứu các quy luật của giới tự nhiên để tự giác vận dụng và sử dụng chúng trong phát minh Khoa học về tự nhiên phải là mẹ đẻ của mọi khoa học: sức mạnh và tri thức là trùng hợp, "tri thức và sức mạnh của con người hoàn toàn phù hợp với nhau và hướng tới cùng một mục đích" [5; 15] Sự không nhận thức được nguyên nhân không cho phép chúng ta hành động đúng đắn "Sự không nhận thức được nguyên nhân không cho phép chúng ta sử dụng các kết quả của khoa học" [5; 15] "Chiến thắng tự nhiên chỉ có thể bằng cách phục tùng nó" [5; 15] và các quy luật của nó Như vậy, việc nghiên cứu nguyên nhân của các hiện tượng tự nhiên cho phép làm chủ các quy luật của tự nhiên, thiếu điều đó thì không thể có khoa học tích cực, khoa học đặt cho mình nhiệm vụ là phát minh Bêcơn chế nhạo các nhà triết học kinh viện Trung cổ mà khi chạy theo những nguyên nhân vĩnh cửu

và tối hậu, không nghiên cứu các nguyên nhân gần, không phát hiện ra các

Trang 36

quy luật của tự nhiên mà gán cho nó các quy luật được tách ra từ những khái niệm thuần tuý bằng con đường lôgíc

Theo Bêcơn, không thể có tri thức trừu tượng có giá trị tự thân mà không

có ích lợi thực tiễn Mọi cái hiện hữu đều xứng đáng được nhận thức và cần được nhận thức Không có đối tượng cao siêu và không xứng đáng với khoa học: "Cái gì xứng đáng với sự tồn tại thì cũng xứng đáng với khoa học, khoa học chỉ là sự phản ánh của hiện thực" [5; 97]

Khoa học cần được dân chủ hoá và từ đặc quyền của một số ít người được chọn thì phải trở thành khoa học của quần chúng Định hướng này phù hợp với lợi ích của giai cấp tư sản đang cần làm tăng số lượng chuyên gia trong mọi lĩnh vực tri thức: "Nếu có các hình thức chính trị khác nhau thì chỉ có một hình thức đối với các khoa học Hình thức này đã, đang và sẽ luôn là hình thức nhân dân" [4; 63]

Bêcơn đồng thời cũng đặt ra vấn đề phát triển tri thức lý luận khi nhấn mạnh rằng, không nên dừng lại ở những thành tựu của người cổ đại, cần phải tiến lên nữa Theo ông, sự trang bị lại lý luận và sự phát minh căn cứ trên đó phải trở thành cơ sở cho sự tiến bộ kỹ thuật, cho sự gia tăng của cải và cho sự thịnh vượng chung Được Bêcơn nêu ra, vấn đề trang bị lại lý luận đòi hỏi phải xem xét lại triệt để các khái niệm thống trị trong khoa học đương thời với ông Vậy nguyên nhân là ở đâu?

Bêcơn nhận thấy nguyên nhân thứ nhất là ở chỗ tri thức khoa học không

phải bao giờ cũng có những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của mình, vì

"giống như không gian, thời gian lịch sử cũng có những "sa mạc" Theo ông, trong lịch sử kéo dài 2500 năm của nhân loại thì chỉ có 600 năm tạo điều kiện thuận lợi cho khoa học phát triển 600 năm đó được chia ra làm ba thời kỳ, mỗi thời kỳ kéo dài khoảng 200 năm: thời kỳ thứ nhất ở Hy Lạp, thời kỳ thứ hai ở La Mã và thời kỳ thứ ba ở Tây Âu hiện đại" [5; 55] Mặc dù Bêcơn không vạch ra thực chất của điều kiện thuận lợi ấy, song việc ông đặt các đặc

Trang 37

điểm của thời đại lên vị trí hàng đầu trong số nguyên nhân quyết định sự phát triển yếu kém của khoa học, cũng chứng tỏ ông là một nhà duy vật Song khi

đó cần lưu ý rằng, Bêcơn hiển nhiên đã không hiểu được nội dung, tác dụng thật sự của các điều kiện kinh tế - xã hội đối với sự phát triển của khoa học

Nguyên nhân thứ hai quyết định sự lạc hậu của khoa học, theo Bêcơn, là

sự phát triển không đầy đủ của khoa học tự nhiên "Ở hàng thứ hai là nguyên nhân có ảnh hưởng to lớn ở mọi thời đại và mọi quốc gia: Lịch sử tự nhiên chỉ tham gia không đáng kể vào hoạt động của con người Trong khi cần phải xem khoa học bị khinh thường ấy như là mẹ đẻ của mọi khoa học khác" [5; 56] Theo ông, thời Trung cổ rất có lỗi trong việc loại bỏ khoa học tự nhiên Vào thời đó, những người tài năng hiến mình cho việc nghiên cứu thần học, một số người đơn độc nghiên cứu khoa học tự nhiên, thậm chí họ không có đủ điều kiện vật chất để làm công việc ấy cả đời Thay vì trở thành cơ sở của mọi

cơ sở, "người mẹ vĩ đại của mọi khoa học, nó bị hạ thấp một cách nhục nhã xuống địa vị hèn kém của kẻ đầy tớ" [5; 57] Ở thời hiện đại, theo Bêcơn, cần phải bảo đảm sự phát triển mạnh mẽ của khoa học tự nhiên mà mọi khoa học

sẽ phải xích lại gần nhau trên cơ sở đó

Nguyên nhân thứ ba quyết định sự lạc hậu của khoa học là sự thiếu vắng

mục đích công việc rõ ràng ở các nhà khoa học và là sự sai lầm của bản thân phương pháp nghiên cứu Nếu mục đích thực sự và chân chính của khoa học

là "làm phong phú cuộc sống con người nhờ những phát minh thật sự, tức là nhờ những phương tiện mới" [5; 58], còn nhà khoa học đòi hỏi phải trung thành với khoa học thì thực tế lại cho thấy một bức tranh trái ngược Các nhà khoa học là một đám đông những người ích kỷ, rất ít suy nghĩ tới việc làm phong phú loài người nhờ những phát minh mà chủ yếu quan tâm tới lợi ích

và danh vọng cá nhân Với tư cách đại diện của giai cấp tư sản, Bêcơn mơ ước về giới tri thức có quan hệ mật thiết với giai cấp của ông Ông gọi khinh

Trang 38

bỉ các nhà khoa học kinh viện là những người làm thuê, dường như nhấn mạnh công việc nhạt nhẽo của họ do tách rời cuộc sống

Theo Bêcơn, phương pháp nghiên cứu của các nhà khoa học kinh viện là phương pháp sai lầm, vì nó căn cứ trên sự tư biện và coi thường dữ kiện kinh nghiệm cảm tính Ông nhận thấy biến thể thứ nhất của phương pháp này là ở chỗ "bất kỳ ai có kỳ vọng phát minh trước hết đều bới tìm trong mọi cuốn sách và thu thập tất cả những gì viết về đối tượng người đó quan tâm; sau đó, ông ta làm cho kết quả suy ngẫm của mình kết hợp được với những điều ấy, cuối cùng, ông ta tra tấn bộ não của mình, đòi hỏi nó phải có những tiên tri; cái gì có thể kém vững chắc và mạo hiểm lớn hơn là những phát minh tưởng tượng này, những phát minh căn cứ duy nhất trên những sự tư biện" [5; 59] Những người khác dựa vào phép biện chứng (nghệ thuật tranh luận, chứ không phải lý luận phát triển) mà theo Bêcơn, "ngoài tên gọi, hoàn toàn không

có quan hệ gì với đối tượng xem xét" [5; 60] Các nhà khoa học này không phát hiện ra những nguyên tắc và tiên đề, tức những cái là nhiệm vụ của khoa học, mà chỉ tạo ra vẻ bề ngoài của những nguyên tắc ấy bằng con đường tranh luận về ngôn từ Cuối cùng, có những người ủng hộ cái gọi là kinh nghiệm thuần tuý, kinh nghiệm mang tính chất ngẫu nhiên Những khiếm khuyết của kinh nghiệm như vậy là ở chỗ nó mang tính ngẫu nhiên, không được tính toán kỹ từ trước, không có phương pháp khoa học đúng đắn Theo Bêcơn, kinh nghiệm thật sự phải được cân nhắc kỹ, phải là "kinh nghiệm khôn khéo", dựa vào đó mà người

ta rút ra các tiên đề, xuất phát từ đó mà người ta xây dựng các kinh nghiệm mới Kinh nghiệm chân chính đã bị ruồng bỏ ở thời Trung cổ Người ta có thái độ trịch thượng đối với nó khi cho rằng, kinh nghiệm cảm tính hạ thấp con người bằng cách buộc con người phải cúi mình trước vật chất thô thiển

Ngoài ra, theo Bêcơn, một nguyên nhân kìm hãm sự phát triển của tri thức khoa học là sự sùng bái mù quáng đối với người cổ và uy tín của nhà khoa học hiện đại Sự sùng bái đối với người cổ là vô căn cứ vì tri thức của họ là hạn chế

Trang 39

so với thời hiện đại và "một điều đáng sỉ nhục đối với nhân loại là sau khi khám phá ra biết bao đất nước, vùng đất và biển cả, thiên thể mà bây giờ lại trói buộc thế giới trí tuệ trong lĩnh vực những phát minh hạn hẹp của người cổ" Người ta quên rằng, thời gian là kẻ sáng tạo ra tất cả và "chân lý là con đẻ của thời gian, chứ không phải là con đẻ của quyền uy" [5; 64] Sự sùng bái đối với quyền uy làm cho con người đánh mất năng lực quan tâm tới giới tự nhiên và tiếp xúc với những hiện tượng của nó Theo Bêcơn, những phát minh mà các nhà khoa học đương thời lấy làm tự hào, chỉ căn cứ trên tri thức về vài quy luật của giới tự nhiên còn những điều có trong sách thì chỉ là những chân lý sơ đẳng, được trình bày một cách giáo điều Chính cách trình bày như vậy làm cho người ta có cảm tưởng là mọi vấn đề đều đã được giải quyết dứt khoát, chỉ cần khuôn tri thức theo các lược đồ có sẵn, mà không cần quan tâm tới kinh nghiệm Do đó, khoa học dậm chân tại chỗ, đánh mất bản chất phát minh của mình

Một trở ngại nữa trong sự phát triển của khoa học, theo Bêcơn, là tình hình khoa học tự nhiên buộc phải xung đột với những điều mê tín dị đoan Bêcơn buộc tội các nhà triết học kinh viện đã xây dựng thần học như một khoa học, trong đó họ hoà tan triết học và loại bỏ tất cả những gì có liên quan tới đổi mới

và phát minh Ông phê phán các nhà thần học một cách thận trọng khi giữ lập trường của thuyết hai chân lý Ông lên án các nhà thần học áp dụng các phương pháp nghiên cứu bí ẩn của Chúa vào việc nhận thức bí ẩn của tự nhiên và qua

đó lẫn lộn lĩnh vực thần thánh với lĩnh vực vật lý Theo Bêcơn, những phát minh trong lĩnh vực tự nhiên không thể làm lung lay niềm tin, sự phát triển của triết học mới hoàn toàn không thể làm phương hại đến giáo hội, vì "triết học tự nhiên là phương tiện phòng ngừa vững chắc nhất chống lại mê tín dị đoan và là đầy tớ từng trải nhất của niềm tin" [5; 71]

Muốn đề cao uy tín của khoa học, thu hút những người trẻ tuổi và có tài làm khoa học, Bêcơn viện vào người Hy Lạp cổ mà theo ông, đánh giá cao công lao của các nhà khoa học và các nhà sáng chế: "Những phát minh hữu

Trang 40

ích và những sáng chế tuyệt hảo giữ vị trí thứ nhất trong những việc làm của con người; đó là ý kiến của người cổ" [5; 106] Nếu thành tựu chính trị thường có liên quan tới một nước thì các phát minh khoa học trở thành tài sản của toàn bộ thế giới

Theo Bêcơn, giống như trong sản xuất, trong khoa học cũng cần phải có

sự phân công lao động nhằm mục đích nâng cao số lượng và tính đa dạng của những nghiên cứu về tự nhiên Những người làm khoa học từ trước tới nay hoặc là những người theo chủ nghĩa kinh nghiệm hoặc là những người theo chủ nghĩa giáo điều Những người theo chủ nghĩa kinh nghiệm là giống như những con kiến thu thập được nhiều tư liệu và sử dụng chúng dưới dạng không xử lý; những người theo chủ nghĩa duy lý là giống như con nhện tự nhả

tơ ra; nhận thức hợp lý, theo Bêcơn, cần phải giống như con ong thu thập tài liệu từ hoa và làm trong sạch, xử lý nó bằng sức mạnh của mình Về những người theo chủ nghĩa giáo điều thì họ chỉ sử dụng những ví dụ và sự kiện riêng biệt như lính gác để đề phòng đám đông và trình bày giáo lý của mình Như vậy, những khái niệm mà khoa học mổ xẻ, là không đạt yêu cầu, vì chúng không phản ánh hiện thực khách quan Chúng là không đạt yêu cầu ở những người theo chủ nghĩa giáo điều vì chúng là sản phẩm của "tư duy thuần tuý", bị tách rời hay có liên hệ không đầy đủ với sự kiện Chúng là không đạt yêu cầu ở những người theo chủ nghĩa kinh nghiệm, vì họ đưa ra các khái quát vội vàng dựa trên số lượng sự kiện và quan sát ít ỏi

Cần phải tập hợp một số lượng lớn sự kiện, quan sát để luận chứng các khái niệm một cách duy vật và để đưa một nội dung mới vào chúng Đồng thời cũng cần làm trong sạch ý thức khỏi những thiên kiến cũ và những khái niệm sai lầm, không căn cứ trên sự kiện mà Bêcơn gọi là "ngẫu tượng" Theo Bêcơn, việc loại bỏ "ngẫu tượng" là cần thiết để quá trình nhận thức cái mới không bị xuyên tạc do có những quan niệm sai lầm trước đấy, vì bất kỳ khái niệm mới nào cũng hình thành trong sự liên tưởng với những quan niệm hiện

Ngày đăng: 24/03/2015, 08:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dr. Mortimer J. Adler (2004), Những tư tưởng lớn từ những tác phẩm vĩ đại, Nxb Văn hóa Thông tin, H, do Mai Sơn, Phạm Viêm Phương dịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những tư tưởng lớn từ những tác phẩm vĩ đại
Tác giả: Dr. Mortimer J. Adler
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2004
2. Lý Chấn Anh (2007), Nghiên cứu triết học cơ bản, Người dịch: Nguyễn Tài Thư, Nxb Tri thức, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu triết học cơ bản
Tác giả: Lý Chấn Anh
Nhà XB: Nxb Tri thức
Năm: 2007
3. Trịnh Đình Bảy (2003), Niềm tin và xây dựng niềm tin khoa học, Nxb Chính trị Quốc gia, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niềm tin và xây dựng niềm tin khoa học
Tác giả: Trịnh Đình Bảy
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
4. Ph.Bêcơn (1977), Tác phẩm, tập 1, Nxb Tư tưởng, M (Tham khảo bản dịch của PGS.TS. Đỗ Minh Hợp) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm
Tác giả: Ph.Bêcơn
Nhà XB: Nxb Tư tưởng
Năm: 1977
5. Ph.Bêcơn (1978), Tác phẩm, tập 2, Nxb Tư tưởng, M (Tham khảo bản dịch của PGS.TS. Đỗ Minh Hợp) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm
Tác giả: Ph.Bêcơn
Nhà XB: Nxb Tư tưởng
Năm: 1978
6. Francis Bacon, New Organon, published by the press syndicate of the university of Cambridge, 2000, edited by Lisa Jardine and Michael Silver Thorne Sách, tạp chí
Tiêu đề: New Organon
8. Crane Brinton (2007), Con người và tư tưởng phương Tây, Nxb Từ điển Bách khoa, H, do Cao Hùng Linh dịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: n người và tư tưởng phương Tây
Tác giả: Crane Brinton
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách khoa
Năm: 2007
9. GS.TS. Nguyển Trọng Chuẩn, PGS.TS. Nguyễn Thế Nghĩa; PGS.TS. Đặng Hữu Toàn (đồng chủ biên) (2002); Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam (Lý luận và thực tiễn); NXB chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam (Lý luận và thực tiễn)
Nhà XB: NXB chính trị Quốc gia Hà Nội
10. Edward Craig (2010), Triết học, Nxb Tri thức, H, Dịch giả Phạm Kiều Tùng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học
Tác giả: Edward Craig
Nhà XB: Nxb Tri thức
Năm: 2010
11. Doãn Chính - Đinh Ngọc Thạch (Chủ biên, 2003), Triết học Trung cổ Tây Âu, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học Trung cổ Tây Âu
Nhà XB: Nxb Thanh niên
12. David E Cooper (2005), Các trường phái triết học trên thế giới, Nxb Văn hóa Thông tin, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các trường phái triết học trên thế giới
Tác giả: David E Cooper
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2005
13. Nguyễn Tiến Dũng (2006), Lịch sử triết học phương Tây của, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết học phương Tây
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2006
14. Will Durant (2009), Câu chuyện triết học, Nha Tu Thư và Sưu khảo – Viện Đại học Vạn Hạnh, Trí Hải và Bửu Đích dịch, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu chuyện triết học
Tác giả: Will Durant
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2009
15. Vũ Cao Đàm (2005), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb Khoa học và Kĩ thuật, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kĩ thuật
Năm: 2005
16. Lưu Phóng Đồng (2004), Giáo trình hướng tới thế kỷ XXI: Triết học phương Tây hiện đại, Người dịch: Lê Khánh Trường, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học phương Tây hiện đại
Tác giả: Lưu Phóng Đồng
Nhà XB: Nxb Lý luận Chính trị
Năm: 2004
17. Nguyễn Huy Hoàng (2002), Mối quan hệ giữa văn hóa và tiến bộ xã hội trong triết học Ph.Bêcơn, Tạp chí triết học số 9/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ giữa văn hóa và tiến bộ xã hội trong triết học Ph.Bêcơn
Tác giả: Nguyễn Huy Hoàng
Năm: 2002
18. Đỗ Minh Hợp – Nguyễn Thanh – Nguyễn Anh Tuấn (2006), Đại cương lịch sử triết học phương Tây, Nxb. Tổng hợp TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử triết học phương Tây
Tác giả: Đỗ Minh Hợp – Nguyễn Thanh – Nguyễn Anh Tuấn
Nhà XB: Nxb. Tổng hợp TP Hồ Chí Minh
Năm: 2006
19. Đỗ Minh Hợp – Nguyễn Thanh – Nguyễn Anh Tuấn (2008), Đại cương lịch sử triết học phương Tây hiện đại cuối thế kỷ XIX - nửa đầu thế kỷ XX, Nxb. Tổng hợp TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử triết học phương Tây hiện đại cuối thế kỷ XIX - nửa đầu thế kỷ XX
Tác giả: Đỗ Minh Hợp – Nguyễn Thanh – Nguyễn Anh Tuấn
Nhà XB: Nxb. Tổng hợp TP Hồ Chí Minh
Năm: 2008
20. Đỗ Minh Hợp (2006), Diện mạo triết học phương Tây hiện đại, Nxb. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diện mạo triết học phương Tây hiện đại
Tác giả: Đỗ Minh Hợp
Nhà XB: Nxb. Hà Nội
Năm: 2006
21. Đỗ Minh Hợp (2011), Nhập môn triết học, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn triết học
Tác giả: Đỗ Minh Hợp
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2011

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w