1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hóa nhân quyền - nhận thức cơ bản và các giải pháp xây dựng văn hóa nhân quyền ở Việt Nam hiện nay

131 446 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về bản chất một nền văn hóa nhân quyền là nhằm mục tiêu đưa những chuẩn mực nhân quyền thực sự thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

HÀ QUANG PHÚC

V¡N HO¸ NH¢N QUYÒN - NHËN THøC C¥ B¶N

Vµ C¸C GI¶I PH¸P X¢Y DùNG V¡N HO¸ NH¢N QUYÒN

ë VIÖT NAM HIÖN NAY

Chuyên ngành: Pháp luật về quyền con người

Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS.TS HOÀNG THỊ KIM QUẾ

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

HÀ QUANG PHÚC

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Trang phu ̣ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mu ̣c các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VĂN HÓA NHÂN QUYỀN 7

1.1 Nhận thức chung về Nhân quyền – Quyền con người 7

1.1.1 Khái niệm về quyền con người 7

1.1.2 Các đặc trưng cơ bản của quyền con người 8

1.2 Nhận thức chung về văn hóa nhân quyền 12

1.2.1 Nhận thức chung về văn hóa 12

1.2.2 Nhận thức chung về văn hóa pháp luật 18

1.2.3 Nhận thức chung về văn hóa nhân quyền 23

1.2.4 Cách tiếp cận quyền con người trong văn hoá phương Đông và phương Tây 29

1.2.5 Các yếu tố tác động đến văn hóa nhân quyền 33

1.2.6 Văn hóa và quyền phát triển 38

Kết luận chương 1 39

Chương 2: VĂN HÓA NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ VÀ HIỆN NAY 40

2.1 Đặc trưng cơ bản của văn hóa nhân quyền ở Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử và hiện nay 40

Trang 4

2.1.1 Sự đa dạng và thống nhất về văn hóa của các dân tộc ở Việt Nam 40

2.1.2 Những nét đặc trưng cơ bản về văn hóa nhân quyền ở Việt Nam thời kỳ phong kiến 43

2.1.3 Những nét đặc trưng cơ bản về văn hóa nhân quyền ở Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc 50

2.1.4 Những nét đặc trưng cơ bản về văn hóa nhân quyền ở Việt Nam thời kỳ từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước Đổi mới 53

2.2 Văn hóa nhân quyền ở Việt Nam trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế 57

2.2.1 Những thành tựu chủ yếu đã đạt được 57

2.2.2 Hạn chế và nguyên nhân 78

Kết luận chương 2 85

Chương 3: QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VÀ CÁC GIẢI PHÁP XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 86

3.1 Những quan điểm cơ bản về xây dựng văn hóa nhân quyền ở Việt Nam hiện nay 86

3.1.1 Xây dựng văn hóa nhân quyền nhằm bảo vệ, bảo đảm, thúc đẩy quyền con người và phát triển bền vững 86

3.1.2 Kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa nhân quyền trong bối cảnh hội nhập, xây dựng nhà nước pháp quyền 88

3.1.3 Xây dựng nền văn hóa nhân quyền đáp ứng các chuẩn mực pháp luật quốc tế và giữ gìn, phát huy truyền thống văn hóa, đạo đức dân tộc 90

3.2 Các giải pháp xây dựng nền văn hóa nhân quyền tại Việt Nam 94

3.2.1 Hoàn thiện pháp luật về quyền con người và cơ chế thực hiện quyền con người đảm bảo sự tương thích với pháp luật quốc tế 94

3.2.2 Tổ chức thực hiện giáo dục quyền con người, xây dựng văn hóa quyền con người 96

Trang 5

3.2.3 Triển khai thực hiện Hiến pháp 2013 về quyền con người 105

3.2.4 Thực hiện cải cách hành chính và cải cách tư pháp 107

3.2.5 Thúc đẩy đa dạng văn hóa dựa trên các quyền con người cơ bản và lòng khoan dung 109

3.2.6 Phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo an sinh xã hội, và giảm nghèo bền vững 110

3.2.7 Phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí 114

Kết luận chương 3 118

KẾT LUẬN 119

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 121

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CEDAW : Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử

với phụ nữ ICCPR : Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị

ICESCR : Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa ILO : Tổ chức Lao động quốc tế

UDHR : Tuyên ngôn thế giới về quyền con người, 1948

UNESCO : Tổ chức Giáo dục, khoa học và Văn hóa Liên Hợp quốc XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Bảng khái quát về các cách phân loại quyền con người

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Quyền con người là những giá trị cao quý, kết tinh từ nền văn hóa của tất cả các dân tộc trên thế giới Đây là tiếng nói chung, mục tiêu chung và phương pháp chung của toàn nhân loại để bảo vệ và thúc đẩy nhân phẩm và hạnh phúc của mọi con người

Quyền con người hiện đang trở thành một hệ thống các tiêu chuẩn pháp

lý quốc tế có tính chất bắt buộc với mọi quốc gia Việc tôn trọng, bảo vệ các quyền con người hiện đã trở thành thước đo căn bản về trình độ văn minh của các nước và các dân tộc trên thế giới Thúc đẩy, bảo vệ quyền con người, cả trong pháp luật và thực tiễn, là nghĩa vụ và cần sự đóng góp của tất cả các tầng lớp xã hội, các dân tộc, trên toàn thế giới Để đạt được những mục tiêu cao cả trong lĩnh vực này, nhân loại đang hướng tới xây dựng một nền văn hóa nhân quyền ở mọi cấp độ Trong đó có sự kết hợp hài hòa những đặc thù

và giá trị truyền thống tốt đẹp cùng với những tinh hoa của các dân tộc với các tiêu chuẩn pháp lý quốc tế được thừa nhận chung về nhân phẩm và giá trị của con người Về bản chất một nền văn hóa nhân quyền là nhằm mục tiêu đưa những chuẩn mực nhân quyền thực sự thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng cho

sự phát triển của từng dân tộc, từng quốc gia và toàn nhân loại Văn hóa nhân quyền là một phạm trù vô cùng rộng lớn trong đời sống văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội của tất cả các quốc gia, các dân tộc và của toàn nhân loại Nó chứa đựng những nội dung thấm đậm tính nhân văn sâu sắc và luôn hướng tới

lý tưởng: Chân, Thiện, Mỹ Văn hóa nhân quyền ngày càng được phát triển đa dạng, phong phú và rất mạnh mẽ cùng với sự tiến bộ vượt bậc của nền văn minh nhân loại

Trang 9

Ở Việt Nam, cuộc cách mạng do Đảng Cộng Sản mà người đứng đầu

là Hồ Chí Minh lãnh đạo từ đầu thế kỷ XX đến nay không có mục đích gì khác hơn là giành, giữ và phát triển các quyền con người cho toàn dân tộc và cho mỗi công dân Việt Nam Trong thực tế, quan tâm và thúc đẩy các quyền con người luôn là ưu tiên của Đảng và Nhà nước Việt Nam, được phản ánh nhất quán và xuyên suốt trong mọi chính sách, luật pháp của Nhà nước Việt Nam từ trước đến nay Tuy vậy ở Việt Nam hiện nay, văn hóa nhân quyền còn là một khái niệm mới, đang từng bước được nhận thức và áp dụng Do

đó việc nghiên cứu về văn hóa nhân quyền cũng còn là một lĩnh vực mới mẻ,

ít có các công trình nghiên cứu, đánh giá một cách có hệ thống, toàn diện và sâu sắc về vấn đề này

Việt Nam lại là quốc gia có nhiều dân tộc cùng sinh sống Mỗi dân tộc

có bản sắc văn hóa riêng, tạo nên nét đẹp truyền thống trong sự đa dạng phong phú của nền văn hóa Việt Nam Chính sự khác biệt về văn hóa, sự khác biệt về truyền thống, phong tục, tập quán và lối sống dẫn tới những nhận thức và áp dụng khác nhau về các quyền con người được thừa nhận chung Làm thế nào để dung hòa và định hướng những giá trị của tất cả mọi nền văn hóa của các dân tộc vào một mục tiêu chung là bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người và để xây dựng một nền văn hóa nhân quyền Việt Nam phát triển chung trong dòng chảy của nền văn hóa nhân quyền tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc đã và đang là một vấn đề đầy thách thức

Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn trên đây, tác giả đã chọn

chủ đề: ‘‘Văn hóa Nhân quyền – Nhận thức cơ bản và các giải pháp xây dựng văn hoá nhân quyền ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn thạc

sĩ, với mong muốn được góp phần làm sáng tỏ thêm bản chất, những vấn đề

lý luận và thực tiễn cũng như quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về văn hóa nhân quyền trong công cuộc xây dựng đất nước Trên cơ sở đó, nhằm bổ

Trang 10

sung, hoàn thiện và phát triển các quan điểm chính sách đã có, đề xuất giải pháp thực thi việc bảo đảm xây dựng một nền Văn hóa Nhân quyền ở Việt Nam xứng tầm với sự phát triển của Nhà nước pháp quyền Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Có thể nói, vấn đề „„Văn hóa Nhân quyền” còn là khái niệm khá mới

mẻ trong lịch sử phát triển của nhân loại nói chung Không những vậy, đây còn là vấn đề rất rộng lớn, bao trùm, và đang trở thành một trong những vấn

đề cấp thiết trong việc nghiên cứu và thực tiễn, không chỉ mang tính lý luận

mà còn đòi hỏi cả trong thực tiễn trên phương diện pháp lý

Văn hóa nhân quyền là vấn đề mới ở Việt Nam, vì vậy tới nay, rất ít công trình khoa học nào nghiên cứu một cách có hệ thống toàn diện, sâu sắc

về vấn đề này ở nước ta Tuy vậy, đã có một số công trình, tác phẩm, hội thảo nghiên cứu về Văn hóa nhân quyền ở Việt Nam Tiêu biểu như: bài viết của

GS.TS Hoàng Thị Kim Quế với nhan đề “Quyền con người, đạo đức và

pháp luật” đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật -Viện Nhà nước và Pháp

luật, số 3/2012; bài viết về “Văn hóa pháp lý – dòng riêng giữa nguồn chung

của Văn hóa dân tộc Việt Nam” trên Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Bộ Tư

pháp, số 10/2004 Các bài viết với nội dung chủ đạo về văn hóa, đạo đức, pháp luật, nhân quyền là các yếu tố thiết yếu trong đời sống cá nhân, cộng đồng và toàn xã hội Các yếu tố có vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa tiên tiến, hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng nhà

nước pháp quyền ở Việt Nam Cuốn “Giáo trình về Lý luận và pháp luật về

quyền con người” do GS.TS Nguyễn Đăng Dung, TS Vũ Công Giao và Ths

Lã Khánh Tùng đồng chủ biên; Cuốn “Luật Nhân quyền quốc tế - những vấn

đề cơ bản” do GS.TS Nguyễn Đăng Dung – GS.TS Phạm Hồng Thái - TS Vũ

Công Giao – ThS Lã Khánh Tùng đồng chủ biên đã thể hiện những nội dung

Trang 11

cốt lõi về nhân quyền; Cuốn “Văn hóa pháp luật - những vấn đề lý luận cơ

bản và ứng dụng chuyên ngành” do GS TS Hoàng Thị Kim Quế, TS, Ngô

Huy Cương đồng chủ biên Bài viết của TS.Vũ Thị Minh Chi về “Văn hóa

nhân quyền” đăng trên Tạp chí nghiên cứu con người số 2 (29), 2007 Hai

cuốn sách của PGS.TS Nguyễn Thanh Tuấn là: “Văn hóa Nhân quyền trên thế

giới và ở Việt Nam hiện nay” xuất bản năm 2012 và “Đa dạng văn hóa và quyền văn hóa hiện nay ở Việt Nam” xuất bản năm 2009 Tác phẩm “Phát triển Văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020” của PGS.TS Phạm Duy Đức

Bài viết “Giáo dục quyền con người góp phần xây dựng văn hóa pháp luật

trong nhà nước pháp quyền” của GS.TS Nguyễn Đăng Dung Đề tài nghiên

cứu cấp bộ năm 2011 – 2012 về “Một số vấn đề cơ bản của quyền văn hóa, xã

hội và điều kiện đảm bảo thực thi ở Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 vì mục tiêu phát triển con người” do TS.Vũ Minh Chi làm chủ nhiệm đề tài (Viện

nghiên cứu Con người - Viện Khoa học xã hội Việt Nam) Bài viết về “Quan

niệm về nền văn hóa đa dạng mà thống nhất trong thời đại văn hóa toàn cầu”

của PGS.TS Thành Duy (Viện Khoa học xã hội Việt Nam) trên Tạp chí Nghiên cứu con người số 3(48) 2010 – Viện Khoa học xã hội Việt Nam – Viện nghiên cứu con người

Những công trình nghiên cứu trên đã đóng góp cho nền văn hóa nhân quyền còn non trẻ của Việt Nam phát triển Song chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện về vấn đề văn hóa nhân quyền Do đó, để có một cái nhìn toàn diện, sâu sắc hơn về văn hóa nhân quyền vẫn là một là yêu cầu cấp thiết đặt ra trong bối cảnh thực tiễn của đất nước ta trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền phù hợp với xu thế

thời đại Chính vì những lý do trên, đề tài „„Văn hóa Nhân quyền – Nhận thức cơ bản và các giải pháp xây dựng văn hoá nhân quyền ở Việt Nam hiện nay” sẽ đóng góp về lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng nền văn hóa

nhân quyền ở Việt Nam ngày một phát triển bền vững

Trang 12

3 Mục đích, phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục đích: của việc nghiên cứu là đưa ra được một cái nhìn có tính

hệ thống, khoa học, sâu sắc và toàn diện về văn hóa nhân quyền, làm rõ thêm những nội hàm của văn hóa nhân quyền tại Việt Nam, cùng tiến trình phát triển của nó qua các thời kỳ, từ thời kỳ phong kiến, Pháp thuộc, giai đoạn sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến ngày thống nhất đất nước và đặc biệt là giai đoạn hiện nay

- Nghiên cứu, làm rõ thêm về nhận thức lý luận, pháp luật thế giới về văn hóa nhân quyền; làm sáng tỏ thêm quan điểm, chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước ta liên quan đến văn hóa nhân quyền

- Nghiên cứu, đánh giá đúng bản chất thành tựu và thực trạng về văn hóa nhân quyền tại Việt Nam hiện nay

Trên cơ sở đó, đưa ra những giải pháp đảm bảo cho việc xây dựng và phát triển nền văn hóa nhân quyền Việt Nam lên một tầm cao mới

3.2 Phạm vi nghiên cứu: trong khuôn khổ của một luận văn Thạc sỹ, nội

dung nghiên cứu của đề tài tập trung vào vấn đề văn hóa nhân quyền ở nước ta

Từ những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn của đất nước trong quá trình hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa Luận văn sẽ chứng minh rõ việc thúc đẩy văn hóa nhân quyền ở Việt Nam là một tất yếu khách quan Từ đó đề xuất những giải pháp để xây dựng văn hóa nhân quyền tại Việt Nam ngày một phát triển

4 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lí luận dùng để nghiên cứu đề tài này là chủ nghĩa Mác-Lênin và

tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta cùng các tư tưởng, quan điểm về luật học tiến bộ và hiện đại trên thế giới

Phương pháp luận được sử dụng để giải quyết những vấn đề đặt ra trong luận văn là: phương pháp biện chứng, phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh

Trang 13

5 Những nét mới của Luận văn

Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu toàn diện có hệ thống về văn hóa nhân quyền góp phần làm sáng tỏ và phong phú thêm lý luận cũng như thực tiễn về văn hóa nhân quyền

Chứng minh, khẳng định việc xây dựng, thúc đẩy văn hóa nhân quyền

ở Việt Nam là một yêu cầu tất yếu khách quan

6 Kết quả nghiên cứu và ý nghĩa của luận văn

Kết quả nghiên cứu của Luận văn sẽ góp phần cung cấp những tri thức khoa học cơ bản mang tính lý luận về văn hóa nhân quyền; giúp người đọc nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn về văn hóa nhân quyền tại nước ta

Luận văn cũng nêu lên những thành tựu đã đạt được cùng thực trạng, tồn tại và thách thức trong việc thực hiện và bảo đảm văn hóa nhân quyền ở Việt Nam; từ đó nêu ra một số kiến nghị giải pháp cơ bản về thực hiện Văn hóa nhân quyền trong thời kỳ mới, góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam ngày càng phát triển vững mạnh phù hợp với xu thế hội nhập và toàn cầu hóa

7 Kết cấu của luận văn

Luận văn này gồm phần mở đầu, ba chương và phần kết luận

Chương 1 Những vấn đề lý luận cơ bản về văn hóa nhân quyền

Chương 2 Văn hóa nhân quyền ở Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử và

hiện nay

Chương 3 Quan điểm cơ bản và giải pháp xây dựng văn hóa nhân

quyền ở Việt Nam hiện nay

Trang 14

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN

VỀ VĂN HÓA NHÂN QUYỀN 1.1 Nhận thức chung về Nhân quyền – Quyền con người

1.1 1 Khái niệm về quyền con người

Quyền con người là những giá trị cao quý, kết tinh từ nền văn hóa của tất cả các dân tộc trên thế giới Đây là tiếng nói chung, mục tiêu chung và phương pháp chung của toàn nhân loại để bảo vệ và thúc đẩy nhân phẩm và hạnh phúc của mọi con người

Có thể nói khái niệm về quyền con người là một khái niệm phức tạp và rộng lớn, do đó có nhiều khái niệm, định nghĩa khác nhau về quyền con người Theo tài liệu của Liên Hợp Quốc thì đến nay, có khoảng 50 định nghĩa

về quyền con người Mỗi định nghĩa đều tiếp cận vấn đề từ một góc độ nhất định, chỉ ra những thuộc tính nhất định Định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên Hợp quốc thường được trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu, theo đó:

Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và nhóm chống lại những hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions) làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép (entitlements) và tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con người

Nhân quyền còn được định nghĩa một cách khái quát là quyền con người là những sự được phép (entitlements) mà tất cả thành viên của cộng đồng nhân loại, không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo, địa vị xã hội, ; đều có ngay từ khi sinh ra, đơn giản chỉ vì

họ là con người [8, tr.37]

Theo Từ điển Tiếng Việt định nghĩa “nhân quyền là quyền căn bản

Trang 15

của con người, như quyền tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tự do đi lại, v v ” [34, tr.688] Theo Từ điển Luật học của Viện Khoa học Pháp lý thì

“Quyền con người là quyền của thành viên trong xã hội loài người – quyền của tất

cả mọi người Đó là nhân phẩm, nhu cầu, lợi ích và năng lực của con người được thể chế hóa (ghi nhận) trong pháp luật quốc tế và quốc gia” [36, tr.648 -649] Các

định nghĩa không giống nhau hoàn toàn, nhưng xét chung quyền con người thường

được hiểu là “những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận

và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế” [8, tr.38]

Như vậy, cho dù nhìn ở góc độ nào thì quyền con người cũng luôn được xác định là những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ Đó là những giá trị kết tinh từ nền văn hóa của toàn nhân loại được áp dụng cho tất cả mọi người Chính nhờ những chuẩn mực này mà mọi người trên thế giới mới được bảo vệ nhân phẩm và có điều kiện phát triển đầy đủ năng lực cá nhân với tư cách một con người

1.1.2 Các đặc trưng cơ bản của quyền con người

1.1.2.1 Nguồn gốc về quyền con người

Về nguồn gốc về quyền con người, có hai trường phái cơ bản đưa ra hai quan điểm trái ngược nhau Trường phái thứ nhất là những người theo học thuyết về quyền tự nhiên và trường phái thứ hai là những người theo học thuyết về quyền pháp lý

Quan điểm của trường phái quyền tự nhiên cho rằng:

Quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn có mà mọi cá nhân sinh ra đều được hưởng chỉ đơn giản bởi họ là thành viên của gia đình nhân loại Các quyền con người, do đó, không phụ thuộc vào phong tục, tập quán, truyền thống văn hoá hay ý chí của bất cứ

cá nhân, giai cấp, tầng lớp, tổ chức, cộng đồng hay nhà nước nào

Vì vậy, không một chủ thể nào, kể cả các nhà nước, có thể ban phát hay tước bỏ các quyền con người [8, tr.39]

Trang 16

Còn học thuyết về các quyền pháp lý cho rằng:

Các quyền con người không phải là những gì bẩm sinh, vốn có một cách tự nhiên mà phải do các nhà nước xác định, pháp điển hoá thành các quy phạm pháp luật hoặc xuất phát từ truyền thống văn hoá Như vậy, theo học thuyết về quyền pháp lý, phạm vi, giới hạn

và ở góc độ nhất định, thời gian hiệu lực của quyền con người phụ thuộc vào ý chí của tầng lớp thống trị và các yếu tố như phong tục, tập quán, truyền thống văn hoá của các xã hội [8, tr.39]

Ở đây, trong khi các quyền tự nhiên có tính đồng nhất trong mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm thì các quyền pháp lý mang tính chất khác biệt tương đối

về mặt văn hoá và chính trị

Cho đến nay, cuộc tranh luận về nguồn gốc của quyền con người vẫn còn tiếp tục Như hầu hết các văn kiện pháp luật của các quốc gia đều thể hiện các quyền con người là các quyền pháp lý, thì trong Tuyên ngôn toàn thế giới

về nhân quyền năm 1948 của Liên Hợp quốc, một số văn kiện pháp luật và văn kiện chính trị pháp lý ở một số quốc gia, quyền con người được khẳng định một cách rõ ràng là các quyền tự nhiên, vốn có và không thể tước bỏ được của mọi cá nhân

1.1.2.2 Tính chất của quyền con người:

Theo nhận thức của cộng đồng quốc tế, quyền con người có các tính chất cơ bản là: tính phổ biến, tính không thể tước bỏ, tính không thể phân chia, tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau, cụ thể như sau:

* Tính phổ biến (universal): thể hiện ở chỗ quyền con người là những

gì bẩm sinh, vốn có của con người và được áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi thành viên trong gia đình nhân loại, không có bất kỳ sự phân biệt đối xử vì bất

cứ lý do gì như giới tính, chủng tộc, tôn giáo,

* Tính không thể chuyển nhượng (inalienable): thể hiện ở chỗ các

quyền con người không thể bị tước bỏ hay hạn chế một cách tuỳ tiện bởi bất

Trang 17

cứ chủ thể nào, kể cả bởi các nhà nước Vấn đề “tùy tiện” là giới hạn của việc tước bỏ và hạn chế, tức là ở đó nhân quyền có thể bị tước bỏ, chẳng hạn như khi một người phạm một tội ác thì có thể bị tước quyền tự do theo pháp luật

* Tính không thể phân chia (indivisible): thể hiện ở chỗ các quyền con

người đều có tầm quan trọng như nhau, về nguyên tắc không có quyền nào được coi là có giá trị cao hơn quyền nào, bởi lẽ việc tước bỏ hay hạn chế bất kỳ quyền nào đều tác động tiêu cực đến nhân phẩm, giá trị và sự phát triển của con người

* Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau (interrelated, interdependent): thể

hiện ở chỗ việc bảo đảm các quyền con người, toàn bộ hoặc một phần, nằm trong mối liên hệ phụ thuộc và tác động lẫn nhau Sự vi phạm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo đảm các quyền khác, và ngược lại, tiến bộ trong việc bảo đảm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tích cực đến việc bảo đảm các quyền khác

1.1.2.3 Phân loại quyền con người: Do quyền con người có phạm vi và

nội dung rộng lớn nên để phục vụ cho việc nghiên cứu và thực thi, dựa trên những tiêu chí khác nhau, có thể chia quyền con người thành những nhóm, dạng khác nhau

* Xét theo lĩnh vực điều chỉnh: có thể phân thành nhóm quyền chính trị,

dân sự và nhóm quyền kinh tế, xã hội và văn hoá Đây cũng là cách phân chia được sử dụng khi soạn thảo hai Công ước quốc tế cơ bản về quyền con người của Liên Hợp quốc Trong nghiên cứu, ta cũng có thể chia ra thành năm nhóm nhỏ hơn, gồm các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hoá Tuy vậy, chúng ta cũng cần phải lưu ý sự phân chia các quyền con người thành các nhóm chỉ mang tính chất tương đối, bởi một số quyền có thể được xếp vào nhiều nhóm

* Xét theo chủ thể của quyền: có thể phân thành quyền của cá nhân và

quyền của nhóm Ta thấy chủ thể chính của các quyền con người là các cá nhân, nhưng bên cạnh đó chủ thể của quyền con người cũng bao gồm các nhóm xã hội

Trang 18

nhất định Bởi thể xét theo chủ thể chúng ta có quyền của cá nhân và quyền của nhóm Trong đó, quyền cá nhân là các quyền thuộc về mỗi cá nhân, không phụ thuộc vào việc họ là thành viên của nhóm xã hội nào, và các cá nhân thụ hưởng các quyền phụ thuộc vào ý chí của mỗi cá nhân Còn quyền của nhóm là những quyền đặc thù của chung một tập thể hay một nhóm xã hội nhất định Và để được hưởng các quyền này, cần phải là thành viên của nhóm hay tập thể đó, và đôi khi phải được thực hiện chung với các thành viên khác của nhóm, ví dụ như quyền bảo tồn chữ viết, trang phục truyền thống của dân tộc bản địa,

* Xét theo một số tiêu chí khác: Ngoài hai tiêu chí kể trên, quyền con

người còn được phân loại theo một số tiêu chí khác, như: quyền cụ thể và quyền hàm chứa, quyền thụ động và quyền chủ động, quyền tuyệt đối và quyền có điều kiện, v v

Mọi sự phân loại đều không làm mất đi những đặc trưng về tính phổ biến, tính không thể chuyển nhượng, tính không thể phân chia và tính liên hệ, phụ thuộc lẫn nhau của nhân quyền

Bảng 1.1: Bảng khái quát về các cách phân loại quyền con người đã được đề cập ở trên

Quyền dân sự

Quyền kinh tế, Quyền xã hội, Quyền văn hóa

hạn chế

Quyền không thể bị hạn chế

Nguồn: Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người, NXB Đại học

Quốc gia Hà Nội, năm 2011, tr.69

Trang 19

1.2 Nhận thức chung về văn hóa nhân quyền

1.2 1 Nhận thức chung về văn hóa

1.2.1.1 Khái niệm về văn hoá

Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu và động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Khái niệm văn hóa là một khái niệm rộng lớn, có thể tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau

Từ văn hóa trong tiếng Latinh là “Culture” nghĩa là sự trồng trọt, chăm sóc Theo nghĩa gốc, ta có thể hiểu văn hóa là quá trình chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục cả thể sinh học trở thành những con người Văn hóa có mặt trong tất cả các sản phẩm do con người tạo

ra, từ công cụ sản xuất, đến các vật dụng sinh hoạt, từ tri thức khoa học đến tác phẩm nghệ thuật Văn hóa còn hiện diện trong tất cả các quan hệ xã hội của con người trên tất cả các lĩnh vực đời sống, xã hội, kinh tế, văn hóa, chính trị, ngoại giao, pháp luật, tôn giáo, gia đình, cộng đồng, trong mọi giao tiếp thông thường Văn hóa là bản thân các năng lực cấu thành nhân cách con người là tri thức, tình cảm, ý chí và mọi năng lực lao động sáng tạo [27, tr.17]

Cho đến nay có rất nhiều cách tiếp cận văn hoá theo những quan điểm khác nhau, trên hết là cách tiếp cận theo quan điểm triết học mác xít

Văn hoá là những vấn đề biến đổi của bản thân con người với

tư cách là sự hình thành lịch sử hiện thực của con người Văn hoá theo đó xuất hiện từ lao động, hiện ra như một nhiệm vụ thực tiễn biến đổi các quan hệ qua lại giữa con người với thế giới và với nhau Văn hoá, theo quan điểm triết học mácxít được biểu hiện như một quá trình biến con người thành chủ thể của sự vận động lịch sử

và trở thành một cá nhân toàn vẹn [3, tr.12]

Ở phương Tây, văn hoá theo nhà nhân học người Anh Edward B.Tylor

trong công trình văn hoá nguyên thuỷ đã định nghĩa: “Văn hoá hay văn minh,

Trang 20

hiểu theo nghĩa rộng nhất về dân tộc học của nó, là toàn bộ phức thể bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, những tập quán mà con người có được với tư cách là thành viên xã hội” [33, tr.2]

Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh sau khi nghiên cứu các hiện tượng

và giá trị văn hoá ở nhiều dân tộc, đã định nghĩa:

Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá Văn hoá là

sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của

nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn [19, tr.43]

Đây là cách định nghĩa toàn diện thể hiện triết lý sống của loài người, tính phổ biến và đặc thù tồn tại chính trong sự vật, hiện tượng; thể hiện nguồn gốc, chức năng của văn hóa, đồng thời cũng phản ảnh tính kế thừa từ thế hệ này sang thế hệ khác, thời kỳ lịch sử này sang thời kỳ lịch sử khác của văn hóa Một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam cũng có những định nghĩa tương đối

đồng nhất với quan điểm của Hồ Chủ tịch, như theo từ điển Tiếng Việt “Văn

hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử” [34, tr.1062] Hay như Giáo sư Tiến sỹ

Hoàng Thị Kim Quế định nghĩa trong cuốn Văn hóa pháp lý – Những vấn đề

lý luận cơ bản và ứng dụng đã đưa ra định nghĩa về văn hóa:

Văn hóa là tổng thể những giá trị vật chất, tinh thần được hình thành và sáng tạo trong hoạt động của con người được lưu truyền từ thế hệ này, sang thế hệ khác, từ cộng đồng này sang cộng đồng khác tạo thành truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc bên cạnh những giá trị chung của nhân loại [27, tr.19]

Trang 21

Đại hội đồng UNESCO lần thứ 31 (11 – 2001) có định nghĩa:

Văn hoá nên được xem là một tập hợp (the set) các đặc điểm nổi bật về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm của xã hội hay một nhóm xã hội, ngoài văn học và nghệ thuật nó còn bao gồm lối sống, cách thức cùng chung sống, các hệ thống giá trị, các truyền thống và tín ngưỡng [33, tr.2-3]

Có thể nói văn hoá là tổng thể các giá trị do con người tạo ra, đó là các giá trị vật chất và các giá trị tinh thần Văn hóa là trình độ, năng lực hoạt động sống của con người; và cũng là chính bản thân sự phát triển của con người Trong văn hoá, các loại giá trị này đều tương tác và gắn bó với nhau

1.2.1.2 Các thành tố cơ bản của văn hóa

Tri thức – một trong những yếu tố cấu thành văn hóa Tri thức hay kiến

thức bao gồm những hiểu biết về những sự vật, hiện tượng, những dữ kiện, thông tin, sự mô tả hay kỹ năng trong tự nhiên và xã hội Sự hiểu biết đấy có thể thông qua giáo dục, hoặc trải nghiệm, về mặt lý thuyết hay thực hành Những thành tựu tri thức liên quan đến quá trình nhận thức phức tạp; tri giác, truyền đạt, liên hệ và suy luận Trong triết học, ngành nghiên cứu về tri thức được gọi là tri thức luận

Có những tri thức được mã hóa thể hiện ra bên ngoài dưới dạng vật chất như phim ảnh, sách báo, tài liệu, văn bản, những tri thức này được thể hiện ra ngoài, dễ dàng chuyển giao, ta có thể thường thấy qua hệ thống giáo dục, hội thảo, ví dụ như các tài liệu về tri thức khoa học, cách sách báo tri thức chuyên ngành về vật lý, nông nghiệp, pháp luật, Có những tri thức ẩn hay còn gọi là phi vật thể, như niềm tin, giá trị, kinh nghiệm,

Vậy, tóm lại tri thức là sự hiểu biết về sự vật, hiện tượng Trong văn hóa chúng ta sẽ có tri thức văn hóa pháp luật, đó là sự am hiểu về lĩnh vực văn hóa và pháp luật; hay văn hóa giao thông,

Trang 22

Ý thức – yếu tố tứ hai cấu thành văn hóa Ý thức theo định nghĩa

của triết học Mác - Lênin là một phạm trù song song với phạm trù vật chất, theo đó ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất khách quan vào bộ óc con người

và có sự cải biến và sáng tạo Ý thức có mối quan hệ hữu cơ với vật chất

Ý thức trang bị cho con người sự hiểu biết về thế giới xung quanh, giúp con người xác định mục tiêu, lựa chọn phương pháp cho hoạt động của mình tạo nên ở con người tình cảm, niềm tin, ý chí, thôi thúc con người nỗ lực hành động để đạt được mục tiêu đề ra Ý thức có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự vận động, phát triển của những điều kiện vật chất ở những mức độ nhất định

Ý thức cũng có nhiều cấp độ khác nhau, như ý thức cá nhân, ý thức giai cấp, ý thức xã hội Ví dụ như: một cá nhân có ý thức văn hóa giao thông hay Nhà nước ta có ý thức tôn trọng và bảo vệ quyền con người

Hay ý thức công dân là “tổng hợp những nhận thức, quan điểm, thái độ

của công dân về các quyền và nghĩa vụ của công dân đối với nhà nước

mà họ mang quốc tịch” [36, tr.876]

Ứng xử - yếu tố thứ ba cấu thành văn hóa Ứng xử, là sự thể hiện triết lí

cuộc sống, các lối sống lối suy nghĩ lối hành động của một cộng đồng người trong việc ứng xử và giải quyết những mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội, từ vi mô đến vĩ mô, từ gia đình đến toàn xã hội

Văn hoá ứng xử là những quy định thành văn và bất thành văn trong tất

cả các xã hội Văn hoá ứng xử có vai trò rất quan trọng trong xã hội phát triển

và văn minh như ngày nay Bởi thế, mỗi người cần phải trang bị cho mình những vốn văn hoá cần thiết để giao tiếp, ứng xử trong công việc, xã hội Xã hội có phát triển, có tốt đẹp hay không còn tuỳ thuộc vào sự văn minh cùng ý thức tốt đẹp và cách ứng xử có văn hóa của mỗi con người

1.2.1.3 Các đặc trưng của Văn hóa

* Tính nhân văn và xã hội: Đặc trưng cơ bản của văn hóa là tính nhân

văn, xã hội Trước hết, văn hóa có tính xã hội Vì:

Trang 23

Văn hóa là hiện tượng đa dạng và phức tạp, được nhận thức, đánh giá, cảm nhận theo nhiều góc độ khác nhau Văn hóa trong đó

có văn hóa pháp luật luôn hiện hữu trong các hành vi và quan hệ xã hội của con người Văn hóa vừa là những vấn đề hiện hữu, cụ thể trong đời sống thường nhật, lại vừa là vấn đề có tầm khái quát, trừu tượng hóa cao Ngày nay, văn hóa được coi là tất cả những gì liên quan đến con người, ít nhiều thể hiện được sức mạnh, bản chất của con người Cùng với thời gian, văn hóa của các quốc gia, nhân loại ngày càng phong phú, đa dạng, vừa mang tính kế thừa, vừa mang tính phát triển

Tiếp theo, ta thấy văn hóa mang tính nhân văn Bởi quá trình phát triển của văn hóa cũng là quá trình hoàn thiện của chính bản thân con người, nhân loại trên cơ sở nắm bắt các qui luật tự nhiên,

xã hội, lao động và sáng tạo Trong đó, sự nhân văn, nhân bản thuộc

về bản chất văn hóa của loài người và nó luôn hướng tới lý tưởng chân, thiện, mỹ Ngày nay, Văn hóa ngày càng thể hiện vai trò, giá trị to lớn trong đời sống chính trị, pháp luật, tinh thần và vật chất

của các quốc gia, dân tộc và toàn nhân loại [27, tr.16]

* Tính biểu tượng và sáng tạo: Văn hóa có tính biểu tượng và sáng tạo

Nhờ thông qua những biểu tượng, văn hóa mới đến được những tri giác, nhận thức con người Trong đó có những biểu tượng cụ thể, có những biểu tượng trừu tượng Một cộng đồng người nhất định thường có một biểu tượng ổn định và gắn bó Với những nền văn hóa khác nhau, thì một biểu tượng có lúc

có ý nghĩa tương đồng, có lúc có ý nghĩa trái ngược nhau

Bên cạnh tính biểu tượng văn hóa có tính sáng tạo Có thể nói giá trị văn hóa luôn được làm giàu thêm và tự đổi mới bằng sự sáng tạo Hoạt động sáng tạo là một thành tố rất quan trọng của giá trị văn hóa Sáng tạo là sức sống của văn hóa

Trang 24

* Tính lan truyền và lưu truyền: Văn hóa có tính lan truyền và lưu

truyền Một nền văn hóa, một giá trị văn hóa sẽ có sự truyền bá, ảnh hưởng tới những nền văn hóa xã hội khác Lan truyền văn hóa thường xuất phát từ những trung tâm văn hóa – văn minh lớn như văn hóa La Mã, Hy Lạp, Trung Hoa, Lan truyền văn hóa cũng diễn ra trong các quốc gia láng giềng, trong cùng khu vực.Văn hóa có thể lan truyền thông qua các nhân tố xúc tác, như thông qua các thương gia, di dân, du khách, theo các đạo quân xâm lược hay các giáo sĩ truyền giáo, Và trong thời đại ngày nay, thì sự lan truyền văn hóa càng mạng mẽ và dễ dàng hơn thông qua báo chí, truyền hình, internet,

Cùng với sự lan truyền văn hóa còn có sự lưu truyền theo thời gian

Đó là việc các giá trị văn hóa truyền thống được các thế hệ tiếp nối kế thừa

và phát triển

* Tính phổ quát và đặc thù: Cuối cùng văn hóa có tính phổ quát, đặc

thù Văn hóa có tình phổ quát bởi văn hóa gắn bó với con người Văn hóa chính là cây cầu nối của các quốc gia, các châu lục xa xôi lại với nhau Văn hóa là của chung nhân loại

Văn hóa còn mang tính đặc thù, bởi lẽ mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, mỗi

cá nhân đều là những chủ thể văn hóa đặc hữu, không giống nhau Sẽ có sự khác biệt của văn hóa Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi, Sự khác biệt giữa các tín độ Phật giáo với Thiên Chúa giáo,

Bởi văn hóa là tổng thể những giá trị vật chất, tinh thần được hình thành và sáng tạo trong hoạt động của con người được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ cộng đồng này sang cộng đồng khác, tạo thành truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc bên cạnh những giá trị chung của nhân loại [27, tr.20]

Có thể nói trong lịch sử nhân loại thì tính đặc thù luôn tồn tại mãi

Trang 25

1.2.2 Nhận thức chung về văn hóa pháp luật

1.2.2.1 Khái niệm về văn hóa pháp luật

Văn hóa pháp luật hay còn gọi là văn hóa pháp lý, một trong những hình thái cơ bản của văn hóa nói chung cũng đa dạng như chính bản thân văn hóa và pháp luật, nẩy sinh từ đời sống xã hội và quay trở lại phục vụ xã hội Trên thế giới từ trước đến nay đã và đang có nhiều quan điểm, trường phái về văn hóa pháp luật Mặc dù còn có nhiều cách tiếp cận, nhìn nhận khác nhau

về văn hóa pháp luật, song vẫn có những quan điểm tương đồng giữa các trường phái của văn hóa pháp luật

Văn hóa pháp luật được tiếp cận trên nhiều bình diện khác nhau từ các nhà khoa học trong và ngoài nước Như theo GS.TS Lê Minh Tâm

Văn hóa pháp luật là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần

mà con người sáng tạo ra trong lĩnh vực pháp luật bao gồm hệ thống quy phạm pháp luật được ban hành trong những thời kỳ lịch sử, những

tư tưởng, quan điểm, luận điểm, nguyên lí, nguyên tắc, những tác phẩm văn hóa pháp luật, những kinh nghiệm và thói quen tích lũy được trong quá trình xây dựng và thực thi pháp luật [32, tr.17 - 24]

Theo quan điểm của PGS.TS Phạm Duy Nghĩa, “Văn hóa pháp luật là

một cách nhìn về luật pháp, đặt pháp luật trong những tương quan đa chiều với khoa học hành vi, cách nghĩ, cách ứng xử, tôn giáo, niềm tin, các đặc tính nhân học của cộng đồng và tộc người” [22]

Tuy có nhiều quan điểm, song tựu chung lại, chúng ta vẫn tìm thấy những nét tương đồng giữa các quan điểm khác nhau về văn hóa pháp luật Tổng hợp các quan điểm khác nhau về văn hóa, văn hóa pháp lý, ta có thể nêu

ra một khái niệm về văn hóa pháp luật như sau:

Văn hóa pháp lý là hệ thống các yếu tố, giá trị vật chất và tinh thần thuộc lĩnh vực tác động của pháp luật được thể hiện trong ý

Trang 26

thức, tư tưởng và hành vi của con người Văn hóa pháp lý là quá trình và kết quả hoạt động sáng tạo của con người trong lĩnh vực pháp luật, thể hiện trong việc xây dựng, khẳng định và giữ gìn những giá trị pháp luật [27, tr.23]

1.2.2.2 Các thành tố cơ bản của văn hóa pháp luật

Văn hóa pháp luật là một bộ phận của nền văn hóa nói chung, là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần được con người sáng tạo ra trong lĩnh vực pháp luật Từ góc độ cấu trúc, văn hóa pháp luật được cấu thành từ các thành tố cơ bản là: ý thức pháp luật, hệ thống pháp luật, các phương tiện pháp luật, hành vi, lối sống pháp luật, trình độ sử dụng pháp luật

Ý thức pháp luật (bao gồm tri thức pháp luật và tình cảm pháp luật): Ý

thức pháp luật là một bộ phận của ý thức, thuộc lĩnh vực đời sống tinh thần của con người Có thể nói:

Ý thức pháp luật là tổng thể những tư tưởng, học thuyết, quan điểm, thái độ, tình cảm, sự đánh giá của con người về pháp luật trên các phương diện, tiêu chí cơ bản như: Về sự cần thiết (hay không cần thiết), về vai trò, chức năng của pháp luật, về tính công bằng hay không công bằng, đúng đắn hay không đúng đắn của các qui định pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua trong quá khứ, pháp luật cần phải có, về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi của các cá nhân, nhà nước, các tổ chức xã hội [35]

Hệ thống pháp luật – yếu tố cấu thành văn hóa pháp luật Hệ thống

pháp luật là một trong những bộ phấn cấu thành cơ bản của văn hóa pháp luật

Hệ thống pháp luật là tổng thể các qui phạm pháp luật có mối liên hệ nội tại thống nhất với nhau, được phân định thành các chế định pháp luật, các ngành luật và được thể hiện trong các văn bản do nhà nước ban hành theo trình tự, thủ tục và hình thức nhất định Hệ thống pháp luật giữ vai trò quyết định đối

Trang 27

với quá trình hình thành và phát triển của văn hóa pháp luật Có thể nói, hệ thống pháp luật là sự biểu hiện cụ thể của văn hóa pháp luật Thông qua hệ thống pháp luật người ta có thể có được những thông tin cơ bản nhất về tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước trong từng thời kỳ lịch sử

Hành vi thực hiện pháp luật và áp dụng pháp luật của các chủ thể

Hành vi của con người là hành vi có ý thức, thể hiện năng lực cá nhân đặt ra trước những mục đích, lựa chọn phương thức thực hiện và dự liệu được kết quả và hậu quả của hành vi đó Pháp luật có chức năng điều chỉnh hành vi, nghĩa là tác động vào các yếu tố chủ quan của con người và đến lượt mình hành vi của chủ thể làm cho pháp luật trở thành hiện thực và sống động Thực hiện pháp luật bao gồm các hình thức sau:

- Tuân thủ pháp luật (xử sự thụ động): các chủ thể kiềm chế không thực hiện các hành vi mà pháp luật ngăn cấm

- Thi hành pháp luật: các chủ thể pháp luật thực hiện các nghĩa vụ pháp

Văn hóa pháp luật của các nước khác nhau có những đặc điểm khác nhau, trình độ phát triển khác nhau, nhưng đều giống nhau ở chỗ là được cấu thành bởi ba nội dung cơ bản là: ý thức pháp luật, hệ thống pháp luật và các

Trang 28

thiết chế pháp luật, hành vi thực hiện pháp luật và áp dụng pháp luật Ba yếu

tố này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau

1.2.2.3 Các cấp độ của văn hóa pháp luật

Các cấp độ của văn hóa pháp luật bao gồm: văn hóa pháp luật thông thường, văn hóa pháp luật lý luận và văn hóa pháp luật nghề nghiệp Cụ thể:

Văn hóa pháp luật thông thường: được hiểu là mức độ nhận thức pháp

luật còn hạn chế, thông qua sự phản ánh trực tiếp, giản đơn về các hiện tượng pháp luật Văn hóa pháp luật thông thường được hình thành dưới sự tác động trực tiếp của những điều kiện khách quan và kinh nghiệm của cuộc sống cá nhân, trong đó yếu tố tâm lý xã hội chiếm vị trí quan trọng

Văn hóa pháp luật lý luận: được hiểu là trình độ nhận thức cao, có hệ

thống và sâu sắc về các vấn đề có tính bản chất của pháp luật và các hiện tượng pháp luật

Văn hóa pháp luật nghề nghiệp: là văn hóa pháp luật của các luật gia và

các nhà chức trách mà nghề nghiệp có liên quan đến việc hoạch định So với các loại hình văn hóa pháp luật kể trên, văn hóa pháp luật nghề nghiệp có đặc điểm ở tính hệ thống tương đối toàn diện các tri thức pháp lý và ở trình độ chuyên môn chuyên sâu về áp dụng pháp luật trong thực tiễn

1.2.2.4 Phân loại văn hóa pháp luật

Phân loại theo chủ thể: gồm văn hóa pháp luật của cá nhân, văn hóa pháp luật nhóm và văn hóa pháp luật xã hội

- Văn hóa pháp luật của cá nhân: thể hiện những quan điểm, tư tưởng,

tâm lý, tình cảm, thái độ của mỗi người về pháp luật và các cơ quan pháp luật Văn hóa pháp luật ở mỗi cá nhân là khác nhau, thể hiện ở ý thức pháp luật cao hay thấp, suy nghĩ, quan niệm về pháp luật tích cực hay tiêu cực từ đó dẫn đến hành vi hợp pháp hay bất hợp pháp

- Văn hóa pháp luật nhóm: nhóm ở đây được hiểu là một nhóm người

Trang 29

hay một tầng lớp có những điểm chung tương đồng về điều kiện làm việc và sinh hoạt, mục đích, nhu cầu và lợi ích… Do vậy về mặt ý chí và nhận thức pháp luật của nhóm cũng có những điểm chung Văn hóa pháp luật nhóm do vậy là những quan điểm, tư tưởng điển hình của nhóm về hệ thống pháp luật Giáo dục và nâng cao văn hóa pháp luật nhóm có ý nghĩa rất quan trọng bởi

nó đóng vai trò là cầu nối giữa văn hóa pháp luật cá nhân và văn hóa pháp luật xã hội

- Văn hóa pháp luật xã hội: được hiểu là những giá trị văn hóa pháp

luật đã được thừa nhận rộng rãi và thực thi trên toàn xã hội Văn hóa pháp luật xã hội thể hiện tích đặc trưng và khái quát cao

Phân loại theo lĩnh vực hoạt động: bao gồm văn hóa lập pháp, văn hóa hành pháp và văn hóa tư pháp

- Văn hóa lập pháp: là những giá trị của văn hóa pháp luật trong hoạt động hoạch định, xây dựng các chính sách pháp luật, văn bản qui phạm pháp luật Văn hóa lập pháp có mặt trong cả quá trình lập pháp, từ việc thu thập tài liệu, điều tra thực tiễn các quan hệ xã hội cần điều chỉnh, xây dựng dự thảo, lấy ý kiến của các tầng lớp nhân dân cho đến giai đoạn thông qua và ban hành văn bản pháp luật

- Văn hóa hành pháp: là những giá trị văn hóa pháp luật trong lĩnh vực thực thi pháp luật Nó bao gồm hoạt động của các cơ quan hành pháp và cả hoạt động của các cá nhân được nhà nước giao quyền làm việc trong các cơ quan đó Ví dụ: văn hóa pháp luật giao thông, đến các lĩnh vực giáo dục, xây dựng, môi trường, đất đai, v v

- Văn hóa tư pháp: là một dạng đặc thù của văn hóa pháp luật Văn hóa

tư pháp là giá trị của văn hóa pháp luật được biểu hiện trong lĩnh vực tư pháp: điều tra, xét xử, truy tố…

Phân loại theo phạm vi tác động: có thể kể đến văn hóa pháp luật ở

Trang 30

trường học, văn hóa pháp luật ở tòa án, văn hóa pháp luật ở các cơ quan hành chính sự nghiệp…

1.2.3 Nhận thức chung về văn hóa nhân quyền

1.2.3.1 Khái niệm về văn hóa nhân quyền

Trong đời sống xã hội có nhiều lĩnh vực văn hóa, trong đó văn hóa nhân quyền là một trong những loại hình văn hóa, có khái niệm rộng lớn liên quan đến nhiều vấn đề, nhiều lĩnh vực, đặc biệt là pháp luật Văn hóa nhân quyền có mối liên hệ chặt chẽ với văn hóa pháp lý

Trên cơ sở kết hợp các khái niệm về văn hóa và về nhân quyền có thể

rút ra khái niệm văn hóa nhân quyền chung nhất là “một tổng thể phức hợp hệ

thống khái niệm về nhân quyền được sử dụng chung, chi phối cách ứng xử và giao tiếp trong một cộng đồng, khiến cho các cộng đồng vừa mang tính chung vừa mang tính đặc thù riêng” [5, tr.29] Ta có thể xem xét các khái niệm về

văn hóa nhân quyền trong các chương trình thế giới về nhân quyền Trong thế

kỷ XX, tổ chức UNESCO đã từng đặt vấn đề văn hóa vì phát triển, phát động thập kỷ văn hóa, đưa văn hóa vào các chương trình, dự án Trong chương trình phát động Thập kỷ giáo dục nhân quyền (1995 – 2004), Chương trình thế giới về nhân quyền (2005 – 2007), UNESCO đã đưa ra khái niệm mới về văn hóa nhân quyền Đầu tiên chương trình Thập kỷ giáo dục về nhân quyền của Liên Hợp quốc là một chương trình, một kế hoạch hành động liên quan đến những công việc ở mức độ toàn cầu với thời hạn hành động là 10 năm Trong Tuyên bố về Thập kỷ giáo dục đã nêu:

Đào tạo, phổ biến và thông tin nhằm xây dựng một nền văn hóa phổ biến về quyền con người thông qua việc truyền đạt các kiến thức, các kỹ năng và tạo nên thái độ nhằm vào:

- Tăng cường sự tôn trọng các quyền con người và các quyền tự

do cơ bản;

Trang 31

- Phát triển toàn diện cá nhân con người và ý thức tôn trọng con người;

- Thúc đẩy sự hiểu biết, tôn trọng, bình đẳng giới và sự đoàn kết giữa các quốc gia, người bản địa và các nhóm chủng tộc, quốc gia, dân tộc, tôn giáo và ngôn ngữ;

- Khả năng hoạt động một cách có hiệu quả của tất cả mọi người trong một xã hội tự do;

- Đẩy mạnh các hoạt động của Liên Hợp quốc để giữ gìn hòa bình [17] Như vậy, bản chất một nền văn hóa nhân quyền là nhằm mục tiêu đưa những chuẩn mực nhân quyền thực sự thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng cho sự phát triển của nhân loại Từ khái niệm trên, ta thấy:

Văn hóa nhân quyền chung nhất là một tổng thể phức hợp hệ thống khái niệm liên quan đến nhân quyền được sử dụng chung, chi phối cách ứng xử và giao tiếp trong một cộng đồng, khiến cho các cộng đồng vừa mang tính chung vừa mang tính đặc thù riêng Tổng thể khái niệm phức hợp những khái niệm sử dụng chung về nhân quyền đề cập đến rất phong phú gồm các bình diện như: Tăng cường sự tôn trọng quyền con người và tự do cơ bản; Phát triển toàn diện nhân cách và hiểu biết về sự tôn nghiêm của nhân cách; Tăng cường hiểu biết và sự khoan dung, bình đẳng giới, tình hữu nghị của các dân tộc, dân bản xứ, giữa các nhóm nhân chủng, dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, ngôn ngữ; Đảm bảo để mọi công dân đều có khả năng tham gia hiệu quả vào xã hội tự do và dân chủ trong khuôn khổ pháp luật; Xây dựng và gìn giữ hòa bình; Đẩy mạnh được sự phát triển duy trì được vị trí con người là trung tâm và chính nghĩa trong xã hội [5, tr.29]

Trang 32

1.2.3.2 Các thành tố cơ bản của văn hóa nhân quyền:

Tri thức – một thành tố cấu thành văn hóa nhân quyền Như ta đã biết ở

trên, tri thức hay kiến thức bao gồm những hiểu biết về những sự vật, hiện tượng, những dữ kiện, thông tin, sự mô tả hay kỹ năng trong tự nhiên và xã hội Tri thức về văn hóa nhân quyền có nghĩa là sự hiểu biết của mọi người về văn hóa và nhân quyền Trước hết, sự hiểu biết hay tri thức của người dân, về nền tảng chung của nhân quyền, về phẩm giá, về những quyền con người mà mọi người trong gia đình nhân loại đều được hưởng Sự hiểu biết này sẽ cho phép nhân quyền vận động hay nói cách khác là lan rộng hay phổ biến rộng rãi và trở thành một nét văn hóa riêng

Tiếp theo đó rất quan trọng, là tri thức là sự hiểu biết của cán bộ công chức về văn hóa nhân quyền Vì cán bộ công chức là người thực thi pháp luật, điều hành bộ máy nhà nước Đội ngũ cán bộ công chức là những người trong

bộ máy hành chính, tiếp xúc với người dân, hướng dẫn người dân, nên cần phải có tri thức hiểu biết thấu đáo về văn hóa nhân quyền, có như vậy mới có hành xử, ứng xử đúng đắn phù hợp được Việc tuân theo các quy định pháp luật về nhân quyền sẽ làm tăng phẩm giá và tôn trọng nhân quyền Một xã hội

có văn minh, có dân chủ, có tiến bộ hay không, ngoài thể hiện những con số

về tăng trưởng kinh tế, thì phải thể hiện mức độ tri thức hiểu biết của mọi người về văn hóa nhân quyền

Ý thức – thành tố thứ hai cấu thành văn hóa nhân quyền Ý thức về văn

hóa nhân quyền, ý thức mọi người trong việc tôn trọng, bảo vệ nhân quyền Ý thức rất quan trọng trong cấu thành văn hóa nhân quyền, cũng như xây dựng nền văn hóa nhân quyền Vì nếu người dân không có ý thức về nhân quyền, thì tình trạng nhân quyền sẽ không được cải thiện, hoặc cải thiện không hiệu quả cho dù chính quyền và luật pháp hoàn toàn tôn trọng nhân quyền, nếu người dân không sử dụng nhân quyền của mình thì sự thực hiện nhân quyền cũng không thể xảy ra

Trang 33

Ý thức cũng có nhiều cấp độ khác nhau, như ý thức cá nhân, ý thức giai cấp, ý thức xã hội Ý thức về việc bảo vệ nhân quyền có thể từ nhà nước, từ

cá nhân Bởi vậy việc nâng cao ý thức văn hóa nhân quyền cho tất cả mọi người, tất cả các tầng lớp trong xã hội là rất quan trọng để hướng tới một xã

hội dân chủ, một nền văn hóa nhân quyền cho mọi người

Ứng xử - thành tố thứ ba cấu thành văn hóa nhân quyền Hành vi ứng

xử đòi hỏi phải thực hiện trên cơ sở ý thức về các yêu cầu về pháp luật, yêu cầu của đạo đức, là sự biểu hiện văn hóa và kinh nghiệm sống của con người Hành vi hợp pháp là hành vi phù hợp yêu cầu pháp luật, là hành vi cần thiết, mong muốn cho phép của các chủ thể pháp luật, phù hợp lợi ích xã hội được các quy phạm pháp luật quy định, được nhà nước đảm bảo thực hiện và bảo

vệ Hành vi ứng xử với phải có văn hóa, và đồng thời phải đúng các quy định của pháp luật về bảo vệ quyền con người

Ứng xử giữa con người trong giao tiếp đời sống với những người xung quanh Ứng xử của các chủ thể trong xã hội Ứng xử giữa các chủ thể với nhau đôi khi còn là quá trình trao đổi, giao lưu về văn hóa, tri thức Bởi vậy

để xây dựng được nền văn hóa nhân quyền phát triển bền vững cũng phụ

thuộc vào yếu tố ứng xử rất lớn

1.2.3.3 Phân loại văn hóa nhân quyền

Phân loại theo chủ thể: gồm văn hóa nhân quyền của cá nhân, văn hóa nhân quyền nhóm và văn hóa nhân quyền xã hội

- Văn hóa nhân quyền cá nhân: thể hiện những quan điểm, tư tưởng,

tâm lý, tình cảm, thái độ của mỗi người về nhân quyền và các cơ quan nhân quyền Văn hóa nhân quyền ở mỗi cá nhân là khác nhau, do năng lực, tính cách, quan niệm của mỗi cá nhân Mỗi cá nhân đều có văn hóa nhân quyền bất kể họ có thuộc về một nhóm xã hội nào hay không

- Văn hóa nhân quyền nhóm: nhóm là một nhóm người hay một tầng

Trang 34

lớp có những điểm chung về điều kiện làm việc, sinh hoạt, mục đích, nhu cầu, Nó sẽ thể hiện những đặc thù chung của một tập thể hay một nhóm xã hội nhất định nào đấy ví dụ như nhóm phụ nữ, nhóm trẻ em, nhóm người khuyết tật, Văn hóa nhân quyền nhóm là những quan điểm, tư tưởng điển hình của nhóm về nhân quyền Như ở trong một quốc gia với nhiều dân tộc như Việt Nam ta, các nhóm dân tộc có quyền được duy trì, bảo vệ bản sắc riêng của dân tộc mình và trên cơ sở đó xây dựng nền văn hóa nhân quyền của tập thể dân tộc mình Trên bình diện quốc tế, các quốc gia có thực thi quyền con người trên nguyên tắc cơ sở luật pháp về quyền con người nhưng vẫn tôn trọng tính đặc thù văn hóa của mỗi quốc gia

- Văn hóa nhân quyền xã hội: được hiểu là những giá trị văn hóa nhân

quyền đã được thừa nhận rộng rãi và thực thi trên toàn xã hội Điều này cũng thể hiện tính phổ quát của văn hóa nhân quyền, vì nhân quyền là dành cho tất

cả mọi người, mọi thành viên trong gia đình nhân loại

Phân loại theo lĩnh vực hoạt động: bao gồm văn hóa nhân quyền trong lĩnh vực chính trị, xã hội,

1.2.3.4 Các đặc trưng của Văn hóa nhân quyền

Việc sáng tạo và xây dựng nền văn hóa nhân quyền trên thế giới hiện nay là mục tiêu chung của nhân loại Văn hóa nhân quyền có những đặc trưng riêng như sau:

Thứ nhất là tính đặc thù, đặc trưng riêng của văn hóa nhân quyền

Sự khẳng định về giá trị con người, thay đổi rất nhiều theo những quan

điểm văn hóa khác nhau “Tính độc đáo riêng của quyền con người thể hiện ở

các khái niệm về quyền con người khác nhau bắt nguồn từ mỗi vùng đất và con người, là giá trị ưu tiên liên quan đến tính tôn nghiêm của con người, là cách nắm bắt sự vi phạm nhân quyền” [5, tr.31] Những thay đổi, khác biệt về

văn hóa giữa các dân tộc, các quốc gia sẽ dẫn đến các tiêu chuẩn về thực thi

Trang 35

quyền con người có sự khác nhau Bởi mức độ hưởng thụ các quyền phải phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh và kinh tế, xã hội, văn hóa cụ thể Các nền văn hóa có sự riêng biệt của mình và chúng ta nên coi trọng sự khác biệt ấy Việc thực thi quyền con người phụ thuộc và chịu tác động bởi văn hóa truyền

thống Bởi vậy văn hóa nhân quyền có tính đặc thù “Mặt này được gọi là văn

hóa nhân quyền trong thế giới hàng ngày hay còn gọi là tính riêng – đặc thù của văn hóa nhân quyền” [5, tr.31]

Thứ hai, tính phổ quát của văn hóa nhân quyền: Song song với tính đặc

thù văn hóa nhân quyền còn có tính phổ quát Tính phổ quát của quyền con người thể hiện ở tiêu chuẩn đã được nhất trí, xác lập trên trường quốc tế về quyền con người, được công nhận trong luật pháp quốc tế Nhân quyền được nhấn mạnh trong những mục đích của Liên Hiệp Quốc Trong Hiến Chương

của Liên Hợp Quốc đã khẳng định và công bố rằng nhân quyền là “cho tất cả

mọi người không phân biệt” [15] Nhân quyền là những quyền tự nhiên sinh ra

cho mỗi con người Đó không phải là đặc quyền rằng riêng cho ai cả Tính chất phổ quát của quyền con người thể hiện ngay trong lời nói đầu của bản Tuyên

ngôn toàn thế giới về Nhân quyền “bản Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con

người này là thước đo chung cho tất cả các quốc gia và các dân tộc, và cho cả mọi cá nhân và tổ chức xã hội” [15, tr.48] Tuyên bố này được lặp lại trong

Tuyên bố Vienna và Chương trình hành động để tái khẳng định “tiêu chuẩn

chung” [15] cho tất cả mọi người Điều này có nghĩa tất cả các quyền chính trị,

dân sự, văn hóa, kinh tế và xã hội của con người đều là phổ quát với tất cá các giá trị và áp dụng cho tất cả mọi người, tất cả các dân tộc trong mọi quốc gia

trên thế giới Như vậy văn hóa nhân quyền có tính phổ quát

Và các quyền phổ quát của con người không áp đặt một tiêu chuẩn văn hóa nào là một tiêu chuẩn quy phạm pháp luật bảo vệ tối thiểu cần thiết cho nhân phẩm con người Mà thông qua các tiêu chuẩn pháp lý, các quy định

Trang 36

pháp lý của Liên Hợp quốc, các điều ước quốc tế, các quyền phổ quát của con người được sự đồng thuận của cộng đồng quốc tế Nó không phụ thuộc vào nền văn hóa của khu vực hay của các truyền thống nào đó Nhân quyền không

có sự định hướng đối với một nền văn hóa này để loại trừ một nền văn hóa khác Các quyền phổ quát của con người là thành tựu hiện đại mới cho tất cả các nền văn hóa Đây có thể nói đó chính là tính chung, phổ biến, phổ quát

của văn hóa nhân quyền

1.2.4 Cách tiếp cận quyền con người trong văn hoá phương Đông và phương Tây

1.2.4.1 Quyền con người trong văn hóa phương Tây

Xã hội phương Tây là xã hội được đặc trưng chủ yếu bởi quan hệ giữa các cá nhân riêng biệt Khi trình bày về quan điểm của bản thân người phương Tây thường nói thẳng ngay cảm nhận của họ và quan điểm rõ ràng

Họ nhìn nhận bản thân mình một cách khách quan hơn Với họ mỗi con người

là một cá thể có chính kiến của riêng mình, sống độc lập và tôn trọng cái “tôi”

là đặc trưng của cách sống phương tây Đối với xã hội phương Tây, mỗi người đều có quyền coi mình là trung tâm và có quyền đối với thế giới xung quanh mình Những cá nhân này tạo thành một xã hội thông qua hình thức khế ước để bảo vệ lợi ích bản thân Vì lối sống và văn hóa phương Tây là sự coi trọng chủ nghĩa cá nhân Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, trong xã hội phương Tây, quan hệ giữa quyền và lợi ích cá nhân được xác định và phân chia một cách chính xác, rõ ràng

Pháp luật được sử dụng để pháp chế hóa tập quán một cá nhân được hưởng những quyền và lợi ích mà tất cả những người khác phải tôn trọng Các

cá nhân có thể theo đuổi, thực hiện các lợi ích của mình một cách không hạn chế, nhưng không được vi phạm các quyền và lợi ích của những người khác hay nói cách khác là phải tôn trọng quyền và lợi ích của người khác Các

Trang 37

nước phương Tây trên cơ sở đề cao tinh thần tự do với nội dung chính của các quyền con người phù hợp với đặc điểm văn hóa phương Tây Nhưng nói như thế không có nghĩa là các quyền con người ở Phương Tây là tất cả các quyền con người trên thế giới Quyền con người phổ biến có thể là những quyền con người của phương Tây, nhưng không thể chỉ giới hạn ở các quyền đó, mà nó phải là các quyền con người được chấp nhận và tuân thủ bởi người dân của tất

cả các nước trên thế giới chứ không phải chỉ ở các nước phương Tây Như

tuyên ngôn thế giới về nhân quyền đã nhận định“các quyền bình đẳng và

không thể tách rời của mọi thành viên trong gia đình nhân loại là cơ sở cho

tự do, công bằng và hòa bình trên thế giới” [15, tr.48]

1.2.4.2 Quyền con người trong văn hóa phương Đông: Theo truyền

thống văn hóa ở các nước phương Đông, các quyền con người thường hướng vào những nhân tố đoàn kết cộng đồng, lòng khoan dung, tôn trọng quyền lực nhà nước, tôn trọng danh tiết, phẩm giá con người, tôn trọng chủ nghĩa nhân đạo, và tiến bộ xã hội, hạn chế chủ nghĩa cá nhân Đó là những định hướng giá trị bền vững trong việc xác định và thực hiện nhân quyền ở các nước Á Đông Và đương nhiên dẫn đền việc quyền con người trong văn hóa phương Đông và phương Tây có nhiều sự khác biết Ví dụ như người ta nhận thấy rằng ở các nước Á Đông, việc đối xử một cách cung kính với những người lớn tuổi trong gia đình như ông bà, cha mẹ già được chú trọng và khuyến khích nhiều hơn là ở các nước phương Tây

Tóm lại có nhiều yếu tố đặc trưng như thế nó tạo ra những đặc trưng về quyền con người trong phương Đông và phương Tây như các yếu tố về trình

độ phát triển kinh tế, chính trị, di sản văn hóa Và ở phương Đông, đặc biệt là tôn giáo, triết lý về đạo đức, luân lý, từ xưa cho đến nay, vẫn có ảnh hưởng sâu sắc và mạnh mẽ đến quan điểm về nhân quyền

Dù ở phương Đông hay phương Tây, thì khái niệm về nhân quyền vượt

Trang 38

qua phạm vi pháp luật địa phương, quốc gia, nhân quyền được xem là quyền

cơ bản của bất của một ai là một con người trên thế giới Bởi vậy việc thừa nhận những khác biệt của những văn hóa khác nhau thật vô cùng quan trọng trong thể giới hiện đại ngày nay, văn hóa phương Đông và phương Tây đều

có những giá trị quý giá, mà nhân quyền thì được xây dựng trên quy tắc căn bản là tự do và dân chủ

1.2.4.3 Sự khác biệt nhất định trong quan điểm về quyền con người giữa các quốc gia, khu vực và cộng đồng và sự can thiệp của các nước phương Tây vào vấn đề quyền con người trên thế giới

Văn hóa phương Đông và phương Tây đều có những đóng góp vào những giá trị văn hóa và các giá trị xây dựng quyền con người của toàn nhân loại Tuy nhiên, Mỹ và các nhiều nước phương Tây lại đang tìm cách áp đặt giá trị văn hóa phương Tây vào các tiêu chuẩn nhân quyền và áp đặt các giá trị tiêu chuẩn này cho toàn thế giới Họ xây dựng nên một cái mà người ta hay gọi là chủ nghĩa đế quốc về văn hóa, coi các giá trị mà họ áp đặt là các giá trị

về văn hóa, nhân quyền, dân chủ cần phổ biến đối với nhân loại

Mặc dù phương Tây là nơi có ảnh hưởng to lớn nhất định với vấn đề nhân quyền, nền văn hóa phương Tây có thể coi như là cái nôi xuất phát của các văn kiện quốc tế về nhân quyền Tuy vậy, không thể áp đặt các giá trị, các

mô hình về chính trị, kinh tế, văn hóa của phương Tây cho các quốc gia ở các khu vực khác được

Bởi khi tiếp cận và xử lý vấn đề quyền con người cần kết hợp hài hòa các chuẩn mực, nguyên tắc chung của luật pháp quốc tế với những điều kiện đặc thù về lịch sử, chính trị, kinh tế - xã hội, các giá trị văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán của mỗi quốc gia và khu vực Không một nước nào có quyền áp đặt mô hình chính trị, kinh tế, văn hóa của mình cho một quốc gia khác Tính phổ quát của các quyền con người không có nghĩa là

Trang 39

việc áp dụng trên toàn cầu một tập hợp các giá trị phương Tây Và chúng ta phải hiểu ra rằng trong sự phổ quát có kèm theo các sự khác biệt về tôn giáo, văn hóa, chính trị, lối sống, Chúng ta không phủ nhận việc các khái niệm về quyền con người thực sự có nguồn gốc ở Châu Âu hay còn gọi là Phương Tây và nó thực sự phát triển ở Phương Tây, nhưng điều này không có nghĩa là quyền con người chỉ dành cho các nước Phương Tây Cốt lõi của nhân quyền là tính phổ quát, tức là nó dành cho mọi người, không

có sự phân biệt, cho dù là Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Á, Châu Phi, da đen hay

da trắng, theo đạo Thiên Chúa, Phật Giáo, hay không theo tôn giáo,… Quyền con người là phổ quát và nó dành cho tất cả các thành viên trong gia đình nhân loại Bởi vậy không thể lấy những giá trị của phương Tây để áp đặt cho các quốc gia khác được

Ở phạm vi khu vực, các nước châu Á như Ấn Độ, Trung Quốc, Singapore, Malaysia, Inđônêxia, Nhật Bản hay Việt Nam đều ủng hộ quan điểm về tính đặc thù về quyền con người thông qua việc đề xướng lý luận về những giá trị châu Á

Tự do, bình đẳng, dân chủ và nhân phẩm không chỉ dành riêng cho phương Đông hay phương Tây mà dành cho cả nhân loại, cho tất cả mọi người, nó là phổ quát Điều đó khẳng định những hình thức văn hóa bản địa

có thể được căn cứ vào giá trị chung cho các truyền thống lớn trên thế giới Bởi mục đích của nhân quyền chính là để bảo tồn và phát triển văn hóa của các dân tộc trên thế giới, bảo tồn bản sắc của họ, cụ thể như tôn giáo, ngôn ngữ, truyền thống và các di sản văn hóa Châu Á là khu vực có các tôn giáo lớn trên thế giới, như Phật Giáo, Ấn độ giáo, Hồi giáo Mỗi tôn giáo có các tập hợp niềm tin và giá trị khác nhau Các tôn giáo có biểu hiện về nhân quyền với các yếu tố đặc thù riêng của mình Các nền văn hóa khác nhau của châu Á dường như được phát huy tầm quan trọng của cộng đồng Các nền văn

Trang 40

hóa của châu Á phát triển xung quanh vấn đề này, và ở khía cạnh này văn hóa châu Á đối lập với văn hóa phương Tây khi nhận mạnh vào từng cá nhân Bởi vậy, do những đặc thù về văn hóa, lịch sử, châu Á cần có những cách thức và tiêu chuẩn riêng trong vấn đề quyền con người chứ không thể và không nên chạy theo những giá trị dân chủ, nhân quyền được cổ vũ bởi phương Tây

1.2.5 Các yếu tố tác động đến văn hóa nhân quyền

* Ảnh hưởng của yếu tố đạo đức – tôn giáo:

Theo UNESCO, có hai nhóm hệ thống giá trị đạo đức thời nay Những giá trị đạo đức chung: lý tưởng nhân đạo, chính sách nhân đạo, lối sống nhân đạo, vẻ đẹp tâm hồn, hòa bình – hòa hợp, bình đẳng – công lý, nhân quyền, dân quyền., Những giá trị đạo đức riêng: lòng nhân ái, lòng vị tha, sự lương thiện, sự độ lượng, ân cần, dũng cảm, yêu thiên nhiên, tình yêu nam nữ, đạo làm cha làm mẹ, đạo làm thầy, liêm khiết, siêng năng, thật thà, khiêm tốn,

Chính từ những giá trị đạo đức này, hay với những quy tắc đạo đức hàm chứa những ý tưởng về quyền con người sau đó được đúc kết, khái quát,

bổ sung và phát triển trong giáo lý của các tôn giáo Sức mạnh đức tin của các tôn giáo đó biến các ý tưởng về quyền con người như vậy trở thành những quy phạm đạo đức – tôn giáo được tuân thủ rộng rãi ở nhiều xã hội, trong đó

đề cao và cổ vũ tình yêu thương đồng loại, sự công bằng, bình đẳng, tự do và nhân phẩm – những yếu tố nền tảng của quyền con người Nhìn một cách tổng thể, trong suốt quá trình phát triển nhân quyền bị sự chi phối của phạm trù đạo đức và tôn giáo Và như vậy văn hóa nhân quyền với sự xây dựng trên nền tảng nhân quyền trong suốt quá trình phát triển cũng mang trên mình dấu

ấn của các giá trị, quy tắc tôn giáo, đạo đức

* Ảnh hưởng của yếu tố pháp luật:

Văn hóa nhân quyền là một loại hình văn hóa Bởi vậy nó chịu ảnh hưởng của yếu tố pháp luật Nhân quyền hay các quyền con người cần có sự

Ngày đăng: 25/03/2015, 15:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Tuyên giáo Trung ương (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, tr,239, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2011
2. Ban Tuyên giáo Trung ương (2011), Tài liệu nghiên cứu các văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, tr.42, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu các văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2011
3. Nguyễn Duy Bắc (2008), Sự biến đổi các giá trị văn hóa trong Bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, tr. 238, NXB từ điển bách khoa & Viện văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự biến đổi các giá trị văn hóa trong Bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Duy Bắc
Nhà XB: NXB từ điển bách khoa & Viện văn hóa
Năm: 2008
4. C. Mác và Ph.Angghen (1995), Toàn tập, tr.19, 36, NXB Quốc Gia, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác và Ph.Angghen
Nhà XB: NXB Quốc Gia
Năm: 1995
5. Vũ Thị Minh Chi (2007), “Văn hóa nhân quyền”, Tạp chí nghiên cứu con người, (2) (29) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa nhân quyền”, "Tạp chí nghiên cứu con người
Tác giả: Vũ Thị Minh Chi
Năm: 2007
7. Nguyễn Văn Dân (2008), “Diện mạo và triển vọng của Xã hội tri thức”, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Diện mạo và triển vọng của Xã hội tri thức”
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2008
8. Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng (2011), Giáo trình Lý luận và pháp luật về Quyền con người, NXB Đại học Quốc Gia Ha ̀ Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng (2011), "Giáo trình Lý luận và pháp luật về Quyền con người
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia Hà Nô ̣i
Năm: 2011
9. Lê Quý Đôn (2007), Đại Việt thông sử, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Sử học, tr.100, NXB Văn Hóa – Thông Tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt thông sử
Tác giả: Lê Quý Đôn
Nhà XB: NXB Văn Hóa – Thông Tin
Năm: 2007
10. Phạm Duy Đức (2009), “Phát triển Văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phát triển Văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020”
Tác giả: Phạm Duy Đức
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2009
11. Hoàng Văn Hảo (1996), Tìm hiểu những quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta về quyền con người (Thông tin chuyên đề - Quyền con người, quan niệm và thực tiễn), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu những quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta về quyền con người
Tác giả: Hoàng Văn Hảo
Năm: 1996
12. Đỗ Huy (2008), “Lối sống dân tộc – hiện đại, mấy vấn đề lý luận và thực tiễn”, NXB Văn hóa – Thông tin & Viện Văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Lối sống dân tộc – hiện đại, mấy vấn đề lý luận và thực tiễn”
Tác giả: Đỗ Huy
Nhà XB: NXB Văn hóa – Thông tin & Viện Văn hóa
Năm: 2008
13. Khoa luật – Đại học Quốc gia Hà Nội (2011), Hỏi đáp về quyền con người, NXB Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về quyền con người
Tác giả: Khoa luật – Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: NXB Lao động xã hội
Năm: 2011
14. Khoa Luật Đại học QG Hà Nội (2011), Tư tưởng về quyền con người, (tuyển tập tư liệu thế giới và Việt Nam), tr.704, NXB Lao động – Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng về quyền con người
Tác giả: Khoa Luật Đại học QG Hà Nội
Nhà XB: NXB Lao động – Xã hội
Năm: 2011
15. Khoa Luật Đại học QG HN (2011), Giới thiệu các văn kiện quốc tế về quyền con người, NXB Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu các văn kiện quốc tế về quyền con người
Tác giả: Khoa Luật Đại học QG HN
Nhà XB: NXB Lao động xã hội
Năm: 2011
16. Kofianan (2005), Tự do rộng rãi, Tổng thư ký Liên Hợp quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự do rộng rãi
Tác giả: Kofianan
Năm: 2005
18. Hồ Chí Minh (1980), Tuyển tập, tập 1, tr.356, NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập, tập 1
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1980
19. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 3, tr.43, NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 3
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc Gia
Năm: 1995
20. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 4, tr.440, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 4
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
21. Phạm Xuân Nam (2005), Triết lý phát triển ở Việt Nam mấy vấn đề cốt yếu, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết lý phát triển ở Việt Nam mấy vấn đề cốt yếu
Tác giả: Phạm Xuân Nam
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2005
22. Phạm Duy Nghĩa (2008), “Góp phần tìm hiểu văn hóa pháp luật”, Tạp chí Khoa học – Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần tìm hiểu văn hóa pháp luật”, "Tạp chí Khoa học –
Tác giả: Phạm Duy Nghĩa
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1:   Bảng khái quát về các cách phân loại quyền con người - Văn hóa nhân quyền - nhận thức cơ bản và các giải pháp xây dựng văn hóa nhân quyền ở Việt Nam hiện nay
Bảng 1.1 Bảng khái quát về các cách phân loại quyền con người (Trang 7)
Bảng 1.1: Bảng khái quát về các cách phân loại  quyền con người đã được đề cập ở trên - Văn hóa nhân quyền - nhận thức cơ bản và các giải pháp xây dựng văn hóa nhân quyền ở Việt Nam hiện nay
Bảng 1.1 Bảng khái quát về các cách phân loại quyền con người đã được đề cập ở trên (Trang 18)
Bảng 2.2: Một số luật Nhà nước ta đã ban hành - Văn hóa nhân quyền - nhận thức cơ bản và các giải pháp xây dựng văn hóa nhân quyền ở Việt Nam hiện nay
Bảng 2.2 Một số luật Nhà nước ta đã ban hành (Trang 74)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm