1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát chỉnh thể nghệ thuật dân ca đám cưới của người Mường Thanh Hóa

187 788 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 187
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về tập tục hôn nhân của người Mường có một số bài viết trên sách, báo, Tạp chí Văn hoá dân gian như sau: Bài viết Tục lệ cưới xin của người Mường ở huyện Kim Bôi, tỉnh Hoà Bình của tác

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-*** -

NGUYỄN THỊ QUẾ

KHẢO SÁT CHỈNH THỂ NGHỆ THUẬT DÂN CA ĐÁM CƯỚI CỦA NGƯỜI MƯỜNG THANH HOÁ

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Hà Nội, năm 2009

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Mã số : 60 22 36

Người hướng dẫn khoa học: TS Mai Thị Hồng Hải

Hà Nội, năm 2009

Trang 3

MỤC LỤC Trang

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 8

4 Phạm vi nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 8

6 Những đóng góp của luận văn 8

7 Cấu trúc luận văn 9

PHẦN NỘI DUNG Chương 1: Dân ca đám cưới trong quan hệ với tập tục hôn nhân của người Mường Thanh Hoá 10

1.1 Một vài nét khái quát về người Mường ở Thanh Hoá 10

1.1.1 Địa vực cư trú, dân cư, dân số 10

1.1.2 Tổ chức xã hội 11

1.1.3 Văn hoá truyền thống của người Mường Thanh Hoá 12

1.2 Dân ca đám cưới trong trong tập tục hôn của người Mường Thanh Hoá 16

1.2.1 Hình thức thể loại của dân ca đám cưới người Mường Thanh Hoá 16

1.2.2 Tập tục hôn nhân của người Mường Thanh Hoá 17

1.2.2.1 Dò ý và đi dạm 18

1.2.2.2 Lễ ăn hỏi 19

1.2.2.3 Lễ ra mắt rể 21

1.2.2.4 Lễ cưới 25

1.3 Một vài nét so sánh tập tục hôn nhân cổ truyền của người Mường Thanh Hoá với một số dân tộc khác 30

1.3.1 So sánh tập tục hôn nhân cổ truyền của người Mường Thanh Hoá với người Kinh 30

1.3.2 So sánh tập tục hôn nhân cổ truyền của người Mường Thanh Hoá với một số

Trang 4

dân tộc thiểu số ở Việt Nam 31

Chương 2: Một số phương diện nghệ thuật dân ca đám cưới của người Mường Thanh Hoá 35

2.1 Kết cấu và đặc điểm chung 35

2.1.1 Hình thức kết cấu của dân ca đám cưới 39

2.1.1.1 Kết cấu đối đáp 39

2.1.1.2 Kết cấu một chiều 41

2.1.2 Một số thủ pháp kết cấu 43

2.1.2.1 Thủ pháp kết cấu đối chiếu 43

2.1.2.2 Thủ pháp kết cấu trùng điệp 45

2.2 Thể thơ, ngôn ngữ 49

3.2.1 Thể thơ 49

3.2.2 Ngôn ngữ 53

2.3 Một số phương tiện diễn tả biểu hiện trong dân ca đám cưới người Mường Thanh Hoá 54

2.3.1 So sánh và một số biện pháp khác 54

2.3.2 Tín hiệu văn hoá - nghệ thuật mang đậm chất miền núi của người Mường Thanh Hoá 57

2.3.3 Những tích Sử thi, truyện cổ Mường, những mảnh đoạn truyện thơ Mường, thành ngữ, tục ngữ Mường trong dân ca đám cưới 59

2.3.3.1 Những tích Sử thi, truyện cổ Mường trong dân ca đám cưới 59

2.3.3.2 Những mảnh đoạn truyện thơ Mường trong dân ca đám cưới 65

2.3.3.3 Thành ngữ, tục ngữ Mường trong dân ca đám cưới 68

2.3.4 Biểu tượng 69

2.3.4.1 Cây si 70

2.3.4.2 Ông mối 71

2.3.4.3 Nhà sàn 73

Chương 3: Dân ca đám cưới trong sinh hoạt nghi lễ hôn nhân của người Mường

Trang 5

Thanh Hoá 77

3.1 Cách thức tổ chức và trình tự diễn xướng dân ca đám cưới trong sinh hoạt nghi lễ hôn nhân của người Mường Thanh Hoá 77

3.2 Một vài nét so sánh về hình thức thức diễn xướng cổ truyền của dân ca đám cưới người Mường Thanh Hoá với một số dân tộc thiểu số ở Việt Nam 86

3.3 Một vài nét biến đổi về thức diễn xướng dân ca đám cưới trong sinh hoạt nghi lễ hôn nhân của người Mường Thanh Hoá 95

3.3.1 Những biến đổi về tập tục cưới xin của người Mường Thanh Hoá 95

3.3.2 Những thay đổi về phương thức diễn xướng dân ca đám cưới người Mường Thanh Hoá trong đám cưới ngày nay 98

PHẦN KẾT LUẬN 100

THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1.Lý do chọn đề tài

1.1.Trong số các dân tộc thiểu số ở Thanh Hoá, dân tộc Mường có dân số đông nhất

Đồng thời, giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - văn hoá xã hội và an ninh quốc phòng ở miền núi Thanh Hoá Cư dân Mường thường cư trú ở vùng thung lũng chân núi, làm ăn sinh tồn chủ yếu dựa vào các tài nguyên rừng Địa bàn cư trú của người Mường Thanh Hoá tiếp giáp người Kinh, đồng thời cũng là vùng giao lưu, tiếp xúc văn hoá với nhiều tộc người khác như Dao, Thái, Mông, Thổ, Khơ Mú… Dưới góc độ địa lý học, dân tộc học có thể nhận thấy rằng: Người Mường ở Việt Nam là một dân tộc thống nhất nhưng cũng có sự khác biệt mang tính địa phương khá rõ nét Người Mường Thanh Hoá trong quá trình phát triển của lịch sử đã tạo nên những nét đặc sắc văn hoá của riêng mình Trong kho tàng văn học dân gian của dân tộc Mường, dân ca chiếm một số lượng đáng kể bởi hầu hết các phong tục tập quán, lễ hội của người Mường đều có sự tham gia góp mặt của dân ca Dân ca đám cưới là một hiện tượng độc đáo gắn với phong tục và nghi lễ cưới xin của người Mường Tìm hiểu dân ca đám cưới không những nhận thức được các giá trị văn hoá, văn học độc đáo của người Mường mà còn góp phần thực hiện chủ trương bảo tồn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và gìn giữ di sản văn hoá dân tộc

1.2 Dân ca đám cưới một hiện tượng văn học dân gian đậm đà bản sắc dân tộc, là tiếng

nói của tâm hồn được người Mường Thanh Hoá sáng tạo, ấp ủ, gìn giữ qua nhiều thế hệ Người Mường đã dùng hình tượng con ve ly, ve láng để nói lên điều tất yếu của tình yêu, hôn nhân trong cuộc đời mỗi con người:

Năm nào năm chẳng có tiếng ve láng Tháng nào tháng chẳng có tiếng ve ly

Đời nào chẳng có người đi lấy chồng hỏi vợ

Tìm hiểu dân ca đám cưới, chúng tôi muốn tìm hiểu thế giới tâm hồn, tình cảm của người Mường và hiểu sâu sắc hơn những giá trị nghệ thuật của nó trong kho tàng dân ca dân tộc Mường

1.3 Dân ca đám cưới là một loại hình tổng hợp của nghệ thuật ngôn từ và phương thức diễn xướng dân gian gắn với phong tục nghi lễ hôn nhân của người Mường, trong đó thành

Trang 7

tố đóng vai trò quan trọng là nghệ thuật ngôn từ Là một giáo viên dạy môn Văn và có khá nhiều chuyến thực tế tại những vùng Mường Thanh Hoá nên khi thực hiện đề tài này, chúng tôi hy vọng sẽ có ý nghĩa thiết thực đối với việc giảng dạy và nghiên cứu văn học dân gian các dân tộc ít người ở Việt Nam nói chung và góp phần bảo tồn những bài ca đám cưới của người Mường Thanh Hoá nói riêng

Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài Khảo sát chỉnh thể nghệ thuật của dân ca

đám cưới của người Mường Thanh Hoá để nghiên cứu

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nghiên cứu dân ca đám cưới của người Mường Thanh Hoá trong phong tục hôn nhân của họ có liên quan đến nhiều vấn đề; nhưng trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn chỉ trình bày lịch sử của hai vấn đề sau:

Một là: Vấn đề nghiên cứu về tập tục hôn nhân của người Mường nói chung và người Mường ở Thanh Hoá nói riêng

Hai là: Vấn đề nghiên cứu dân ca đám cưới của người Mường Thanh Hoá

2.1 Về tập tục hôn nhân của người Mường có một số bài viết trên sách, báo, Tạp chí

Văn hoá dân gian như sau:

Bài viết Tục lệ cưới xin của người Mường ở huyện Kim Bôi, tỉnh Hoà Bình của tác giả

Nguyễn Ngọc Thanh đã khảo tả lại tập tục cưới xin của người Mường ở Kim Bôi một cách chi tiết từ bước chọn mai mối đến các bước trong lễ cưới: Hỏi thăm (Mờ miệng), Kháo tiếng (Đặt vấn đề), Ti nòm (ăn hỏi), Ti cháu (Lễ cưới) Bài viết giúp người đọc nắm được một số phong tục, tập quán hôn nhân từ lễ cưới của người Mường, tác giả cũng khẳng định

“Lễ cưới của người Mường ở Kim Bôi vừa có những đặc điểm chung, giống như nhiều vùng

Mường khác ở Hoà Bình vừa mang những sắc thái địa phương chính điều đó làm cho văn hoá Mường thêm đa dạng, phong phú” [70, tr 64]

Tác giả Phùng Quỳnh với bài viết Nghi lễ cưới xin của người Mường tuy không giới

thiệu cụ thể đây là đám cưới của người Mường ở vùng nào nhưng cũng giới thiệu một cách

tổ chức đám cưới khác của người Mường trải qua bốn giai đoạn: Đi dạm, Ăn hỏi (Ăn noòm), Sắp gánh, Lễ đón dâu

Trong cuốn Người Mường với văn hoá cổ truyền Mường Bi [11], có bài viết về Lễ cưới [11, tr 107, 115] của tác giả Đinh Công Chẩy Bài viết đã giới thiệu tập tục cưới xin của

Trang 8

người Mường Bi với các bước như sau: Đi thăm dò ướm hỏi, Ti nôm bánh (Lễ bỏ trầu), Lễ cưới lần thứ nhất (Ti cháu), Lễ đón dâu (Ti du); trong đó khá nhiều tục lệ của người Mường được thể hiện sinh động

Hai tác giả Bùi Xuân Mỹ, Phạm Minh Thảo trong cuốn Tục cưới hỏi của người Việt [53] cũng có bài giới thiệu về Tục cưới hỏi của người Mường ở tỉnh Vĩnh Phú [53, tr 83, 85] Bài

viết giới thiệu ngắn gọn nhưng khá đầy đủ về các nghi lễ trong đám cưới qua hai bước sau:

Lễ hỏi và Lễ mở trầu, Lễ cưới

Các bài viết về tập tục cưới xin của người Mường Thanh Hoá được tập trung thể hiện

trong cuốn Những bài ca đám cưới người Mường Thanh Hoá [27] của nhà nghiên cứu Cao

Sơn Hải Tác giả Cao Sơn Hải đã khảo tả rất chi tiết tập tục cưới xin của người Mường Thanh Hoá qua năm bước sau: Dò ý, Đi dạm, Lễ ăn hỏi (Ti poi), Lễ ra mắt rể (Pao chầu), Ngày cưới (Rởc du) Đặc biệt, tác giả đã công bố một hệ thống những bài đám cưới được diễn xướng trong tục hôn nhân của người Mường Thanh Hoá Cuốn sách này là tư liệu quý trong quá trình người viết thực hiện luận văn

Trong cuốn Văn hoá dân gian làng Muốt [32] của tác giả Mai Thị Hồng Hải có bài

giới thiệu về tục cưới xin của người Mường ở làng Muốt - Cẩm Thuỷ - Thanh Hoá Làng Muốt là một làng Mường còn tiềm ẩn nhiều phong tục, tập quán mang nhiều giá trị văn học truyền thống mà tục cưới hỏi là một ví dụ Qua tục cưới hỏi, tác giả Mai Thị Hồng Hải giới thiệu tới người đọc về tục cưới xin của người Mường nơi đây được thực hiện qua hai bước: Ngày “Kheẻch” (Ngày ra mắt rể) và Ngày rước dâu Trong các bước này, tác giả đã giới thiệu chi tiết các phong tục, nghi lễ cưới xin của người Mường giúp người đọc cảm nhận được cái đẹp trong văn hoá cưới xin của người Mường làng Muốt (Qua khảo sát tục lệ cưới xin ở làng Muốt, xã Cẩm Thành, huyện Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hoá)

2.2 Vấn đề nghiên cứu dân ca đám cưới của người Mường Thanh Hoá

Công trình Đặc điểm ngôn ngữ trong những bài ca đám cưới của người Mường Thanh

Hoá [26] của tác giả Trịnh Thị Hà, đã đặt vấn đề tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ của những bài

ca đám cưới Mường Thanh Hoá về mặt hình thức và ngữ nghĩa Tuy nhiên, ở nhiều phương diện từ góc độ chỉnh thể, công trình này chưa có điều kiện khảo cứu

Qua việc tìm hiểu lịch sử sưu tầm, nghiên cứu dân ca đám cưới Mường Thanh Hoá, chúng tôi nhận thấy rằng: Số lượng bài viết, công trình đề cập tới dân ca đám cưới Mường

Trang 9

Thanh Hoá còn ít Có một số công trình đã sưu tầm, biên dịch giới thiệu, nghiên cứu về ngữ nghĩa, ngôn từ của những bài ca đám cưới trên một số phương diện nội dung, hình thức…

Vì thế, chúng tôi xác định hướng nghiên cứu của luận văn sẽ là:

Đi sâu vào các vấn đề cụ thể của phương thức diễn xướng dân ca đám cưới trong phong tục nghi lễ cưới xin của người Mường Thanh Hoá Tổng quan và sắp xếp trình tự những bài

ca đám cưới trong các công trình nghiên cứu trước thành một hệ thống khoa học và hợp lý;

đi sâu tìm hiểu những nét nổi bật về nghệ thuật của dân ca đám cưới và lý giải nó dựa trên

cơ sở những phong tục tập quán, tín ngưỡng, điều kiện sống, văn hoá truyền thống dân tộc Mường để có được cái nhìn toàn diện dân ca đám cưới người Mường Thanh Hoá

3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài

3.1 Mục đích

Nghiên cứu dân ca đám cưới của người Mường Thanh Hoá nhằm hướng tới các mục

đích sau đây:

Thứ nhất, chỉ ra những giá trị văn hoá, nghệ thuật của dân ca đám cưới cũng như toàn

bộ nét đặc trưng về diễn xướng dân ca đám cưới trong tập tục hôn nhân của người Mường ở Thanh Hoá

Thứ hai, góp phần vào việc bảo tồn, lưu giữ các giá trị của dân ca đám cưới - một di sản

văn hoá truyền thống của dân tộc Mường

4 Phạm vi tƣ liệu nghiên cứu

Những bài ca đám cưới đã xuất hiện, phát triển và tồn tại từ rất xưa trong phong tục

cưới xin của người Mường Thanh Hoá và so với nhiều loại dân ca Mường khác nhưng đã dần dần không còn hiện tồn Các bài ca đám cưới đến nay chỉ còn được diễn xướng ở một số

Trang 10

vùng xa xôi hẻo lánh khi có lễ cưới diễn ra Phạm vi tư liệu khảo sát, nghiên cứu chính là

cuốn Những bài ca đám cưới người Mường Thanh Hoá, Nxb Văn hoá dân tộc, 2003 của tác

giả Cao Sơn Hải sưu tầm, biên dịch và giới thiệu

Bên cạnh đó là tư liệu điền dã, sưu tầm của tác giả luận văn tại một số vùng Mường Thanh Hoá

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phối kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp điền dã:

Sinh hoạt dân ca đám cưới được diễn ra trong tập tục cưới xin của người Mường Thanh Hoá Nghiên cứu dân ca đám cưới là nghiên cứu một tiểu loại văn học dân gian đã, đang tồn tại trong môi trường diễn xướng Do vậy, chúng tôi sử dụng phương pháp điền dã đi đến một số vùng mường ở Thanh Hoá: Cẩm Thuỷ, Bá Thước, Ngọc Lặc để tìm hiểu tập tục hôn nhân và vai trò, ý nghĩa của dân ca đám cưới trong các nghi lễ đó

Phương pháp nghiên cứu liên ngành:

Dân ca đám cưới là một thành tố hợp thành nghi lễ cưới xin của người Mường Thanh

Hoá bởi gắn liền với tập tục hôn nhân, gắn liền với điều kiện lịch sử, văn hoá, xã hội của người Mường Nên, luận văn chú trọng tới việc sử dụng phương pháp nghiên cứu văn học với một hiện tượng văn học nói chung: Lịch sử, phong tục, tập quán, tín ngưỡng

Phương pháp khảo sát, thống kê, so sánh, phân tích và tổng hợp:

Để hiểu được những giá trị nghệ thuật, đặc điểm diễn xướng của dân ca đám cưới một

cách sâu sắc và để nhận diện rõ hơn các thủ pháp nghệ thuật trong tác phẩm, chúng tôi sử dụng phương pháp khảo sát, thống kê Luận văn còn sử dụng phương pháp so sánh để thấy được sự giống và khác nhau giữa tập tục hôn nhân và cách thức tổ chức diễn xướng dân ca đám cưới người Mường Thanh Hoá với người Kinh và một số dân tộc thiểu số ở Việt Nam: Người Mường ở Hoà Bình, Tây Bắc, Tày Nùng, H’mông, Cờtu, Thái ; dùng phương pháp phân tích và tổng hơp để lý giải những nguyên nhân, dụng ý của tác giả trong việc sử dụng các thủ pháp nghệ thuật

6 Những đóng góp của Luận văn

Trang 11

- Lần đầu tiên dân ca đám cưới Mường Thanh Hoá được nghiên cứu một cách hệ thống trong tính nguyên hợp của nó trên một số phương diện: Diễn xướng, giá trị nội dung và nghệ thuật

- Luận văn làm sáng rõ một số nét độc đáo của dân ca đám cưới Mường Thanh Hoá trong sự gắn bó với đặc điểm tâm lý dân tộc, những phong tục tập quán, tín ngưỡng, điều kiện sống, văn hoá truyền thống, góp phần khẳng định một cách sâu sắc thuyết phục hơn giá trị của dân ca đám cưới Mường

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Thư mục tài liệu tham khảo; Luận văn được cấu trúc

Trang 12

Chương 1

DÂN CA ĐÁM CƯỚI TRONG QUAN HỆ VỚI TẬP TỤC HÔN NHÂN

CỦA NGƯỜI MƯỜNG THANH HOÁ

1.1 Một vài nét khái quát về người Mường ở Thanh Hoá

1.1.1 Địa vực cư trú, dân cư, dân số

Trong lời giới thiệu cuốn “Tỉnh Thanh Hoá” của H Lơ-bơ-rơ-tông, ông Toàn quyền

Pa-xki-ê, đã viết: “Thanh Hoá không phải là một khu hành chính đơn thuần: nó là một xứ

Cũng muôn màu muôn vẻ như toàn bộ Bắc Kỳ - là một hình ảnh thu nhỏ lại, Thanh Hoá có miền đồng bằng màu mỡ phì nhiêu, miền Trung rậm cỏ, gợn sóng, miền núi náo nhiệt được khu rừng độc tôn che phủ bằng những chùm lá lộng lẫy” [13; tr 49] Chỉ bấy nhiêu thôi cũng

đủ để ta có thể nhận thấy một cách rõ nét về địa hình Thanh Hoá: Phức tạp nhưng phong phú, đa dạng: Có núi rừng hiểm trở mà hùng vĩ, có miền thung lũng trung du tươi tốt; có đồng bằng phì nhiêu, màu mỡ trù phú đồng thời lại có vùng biển cả rộng lớn bao la Miền đất ấy hẳn là nơi cư trú của nhiều dân tộc anh em Trong đó, theo sự phân công của Thần

Đất thì người út (tức người Kinh) vì lưng không chịu cõng gùi nên được đưa về ở dưới vùng

đất bằng màu mỡ, ở đó có con sông rộng không thấy bờ để người bắt cá, có nhiều đất cao thấp, nơi khô nơi ướt để gieo hết các loại giống cây Còn có những người thích thoáng mát thì lên đỉnh núi mà ở, ai là người ăn cây lúa thì ở vùng đất bằng phẳng Kẻ thích săn bắn thì

ở rừng sâu… Đây chính là địa bàn cư trú của các dân tộc ít người với nhiều đặc trưng văn hoá khác nhau, trong đó có người Mường

Người Mường là một trong số 54 dân tộc anh em trên dải đất Việt Nam, là dân tộc có một chiều dài lịch sử; sinh sống rải rác khắp nơi trong cả nước nhưng chủ yếu tập trung ở Hoà Bình, Thanh Hoá, Phú Thọ, Hà Tây, Sơn La

Ở Thanh Hoá, người Mường phân bố tại các huyện miền núi phía Tây: Ngọc lặc, Như Xuân, Như Thanh, Lang Chánh, Bá Thước, Quan Sơn, Quan Hoá, Mường Lát, Cẩm Thuỷ, Thường Xuân, Thạch Thành và rải rác ở một số xã ở vùng thấp, miền xuôi: Vĩnh Lộc, Thọ

Trang 13

Xuân, Tĩnh Gia, Hà Trung, Triệu Sơn, Yên Định và Thị xã Bỉm Sơn; tập trung đông nhất ở

các huyện Cẩm Thuỷ, Thạch Thành, Bá Thước, Ngọc Lặc Đó là tập đoàn những Mường

lớn Hầu hết người Mường đến sát thung lũng sông Mã, sông Bưởi và sông Âm, sông Cầu Chày, sông Chu, sông Mực Phải nói rằng cư dân Mường thích ứng với loại địa hình gần như trung du Sống ở cao nguyên nhưng lại gần nguồn nước, sống ở vùng đồi núi nhưng lại

có sông rộng và có những có những ruộng lúa tốt tươi

Theo nhà nghiên cứu Cao Sơn Hải, ngày xưa, người Mường chủ yếu sống ở các vùng

mường cổ, mường lớn như: Mường Ống Ký, Mường Khô, Mường Ai, Mường Khôông,

Mường Phấm, Mường Vong, Mường Vống, Mường Kìm, Mường Kợi, Mường Mèn, Mường Chánh, Mường Đủ, Ó, Đẹ, La Sơn…[27; tr 6] Sau này, do ảnh hưởng của luồng di dân tự

nhiên nên vùng cư trú trong cơ cấu của người Mường Thanh Hoá có sự thay đổi và phân xuất thành hai ngành Mường: Mường Trong và Mường Ngoài Người Mường Trong là người Mường bản địa cư trú chủ yếu ở các huyện Bá Thước, Lang Chánh, Ngọc Lặc và hữu ngạn sông Mã của huyện Cẩm Thuỷ Người Mường Ngoài là người Mường di cư từ tỉnh Hoà Bình vào (sống chủ yếu ở Thạch Thành và Như Thanh) và người Mường ở phía bắc sông Mã của Thanh Hoá Ngoài ra, phân biệt giữa hai ngành Mường này căn cứ vào y phục của phụ nữ và cách phát âm của một số từ vựng Sự cộng hưởng này đã tạo nên nét đa dạng trong văn hoá của người Mường Thanh Hoá

Dân số người Mường ở Thanh Hoá qua các thời kỳ như sau:

Theo tài liệu thống kê trong cuốn Người Mường của Cuisiner [10]: Người Mường ở

Thanh Hoá trước năm 1945 là 50.000 người

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê thì người Mường ở Thanh Hoá năm

1960 là 113.000 người, năm 1966 là 30 vạn người

Tính đến ngày 1/4/1999, tổng số người Mường ở Thanh Hoá là: 322.869 người

1.1.2 Tổ chức xã hội

Xã hội cổ truyền của người Mường Thanh Hoá có sự phân chia thành tầng lớp thống trị

và bị trị Đứng đầu mỗi mường là các Lang, Cun: Đứng đầu mỗi Mường lớn là Cun; đứng đầu Mường vừa và nhỏ là Lang; còn đứng đầu mỗi làng, chòm là đạo Chế độ xã hội bấy giờ gọi là chế độ Lang đạo Vì tầng lớp thống trị là cha truyền con nối có đặc quyền, đặc trị bóc lột bằng hình thức cống nạp và phục dịch Còn những người dân là tầng lớp bị trị Họ

Trang 14

không chỉ bị bóc lột về kinh tế mà còn phải chịu những áp bức về tinh thần và phải chịu những hình phạt nặng nề hà khắc Chế độ này đến sau Cách mạng tháng Tám mới được xoá

bỏ nhưng những ảnh hưởng văn hoá ít nhiều còn tồn tại đến tận ngày nay Sở dĩ nói như vậy

là trong chế độ lang đạo, nhân dân đã tạo dựng và gìn giữ được một nền văn hoá bản địa Đó

là nền văn hoá Việt - Mường Đến nay ta còn thấy một hệ thống phong tục tập quán giàu

tính nhân văn và một nền văn hoá dân gian giàu bản sắc Sử thi Đẻ đất đẻ nước, các truyện

thơ, các loại dân ca xường rang, lễ hội pồn pôông, xéc bùa, các loại nhạc cụ, cồng chiêng, những sản phẩm thổ cẩm của nghề dệt đến nay vẫn còn giá trị

Làng bản của người Mường xưa kia vừa là đơn vị hành chính vừa là nơi diễn ra những hình thức sinh hoạt văn hoá tinh thần; nhất là những dịp tết đến xuân về, những ngày lễ, ngày hội đình đám… Do tính cộng đồng làng xã bền chặt nên con người nơi đây lại càng gắn kết với nhau và có lẽ cũng từ đây mà nhiều vốn văn hoá dân gian đã ra đời và được nuôi dưỡng, lưu truyền cho đến tận ngày nay

Đến với xứ Mường, người ta thường được nghe câu: “Cơm đồ, nhà gác, nước vác, lợn

thui, ngày lui, tháng tiến” Với từng ấy chữ đã khái quát nên cảnh sinh hoạt rất đặc trưng của

người Mường; nghĩa là: Cơm ăn thì đồ là chính, nấu là phụ; nhà ở nhà sàn làm theo lời chỉ

dẫn của con rùa được mô tả cụ thể trong Sử thi Đẻ đất đẻ nước; nước được vác và đựng

trong ống bương, ống luồng; giết lợn phải thui qua lửa cho sạch lông chứ không dùng nước sôi và dao để cạo lông; ngày lui là tính ngày chỉ tính từ mồng 4 đến 28 hàng tháng và tính trở lui; tháng tiến là tính từ tháng 3, không tính từ tháng giêng

Kinh tế của người Mường chủ yếu là nông nghiệp tự cung tự cấp; được phát triển dưới hai hình thức là trồng trọt, chăn nuôi, song dựa vào tự nhiên là chính Người Mường trồng trọt trên nương rẫy bằng cách chọc lỗ tra hạt, hoặc tận dụng những nơi có ruộng nước thì dùng sức trâu bò để cày bừa, người ta gọi là kinh tế lúa nước pha nương rẫy; chăn nuôi của người Mường chủ yếu là chăn thả

Nghề thủ công truyền thống là dệt vải, nhà nào cũng có khung cửi để dệt vải Sự khéo léo và cả văn hoá thẩm mĩ của các thiếu nữ Mường được thể hiện khi họ làm ra những sản phẩm: Vỏ chăn, vỏ gối, vỏ đệm, đặc biệt là váy áo… để chờ ngày bước chân về nhà chồng Hoa văn trong các sản phẩm dệt của người Mường vừa mang tính truyền thống lại vừa ẩn chứa nét riêng tâm hồn của người dệt gửi gắm vào đó

Trang 15

1.1.3 Văn hoá truyền thống của người Mường Thanh Hoá

Không chỉ có chiều dài lịch sử, dân tộc Mường còn có một chiều sâu văn hoá Tuy không có chữ viết, song người Mường bằng những cách khác nhau đã lưu giữ được vốn văn hoá quý giá của dân tộc mình Văn hoá dân gian của người Mường là một phạm trù rộng lớn Do vậy, luận văn không có điều kiện khai thác một cách đầy đủ mọi khía cạnh của văn hoá mà chỉ xin nêu khái quát trên một số bình diện văn hoá phi vật thể: Văn học, phong tục tín ngưỡng, lễ hội…

Cũng như các dân tộc anh em khác, trong tâm thức người Mường, tín ngưỡng dân gian khá đậm nét, nó là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong đời sống tinh thần của đồng bào Mường với nhiều hình thức: Làm vía, xéc bùa, thờ cúng tổ tiên, cúng Thành hoàng làng, thờ thần núi, thần sông… Trong đó, tục thờ cúng tổ tiên được người Mường coi trọng bởi nó thể hiện sự tiếp nối truyền thống tốt đẹp “Uống nước nhớ nguồn” từ ngàn đời nay của cha ông

để lại Trong ngôi nhà của người Mường, bàn thờ tổ tiên được đặt ở Voòng tôông (gian giữa) - vị trí trang trọng nhất Vào những ngày lễ tết hoặc khi gia đình có việc đại sự: Cưới xin, tang ma, mừng nhà mới… con cháu thường có mâm cỗ cúng tổ tiên Bàn thờ tổ tiên là nơi giao cảm tâm linh giữa mường Người với lực lượng siêu nhiên Cũng chính từ đây, người Mường đã sáng tác ra những bài dân ca nghi lễ cưới xin cầu mong tổ tiên phù hộ cho đôi trẻ trong ngày vui hạnh phúc

Bên cạnh tục thờ cúng tổ tiên, đồng bào Mường còn thờ các vị thần như: thần núi, thần đất, thành hoàng làng và cả những người có công với bản làng Đó là niềm tin, là sự tôn thờ một thế giới siêu nhiên bên ngoài cõi trần tục trong đời sống tâm linh của mình; họ giao cảm với thế giới này bằng “Cảo” - cách gieo quẻ rất đặc trưng của dân tộc Mường Từ xưa, người Mường đã có chùa thờ Phật như: Chùa Móng, chùa Mèo, chùa Mèn, chùa Rồng, chùa Trặng… Tuy nhiên người Mường lại tu Phật giữa cuộc đời - Phật tại tâm chứ không chú ý nhiều đến những ngày sóc vọng để cầu kinh niệm Phật theo tư tưởng, giáo lí nhà Phật Hiểu

và thờ Phật của người Mường được bắt nguồn từ chính cuộc sống, từ cách ứng xử của họ

Lễ hội của người Mường là nơi kết tinh những tinh hoa văn hoá của dân tộc Ở đây, nét đặc sắc riêng biệt trong quan niệm, phong tục, tập quán và trong nền nghệ thuật truyền thống được biểu hiện một cách rõ nét và tinh tế dưới nhiều hình thức hết sức cụ thể, giản dị,

Trang 16

thiêng liêng nhưng thuần khiết Tín ngưỡng và lễ hội của người Mường thường song hành cùng nhau

Nói đến lễ hội, lễ tục của người Mường, người ta không thể không nhắc tới lễ hội Pồn pôông, Xéc bùa… Xéc bùa thường diễn ra vào dịp đầu xuân năm mới; “phường bùa” khoảng 20-25 người với một dàn cồng chiêng gồm 12 cái to nhỏ, âm lượng khác nhau đi chúc tết các gia đình trong mường bản Lễ hội Pồn pôông (chơi hoa) cũng thường được diễn

ra vào cuối xuân hoặc vào ngày rằm tháng 7 âm lịch Đây là một tục lệ của người Mường, cũng như nhiều trò diễn dân gian khác; nó được gắn với một nghi lễ có yếu tố tâm linh Trong lễ hội Pồn pôông, người ta thường làm cây bông hoa đồ sộ có nhiều nhánh, nhiều bông sặc sỡ sắc màu được cắm ở nhiều tầng trên thân cây bông Trò diễn lễ hội Pồn pôông thường do ông ậu hoặc bà máy chủ trì để thờ các vị vua ở núi Tản Viên, Ba Vì (Pồn pôông

ma vua), hay thờ các chàng trai trong các bản tình ca của người Mường như: Hai Mối, Hồ Liêu, Bông Hương (Pồn pôông ma chenh) và họ diễn các tích của các truyện thơ trên và muốn giải oan tình cho bao người xưa Có thể nói, Pồn pôông là hình thức sân khấu sơ khai

của người Mường mang giá trị tinh thần lớn:“Dẫu có khoác áo tâm linh song nó đề cập tới

một vấn đề rất nhân văn: Khát vọng yêu đương và hôn nhân tự do, một mối tình đẹp, chung thuỷ mà ở xã hội Mường thời đó không có được” [28; tr 175] Lễ hội Pồn pôông cũng là nơi

sinh thành những làn điệu xường rang, những bài ca nghi lễ của người Mường Không chỉ

vậy, “lễ Pồn pôông còn gắn với phong tục liên quan đến việc chữa bệnh và tín ngưỡng dân

gian của người Mường Từ một tục lệ mang tính tín ngưỡng, lễ Pồn pôông đã tích hợp trong

nó nhiều lớp văn hoá khá hấp dẫn” [ 32; tr 65] Có lẽ, vì thế mà nó lôi cuốn được nhiều

người xem và lưu truyền tận ngày nay

Có thể nói, lễ hội của người Mường hội tụ những nét sinh động mà sâu sắc của văn hoá Mường Nó góp phần tạo nên bản sắc riêng biệt, khẳng định giá trị, vị thế văn hoá Mường trong tổng thể văn hoá Việt Nam

Trong vốn văn hoá phong phú của mình, người Mường còn có những làn điệu dân ca độc đáo như: Xường, rang, bọ mẹng, hát ru, dân ca đám cưới… mang đậm chất trữ tình Người Mường ở Thanh Hoá đã cho rằng mụ Dạ Dần sau khi sáng tạo ra các Mường đã tiếp tục sáng tạo ra các làn điệu : Xường, mo, rang… và mang gánh giống ấy để đi gieo trên khắp đất Mường; đến vùng Mường Thanh Hoá vì mải ngắm cảnh đẹp nên Dạ Dần bị vấp

Trang 17

làm “Đứt gánh Mường Ai, đứt quai Mường Ống” nên bao nhiêu xường gốc trút cả vào đây

Đó là một lí giải hấp dẫn, đầy sức thuyết phục cho sự phát triển phong phú đa dạng của thể loại xường Trong những đêm lễ hội, tiếng xường tiếng rang đan xen vào nhau Những làn điệu dân ca ấy là những tiếng hát giao duyên, tâm tình của những đôi trai gái đã ăn sâu vào

tâm thức, khắc sâu trong đời sống sinh hoạt của của người Mường

Đã từ lâu, người Mường có một vốn văn học dân gian khá phong phú, đa dạng và đặc sắc, nó cũng là thành tố quan trọng không thể thiếu trong vốn văn hoá của họ Tiếp cận văn học dân gian của dân tộc mình, người Mường Thanh Hoá rất đỗi tự hào khi nhắc tới Sử thi

Đẻ đất đẻ nước Đây là tác phẩm lớn, đồ sộ, có giá trị không chỉ của người Mường mà còn

của cả văn hoá dân tộc Việt Nam; nó đã cho chúng ta biết và hiểu được quan niệm của người Mường về nguồn gốc sự hình thành vũ trụ từ khi chưa có loài người Mọi vật đều được sinh ra từ cây si, phần tiếp theo sáng tạo ra các giá trị văn hoá của người Mường là Mụ

Dạ Dần (mú Dá Dấn) chính lẽ đó mà cây si luôn là một biểu tượng, là cây thiêng; còn mụ

Dạ Dần trở thành bà Tổ, thành nữ thần sáng tạo trong văn học dân gian, cũng như trong tâm

thức của người Mường Đẻ đất đẻ nước lan toả, ăn sâu vào nhiều tác phẩm văn học khác của

dân tộc Mường; nó được tồn tại, phát triển, biến hoá xâm nhập vào nhiều bài ca nghi lễ dân gian Mường và trở thành nguồn tư liệu, chất liệu quý giá cho sự phát triển của văn học

Mường về sau Đẻ đất đẻ nước không chỉ có giá trị văn học mà còn có giá trị rất lớn trong

đời sống tinh thần, đời sống tâm linh của người Mường

Các truyện thơ: Nàng Nga - Đạo Hai Mối, Öt Lót - Hồ Liêu, Nàng Ờm - Chàng Bông

Hương…đều được lưu truyền rộng rãi ở các vùng Mường xứ Thanh Những truyện thơ này

được kết hợp chặt chẽ giữa yếu tố tự sự và trữ tình nên không chỉ sống trong lòng người bằng cách kể chuyện mà còn sống trong môi trường diễn xướng bằng các bài hát ru - hát kể chuyện thơ, được phát huy trong những bài ca đám cưới Không chỉ vậy, nó còn ảnh hưởng đến sinh hoạt văn hoá, tập quán ứng xử của người dân xứ Mường Trong tâm trí của người Mường xứ Thanh, các truyện thơ trên đều bắt nguồn từ những câu chuyện có thật trong cuộc đời bằng cách gắn nội dung cốt truyện với những địa danh và hiện tượng tự nhiên có trên miền đất của mình: Người ta có thể được ngắm nhìn một loài hoa đẹp nở vào tháng ba; đổi màu từ trắng sang đỏ chỉ trong một ngày và có mùi hương dịu ngọt có tên là Bông Trăng Tương truyền đó là loài hoa tượng trưng cho tình yêu trong trắng và nồng thắm, thuỷ chung

Trang 18

của Nàng Ờm và chàng Bông Hương; màu đỏ chính là máu của Ờm sau khi bị cha mẹ đánh

và Bông Hương bế nàng chạy đi lên núi Làn Ai (thuộc huyện Bá Thước ngày nay) Tại đây,

họ đã cùng nhau ăn lá ngón và mãi mãi được bên nhau ở thế giới bên kia; đồng thời trên núi cũng mọc lên một loại cây rất đặc biệt gọi là cây tương tư mà con người không thể lấy được

lá cây này

Các cụ già người Mường Thanh Hoá còn kể lại rằng: Con cầy cun hiện nay là do hồn

lang đạo Cun Cun trong Út Lót- Hồ Liêu nhập vào Cầy cun béo tốt vào tiết tháng chín mùa

lúa trổ, và tháng chín cũng là tháng đạo Cun Cun ngày xưa tràn trề hy vọng vì đi hỏi nàng

Út Lót được nàng nhận lời Đến tháng ba, cầy cun nằm trên cây rã cổ xuống, thè lưỡi thở dài

và gầy rạc đi Đồng bào Mường cho rằng đó là đạo Cun Cun phiền tiếc nàng Út Lót Và ở vùng miền núi ngày nay; về tiết tháng ba, bướm vàng bướm trắng nở thành đàn, hàng vạn con, bay rập rờn khắp các lối đi trong rừng Người ta bảo đó là những cô gái non đi đám cưới nàng Út Lót biến thành; còn bà mối khi thấy Út Lót chui vào mộ Hồ Liêu cũng vội chui theo để giữ nàng nhưng Út Lót đậy nắp săng chặn phải ngang lưng bà mối biến thành con tò

vò ngằng lưng [35; tr 70]

Truyện thơ Nàng Nga - Đạo Hai Mối cũng để lại cho người Mường một chứng tích đó

là đền thờ Nàng Nga ở Thạch Bình - Thạch Thành ngày nay, gần đó có ruộng dâu nơi Nàng Nga và chàng Hai Mối trao vật đính ước cho nhau và hai cây đa mọc gần nhau đan cành vào nhau người ta bảo rằng đó là hồn của Nàng Nga, Hai Mối biến thành

Như vậy ta có thể thấy cái hồn của những truyện thơ Mường còn là cơ sở để người dân Mường giải thích những hiện tượng tự nhiên, những sinh hoạt trong đời sống văn hoá của

họ

Trên đây, người viết giới thiệu khái quát một số giá trị văn hoá của người Mường Thanh Hoá Văn hoá truyền thống của người Mường là mạch nguồn nuôi dưỡng tâm hồn người dân, song hành cùng cuộc sống con người, là niềm tự hào của dân tộc Trong đó, dân

ca đám cưới - một thể tài dân ca nghi lễ - phong tục được diễn xướng trong môi trường đám cưới mang nhiều nét văn hoá độc đáo

1.2 Dân ca đám cưới trong tập tục hôn nhân của người Mường Thanh Hoá

1.2.1 Hình thức thể loại dân ca đám cưới

Trang 19

Thơ ca dân gian của các dân tộc thiểu số nói chung và người Mường nói riêng “với

những đặc sắc trong kết cấu ngôn ngữ, sử dụng hình tƣợng, nhạc điệu đi kèm lời ca lại thiên

về thể hiện tính độc đáo dân tộc” [60; tr 162] đã làm cho nó mang đậm phong cách màu sắc

đa dạng của văn hoá dân tộc thiểu số Thơ ca dân gian của các dân tộc thiểu số được chia làm ba tiểu loại: Dân ca lao động, Dân ca nghi lễ - phong tục, Dân ca sinh hoạt Trong đó, dân ca phong tục nghi lễ là mảng có giá trị quan trọng trong đời sống tâm linh của các dân

tộc này, mà người Mường không là một ngoại lệ với những tác phẩm khá đặc sắc: Đang tồn

nhà (Bài ca hát mừng nhà mới), các áng mo Dân ca nghi lễ - phong tục là loại dân ca cổ

nhất, vừa được bảo tồn vừa được các thế hệ đi sau kế thừa và sáng tạo bổ sung thêm Do đó,

nó vừa đậm đà bản sắc dân tộc, lại có những nét mới nhưng không hề mai một đi chất dân ca nên có nhiều giá trị về văn học, dân tộc học, ngôn ngữ học

Nét đặc trưng, tiêu biểu cho thể loại dân ca nghi lễ - phong tục của người Mường ở Thanh Hoá là hệ thống mo Nếu như loại hình dân ca xường, rang, bọ mẹng, hát đúm… người dân nào cũng hiểu biết và có một vốn dân ca nhất định nên họ có thể sử dụng trong các buổi giao duyên đối đáp nam nữ, thì các bài ca nghi lễ mang tính tâm linh này lại gắn với các nghi lễ dân gian phần lớn do những ông mo, ông ậu có nòi đảm nhiệm Điều này cho chúng ta thấy được môi trường, quá trình diễn xướng của dân ca nghi lễ - phong tục có sự chuẩn bị khá cầu kỳ, chu đáo, trang trọng đúng như tên gọi của nó Nhà nghiên cứu Cao Sơn Hải khi khảo cứu về dân ca nghi lễ - phong tục của người Mường ở Thanh Hoá đã chia thành các chủng như sau:

Bài ca nghi lễ trong nông nghiệp: Loại này người Mường gọi là Lởi, trong lễ gieo cấy,

vãi mạ, săn bắn, cơm mới, cầu mưa…

Bài ca nghi lễ cầu yên, cầu vía; tạ thần linh, trời đất…Loại này thường gọi là Khần

(khần vài) trong lễ cầu yên (khôống) cầu năm mới, cầu vía cho trẻ em, người già cả

Bài ca hôn lễ: Loại này có nơi gọi là Lởi hoặc Mo du, Pảo cơm sết trong: Lễ rửa chân

(Mời nhà gái và cô dâu lên sàn), Lễ vắt khăn áo lên sào, Lễ trải chiếu (trong buồng cô dâu),

Lễ cúng cáo tổ tiên…

Bài ca tang lễ: Loại này thường phổ biến là Mo và có nhiều loại khác nhau: Kể cuông,

mo nhìn, mo nhắn, mo lên trời…[28; tr 7,8]

Trang 20

Trong số các chủng trên, nhóm Bài ca hôn lễ là hệ thống dân ca được diễn xướng gắn

với tập tục hôn nhân của người Mường Thanh Hoá và là phương diện hợp thành nghi lễ cưới của họ

Người Mường Thanh Hoá có những quy định khá chặt chẽ về phong tục cưới xin khi

con cái của mình phương trưởng thành gia thất Xã hội Mường trước Cách mạng tháng Tám

có sự phân chia giai cấp tuy chưa sâu sắc nhưng nó cũng là nhân tố góp phần tạo nên những quy định, đặc trưng trong nghi lễ cưới xin của họ Đối với người Mường, việc dựng vợ gả chồng chon con cái đều do cha mẹ quyết định Tuy nhiên, cuộc hôn nhân đó có thành công hay không lại phụ thuộc vào nhà trai có thể đáp ứng được yêu cầu sính lễ thách cưới của nhà gái không Tập tục hôn nhân của người Mường còn lưu giữ nhiều giá trị văn hoá cổ xưa

Theo nhà nghiên cứu Cao Sơn Hải trong Những bài ca đám cưới người Mường Thanh Hoá

[27]; đám cưới của người Mường Thanh Hoá diễn ra theo các trình tự như sau:

1.2.2.1 Dò ý và đi dạm

* Dò ý

Trong gia đình người Mường, khi con cái đến tuổi dựng vợ gả chồng, các ông bố, bà

mẹ nhà chàng trai đã nhằm sẵn một cô gái nào đó thấy ưng ý phù hợp với điều kiện nhà mình hoặc tự thấy con trai mình đã đẹp đôi vừa lứa với một cô gái nào đó thì đánh tiếng xa gần để thăm dò ý tứ của nhà cô gái Thận trọng hơn, họ khéo léo tìm hiểu qua những người thân, xóm giềng của cô gái để tác động, ướm hỏi Nếu thấy cô gái và bên gia đình ấy có những phản ứng tốt, thuận buồm xuôi gió thì coi như nhà trai đã nắm được cơ hội thành công Bước này theo tục lệ thì không cần phải có quà cáp gì

* Đi dạm (Thăm tảng moảch khà)

Đây là bước nhà trai bắt đầu chính thức phải sắm lễ vật theo quy định của mường mình

Người đi “Thăm tảng moảch khà” (Thăm đường, thăm lối) là một người quen của nhà

gái nên nhà trai phải đến đặt vấn đề nhờ bà này đến nhà gái để hỏi ý kiến, tiếng Mường gọi

là “Mú trảch, Mú trèo” (gần như bà mối) Bà này sẽ đến nhà gái hai lần: Lần đầu đến nhà

gái: bà này đi người không để thăm hỏi ý kiến bố mẹ bên nhà gái có đồng ý hay không? Lần hai khi bà này đến nhà gái; nhà trai sắm cho một túi bánh chưng và một vò rượu khoảng hai

chai Nếu nhà gái không trả lại quà tức là biểu hiện của sự đồng ý, ra chiều ưng thuận cho

Trang 21

các con kết tóc xe duyên; nên việc đầu tiên nhà trai phải làm là chính thức tìm người làm mai mối Bởi người làm mối là nhân vật rất quan trọng trong quá trình đi đến hôn nhân của

cô gái và chàng trai Do vậy, trong đám cưới của người Mường người làm mối được lựa chọn rất kĩ càng cẩn thận; người ấy có thể là đàn ông (ông mối, ông mơ) hoặc là phụ nữ (bà

mờ, bà mối) nhưng phải đáp ứng được sự đòi hỏi khá cầu kỳ của người Mường là ông mối

mà nhà trai lựa chọn phải được sự đồng ý của nhà gái Ông mối phải là người đứng tuổi, am hiểu phong tục, văn hoá của dân tộc mình, là người có uy tín cộng đồng, được nhiều người tin yêu quý mến, là người đông con nhiều cháu, nói chuyện khéo léo, có tài ứng đối, có cách

truyền lời để hai họ hiểu nhau Vì thế mà người Mường có câu thành ngữ “Cơm léénh ví

niềng, tổt xiềng ví mơ” (Cơm lành vì niếng, tiếng tốt vì mơ) Từ đây, ông mối bắt đầu thực

hiện nhiệm vụ của mình cho đến khi cô dâu về nhà chồng

Ông mối nghe những lễ vật mà nhà gái yêu cầu và truyền đạt lại cho nhà trai Trong lễ

dạm ngõ, lễ vật gồm: Một đôi cá gáy còn tươi (loại từ 1,5 kg trở lên); một chai rượu; một

buồng cau tươi; một đùm trầu không (khoảng 100 lá); một đùm chè xanh [27; tr 9]

Trong lễ dạm ngõ, số người nhà trai đi đến nhà gái rất hạn chế chỉ có một số thiếu niên trong họ đi gánh quà; vì đây mới chỉ là giai đoạn đầu của cuộc hôn nhân nên chưa cho người ngoài được biết Một điều lưu ý là trong lễ này, chú rể chưa được phép xuất hiện ở nhà cô dâu; còn cô dâu được gọi ra để cha mẹ hỏi ý kiến nhưng chỉ mang tính chất hình thức Để đón tiếp nhà trai, phía nhà gái tổ chức cũng không linh đình, ồn ào mà chỉ mời hai người cốt cán là ông chú và ông bác để tiếp chuyện Bởi trong quan niệm của người Mường, con cái

do cha mẹ sinh ra nhưng khi còn nhỏ mới là của bố mẹ; còn khi con cái lớn lên đặt trong

mối quan hệ với cộng đồng thì họ trở thành “con cun, con lang” (ý muốn nói cuộc sống của

họ phụ thuộc nhiều ở các nhà lang), trong gia tộc, anh em thì họ là “con chú, con bác” Nên

vai trò của chú, bác trong chuyện dựng vợ gả chồng cho con cháu là rất quan trọng

Hôm đó, nhà gái làm cơm rượu để thết mời ông mối Công việc chính của ông mối là thưa chuyện về việc thay mặt nhà trai đi dạm ngõ, khi được sự đồng ý của nhà gái thì đặt vấn đề xin phép cho nhà trai được tiếp tục lễ ăn hỏi Cuối buổi dạm, sau khi được nhà gái đồng ý lễ ăn hỏi, ông mối về báo lại với nhà trai để họ có kế hoạch chọn ngày và hẹn cho nhà gái được biết để chuẩn bị tiếp đón

1.2.2.2 Lễ ăn hỏi (Ti poi)

Trang 22

“Đất có lề, quê có thói”, để mọi việc diễn ra có kết quả tốt đẹp theo ý muốn, người

Mường luôn có khái niệm chọn ngày tốt theo lịch Mường, chọn “Cân sa ngày hong, cân

trong ngày lành”, những ngày đầu tháng vì “ngày rộng, tháng dài”

Cũng như người Kinh, người Mường kiêng dựng vợ gả chồng vào tháng bảy âm lịch vì

đó là tháng xá tội vong nhân và là tháng ngâu, mưa nhiều lại liên quan đến chuyện Ngưu Lang - Chức Nữ Với người Mường, tháng ba là tháng giáp hạt, tháng năm tháng sáu tiết trời

oi bức nên ít được chọn làm tháng cưới Người Mường cũng rất kị chọn ngày ăn hỏi hoặc

ngày cưới vào cuối tháng vì quan niệm những “ngày cùng, tháng tận”, kiêng cả tiếng kêu

tục tác của con gà dưới sân, kiêng con cá dưới nước bơi lăng xăng, kiêng con mang trên đồi

nó hộc… nếu tổ chức ăn hỏi, cưới xin sẽ mang lại những điều không tốt Để tổ chức một đám cưới, người Mường thường chọn những tháng có ngày mát mẻ, khi mùa màng đã xong

và cũng là lúc cau đã đến kì thu hoạch Do đó, người Mường có câu:

Tháng một, chạp có buồng cau mới Truyền cho mờ già, mờ trẻ tới thăm

Khi nhà trai chọn được ngày đẹp theo lịch mường làm ngày lễ ăn hỏi, họ lại mời ông mối đến để chuẩn bị lễ vật đến nhà gái Lễ ăn hỏi (Ti poi) của người Mường được thực hiện qua 4 lần:

Ti poi lần 1: Gồm 1 gánh bánh trắng (bánh chưng không nhân, vì quan niệm của người

Mường nếu mang bánh chưng có nhân làm lễ vật là tỏ ý chê cô dâu không còn trinh tiết), 1

vò rượu, 1 giỏ trầu cau

Lần ăn hỏi này, cùng ông mối đến nhà gái chỉ có người đi gánh bánh gọi là quà Lần này hai bên chưa thành thông gia cách xưng hô còn giữ kẽ là bác bá Nếu được sự đồng ý của nhà gái, ông mối về báo lại với nhà trai để chuẩn bị lễ ăn hỏi lần hai

Ti poi lần 2: Nhà trai sắm ba gánh bánh, gồm: 1 gánh bánh mật, 2 gánh bánh chưng

Đi ăn hỏi lần này, khi gặp nhau thì xưng hô là ông bà nội ngoại (ôông mú, cú môống), con dâu, con rể (du, chầu) Ông mối và nhà gái bàn bạc đi đến lễ ăn hỏi lần ba

Ti poi lần 3: Số lễ vật đã được tăng lên 5 gánh, gồm: 3 gánh bánh chưng, 1 gánh bánh

dì, 1 gánh bánh mật

Đến lễ ăn hỏi lần ba, nhà gái cho mời anh em gần gũi bên nội, cành trên, cành dưới đến

dự lễ Nhà gái cũng bàn bạc lễ vật cho lễ ăn hỏi lần thứ tư

Trang 23

Ti poi lần 4: Lễ vật lần này đã tăng lên đến bảy gánh, gồm: Một khiêng bánh dì xếp đủ

100 cái gọi là bánh trăm; bốn gánh bánh chưng; hai gánh bánh mật Ngoài ra, còn có thêm một liếp cá tươi và một giỏ trầu cau

Thành phần tham gia lễ ăn hỏi lần bốn của nhà trai cũng rất đơn giản ngoài ông mối và những người gánh lễ vật có thêm người chú hay người bác của chàng rể Nhà gái làm cơm rượu mời nhà trai Tiếp chuyện nhà trai lúc này có bố, chú, bác của cô gái và một số người thân khác trong họ tộc Như vậy, đến lễ ăn hỏi, nhà trai và nhà gái đã có sự giao lưu mở rộng hơn về mối quan hệ anh em, họ mạc; cũng từ đây, sự đi lại giữa nhà trai và nhà gái có

sự thân mật hơn

Tuy đã ngồi vào mâm cơm khách, xong đại diện hai bên vẫn còn bàn bạc về chuyện cưới xin cho đôi trẻ nên chưa vội ăn Lúc này, ông mối lại tiếp tục phận sự của mình là thay mặt nhà trai đặt vấn đề về chuyện ăn hỏi, sính lễ cho ngày ra mắt rể Thông thường khi thách cưới, nhà gái thường hay thách cao để chứng tỏ con gái mình có giá trị lớn Nhưng khi nhà trai xin được giảm bớt lễ thì nhà gái cũng sẽ đồng ý nếu thấy hợp lý Ông mối ghi nhận

lễ vật mà nhà gái đưa ra và về bàn bạc lại với nhà trai và có những đề xuất với nhà gái sau

Ở một số địa phương lễ ăn hỏi cũng là lễ thách cưới luôn bởi họ nhận ra rằng nếu thách cưới cao quá thì sẽ ảnh hưởng đến lễ ra mắt rể bởi lý do nhà trai không lo được sính lễ; hoặc họ phải khất đi, khất lại nhiều lần sẽ mất hay

Lễ ăn hỏi đánh dấu mốc quan trọng trong cuộc đời chàng trai, cô gái, vì đây là lễ chính thức người con gái có chồng Do đó, lễ vật ăn hỏi sẽ được biếu anh em, họ hàng nội ngoại

và bà con lối xóm của cô dâu

Do định ra nhiều lần ăn hỏi như vậy nên lễ vật mà nhà trai mang đến nhà gái là rất nhiều; không chỉ vậy từ thời điểm này cho đến lễ ra mắt rể phía nhà trai còn phải chu đáo đầy đủ với bên nhà gái trong những dịp lễ tết Vì thế mà với những gia đình nghèo khó thì

đây quả là một việc đầy thử thách, nên người Mường có câu: “Lo ăn con du, chề khu mặt

dá” (Lo được con dâu thì sâu mắt mẹ chồng)

1.2.2.3 Lễ ra mắt rể ( Khẻenh chầu, pao chầu)

Đây là lễ chính thức chàng rể đến nhà vợ trình lạy tổ tiên, ra mắt bố mẹ, họ hàng và làng xóm bên vợ (tính từ khi cha mẹ đi hỏi vợ cho đến ngày hôm nay) Tục lệ này đã tạo nên nét độc đáo trong nghi lễ cưới xin của người Mường Thanh Hoá Bởi thông thường ở các

Trang 24

dân tộc khác mà điển hình như dân tộc Kinh hay Tày thì chú rể xuất hiện ở nhà gái ngay từ

lễ đi dạm Nhà trai sắm đủ các lễ vật đã định ở lần ăn hỏi thứ tư Trước khi đến nhà gái, nhà trai phải chuẩn bị một gánh bánh, một gói trầu để ông mối đến nhà gái hỏi ngày quyết định

tổ chức lễ ra mắt rể

* Về lễ vật

Lễ xin ra mắt rể được tổ chức long trọng sau khi hai nhà đã chọn được ngày lành, tháng tốt, năm hợp với tuổi của chàng trai, cô gái và khi đã bàn bạc, thống nhất được lễ

thách cưới Theo tài liệu Văn hoá dân gian làng Muốt [32], ngày ra mắt rể, nhà trai

mang theo các lễ vật như sau:

 Quà xin con dâu về và liên hoan hai họ, gồm: Một con lợn (khoảng 80-100 kg), một khiêng xôi, một chĩnh rượu (13-15 chai), một khiêng bánh chưng, một khiêng trầu cau

 Quà môộng, gồm: Một khiêng gạo (50 kg), một xanh đồng (xanh ba), một con lợn đóng rọ còn sống khoảng 10 kg

Lễ vật này mang đến nhà gái và sau khi ra mắt rể được ba ngày thì đưa đến nhà bà ngoại của cô dâu gọi là nộp môộng Có những gia đình người ta đòi nhà trai nộp môồng bằng bò đực (thay cho lợn) có sừng dài bằng nắm tay

 Noom họ, gồm: Một khiêng gạo 50 kg, một con lợn sống 30-50 kg, một vò rượu (5 chai)

Nếu nhà gái là dòng họ lang đạo thì nhà trai phải có thêm một khiêng gạo, một xanh ba, một con bò đực gọi là quà màn (màn táo) Nếu đã sắm Màn Táo thì không phải sắm quà môộng nữa

 Quà cho ông mối (xạ mơ), gồm: Một khiêng gạo 30-50 kg, một vò rượu

Nếu nhà trai đã sắm xạ mơ thì lễ tết hàng năm không phải đi lễ tết cho ông mối nữa Nếu không sắm xạ mơ thì vào tết nguyên đán hằng năm phải đi tết ông mối cho tới khi ông mối này qua đời mới thôi Còn nếu bố chàng trai qua đời thì nhà gái phải đi “Mội”, tức là lễ vật mà nhà trai đã sắm đi hỏi vợ; lúc này ông mối được phần là một vai trước của con lợn Đến khi đó là hết mơ

 Quà mở cổng (Vở xảac), gồm: Một khiêng xôi (1/3 sọt cơm), một con lợn được làm chín đặt lên cơm, một vò rượu khoảng 3 chai

Trang 25

Khiêng xôi mở cổng này được đặt tại cổng nhà gái để trả công cho con cháu nhỏ đến ném đuổi ma pồn nghèn đi để nó không đến quấy rầy đám khách nữa và để cuộc sống của

vợ chồng sau này không bị trục trặc

 Rượu cần (Ráo toòng): Để hai họ cùng uống mừng hạnh phúc hai cháu trong ngày

đủ mặt nội ngoại

 Quà con rể (Nom chầu):Khi ra mắt con rể, dù các thủ tục khác có thể không sắm được đầy đủ nhưng không thể thiếu quà con rể (con rể buộc phải sắm): Cơm xôi 1/3 sọt, một con lợn luộc chín khoảng 30 kg, một vò rượu khoảng 3 chai

Khi đã xếp cơm, thịt lợn và vò rượu buộc vào khiêng trên nắp khiêng phải có thêm một nồi đồng và một con dao sáu mới có nắp cẩn thận, đẹp Một nồi đồng: Nếu nồi đồng là nồi

ba thì đặt kèm một theo một tấm vải, nếu nồi đồng là nồi bốn thì kèm theo tấm lụa, nếu nồi đồng là nồi năm thì kèm theo tấm thổ cẩm đẹp

Một con trâu: Phải là trâu đực, sừng bằng tai (4 tuổi) gọi là Tru trôổc, kèm với con trâu

là một xanh đồng: Xanh tám hoặc xanh bảy

Qua các lễ vật của ngày ra mặt rể, chúng ta có thể thấy có một số lễ vật mang tính biểu

tượng: Con dao theo tín ngưỡng của người Mường “Dao phát sá, thuổng chả cơm”, là vật

giúp con người lao động được dễ dàng ở vùng rừng núi và làm ăn no đủ; đồng thời cũng muốn nói rằng cho con về nhà mộng làm con cái thì phải có dụng cụ để sản xuất Con dao

có nắp được đặt dưới chân giường thờ để cúng ma Sau bảy ngày, nhà trai cho con trở lại nhà gái mới được thắt con dao về nhà mình để sử dụng Còn “Nồi đồng và vải là của con rể

trả công bố mẹ, ông bà dưỡng dục con gái bây giờ thành vợ của mình Lễ vật này gọi là:

“Nối răm, tầm phà, trả côông tẻ, côông ruôi” Nồi đồng và thổ cẩm được đặt trang trọng

trên giường thờ ông bà ông vải [32; tr 40] Ý nghĩa của lễ vật này gần giống với ý nghĩa và tục lệ nộp vải Slằm khấu trong đám cưới của người Thái

Người Mường đánh giá kinh tế của các gia đình qua số lượng trâu; gia đình nào có nhiều trâu thì là nhà giàu có Đồng thời khẳng định vai trò của con trâu là đầu cơ nghiệp trong kinh tế gia đình Vì vậy mà đám cưới của người Mường con trâu là lễ vật bắt buộc

phải có “Chƣa có trâu đừng hỏi dâu, dạm vợ” Tuy vậy, con trâu lại không phải là tiêu chí

để đánh giá đám cưới to hay nhỏ nhưng lễ vật xanh đồng mới là tiêu chuẩn để đánh giá sự

long trọng của đám cưới Phải chăng lễ vật này có nguồn gốc, liên quan từ thuyết Tráng

Trang 26

Đồng? Câu chuyện kể về việc chàng Sông Lến giết chết con chim ó đã thành tinh tên là

Tráng Đồng để cứu vợ mình là nàng Da Da Vía Lúa xinh đẹp Khi con chim ó trúng tên bị chết hoá ra một thứ mà người dân gọi là đồng; họ lấy đồng về chế ra dụng cụ sinh hoạt và sản xuất Đây cũng là câu chuyện giải mã văn hoá đồ đồng trong đời sống người Mường Gia đình nhà gái tuỳ vào hoàn cảnh kinh tế gia đình mình, tài sắc của cô gái mà đòi thách cưới là loại xanh đồng nào: Xanh sáu là thứ mà nhà cô gái nghéo đòi, nhỉnh hơn đòi xanh bảy, còn giàu có và cô gái có nhan sắc, tài giỏi mới đòi đến xanh tám, xanh chín Trong lễ vật thách cưới của nhà gái nhà trai có thể xin giảm một số khoản nhưng không được xin giảm xanh đồng

Ngày ra mắt, chú rể ăn mặc đẹp đi bên cạnh là hai người đi piêng tức là phù rể cùng

ông mối, người chú, người bác và cả cô em gái ruột của mình đi đến nhà gái Dù nhà chú rể

ở xa hay gần nhà cô dâu thì vẫn phải theo tục lệ Ra mặt rể lúc thả trâu (Tục ngữ Mường)

* Trình tự nghi lễ ngày ra mắt rể

Trình tự ra mắt rể gồm 2 bước: Lễ xin mở cổng và lễ cúng tổ tiên nhà gái nhận mặt rể

Các nghi lễ này diễn ra trong âm vang của lời ca tiếng hát: Lời ca xin mở cổng do đại diện nhà trai cất lên và Bài ca cúng cáo tổ tiên ngày ra mắt rể của nhà gái do ông mo, ông ậu

xướng lên khi cúng lễ

Tại cổng nhà gái: Khi đoàn người đi đến gần cổng nhà gái thì nhà gái đóng cổng và bắt đầu tục ném rể (nèm chầu) Nhà gái đã chuẩn bị sẵn ở đầu cổng những sọt đựng quả sung, quả vả, chuối xanh và có đoàn người (các thiếu niên) ném những vật đó vào chú rể và đoàn

người nhà trai Nhà trai phải cử người đại diện đứng ra xin thôi ném và ca Bài ca xin mở

cổng thì đoàn người nhà gái mới dừng tay và mở cổng cho nhà trai lên nhà Sau đó, đoàn

người ném rể mang khiêng xôi, rượu mà nhà trai mang đến làm quà mở cổng đến một nhà gần đó và cùng ăn uống vui vẻ Theo quan niệm của người Mường, tục lệ này bắt nguồn từ thuở lược hôn với ý nghĩa xua đuổi con ma sư Pôồn nghèn chực ám ảnh đôi vợ chồng trẻ; đồng thời cũng là cách nhận mặt chú rể đầy ấn tượng Tục lệ này cũng mang đậm sắc thái văn hoá riêng trong đám cưới của người Mường Thanh Hoá Lễ ra mắt rể là thời điểm bắt đầu xuất hiện dân ca đám cưới, nó có vai trò phục vụ cho những nghi lễ cưới xin

Trên sàn nhà gái: Sau khi lễ vật đã được đưa vào trong sân nhà gái, đoàn người nhà trai lên nhà nhưng vẫn đứng chờ có người đại diện nhà gái ra mời ngồi thì tất cả mới ngồi xuống

Trang 27

chiếu Đoàn người nhà gái từ trong đi ra, theo sau là một cô gái bưng trầu Một bà mụ đại diện nhà gái cất tiếng chào: “Các ông đưa con về ạ” Nhà trai đứng dậy đáp lời và người đại diện nhà gái (theo sự phân công từ trước) mời nhà trai ngồi mời trầu nước và tiếp chuyện nhà trai Được một lúc có hai bà già và một số người đưa cô dâu tay bưng trầu ra chào nhà trai Lúc này hai họ đều đứng dậy Ngay sau đó có người nhà gái mời đại diện ông bà nhà trai và ông mối ngồi vào mâm trầu rượu

Ở gian giữa lúc này, đã sắp xếp một mâm cỗ đầy, chân mâm cao, xung quanh có các vị quan trọng nhất của nhà gái ngồi nói chuyện Những người ngồi mâm này có tính quyết định

toàn cuộc cưới xin cho đến lúc thành vợ chồng của con cái Mâm này được gọi là mâm chốt

(Vâm chôổt) Phía dưới mâm chốt là mâm trầu rượu Nhà trai được mời khoảng hai người: Ông đại diện họ hàng nhà trai, ông mối Nhà gái cử người có trách nhiệm ngồi vào mâm này

và nói lời xin nhận đồ lễ của nhà trai mang đến rồi đưa lên bàn thờ tổ tiên

Trong lúc có mâm trầu rượu trong nhà thì ở ngoài gian có giường thờ ông bà, ông vải

thì ông mo, ông ậu xướng Bài ca cúng cáo tổ tiên ngày ra mắt rể và làm lễ cúng tổ tiên; con

rể sẽ ra mắt tổ tiên nhà gái

Sau khi cúng thỉnh mời ma tổ của nhà gái đã về hết thì nhà trai xin được âm dương nhà trai xin cho con lạy chào tổ tiên nhà gái Theo sự sắp xếp, con rể và hai người phù rể vào trước bàn thờ và lạy chào theo quy định của nhà gái Lạy chào tổ tiên xong, chú rể tiếp tục lạy chào nội ngoại nhà gái

Các thủ tục nghi lễ ra mắt rể xong, nhà gái dọn các mâm cỗvà sặp đặt theo thứ tự để mời hai họ Trước khi ăn cơm, thì có cuộc uống rượu cần Đây là lúc nhận mặt và giới thiệu nhau một cách khéo léo, người sắp xếp ngồi lần lượt vào cuộc rượu cần này phải tinh ý Người đứng ra tuyển cử là ông mối vì ông là người biết cả hai họ Tuy nhiên, khi ngồi cỗ thì nhà gái ngồi trước, phía nhà trai cứ theo thứ tự bên nhà gái mà ngồi sao cho hợp nhẽ

Cuộc rượu cần này kéo dài tới khi nào chĩnh rượu nhạt nước mới thôi và tổ chức ăn cơm Khi cuộc liên hoan kết thúc cũng là lúc ông họ đánh cồng thu quân

Theo tục lệ của người Mường Thanh Hoá, từ khi ra mắt rể đến khi cưới khoảng 2-3 năm Trong thời gian đó, cha mẹ nhà cô gái phải lo chỉ bảo cho con gái mình biết làm lụng, biết điều ăn lẽ ở của người con dâu; còn cô gái phải lo dệt thêu xống áo, váy, chăn gối đệm

để mặc và mang về nhà chồng trong ngày đưa dâu Nhà trai cũng phải lo làm sao làm ăn cho

Trang 28

khấm khá, sửa sang nhà cửa, lo đủ được lễ vật trong ngày rước dâu để không hổ thẹn với tục

lệ và lễ giáo của xã hội đương thời Đồng thời lo bảo ban con trai chăm chỉ làm ăn để chuẩn

bị cho cuộc sống gia đình sau này, lễ phép để nhà mộng không chê cười…

Khoảng thời gian này cũng là lúc nhà trai phải đi tết nhà gái vào những ngày: Tết Nguyên đán, têt mồng 5 tháng 5, tết cơm mới với quà tết khác nhau nhưng thường có: Xôi, rượu, lợn, gà …

1.2.2.4 Lễ đón dâu (Rơởc du)

Đây là ngày rước dâu đối với nhà trai và đưa dâu đối với nhà gái Ngày này phải được hai họ xem rất cẩn thận, chu đáo Cuộc vui lớn được diễn ra tại nhà trai là chủ yếu; các bài

dân ca đám cưới được thực hành diễn xướng chủ yếu trong lễ này: Xường giao đồ (Bài ca

trao đồ hồi môn), Bài ca khen cầu thang, Bài ca xin nước rửa chân, Bài ca trải chiếu trong buồng cô dâu, Bài ca vắt khăn áo lên sào trong buồng cô dâu, Cúng cơm nghèn và các lời

ca cảm ơn của nhà trai đáp lại nhà gái

* Lễ vật

Nhà trai mang đến những lễ vật mà nhà gái đã thách cưới để rước dâu, gồm: Một khiêng cơm (1/3 sọt), một con lợn chín khoảng 30 – 50 kg, một vò rượu khoảng 4 – 5 chai, một gánh bánh chưng gọi là bánh rước dâu, một khiêng trầu [32] Những lễ vật này mang đến nhà gái để xin rước dâu: Khiêng cơm để cúng ông vải, tổ tiên có tính chất thông báo xin cô dâu về nhà chồng

Số người của nhà trai đi rước dâu ngoài thành phần chủ yếu như các lễ đi dạm, ăn hỏi còn có thêm hai bà mụ và con gái khoảng 15,16 người theo yêu cầu của nhà gái, khoảng 10 đến 15 người con trai khiêng quà cưới về nhà gái

* Các nghi lễ trong lễ đón dâu:

Nghi lễ giao đồ hồi môn cho con gái:

Cô dâu trước khi về nhà chồng được cha mẹ cho một số tài sản gọi là đồ hồi môn Nghi

lễ này thêm phần trang trọng, một bà đại diện bên nhà gái cất tiếng Xường giao đồ, nhà gái

bưng ra một mâm trầu rượu và các đồ đạc được xếp ra để mang đến nhà trai, gồm:

 Đệm nằm: Nếu như ngày kheẻnh nhà trai đi xanh tám thì nhà gái phải sắm đệm đôi hai cái Nếu nhà trai có cụ cố thì nhà gái phải sắm thêm đệm một Như vậy có ba

Trang 29

khiêng đệm nằm Đệm nằm được cuộn vào trong cây nứa cho cứng và bên ngoài được bọc một chiếc chiếu đôi nếu là đệm đôi, bọc một chiếu một nếu là đệm một

 Gối dựa (Trày rứa): Dùng để thờ tổ tiên Gối dựa có cấu trúc như một chiếc chiếu dân tộc nhưng to hơn, kích thước khoảng 30-30-50 cm

 Gối (Kến trôổc): Số lượng khoảng 10 đôi, kích thước 12-12-30 cm

 Đệm ngồi (Têếm): Số lượng khoảng 6-7 đôi, kích thước 45-45-10 cm

 Rương vuông hình khối lập phương hoặc tròn trộp: Số lượng khoảng ba cái, trong đó chủ yếu là đựng chăn, váy, áo, vải của người con gái Tuỳ thuộc người con gái đó sắm được nhiều hay ít mà tăng thêm chòn trộp hay ít đi

 Chiếu hai đôi: Chiếu được cuộn tròn trong có một cây mía để cho chiếu cứng

Truyện dân gian kể lại rằng: Xưa có đôi trai gái Mường yêu nhau, hẹn nhau ở rừng mía bị hổ nghe được nên đến để ăn thịt, nhưng rất may chàng trai đã đến trước phát hiện ra

hổ và đã dùng cây mía làm gậy đánh hổ Bị đánh bất ngờ, hổ xám hoảng quá nhảy vào rừng biến mất Cũng may vừa lúc bạn gái đến, biết cây mía là một vũ khí đã cứu họ thoát khỏi nguy hiểm, tình cảm hai người càng thắm thiết hơn Đến ngày thành vợ chồng, để biết ơn vật đã cứu họ thoát khỏi hoạn nạn; họ liền chặt cây mía cuốn đôi chiếu vào với ngụ ý luôn ở cùng nhau

Từ sự tích đó, mà trong đám cưới người Mường luôn cuốn đôi chiếu vào cây mía và lời

cúng có câu “Pôông dấm ti táng, pôông váng ti sá”, (Bông dâm đi đàng, bông vàng đi sá)

nhằm biểu lộ sự biết ơn này

Sau khi xếp đồ thành khiêng, bà nhà trai, nhà gái, ông họ, ông mối ngồi lại mâm để

giao nhận đồ Bà mụ đại diện của nhà gái cất tiếng Xường giao đồ Tiếng xường giao đồ vừa

dứt, nhà trai đáp lại bằng lời ca cảm ơn thay cho lời nhận đồ Cô dâu trước khi về nhà chồng phải trình lạy tổ tiên Ngày hôm đó, cô dâu ăn mặc đẹp và mang theo một con dao (để xua đuổi ma tà)

Thủ tục giao đồ đã xong, có cuộc rượu ngắn, nếu có người say thì càng vui, càng phấn khởi Tuỳ theo từng nhà mà rượu có thể rót vào chén hoặc vào bát Nhưng thường vẫn hay quy định với nhau rằng: Cứ một khiêng là hai bát hoặc hai chén Người nào khiêng thì người

đó uống, nhưng để mọi việc diễn ra nhanh chóng, ông mối và ông họ nhận hết để nhà trai khiêng đồ

Trang 30

Ông họ nhà trai nổi một hồi cồng gọi là cồng hồi và đoàn đưa dâu bắt đầu lên đường Trên dường đưa dâu, cồng được gióng liên tục suốt dọc đường cho đến khi về đến nhà và cứ mỗi lần như vậy đánh sáu tiếng

Đoàn người rước dâu, đưa dâu hoà nhập thành một lần lượt tiến về nhà trai trong tiếng cồng, tiếng cười nói vui vẻ, lẫn lộn người say, người tỉnh Bước vào cổng nhà trai, một vài

cô cháu gái nhanh chóng bước ra xin nhận cô dâu, người đưa dâu xếp quà thành một chồng rồi mang gác cẩn thận

Nghi lễ khen cầu thang nhà trai:

Khi đến chân cầu thang nhà trai, ông họ nhà trai dừng lại đánh cồng, số tiếng cồng tương ứng với số bậc cầu thang, cả đoàn người dừng lại; một bà nhà gái đứng lại gần cầu

thang và ca Lời khen cầu thang Lúc này, ông họ và ông mối đứng một bên, hai vợ chồng

một bên

Nghi lễ xin nước rửa chân:

Sau khi khen cầu thang, bà già bước lên thang trước, tiếp theo là đôi vợ chồng rồi đến

họ hàng hai bên người đưa đón dâu lên nhà Khi vào nhà đến gian có giường thờ, thấy có một chậu nước đặt sẵn ở đó Bà nhà gái đứng lại, bà nhà trai bước vào phía trong rồi quay

ra Bà già nhà gái ca Lời xin nước rửa chân, nói xong, nhà trai đáp lời Sau đó, cả đoàn phụ

nữ từ từ tiến vào đến gian bếp, cô dâu và hai phù dâu tự ngồi xuống quay vào bếp lạy bốn cái rồi đứng dậy đi vào buồng cô dâu

Nghi lễ trải chiếu, vắt khăn áo lên sào, cúng cơm nghèn trong buồng cô dâu:

Buồng cưới của cô dâu là nơi diễn ra những nghi lễ thiêng liêng: Trải chiếu, vắt khăn áo lên sào, cúng cơm nghèn kèm theo những lời ca phụ hoạ

Ở buồng cưới, khi tất cả còn đang đứng; bà mụ nhà gái đẹp lão, đông con nhiều cháu,

gia đình khá giả cầm lấy chiếc chiếu dựng đứng và hát Bài ca trải chiếu xong xuôi tự tay bà trải chiếu ra đại diện nhà trai ca Lời cảm ơn Xong nghi lễ trải chiếu, bà già nhà gái cầm và vắt đồ lên giăng vắt quần áo (Doỏc dăắng) đồng thời ca bài dân ca Bài ca vắt khăn áo lên

sào, nhà trai cũng ca Lời cảm ơn Tiếp theo có một người con trai khoẻ mạnh bưng vào một

mâm cơm xếp nhiều tầng (thường là 9 tầng), bà mụ nhà gái ngồi lại để làm lễ và xướng bài

Cúng cơm nghèn Cúng xong mời hai vợ chồng trẻ ngồi ăn cơm Nói là ăn cơm nhưng thực

Trang 31

chất là một nghi thức, người này gắp, người kia gạt rơi xuống, cứ thế ba lần rồi họ đều đứng

dậy dắt đôi đũa lên mái tranh gian buồng và đôi đũa cứ được giắt ở đó mãi mãi

Thủ tục cúng và ăn cơm nghèn đã xong, thì mâm được bưng đi và họ ngồi ăn trầu, uống

nước, chuyện trò vui vẻ

Ở gian có bàn thờ ông vải đã xếp xong mâm Ông ậu của nhà gái đứng lên cúng (bài

cúng ở đây cũng như bài cúng ở nhà gái) Vì ngoài những đồ vật mà cô dâu phải đưa đến

nhà trai như đã nói ở trên thì nhà gái phải sắm thêm đồ lễ đưa con về nhà chồng, gồm: Một

khiêng cơm như nhà chồng mang đến nhà vợ, một gánh bánh gọi là bánh đưa dâu (không có

trầu cau) Theo tục lệ nhà nào sắm thì nhà đấy phải cúng lễ Khi các nghi lễ đã thực hiện đầy đủ, thì con dâu ra lạy chào tổ tiên nhà trai bốn lạy,

trình lạy họ hàng nhà trai: Ông bà, bố mẹ, cô dì chú bác mỗi người ba lạy (vì trong quan

niệm của người Mường Lạy người lạy ba, lạy ma lạy bốn) Trong cuộc trình lạy đó cô dâu

thường được tặng quà (Tiền, váy áo, cạp váy, vải, lụa …)

Sau lễ trình lạy tổ tiên và các bậc cao niên là các nghi lễ chính của ngày cưới đã kết

thúc Sau đó, là cuộc vui hẹn hò, và có thể diễn ra các hình thức sinh hoạt: Mo du, Pảo cơm

sểt Đám cưới to còn có Mo du (Mo đám cưới), đám cưới bình thường có bài Pảo cơm sểểt

nhưng đều kể về: Đẻ người, muôn vật, mối tình của đôi lứa, sự tích bông cơm trái lúa, sự

tích về xống áo, về chĩnh rượu cần dùng trong ngày cưới hôm nay Nhưng Mo đám cưới có

quy mô hơn và lời lẽ cũng trang đài hơn Đây chính là sự phân cấp trong đám cưới của

người Mường Thanh Hoá Sau Mo du là bữa tiệc chính thức diễn ra Kết thúc là cuộc vui

phá cỗ uống rượu cần, vui liên hoan văn nghệ diễn ra thâu đêm Nhân vì có đám cưới của

người bà con mà những bạn gái làng khác mới đến làng mình Tốp bạn của chú rể sẽ không

bỏ qua dịp may đó mà cố gắng nài các bạn gái hát xường, nhiều lời xường cũng xuất phát từ

đây rồi ra nhập vào kho vốn xường chung của người Mường

Người Mường có tục “Rảu trẩy tru, du vển lại” (Nghĩa là rể thường đi đón dâu vào lúc

thả trâu, đưa dâu về lúc chập tối khi trâu về chuồng); họ quan niệm đấy là giờ tốt và cũng

hợp với thời gian Do vậy đoàn người đưa dâu của bên nhà gái thường phải ngủ lại và ngày

cưới của người Mường trước đây chưa phải là đêm tân hôn, những người bạn gái của cô dâu

còn ngủ lại cùng cô

Trang 32

Thực tế, đám cưới truyền thống của người Mường không có đêm tân hôn và không có ngày lại mặt mà là rước dâu về trong khi người đưa dâu của nhà gái quay về thì cô dâu cũng theo về luôn Trước khi nhà gái ra về, nhà trai làm cơm thết đãi, hai họ tặng trầu cho nhau, chia tay trong lưu luyến, bịn rịn lẽ tất nhiên họ cũng ca lên những bài tương ứng với những hoạt động ấy Những bài dân ca này tuy là sinh hoạt ngoại nghi lễ song vẫn được xếp vào hệ thống dân ca đám cưới Sau ba ngày đêm, chị gái hay em gái của chú rể hoặc một bà mụ nhà trai lại có một gánh bánh chưng đến nhà gái đón cô dâu về Cô con dâu không theo ngay về nhà chồng mà nhà gái sắm một gánh bánh rồi mượn hai phù dâu đưa cô về nhà chồng

Trên đây là diễn trình nghi lễ một đám cưới cổ truyền của người Mường Thanh Hoá Người Mường có câu “Giàu bán lọ, khó bán con” ý muốn nói việc thách cưới, gả con gái gần như một việc bán con Những gia đình khá giả có thể cưới được vợ cho con Còn những người nghèo khó để có vợ có chồng thì họ phải đi tìm hạnh phúc cho chính họ bằng hát xường Từ các cuộc thi thố tài năng, mà thành vợ thành chồng khi họ đã quá đắm say nhau Hoặc khi không thể cưới vợ được cho con, bố mẹ phải cho con đi ở rể Một điều lý thú là có những cuộc hôn nhân mà đôi trai gái tự theo nhau về rồi làm bữa cơm tạ tội với hai họ mà người ta gọi là hôn nhân “Chạy về theo”

Trong các bước tiến hành nghi lễ cưới xin của người Mường các nghi lễ của ngày lễ

ra mắt rể và lễ rước dâu diễn ra trong âm vang của lời ca tiếng hát, làn điệu dân ca đám cưới gắn liền với nghi lễ cưới xin đã mang đến một không khí vừa sinh động vừa trang trọng thiêng liêng trong tập tục hôn nhân của người Mường Đám cưới và dân ca đám cưới trở thành hình thức sinh hoạt văn hoá độc đáo đậm màu sắ dân tộc

1.3 Một vài nét so sánh tập tục hôn nhân cổ truyền của người Mường Thanh Hoá với một số dân tộc khác

1.3.1 So sánh tập tục hôn nhân cổ truyền của người Mường Thanh Hoá với tục người Kinh

So với người Mường, trong đám cưới của người Kinh, còn có lễ vấn danh tức là lễ nhà trai đến nhà gái xin ngày sinh tháng đẻ của cô dâu để về xem tuổi; ý nghĩa của lễ này là xem tuổi đôi bên có hợp nhau hay không Sau lễ này mới tới lễ ăn hỏi Đám cưới của người Kinh

cũng rất coi trọng lễ lại mặt “Lại mặt to hơn đám cưới” vì nó mang nhiều ý nghĩa tốt đẹp:

Nhắc nhở con biết đạo hiếu, tạ ơn sinh thành, coi bố mẹ vợ như bố mẹ mình; thắt chặt và mở

Trang 33

rộng mối quan hệ thông gia, họ hàng ngay từ buổi đầu; bàn bạc trách nhiệm của hai bên bố

mẹ trong việc tác thành cuộc sống cho đôi vợ chồng mới cưới Trong tục cưới xin của người Mường Thanh Hoá không có lễ lại mặt sau lễ cưới Nhưng người Mường lại có lễ ra mắt rể

- một nghi lễ khá độc đáo, đánh dấu mốc ngày chú rể được phép xuất hiện chính thức tại nhà gái để trình lạy tổ tiên, ra mắt bố mẹ, họ hàng, xóm giềng của cô gái Còn đám cưới của người Kinh thì chú rể đã là một thành viên đặc biệt không thể thiếu ngay trong những lễ đầu tiên của đám cưới (Đi dạm, ăn hỏi)

Lễ vật trong các lễ của một đám cưới người Kinh thường đơn giản hơn rất nhiều so với người Mường Đại diện của hai họ để bàn bạc về lễ vật và đi đến những quyết định cuối cùng đều do những người có trách nhiệm, uy tín trong họ hàng đứng ra đảm nhận chứ không phải thông qua ông mối như người Mường Vì người làm mối trong đám cưới của người Kinh thông thường là ở bước giới thiệu, vun vén cho đôi trai gái đến với nhau chứ không chiếm một vai trò quan trọng và xuyên suốt tất cả các lễ như trong đám cưới của người Mường Lễ vật của người Kinh thường gọn nhẹ: Trầu cau, chè thuốc, bánh mứt, rượu, mâm xôi thịt… tất cả được sắp đặt một cách gọn gàng, đẹp đẽ; nếu nhà gái ở xa thì lễ vật được đựng trong gánh để đem đi, còn nếu nhà gái ở gần thì lễ vật được xếp vào các mâm rồi đội

đi Ở một số vùng nông thôn có thêm mâm lễ: Đầu lợn luộc chín, miệng ngậm cái đuôi, và

có thêm đoạn lòng được đặt trên mâm xôi

Người Kinh cũng có khái niệm chọn ngày đẹp, giờ đẹp để làm đám cưới nhưng không cầu kỳ như người Mường Diễn biến các lễ thường gọn nhẹ, thời gian tiến hành đầy đủ các ngày lễ cần thiết của một đám cưới cũng thường ngắn Còn với người Mường tính từ lễ ra mắt rể đến lễ cưới đã kéo dài đến hai ba năm Khi tổ chức đám cưới nhà trai phải bố trí đưa

cô dâu về nhà chồng vào đúng lúc chập tối và kéo dài cả ngày cả đêm kéo theo cuộc liên hoan rượu cần cùng những cuộc xường để lại trong tâm trí người dự lễ cưới một ấn tượng khó phai Lễ cưới của người Kinh cũng là ngày long trọng nhất nhưng cũng chỉ diễn ra trong khoảng thời gian tính bằng giờ đồng hồ và thời gian tổ chức có thể là sáng hoặc chiều, khi lễ cưới tiến hành xong hai họ ăn uống rồi nhà gái trở về chứ không lưu lại đêm tại nhà trai như người Mường

Trong đám cưới của hai dân tộc Kinh và Mường tuy có những tục lệ khác nhau về hình thức, đó là tục ném rể của người Mường và tục tiền nộp cheo của người Kinh nhưng lại

Trang 34

tương đồng nhau về ý nghĩa: Đều thể hiện cách nhận mặt chú rể và công nhận một thành viên mới của xóm làng, của mường bản… đồng thời cũng thể hiện sự công nhận một cuộc

hôn nhân mang tính chất pháp lý của xã hội bấy giờ Nên người Kinh có câu: “Lấy vợ không

cheo như cù nèo không mấu”

Một điểm khác biệt lớn nhất trong tục cưới xin của người Mường và người Kinh là: Đám cưới của người Kinh không có một hệ thống dân ca đám cưới theo sát những nghi lễ cưới xin và là một thành tố hợp thành nghi lễ cưới xin như người Mường mà chỉ có bài hát chúc phúc cho cô dâu và chú rể do anh em và bạn bè hát tặng đó là những bài hát tự do có thể là dân ca quan họ Bắc Ninh, là bài vọng cổ của miền Nam Bộ, hay những bài hát ví…Đám cưới của người Kinh chỉ có vài bài văn lễ khấn nôm đơn giản: Văn tế Tơ hồng trong Lễ tế Tơ hồng Còn đối với người Mường các bài hát đám cưới lại là hệ thống chặt chẽ, có quy trình diễn xướng cụ thể, và người đảm nhận đã được định sẵn xướng lên khi tiến hành những nghi lễ đám cưới

Đám cưới của người Kinh và người Mường đều tuân theo những quy định có tính chất

nghi lễ phổ biến trên toàn đất nước ta Tuy nhiên, đám cưới của mỗi dân tộc lại có nét đặc trưng thể hiện sắc thái, phong tục tập quán của họ Những nét đẹp văn hoá trong đám cưới của mỗi dân tộc cần được lưu giữ bởi đó chính là phần hồn sinh hoạt văn hoá mà họ đã lưu giữ bấy lâu nay

1.3.2 So sánh tập tục hôn nhân cổ truyền của người Mường Thanh Hoá với một số dân

tộc thiểu số ở Việt Nam

Điểm lớn nhất về nét tương đồng trong tập tục cưới xin của các dân tộc ít người chính

là đều có những bài ca hôn lễ theo sát nghi lễ đám cưới: Người Mường có hát Thường

(Xường), người Tày có hát Quan làng, người H’mông có Gầu xống, người Cờtu có Ca lới,

người Giáy có Vươn té pầu, người Thái có Cải puông… tuy thời điểm xuất hiện và cách

diễn xướng các lời ca có khác nhau

Nhìn chung, đám cưới của người Mường Thanh Hoá cũng như các dân tộc ít người khác đều có các lễ phổ biến; lễ cưới thường được tiến hành long trọng kéo dài tới một vài ngày Tuy trong các đám cưới này đều có tục rửa chân cho cô dâu khi về nhà chồng nhưng người Mường còn kèm theo cả lời ca xin nước rửa chân mà các dân tộc khác không có Đám cưới cổ truyền của người Mường Thanh Hoá không có lễ lại mặt

Trang 35

Một nét chung nữa trong đám cưới của các dân tộc ít người đều có người làm mối tuy nhiên người làm mối lại có vai trò khác nhau trong quá trình đi tới hôn nhân của các cặp vợ chồng thể hiện phong tục tập quán từng dân tộc Người làm mối trong đám cưới của người Tày, người Nùng thường là bà cô trong họ, hoặc đó lại chính là hai ông quan làng; đám cưới của người Khơme lại yêu cầu nhà gái và nhà trai đều phải có một ông mối; còn trong đám cưới của người H’Mông (Hà Giang) lại yêu cầu cả nhà trai và nhà gái đều phải có hai ông mối và như vậy tổng cộng trong một đám cưới của họ có tới bốn ông mối Người Mường có nhờ một bà thăm đường thăm lối tạm gọi là bà mối nhưng khi tiến hành các lễ thì nhất thiết

họ phải có một ông mối chính thức và ông mối nhà trai lựa chọn phải được sự đồng ý của nhà gái đồng thời phải đặt được những tiêu chí như đã nói ở trên Đây là sự cầu kỳ, cẩn trọng trong việc chọn ông mối của người Mường, có khi phải chọn đến bảy hoặc chín lần mới thành công

Xét trong mối tương quan của người Mường nói chung và các dân tộc ít người nói riêng, lễ ăn hỏi của người Mường Thanh Hoá thể hiện sự độc đáo Lễ ăn hỏi của người Mường Thanh Hoá được tổ chức tới bốn lần và mỗi lần đều kèm theo những lễ vật rất phức tạp Trong khi các dân tộc ít người khác lễ ăn hỏi chỉ tổ chức một lần; hơn chăng có người

Mường ở tỉnh Vĩnh Phúc lễ ăn hỏi cũng được tổ chức thành hai lần: Mòn gà (lần đầu) và

Mòn lợn (lần hai), bên cạnh đó, người Khơme cũng tổ chức ba lần lễ ăn hỏi nhưng lễ vật

đơn giản hơn người Mường nhiều chủ yếu là trầu cau, bánh trái và một vài đồ kỷ niệm của nhà trai tặng cho cô dâu: Quần áo, hoa tai…

Theo thông lệ đám cưới của các dân tộc thì trước hoặc đến lễ ăn hỏi, chú rể đã được phép đến nhà gái để trình lạy tổ tiên, ra mắt bố mẹ họ hàng nhà gái Nhưng người Mường nói chung và người Mường ở Thanh Hoá nói riêng hai họ tổ chức riêng một lễ ra mắt rể và đúng đến hôm đó chú rể mới được phép có mặt ở nhà gái để làm lễ ra mắt (người Mường Bi

ở Hoà Bình gọi lễ này là lễ cưới lần thứ nhất: Ti cháu) Trong lễ ra mắt rể của người Mường

Thanh Hoá có một tục lệ rất lạ kỳ, nhận mặt chú rể một cách đầy ấn tượng mà người ta gọi

là tục ném rể Chỉ cần nhà trai ca lời xin mở cổng thì được vào chứ không phải là hát đối đáp giữa hai họ Với người Mường Hoà Bình thì tục này lại được tiến hành bằng trò chơi

tinh nghịch khi đoàn người nhà trai “rửa chân chuẩn bị vào nhà những cô con gái tinh

nghịch bên nhà gái thườnh đợi khách vào là giật dây để tổ kiến đỏ, kiến đen treo trên c ành

Trang 36

cây, bờ rào đổ xuống bám vào đốt các vị khách” [10; tr 110] Đồng thời, tục ném rể trong

ngày ra mắt rể của người Mường Thanh Hoá cũng có ý nghĩa giống tục té nước vào chú rể của người Mường ở Vĩnh Phúc; giống tục “múa mở rào” của người Khơme, tục căng mấy sợi chỉ ở cổng của người Giáy, tục căng dây lưng của người Tày… khi đoàn người nhà trai đến cổng nhà gái trong ngày cưới Nếu nhà trai muốn vào nhà thì phải hát đối đáp với nhà gái xong mới được vào Nó mang ý nghĩa tạo ra không khí vui vẻ và cũng là một hình thức giúp cô dâu chú rể sau này sống được hạnh phúc…

Lại bàn về phần lễ vật cưới xin Lễ vật cưới xin đều rất quan trọng nhưng lại có những thứ bắt buộc cần phải có Trong đám cưới của người Thái, có thể thiếu hoặc nợ lễ này lễ nọ nhưng nếu đến ngày cưới mà lễ vật Slằm khấu (mảnh vải một nửa nhuộm, một nửa để thô) không có thì đám cưới sẽ không được phép tiến hành Thay cho Slằm khấu của người Thái,

là con trâu của người Mường Tuy con trâu không phải là tiêu chí thể hiện sự long trọng của một đám cưới nhưng người Mường đã khẳng định vai trò của nó là lễ vật trong đám cưới

“Chƣa có trâu đừng hỏi dâu dạm vợ” Còn ý nghĩa của tục nộp vải Slằm khấu của người

Thái giống tục nộp nồi đồng và vải cho mẹ của cô dâu trong đám cưới người Mường Thanh Hoá: Đền ơn mẹ đã nuôi con gái lớn giờ thành vợ mình

Từ sự so sánh trên, chúng ta có thể thấy những nét tương đồng và dị biệt trong tập tục

cưới xin của người Mường Thanh Hoá với một số dân tộc ít người khác Điều này thể hiện

sự phong phú và độc đáo trong nghi lễ cưới xin của người Mường Thanh Hoá Đây là kết quả của sự giao lưu, lĩnh hội những tinh hoa văn hoá của người Mường với các tộc người khác, bên cạnh đó, họ vẫn lưu giữ được những bản sắc riêng của dân tộc mình Những tục lệ cưới xin tuy khác nhau xong lại mang ý nghĩa rất giống nhau chính là nét đẹp mang tính thống nhất của văn hoá Việt Nam

Tiểu kết

Là một dân tộc có tính địa phương rõ rệt, nên văn hoá của người Mường nói chung và người Mường Thanh Hoá nói riêng vừa mang nét đẹp của văn hoá Việt lại vừa mang sắc thái riêng độc đáo Trong kho tàng văn hoá đa dạng, phong phú của mình, người Mường Thanh Hoá đã lưu giữ, phát huy được nhiều vốn văn hoá có giá trị lớn Trong đó, tập tục

Trang 37

cưới xin là nét sinh hoạt văn hoá dân gian độc đáo; song hành với cuộc sống của người Mường và trầm tích nhiều yếu tố văn hoá dân tộc Mường Nó vừa ẩn chứa những yếu tố tín ngưỡng, tâm linh, lại mang chút dư âm của lễ hội và có hệ thống dân ca đám cưới - thể loại văn học dân gian

Dân ca đám cưới đã làm cho phong tục cưới xin của người Mường thêm sinh động, long trọng và trang nghiêm Nó thể hiện mối quan hệ sâu sắc giữa văn học và văn hoá của dân tộc Mường Theo suốt những nghi lễ quan trọng của đám cưới bắt đầu từ Lễ ra mắt rể đến Lễ cưới, dân ca đám cưới là thành tố hợp thành nghi lễ cưới xin cổ truyền và là linh hồn,

cốt lõi trong sinh hoạt hôn nhân của người Mường Thanh Hoá

Dân ca đám cưới là bộ phận mang tính đặc thù, được hình thành do yêu cầu của con người sinh hoạt, thực hành nghi lễ cưới xin trong đời sống nhân dân, gắn với hôn lễ và phục

vụ hôn lễ Được xếp vào thể tài dân ca nghi lễ - phong tục, dân ca đám cưới có ý nghĩa rất lớn đối với người Mường Thanh Hoá và chỉ được diễn xướng trong môi trường đám cưới

Nó là nghệ thuật ngôn từ, là sản phẩm tinh thần thể hiện rõ những nguyên tắc giao tiếp trọng tình

Chương 2

MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT DÂN CA ĐÁM CƯỚI CỦA NGƯỜI MƯỜNG THANH HOÁ

Trang 38

Dân ca đám cưới người Mường Thanh Hoá có sức hấp dẫn ở nội dung phong phú gắn liền với chức năng thể loại rõ nét Tuy nhiên, hiện nay, dân ca đám cưới đã và đang có xu hướng dần thưa vắng trong đời sống của người dân Mường Nguyên nhân này là do đâu? Điều này không phải vì làn điệu của dân ca đám cưới không hay, không hấp dẫn hoặc khó hát, khó sử dụng Mà nguyên nhân chính là khi những nghi lễ cầu kì có tính phiền toái của một đám cưới Mường xưa không còn ai theo nữa thì các bài hát đám cưới phục vụ cho những nghi lễ đó theo đó cũng không còn xuất hiện trong các đám cưới Do đó, các bài ca đám cưới không có điều kiện để xuất hiện, duy trì và tiếp tục phát triển Giá trị còn lại của dân ca đám cưới là ở mặt nghệ thuật văn học, phần nghệ thuật thơ dân gian Trong chương này, chúng tôi xin đi vào một số phương diện nghệ thuật của dân ca đám cưới người Mường Thanh Hoá chủ yếu trên một số mặt sau:

2.1 Kết cấu và đặc điểm chung

* Kết cấu là phương tiện cơ bản và tất yếu của khái quát nghệ thuật Kết cấu đảm nhận chức năng rất đa dạng nhằm tạo ra tính toàn vẹn của tác phẩm như một hiện tượng thẩm mĩ Dân ca đám cưới của người Mường Thanh Hoá là một thể tài của dân ca nghi lễ - phong tục, là một tác phẩm nghệ thuật của văn học dân gian; thể hiện những nét đặc trưng trong suy nghĩ, tình cảm, giao tiếp, ứng xử của dân tộc Mường Vì vậy, kết cấu của nó vừa

có nét tương đồng với dân ca các dân tộc trên đất nước ta vừa có những nét đặc sắc riêng khá tiêu biểu Dân ca đám cưới được sáng tác theo thể thơ tự do Phần lời có kết cấu đa dạng không cố định về số lượng âm tiết trong một dòng, số lượng dòng trong một bài cũng thay đổi không theo một khuôn mẫu nhất định

* Đặc điểm chung của dân ca đám cưới là tính diễn giải, kể lể phô diễn tâm tình hay sự kết hợp chặt chẽ giữa tự sự và trữ tình

Dân ca đám cưới của người Mường có nhiều bài ca mang cốt truyện, có nhân vật, có lời đối thoại xoay quanh chủ đề đám cưới giúp người nghe lĩnh hội những câu chuyện một

cách đầy đủ nhất cả lời ca và ý nghĩa Lời ca Nhà trai mời nhà gái lấy nước rửa chân đã kể

về một câu chuyện của mùa đại hạn nên không có nước rửa chân trong ngày cưới của cô dâu chú rể:

Năm nay trời đại hạn

Trang 39

Nước cạn lắm cạn ghê…

… Nước sông con chỉ còn bằng lá bái Nước sông cái chỉ còn bằng lá denh denh [27; tr 56]

họ đã tìm ra cái lý để thuyết phục nhà gái lấy rơm, lấy lá lau chân cho sạch:

Ông bà, dì, cậu chịu khốn chịu khó Lau chân bằng rơm cho sạch Chùi chân bằng rạ cho quang [27; tr 56, 57]

để vào nhà ăn trầu, trò chuyện mừng ngày vui của đôi trẻ

Trong Bài ca trải chiếu trong buồng cô dâu để dẫn dắt người nghe đến với việc trải đôi

chiếu trong đám cưới, bà già đã ca lời ca kể về nguồn gốc ra đời của đôi chiếu Câu chuyện

được kể vào tiết trời đẹp của tháng một chạp, mụ Dạ Dần đã nhặt được bông hoa chiếu “Đó

là hoa con trai, vừa là hoa con gái”; và cất giữ cẩn thận Sau cơn mưa rào, mụ đã rất kỳ

công đi chọn đất để vãi hạt giống Sau nhiều ngày đi mà chưa nơi đâu có thể trồng chiếu; mụ

đã “liệu tìm về đất bể Nga Sơn - Được nơi ruộng quang nên trang ruộng chiếu” Và rồi,

mụ truyền cho con trai lấy trâu đen, trâu bạc, bò vàng để bừa dọc, bừa ngang, trang đất cho

mụ vãi hạt chiếu Sau nhiều ngày, mụ về thăm ruộng chiếu thấy “Chiếu vừa vãi giờ đã tốt

tươi”, mụ lại cho gọi con gái ra cắt sợi mang về phơi sấy chọn những sợi tốt, sợi đẹp để mụ:

Mắc vào khung dệt tầm vông con quạ Lấy những thoi bạc thoi ngà

Đã dệt nên đôi chiếu hoa

Đã dệt ra đôi chiếu đậu Chiếu hoa nổi hình con cá

Ở giữa nổi hình con rồng Nổi hình bông hoa rực rỡ [27; tr 67]

Và các đôi chiếu ấy được mang đi bán ở chợ Bãi, chợ Mầu, chợ Mới… Đôi chiếu của cặp vợ chồng trong đám cưới hôm nay có từ đó và nó có ý nghĩa như món qua mừng hạnh phúc, chúc cặp vợ chồng này giàu có

Những câu chuyện được diễn giải như mở đường cho chất tự sự tràn vào lời ca trong ngày hôn lễ khiến cho ngày vui càng thêm long trọng Tính tự sự trong dân ca dân tộc

Trang 40

Mường còn mang nhiều lời kể cụ thể, ít khái quát khiến cho nó bài ca dài thêm ra; vì thế những câu chuyện kể về xống áo, về chĩnh rượu cần…cứ tràn ra và thấm vào lòng người Bên cạnh tính tự sự, dân ca đám cưới của người Mường Thanh Hoá còn mang đậm tính trữ tình Chất trữ tình được thể hiện khá nhiều, nhất là ở những lời thổ lộ tâm tình của

đôi trai gái trên ruộng dâu (do ông mo thể hiện trong Mo đám cưới) Không gian ở đây

không phải ở ven sông hay chốn vườn hồng xuất hiện trong ca dao của người Việt mà là ruộng dâu - một kiểu không gian đặc trưng gắn với nghề thủ công truyền thống của người Mường Không gian lao động ấy đã kéo con người xích lại gần nhau, hiểu nhau và yêu nhau Chàng trai đã kiếm cớ bắt chuyện hỏi cô gái có thấy con chim mang trên minh tên nỏ bay qua Cô gái đáp lại lời chàng trai một cách tinh tế, không một chút ỡm ờ, như có ý muốn trò chuyện cùng chàng trai Không bỏ qua dịp thổ lộ tâm tình, nhưng cũng không vồ vập, chàng trai dò ý một cách rất khiêm tốn:

Em đi hái dâu ban sớm ban trưa

Có còn miếng trầu thừa quả cau hôi Cho anh xin một miếng

Lời đáp của cô gái nhẹ nhàng mà không kém phần ý nhị thể hiện phẩm giá của người con gái lại pha chút như dỗi hờn bởi chàng xin trầu thừa cau hôi, nhưng cũng rất rõ ràng có chút gì mạnh dạn chứ không e lệ nửa chừng kiểu “Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào”:

Em đi hái dâu sớm có trầu ăn sớm

Em đi hái dâu trưa có trầu ăn trưa

Em không có trầu thừa cau hôi Đưa ra ngoài nơi ấy

Anh có lòng vậy vào đây mà ăn [27; tr 78]

Nghe lời nói như cởi tấm lòng, chàng trai đã vào vườn dâu tâm tình cùng cô gái Lời ca đối đáp của họ vang lên mềm mại, uyển chuyển Gia cảnh cùng tâm tư của cả hai được bộc

lộ qua những hình ảnh so sánh đậm chất trữ tình:

Đất ruộng nhà em mỡ màng như vây con giải

Nương dâu nhà em mượt mà lút vai con bò con trâu Vũng cá suối sâu nhà em

Đã ai buông chai thả lưới

Ngày đăng: 23/03/2015, 17:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị An (Chủ biên), (2008) Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số, Tập 17, Dân ca , Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
2. Vương Anh (1995), “ Đặc trưng văn hoá Mường Thanh Hoá ”, trong sách Văn hoá dân tộc Mường, Sở Văn hoá Thông tin, Hội Văn hoá các dân tộc Hoà Bình xuất bản, tr 208 - 218 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng văn hoá Mường Thanh Hoá ”, trong sách "Văn hoá dân tộc Mường
Tác giả: Vương Anh
Năm: 1995
4. Nguyễn Dương Bình (1974), “Tìm hiểu thành phần người Mọi Bi ở miền Tây tỉnh Thanh Hoá”. Tạp chí Dân tộc học, (2), tr. 33 - 41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu thành phần người Mọi Bi ở miền Tây tỉnh Thanh Hoá”
Tác giả: Nguyễn Dương Bình
Năm: 1974
5. Nguyễn Dương Bình (1976), “Một vài đặc điểm của xã hội Mường qua việc tìm hiểu gia phả một dòng họ Lang”.Tạp chí Dân tộc học,(3), tr. 39 - 51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài đặc điểm của xã hội Mường qua việc tìm hiểu gia phả một dòng họ Lang”
Tác giả: Nguyễn Dương Bình
Năm: 1976
6. Phan Kế Bính (2008), Việt Nam phong tục, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2008
7. Nông Minh Châu (1973), Dân ca đám cưới Tày - Nùng, Nxb Việt Bắc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân ca đám cưới Tày - Nùng
Tác giả: Nông Minh Châu
Nhà XB: Nxb Việt Bắc
Năm: 1973
8. Nông Quốc Chấn (Chủ biên) (1979), Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (Tập VI), Văn học dân tộc ít người (Quyển I), Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (Tập VI), Văn học dân tộc ít người (Quyển I)
Tác giả: Nông Quốc Chấn (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1979
9. Chevalier. J và Gheerbrant.A.,(1977) Từ điển biểu tƣợng văn hoá thế giới, (Phạm Vĩnh Cư, Nguyễn Xuân Giao … dịch), Nxb Đà Nẵng và Trường viết văn Nguyễn Du xuất bản, Đà Nẵng - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển biểu tƣợng văn hoá thế giới
Tác giả: Chevalier, J, Gheerbrant, A
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 1977
10. Nguyễn Từ Chi (1995), Góp phần nghiên cứu văn hoá tộc người, Nxb Văn hoá thông tin, Tạp chí văn hoá nghệ thuật xuất bản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu văn hoá tộc người
Tác giả: Nguyễn Từ Chi
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 1995
11. Nguyễn Từ Chi (1998), “Người Mường ở Hoà Bình cũ”, trong sách Người Mường và văn hoá cổ truyền Mường Bi, UBND huyện Tân Lạc, Sở Văn hoá Thông tin tỉnh Hà Sơn Bình xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Mường ở Hoà Bình cũ”, trong sách " Người Mường và văn hoá cổ truyền Mường Bi
Tác giả: Nguyễn Từ Chi
Năm: 1998
12. Công tác dân tộc học (1999), Ban Dân tộc miền núi Thanh Hoá xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác dân tộc học
Tác giả: Công tác dân tộc học
Năm: 1999
13. Cuisinier.J (1995), Người Mường, (Hồng Vân dịch), Nxb Lao động Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Mường
Tác giả: Cuisinier.J
Nhà XB: Nxb Lao động Hà Nội
Năm: 1995
14. Dân ca Thanh Hoá,(1965), (Nhóm Lam Sơn sưu tầm và giới thiệu), Nxb Văn học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân ca Thanh Hoá
Tác giả: Dân ca Thanh Hoá
Nhà XB: Nxb Văn học Hà Nội
Năm: 1965
15. Chu Xuân Diên (1981), “Về việc nghiên cứu thi pháp văn học dân gian”, Tạp chí Văn học, (5), tr. 19 - 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Về việc nghiên cứu thi pháp văn học dân gian”
Tác giả: Chu Xuân Diên
Năm: 1981
16. Chu Xuân Diên (2008), Nghiên cứu văn hoá dân gian - phương pháp, lịch sử, thể loại, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn hoá dân gian - phương pháp, lịch sử, thể loại
Tác giả: Chu Xuân Diên
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2008
17. Trần Chí Dõi (1998), Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam , Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam
Tác giả: Trần Chí Dõi
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1998
18. Phạm Đức Dương (1978), “Về mối quan hệ Việt - Mường, Tày - Thái qua tư liệu dân tộc - ngôn ngữ học”, Tạp chí Dân tộc học (3), Tr. 15 - 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Về mối quan hệ Việt - Mường, Tày - Thái qua tư liệu dân tộc - ngôn ngữ học”
Tác giả: Phạm Đức Dương
Năm: 1978
19. Đảng cộng sản Việt Nam, (1996) “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII”
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
20. Địa lý hành chính tỉnh Thanh Hoá (2000) , Tập 1, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý hành chính tỉnh Thanh Hoá
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
21. Mạc Đường (1977), Dân tộc và vấn đề xác định thành phần dân tộc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộc và vấn đề xác định thành phần dân tộc
Tác giả: Mạc Đường
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1977

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w