Đứng từ góc độ nghiên cứu hiệu quả truyền thông, công trình sẽ làm rõ thêm vai trò, ưu thế cũng như hạn chế của loại hình báo điện tử trong việc làm hình thành, thể hiện và định hướng dư
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ NGA
BÁO CHÍ VỚI VẤN ĐỀ
THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH BÁO CHÍ
HÀ NỘI – 2009
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ NGA
BÁO CHÍ VỚI VẤN ĐỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
(Khảo sát báo Điện tử VietNamNet và Vnexpress từ
năm 2005 đến năm 2009)
Chuyên ngành: Báo chí học
Mã số : 60 32 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH BÁO CHÍ
Người hướng dẫn khoa học:
Tiến sĩ: Trần Đăng Thao
HÀ NỘI – 2009
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 5
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 6
5.1 Cơ sở lý luận 6
5.2 Phương pháp nghiên cứu 10
6 Kết cấu luận văn 11
CHƯƠNG I- CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 12
1.1.Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 12
1.1.1 Nghiên cứu về hiệu quả truyền thông đại chúng trên thế giới 12
1.1.2 Nghiên cứu về hiệu quả truyền thông đại chúng ở Việt Nam 13
1.1.3 Nghiên cứu về báo điện tử trong mối tương quan giữa các phương tiện truyền thông khác 15
1.2 Cơ sở lý thuyết 17
1.2.1 Lý thuyết về dư luận xã hội 17
1.2.1.1 Khái niệm 17
1.2.1.2 Sự hình thành dư luận xã hội 19
1.2.1.3 Đặc điểm của dư luận xã hội 21
1.2.1.4 Chức năng của dư luận xã hội 22
1.2.1.5 Các phương pháp nhận diện dư luận xã hội 23
1.2.1.6 Các góc độ phân tích dư luận xã hội 24
1.2.2 Lý thuyết về truyền thông đại chúng 25
1.2.3 Mối quan hệ giữa truyền thông đại chúng và dư luận xã hội 27
TIỂU KẾT CHƯƠNG I 32
CHƯƠNG II- DƯ LUẬN XÃ HỘI VỀ VẤN ĐỀ THUẾ TNCN TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ VIETNAMNET VÀ VNEXPRESS 33
Trang 42.1 Vài nét về vấn đề thuế TNCN trên báo VietNamNet và Vnexpress 33
2.1.1 Vấn đề thuế thu nhập cá nhân 33
2.1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của thuế TNCN 33
2.1.1.2 Nguồn gốc, cơ sở ra đời của thuế TNCN 34
2.1.1.3 Căn cứ ban hành luật thuế TNCN tại Việt Nam 36
2.1.1.4 Quan điểm, mục tiêu xây dựng Luật thuế TNCN tại Việt Nam 38
2.1.1.5 Yêu cầu của Luật thuế TNCN Việt Nam 39
2.1.2 Vài nét về báo điện tử VietNamNet và Vnexpress 39
2.1.3 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 41
2.2 Dư luận xã hội về vấn đề thuế TNCN trên báo VietNamNet và Vnepress 46
2.2.1 Người nộp thuế 46
2.2.2 Thu nhập chịu thuế 49
2.2.3 Giảm trừ gia cảnh 75
2.2.4 Biểu thuế 98
2.2.5 Biện pháp tổ chức thu nộp 103
2.2.6 Thời điểm thi hành 112
TIỂU KẾT CHƯƠNG II 114
CHƯƠNG III – MỘT SỐ KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 115
3.1 Đánh giá thực trạng dư luận xã hội về vấn đề Thuế TNCN 115
3.2 Tác động từ công tác truyền thông của Tổng cục Thuế đến dư luận xã hội 122
3.3 Tác động từ thông điệp và tổ chức thông điệp truyền thông trên báo VietNamNet và Vnexpress đến dư luận xã hội 124
3.3.1 Thông điệp về vấn đề thuế TNCN trên hai báo 124
3.2.2 Tác động của thông điệp và tổ chức thông điệp đến dư luận xã hội 125 3.3 Một số kiến nghị 131
KẾT LUẬN 135
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 137
PHỤ LỤC 143
Trang 5Danh mục các từ viết tắt trong luận văn
H: Hà Nội Nxb: Nhà xuất bản TP.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh TNCN: Thu nhập cá nhân
Sđd: Sách đã dẫn
Trang 6Danh mục bảng biểu
B1 So sánh giữa phương tiện truyền thông đại chúng truyền thống với
B2 Mối quan hệ giữa truyền thông đại chúng và dư luận xã hội 29
B3 Các luồng ý kiến dư luận xã hội về vấn đề thuế TNCN 43
B6 Phần trăm bài viết qua các năm về nội dung Thu nhập chịu thuế 52
B7 Số lượng bài viết ở các chuyên mục thuộc Thu nhập chịu thuế 52
B8 Số lượng bài viết ở các thể loại thuộc Thu nhập chịu thuế 53
B9 Số lượng bài viết thuộc các luồng ý kiến về Thu nhập chịu thuế 54
B10 Tương quan giữa các thể loại thuộc nội dung Thu nhập chịu thuế
B11 Tương quan giữa các luồng ý kiến thuộc nội dung Thu nhập chịu
B12 Số lượng bài viết về Giảm trừ gia cảnh qua các năm 77
B13 Phần trăm bài viết thuộc chuyên mục đăng tải về Giảm trừ gia
B14 Số lượng bài viết thuộc các thể loại thuộc Giảm trừ gia cảnh 79
B15 Số lượng bài viết thuộc luồng ý kiến về Giảm trừ gia cảnh 79
B16 Số lượng bài viết về Biện pháp tổ chức thu nộp qua các năm 105
B17 Số lượng bài viết thuộc chuyên mục đăng tải về Biện pháp tổ
B18 Số lượng bài viết thuộc luồng ý kiến về Biện pháp tổ chức thu
Trang 7
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài
Đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội là hai mục tiêu cơ bản của phát triển bền vững mà hầu như quốc gia nào trên thế giới cũng đều mong muốn đạt tới Cùng có chung một kỳ vọng tốt đẹp là tạo dựng đời sống no đủ, hạnh phúc và bình đẳng cho toàn thể nhân dân song thực tế điều tiết kinh tế - xã hội ở tầm vĩ mô cho thấy, thực hiện đồng thời, cân đối hai mục tiêu trên chưa khi nào là chuyện đơn giản, nhanh chóng đối với mỗi mô hình kinh tế cụ thể Lời giải cho bài toán này càng trở nên phức tạp khi làn sóng toàn cầu hóa đang lan nhanh thôi thúc sự tăng tốc của mỗi quốc gia trong cuộc đua tranh vì tăng trưởng, phát triển kinh tế
Có lẽ Thomas L Friedman, tác giả cuốn Thế giới phẳng1, đã quá nhấn mạnh mặt tích cực khi lập luận rằng hiện tượng toàn cầu hóa tăng tốc trong kỷ nguyên số ngày nay đã “san phẳng” thế giới Kết quả, “sự kết nối” không giới hạn đã và đang đem đến một thế giới “bình đẳng”, không có bất cứ sự phân biệt nào Đó là sự “bình đẳng” về các “cơ hội cũng như thách thức”
Hiểu như vậy không sai nhưng dường như nhà báo, nhà kinh tế học người
Mỹ này mới dừng ở góc nhìn bao quát theo chiều rộng Cần thừa nhận rằng, song song với quá trình “làm phẳng” trên, thế giới ngày nay cũng trở nên “lồi lõm” hơn trên nhiều phương diện Mà một trong số đó là sự phân hóa giàu nghèo, sự phân tầng xã hội về mặt kinh tế diễn ra ngày càng sâu sắc, đe dọa sự
ổn định an ninh, chính trị ở nhiều quốc gia
Ở Việt Nam, thực tiễn sự nghiệp Đổi mới từ năm 1986 đã đưa đến sự chuyển đổi, xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường định hướng XHCN Cùng với chính sách mở cửa, hội nhập sâu rộng vào khu vực và thế giới, trong đó đáng chú ý là sự kiện gia nhập thành công vào khối Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2006, sau hơn 20 năm, từ một nền kinh tế gần như khép kín, một xuất phát điểm thấp
1
Thế giới phẳng (The World is Flat) - cuốn sách bán chạy nhất nước Mỹ năm 2006, tác giả Thomas L.Friedman đã chỉ ra 10 yếu tố làm phẳng thế giới 10 yếu tố này tích hợp lại đã vẽ nên sơ đồ trạng thái phát triển của thế giới trong thời đại ngày nay theo hệ tọa độ không gian ba chiều Trong đó chiều cao là sự phát triển của khoa học công nghệ, chiều ngang là toàn cầu hóa kinh tế và chiều dọc là xu thế hòa bình và hợp tác trong nền chính trị thế giới
Trang 8sau chiến tranh, Việt Nam đã vươn lên thành nước đang phát triển năng động với mức tăng trưởng bình quân 7%/năm trong giai đoạn từ 1990-2000 và 7,5%/năm trong giai đoạn kế tiếp
Xác định “Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và
từng chính sách phát triển: tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, y
tế, giáo dục…, giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xã hội” 2, gần một thập kỷ qua, Việt Nam đã đạt được các bước tiến rõ rệt trong cải thiện điều kiện sống và an sinh xã hội cho người dân Báo cáo Triển vọng Phát triển châu Á năm 2007 của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) cho thấy, tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ và bao trùm ở Việt Nam đã thể hiện ở tỉ lệ nghèo giảm từ 58,1% năm 1993 xuống khoảng 18,1% trong năm 2006 Nhiều chỉ tiêu kinh tế, thương mại đã liên tục lập kỷ lục năm sau cao hơn năm trước Trên hết, quá trình đổi mới và cải cách đã cải thiện mạnh mẽ mức sống, thu nhập của nhân dân
Cụ thể, thu nhập bình quân đầu người tăng từ 5,7 triệu đồng năm 2000 lên
10 triệu đồng năm 2005 Chỉ số phát triển con người (HDI) từ mức dưới trung bình 0,498 năm 1991 đã tăng lên mức trung bình 0,691 năm 2004 và 0,725 năm 2009 Công tác bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân đạt nhiều kết quả: mạng lưới y tế được mở rộng; tuổi thọ trung bình tăng từ 67,8 năm 2000 lên 71,5 vào năm 2005 và 74,3 vào năm 2009
Tuy nhiên như là một hệ quả tất yếu của nền kinh tế thị trường, quá trình tăng trưởng kinh tế, tích tụ vật chất nhanh chóng (bên cạnh mặt tích cực là tạo điều kiện cho người dân làm giàu hợp pháp, cũng đi kèm không ít các hiện tượng làm giàu bất chính do tham nhũng, đầu cơ, buôn lậu…) cũng đang kéo theo những biến đổi dần về cơ cấu xã hội Đáng lưu ý là sự mất cân đối và chênh lệch ngày càng xa về thu nhập giữa các nhóm xã hội, các tầng lớp dân
cư, giữa thành thị và nông thôn, miền xuôi và miền núi
2
Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2001 Tr 88
Trang 9Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, hệ số chênh lệch về thu nhập giữa 20% dân số giàu nhất và 20% nghèo nhất trong tổng số dân cư cả nước là 5,6 lần năm 1992 thì năm 1997 - 1998 con số này tăng lên 10,47 lần 10 năm sau, Báo cáo Phát triển Con người 2007-2008 của Chương trình hỗ trợ phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP) tiếp tục đưa ra con số giật mình: 10% dân số nghèo nhất chỉ được hưởng khoảng 4% thu nhập và chi tiêu quốc gia, trong khi 10% giàu nhất chiếm xấp xỉ 29% - gấp 6,9 lần Nếu tính theo chỉ số Gini – chỉ số chênh lệch giàu nghèo thì ở Việt Nam thì lên đến 34,4 lần
Rõ ràng phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng trong thu nhập và hưởng thụ các dịch vụ xã hội đang nổi lên như một vấn đề thời sự cấp bách ở nước ta Nếu không có những nỗ lực và biện pháp toàn thể thì tăng trưởng kinh tế quốc gia dù cao đến mấy cũng sẽ không còn ý nghĩa
Với quan điểm động viên một cách hợp lý thu nhập dân cư để khuyến khích mọi cá nhân ra sức lao động, sản xuất kinh doanh gia tăng thu nhập làm giàu chính đáng; đảm bảo công bằng trong phân phối thu nhập, góp phần hạn chế khoảng cách thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, đồng thời gia tăng nguồn lực để giải quyết tốt hơn các vấn đề xã hội, từ cuối năm 2005 Nhà nước đã rất quan tâm đến việc xác định mức thu nhập chuẩn của các đối tượng nhằm ban hành Luật Thuế Thu nhập cá nhân (TNCN)
Có nguồn gốc từ Pháp lệnh về thuế đối với người có thu nhập cao, từ năm
2006, Dự luật Thuế TNCN đã được soạn thảo và đưa ra tham vấn ý kiến người dân cùng các bên liên quan Ngày 01/01/2009, luật thuế TNCN chính thức có hiệu lực
Trong suốt quá trình xây dựng từ lúc còn là Dự luật đến khi Luật thuế TNCN đi vào cuộc sống đã liên tục thu hút rất nhiều luồng ý kiến, quan điểm trái ngược trong xã hội Thuế TNCN đã trở thành sắc thuế được góp ý, phản biện nhiều nhất từ trước tới nay Các tranh luận nóng bỏng thậm chí gay gắt chủ yếu xoáy vào các nội dung như: người nộp thuế, thu nhập chịu thuế, giảm trừ gia cảnh, biểu thuế, biện pháp tổ chức thu nộp và thời điểm thi hành… Phải nhìn nhận rằng, thuế TNCN khi áp dụng ở các quốc gia khác cũng đều được đánh giá là sắc thuế “nhạy cảm”, “phức tạp” Bởi thứ nhất đây là kiểu thuế trực thu, đánh trực tiếp và trông thấy vào thu nhập của cá nhân; thứ hai là
Trang 10diện điều chỉnh rất rộng, đụng chạm đến lợi ích, tiền bạc của hầu hết dân cư, giai tầng xã hội Ngoài hai yếu tố cơ bản nêu trên, riêng Việt Nam, thuế TNCN còn là một vấn đề mới mà đa số người dân chưa có nhận thức, ý thức đầy đủ, chưa kể nỗi ám ảnh về “sưu cao, thuế nặng” do lịch sử để lại dẫn tới tâm lý trốn tránh, không muốn đóng thuế, phản đối luật thuế
Các phản ứng về một số nội dung của luật thuế càng nóng bỏng hơn khi tình trạng trượt giá, lạm phát trong nước tăng cao lên hai con số vào năm 2008
và ngay sau đó là cuộc khủng hoảng tài chính, suy giảm kinh tế toàn cầu khiến thu nhập thực tế, việc làm, đời sống của đại bộ phận người dân giảm sút Xuất hiện thêm nhiều quan ngại: việc đóng thuế vô hình sẽ trở thành một gánh nặng đối với phần đông những người lao động, công nhân viên chức Một số ý kiến khi ấy cho rằng luật chưa ra đã lạc hậu, luật quá tận thu hay cần có luật thất nghiệp sau khi ra đời luật thuế TNCN…
Tất cả những mong muốn, tâm trạng, thái độ, quan điểm của các nhóm lợi ích trong xã hội đã được phản ánh chân thực, sinh động và toàn diện trên báo chí Đặc biệt, với đặc trưng là tính đa chiều, tính tương tác cao, khả năng cập nhật liên tục, lại không bị giới hạn bởi khuôn khổ, báo điện tử có vai trò nổi trội so với các loại hình báo chí khác trong thể hiện dư luận xã hội
Khi Thuế TNCN vẫn đang là vấn đề thời sự, được cả xã hội quan tâm thì việc nghiên cứu dư luận xã hội thể hiện trên hai tờ báo điện tử hàng đầu Việt Nam là VietNamNet (www.vietnamnet.vn) và Vnexpress (www.vnexpress.net) sẽ góp phần phác họa bức tranh, diễn biến và kiến giải những nội dung gây tranh luận nhiều nhất của luật thuế TNCN Đứng từ góc độ nghiên cứu hiệu quả truyền thông, công trình sẽ làm rõ thêm vai trò, ưu thế cũng như hạn chế của loại hình báo điện tử trong việc làm hình thành, thể hiện và định hướng dư luận xã hội; xem xét mối quan hệ giữa truyền thông đại chúng và dư luận xã hội; mức
độ tác động của các luồng dư luận xã hội trên báo điện tử tới Dự luật và luật thuế quan trọng số một của Việt Nam kể trên
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu dư luận xã hội về vấn đề thuế thu nhập cá nhân trên hai trang báo điện tử VietNamNet và Vnexpress từ năm
2005 đến năm 2009
Trang 11Xem xét/nhận diện vai trò, ưu thế của báo điện tử trong việc hình thành, dẫn dắt và định hướng dư luận xã hội
Đề xuất một số kiến nghị và giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả truyền thông của báo điện tử cùng vấn đề thuế thu nhập cá nhân đã và đang còn nhiều
ý kiến tranh luận ở nước ta
Các mục tiêu cụ thể của luận văn như sau:
- Xem xét cách thức, đo lường mức độ, cường độ của các luồng dư luận
xã hội về vấn đề thuế thu nhập cá nhân trên báo điện tử
- Tìm hiểu và lý giải cơ sở, cơ chế hình thành và phát triển dư luận xã hội của từng nhóm đối tượng về vấn đề thuế TNCN
- Chỉ ra một số tác động của dư luận xã hội góp phần làm thay đổi, hợp lý hóa các điều của Dự luật, Luật Thuế Thu nhập Cá nhân
- So sánh đặc trưng thông tin của hai trang báo điện tử hàng đầu
- Làm rõ tác động của truyền thông đại chúng đối với dư luận xã hội
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Nội dung nghiên cứu: Các luồng dư luận xã hội về vấn đề thuế thu
nhập cá nhân trên loại hình báo điện tử
3.2 Đối tượng nghiên cứu: 614 tin, bài, ý kiến phản hồi của độc giả về vấn
đề thuế thu nhập cá nhân
3.3 Phạm vi nghiên cứu: Trong 715 tin, bài, ý kiến phản hồi về vấn đề
thuế TNCN đăng tải trên trang www.vietnamnet.vn và www.vnexpress.net từ năm 2002 đến 2009 - được thu thập dựa trên kết quả tìm kiếm theo từ khóa:
““thuế thu nhập cá nhân” + site:www.vnexpress.net”” và ““thuế thu nhập cá nhân” + site:www.vietnamnet.vn”” trên trang www.google.com.vn, kết hợp sử dụng hình thức tìm tin bài theo ngày tháng, theo tin liên quan trên chính hai trang báo này, chúng tôi chọn ra 614 tin, bài, ý kiến phản hồi trong khoảng thời gian từ năm 2005 đến tháng 7/2009 để làm cơ sở dữ liệu của việc nghiên
cứu
4 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Về lý luận, việc giải quyết những vấn đề đặt ra của đề tài sẽ góp phần làm
rõ, bổ sung thêm một số vấn đề lý thuyết báo chí học trong lĩnh vực nghiên
Trang 12cứu hiệu quả truyền thông nói chung và dư luận xã hội trên báo chí nói riêng – lĩnh vực nghiên cứu vẫn còn mới mẻ ở Việt Nam
Về thực tiễn, thông qua việc tìm hiểu tâm trạng, thái độ, mong muốn của
các luồng dư luận xã hội về luật thuế TNCN bày tỏ trên loại hình báo điện tử, nghiên cứu góp phần đưa đến cái nhìn toàn diện, thấu đáo hơn về vấn đề thuế TNCN Đây sẽ là cơ sở để các nhà làm luật, ban hành chính sách cũng như giới truyền thông rút kinh nghiệm trong việc thông tin - truyền thông về các vấn đề chuyên môn sâu, phức tạp đến công chúng sao cho chính xác, đạt hiệu
quả tối đa
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Tinh thần duy vật biện chứng trong triết học Mác, thể hiện ở mối quan hệ biện chứng giữa kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng trong mỗi hình thái kinh tế xã hội; vai trò của ý thức, tư duy trong mối quan hệ với vật chất và tồn tại; vấn đề con người, vai trò của quần chúng và cá nhân trong lịch sử xã hội được lấy làm cơ sở cho việc nghiên cứu sự tác động của truyền thông đại chúng đối với dư luận xã hội
Với tư cách là một hình thức biểu hiện của trạng thái ý thức xã hội trên các mặt tư tưởng, cảm xúc và ý chí, dư luận xã hội vừa là tấm gương phản ánh thực tế xã hội, đến lượt mình, nó vừa có tác động ngược trở lại đối với tồn tại
xã hội Vì lẽ đó các nhà nghiên cứu đồng quan điểm: cấu trúc tinh thần – thực
tế chính là đặc trưng làm nên bản chất của dư luận xã hội
C.Mác quan niệm: dư luận xã hội là dư luận của nhân dân, trong khi ông đặc biệt đề cao vai trò của quần chúng nhân dân, coi đây là những người sáng tạo chân chính của lịch sử Vai trò quyết định của quần chúng nhân dân thể hiện từ khía cạnh kinh tế đến chính trị, từ thực tiễn đến tinh thần, tư tưởng với
tư cách là lực lượng sản xuất cơ bản của xã hội; là động lực cơ bản của mọi cuộc cách mạng; đóng vai trò to lớn trong sản xuất tinh thần xã hội thông qua các hoạt động thực tiễn của mình C.Mác nói: tư tưởng một khi thâm nhập vào quần chúng sẽ biến thành lực lượng vật chất Đó là những tư tưởng phản ánh đúng ý nguyện và lợi ích căn bản của đông đảo quần chúng, chỉ ra được những nhiệm vụ lịch sử đã chín muồi mà quần chúng nhân dân cần thực hiện
Trang 13Mặt khác, ông cũng khẳng định: sản phẩm của truyền thông đại chúng là
dư luận xã hội3 Như vậy có thể thấy, ngoài ý nghĩa quyết định của quần chúng nhân dân đối với lịch sử xã hội, C.Mác đánh giá rất cao vai trò của quần chúng nhân dân và của truyền thông đại chúng trong việc thể hiện và tạo nên
dư luận xã hội Quan điểm này cũng tỏ ra tương đồng với hướng tiếp cận của các nhà xã hội học khi nghiên cứu dư luận xã hội như là một sản phẩm của giao tiếp và tương tác xã hội
Nhìn nhận dư luận xã hội có tác động tích cực đến sự phát triển xã hội là điểm chung dễ thấy trong quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lê-nin Theo quan điểm Mác-xít, dư luận xã hội luôn đóng vai trò là phương tiện và yếu tố điều chỉnh các quan hệ xã hội cũng như hành vi của con người Điều này được thể hiện cả ở xã hội có giai cấp và không có giai cấp Trong xã hội nguyên thủy - theo Ăng-ghen, “không có sức ép xã hội đối với cá nhân ngoài dư luận xã hội”4 Còn ở xã hội có giai cấp, luật pháp và dư luận xã hội là hai yếu tố cơ bản để điều hòa các quan hệ xã hội Trong đó, nhìn về thực chất, pháp luật của xã hội được hình thành như là kết quả của dư luận xã hội Các nhà kinh điển Mác-xít đã cho thấy gốc rễ của sự biến đổi xã hội là sự biến đổi trong ý thức của quần chúng nhân dân Nếu Ăng-ghen từng nhận định: sự tiến
bộ to lớn của dư luận xã hội là tiền đề cho những biến đổi xã hội, thì từ góc độ quản lý, V.I.Lê-nin nêu bật: chúng ta chỉ có thể quản lý được, khi nào chúng ta thể hiện đúng những gì mà nhân dân ý thức5
“Dân làm chủ”, “dân là gốc” cũng chính là tư tưởng cốt lõi của Chủ tịch
Hồ Chí Minh trong phương pháp dân chủ của Người Theo tác giả cuốn sách Phương pháp dân chủ Hồ Chí Minh6, mặc dù Hồ Chí Minh không có một tác phẩm chuyên khảo nào bàn sâu về dân chủ, cũng như phương pháp dân chủ nhưng trong các tác phẩm của Người (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2000, 12 tập) thì thuật ngữ dân chủ được dùng trên 1.600 lần Trong đó, một định nghĩa của Hồ Chí Minh về dân chủ hết sức hàm súc
Trang 14và giản dị đó “là dân làm chủ” 7 Theo văn cảnh của Người thì dân chủ là dân
làm chủ khi nhân dân Việt Nam đã là chủ đất nước của mình, nghĩa là dân là chủ và dân làm chủ Hồ Chí Minh luôn tâm niệm đưa “nước ta phải đi đến dân
chủ thực sự”, nghĩa là “bao nhiêu quyền hạn đều của dân”, “làm sao cho nhân
dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm”8
Sự kế thừa quan điểm Mác-xít của Hồ Chí Minh về dân làm chủ thể hiện ở việc, nhân dân không chỉ nắm quyền hành, mà còn làm chủ nhà nước, làm chủ ruộng đồng, nhà máy, xí nghiệp (tư liệu sản xuất)… đến làm chủ về văn hóa, tinh thần Nghĩa là dân chủ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
Kế thừa quan điểm dân vi bản (dân là gốc) và dân vi quý (dân là quý) từ các nhà Nho duy tân Việt Nam, đối với Hồ Chí Minh, dân không chỉ là gốc
mà Đảng và Nhà nước “phải” lấy dân làm gốc Bởi lẽ, dân là gốc của nước mang tính khách quan, tính quy luật, không có dân làm gì có nước, dù người cầm quyền có muốn hay không dân vẫn là gốc của nước Theo Hồ Chí Minh:
“Gốc có vững, cây mới bền Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân” Để gốc
vững mạnh, Người yêu cầu phải chăm lo, ưu tiên cho các tầng lớp nhân dân lao động Họ là số đông có lực lượng, có khả năng và giữ vị trí chủ yếu tạo ra của cải cho xã hội và bảo vệ Tổ quốc Do đó, “mọi lợi ích là vì dân”, “giải quyết vấn đề kinh tế và tài chính thế nào cho hợp lý, cho lợi dân” để thu phục, tập hợp, đoàn kết dân Vì “trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”9
Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, dân chủ không chỉ là động lực cho người dân chiến đấu giành lại quyền cơ bản là độc lập cho dân tộc mà còn là khát vọng vươn lên xây dựng một cuộc sống hạnh phúc, tự do cho mỗi người Đối với lĩnh vực kinh tế, quyền dân chủ cơ bản của Hồ Chí Minh thể hiện ở việc thực hiện quyền sở hữu của cá nhân về tư liệu sản xuất, ở sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế, bình đẳng sản xuất trong xã hội Không chỉ vậy, Người còn rất quan tâm đến thực hiện công bằng trong phân phối sản phẩm xã hội,
Trang 15công khai trong quản lý kinh tế Bởi, giải quyết vấn đề phân phối một cách công bằng dân chủ sẽ có tác dụng tích cực tới tâm trạng của người lao động, thúc đẩy họ thêm phấn khởi, hăng hái sản xuất, đó cũng là thực hành dân chủ Mượn lời người xưa để nói rõ quan điểm của mình về phân phối sản phẩm
xã hội trước Hội đồng Chính phủ, Hồ Chí Minh nói: “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng; không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên”10
Rõ ràng, mục đích công bằng trong phân phối là để “yên lòng dân” song
Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh, trước hết phải có cái để mà phân phối, tức là phải “sản xuất được nhiều” và công bằng không phải là cào bằng một cách bình quân, mà “ai làm nhiều thì hưởng nhiều, làm ít thì hưởng ít, không làm không hưởng”11 và “Những người già yếu hoặc tàn tật sẽ được Nhà nước giúp
Trong quản lý nền kinh tế quốc gia, Hồ Chí Minh rất chú ý đến việc tham gia ý kiến của nhân dân, đến việc công khai tài chính thu chi Người yêu cầu làm kế hoạch Nhà nước theo cách “kế hoạch làm từ trên xuống và làm từ dưới lên” Dân được tham gia kiểm tra, kiểm soát và dân kiểm soát từ dưới lên Người nói: “Muốn quản lý tốt hợp tác xã, cán bộ quản trị phải dân chủ, tránh quan liêu mệnh lệnh, làm việc gì cũng cần bàn bạc kỹ với xã viên Làm việc theo lối mệnh lệnh, quan liêu, không dân chủ thì chắc chắn thất bại”13
Việc Việt Nam chuyển sang thực hiện nền kinh tế thị trường, những điều kiện thuận lợi mới đã được tạo ra cho việc giải quyết hợp lý mối quan hệ lợi ích giữa cá nhân và xã hội Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà
Trang 16nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân Và việc thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo thành quả lao động, hiệu quả kinh tế đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xã hội đã và đang tạo điều kiện thuận lợi cho
sự thống nhất giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội
Kể từ Đại hội lần IX (tháng 4-2001), Đảng đã xác định mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Trong đó, dân chủ trở thành mục tiêu trực tiếp trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với những nội dung, cơ chế, thiết chế rõ ràng chứ không còn coi đây là kết quả tất yếu của quá trình xây dựng xã hội công bằng, văn minh nữa
Dân chủ được xác định vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà
nước và nhân dân “Đổi mới phải vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân,
phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của nhân dân, xuất phát từ thực tiễn, nhạy bén với cái mới Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, vì nhân dân và do nhân dân Những ý kiến, nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân có vai trò quan trọng trong việc hình thành đường lối đổi mới của Đảng”14
Mở rộng nền dân chủ là điều kiện hết sức quan trọng để người dân phát huy tính tích cực chính trị - xã hội, tham gia ngày càng hiệu quả vào hoạt động quản lý Nhà nước, quản lý xã hội Rõ ràng, công cuộc đổi mới đất nước trong hơn 20 năm qua đã và đang tạo ra những cơ sở khách quan làm tăng cường vai trò và ý nghĩa của dư luận xã hội trong đời sống xã hội
Cơ sở lý thuyết của luận văn là lý thuyết truyền thông đại chúng và xã hội học về truyền thông đại chúng và dư luận xã hội
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích tài liệu dựa trên 614 tin, bài, ý kiến phản hồi của bạn đọc về vấn đề thuế TNCN được tìm kiếm, thu thập trên 2 trang báo điện tử là VietNamNet và Vnexpress, ở các địa chỉ (www.vietnamnet.vn) và (www.vnexpress.net) trong thời gian 5 năm
Trang 17Chúng tôi sẽ sử dụng phần mềm SPSS nhằm phân tích dữ liệu định lượng; đồng thời, tiến hành phỏng vấn sâu một số đối tượng là chuyên gia kinh tế, đại diện Tổng cục Thuế, nhà báo trực tiếp thực hiện và chỉ đạo thực hiện các bài viết về vấn đề thuế TNCN trên báo VietNamNet và báo Vnexpress theo phương pháp nghiên cứu định tính
Ở chương tiếp sau, chúng tôi sẽ trình bày kỹ lưỡng mô hình, cách thức thực hiện nghiên cứu này
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận – khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được chia làm ba chương như sau:
- Chương I: Cơ sở lý thuyết và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
- Chương II: Thực trạng dư luận xã hội về vấn đề thuế TNCN trên báo điện tử VietNamNet và Vnexpress
- Chương III: Một số kết luận và kiến nghị về vấn đề thuế TNCN trên báo điện tử VietNamNet và Vnexpres
Trang 18CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Nghiên cứu về hiệu quả truyền thông đại chúng trên thế giới
Các hướng nghiên cứu truyền thông đại chúng trên thế giới hiện chủ yếu tập trung vào 5 mảng chính: nghiên cứu công chúng, nghiên cứu nội dung thông điệp, nghiên cứu nhà truyền thông, nghiên cứu kênh dẫn truyền và nghiên cứu hiệu quả truyền thông – thể hiện cụ thể ở việc nghiên cứu dư luận
xã hội và quá trình xã hội hóa cá nhân Trong đó, nghiên cứu về ảnh hưởng xã hội của truyền thông đại chúng vẫn là đề tài phức tạp, gây tranh luận nhiều nhất
Tính chất phức tạp ở đây xuất phát từ chỗ người ta ngày càng nhận thấy khả năng tác động to lớn của truyền thông đại chúng đối với đời sống xã hội nhưng việc đo lường một cách chính xác mức độ tác động đó lại không đơn giản bởi tính đa chức năng của truyền thông đại chúng và các mối quan hệ nhiều chiều ở sự tương tác với hệ thống này trong thực tế15 Rõ ràng, bất kỳ sự kiện xã hội nào cũng đều chịu tác động cùng lúc của nhiều nhân tố khác nhau, chứ không riêng từ các phương tiện truyền thông đại chúng Bernard Berelson từng đúc kết: “Nhiều loại truyền thông khác nhau về nhiều đề tài khác nhau, vốn được theo dõi bởi nhiều thành phần dân chúng khác nhau, trong khuôn khổ của nhiều hoàn cảnh khác nhau, đã gây ra nhiều loại tác động khác nhau”16
Lịch sử nghiên cứu về truyền thông đại chúng nói chung và tác động xã hội của truyền thông đại chúng nói riêng được nhiều nhà khoa học trên thế giới thống nhất lấy mốc từ những năm đầu thế kỷ XX Cho đến hiện tại, các nghiên cứu được chia làm 4 giai đoạn chính:
- Giai đoạn thứ nhất từ đầu thế kỷ XX đến cuối những năm 1930: các
nhà nghiên cứu cho rằng truyền thông đại chúng có một sức mạnh “vạn năng”
Nó có sức tác động to lớn tới suy nghĩ, ứng xử của đám đông, có hiệu quả trực tiếp tới từng cá nhân như một “mũi kim tiêm”
Trang 19- Giai đoạn thứ hai từ thập niên 1940 đến 1960: lúc này giới học thuật
nhận ra tính tương đối trong tác động của truyền thông đại chúng Nhờ các công trình nghiên cứu thực nghiệm đối với công chúng, giới nghiên cứu đã khám phá ra rằng thông tin đại chúng chỉ là một trong số nhiều nhân tố xã hội như kinh tế, văn hóa… tác động đến suy nghĩ, thái độ và ứng xử của người dân Họ bác bỏ quan điểm cho rằng truyền thông đại chúng có thể ảnh hưởng trực tiếp và bắt đầu chú ý hơn tới bối cảnh xã hội, các cơ chế/yếu tố trung gian tác động đến hiệu quả truyền thông như quá trình truyền thông liên cá nhân, các bộ lọc
- Giai đoạn thứ ba từ những năm 1960 đến 1995: Vượt qua quan điểm
tuyệt đối hóa vai trò của kỹ thuật truyền thông, các nhà nghiên cứu trong những năm 1960-1980 đã chú trọng hơn tới các lô-gic hành động của các tác nhân xã hội trong quá trình truyền thông Các phương tiện truyền thông đại chúng chỉ là những yếu tố nằm bên trong một tổng thể xã hội chứ không phải
là những yếu tố nằm bên ngoài và có tính chất quyết định đối với tổng thể này Sang những năm 80 của thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu tiếp tục chỉ ra các nhóm công chúng có tính chủ động cao khi sử dụng nội dung thông điệp để tự tạo ra những trải nghiệm có ý nghĩa riêng của họ
- Giai đoạn thứ tư khoảng năm 1995 đến nay gắn liền với sự ra đời và
bùng nổ phát triển của mạng internet và các thiết bị kỹ thuật số đa tính năng truyền thông khác Nghiên cứu tác động của internet đối với công chúng, đặc biệt là giới trẻ và sự tương tác, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các loại hình truyền thông mới và truyền thống đã trở thành đối tượng được quan tâm nhiều nhất giai đoạn này
1.1.2 Nghiên cứu về hiệu quả truyền thông đại chúng ở Việt Nam
Nghiên cứu về hiệu quả của truyền thông đại chúng đối với công chúng cho đến nay vẫn còn là vấn đề khá mới mẻ ở Việt Nam Tác giả Mai Quỳnh Nam là người có những bài viết đầu tiên xây dựng cơ sở lý thuyết cho nghiên cứu xã hội học truyền thông đại chúng nói chung và nghiên cứu về dư luận xã hội dưới tác động của phương tiện truyền thông đại chúng nói riêng
Với bài viết “Dư luận xã hội – mấy vấn đề lý luận và phương pháp nghiên cứu” (Tạp chí Xã hội học, số 1/1995), tác giả đã trình bày những kiến thức cơ
Trang 20bản về dư luận xã hội, những điều kiện cũng như các yếu tố cần thiết làm hình thành, tác động đến sự hình thành của dư luận xã hội Tác giả khẳng định: “hệ thống truyền thông đại chúng có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành và thể hiện dư luận xã hội”
Bài viết “Về vấn đề nghiên cứu hiệu quả truyền thông đại chúng” của tác giả Mai Quỳnh Nam, đăng trên Tạp chí Xã hội học (số 4/ 2001), đã tổng hợp một số hệ thống chỉ tiêu định tính và định lượng làm cơ sở để phân tích hiệu quả của các phương tiện truyền thông đại chúng cùng những điểm cần lưu ý khi áp dụng các chỉ tiêu đó trong nghiên cứu thực nghiệm
Đóng góp quan trọng của tác giả còn thể hiện qua loạt các bài viết: “Mấy vấn đề dư luận xã hội trong công cuộc đổi mới” (Tạp chí Xã hội học, số 2/1996), “Dư luận xã hội về số con” (Tạp chí Xã hội học, số 3/1996), “Vai trò của dư luận xã hội trong cơ chế “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” (Tạp chí Tâm lý học, số 2/2000) Có thể nói, đây là những bài viết mẫu mực
đã mở đầu cho hướng nghiên cứu về dư luận xã hội như là sản phẩm của quá trình truyền thông đại chúng Việc xem xét phản hồi của công chúng về thông tin nhận được từ các phương tiện truyền thông đại chúng được xem là một chỉ báo quan trọng để đo lường hiệu quả hoạt động của các kênh truyền thông Ngoài ra, tác giả cùng cộng sự thực hiện hai khảo sát “Sinh viên Hà Nội trong giao tiếp đại chúng” (1998) và “Báo thiếu nhi dân tộc và công chúng thiếu nhi dân tộc” (2002), trong đó đặc điểm quá trình hoạt động tiếp nhận thông tin và xử lý thông tin, cơ chế lây lan thông tin, sử dụng thông tin của công chúng được coi như những dấu hiệu tin cậy để đánh giá phần nào hiệu quả hoạt động của phương tiện truyền thông đại chúng
Sau Mai Quỳnh Nam, Trần Hữu Quang có một số đóng góp đáng kể trong lĩnh vực nghiên cứu xã hội học truyền thông đại chúng nói chung và trong nghiên cứu hiệu quả của truyền thông đại chúng nói riêng Trong đó phải kể đến luận án tiến sĩ xã hội học: “Truyền thông đại chúng và công chúng, trường hợp thành phố Hồ Chí Minh” (2000) Theo đó, trên cơ sở khảo sát mức độ và cách thức sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng của công chúng, tác giả luận án đã cho thấy hiệu quả không đồng đều của truyền thông đại chúng tới các tầng lớp công chúng khác nhau
Trang 21Luận văn Xã hội học của Đinh Thị Phương Thảo “Hiệu quả của truyền thông đại chúng đối với công chúng thanh niên đô thị, nghiên cứu trường hợp thành phố Hải Phòng” (2006) là một nghiên cứu khá bài bản về hiệu quả tác động của các phương tiện truyền thông đại chúng đối với công chúng trên địa bàn đô thị cụ thể Luận văn đã thực hiện khảo sát mức độ và cách thức tiếp nhận của các nhóm công chúng thanh niên (thanh niên sinh viên, thanh niên viên chức, thanh niên công nhân, thanh niên đường phố) đối với các kênh truyền thông (báo, đài, tivi, internet) để phân tích hiệu quả tiếp nhận thông tin của các nhóm công chúng khác nhau đối với mỗi loại hình truyền thông khác nhau trong môi trường đô thị điển hình Hiệu quả thông điệp được đánh giá dựa trên cách thức công chúng sử dụng thông điệp, cơ chế lây lan thông tin và
dư luận của các nhóm công chúng về hoạt động của hệ thống truyền thông đại chúng Tuy nhiên, việc phân tích, đánh giá hiệu quả tác động của internet đối với công chúng còn hạn chế
Ngoài ra, một số trung tâm, cơ sở đào tạo báo chí – truyền thông khác cũng
đã bước đầu thực hiện những nghiên cứu về dư luận xã hội trên báo chí, tuy nhiên số lượng các công trình như vậy chưa đáng kể
Trước bối cảnh đó, tác giả luận văn này mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu
dư luận xã hội về vấn đề thuế TNCN trên báo điện tử VietNamNet và Vnexpress – một vấn đề mới và rất có ý nghĩa thời sự, với mục đích làm rõ mối quan hệ giữa truyền thông đại chúng nói chung, loại hình báo điện tử nói riêng và dư luận xã hội về vấn đề thuế TNCN
1.1.3 Nghiên cứu về báo điện tử trong mối tương quan giữa các phương tiện truyền thông khác
Báo điện tử (online newspaper) là một loại hình báo chí ra đời muộn nhất,
mới mẻ nhất so với báo in, phát thanh, truyền hình Được thực hiện trên mạng internet – một công cụ kỹ thuật được dùng để truyền thông, báo điện tử tận dụng được tất cả đặc điểm, tính chất, tiềm năng phong phú của loại phương tiện này
Nguyễn Thu Giang – tác giả đề tài luận văn Công chúng Hà Nội với việc đọc báo in và báo điện tử đưa ra bảng so sánh giữa phương tiện truyền thông đại chúng truyền thống với mạng internet (B1):
Trang 22Phương tiện truyền thống Mạng internet
Chịu khống chế về mặt địa lý Không chịu sự ảnh hưởng của
khoảng cách địa lý
Tính thứ bậc: Thông tin trôi qua
nhiều nấc theo chiều dọc (qua nhiều
nấc biên tập và “gác cửa”)
Tính phẳng: Thông tin có xu hướng phát tán theo chiều ngang, giữa những người không chuyên nghiệp, tuy nhiên báo điện tử vẫn chịu sự kiểm soát theo chiều dọc
Phản hồi yếu: Thông tin chủ yếu theo
cơ chế một chiều Phản hồi rất hạn
chế
Tính tương tác cao: Phản hồi tức thời Trong nhiều trường hợp không
bị kiểm duyệt
Khống chế dung lượng: Báo in bị
khống chế bởi khuôn khổ báo, truyền
hình và phát thanh bị khống chế bởi
thời lượng phát sóng
Ít chịu khống chế về không gian, thời gian: thông tin được số hóa ngay trong một đơn vị thông tin, có thể cài rất nhiều “lớp” khác nhau Chi phí sản xuất cao: Việc xuất bản,
in ấn của một tòa soạn báo, một đài
phát thanh, truyền hình qua khá nhiều
khâu, nhiều công đoạn phức tạp, tốn
kém, vượt quá khả năng chi trả của
nhiều người
Chí phí sản xuất thấp hơn: Việc xuất bản trên mạng internet nhanh chóng
và rẻ hơn
Tính chuyên biệt thấp: Hầu hết
phương tiện truyền thông truyền
thống nhắm vào các đám đông công
để đáp ứng những mối quan tâm của một số ít công chúng
Tính hình tuyến của nội dung: Thông
tin được liên kết một cách tuyến tính
Tính phi hình tuyến của nội dung: Thông tin được liên kết một cách phi tuyến tính nhờ các siêu liên kết (hyperlink)
Trang 23Chịu sự chi phối mạnh mẽ của quảng
cáo
Có nhiều nguồn hỗ trợ tài chính khác nữa, cho phép thông tin đa dạng hơn
Tập trung hóa: Thường có cơ quan tổ
chức lớn
Phi tập trung hóa: Giảm thiểu ban
bệ, quan liêu trong việc quản lý nhờ
sự hỗ trợ của công nghệ
Dạng thức cố định: Nội dung thường
được sản xuất, phát tán dưới dạng
tương đối đóng về cả không gian và
(opinion pubic) mới được sử dụng lần đầu tiên bởi nhà văn, nhà hoạt động xã
hội người Anh John Solsbery vào khoảng thế kỷ 12 Cho đến thế kỷ XVIII, nó bắt đầu thông dụng Bên cạnh thuật ngữ này, người ta còn sử dụng các cách gọi khác tương đương như công luận, dư luận công chúng, ý kiến công luận, ý kiến quần chúng để nói về những đánh giá của cộng đồng, số đông đối với những sự kiện xã hội nhất định
Thuật ngữ dư luận xã hội xuất hiện nhiều trong đời sống xã hội, trên các phương tiện truyền thông đại chúng và trong các ngành khoa học như chính trị học, triết học, xã hội học, tâm lý học xã hội… Tuy nhiên có rất ít sự nhất trí về bản chất của dư luận xã hội giữa các khoa học cụ thể Khái niệm dư luận xã hội nhìn chung được hiểu một cách khá mơ hồ, để chỉ niềm tin chắc chắn của
Trang 24một nhóm; chỉ quá trình phát triển của các dư luận; hoặc chỉ những phát ngôn
là kết quả của quá trình suy diễn logic
Sở dĩ như vậy, một mặt dư luận xã hội là một hiện tượng xã hội đặc biệt, phức tạp và đa diện, có ảnh hưởng đến xã hội cũng như từng cá nhân Hơn nữa, nó lại là khách thể nghiên cứu của nhiều ngành khoa học mà mỗi ngành lại nghiên cứu dựa trên quan điểm lý luận, các tiếp cận khác nhau, thế giới quan khác nhau và trong các thời kỳ lịch sử khác nhau
Nếu tâm lý học nghiên cứu dư luận xã hội dưới dạng nghiên cứu tâm lý đám đông, vô thức tập thể; các nhà chính trị học, sử học thì nhấn mạnh tới vai trò của dư luận xã hội trong các quá trình quản lý xã hội và ảnh hưởng của nó đối với các chính sách của Chính phủ, thì xã hội học đi vào bản chất xã hội của dư luận xã hội Xã hội học tập trung mối quan tâm của mình vào quá trình hình thành – phổ biến – tiếp nhận dư luận xã hội, tác động của dư luận xã hội đối với các mặt hoạt động của đời sống và từng nhóm xã hội cũng như chú trọng đến việc đo đạc dư luận xã hội 17
Phần nói về dư luận xã hội trong Encyclopaedia Britanica 1995 do Bùi Hoài Sơn18 lược dịch cho thấy, các nhà xã hội học nhấn mạnh hơn tới dư luận
xã hội như là một sản phẩm của giao tiếp và tương tác xã hội Theo đó, không thể có dư luận xã hội mà không có giao tiếp giữa các thành viên của công chúng – những người quan tâm đến một vấn đề đã nêu ra Giao tiếp có thể thực hiện bởi các phương tiện của truyền thông đại chúng như báo in, phát thanh, truyền hình, báo điện tử hoặc thông qua giao tiếp đối mặt (giao tiếp trực tiếp giữa các cá nhân)
Chủ thể của dư luận xã hội là toàn thể xã hội nói chung, là quần chúng nhân dân, là các tổ chức Đảng, đoàn thể xã hội Ở nghiên cứu này, chúng tôi coi sự phán xét đánh giá chung của các tập đoàn người, các nhóm xã hội lớn là
dư luận xã hội
Vấn đề là lập trường giai cấp được xem là cơ sở để xác định chủ thể của dư luận xã hội Khi xem xét dư luận xã hội, người ta không chỉ đặt nó trong cấu trúc ý thức xã hội nói chung mà phải phân tích nó trong cấu trúc các quan hệ
17
Bùi Hoài Sơn, Dư luận xã hội, Nxb Văn hóa Thông tin; H 2006 Tr.7-8
18
Sđd, Tr 266-281
Trang 25xã hội đang tồn tại vì bản chất của dư luận xã hội phản ánh vị thế xã hội trong
sự tương tác với các cá nhân và các nhóm xã hội, được tạo nên bởi các quan
hệ xã hội và lợi ích của nó
Khách thể của dư luận xã hội là tất cả sự kiện, hiện tượng, quá trình trong đời sống xã hội Nhưng không phải bất cứ sự kiện, hiện tượng, quá trình nào của đời sống xã hội cũng làm nảy sinh dư luận xã hội, mà dư luận xã hội trong
đa số trường hợp chỉ xuất hiện khi sự kiện, hiện tượng, quá trình đó đụng chạm đến lợi ích của từng cá nhân, tác động đến số đông trong cộng đồng người, đòi hỏi phải đưa ra ý kiến, quan điểm và phương hướng giải quyết
Sự phản ánh trong dư luận xã hội trước hết có tính chất đánh giá cho nên các đặc tính tâm lý như khuynh hướng, cường độ, phạm vi, mức độ cắm sâu của dư luận xã hội là rất quan trọng khi xem xét dư luận xã hội Trong đó, cường độ với các giới hạn của nó từ đồng tình hoàn toàn đến phản đối hoàn toàn có ý nghĩa rất lớn trong việc xem xét sự thể hiện, sự đánh giá xã hội trong
dư luận xã hội
Dư luận xã hội được xem là một dạng thức biểu hiện của ý thức xã hội, là một thành phần thuộc kiến trúc thượng tầng của xã hội, được hình thành trong
ý thức của từng cá nhân, nhóm người cụ thể Nó phản ánh tồn tại xã hội, là một thực tế trung gian mang thông tin có ý nghĩa đối với sự tồn tại của cộng đồng, của cá nhân cũng như nhóm trong xã hội Nhưng đồng thời, dư luận xã hội cũng bị quy định bởi tính chất các quan hệ kinh tế bên trong xã hội Nói cách khác, “mọi dư luận trước hết là biểu hiện trạng thái ý thức của chủ thể mang nó”19
Tóm lại có thể quan niệm, dư luận xã hội là tập hợp các ý kiến có tính chất đánh giá, phán xét, phản ánh tâm tư, nguyện vọng, ý chí của các nhóm xã hội lớn đối với các sự kiện, hiện tượng, vấn đề có động chạm đến lợi ích xã hội cấp bách của họ trên cơ sở các quan hệ đang tồn tại
1.2.1.2 Sự hình thành dư luận xã hội
Dư luận xã hội được hình thành từ thái độ của công chúng đối với các vấn
đề xã hội cấp bách Quá trình hình thành thái độ này khá phức tạp, bao gồm
19
Lương Khắc Hiếu (chủ biên) Dư luận xã hội trong sự nghiệp đổi mới Nxb Chính trị Quốc gia H 1999 Tr 20-25
Trang 26nhiều giai đoạn, tầng nấc, cách thức khác nhau Những nhân tố chủ quan và khách quan cơ bản tác động đến sự hình thành thái độ của mỗi cá nhân gồm có
hệ tư tưởng, các quan điểm, thang giá trị; trình độ hiểu biết, kinh nghiệm bản thân, kiến thức về vấn đề quan tâm; hoàn cảnh, điều kiện sống của cá nhân; thông tin trên các phương tiện truyền thông đại chúng; sự tương tác với các nhóm xã hội và những người định hướng dư luận…
Về những yếu tố cơ bản tác động đến sự hình thành dư luận xã hội, bên cạnh các yếu tố hình thành thái độ nêu trên, các nhà nghiên cứu trong nước nhấn mạnh đầu tiên là quy mô, tính chất của sự việc, sự kiện, vấn đề xã hội - thể hiện ở mức độ ảnh hưởng đến nhu cầu, lợi ích của nhiều cá nhân trong xã hội Đặc biệt, thái độ cởi mở, tinh thần dân chủ, minh bạch trong sinh hoạt chính trị xã hội; những nhân tố tâm lý như không khí đạo đức trong tập thể lao động, thói quen, tâm trạng, ý chí của các cộng đồng người được coi là những tác nhân kích thích quần chúng tích cực thể hiện dư luận xã hội
Có thể hình dung, khi một vấn đề xã hội được đặt ra, một số người nhất định sẽ bắt đầu hình thành nên thái độ về nó Nếu số lượng người đủ lớn để có những tác động xã hội cụ thể thì dư luận xã hội về vấn đề đó bắt đầu được hình thành
Điểm cần lưu ý là dư luận xã hội mặc dù được hình thành trên cơ sở các ý kiến cá nhân nhưng nó không phải là một tập hợp cơ học các khác biệt của ý kiến cá nhân Nó là cái chung, cái đặc trưng, cái lặp đi lặp lại trong ý kiến của
số đông các cá thể Ở nhiều trường hợp, ý kiến cá nhân có thể nhanh chóng trở thành dư luận xã hội khi nó thể hiện mối quan tâm chung, đánh giá chung của
số đông về một sự kiện, vấn đề Nhưng cũng không ít trường hợp ý kiến tập thể không phải là sự thể hiện dư luận xã hội Một lý giải cho tình huống này là khi ý kiến tập thể hình thành trên lợi ích của nhóm nhỏ chứ không xuất phát từ lợi ích xã hội
Về quá trình hình thành, dư luận xã hội thường được chia làm 4 giai đoạn:
- Thứ nhất: Các cá nhân, các nhóm xã hội chứng kiến, tiếp xúc với sự việc,
sự kiện, hiện tượng, trao đổi thông tin về nó, làm nảy sinh các cảm nghĩ, ý kiến ban đầu
Trang 27- Thứ hai: Trao đổi, bàn luận về các ý kiến xung quanh đối tượng của dư
luận xã hội Tại đây ý kiến cá nhân chuyển từ ý thức cá nhân sang ý thức xã hội
- Thứ ba: Các ý kiến khác nhau được thống nhất lại trên những quan điểm
cơ bản để hình thành sự đánh giá, phán xét chung thỏa mãn đa số trong cộng đồng
- Thứ tư: Từ việc đánh giá này đi đến lập trường hành động thống nhất,
nêu ra những kiến nghị trong hoạt động thực tiễn20
Hoặc các giai đoạn:
- Giai đoạn tiếp nhận thông tin
- Giai đoạn hình thành các ý kiến cá nhân
- Giai đoạn trao đổi ý kiến giữa các cá nhân
- Giai đoạn hình thành dư luận chung21
Tựu trung lại, chúng tôi cho rằng, có 3 giai đoạn chính hình thành nên một
dư luận xã hội:
- Một là giai đoạn hình thành: sự xuất hiện của vấn đề có ảnh hưởng đến nhiều cá nhân trong cộng đồng, xuất phát từ lợi ích, nhu cầu của cá nhân bị đụng chạm do sự xuất hiện của vấn đề
- Thứ hai là giai đoạn giao tiếp, thể hiện: các cá nhân giao tiếp, tranh luận với nhau dựa trên những luồng ý kiến cơ bản
- Thứ ba là hiện thực hóa: dư luận xã hội hình thành trên một vài luồng ý kiến nhất định, được đa số thành viên trong cộng đồng đồng tình, là tham chiếu cho các hành động của cá nhân và nhóm xã hội
1.2.1.3 Đặc điểm của dư luận xã hội
Theo hình thức biểu hiện, dư luận xã hội là sự phán xét, đánh giá của cộng đồng người đối với các sự kiện, hiện tượng, quá trình xã hội mà họ quan tâm Tuy nhiên xét từ khía cạnh nhận thức, không thể đồng nhất dư luận xã hội với tri thức, với chân lý khách quan Tri thức trong dư luận xã hội thường ở dạng
Trang 28hỗn hợp, có đúng đắn, có sai lầm, nhầm lẫn Vì nhận thức được phản ánh trong dư luận xã hội không hoàn toàn tuân theo các quy tắc, quy trình nghiêm ngặt của nhận thức chân lý F.Hê-ghen, nhà triết học cổ điển Đức đã khẳng định: trong dư luận xã hội luôn có cái thật và cái giả Tính chất này tạo nên đặc điểm dễ thay đổi và tính biện chứng của dư luận xã hội22
Dư luận xã hội không phản ánh được toàn thể, khách quan những gì đang xảy ra mà chỉ thể hiện những đánh giá của công chúng đối với vấn đề cấp bách dựa trên lợi ích, vị thế, vai trò, hiểu biết của họ với tư cách là một thành viên trong nhóm xã hội nhất định Từ sự đánh giá này, mỗi cá nhân và nhóm xã hội xác định cho mình một hành vi ứng xử tương ứng
Cũng cần nói thêm rằng, dư luận xã hội chín chắn phải được thể hiện đầy
đủ từ mức độ lời nói, ý kiến đến mức độ hành vi Do tính đặc thù như vậy nên
dư luận xã hội không thuần túy tinh thần mà là một cấu trúc tinh thần – thực
tế, là cầu nối giữa ý thức xã hội và hành động xã hội
Khi nghiên cứu khía cạnh nhận thức của dư luận xã hội, người ta chú ý đến
ba điểm quan trọng:
- Dư luận xã hội phản ánh thực tế
- Dư luận xã hội đi vào mỗi dạng ý thức xã hội
- Dư luận xã hội bao gồm cả nhận thức thông thường lẫn nhận thức lý thuyết
Từ đây có thể đúc rút, dư luận xã hội có các đặc điểm: 1/Tính công chúng; 2/Liên hệ chặt chẽ với quyền lợi của các cá nhân, nhóm xã hội; 3/Dễ thay đổi
1.2.1.4 Chức năng của dư luận xã hội
Chức năng điều hòa các quan hệ xã hội: Dư luận xã hội được xem là
“luật bất thành văn” khi nó tiến hành chức năng điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, bảo vệ những giá trị, quyền lợi của số đông trong cộng đồng Sức mạnh của dư luận xã hội có khả năng điều hòa các mối quan hệ xã hội như phản đối, gây sức ép, hạn chế hành vi của các nhóm cực đoan, củng cố, cổ vũ các hành
vi vì lợi ích chung của sự tiến bộ xã hội Từ các xã hội nguyên thủy, khi luật
22
Mai Quỳnh Nam, Dư luận xã hội – Mấy vấn đề lý luận và phương pháp nghiên cứu Tạp chí Xã hội học số
1 (49), 1995 Tr.3-8
Trang 29pháp còn chưa ra đời thì dư luận xã hội đã đóng vai trò chính yếu Khi nhà nước xuất hiện thì pháp luật cùng với dư luận xã hội được xem là hai công cụ giúp điều chỉnh, duy trì trật tự, ổn định xã hội
Chức năng kiểm soát: Đứng từ góc độ quản lý nhà nước, thông qua sự đánh giá, phán xét của quần chúng về các vấn đề xã hội sẽ đưa đến các thông tin nhiều mặt, cho thấy thực trạng tồn tại xã hội, tâm trạng, tư tưởng của các tầng lớp xã hội Chức năng kiểm soát của dư luận xã hội ngày càng được sử dụng nhiều hơn đối với các cơ quan lập pháp, hành pháp thông qua việc sử dụng các kết quả nghiên cứu dư luận xã hội để kịp thời nắm bắt, chủ động điều chỉnh hoạt động, thay đổi các cách thức, điều luật cho phù hợp lòng dân
Chức năng giáo dục: dư luận xã hội có ý nghĩa to lớn trong việc làm hình thành nhân cách con người thông qua sự nhận xét, đánh giá của số đông
Sự đánh giá này tác động mạnh mẽ đến việc lựa chọn hành vi, phương án ứng
xử của cá nhân sao cho phù hợp với các chuẩn mực, giá trị chung của xã hội
Chức năng tư vấn: thông tin từ nguồn dư luận xã hội có vai trò thiết thực, hữu ích đối với những người ra quyết định từ lĩnh vực sản xuất kinh doanh, đến vận động bầu cử quốc hội cũng như việc đưa ra các chính sách của chính phủ Trước những vấn đề khó khăn phức tạp, các ý kiến, đề xuất, khuyến nghị của số đông các tầng lớp xã hội có thể trở thành các gợi ý, dự báo, định hướng hoạt động cho các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức tư nhân và xã hội
1.2.1.5 Các phương pháp nhận diện dư luận xã hội
Để nhận diện dư luận xã hội cần sử dụng thành thạo các phương pháp nghiên cứu định đính và các phương pháp nghiên cứu định lượng dưới đây: Nghiên cứu định tính là hình thức nghiên cứu nhằm làm rõ có bao nhiêu loại ý kiến, thái độ (luồng dư luận) xung quanh mỗi vấn đề, sự kiện, hiện tượng mà nhà nghiên cứu quan tâm
Các phương pháp nghiên cứu định lượng còn phức tạp, khó sử dụng hơn nhiều so với các phương pháp nghiên cứu định tính Các phương pháp nghiên cứu định lượng phổ biến trong nghiên cứu dư luận xã hội là:
Trang 30- Phương pháp nghiên cứu nội dung: Phân tích nội dung là một phương pháp rất thích hợp trong việc tổng hợp dư luận xã hội qua báo chí và đơn thư khiếu nại, tố cáo, góp ý của nhân dân Phương pháp này cũng đòi hỏi các kỹ thuật nhất định như phân loại phạm trù, tính tần số mà mỗi phạm trù được đề cập trong các đơn vị phân tích (tờ báo, bức thư, đơn khiếu nại, tố cáo…)
- Phương pháp phỏng vấn tập hợp mẫu: Phỏng vấn tập hợp mẫu là hình thức nắm bắt dư luận xã hội thông qua phỏng vấn các cá nhân được chọn theo những cách nhất định Hình thức phổ biến nhất ở đây là phỏng vấn theo bảng hỏi, phiếu hỏi (bao gồm các câu hỏi đã được chuẩn bị sẵn, chủ yếu là câu hỏi đóng, có các phương án trả lời kèm theo)23
1.2.1.6 Các góc độ phân tích dư luận xã hội
a Phân tích cơ sở nhận thức của dư luận xã hội
Nội dung của dư luận xã hội được quyết định trực tiếp bởi trình độ hiểu biết của công chúng, nhóm xã hội Sự hiểu biết nhiều hay ít của công chúng, nhóm xã hội đối với vấn đề, hiện tượng, sự kiện quyết định sự đánh giá đúng hay sai của công chúng đối với vấn đề, sự kiện, hiện tượng đó Đối với những
sự kiện, hiện tượng đơn giản, dễ hiểu, ý kiến (dư luận) của đại đa số nhân dân thường là đúng Đối với những vấn đề phức tạp, mới nảy sinh, ý kiến đúng thường là ý kiến của thiểu số những người có thông tin, có nhiều am hiểu chứ không phải là của đa số thiếu thông tin, ít am hiểu
Nhận thức của công chúng lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố Hai loại yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến nhận thức của công chúng là: 1 Thông tin về sự kiện, hiện tượng, vấn đề đang gây sự chú ý của công chúng; 2 Đặc điểm tâm
lý xã hội của công chúng
Thông tin và nhận thức của công chúng: Công chúng nhận thức về sự kiện
hiện tượng, vấn đề xã hội như thế nào, một phần rất quan trọng là do cách thức đưa tin, liều lượng thông tin; tính khách quan, toàn diện của thông tin đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng quyết định Công chúng khó có thể đưa ra các ý kiến (dư luận xã hội) đúng đắn nếu thông tin về sự kiện, hiện tượng, vấn đề hiện hữu thiếu đầy đủ, thiếu khách quan
23
Lưu Thị Thanh Hồng, Luận văn thạc sĩ báo chí: Báo chí với việc hình thành và định hướng dư luận xã hội cho nhân dân thủ đô Đại học Quốc gia Hà Nội H 2005 Tr.15-20
Trang 31Đặc điểm tâm lý xã hội và nhận thức công chúng: Các đặc điểm tâm lý xã
hội (nhất là các đặc điểm về tư duy, nhu cầu, ý thức) của công chúng có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình tiếp thu, xử lý thông tin và ra quyết định (đưa ra ý kiến) của công chúng Yếu tố tâm lý xã hội được nhiều nhà tâm lý học xã hội coi là nền tảng của dư luận xã hội, là các khuôn mẫu tư duy, các định kiến xã hội
b Phân tích cơ sở xã hội của dư luận xã hội
Các yếu tố xã hội, trước hết là vị trí, lợi ích của các nhóm, tầng lớp, giai cấp, lợi ích quốc gia, dân tộc có mối liên hệ chặt chẽ với nội dung và sắc thái của dư luận xã hội
Trong một nhà nước mạnh, chính quyền và nhân dân gắn bó với nhau, lợi ích quốc gia, dân tộc thường được coi trọng hơn các lợi ích khác; trước các sự kiện, hiện tượng, vấn đề xã hội, người ta thường lấy lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích cộng đồng làm cơ sở để đưa ra nhận xét, đánh giá, bày tỏ thái độ của mình
Trong một nhà nước yếu, dân chủ không được coi trọng, pháp luật kỷ cương bị buông lỏng, chủ nghĩa cá nhân phát triển, người ta thường nhân danh lợi ích quốc gia, dân tộc, cộng đồng để đưa ý kiến này khác, nhưng phân tích
kỹ thì lợi ích cá nhân, cục bộ mới chính là động cơ cuối cùng24
1.2.2 Lý thuyết về truyền thông đại chúng
Các tác giả cuốn Cơ sở lý luận Báo chí truyền thông25 đưa ra quan niệm:
truyền thông (communication) là một quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ
thông tin, tình cảm, kỹ năng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và nhận thức
Còn truyền thông đại chúng (“mass media” hay “mass communication”)
được cho là một quá trình truyền đạt thông tin thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng như báo in, phát thanh, truyền hình, báo điện tử… Năm 1948, nhà chính trị học Harold Lasswell đã đưa ra mô hình truyền thông đơn tuyến tính gồm các yếu tố: nguồn, thông điệp, kênh, người nhận,
Trang 32hiệu quả Đây là mô hình đơn giản, dễ hiểu, dễ nhớ nhưng có nhược điểm là tính đơn chiều và bị động của người tiếp nhận
Khắc phục được nhược điểm này, nhà toán học Claude Shannon sau đó đưa
ra mô hình truyền thông trong đó có sự tham gia của các yếu tố phản hồi và nhiễu Vì thế, truyền thông được coi như một quá trình khép kín, trong đó, chủ thể và khách thể truyền thông được chuyển đổi một cách linh hoạt nhờ có yếu
tố phản hồi
Theo mô hình này, nguồn phát (Source) là nơi bắt nguồn của thông điệp (Message) Thông qua kênh truyền (Channel), thông điệp đến với người nhận (Receiver), thu được hiệu quả (Effet) dẫn đến hành động và dẫn đến có phản ứng trả lời ngược lại hay còn gọi là phản hồi (Feedback) đối với nguồn phát (Source) Nhờ đó, nguồn phát sẽ biết được thông điệp đến với đối tượng tiếp nhận đạt hiệu quả ở mức độ nào, nhu cầu, mong muốn, nguyện vọng của người nhận là gì… Đây là những chỉ báo quan trọng để các nhà truyền thông căn cứ vào đó, điều chỉnh thông điệp cho phù hợp với từng đối tượng tiếp nhận
Chưa dừng lại ở đây, mô hình truyền thông của Claude Shannon còn chỉ ra các yếu tố nhiễu (Noise) xuất hiện trong quá trình truyền thông từ nguồn phát đến người nhận Đây là những sai số trong thông tin khiến thông điệp đến với người nhận có thể không đầy đủ, chính xác về nội dung, tinh thần như ban đầu Các nguyên nhân dẫn đến các sai số này có thể kể đến như các yếu tố kỹ thuật, các yếu tố tự nhiên, các yếu tố xã hội, yếu tố tâm lý… Các dạng nhiễu
F
N
Trang 33có thể có như vật lý, cơ học, luân lý, tôn giáo, môi trường, lứa tuổi, giới tính, ngôn ngữ, học vấn, dân tộc…
Mô hình khép kín và hai chiều mà Claude Shannon đưa ra cho thấy vai trò của công chúng tiếp nhận như một yếu tố quyết định của quá trình truyền thông Công chúng không chỉ là những người tiếp nhận thông điệp đơn thuần
mà thông qua quá trình phản hồi tới nguồn phát để bày tỏ nhu cầu, mong muốn, nguyện vọng của mình đối với thông điệp, công chúng còn là những người quyết định nội dung thông điệp và sự vận hành của hoạt động truyền thông Phản hồi là một chỉ báo quan trọng cho thấy hiệu quả xã hội trong nhận thức và hành vi của các phương tiện truyền thông đại chúng đối với công chúng
Ngoài ra giới nghiên cứu về truyền thông còn đề cập đến các công đoạn mã hóa và giải mã thông điệp ở người gửi và người nhận Các yếu tố này nếu thông suốt, trùng khớp cũng sẽ góp phần tạo nên sự thông hiểu giữa hai đầu của quá trình truyền thông
1.2.3 Mối quan hệ giữa truyền thông đại chúng và dư luận xã hội
Mối quan hệ giữa truyền thông đại chúng và dư luận xã hội đã được khái quát qua mô hình26 (B2):
Cách nhìn nhận dư luận xã hội như là một sản phẩm của giao tiếp và tương tác xã hội từ các nhà xã hội học đã phần nào cho thấy vai trò không thể thay thế của truyền thông nói chung và truyền thông đại chúng nói riêng trong việc làm hình thành, thể hiện và định hướng dư luận xã hội
Trang 34Sự ảnh hưởng của truyền thông đối với dư luận thay đổi theo bản chất của truyền thông Truyền thông đại chúng (gián tiếp qua các phương tiện truyền thông) và truyền thông liên cá nhân (trực tiếp giữa người với người) có mức
độ ảnh hưởng khác nhau đến ý kiến nói riêng và dư luận xã hội nói chung Nhiều học giả đã chỉ ra rằng truyền thông liên cá nhân có ảnh hưởng lớn hơn đến sự hình thành thái độ, ý kiến của cá nhân so với tác động của các phương tiện truyền thông đại chúng Bởi đây là giao tiếp trực tiếp, thoải mái, không mang tính định kỳ giữa các cá thể cụ thể Nhưng giao tiếp liên cá nhân không phải là điều kiện đủ để tạo thành dư luận xã hội Thường xảy ra trường hợp những ý kiến thể hiện ở những nơi công cộng có thể khác với những ý kiến ở nơi riêng tư Nếu coi dư luận xã hội là sự nhất trí chung của các nhóm, tập đoàn xã hội về một vấn đề cụ thể thì phần lớn các ý kiến này phải được chia sẻ, thể hiện ở những nơi công cộng, thông qua các phương tiện giao tiếp đại chúng Mặt khác trong xã hội hiện đại ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin như sự bùng nổ của mạng internet, các thiết bị viễn thông di động, kỹ thuật số…, truyền thông đại chúng ngày càng khẳng định được vị trí không thể thiếu trong đời sống cá nhân, cộng đồng Nó trở thành nguồn cung cấp thông tin và tri thức chủ yếu trong khi các giao tiếp trực tiếp giảm xuống Khả năng, mức độ tiếp xúc với các phương tiện truyền thông góp phần chi phối, quyết định đến nhận thức, thái độ của cá nhân, cộng đồng Thực tế cho thấy, những tin tức hàng đầu (hot news) trên các phương tiện truyền thông là cơ sở tạo ra các dư luận trong xã hội Các phương tiện truyền thông cũng đóng vai trò trong việc kích thích mối quan tâm của những nhóm công chúng khác nhau cũng như củng cố thái độ của cá nhân về những vấn đề nhất định Với khả năng của mình, các phương tiện truyền thông có thể thuyết phục được một số lượng cá nhân đông đảo, trải rộng theo các khu vực địa lý Chúng cho cá nhân biết những người khác đang nghĩ gì và nhờ đó định hướng
dư luận xã hội Chúng làm cho các thông tin đơn lẻ được ngầm định trở thành những thông tin được nhiều người tin tưởng27 Thậm chí có ý kiến khá cực đoan về vai trò của các giao tiếp gián tiếp trong xã hội cho rằng, nếu một
27
Bùi Hoài Sơn Tr.59-65
Trang 35thông tin không được các phương tiện truyền thông có uy tín quan tâm đăng tải có nghĩa là những vấn đề đó không tồn tại
Đặc điểm quan trọng nhất mà các phương tiện truyền thông mới, đặc biệt là báo điện tử - loại hình nối trội bởi tính đa phương tiện, tương tác cao, phi định
kỳ, đa cấp độ giao tiếp, giúp cá nhân có thể thể hiện được ý kiến của mình một cách tức thời Vì thế luồng ý kiến tồn tại trong dư luận xã hội ngày càng đa dạng, phức tạp, nhiều chiều hơn Đi kèm với nó là đặc điểm dễ hình thành, dễ tan rã, hình thành ở phạm vi rộng, thời gian tồn tại ngắn của dư luận xã hội hiện nay
Đúc rút từ các nghiên cứu thế giới, tác giả Nguyễn Quý Thanh trong cuốn
Xã hội học về dư luận xã hội trình bày 5 nguyên lý ảnh hưởng của phương tiện đại chúng đến dư luận xã hội:
Ảnh hưởng của phương tiện đại chúng được quyết định bởi các nhân tố như đặc điểm của cá nhân, quá trình chọn lọc quá nhân, mối quan hệ của các thành viên nhóm
Truyền thông đại chúng thường được sử dụng để củng cố những thái độ
và định kiến đang tồn tại
Truyền thông đại chúng có thể tạo ra sự thay đổi thái độ, nhưng ít khi chuyển hẳn thái độ từ cực này sang cực khác
Truyền thông đại chúng có ảnh hưởng lớn nhất ở những nơi mà thái độ chưa rõ
Truyền thông đại chúng có thể có tính ảnh hưởng hơi yếu trong việc tạo
ra những định kiến trong những vấn đề mới, ở đó không tồn tại những khả năng để củng cố
Về phương pháp thể hiện dư luận xã hội trên các phương tiện truyền thông đại chúng, nhà xã hội học Mai Quỳnh Nam28 đưa ra 3 phương pháp chính:
- Thứ nhất, phản ánh trực tiếp bằng cách cho in/phát các bức thư, ý kiến của công chúng, các phát biểu, quan điểm của đại diện các tầng lớp công chúng trên báo đài
28
Mai Quỳnh Nam, Dư luận xã hội – mấy vấn đề lý luận và phương pháp nghiên cứu Tạp chí Xã hội học số 1 (49), 1995 Tr.3-7
Trang 36- Thứ hai, cho in/phát các bài viết của các phóng viên/nhà báo có được do cộng tác với đại diện của các tầng lớp công chúng
- Trên cơ sở nghiên cứu, tập hợp, phân tích các ý kiến về một vấn đề cấp bách nào đó, các phóng viên/nhà báo viết bài đăng/phát trên báo đài
Ở đây, tính khách quan và chân thực của nội dung thông tin được tác giả nhấn mạnh là có ý nghĩa quyết định đối với việc hình thành dư luận xã hội Đây là nhân tố xác định thái độ của công chúng đối với chủ đề được báo chí
đề xuất, kích thích, từ đó tạo nên mối liên hệ xã hội trên cơ sở những lợi ích chung để công chúng tiến hành thảo luận và đánh giá Mức độ chín muồi trong
sự đánh giá của dư luận xã hội về một chú để nào đó là cơ sở tạo nên hành động xã hội của các nhóm Điều này có nghĩa là sự bền vững của dư luận xã hội hình thành bởi các tác động của phương tiện truyền thông đại chúng được thể hiện ở hai cấp độ lời nói và việc làm Đó cũng chính là căn cứ để đo mức
độ hiệu quả cả dư luận xã hội
Quá trình hình thành dư luận xã hội dưới tác động của hệ thống truyền thông đại chúng diễn ra theo các bước:
- Một là, công chúng làm quen với vấn đề được báo chí gợi ý, đề xuất
- Hai là, bằng cách đăng/phát bài của các chuyên gia am hiểu về vấn đề muốn đề cập nhằm kích thích lợi ích xã hội về chủ đề đó Việc trình bày các quan điểm khác nhau trong cách nhìn nhận đánh giá để tạo cơ sở cho các tranh luận
- Ba là tiến hành tranh luận trên phạm vi đại chúng
Sự hình thành dư luận xã hội thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng có mối liên hệ ngược (feedback) Nghĩa là các phương tiện này không chỉ tạo nên dư luận xã hội mà đến lượt mình, dư luận xã hội cũng tác động trở lại tới hoạt động thông tin của hệ thống truyền thông đại chúng, trở thành nguồn sự kiện – nguyên liệu của truyền thông Bởi lẽ, trong quá trình truyền thông, sự phân chia giữa người truyền tin và người nhận chỉ là tương đối Cũng trong quá trình này, phản hồi là yếu tố không thể thiếu để xác lập nên một chu trình khép kín của truyền thông Thang đo về phản hồi là một chỉ báo
Trang 37căn bản cho thấy hiệu quả hoạt động của các phương tiện truyền thông đại chúng trong việc hình thành, thể hiện dư luận xã hội29
Không chỉ là nguồn “nguyên liệu” của truyền thông, dư luận xã hội còn được coi là tác nhân làm thay đổi quá trình truyền thông đại chúng Điều này được hiểu truyền thông phải “chạy theo dư luận xã hội” trong trường hợp hiệu ứng, sức mạnh của dư luận xã hội đi quá xa so với dự tính ban đầu của nhà truyền thông Sự “chạy theo dư luận xã hội” của báo chí vừa nhằm để thỏa mãn nhu cầu thông tin, thu hút công chúng, cũng vừa để định hướng, dẫn dắt
dư luận xã hội theo một chiều nhất định
29
Sđd Tr.3-7
Trang 38TIỂU KẾT CHƯƠNG I
Trên đây, chúng tôi trình bày các cơ sở lý thuyết của luận văn Trong đó, mối quan hệ giữa báo chí và công chúng trong quá trình hình thành và thể hiện
dư luận xã hội mang tính chất biện chứng
Được coi là một “sản phẩm của truyền thông đại chúng”, mức độ, cường
độ, phạm vi của dư luận xã hội phụ thuộc rất nhiều vào thông điệp và cách thức tổ chức thông điệp trên các phương tiện truyền thông đại chúng Hay nói cách khác, với khả năng phổ biến thông tin ở tầm đại chúng của mình, các phương tiện truyền thông đại chúng có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc khơi gợi, làm hình thành và thể hiện dư luận xã hội cũng như khả năng dẫn dắt, định hướng dư luận xã hội
Không chỉ vậy, tính biện chứng của dư luận xã hội còn được thể hiện ở sự tác động trở lại của nó đối với các phương tiện truyền thông Thông qua quá trình phản hồi, dư luận xã hội không chỉ mang lại nguồn thông tin thực tế sinh động, quan trọng đối với báo chí và với sức mạnh của mình, nó có thể tác động, chi phối đến chiều hướng, tần suất thông tin của báo chí về một vấn đề
cụ thể
Là một vấn đề mới, liên quan đến lợi ích cấp bách của cá nhân, lại có phạm vi điều tiết rộng, thuế TNCN trong thời gian được xây dựng đến khi đưa vào thực thi thu hút sự quan tâm đặc biệt và các phản ứng trái chiều của các tầng lớp dân cư, các nhóm xã hội Thực trạng dư luận xã hội về vấn đề này trên báo điện tử VietNamNet và Vnexpress được trình bày ở chương II sẽ cho thấy rõ mối quan hệ biện chứng nêu trên
Trang 39CHƯƠNG II
DƯ LUẬN XÃ HỘI VỀ VẤN ĐỀ THUẾ TNCN TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ
VIETNAMNET VÀ VNEXPRESS 2.1 Vài nét về vấn đề thuế TNCN trên báo VietNamNet và Vnexpress
Trước đó, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XI (tháng 11/2006), dự thảo luật lần đầu tiên được các đại biểu thảo luận, góp ý Tròn một năm sau, tháng 11/2007, tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XII, sau khi nghe báo cáo giải trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật thuế TNCN của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
đa số đại biểu quốc hội đã biểu quyết tán thành (tỷ lệ 79,1%) thông qua dự án luật đặc biệt quan trọng này Số còn lại gồm 42 đại biểu không tán thành và 14 đại biểu không biểu quyết Luật thuế TNCN chính thức có hiệu lực thực thi từ ngày 1/1/2009
2.1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của thuế TNCN
Thuế TNCN là thuế đánh vào thu nhập chịu thuế của cá nhân phát sinh trong kỳ tính thuế
Thu nhập chịu thuế của cá nhân phát sinh trong kỳ tính thuế là thu nhập mà
cá nhân nhận được trong kỳ, sau khi đã giảm trừ các khoản chi phí liên quan
để tạo ra thu nhập, các khoản giảm trừ mang tính chất xã hội và các khoản giảm trừ khác
Đặc điểm của thuế TNCN:
Một là, thuế TNCN là một loại thuế trực thu vì nó đánh trực tiếp vào thu
nhập của cá nhân Cá nhân – người chịu thuế, cũng là người nộp thuế khó có thể chuyển gánh nặng thuế sang cho chủ thể khác
Trang 40Hai là, thuế TNCN là loại thuế có độ nhạy cảm cao vì nó liên quan trực
tiếp đến lợi ích cụ thể của người nộp thuế và có diện bao quát rộng, liên quan đến hầu hết cá nhân có thu nhập trong xã hội
Ba là, thuế TNCN thường mang tính lũy tiến cao vì được đánh theo nguyên
tắc khả năng trả thuế của cá nhân Thuế suất của nó thường được thiết kế theo biểu lũy tiến từng phần Có thể hiểu là người thu nhập cao đóng thuế nhiều hơn người thu nhập ít nhằm đảm bảo tính công bằng giữa các đối tượng trả thuế
Bốn là, thuế TNCN không bóp méo giá cả hàng hóa, dịch vụ bởi nó không
cấu thành trong giá bán (giá thanh toán) hàng hóa, dịch vụ Do vậy nó không tạo nên sự sai lệch giá cả hàng hóa, dịch vụ30
Ngoài ra chúng tôi cho rằng, thuế TNCN còn có một đặc điểm quan trọng
là việc đánh thuế có tính đến hoàn cảnh cá nhân của người nộp thuế
Thuế TNCN thường đánh vào tất cả các khoản thu nhập của người nộp thuế, không xét đến nguồn thu nhập hay thu nhập ở đâu Do vậy đương nhiên thuế TNCN xem xét đến hoàn cảnh cá nhân của người nộp thuế Các hoàn cảnh cá nhân có thể liên quan đến những khía cạnh như người nộp thuế đã kết hôn, còn độc thân hay đã ly hôn; người nộp thuế có phải nuôi dưỡng con cái hay người già, người thân không; người nộp thuế có quyên góp, từ thiện hay biếu tặng ai không; người nộp thuế có phải chịu các chi phí y tế không… Cách thức xem xét các hoàn cảnh cá nhân của người nộp thuế khác nhau giữa các nước Nhưng giống nhau ở một điểm là các hoàn cảnh cá nhân chỉ được xem xét khi đánh thuế đối với các đối tượng cư trú Các đối tượng không
cư trú hiếm khi có thể đề nghị các khoản giảm trừ cá nhân
2.1.1.2 Nguồn gốc, cơ sở ra đời của thuế TNCN
Theo chuyên gia từ Viện Tư liệu thuế Quốc tế (IBFD) Bart Koster31, tại các thành phố của Italia thời trung cổ, thu nhập của cá nhân đôi lúc đã bị đánh thuế Nhưng thuế TNCN, sắc thuế được xem là nguồn thu lớn nhất hằng năm của các chính phủ thì mới là một phát kiến từ vài thế kỷ trở lại đây