Quan điểm xuyên suốt của Đảng ta trong xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm thực hiện mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh";
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGƯỜI HƯ NG ẪN : PGS.TS ương Xuân ơn
HÀ NỘI - 2008
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 11
1.1.1 Khái niệm thông tin, thông tin báo chí 11
1.1.2 Tiêu chí đánh giá chất lượng thông tin báo chí 16
1.1.3 Nâng cao chất lượng thông tin báo chí 19
1.2.1.Sự cần thiết khách quan của Bảo hiểm xã hội 23
1.2.2 Khái niệm, bản chất, đặc trưng của Bảo hiểm xã hội 26
1.2.3 Bảo hiểm xã hội trong hệ thống An sinh xã hội 32
1.2.4 Một số quan điểm về Bảo hiểm xã hội trên thế giới
1.2.5 Sự ra đời và phát triển Bảo hiểm xã hội ở nước ta 36
1.3 Mối quan hệ giữa Báo chí với Bảo hiểm xã hội 38
1.3.1 Vai trò của Báo chí trong đời sống xã hội 38
1.3.2 Vai trò của Báo chí đối với việc tuyên truyền
về Bảo hiểm xã hội ở nước ta 40
1.4 Phương hướng phát triển Bảo hiểm xã hội ở nước ta 44
1.5 Lý do cần tăng cường công tác thông tin tuyên truyền
Chương 2:
Trang 3TRÊN BÁO CHÍ (qua khảo sát báo Nhân dân, Lao động,
Sức khoẻ & Đời sống năm 2006 -2007 ) 51
2.1 Tổng quan về 3 tờ báo Nhân Dân, Lao Động
2.1.1 Báo Nhân Dân 51
2.1.3 Báo Sức khoẻ và Đời sống 52
2.2 Nội dung thông tin về Bảo hiểm xã hội thể hiện
trên 3 tờ báo Nhân Dân, Lao Động, Sức khoẻ & Đời sống 53
2.2.1 Định hướng dư luận về chính sách Bảo hiểm xã hội 53
2.1.2 Tham gia xây dựng Luật Bảo hiểm xã hội 64
2.1.3 Phát hiện, đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách
Bảo hiểm xã hội 68
2.1.4 Phổ biến chế độ, chính sách Bảo hiểm xã hội 76
2.1.5 Giám sát, bảo vệ quyền lợi bảo hiểm xã hội
của người lao động 79
2.1.6 Phê bình, đấu tranh chống tiêu cực trong hoạt động
Bảo hiểm xã hội 86
2.1.7 Thông tin các mặt hoạt động Bảo hiểm xã hội 96
2.3.1 Số lượng tác phẩm và nhóm thông tin phản ánh
về Bảo hiểm xã hội trên 3 tờ báo 99
2.3.2 Vị trí tác phẩm về đề tài Bảo hiểm xã hội trên mặt báo 100
2.3.3 Nhóm thông tin theo các chủ đề về Bảo hiểm xã hội trên báo 101
2.4 Hình thức thông tin về Bảo hiểm xã hội trên 3 tờ báo
Nhân Dân, Lao Động, Sức khoẻ & Đời sống 103
2.4.1 Nhóm thể loại thường dùng để chuyển tải
Trang 4thông tin Bảo hiểm xã hôi 103
2.4.2 Những đặc điểm ngôn từ được sử dụng
trong thông tin về Bảo hiểm xã hội 104
2.5.Dư luận xã hội đối với các thông tin về Bảo hiểm xã hội
Chương 3 : GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN
BẢO HIỂM XÃ HỘI TRÊN BÁO CHÍ 110
3.2.1 Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác thông tin
về bảo hiểm xã hội 112
3.2.3 Nâng cao năng lực cán bộ tổ chức thực hiện
công tác thông tin tuyên truyền về Bảo hiểm xã hội 116
3.2.4 Nâng cao chất lượng nội dung thông tin Bảo hiểm xã hội 118
3.2.5.Nâng cao chất lượng hình thức thông tin
về đề tài Bảo hiểm xã hội 121
3.2.6 Giải pháp về điều kiện thực hiện 125
Phụ lục
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong một xã hội hiện đại văn minh, sự phát triển của một quốc gia không chỉ thuần tuý được đánh giá trên cơ sở sự phát triển kinh tế mà còn căn cứ vào cách thức mà quốc gia đó "đối xử" với công dân của mình Một trong những hình thức cơ bản thể hiện sự chăm sóc của Nhà nước đối với công dân của mình
đó chính là hệ thống các chính sách xã hội Hay nói một cách khác, ngày nay, chính sách xã hội là một trong những nhân tố cơ bản thể hiện cho sự văn minh và phát triển của quốc gia
Quan điểm xuyên suốt của Đảng ta trong xây dựng thể chế kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm thực hiện mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh"; thực hiện tiến bộ và công bằng
xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển; phát triển kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, y tế, giáo dục, bảo vệ và cải thiện môi trường; kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng - an ninh , giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người Cương lĩnh của Đảng đã chỉ
rõ: "Chính sách xã hội đúng đắn vì hạnh phúc con người là động lực to lớn phát
huy sức sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội"[17,
tr.321] Với tư cách là một bộ phận cơ bản của chính sách xã hội, chính sách BHXH có vai trò quan trọng, là trụ cột của hệ thống an sinh xã hội, có trách nhiệm chăm lo cuộc sống, sức khoẻ của người dân trong cộng đồng
Lịch sử ra đời và phát triển của BHXH (bao hàm cả BHYT) cho thấy mối quan hệ mật thiết giữa BHXH với quá trình phát triển xã hội Quá trình công nghiệp hóa vào thế kỷ 18 đã dẫn đến việc hình thành và phát triển hệ thống BHXH ở các nước trên thế giới BHXH dần dần trở thành một trụ cột cơ bản của
Trang 6hệ thống an sinh xã hội và được tất cả các nước thừa nhận là một trong những quyền cơ bản của con người
Ở nước ta, BHXH được coi là trụ cột của hệ thống an sinh xã hội, ngày càng khẳng định vị trí vai trò quan trọng, một công cụ đắc lực của Nhà nước nhằm mục đích chăm lo, bảo vệ và phát triển con người, bảo đảm ổn định chính trị, an toàn xã hội, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới đã đặt ra những yêu cầu mới cao hơn đối
với chính sách BHXH ở nước ta Đại hội X của Đảng đã đặt ra nhiệm vụ: "Xây
dựng hệ thống an sinh xã hội đa dạng; phát triển mạnh hệ thống BHXH, BHYT, tiến tới BHYT toàn dân" Đồng thời yêu cầu phải: "Đổi mới hệ thống BHXH, đa dạng hóa hình thức bảo hiểm phù hợp với kinh tế thị trường; xây dựng chế độ bảo hiểm thất nghiệp "
Là một chính sách xã hội lớn của Đảng và Nhà nước ta, với bản chất nhân
ái, nhân văn, vì con người, vì sự tiến bộ và công bằng xã hội, BHXH là nguồn đề tài rộng lớn, phù hợp với nguyên tắc hoạt động và nhiệm vụ chính trị của báo chí cách mạng Nhờ có báo chí thông tin, xã hội từng bước nâng cao nhận thức, hiểu biết, cảm thông, chia sẻ và đồng tình ủng hộ chính sách BHXH Tác động tích cực của thông tin báo chí là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của chính sách BHXH, đóng góp tích cực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, cũng như sự phát triển nhanh chóng của các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, thông tin báo chí đã trở thành một lực lượng vô cùng quan trọng trong xã hội ngày nay Nó làm thay đổi diện mạo cuộc sống hiện đại, ảnh hưởng đến chất lượng sống, lối sống của từng con người, tác động đến tất cả các khía cạnh, bình diện của xã hội
và cả tự nhiên xét theo nghĩa rộng
Trang 7Đất nước ta bước vào thời kỳ mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã đặt ra những yêu cầu mới đối với công tác thông tin tuyên truyền về BHXH Đòi hỏi cần có sự nghiên cứu sâu sắc hơn những vấn đề lý luận và thực tiễn giữa báo chí với vấn đề BHXH, nhằm đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả thông tin về BHXH, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn
Với lý do trên, chúng tôi chọn nội dung nghiên cứu "Báo chí với vấn đề
BHXH"
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy việc nghiên cứu về BHXH ở nước ta còn khá mới mẻ Hiện tại, một số trường đại học như Lao động xã hội, Công đoàn mới đưa chuyên ngành BHXH vào giảng dạy Trường đại học Kinh tế quốc dân, Học viện Tài chính mới sơ khai bộ môn BHXH trong chuyên ngành kinh tế bảo hiểm Ngay tại Trung tâm Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ của BHXH Việt Nam cũng còn đang nghiên cứu xây dựng giáo trình giảng dạy, bồi dưỡng về BHXH cho cán bộ, công chức trong ngành
Về Báo chí truyền thông, năm 2006, tại Khoa Báo chí của Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội mới chỉ có một Luận văn Thạc sĩ Báo chí của Nguyễn Thị Thu Hương với Đề tài: “Báo chí với vấn đề An sinh xã hội”, nghiên cứu về mối quan hệ của báo chí với các vấn đề an sinh xã hội nói chung, trong đó vấn đề BHXH được đề cập rất ít Còn trước đó có một vài khoá luận tốt nghiệp cử nhân báo chí nghiên cứu về mối quan hệ của Báo chí với vấn đề BHYT, một trong những lĩnh vực hẹp của BHXH
Tóm lại, về mối quan hệ giữa Báo chí và BHXH từ trước đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống vấn đề mà Đề tài của chúng tôi quan tâm Do đó, Đề tài nghiên cứu mối quan hệ giữa Báo chí và vấn
đề BHXH là độc lập, không trùng lặp với các nghiên cứu trước đây Tuy nhiên,
Trang 8do tính chất bao trùm, rộng lớn của lĩnh vực truyền thông báo chí và tính trụ cột của BHXH trong hệ thống an sinh xã hội, nên trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi tham khảo thêm kết quả các nghiên cứu và có những đề xuất mới, phù hợp với yêu cầu thực tiễn đang đặt ra
Trong quá trình nghiên cứu, nguồn tư liệu trong nước để tham khảo không nhiều, chủ yếu chúng tôi thu thập được qua các tài liệu về BHXH nước ngoài, các văn bản, chính sách của Nhà nước và kết quả khảo sát trên các tờ báo nói chung và 3 tờ Báo Nhân Dân, Lao động và Sức khoẻ và Đời sống
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích:
- Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và mối quan hệ giữa BHXH và Báo chí, kết hợp với khảo sát thực tiễn thông tin về BHXH trên báo chí, Luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tin về lĩnh vực này trong thời gian tới
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận văn
- Mở ra một hướng nghiên cứu về lĩnh vực truyền thông BHXH, nhằm góp
phần thực hiện tốt định hướng của Đảng: "Mở rộng BHXH cho mọi người lao
động và tiến tới BHYT toàn dân"
Trang 9- Qua việc nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn, Luận văn là một tài liệu tham khảo, góp phần vào hệ thống tư liệu khoa học về báo chí truyền thông, nhằm phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập về báo chí hiện nay
- Luận văn cũng mở ra một hướng nghiên cứu, tiếp cận đối với lý luận và thực hành báo chí truyền thông hiện đại nói chung, góp phần nâng cao hiệu quả truyền thông của báo chí trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là thông tin của 3 tờ báo về bảo hiểm xã hội
5.2 Phạm vi nghiên cứu:
BHXH là một chính sách xã hội lớn của Đảng và nhà nước, công tác tuyên truyền cổ động cho lĩnh vực này là nhiệm vụ thường xuyên của các phương tiện thông tin đại chúng, trong khuôn khổ Luận văn, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu thông tin về BHXH được thể hiện trên 3 tờ báo Nhân Dân, Lao động, Sức khoẻ và Đời sống trong hai năm 2006 và 2007 Đây là những tờ báo có đặc thù liên quan nhiều đến hoạt động BHXH
6 Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về BHXH và sự nghiệp thông tin đại chúng
- Sử dụng phương pháp nghiên cứu lý luận, khảo sát thực tiễn kết hợp với các phương pháp lịch sử, lôgíc, thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp, lấy ý kiến chuyên gia… để làm sáng tỏ vấn đề
7 Kết cấu của Luận văn
Trang 10Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần nội dung của Luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng thông tin về Bảo hiểm xã hội trên báo chí
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng thông tin Bảo hiểm xã hội trên báo
chí
Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý luận về thông tin báo chí
1.1.1 Khái niệm thông tin, thông tin báo chí
* Khái niệm thông tin
Trong lịch sử tồn tại và phát triển của mình, con người thường xuyên cần đến thông tin Ngày nay, với sự bùng nổ thông tin, thông tin càng trở thành một trong những nhu cầu sống còn của con người và khái niệm "thông tin" đang trở thành khái niệm cơ bản chung của nhiều khoa học
Khái niệm "thông tin" được bắt nguồn từ chữ La tinh informetio, gốc của
từ tiếng Anh information Hai ông Philipppe Breton và Serge Proulx trong cuốn
sách "Bùng nổ thông tin và sự ra đời một ý thức hệ mới" [35] giải thích rằng:
Khái niệm này có hai hướng nghĩa: Thứ nhất là, nói về một hành động cụ thể để tạo ra một hình thái (frome), thứ hai là, nói về sự truyền đạt một ý tưởng, một khái niệm hay biểu tượng Hai hướng nghĩa này cùng tồn tại, một nhằm vào sự tạo lập cụ thể, một nhằm vào sự tạo lập kiến thức và truyền đạt Nó thể hiện sự gắn kết của hai lĩnh vực kỹ thuật và kiến thức
Sau khi nêu ra nghĩa của tiếng Anh, từ nguyên gốc La tinh: information, được hiểu = quan niệm, hình ảnh, sự lý giải, bài học; informare = sự tạo hình thức phản ánh, thuật ngữ thông tin được tác giả Phạm Thành Hưng định nghĩa:
“Từ góc độ nhận thức luận, thông tin là kết quả của sự phản ánh hiện thực
Trang 11khách quan, được biểu hiện bằng các hệ thống ngôn từ, ký hiệu, hình ảnh v.v Thông tin đồng nghĩa với các hình thái tri thức mới mẻ, có giá trị phát triển sự hiểu biết của con người Từ góc độ khoa học kỹ thuật, thông tin là số liệu, dẫn liệu mà ta có thể lấy ra phân tích, so sánh, phân loại, giải thích, khái quát, tổ chức lại, từ đó mà rút ra được những ý nghĩa, giá trị nào đó về tính chất, đặc trưng của các sự vật, hiện tượng nào đó cũng như các quy luật tồn tại và vận động của chúng”[28]
Theo quan điểm của triết học, thông tin là một hiện tượng vốn có của vật chất, là thuộc tính khách quan của thế giới vật chất Nội dung của thông tin chính
là những thuộc tính, tính chất vốn có của sự vật với các sự vật hiện tượng được bộc lộ ra, thể hiện thông qua tác động qua lại của sự vật ấy với sự vật khác Thông tin luôn gắn với quá trình phản ánh Những dấu ấn để lại chính là những thông tin của hệ thống vật chất này đối với hệ thống vật chất khác Phản ánh của vật chất là phản ánh thông tin, không có thông tin chung chung mà thông tin là thông tin về sự vật này đối với sự vật khác
Theo các tác giả cuốn “Cơ sở lý luận báo chí”, do Học viện Chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh, Phân viện Báo chí và Tuyên truyền, Nhà xuất bản van hóa - Thông tin xuất bản năm 1999, từ “Thông tin” được sử dụng với những ý
nghĩa khác nhau trong các tình huống cụ thể: “Thông tin là một loại hình hoạt
động để chuyển đi các nội dung thông báo Hoạt động thông tin không chỉ có trong xã hội loài người Ngay trong thiên nhiên cũng có những hoạt động thông tin phức tạp, đa dạng của các loại động vật khác nhau; Thông tin được dùng để chỉ chất lượng nội dung của thông báo nói chung Trong trường hợp này, người
ta xem xét chất lượng nội dung thông báo bằng “lượng thông tin” được chuyển đến đối tượng tiếp nhận”[45, tr.23]
Nhà xã hội học Mỹ, Mác Luhan có quan niệm về thông tin chính là thông
điệp nhưng giá trị của nó phụ thuộc vào phương tiện chuyển tải: "Thông tin là
Trang 12một thông điệp chỉ có giá trị tuỳ theo loại phương tiện truyền thông đã truyền đạt nó"[32, tr.12]
Từ điển tiếng Việt định nghĩa: "Thông tin với nghĩa động từ là truyền
tin cho nhau để biết; và với nghĩa danh từ là điều được truyền đi cho biết, tin
truyền đi (ví dụ bài báo có lượng thông tin cao)[50]
Như vậy, thông tin được hiểu theo hai nghĩa: Thứ nhất, đó chính là nội
dung thông tin; Thứ hai, đó là phương tiện chuyển tải, thông báo, báo tin
Chiến lược phát triển thông tin đến năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ đã
nêu khái niệm: "Thông tin được coi là một nhu cầu thiết yếu trong đời sống xã
hội, là công cụ để điều hành, quản lý, chỉ đạo của mỗi quốc gia, là phương tiện hữu hiệu để mở rộng giao lưu hiểu biết giữa các quốc gia, dân tộc, là nguồn cung cấp tri thức mọi mặt cho công chúng và là nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội" Chiến lược phát triển thông tin của Thủ tướng Chính phủ đã nhận định: Sự
chênh lệch về trình độ phát triển thông tin giữa các nước là một đặc điểm về quy
mô và trình độ phát triển trong thời kỳ cách mạng khoa học và công nghệ Nước nào không vượt qua được những thách thức về thông tin, nước đó mất cơ hội phát triển và có nguy cơ mất khả năng tự chủ Thiếu thông tin, sẽ gặp khó khăn trong việc đưa ra các quyết định hoặc các quyết định sẽ bị sai lệch, thiếu cơ sở khoa học, không thực tiễn và trở nên kém hiệu quả
* Thông tin báo chí
Trong tiến trình phát triển của lịch sử văn hoá nhân loại, báo chí là một hiện tượng xã hội, ra đời do nhu cầu thông tin giao tiếp, giải trí và nhận thức của con người Thông tin là một hiện tượng vốn có của thế giới vật chất Lần đầu tiên thông tin được con người chú ý nghiên cứu về mặt ý nghĩa xã hội của nó và được đề cập đến trong lý thuyết báo chí vào những năm 20 - 30 của thế kỷ XX
Theo cách hiểu kinh điển thì "Thông tin chính là những cái mới khác với những
điều đã biết" [25]
Trang 13Theo tác giả E.P.Prôkhôrốp viết trong cuốn "Cơ sở lý luận của báo chí"
ấn hành năm 2001, hiện đang làm giáo trình giảng dạy cho sinh viên ngành báo
chí của các trường đạo học và cao đẳng ở Nga: "Từ "Thông tin" trong ngành
báo chí cũng được sử dụng theo nhiều nghĩa, từ lâu nó đã được dùng trong ba nghĩa có quan hệ mật thiết với nhau: đó là các thông báo ngắn không bình chú
về các tin tức nóng hổi của đời sống trong nước và quốc tế; là danh mục nhóm thể loại tin tức (các loại hình thông tin: tin ngắn, báo cáo, tường thuật, phỏng vấn); cuối cùng "Thông tin" đôi khi được hiểu là thể loại tin ngắn"[20, tr.26]
Theo quan niệm của tác giả Phạm Thành Hưng, trong cuốn “Thuật ngữ Báo chí -Truyền thông”: “Trong báo chí học và nghiên cứu truyền thông, thông
tin đồng nghĩa với những số liệu, kết luận hàm súc, có một hình thức dường như không cần bình luận, bàn cãi về các sự kiện, hiện tượng, vấn đề xã hội cụ thể”[28]
Thông tin là chức năng sơ khởi của báo chí, theo nghĩa sử dụng phương tiện kỹ thuật để phổ biến kết quả lao động sáng tạo của nhà báo Thực hiện chức năng thông tin, báo chí cung cấp cho công chúng về tất cả các vấn đề, sự kiện của đời sống xã hội, đáp ứng nhu cầu khám phá, tìm hiểu thế giới tự nhiên, xã hội
Trong một thế giới hiện thực chứa đầy lượng thông tin, báo chí có cách riêng của mình để phản ánh hiện thực với mục đích tác động tới nhiều tầng lớp
xã hội với những mối quan tâm, sở thích và nhu cầu khác nhau Chính điều đó đã khiến cho báo chí trở thành một hoạt động thông tin đại chúng rộng rãi và năng động nhất mà không một hình thái ý thức xã hội nào có được
Như vậy, khái quát lại thông tin báo chí cũng được hiểu theo hai nghĩa:
Thứ nhất, đó là tri thức, tư tưởng do nhà báo tái tạo và sáng tạo từ hiện
thực cuộc sống Tất cả những vấn đề, sự kiện, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội được báo chí phản ánh nhằm phục vụ nhu cầu tìm hiểu, khám phá của con
Trang 14Trong thực tiễn báo chí, thuật ngữ "Thông tin" có nhiều cách sử dụng khác nhau, có khi chỉ là cái tin vắn, tin ngắn, bài bình luận, phóng sự, phỏng vấn, một chương trình phát thanh, truyền hình, các tiêu đề, vị trí của tác phẩm trên các cột báo, giọng đọc của phát thanh viên, các cỡ chữ hay cách xếp chữ trên các tờ báo chúng đều có chứa đựng thông tin
Thuật ngữ "Thông tin" trong hoạt động báo chí còn có có cách hiểu rộng hơn, chúng còn được hiểu như một danh từ tập hợp Chúng ta có thể gọi toàn bộ tác phẩm, hay hệ thống những tin tức là thông tin
Thông tin báo chí là dạng thông tin xã hội đặc thù, mang tính thời sự, phổ cập và rất quan trọng về phương diện chính trị - xã hội Để xã hội loài người tồn tại và phát triển, con người cần nhiều loại hoạt động như sản xuất của cải vật chất
để duy trì sự sống, sáng tạo nghệ thuật để thỏa mãn tinh thần Một phần của sự hoạt động đó là hoạt động báo chí nhằm cung cấp cho công chúng những thông tin, tức
là thông báo cho công chúng biết mọi sự kiện, hiện tượng diễn ra hàng ngày trong
đời sống xã hội "Nhưng thông tin báo chí là những thông tin chính trị - xã hội
Nghĩa là thông tin báo chí bao giờ cũng chứa đựng những giá trị xã hội hay chính trị Thông tin là đặc trưng của ngành truyền thông đại chúng so với các ngành khác"[43, tr.51,52]
Trang 15Thông tin báo chí được hiểu theo nghĩa rộng, hàm chứa cả những tin tức về các lĩnh vực khác của đời sống kinh tế - xã hội Trong một xã hội có giai cấp, các quá trình kinh tế, xã hội, tinh thần đều có nội dung giai cấp và được quản lý với ý thức về lợi ích của giai cấp thống trị chính trị Do đó, thông tin về các quá trình đó cũng mang tính khuynh hướng chính trị và được sử dụng như một thứ công cụ, phương tiện nhằm tác động vào xã hội để thực hiện các mục tiêu đã định trước
Ngày nay ai cũng biết con người cần thông tin về nhiều mặt, nhiều lĩnh vực, nhất là thông tin về sự kiện chính trị và kinh tế xã hội Xã hội có dân trí là
xã hội có thông tin báo chí phong phú Xã hội hiện đại, dân trí cao, dân chủ tốt thì tất yếu kinh phí chi cho dịch vụ thông tin báo chí phải chiếm tỷ lệ lớn trong tổng kinh phí của đất nước Xuất phát từ quan điểm này, tác giả Nguyễn Uyển đã
viết trong cuốn "Nghề nghiệp và công việc của nhà báo" của Hội Nhà báo Việt
Nam, Hà Nội, 1992": "Dịch vụ thông tin là tối cần thiết, vì ở quốc gia nào cũng
vậy, thông tin là của cải, là tài nguyên, là hàng hoá, là trí tuệ và quyền uy của Nhà nước Ai nắm quyền thông tin thì người đó nắm quyền uy"
Đảng và Nhà nước ta hết sức coi trọng và đánh giá cao vai trò của thông tin Đây không chỉ là phương tiện cung cấp thông tin, cung cấp tri thức, là một trong những công cụ giúp cho công tác chỉ đạo, điều hành đất nước mà còn là nơi để phản hồi những thông tin từ nhân dân đối với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, góp phần quan trọng thực hiện dân chủ hoá trong đời sống xã hội Thông tin thực sự là công cụ cung cấp tri thức, dự báo sự phát triển đồng thời cũng là động lực thúc đẩy sự phát triển Đời sống nhân dân được cải thiện, trình độ dân trí ngày càng được nâng cao nên nhu cầu thông tin của nhân dân đòi hỏi ngày càng cao hơn
1.1.2 Tiêu chí đánh giá chất lượng thông tin báo chí
Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật[50] Chất lượng theo quan điểm của Triết học Mác - Lênin, đó là hai mặt có
Trang 16mối quan hệ biện chứng của mỗi sự vật, hiện tượng Chất là tính quy định vốn có của các sự vật và hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ những thuộc tính, những yếu tố cấu thành sự vật, nói lên sự vật đó là gì, phân biệt nó với các sự vật và hiện tượng khác Lượng là tính quy định của sự vật và hiện tượng về mặt quy
mô, trình độ phát triển của nó, biểu thị con số các thuộc tính, các yếu tố cấu thành nó Quá trình thay đổi về của lượng tạo điều kiện cho chất đổi và ngược lại, khi chất mới ra đời, nó lại tạo ra một lượng mới phù hợp với nó Quy luật những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật Quy luật này nói lên cách thức của sự vận động và phát triển của sự vật và hiện tượng
Trong hoạt động báo chí, nhận thức về chất lượng thông tin song song với nhận thức về chức năng và đối tượng phản ánh của báo chí Muốn có sự nhận thức đúng đắn về thông tin, cần xác định được mục đích hoạt động của báo chí, đồng thời phải nêu lên định hướng có tính nguyên tắc cho những hoạt động thực tiễn của một nền báo chí Sự định hướng rõ ràng sẽ trang bị cho nhà báo phương pháp thông tin và biết cách vận dụng thông tin có hiệu quả để thực hiện chức năng của báo chí Một hướng quan trọng trong cách tiếp cận thông tin báo chí là mỗi chương trình, mỗi tác phẩm phải được xem xét kỹ lưỡng trong hệ thống những mối quan hệ giữa báo chí và công chúng Tác phẩm báo chí là điểm trung gian trong mối quan hệ: Nhà báo - Tác phẩm - Công chúng Tác phẩm báo chí khi được đăng tải, phát sóng, mới chỉ dừng lại ở thông tin tiềm năng, vì thông tin
đó chưa chắc đã được công chúng tiếp nhận Người làm báo phải tìm mọi cách biến thông tin tiềm năng thành thông tin hiện thực Tính chất thực tiễn của thông tin là tiêu chuẩn để đánh giá giá trị của thông tin cao hay thấp, tức là có mang đến cho công chúng những thông tin phù hợp với nhu cầu của họ không và có khả năng chuyển thông tin tiềm năng thành thông tin hiện thực không
Lý luận báo chí truyền thông đã chỉ ra các tiêu chí đánh giá chất lượng
Trang 17thông tin, đó là tính độc đáo, tính đại chúng và tính hợp thời (đúng lúc)
* Tính độc đáo của thông tin, là cái mới mà công chúng chưa biết Nhưng
cái mới không phải là cái duy nhất thể hiện tính độc đáo Cùng với sự đòi hỏi tất yếu của cái mới, có thể tái hiện thông tin cũ đã bị lãng quên, giúp cho công chúng có thêm tư liệu để nhận thức tốt hơn sự kiện mới Tuy nhiên, những thông tin được nhắc lại sẽ vô bổ, thậm chí có hại khi cái mới, cái độc đáo bị chìm đi trong một loạt cái cũ; khi cái cũ không đóng vai trò bổ sung mà lại cản trở việc nhận thức cái mới
* Tính đại chúng (dễ hiểu): Để công chúng nhận thức nội dung tác phẩm
tương ứng với ý đồ tác giả, đòi hỏi ngôn ngữ của báo chí (cách viết, cách thể hiện ) phải được công chúng nhận thức đầy đủ Nếu không thực hiện được nguyên tắc tính đại chúng của ngôn ngữ sẽ dẫn đến tình trạng là công chúng không hiểu được tác phẩm
* Tính hợp thời (đúng lúc): Những tác phẩm báo chí xuất hiện đúng lúc,
đáp ứng được nhu cầu của công chúng và sự quan tâm của họ trong thời điểm đó thì tác phẩm sẽ có giá trị hơn, tạo sự hứng thú, hấp dẫn công chúng Lượng thông tin còn phụ thuộc vào tính thời điểm của nó Trong thời đại ngày nay, lượng thông tin phụ thuộc một cách quyết định vào tính kịp thời, đúng lúc, nhanh nhạy Báo chí làm được những điều trên sẽ làm tăng giá trị của thông tin, nếu thông tin chậm, hiệu quả sẽ ngược lại và lượng của nó sẽ bằng không Là sự phản ánh hiện thực, thông tin có nội dung khách quan đồng thời lại mang tính chủ quan Do vậy, việc sử dụng thông tin vào hoạt động truyền thông đại chúng cũng như việc tiếp nhận thông tin ở mỗi người đều không diễn ra một cách thụ động mà phải có
sự kiểm định, xử lý lại thông tin Những thông tin chính xác, khách quan, đầy
đủ, trung thực sẽ được sử dụng, tiếp nhận Ngược lại, những thông tin giả dối, ngụy tạo, phiến diện sẽ bị loại bỏ, phủ nhận Tiêu chí đánh giá một thông tin tốt
là: khách quan, chính xác, đầy đủ, kịp thời, thích hợp và bất ngờ Trong các tiêu
Trang 18chí đó, kịp thời và bất ngờ là hai yếu tố tạo nên mặt đặc thù của thông tin báo chí Yếu tố kịp thời tạo nên tính thời sự Yếu tố bất ngờ tạo nên sự quý hiếm của thông tin báo chí Có nhiều luận thuyết thống nhất cho rằng: giá trị của tin tức tỷ
lệ nghịch với tần số xuất hiện của sự kiện, hiện tượng, điều gì càng ít xảy ra, tin tức về nó càng trở lên quý hiếm, có giá Lý thuyết này cũng bị bác bỏ, vì nó chỉ phù hợp nhất với dạng tin giật gân, câu khách trong nghề báo
Tiêu chí đánh giá tác phẩm báo chí chất lượng cao, được các cơ quan quản
lý nhà nước nghiên cứu quy định cụ thể, đó là: "Những tác phẩm mang lại hiệu
quả thiết thực cho toàn xã hội hoặc một vùng miền, địa phương; có nhiều tìm tòi, phát hiện những vấn đề mới nảy sinh trong cuộc sống hàng ngày; có nội dung phù hợp, hấp dẫn người đọc, người nghe, người xem; phù hợp với quan điểm chỉ đạo, tuyên truyền, đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước" [30]
Cơ sở lý luận báo chí truyền thông cũng chỉ ra rằng, tác phẩm báo chí là một chỉnh thể, bao gồm hai yếu tố nội dung và hình thức Hai yếu tố này có mối quan hệ biện chứng, gắn bó hữu cơ, chi phối lẫn nhau tạo nên chất lượng tác phẩm báo chí Tác phẩm báo chí còn được hiểu rộng hơn, đó là cả trang báo, số báo, tờ báo, chuyên mục, chương trình phát thanh, truyền hình Do đó tiêu chí đánh giá chất lượng thông tin báo chí phải coi trọng cả hai yếu tố nội dung và hình thức thông tin
Hoạt động báo chí là hoạt động có ý thức và mục đích của con người, bởi vậy yêu cầu về tính hiệu quả báo chí phải được đặt lên hàng đầu Hiệu quả báo chí là việc vận dụng các quy luật, các nguyên tắc, hình thức, phương thức hoạt động báo chí giúp cho nó thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình nhằm đạt mục đích đặt ra Để báo chí hoạt động hiệu quả, trước hết nội dung phải hay, phải súc tích và hình thức thể hiện phải hấp dẫn
Trang 19- Về nội dung phải phong phú, mang lại cho công chúng một lượng thông
tin mới, phản ánh đúng, kịp thời, đi vào những vấn đề thiết thực nhất mà công chúng đang quan tâm hoặc đang thiếu thông tin
- Về hình thức, phải thỏa mãn nhu cầu mỹ cảm, tác động sâu sắc đến tình
cảm và suy nghĩ của đối tượng Thông tin báo chí phải được chuyển tải bằng các hình thức, phương pháp thể hiện thuyết phục, dễ hiểu Nó không chỉ làm cho công chúng thích thú mà còn khơi gợi được sự suy nghĩ theo hướng đúng và thúc đẩy hành động tích cực của họ
1.1.3 Nâng cao chất lượng thông tin báo chí
Nghiên cứu khái niệm thông tin báo chí được đặt trong mối quan hệ trực tiếp với vấn đề hiệu quả báo chí, tức là ảnh hưởng trực tiếp của thông tin đối với công chúng, hướng dẫn nhận thức để họ có hành động đúng đắn Nâng cao chất lượng báo chí trong đời sống xã hội, mục tiêu cuối cùng là quan tâm tới tính hiệu quả của thông tin Hiệu quả của thông tin báo chí khi được phát huy sẽ trở thành một sức mạnh to lớn, góp phần hình thành dư luận xã hội, xây dựng hệ tư tưởng chủ đạo của xã hội, biến nhận thức thành hành động theo chiều hướng tích cực
để góp phần cải tạo và xây dựng một xã hội tốt đẹp
Thực trạng thông tin báo chí ở nước ta trong những năm qua, bên cạnh những tác dụng tích cực về tính chất, nội dung, hình thức và loại hình, thì tình trạng thiếu cân đối, vừa có sự chồng chéo về nội dung và phân bố lại vừa có sự thiếu hụt ở một số lĩnh vực và địa bàn Nhu cầu thông tin của một bộ phận nhân dân chưa được đáp ứng đầy đủ, mức độ thụ hưởng thông tin của các tầng lớp
nhân dân không đồng đều "Ở một số lĩnh vực thông tin còn nặng yếu tố phổ
biến, truyền đạt, tính hai chiều và tính diễn đàn chưa được phát huy Mặt trái của cơ chế thị trường đã có những tác động tiêu cực, làm nảy sinh hiện tượng giật gân, câu khách, không phù hợp với định hướng tư tưởng, chính trị và truyền thống văn hoá dân tộc" [48]
Trang 20Việc nâng cao chất lượng thông tin báo chí xuất phát từ yêu cầu tự thân của hoạt động báo chí Đặc biệt yêu cầu này càng thêm bức thiết, nhất là trong thời đại bùng nổ thông tin và bối cảnh quốc tế và trong nước tạo ra thời cơ lớn, đồng thời cũng đặt ra những thách thức hết sức gay gắt cho lĩnh vực thông tin nước ta hiện nay Chiến lược phát triển thông tin đến năm 2010 ở nước ta được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 219/2005/QQĐ - TTg, ngày 9/9/2005 nêu quan điểm định hướng quan trọng: Tất cả các loại hình thông tin báo chí đều hướng tới một mục tiêu chất lượng cao, coi trọng chất lượng chính trị, chất lượng văn hoá, chất lượng khoa học và chất lượng nghiệp vụ của thông tin Thông tin phải đảm bảo tính chân thật, tính giáo dục, tính nhân dân, tính chiến đấu, phù hợp với lợi ích của đất nước và của nhân dân; phải góp phần quan trọng trong việc cung cấp tri thức, nâng cao dân trí, hình thành và định hướng dư luận xã hội lành mạnh; tăng cường sự đoàn kết, nhất trí về tư tưởng chính trị và tinh thần trong nhân dân; biểu dương các nhân tố mới điển hình tiên tiến; tích cực đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng và các tệ nạn xã hội; giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc, tiếp thu văn hoá nhân loại Thông tin phải thực sự đi trước một bước, vừa làm tốt việc dự báo, định hướng phát triển xã hội, đồng thời phải là nguồn lực thức đẩy sự phát triển xã hội
Như vậy, việc nâng cao chất lượng thông tin báo chí là nâng cao chất lượng nội dung, tăng hàm lượng thông tin của tác phẩm báo chí, đồng thời đổi mới mạnh mẽ cách tiếp cận và phương thức thể hiện thông tin
* Về nội dung:
- Góp phần thực hiện công tác tư tưởng, văn hoá theo đường lối của Đảng, Nhà nước Nội dung thông tin phải theo cả hai chiều từ Đảng, Nhà nước, các tổ chức xã hội đến nhân dân và ngược lại từ nhân dân tới các cấp lãnh đạo, các cơ quan quản lý, điều hành đất nước
Trang 21- Các sự kiện, hiện tượng, quá trình, nhân vật mà báo chí thông tin đến công chúng phải thực sự là thông tin cần thiết, có chọn lọc, với số lượng và chất lượng thoả đáng, qua đó hướng dẫn dư luận, thúc đẩy hành động cách mạng của quần chúng, đáp ứng những yêu cầu theo từng giai đoạn của công tác tư tưởng của Đảng
- Góp phần nâng cao năng lực hoạt động thực tiễn của mỗi đối tượng tiếp nhận nhằm thực hiện tốt những nhiệm vụ cách mạng trong từng thời kỳ xây dựng
và phát triển đất nước
- Giáo dục ý thức xã hội, quan điểm cách mạng theo tinh thần đổi mới của Đảng, nâng cao tính tự giác, tích cực trong việc xây dựng và cải tạo xã hội, tôn trọng pháp luật và có lối sống lành mạnh
- Đẩy lùi, hạn chế tiêu cực, tệ nạn xã hội đấu tranh chống các thế lực thù địch trong và ngoài nước
- Làm cho nhân dân thế giới hiểu biết về Việt Nam và ngược lại, thúc đẩy quá trình hợp tác quốc tế theo hướng độc lập dân tộc, dân chủ, hoà bình ổn định, hợp tác cùng có lợi và tiến bộ xã hội
- Xây dựng hệ thống chuyên mục phù hợp, sử dụng có hiệu quả các thể loại báo chí để tạo sự phong phú, sinh động, hấp dẫn
- Kỹ thuật in ấn, phát sóng, trang thiết bị cần hiện đại và đồng bộ; khâu phát hành đảm bảo nhanh, kịp thời và đúng đối tượng phục vụ
Việc thể hiện bài viết cho sinh động, hấp dẫn không phải chỉ là vấn đề thể
Trang 22hiện, mà có vai trò rất quyết định, có ý nghĩa quan trọng trong việc chuyển tải nội dung thông tin Trong thư gửi lớp học viết báo Huỳnh Thúc Kháng tháng 5/1949, Hồ
Chủ tịch căn dặn: "Đối tượng của tờ báo là đại đa số dân chúng; một tờ báo không
được đại đa số ham chuộng thì không xứng đáng là một tờ báo Muốn dân chúng ham chuộng, coi tờ báo ấy là của mình thì:
Nội dung tức là các bài viết phải giản đơn, dễ hiểu, phổ thông thiết thực hoạt bát Và:
Hình thức tức là cách sắp đặt các bài, cách in phải sạch sẽ, sáng sủa"[31,
tr.625, 626]
V.I Lênin cũng đã chỉ rõ: "Tính chất đơn điệu và sự chậm chễ đều không hợp
với nghề báo"[43, tr.188] Đây cũng là những nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới sức
lôi cuốn, hấp dẫn của báo chí
Tóm lại, hiệu quả báo chí phụ thuộc vào việc nâng cao chất lượng thông
tin báo chí Nâng cao chất lượng báo chí trong đời sống xã hội, mục tiêu cuối cùng là tính hiệu quả của thông tin Muốn nâng cao hiệu quả báo chí phải tăng cường sự hợp tác giữa các bộ phận, các yếu tố nội dung và hình thức của tác phẩm báo chí Hiệu quả báo chí còn phụ thuộc vào sức hấp dẫn của việc truyền thông tin, cách thể hiện thông tin Cho nên, bên cạnh việc nâng cao chất lượng nội dung, tăng cường hàm lượng thông tin, việc lựa chọn những phương thức chuyển tải phù hợp và hình thức biểu hiện thông tin một cách sinh động, gây được những xúc cảm tốt cũng là yêu cầu cần thiết đối với báo chí, làm cho báo chí phát huy tác dụng thực sự trong việc hướng dẫn dư luận và đáp ứng nhu cầu thông tin của công chúng
Đầu năm 2008, trong buổi gặp gỡ báo chí nhân dịp đón Xuân Mậu Tý Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu báo chí trong điều kiện cạnh tranh thông tin quyết liệt phải cố gắng vươn lên, cung cấp thông tin mau lẹ, kịp thời, chính xác, sắc sảo, đáp ứng nhu cầu thông tin của nhân dân, phục vụ sự điều hành của
Trang 23Chính phủ Thủ tướng mong muốn: "Thời gian tới, báo chí nước nhà có nhiều
tin, bài phong phú về thể loại, nội dung có giá trị cao hơn, đi vào lòng người, góp phần định hướng, điều chỉnh hành vi xã hội của người dân cũng như định hướng dư luận xã hội Báo chí phát triển nhanh về số lượng song cũng phải đáp ứng tốt yêu cầu về chất lượng, đủ sức cạnh tranh và có uy tín trong và ngoài nước Báo chí không được tự mãn với kết quả đạt được mà phải không ngừng nâng cao chất lượng thông tin hơn nữa, có tác dụng chính trị, xã hội tốt hơn"[Bộ
TTTT, Website BCVT & CNTT, ngày 01/02/2008]
1.2 Cơ sở lý luận về Bảo hiểm xã hội
1.2.1.Sự cần thiết khách quan của Bảo hiểm xã hội
Con người muốn tồn tại và phát triển trước hết phải ăn, mặc, ở và có sức khoẻ Để thỏa mãn nhu cầu tối thiểu này, con người phải lao động làm ra những sản phẩm cần thiết Của cải xã hội càng nhiều, mức độ thoả mãn nhu cầu càng cao, có nghĩa là việc thoả mãn nhu cầu phụ thuộc vào khả năng lao động của con người
Trong thực tế cuộc sống, không phải người lao động nào cũng có đủ điều kiện về sức khỏe, khả năng lao động hoặc những may mắn khác để hoàn thành nhiệm vụ lao động, công tác hoặc tạo nên cho mình và gia đình một cuộc sống
ấm no hạnh phúc Ngược lại, người nào cũng có thể gặp phải những rủi ro, bất hạnh như ốm đau, tai nạn, hay già yếu, chết hoặc thiếu công việc làm do những ảnh hưởng của tự nhiên, của những điều kiện sống và sinh hoạt cũng như các tác nhân xã hội khác Khi rơi vào các trường hợp đó, các nhu cầu thiết yếu của con người không vì thế mà mất đi Trái lại, có cái còn tăng lên, thậm chí còn xuất hiện thêm nhu cầu mới Bởi vậy, muốn tồn tại, con người và xã hội loài người phải tìm ra và thực tế đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau
Để khắc phục những rủi ro, bất hạnh giảm bớt khó khăn cho bản thân và gia đình thì ngoài việc tự mình khắc phục, người lao động phải được sự bảo trợ
Trang 24của cộng đồng và xã hội Sự tương trợ dần dần được mở rộng và phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau Những yếu tố đoàn kết, hướng thiện đó đã tác động tích cực đến ý thức và công việc xã hội của các Nhà nước dưới các chế độ xã hội khác nhau Trong quá trình phát triển xã hội, đặc biệt là từ sau cuộc cách mạng công nghiệp, hệ thống BHXH đã có những cơ sở để hình thành và phát triển Quá trình công nghiệp hoá làm cho đội ngũ người làm công ăn lương tăng lên, cuộc sống của họ phụ thuộc chủ yếu vào thu nhập do lao động làm thuê đem lại
Sự hẫng hụt về tiền lương trong các trường hợp bị ốm đau, tai nạn, rủi ro, bị mất việc làm hoặc khi về già , đã trở thành mối đe doạ đối với cuộc sống bình thường của những người không có nguồn thu nhập nào khác ngoài tiền lương Sự bắt buộc phải đối mặt với những nhu cầu thiết yếu hàng ngày đã buộc những người làm công ăn lương tìm cách khắc phục bằng những hành động tương thân, tương ái (lập các quỹ tương tế, các hội đoàn ); đồng thời, đòi hỏi giới chủ và Nhà nước phải có trợ giúp bảo đảm cuộc sống cho họ
Năm 1850, lần đầu tiên ở Đức, nhiều bang đã thành lập quỹ ốm đau và yêu cầu công nhân phải đóng góp để dự phòng khi bị giảm thu nhập vì bệnh tật
Từ đó, xuất hiện hình thức bắt buộc đóng góp Lúc đầu chỉ có giới thợ tham gia, dần dần các hình thức bảo hiểm mở rộng ra cho các trường hợp rủi ro nghề nghiệp, tuổi già và tàn tật Đến cuối những năm 1880, BHXH đã mở ra hướng mới Sự tham gia là bắt buộc và không chỉ người lao động đóng góp mà giới chủ
và Nhà nước cũng phải thực hiện nghĩa vụ của mình (cơ chế ba bên) Tính chất đoàn kết và san sẻ lúc này được thể hiện rõ nét: mọi người, không phân biệt già - trẻ, nam - nữ, lao động phổ thông - lao động kỹ thuật, người khoẻ - người yếu
mà tất cả đều phải tham gia đóng góp vì mục đích chung
Năm 1850, nước Đức dưới thời Thủ tướng Bismark, đã ban hành đạo Luật BHXH đầu tiên trên thế giới Theo đạo Luật này, hệ thống BHXH ra đời với sự tham gia bắt buộc của cả người làm công ăn lương và cả giới chủ Nhà nước bảo
Trang 25đảm một số chế độ và giữ vai trò quản lý, đinh hướng hoạt động của BHXH Sau
đó, nhiều nước châu Âu cũng cho ra đời các đạo luật của mình Mô hình này của Đức đã lan dần ra châu Âu, sau đó sang các nước Mỹ Latinh, rồi đến Bắc Mỹ và Canada vào những năm 30 của thế kỷ XX Sau chiến tranh thế giới thứ hai, BHXH đã lan rộng sang các nước giành được độc lập ở châu Á, châu Phi và vùng Caribê BHXH dần dần đã trở thành một trụ cột cơ bản của hệ thống an sinh xã hội và được tất cả các nước thừa nhận là một trong những quyền con người Có thể nói, qua nhiều thời kỳ, cùng với sự tranh chấp giữa nhiều vấn đề của giới chủ và giới thợ, cùng với sự đổi mới quá trình phát triển kinh tế xã hội, cùng với trình độ chuyên môn và nhận thức về BHXH của người lao động ngày càng được nâng cao, cách thức chủ động khắc phục khi có những
sự kiện hoặc không may gặp những rủi ro xảy ra ngày càng hoàn thiện Tuy nhiên, chỉ đến khi có sự ra đời của BHXH thì những tranh chấp cũng như những khó khăn mới được giải quyết một cách ổn thoả và có hiệu quả nhất Đó cũng chính là cách giải quyết chung nhất cho xã hội loài người trong quá trình phát triển, lấy số đông bù cho số ít, chia sẻ rủi ro, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau vượt qua hoạn nạn, ốm đau
Sự xuất hiện của BHXH là một tất yếu khách quan khi mà mọi thành viên trong xã hội đều cảm thấy sự cần thiết phải tham gia hệ thống BHXH và sự cần thiết được BHXH Vì vậy, BHXH đã trở thành nhu cầu và quyền lợi của người lao động và được thừa nhận là một nhu cầu tất yếu khách quan, một trong những quyền lợi của con người đã được xác định trong Tuyên ngôn nhân quyền của Đại hội đồng Liên hợp quốc
1.2.2 Khái niệm, bản chất, đặc trưng của Bảo hiểm xã hội
1.2.2.1 Khái niệm Bảo hiểm xã hội:
Trang 26Bảo hiểm xã hội đã có lịch sử hàng trăm năm mà mầm mống của nó có từ thế kỷ XIII ở Nam Âu khi nền công nghiệp và kinh tế hàng hoá đã bắt đầu phát triển, nhưng cho đến nay các khái niệm về BHXH vẫn chưa được hiểu một cách thống nhất Trên thực tế, do quan niệm BHXH chỉ là một bộ phận của hệ thống bảo đảm xã hội, nên người ta thường đồng nhất với khái niệm bảo đảm xã hội
Theo các tác giả cuốn sách "Một số vấn đề cơ bản về kinh tế bảo hiểm":
"BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao
động khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập từ nghề nghiệp, do bị mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, thông qua việc hình thành và sử dụng một quỹ tài chính
do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, nhằm góp phần đảm bảo an toàn đời sống của người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội"[44, tr.34]
Với khái niệm này, có thể hiểu những rủi ro làm cho người lao động bị giảm hoặc mất nguồn thu nhập hoặc có liên quan đến hoạt động nghề nghiệp (tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp) hoặc những loại được coi là "rủi ro xã hội" (ốm đau, thai sản, già yếu, thương tật, chết v.v.) Khi gặp những loại rủi ro này, nhờ
có BHXH mà thu nhập của người lao động và gia đình họ được bù đắp thiếu hụt, góp phần bảo đảm cuộc sống cho họ và gia đình họ, từ đó góp phần bảo đảm an sinh xã hội
Theo ILO: "BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với người lao động thông
qua việc huy động các nguồn đóng góp để trợ cấp cho họ nhằm khắc phục những khó khăn về kinh tế - xã hội do bị ngưng hoặc bị giảm thu nhập gây ra, bởi ốm đau, thai sản, tai nạn, thất nghiệp, mất khả năng lao động, tuổi già, chết Đồng thời bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho thân nhân người lao động và gia đình, góp phần bảo đảm an toàn xã hội"[10, tr.19] Khái niệm này đi sâu vào
trách nhiệm của xã hội tổ chức quỹ BHXH từ các nguồn đóng góp, để trợ giúp cho các thành viên tham gia khắc phục khó khăn do thu nhập giảm sút bởi các
Trang 27rủi ro xã hội, hoặc mất nguồn thu nhập do hoạt động nghề nghiệp Tham gia BHXH, các rủi ro của người lao động được cộng đồng chia sẻ nhằm bảo đảm cuộc sống cho bản thân và gia đình họ, góp phần bảo đảm trật tự, an toàn xã hội
Ở một giác độ tiếp cận khác, PGS,TS.Ngô Quang Minh, Viện trưởng Viện Quản lý kinh tế, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh đưa ra khái niệm nhấn mạnh vai trò của Nhà nước tổ chức thực hiện và mục đích của
BHXH: "BHXH là chế độ, chính sách, biện pháp mà Nhà nước và xã hội thực
hiện nhằm bảo đảm quyền lợi cho người lao động và gia đình, khi họ gặp phải những biến cố rủi ro, giảm hoặc mất thu nhập do bị suy giảm, mất khả năng lao động, mất việc làm hoặc chết" [57, số 6/2008, tr.6]
Theo Từ điển Tiếng Việt: "BHXH là bảo đảm những quyền lợi vật chất
cho công nhân, viên chức khi không làm việc được vì ốm đau, sinh đẻ, già yếu, bị
tai nạn lao động, v.v.”[50, tr.39]
TS.Phạm Đình Thành, trong bài viết "Về một số khái niệm liên quan đến
BHXH", đăng trên Tạp chí BHXH số 4/2005, đưa ra ý kiến: "Đến nay, ở các
nước công nghiệp phát triển người ta đều cho rằng BHXH là một hệ thống dự
phòng do Nhà nước lập nên và dựa trên nghĩa vụ BHXH" [57, số 4, 2005, tr.24]
Với quan điểm này, BHXH được coi là biện pháp dự phòng, do Nhà nước lập ra
và đề cao nghĩa vụ BHXH, thực hiện theo luật pháp mà tính chất của nó là bắt buộc Khái niệm này dùng để phân biệt giữa BHXH bắt buộc với BHXH tự
nguyện và giữa bảo hiểm xã hội với bảo hiểm tư nhân - loại hình bảo hiểm
thương mại, hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận
Khái niệm BHXH ở nước ta lần đầu tiên được giải thích tại Điều 3, Luật
BHXH, năm 2006: "Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một
phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc
Trang 28đính của BHXH Tuy nhiên, vai trò của Nhà nước, của người sử dụng lao động không thể hiện rõ
Để có cơ sở khoa học xem xét khái niệm BHXH, cần phân tích mối quan
hệ bên trong hoạt động BHXH Mối quan hệ xuyên suốt trong hoạt động BHXH
là mối quan hệ giữa nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của các bên tham gia BHXH Khác với bảo hiểm thương mại, là quan hệ hai bên (cơ quan bảo hiểm và người tham gia), trong BHXH, mối quan hệ này dựa trên quan hệ lao động và diễn ra giữa 3 bên: Bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên được BHXH
- Bên tham gia BHXH gồm có người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước (trong một số trường hợp) Người lao động tham gia BHXH để bảo hiểm cho chính mình trên cơ sở chia sẻ rủi ro của số đông người lao động khác Người sử dụng lao động có trách nhiệm phải bảo hiểm cho người lao động mà mình thuê mướn Khi tham gia BHXH, người sử dụng lao động còn vì lợi ích của chính họ Ở đây, người sử dụng lao động cũng thực hiện chia sẻ rủi ro với tập đoàn người sử dụng lao động, để bảo đảm cho quy trình sản xuất của họ không bị ảnh hưởng khi phát sinh nhu cầu BHXH Nhà nước tham gia BHXH với tư cách là người bảo hộ cho các hoạt động của quỹ BHXH, bảo đảm giá trị đồng vốn và hỗ trợ cho quỹ BHXH trong những trường hợp cần thiết Ngoài ra Nhà nước tham gia BHXH còn với tư cách chủ thể quản lý, định ra những chế
độ, chính sách, định hướng cho các hoạt động BHXH
- Bên BHXH, đó là bên nhận BHXH từ người tham gia BHXH Bên BHXH thường là một tổ chức do Nhà nước lập ra (ở một số nước có thể do tư nhân lập ra), nhận sự đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động, lập nên quỹ BHXH Bên BHXH có trách nhiệm thực hiện chi trả trợ cấp cho bên được BHXH có nhu cầu phát sinh và bảo tồn quỹ, làm cho quỹ BHXH phát triển
- Bên được BHXH là người lao động tham gia BHXH và thân nhân của họ (theo quy định của pháp luật) Bên được BHXH có quyền nhận các loại trợ cấp
Trang 29khi phát sinh những nhu cầu BHXH, để bù đắp thiếu hụt về thu nhập do các loại rủi ro được bảo hiểm gây ra
Giữa các bên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Trong kinh tế thị trường, bên tham gia BHXH có thể đồng thời là bên được BHXH (người lao động) Đối với người lao động độc lập, họ vừa là người tham gia BHXH vừa là người được hưởng BHXH vì họ đóng phí BHXH để bảo hiểm cho chính họ Người lao động muốn được quyền hưởng trợ cấp BHXH phải có nghĩa vụ đóng BHXH Người chủ sử dụng lao động cũng phải có nghĩa vụ đóng BHXH cho người lao động mang mình thuê mướn Sự đóng góp của bên tham gia BHXH hình thành nên quỹ BHXH Quỹ BHXH dùng để chi trả các trợ cấp khi có nhu cầu phát sinh về BHXH Các hoạt động BHXH được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, các chế độ BHXH cũng do luật định Nhà nước bảo hộ các hoạt động của BHXH
Từ những phân tích trên, có thể đi đến một khái niệm khái quát: BHXH là
sự bảo đảm bù đắp một phần hoặc thay thế thu nhập của người lao động khi
họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thấp nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết trên cơ sở đóng góp vào quỹ BHXH do Nhà nước tổ chức thực hiện
Như vậy, có thể hiểu khái niệm BHXH theo nghĩa hẹp: Là hoạt động bảo
vệ cuộc sống, sức khoẻ mọi tầng lớp dân cư trước các biến cố, các loại rủi ro
xã hội, góp phần giữ gìn sự ổn định và bảo đảm trật tự an toàn xã hội
Theo nghĩa rộng: BHXH là biện pháp của Nhà nước tạo nên mạng lưới
an sinh, góp phần thực hiện công bằng xã hội, bảo đảm ổn định tình hình chính trị, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
1.2.2.2 Bản chất của Bảo hiểm xã hội
Trang 30Thực chất BHXH là sự tổ chức "đền bù" hậu quả của những "rủi ro xã hội" hoặc các sự kiện bảo hiểm Sự đền bù này được thực hiện thông qua quá trình tổ chức và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung hình thành do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH và các nguồn thu hợp pháp khác của quỹ BHXH Như vậy, BHXH cũng là quá trình phân phối lại thu nhập Xét trên phạm vi toàn xã hội, BHXH là một bộ phận của GDP, được xã hội phân phối lại cho những thành viên khi phát sinh nhu cầu BHXH như ốm đau, sinh đẻ, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, già yếu, chết Xét trong nội tại BHXH, sự phân phối cuả BHXH được thực hiện cả theo chiều dọc và chiều ngang
Phân phối theo chiều ngang là sự phân phối của chính bản thân người lao động theo thời gian (nghĩa là sự phân phối lại thu nhập của quá trình làm việc và quá trình không làm việc) Phân phối theo chiều dọc là sự phân phối giữa những người khỏe mạnh cho người ốm đau, bệnh tật; giữa những người trẻ cho người già; giữa những người không sinh đẻ (nam giới) và người sinh đẻ (nữ giới); giữa những người có thu nhập cao và người có thu nhập thấp
BHXH mang bản chất kinh tế và bản chất xã hội Về mặt kinh tế, nhờ sự
tổ chức phân phối lại thu nhập, đời sống của người lao động và gia đình họ luôn được bảo đảm trước những bất trắc, rủi ro xã hội Về mặt xã hội, do có sự "san sẻ rủi ro" của BHXH, người lao động chỉ phải đóng góp một khoản nhỏ trong thu nhập của mình cho quỹ BHXH, nhưng xã hội sẽ có một lượng vật chất đủ lớn
trang trải những rủi ro xảy ra Ở đây, BHXH đã thực hiện nguyên tắc "lấy của số
Trang 311.2.2.3 Đặc trưng cơ bản của Bảo hiểm xã hội
- Khi đã tham gia vào hệ thống BHXH, người lao động được bảo hiểm cho đến lúc chết Khi còn làm việc, người lao động được đảm bảo khi bị ốm đau, lao động nữ được trợ cấp thai sản khi sinh con; người bị tai nạn lao động được trợ cấp tai nạn lao động; khi không còn làm việc nữa thì được hưởng tiền hưu trí, khi chết thì được chôn cất và gia đình được hưởng trợ cấp tuất Đây là đặc trưng cơ bản của BHXH mà không một loại hình bảo hiểm nào có được
- Người lao động khi tham gia BHXH có quyền được hưởng trợ cấp BHXH, tuy nhiên quyền này chỉ có thể trở thành hiện thực khi họ thực hiện đầy
đủ nghĩa vụ đóng BHXH Người chủ sử dụng lao động cũng phải có trách nhiệm đóng BHXH cho người lao động mà mình thuê mướn
- Sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, bao gồm người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước là nguồn hình thành cơ bản của quỹ BHXH Ngoài ra nguồn thu của quỹ BHXH còn có các nguồn khác như lợi nhuận từ đầu tư phần nhàn rỗi tương đối của quỹ BHXH; khoản nộp phạt của bên tham gia chậm nộp BHXH theo quy định của pháp luật và các nguồn thu hợp pháp khác Quỹ BHXH dùng để chi trả các trợ cấp BHXH và chi phí cho các hoạt động của bộ máy BHXH Như vậy, có thể thấy quỹ BHXH là một quỹ xã hội, nhưng vừa là quỹ tài chính, vừa là quỹ phát triển
- Các hoạt động BHXH được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, các chế
độ BHXH cũng do luật định Nhà nước quản lý và bảo hộ các hoạt động của BHXH BHXH còn chịu sự giám sát chặt chẽ của người lao động (thông qua tổ chức công đoàn) và người sử dụng lao động (thông qua tổ chức của giới chủ)
theo cơ chế ba bên
1.2.3 Bảo hiểm xã hội trong hệ thống An sinh xã hội
Với tư cách là một chính sách xã hội, BHXH có mối quan hệ chặt chẽ với các chính sách khác của quốc gia mà trước hết là với chính sách về an sinh xã
Trang 32hội và các chính sách xã hội khác Dưới giác độ cơ cấu, có thể mô hình hóa hệ thống chính sách xã hội như sau:
Trong hệ thống an sinh xã hội của một quốc gia gồm các bộ phận: BHXH; trợ giúp xã hội; trợ cấp gia đình; các quỹ tiết kiệm xã hội; các dịch vụ xã hội khác được tài trợ bằng nguồn vốn công cộng…Trong đó, BHXH là một trụ cột
cơ bản nhất, nhưng có mối quan hệ mật thiết với các bộ phận khác
Chính sách BHXH có mối quan hệ hữu cơ hoặc chịu ảnh hưởng bởi các chính sách xã hội khác như chính sách dân số; chính sách lao động - việc làm; chính sách chăm sóc sức khỏe dân cư Chẳng hạn, khi chính sách dân số có sự điều chỉnh (tăng hoặc giảm mức sinh) sẽ làm cho cơ cấu dân số thay đổi Điều này sẽ ảnh hưởng đến quy mô và cơ cấu đối tượng tham gia BHXH và ảnh hưởng đến việc quy định trợ cấp thai sản Chính sách dân số còn tạo ra xu hướng già hóa hoặc trẻ hóa dân số và hệ quả của nó là tăng lên hoặc giảm đi số
Chính sách xã hội
Chính sách xã hội khác
Chính sách an sinh xã hội phổ biến
Các dịch
vụ
xã hội công cộng
Chính sách
Lao động việc làm
Chính sách
Gia đình
Chính sách Chăm sóc sức khỏe dân
cư
… Chính
sách Dân
số
Chính sách Trợ giúp
xã hội
Chính
sách
BHXH
Trang 33người nghỉ hưu, buộc chính sách BHXH phải điều chỉnh (tăng hoặc giảm tuổi nghỉ hưu)
Tương tự như vậy, giữa chính sách BHXH và chính sách lao động - việc làm vừa có mối quan hệ tương tác, vừa có mối quan hệ nhân - quả Khi chính sách lao động, việc làm của quốc gia được thực hiện tốt, người lao động có công
ăn việc làm; lực lượng lao động trong xã hội sẽ là những đối tượng tham gia BHXH đông đảo Ngược lại, khi chính sách lao động việc làm không tốt, người lao động không có khả năng đóng BHXH hoặc số người thất nghiệp gia tăng sẽ tạo ra sức ép rất lớn đối với hệ thống BHXH (trợ cấp thất nghiệp)
Chính sách chăm sóc sức khỏe nhân dân có mối quan hệ đặc biệt tới chính sách BHXH Khi người dân nói chung và người lao động nói riêng được chăm sóc sức khỏe tốt, ít bị ốm đau thì chi phí từ BHXH cho các trợ cấp ốm đau sẽ giảm đi Ngược lại, khi tỷ lệ ốm đau của người lao động lớn, số tiền chi cho BHYT và trợ cấp ốm đau từ quỹ BHXH sẽ nhiều lên Hơn nữa, chính sách chăm sóc sức khỏe tốt góp phần làm tăng tuổi thọ nhân dân; khi đó, chính sách BHXH phải điều chỉnh cho phù hợp, như tăng thời gian đóng BHXH, tăng tuổi nghỉ hưu…
Bên cạnh đó, chính sách BHXH còn có mối quan hệ mật thiết với các chính sách kinh tế - xã hội khác như chính sách tài chính quốc gia, chính sách xóa đói - giảm nghèo; chính sách tiền lương; chính sách phát triển doanh nghiệp
Chính sách BHXH của một quốc gia có mối quan hệ hữu cơ hoặc chịu ảnh hưởng của hệ thống các chính sách kinh tế - xã hội khác mà trước hết là các chính sách xã hội Mỗi sự thay đổi của chính sách xã hội đều có những ảnh hưởng nhất định hoặc tích cực, hoặc tiêu cực đến chính sách BHXH
1.2.4 Một số quan điểm về Bảo hiểm xã hội trên thế giới và ở nước ta
Trang 34BHXH có lịch sử hình thành khá sớm, trong suốt quá trình phát triển của
nó đã xuất hiện nhiều quan điểm khác nhau Điều đó thể hiện tính phức tạp của BHXH, đồng thời cũng cho thấy sự phát triển của nhận thức và tư duy lý luận của BHXH trong lịch sử
Để BHXH phát triển đa dạng và phong phú như ngày nay, BHXH đã trải qua một quá trình nhận thức lâu dài Quá trình đó gắn liền với cuộc cách mạng công nghiệp Ở thời kỳ tiền công nghiệp, cứu tế xã hội được đặt lên hàng đầu để bảo đảm về mặt xã hội cho người nghèo đói Đến thời kỳ cách mạng công nghiệp, những hình thức cứu tế, tương tế đã không đáp ứng được nữa, các nhà lý luận đương thời đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau Có người cho rằng, trong
cơ chế cạnh tranh mọi người đều phải tự do sống và làm việc nên phải tự chịu trách nhiệm về bản thân mình Ngược lại, một số khác cho rằng, giai cấp công nhân là giai cấp đặc thù của nền đại công nghiệp, muốn sản xuất công nghiệp phát triển phải có sự ràng buộc nhất định giữa chủ và thợ Người thợ, trong chừng mực nào dó, phải được bảo đảm về cuộc sống
Thời kỳ hiện đại, có hai quan điểm cơ bản về BHXH trên lập trường của hai ý thức hệ: Quan điểm của các nhà mác xít mà đại diện sau này là Lênin cho rằng dưới chủ nghĩa xã hội, mọi người đều có việc làm và thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động Nhà nước bảo đảm mọi mặt về đời sống cho người dân như học tập, chữa bệnh v.v Về BHXH, Nhà nước bảo đảm cho những người lao động làm công ăn lương (chủ yếu trong khối kinh tế nhà nước) những trợ cấp bằng hiện vật hoặc bằng tiền, nhằm bù đắp phần thu nhập do họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động Quỹ BHXH do sự đóng góp của các xí nghiệp, Nhà nước (Nhà nước tài trợ) chứ không trực tiếp từ nguồn thu nhập của người lao động
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, đã hình thành hai nhóm mới thực hiện BHXH theo cách thức khác nhau Ở đa số các nước, BHXH xoay quanh việc bảo
hộ những người lao động với quan điểm hoán đổi Nghĩa là quyền hưởng BHXH
Trang 35gắn với sự cống hiến do hoạt động nghề nghiệp của người lao động và BHXH được xem như một hệ thống bảo đảm thu nhập từ hoạt động nghề nghiệp Ở một
số nước khác dựa trên quan điểm phân phối lại, có quan điểm cho rằng, xã hội phải có trách nhiệm che chắn "rủi ro xã hội" cho con người Do đó, BHXH phải bảo đảm cho mọi người một mức độ tối thiểu cơ bản nhằm thực hiện mục đích này Tuy nhiên, đến nay đã có xu hướng dung hoà hai loại quan điểm này
Ở nước ta, một thời gian dài chúng ta thực hiện BHXH theo cơ chế tập trung bao cấp Chỉ có công nhân viên chức và lực lượng vũ trang mới là đối tượng BHXH Nhà nước bảo đảm cho các đối tượng này những trợ cấp khác nhau bằng tiền hoặc hiện vật Nguồn chi trả BHXH do ngân sách nhà nước cấp trên cơ sở đóng góp của các xí nghiệp và sự tài trợ của Nhà nước, người lao động không phải trực tiếp đóng góp Ngoài trợ cấp từ BHXH, công nhân viên chức còn được hưởng phúc lợi xã hội khác, như chăm sóc y tế miễn phí, học tập không mất tiền v.v
Chuyển sang cơ chế thị trường, người lao động trong mọi thành phần kinh
tế đều có quyền bình đẳng về việc làm và hưởng thụ, trong đó có cả BHXH vì vầy, cần phải có nhận thức lại về BHXH, không phải chỉ là sự bảo đảm, sự đãi ngộ về vật chất và tinh thần đối với công nhân viên chức nữa mà là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của mọi người lao động khi họ gặp các rủi ro xã hội làm giảm hoặc mất khả năng lao động trên cơ sở sự đóng góp của các bên tham gia BHXH Với nhận thức như vậy, hệ thống BHXH ở nước ta có những đặc điểm sau:
- Về nguyên tắc, đối tượng BHXH được mở rộng cho mọi người lao động trong các thành phần kinh tế
- Tham gia BHXH là bắt buộc ở những nơi có quan hệ lao động, còn tự nguyện với người lao động khác Các bên tham gia phải đóng góp BHXH với những tỷ lệ nhất định
Trang 36Ở nước ta, Đảng và Chính phủ luôn xác định BHXH là chính sách có tính nhân văn sâu sắc, có tầm quan trọng và vai trò to lớn đối với cuộc sống con người và đối với xã hội Đảng và Chính phủ đã luôn quan tâm đến việc hình thành và phát triển chính sách BHXH
1.2.5 Sự ra đời và phát triển Bảo hiểm xã hội ở nước ta
Ngay từ khi thành lập (năm 1929), trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản
Đông dương (tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày nay) đã nêu: "Tất cả
vô sản giai cấp vào công hội thực hành bảo hiểm cho thợ thuyền; giúp đỡ thợ thuyền thất nghiệp "
Sau đó, tại Hội nghị Trung ương tháng 11/1942, Đảng ta đã ra Nghị quyết
sẽ đặt ra Luật BHXH khi thiết lập được chính quyền cách mạng và tạo lập quỹ hưu bổng cho thợ thuyền già [9, tr.7] Để cụ thể hoá chủ trương này, năm 1941
trong Chương trình Việt Minh đã đề ra chính sách xã hội đối với những người làm công ăn lương: Đối với công nhân thực hiện cứu tế thất nghiệp; xã hội bảo hiểm; công nhân già có lương hưu trí Đây là một trong những chủ trương thể hiện tầm nhìn chiến lược sâu sắc của Đảng ta trong lãnh đạo cách mạng, giành độc tự do, hạnh phúc cho nhân dân Từ đây, chính sách BHXH đã có mầm mống hình thành và ngày càng phát triển theo nhiều giai đoạn phù hợp với tiến trình phát triển của lịch sử nước nhà
Theođó,chính sáchBHXH được thực hiện ở Việt Nam từ năm 1945 và đã trải qua nhiều lần bổ sung, sửa đổi đặc biệt trong các năm 1961, 1985 và
1995. Năm 1961, một Nghị định của Chính phủ được ban hành để cung cấp các dịch vụ phúc lợi xã hội cho tất cả các cán bộ, viên chức làm việc trong ngành nội chính, giáo dục,y tế, các doanh nghiệp nhà nước, nội vụ Hệ thống này chỉ chịu trách nhiệm bảo hiểm cho khoảng 600.000 - 700.000 người trên tổng số dân là
17 triệu người của miền Bắc Việt Nam (theo số liệu năm 1962) Năm 1964, Nghị
Trang 37định 218 thực hiện BHXH cho quân nhân Từ năm 1975, chính sách BHXH được thực hiện thống nhất trong cả nước Chế độ BHXH bao gồm: trợ cấp hưu trí, mất sức lao động và tử tuất, cùng với các chế độ ốm đau, thai sản và tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp do cơ quan, đơn vị và doanh nghiệp đóng góp
Trước năm 1995, BHXH do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm quản lý thực hiện về các chế độ trợ cấp dài hạn (hưu trí, tử tuất, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đối với người nghỉ việc), Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam chịu trách nhiệm quản lý thực hiện các khoản chi trả trợ cấp ngắn hạn (trợ cấp đau ốm, thai sản và tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đối với người đang làm việc)
Từ tháng 01/1995, Bộ Luật Lao động có hiệu lực, trong đó có chương XII
về BHXH Để hướng dẫn thực hiện Bộ Luật Lao động, ngày 16/02/1995, Chính phủ ban hành Nghị định số 19/CP thành lập hệ thống BHXH Việt Nam để giúp Thủ tướng Chính phủ tổ chức thực hiện các chính sách, chế độ về BHXH và quản lý quỹ BHXH Ngày 26/01/1995, Chính phủ ban hành Nghị định số 12/CP
về Điều lệ BHXH đối với dân sự với 5 chế độ BHXH: chế độ trợ cấp ốm đau; trợ cấp tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp; chế độ hưu trí và chế độ tử tuất Và ngày 15/7/1995, Chính phủ ban hành Nghị định số 45 quy định về BHXH đối với quân sự (quân đội, công an) Trong hai Nghị định của Chính phủ có quy định
về hình thành quỹ BHXH trên cơ sở thu BHXH bao gồm người sử dụng lao động đóng 15% quỹ tiền lương và người lao động đóng 5% tiền lương hàng tháng Quỹ này được sử dụng để chi cho 5 chế độ trên Quỹ BHXH được bảo tồn, tăng trưởng và được Nhà nước bảo hộ theo quy định của pháp luật
Ngày 24/12/2002, Chính phủ có Quyết định số 20/2002/QĐ- TTg chuyển
hệ thống BHYT trực thuộc Bộ Y tế sang BHXH Việt Nam và ngày 6/12/2002, Chính phủ ban hành Nghị định số 100/2002/NĐ - CP quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của BHXH (bao gồm cả BHYT) Theo đó, kể
Trang 38từ tháng 01/2003, BHYT là một trong 6 chế độ trợ cấp BHXH, mức đóng góp BHYT của người sử dụng lao động là 2% quỹ tiền lương và người lao động đóng 1% tiền lương hàng tháng
Ngày 29/6/2006, Quốc hội khoá 11 thông qua Luật BHXH, quy định về chế độ, chính sách BHXH; quyền và trách nhiệm của người lao động, của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia BHXH; tổ chức BHXH; quỹ BHXH; thủ tục thực hiện BHXH và quản lý nhà nước về BHXH Luật BHXH quy định việc thực hiện BHXH bắt buộc đối với cán bộ, công chức, người lao động trong các
cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp với các chế độ trợ cấp: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, hưu trí và tử tuất; BHXH tự nguyện áp dụng từ 01/01/1/2008 với các chế độ trợ cấp hưu trí, tử tuất; BHXH thất nghiệp thực hiện
từ 01/01/2009
1.3 Mối quan hệ giữa Báo chí với Bảo hiểm xã hội
1.3.1 Vai trò của Báo chí trong đời sống xã hội
Báo chí là một trong những hệ thống xã hội, có quan hệ mật thiết với các yếu tố kiến trúc thượng tầng Báo chí là loại hình hoạt động thông tin chính trị -
xã hội Sự ra đời, tồn tại và phát triển của báo chí không có mục đích tự thân, mà luôn gắn bó chặt chẽ với cuộc sống - xã hội - con người
Là một loại hình hoạt động đặc thù, ra đời do những nhu cầu khách quan của xã hội đã phát triển đến một trình độ nhất định của văn minh nhân loại, báo chí mang trong mình những tiềm năng có ý nghĩa rất to lớn đối với xã hội Chính những tiềm năng đó đã quy định tính chất khách quan của các chức năng của báo chí Nói cách khác, bản thân sự ra đời và tồn tại của báo chí đã khẳng định một cách khách quan vai trò, tác dụng và ý nghĩa của báo chí cũng chính là chức năng xã hội của nó Lý luận báo chí Mác – Lênin và thực tiễn hoạt động của các phương tiên thông tin đại chúng cho thấy báo chí có các chức năng cơ bản là: chức năng tư tưởng, chức năng quản lý, giám sát và phản biện xã hội và chức
Trang 39năng văn hóa, giải trí
Trong đời sống chính trị - xã hội, báo chí giữ vai trò hết sức quan trọng Bất kỳ một lực lượng cầm quyền nào trong các quốc gia trên thế giới đều sử dụng báo chí như một công cụ để tác động vào tư tưởng, tình cảm của công chúng, nhằm tạo ra ở họ những nhận thức mới, những định hướng có giá trị trong cuộc sống
Báo chí không chỉ là vũ khí tư tưởng sắc bén, lợi hại mà còn là người tuyên truyền tập thể, cổ động tập thể, tổ chức tập thể Báo chí là công cụ, vũ khí trên mặt trận tư tưởng - văn hoá, là công cụ tham gia quản lý xã hội; Báo chí thông tin và phản ánh toàn diện đời sống xã hội Không một đề tài báo chí nào, không một nguồn thông tin nào lại không bắt nguồn từ hoạt động của con người
Trong lĩnh vực kinh tế, báo chí không chỉ dừng lại trong việc cung cấp thông tin thuần tuý, mà còn có thể hướng dẫn thị trường, hướng dẫn việc áp dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới, giới thiệu những mô hình, điển hình tiên tiến trong sản xuất và kinh doanh Với việc phổ biến các kinh nghiệm thành công hay thất bại trong quản lý, kinh doanh và áp dụng công nghệ mới, tiết kiệm chi phí trong sản xuất, báo chí góp phần tạo nên hiệu quả kinh tế lớn cho xã hội
Trong lĩnh vực văn hoá xã hội, thông qua kênh báo chí công chúng có thể tiếp thu và làm giàu thêm vốn tri thức văn hoá cho mình Báo chí có nhiệm vụ và vai trò to lớn trong việc nâng cao nhận thức, thẩm mỹ, giáo dục và giải trí đối với nhân dân; một mặt tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại, mặt khác giữ gìn và phát huy bản sắc, truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc Thông qua các sản phẩm của mình, báo chí có vai trò truyền bá những tiêu chuẩn và các giá trị tinh thần; xây dựng ý thức công dân, định hướng công chúng đến với chân - thiện - mỹ
Báo chí ở nước ta là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của các tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ
Trang 40chức xã hội; là diễn đàn của nhân dân Báo chí có nhiệm vụ thông tin trung thực
về tình hình trong nước và thế giới phù hợp với lợi ích của đất nước và của nhân dân; Tuyên truyền, phố biến, góp phần xây dựng và bảo về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thành tựu của đất nước và thế giới theo tôn chỉ mục đích của cơ quan báo chí; Góp phần ổn định chính trị, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu văn hoá lành mạnh của nhân dân, bảo vệ và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; Phản ánh và hướng dẫn dư luận xã hội, làm diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của nhân dân; Phát hiện, nêu gương người tốt, việc tốt, nhân tố mới, đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật và các hiện tượng tiêu cực khác
Trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, với nền kinh tế tri thức, toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế, báo chí càng có vai trò to lớn tuyên truyền phổ biến chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; động viên toàn Đảng, toàn dân vượt qua mọi khó khăn thử thách, năng động sáng tạo, giữ vững ổn định chính trị, cổ vũ mạnh mẽ các nhân tố tích cực đi liền với việc phê phán các hành vi tiêu cực, là vũ khí sắc bén tuyên truyền, giáo dục, tập hợp, tổ chức và vận động nhân dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh "Xã hội càng phát triển, thông tin báo chí càng
có vai trò to lớn Với nội dung thông tin có tính định hướng đúng đắn chân thật,
có sức thuyết phục, báo chí xuất bản có khả năng hình thành dư luận xã hội, dẫn đến hành động xã hội phù hợp sự vận động của hiện thực theo những chiều hướng có chủ định Báo chí, xuất bản không chỉ là vũ khí tư tưởng sắc bén, lợi hại mà còn là người cổ động tập thể, người tổ chức tập thể, điều này càng đúng trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay" [4, tr.38]