Những tác phẩm này đã để lại cho độc giả một ấn tượng sâu đậm về bức tranh hiện thực của cuộc sống và con người Hà Nội cũng như phong cách nghệ thuật của nhà văn Tô Hoài qua thể hồi kí..
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Nội, 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ THỊ THƯƠNG
HỒI KÍ VỀ HÀ NỘI CỦA TÔ HOÀI
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 602232
Người hướng dẫn khoa học:
TS Nguyễn Văn Nam
Hà Nội - 2012
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU Trang
1 Lí do chọn đề tài……….3
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề……… 4
3 Đối tượng, phạm vi và mục đích nghiên cứu……… 8
4 Phương pháp nghiên cứu……… 9
5 Cấu trúc của luận văn……… 9
CHƯƠNG 1 KHÁI LƯỢC VỀ HỒI KÍ VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC HỒI KÍ CỦA TÔ HOÀI 1.1 Về thể loại hồi kí trong Văn học Việt Nam, từ truyền thống đến hiện đại……… 10
1.2 Hành trình sáng tác hồi kí của Tô Hoài……….13
1.2.1 Sơ lược tiểu sử……… 13
1.2.2 Hành trình sáng tác……….14
1.2.3 Hồi kí của Tô Hoài……… 16
1.3 Đặc điểm hồi kí của Tô Hoài ………18
1.4 Đề tài Hà Nội trong sáng tác của Tô Hoài nói chung và trong hồi kí nói riêng……… 21
CHƯƠNG 2 BỨC TRANH HIỆN THỰC VỀ CUỘC SỐNG VÀ CON NGƯỜI HÀ NỘI 2.1 Con người trong hồi kí về Hà Nội của Tô Hoài……… 30
2.1.1 Cái tôi tác giả……… 30
2.1.2 Những người thân trong gia đình……… 35
2.1.3 Những con người lao động 39
2.1.4 Chân dung văn nghệ sĩ 45
2.2 Văn hoá ẩm thực và phong tục Hà Nội 51
Trang 42.2.1 Văn hoá ẩm thực Hà Nội 51
2.2.2 Văn hoá phong tục Hà Nội 60
2.2.3 Trang phục của người Hà Nội……… 65
2.3 Cảnh sắc thiên nhiên Hà Nội……… 67
CHƯƠNG 3 PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT TÔ HOÀI QUA SÁNG TÁC THỂ HỒI KÍ VỀ ĐỀ TÀI HÀ NỘI 3.1 Khái niệm phong cách trong văn học………73
3.2 Không gian nghệ thuật ……… 75
3.2.1 Không gian lịch sử……… 75
3.2.2 Không gian đường phố………77
3.2.3 Không gian làng quê ngoại thành Hà Nội………81
3.2.4 Không gian căn phòng……… 83
3.3 Thời gian nghệ thuật ……….87
3.3.1 Thời gian đồng hiện chồng chéo……… 87
3.3.2 Thời gian lịch sử……….91
3.4 Ngôn ngữ trần thuật……… 94
3.4.1 Từ ngữ địa phương……… 95
3.4.2 Thành ngữ, từ ngữ điển tích………97
3.5 Giọng điệu trần thuật……….99
3.5.1 Giọng điệu hóm hỉnh………100
3.5.2 Giọng điệu suồng sã tự nhiên………103
3.5.3 Giọng điệu trữ tình………105
KẾT LUẬN………108
TÀI LIỆU THAM KHẢO………111
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Tô Hoài là một trong những nhà văn lớn của nền văn học hiện đại
Việt Nam Mười bảy tuổi, Tô Hoài đã có một số sáng tác thơ đăng trên Tiểu
thuyết thứ Bảy (Tiếng reo, Đan áo ) Những bài thơ non nớt về nghệ thuật đã
giúp ông hiểu mình và ông sớm chuyển hướng Từ giã vườn thơ, ông đến với cánh đồng văn xuôi, từ chân trời lãng mạn, ông đến với chủ nghĩa hiện thực tỉnh táo tuy vẫn mang chất trữ tình Cảnh đời thường đã có sức thu hút, hấp dẫn mãnh liệt đối với ngòi bút của nhà văn Tô Hoài Với hơn sáu mươi năm viết, ông đã để lại cho nền văn học hiện đại một khối lượng tác phẩm đồ sộ, hiếm ai trong các nhà văn hiện đại so sánh được Hầu như, ở độ tuổi nào ông cũng có tác phẩm Vương Trí Nhàn đã từng đánh giá về sức sáng tác của nhà văn Tô Hoài: “Vừa vào nghề sớm lại vừa kéo dài tuổi nghề, một sự kéo dài đàng hoàng chứ không phải lê lết trong tẻ nhạt - đời văn Tô Hoài gợi ra hình ảnh một dòng sông miên man chảy mang trong mình cả cuộc sống bất tận” [19; 180] Hay như G.S Hà Minh Đức đã nhận xét: “Tô Hoài là một cây bút văn xuôi sắc sảo và đa dạng” [19; 130]
Tô Hoài sáng tác rất nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, truyện dài, hồi kí, kịch bản phim, tiểu luận và kinh nghiệm sáng tác trong đó hồi kí là thể loại có vị trí đặc biệt thể hiện đậm nét phong cách nghệ thuật của nhà văn Tô Hoài Trong sáng tác của mình, tính từ khi khởi nghiệp văn năm 1940, Tô Hoài chuyên viết và có đóng góp đặc sắc trên bốn mảng đề tài lớn: vùng quê ngoại thành Hà Nội - hiện tại và lịch sử; miền núi Tây Bắc, Việt Bắc trong cách mạng, kháng chiến và xây dựng chủ nghĩa xã hội, sáng tác cho thiếu nhi; chân dung và hồi ức Trong đó mảng sáng tác về Hà Nội được chú ý nhiều hơn cả
1.2 Hà Nội - mảnh đất ngàn năm văn hiến Đó là một Hà Nội êm đềm với liễu rủ và mong manh sương khói phủ Tây Hồ Những con đường trải dài
Trang 6với hàng cây xanh tỏa bóng mát, mùi hoa sữa nồng nàn trong cái lạnh heo may của đầu đông Hà Nội, là mùi thơm nồng của cốm làng Vòng, vị mát dịu của sen Hồ Tây Tất cả hòa quyện để mang đến một vị đặc trưng riêng cho Hà Nội
Hà Nội đó còn là nơi “lắng hồn núi sông ngàn năm”, nơi ghi dấu biết
bao chiến công lừng lẫy của quân và dân Hà Nội Hơn 1000 năm đã trôi qua, Thăng Long - Hà Nội có cả một chiều dài và bề dày lịch sử cùng huyền thoại dựng nước, giữ nước hào hùng của dân tộc Từng viên gạch nhỏ, từng hạt bụi phủ mờ rêu phong trên mái ngói thâm nâu của Hà Nội đã in dấu vết chiến tranh Và cũng chính nơi ấy, người ta đã không khỏi suýt xoa:
“Chẳng thơm cũng thể hoa nhài Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”
Chính vì vậy Hà Nội là đề tài, là cảm hứng không bao giờ vơi cạn đối với các nhạc sĩ, và các nhà thơ, nhà văn đặc biệt là đối với nhà văn Tô Hoài - một người được sinh ra, lớn lên gắn bó với quê ngoại là làng Nghĩa Đô, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (nay thuộc quận Cầu Giấy, Hà Nội)
1.3 Cỏ dại (1944), Cát bụi chân ai (1992), Chuyện cũ Hà Nội (1998) là
những tác phẩm hồi kí đặc sắc của Tô Hoài về đề tài Hà Nội Những tác phẩm này đã để lại cho độc giả một ấn tượng sâu đậm về bức tranh hiện thực của cuộc sống và con người Hà Nội cũng như phong cách nghệ thuật của nhà văn
Tô Hoài qua thể hồi kí
Tìm hiểu về nhà văn Tô Hoài ta thấy, lâu nay các nhà nghiên cứu phê bình văn học đã dành nhiều sức lực, tâm huyết nghiên cứu cho những sáng tác
có giá trị của Tô Hoài Nhưng vấn đề “Hồi kí về Hà Nội của Tô Hoài” lại chưa
được nhiều người chú trọng và quan tâm Nhận thấy điều đó, cho nên chúng
tôi đã quyết định chọn “Hồi kí về Hà Nội của Tô Hoài” làm đề tài cho luận
văn của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trang 7Bàn về giá trị văn chương Tô Hoài, xưa nay có rất nhiều ý kiến của các nhà văn, các nhà lý luận và phê bình văn học, nhưng nghiên cứu về thể loại hồi
kí đặc biệt là đề tài “Hồi kí về Hà Nội của Tô Hoài” thì cho đến nay chỉ có một
vài bài viết và ý kiến nằm rải rác trong các công trình mang tính khái quát Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ điểm qua những nhận xét có liên quan đến hồi kí nói chung và những vấn đề có liên quan đến đối tượng nghiên cứu
của đề tài: “Hồi kí về Hà Nội của Tô Hoài”
Người đầu tiên nghiên cứu văn chương Tô Hoài là nhà nghiên cứu phê
bình Vũ Ngọc Phan Trong cuốn Nhà văn hiện đại, khi giới thiệu về Tô Hoài,
Vũ Ngọc Phan đã có những đánh giá rất thiết thực và ý nghĩa về phong cách viết tiểu thuyết của Tô Hoài “Tiểu thuyết của Tô Hoài thuộc loại tả chân” nhưng Tô Hoài “có khuynh hướng về xã hội” Vũ Ngọc Phan cũng khẳng định
Tô Hoài “là một nhà tiểu thuyết có con mắt quan sát sâu sắc” [19;53]
nhận xét rất tổng quát về các cuốn hồi kí của Tô Hoài từ Cỏ dại đến Chiều
chiều GS cho rằng: “Tô Hoài không chỉ là người có sức nhớ kỹ, nhớ dai mà
hơn thế, những cái sống, cái nhớ của ông luôn dư đầy, là luôn luôn có mặt trong hiện tại Một quá khứ luôn luôn được dồn về hiện tại, được hiện tại hóa - nhưng vẫn trong trang phục của quá khứ - đó là Tô Hoài” [19;40]
Qua bài viết Tô Hoài qua Tự truyện, PGS Vân Thanh lại nhận ra rằng:
“Nhưng dẫu gần hoặc xa, dẫu là chuyện bản thân hoặc gia đình, làng xóm đâu đâu, qua những trang hồi ức của Tô Hoài, cũng vẫn một màu xám, một điệu buồn như vậy Một cái buồn thấm vào tất cả từng tế bào, từng chân lông của cơ thể xã hội… Tôi cho là Tô Hoài đã thực sự có đóng góp vào văn học ta mảng sống buồn bã, vật lộn của một thế hệ tuổi thơ - hoặc được nhìn qua cách nhìn trẻ thơ để nói một cái gì bản chất của cuộc đời cũ Mảng sống đó rất có nét
Trang 8dáng, góc cạnh, trước hết vì khả năng nhớ dai và rất động ở ký ức của Tô Hoài” [19;399]
Tác giả Phạm Việt Chương trong Những gương mặt - Chân dung văn
học Tô Hoài, cũng có nhận xét xác thực: “Chúng ta gặp lại Tô Hoài, tác giả
của những tác phẩm phiêu lưu kỳ thú, khi anh viết về một loạt tác giả Việt Nam mà bạn đọc hằng yêu mến Một điều dễ nhận, Tô Hoài sống, lăn lóc cùng các bạn văn thơ của mình viết về họ bằng bút pháp tả thực Hiện thực trần trụi đọng lại thành kỷ niệm Giọng văn hóm hỉnh mà không khinh bạc, anh điểm
những câu kết gây cho người đọc nụ cười cố quên đi nỗi buồn nào do anh vừa
kể qua…”[19;404]
Trong cuộc trao đổi giữa Xuân Sách và Trần Đức Tiến về Cát bụi chân
ai, Trần Đức Tiến đã nhận xét: “Có thể nói, bằng cuốn sách của mình, lần đầu
tiên ông đã cho thế hệ cầm bút chúng tôi nhìn một số nhân vật lớn của văn chương nước nhà từ một cự ly gần…Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyễn Huy Tưởng thì không nói làm gì – các ông đã trở thành người thiên cổ từ khi chúng tôi chưa ra đời, hoặc còn bé xíu Còn Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, chúng tôi cũng hầu như không có cơ hội để gần gũi, thậm chí để biết mặt Không có một nhịp cầu liên hệ nào khác giữa các ông với chúng tôi, ngoài chính tác phẩm của các ông – những tác phẩm mà hàng chục năm mài đũng quần trên ghế nhà trường, chúng tôi chỉ có việc ra sức tìm bằng được những cái hay, cái tuyệt! Bây giờ, qua Tô Hoài, chúng tôi được “nhìn” gần – một khoảng cách tàn nhẫn, nhưng chính vì thế mà chân thực và sâu sắc” [19;413]
Năm 2005, Mai Thị Nhung đã cho công bố Phong cách nghệ thuật Tô
Hoài (luận án Tiến sĩ Ngữ Văn trường Đại học sư phạm Hà Nội) Trong luận
án này, tác giả đã đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu về cảm quan hiện thực đời thường - hạt nhân phong cách nghệ thuật Tô Hoài, những biểu hiện cụ thể của phong cách nghệ thuật nhà văn trên các phương diện: thế giới nhân vật, giọng
Trang 9điệu và ngôn ngữ Đây là công trình nghiên cứu công phu và khá toàn diện về phong cách nghệ thuật của nhà văn Luận án này góp thêm một tiếng nói khẳng định vị trí vững vàng của Tô Hoài trong nền văn học hiện đại Việt Nam
Không chỉ tìm hiểu và nghiên cứu phong cách nghệ thuật Tô Hoài trong Luận án Tiến sĩ Ngữ Văn của mình mà năm 2009, TS Mai Thị Nhung đã hướng dẫn Học viên Cao học Nguyễn Hoàng Hà đề tài “Cái nhìn không gian
và thời gian nghệ thuật trong hồi kí của Tô Hoài (Qua hồi kí Cát bụi chân ai và
Chiều chiều) Luận văn là công trình đầu tiên có tính chất chuyên biệt về vấn
đề trên Luận văn vừa kế thừa những nhận định, đánh giá của các nhà nghiên cứu đi trước, vừa tìm tòi, lựa chọn một số phương diện tiêu biểu trong thế giới nghệ thuật của nhà văn và đặt chúng trong mối quan hệ thống nhất hữu cơ, để
từ đó nêu bật những đặc điểm thi pháp: cái nhìn, không gian và thời gian nghệ thuật trong hồi kí của Tô Hoài
Thạc sĩ Nguyễn Thị Ái Vân với đề tài “Đặc điểm nghệ thuật tự truyện
và hồi kí của Tô Hoài” năm 2011 đã đi sâu vào tìm hiểu những đặc điểm nổi bật về tự truyện và hồi kí trên các phương diện: Tự truyện, hồi kí - những vấn
đề lý thuyết thể loại; Nghệ thuật trần thuật trong hồi kí, tự truyện của Tô Hoài; Nghệ thuật tái tạo, tái hiện hồi ức và tiếng nói của cái tôi trong hồi kí và tự truyện của Tô Hoài Từ đó giúp người đọc có cái nhìn đầy đủ và toàn diện về phong cách văn chương của ông
Nhìn chung các nhà nghiên cứu đều khẳng định vai trò và những đặc điểm riêng trong các tập hồi kí của Tô Hoài Các tập hồi kí này có giá trị đánh dấu vị trí quan trọng trong toàn bộ sáng tác của tác giả Các tập hồi kí của Tô Hoài đã cho chúng ta một cái nhìn toàn diện hơn về cuộc sống và con người trong những giai đoạn lịch sử khác nhau Nhưng các nhà nghiên cứu mới chỉ dừng ở việc tìm hiểu và đánh giá về thể loại hồi kí của Tô Hoài, còn đối với đề tài Hà Nội thì có rất ít công trình nghiên cứu Nói về đề tài này, thì tác giả
Trang 10Hoài Anh trong bài viết Tô Hoài, nhà viết về Hà Nội đặc sắc và phong phú đã
có nhận xét về Tô Hoài: “Tô Hoài rất am hiểu Hà Nội Ngoài vốn sống trực tiếp, ông còn tạo vốn sống gián tiếp bằng cách chăm chỉ đọc báo, hàng ngày ghi chép tỉ mỉ những chi tiết về giá cả sinh hoạt chợ búa, tiếng nhà nghề, tiếng lóng, tiếng “thời đại”, những mốt quần áo, bài hát, trò chơi…thông dụng trong từng giai đoạn” [19;74]
Vì vậy, tiếp thu và phát triển ý kiến của những người đi trước, chúng tôi
đi sâu nghiên cứu vấn đề: “Hồi kí về Hà Nội của Tô Hoài” với mong muốn tìm
hiểu bức tranh hiện thực về cuộc sống và con người Hà Nội cũng như phong cách nghệ thuật của nhà văn Tô Hoài qua thể hồi kí
3 Đối tƣợng, phạm vi và mục đích nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn đi sâu nghiên cứu vào vấn đề: “Hồi kí về Hà Nội của Tô
Hoài”
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Tô Hoài sáng tác khá nhiều tác phẩm thuộc thể hồi kí Tuy nhiên phạm
vi khảo sát của Luận văn chỉ gồm ba tác phẩm tiêu biểu thuộc thể loại hồi kí
viết về đề tài Hà Nội của Tô Hoài:
- Cỏ dại, Nhà xuất bản trẻ, 1998
- Cát bụi chân ai, Nhà xuất bản Hội nhà văn, 1992
- Chuyện cũ Hà Nội, Nhà xuất bản Hà Nội, 2000
3.3 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu các tác phẩm hồi kí viết về đề tài Hà Nội của Tô Hoài để thấy được bức tranh hiện thực về cuộc sống và con người Hà Nội cũng như phong cách nghệ thuật của nhà văn qua thể hồi kí Từ đó có cái nhìn đầy đủ và toàn diện hơn về đóng góp của Tô Hoài cho nền văn xuôi Việt Nam hiện đại, đặc biệt là trong thể loại hồi kí
Trang 114 Phương pháp nghiên cứu
Trong Luận văn này, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp sau:
4.1 Phương pháp phân tích - tổng hợp: Chúng tôi tập trung vào t́ìm hiểu và
phân tích những quan điểm, cách hiểu về thể loại hồi kí từ truyền thống đến hiện đại, đặc điểm hồi kí của Tô Hoài, tổng hợp kết quả phân tích để chứng minh cho các đặc điểm này
4.2 Phương pháp so sánh đối chiếu đồng đại và lịch đại: Chúng tôi tiến
hành so sánh, đối chiếu hồi kí Tô Hoài với hồi kí của các nhà văn sáng tác trước Tô Hoài và các nhà văn cùng thời với Tô Hoài, để thấy những đặc điểm riêng trong các tác phẩm hồi kí của Tô Hoài; đối chiếu, so sánh sáng tác về đề tài Hà Nội với các nhà văn khác để thấy được những nét đặc sắc trong cách thể hiện và khai thác về đề tài này
4.3 Phương pháp hệ thống: Chúng tôi đặt hồi kí của Tô Hoài trong hệ thống
tác phẩm ở thể loại khác của ông như truyện ngắn, tiểu thuyết để thấy được những nét riêng biệt của thể loại hồi kí và sự vận động cũng như hành trình sáng tác hồi kí của Tô Hoài
4.4 Phương pháp thống kê: Chúng tôi tiến hành thống kê để tìm ra những nét
đặc sắc về cách sử dụng ngôn ngữ, giọng điệu trần thuật, không gian và thời gian nghệ thuật trong hồi kí của Tô Hoài
5 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Phần Nội dung của Luận văn gồm ba
chương:
Chương 1 Khái lược về hồi kí và hành trình sáng tác hồi kí của Tô Hoài Chương 2 Bức tranh hiện thực về cuộc sống và con người Hà Nội
Chương 3 Phong cách nghệ thuật Tô Hoài qua sáng tác thể hồi kí
Cuối cùng là Tài liệu tham khảo
Trang 12CHƯƠNG 1 KHÁI LƯỢC VỀ HỒI KÍ VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC
HỒI KÍ CỦA TÔ HOÀI 1.1 Về thể loại hồi kí trong Văn học Việt Nam, từ truyền thống đến hiện đại
Trong văn xuôi, bên cạnh tiểu thuyết, các thể kí văn học có một tầm quan trọng đặc biệt Kí văn học là thể loại cơ động, linh hoạt, nhạy bén trong việc phản ánh hiện thực ở cái thế trực tiếp nhất, ở những nét sinh động và tươi mới nhất Tác phẩm kí vừa có khả năng đáp ứng được những yêu cầu bức thiết của thời đại, đồng thời vẫn giữ được tiếng nói vang xa sâu sắc của nghệ thuật
Kí thiên về ghi chép sự thật – chuộng sự xác thực của sự kiện, chi tiết, con người Kí không chấp nhận sự cẩu thả, tùy tiện Bất cứ sự bịa đặt, thêm thắt nào cũng làm cho kí bị nghi ngờ và mất lòng tin cậy của độc giả Tuy vậy kí không phải là loại văn ghi chép khô khan Nó có đủ phẩm chất văn học như có giọng điệu, tính đa nghĩa, tính gợi cảm, và có chỗ hư cấu để tăng sức biểu hiện chủ quan Trong kí, tác giả nhân danh mình đưa ra lời phát ngôn tự do về những suy nghĩ, cảm xúc của mình Khác với tiểu thuyết, chủ thể phát ngôn có
xu hướng hư cấu, vô danh, tác giả kí khẳng định vai trò của tác giả đích thực
của mình đối với người đọc
Bao gồm nhiều thể khác nhau như kí sự, phóng sự, tùy bút, hồi kí, nhật kí…nên tính chất cơ động của kí còn thể hiện ở chỗ kí có khả năng bám sát cuộc sống, phản ánh linh hoạt hiện thực bằng nhiều dạng thức khác nhau Kí không gò bó người viết trong một phương thức biểu hiện và một phong cách duy nhất mà mở rộng, thừa nhận nhiều hình thức và phong cách khác nhau Các thể kí văn học là nơi quy tụ và chọn lọc vào cửa ngõ nghệ thuật nhiều
ngọn nguồn hoạt động ý thức và ghi chép về đời sống
So với các thể loại văn học khác, sự phân loại trong kí có những phức tạp về mặt cấu tạo cũng như việc xác định ranh giới thể loại Căn cứ vào nội
Trang 13dung, mục đích của người viết, tính chất của sự kiện được kể lại, mức độ của các yếu tố tự sự, trữ tình, chính luận để phân chia thành các thể loại khác nhau: phóng sự, kí sự, hồi kí, truyện kí, tùy bút, du kí…Sự phân chia này cũng chỉ mang tính chất tương đối Trong các loại kí tự sự, hồi kí cũng là một thể văn
quan trọng
Có rất nhiều nhà nghiên cứu đưa ra khái niệm hồi kí, trong đó các tác
giả cuốn Từ điển thuật ngữ văn học đã đưa ra khái niệm: “Hồi kí là một thể
loại thuộc loại hình kí, kể lại những biến cố đã xảy ra trong quá khứ mà tác giả
là người tham dự hoặc chứng kiến” [16;152]
Xét về phương diện quan hệ giữa tác giả với sự kiện được ghi lại về tính chính xác của sự kiện, về góc độ và phương thức biểu đạt, hồi kí có nhiều chỗ gần với nhật kí Tuy nhiên khác với nhật kí, do đặc thù thời gian đã lùi xa, sự kiện trong hồi kí có thể bị nhớ nhầm hoặc tưởng tượng thêm mà người viết không tự biết Còn về phương diện tư liệu, về tính xác thực và không có hư cấu thì hồi kí lại gần với văn xuôi lịch sử, tiểu sử khoa học Hồi kí là những ghi chép có tính suy tưởng của cá nhân về quá khứ, một dạng gần như tự truyện của tác giả Hồi kí cung cấp những tư liệu quá khứ mà đương thời tác giả chưa
có điều kiện nói được
Khác với sử gia và nhà viết tiểu sử, người viết hồi kí chỉ tiếp nhận và ghi chép phần hiện thực mà tác giả nhìn rõ hơn cả dựa trên cơ sở những ấn tượng
và hồi ức riêng trực tiếp của mình Hơn nữa, bản thân người viết hồi kí luôn luôn được mô tả trình bày ở bình diện thứ nhất Hồi kí có đặc điểm là chủ thể trần thuật phải là người trong cuộc, kể lại những sự việc trong quá khứ Hồi kí
có thể nặng về người hay việc, có thể theo dạng kết cấu – cốt truyện hoặc dạng
kết cấu liên tưởng
Hồi kí thường khó tránh khỏi tính phiến diện và ít nhiều chủ quan của thông tin, tính không đầy đủ của sự kiện, song nội dung của nó do sự diễn đạt
Trang 14sinh động trực tiếp của cá nhân tác giả lại có một giá trị như là một tài liệu xác thực đáng tin cậy
Hồi kí ghi lại diễn biến của câu chuyện và nhân vật theo bước đi của thời gian qua dòng hồi tưởng Người viết hồi ký kể lại những điều mà mình có dịp quan sát hoặc nghe trực tiếp, những sự việc và con người để lại những ấn tượng sâu sắc, gắn bó với những kỉ niệm riêng, nhưng đồng thời lại có cả một nội dung xã hội phong phú
Trong giai đoạn Văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX cho đến năm 1945, nói đến diện mạo lịch sử kí Việt Nam cần phải ghi nhận vai trò của nhiều cây bút đã viết ghi chép, phóng sự, điều tra, nhật kí, hồi kí Trong đó về hồi kí có
Lê Văn Hiến với Ngục Kon Tum (1938) đã kể lại cuộc sống lao tù khắc nghiệt
nhưng đầy quả cảm của những người cách mạng
Trong văn xuôi những năm 90 vài năm gần đây, thể hồi kí phát triển nhiều trong văn học Việt Nam Người ta thường viết hồi kí về những sự kiện lịch sử tiêu biểu, những nhân vật tiêu biểu Chúng ta đã có những hồi kí về Cách mạng tháng Tám, hồi kí về Điện Biên, hồi kí về Bác Hồ Một số hồi kí
như Sống như Anh của Trần Đình Vân và Bất khuất của Nguyễn Đức Thuận có
giá trị về xã hội và cả về mặt văn học Đối tượng miêu tả của hồi kí thường là những nhân vật xuất sắc trong lịch sử như cuộc đời của những nhà hoạt động chính trị, các anh hùng chiến sĩ với nhiều kì tích và công lao
Một loạt hồi kí của các nhà văn đã đem lại cho người đọc những hiểu biết cụ thể, sinh động và xác thực về xã hội, lịch sử, về đời sống văn học và gương mặt một số nhà văn ở những thời kì đã qua Hồi kí nở rộ trong đời sống văn học ngày càng thu hút sự quan tâm của độc giả hiện đại Bởi hồi kí cũng là một cách thể hiện nhu cầu khám phá đời sống Các tác giả không chỉ xây dựng được diện mạo của người cùng thời mà qua chuyện của mình phác hoạ được gương mặt của thời đại Nói như nhà thơ Huy Cận: “Viết hồi kí là sống lại một
Trang 15lần nữa cuộc đời mình, cũng là san sẻ cho người trong thiên hạ vui buồn của mình, thân phận của mình và phần nào những trải nghiệm dọc đời đã sống”
Các tác phẩm tiêu biểu như Miền thơ ấu (Vũ Thư Hiền), Tuổi thơ im lặng (Duy Khán), Tuổi thơ dữ dội (Phùng Quán), Đặng Thai Mai hồi ký của Đặng Thai Mai, Từ bến sông Thương của Anh Thơ và tiếp đó là những tác phẩm thu hút sự quan tâm, tạo được ấn tượng mạnh đối với độc giả như Hồi ký song đôi của Huy Cận, Nhớ lại một thời của Tố Hữu…Với những tác phẩm này, cái tôi của
người viết hiện diện rất sắc nét qua cảm hứng nhận thức, đánh giá lại những gì đã trải nghiệm bằng điểm nhìn từ hiện tại Những chi tiết tự truyện, thái độ chủ quan của người trần thuật chứa đựng nhu cầu khẳng định giá trị của kinh nghiệm cá nhân Thể bút kí pha hồi kí cũng đã nhanh chóng tìm mối giao lưu, giao cảm
được khẳng định vị thế của mình trước văn hóa đọc: Vị giáo sư và ẩn sĩ đường,
Ba lần đến nước Mĩ, Tản mạn đầu ô, Đi một ngày đàng của Hà Minh Đức
Bên cạnh những tác giả viết về hồi kí như đã nói ở trên thì Tô Hoài là một cây bút lực lưỡng của nền văn xuôi với trên nửa thế kỉ sáng tác, lại khẳng định vị trí của mình trong đời sống văn học đương đại với những hồi kí đặc sắc Tô Hoài
đã đưa vào hồi kí một quan niệm rất đáng chú ý: “Tôi cho viết hồi kí là khó khăn hơn cả sáng tác Bởi đó là một cuộc đấu tranh tư tưởng để viết ra…Đây là cuộc
mổ xẻ toàn diện, không phải nhẹ nhàng và chỉ có hứng thú” [20;190] Đó là cuộc đấu tranh để có thể đặt lên trang giấy những gì đúng như mình biết Ông đã cho
người đọc thấy rõ lịch sử trong cái đời thường Vì thế, từ Cỏ dại (1944), Tự
truyện (1978), Cát bụi chân ai (1992) đến Chuyện cũ Hà Nội (1998), Chiều Chiều (1999), những kỉ niệm vui, buồn được hiện diện qua nhiều cung bậc
trong sự tồn tại khách quan qua lăng kính cảm quan đời thường của nhà văn
1.2 Hành trình sáng tác hồi kí của Tô Hoài
1.2.1 Sơ lược tiểu sử
Trang 16Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen sinh ngày 07 – 9 - 1920 tại làng Nghĩa
Đô, phủ Hoài Đức - tỉnh Hà Đông (nay là phường Nghĩa Đô - quận Cầu Giấy -
Hà Nội) trong một gia đình thợ thủ công Tuổi thanh niên, Tô Hoài phải trải qua nhiều nghề khác nhau để kiếm sống như: dạy học tư, bán hàng, làm kế toán cho hiệu buôn… Năm 1943, Tô Hoài gia nhập Hội văn hóa cứu quốc và
từ đó liên tục tham gia viết báo chí mật, tuyên truyền cách mạng cho tới tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 Có lần, ông bị thực dân Pháp bắt giam, cũng trong thời gian này, ông thực hiện được chuyến đi dài từ Bắc vào Nam Ông giữ nhiều chức vụ quan trọng Năm 1950, ông công tác ở Hội Văn nghệ Việt Nam Từ 1957, là Tổng Thư kí, rồi Phó Tổng thư kí Hội nhà văn Việt Nam, Giám đốc Nhà xuất bản Hội nhà văn Từ năm 1966, ông là Chủ tịch Hội văn nghệ Hà Nội, Chủ tịch Hội đồng văn học thiếu nhi Ông còn tham gia những hoạt động xã hội khác như: Đại biểu Quốc hội khóa VII, Phó Chủ tịch ủy ban đoàn kết Á Phi của Việt Nam
Nhà văn đã được nhận giải thưởng: Giải nhất Tiểu thuyết của Hội Văn
nghệ Việt Nam 1956 (Truyện Tây Bắc); Giải A Giải thưởng Hội Văn nghệ Hà Nội 1970 (tiểu thuyết Quê nhà); Giải thưởng của Hội Nhà văn Á - Phi năm
1970 (tiểu thuyết Miền Tây); Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ
thuật (đợt 1 – 1996)
1.2.2 Hành trình sáng tác
Trước Cách mạng tháng Tám, Tô Hoài có các tác phẩm tiêu biểu: Dế
mèn phiêu lưu kí (1941), Quê người (1941), O chuột (1942), Trăng thề (1943) Nhà nghèo (1944 ) Tác phẩm của Tô Hoài trước cách mạng có thể phân thành
hai loại chính là: truyện về loài vật và truyện về nông thôn trong cảnh đói
nghèo Qua những truyện về loài vật tiêu biểu như: O chuột, Gã chuột bạch,
Tuổi trẻ người đọc nhận thấy, nhà văn thường viết về cái tốt đẹp, khẳng định
Trang 17cái thiện trong cuộc sống, bày tỏ mong muốn một cuộc sống hạnh phúc, bình
yên trong xã hội, một cuộc sống tốt đẹp mang tính không tưởng
Bên cạnh truyện viết về loài vật, mảng truyện viết về cảnh sống đói nghèo cũng được nhà văn đã miêu tả chân thật và sinh động Cuộc sống cùng quẫn bế tắc của những kiếp người nghèo khổ, lang thang, phiêu bạt nơi đất khách quê người, những người thợ thủ công bị phá sản, xuất hiện dần qua từng trang sách với tất cả niềm cảm thông chân thành của nhà văn
Tóm lại, trước Cách mạng tháng Tám, Tô Hoài đã có khi bế tắc trước cuộc đời nhưng cuối cùng nhà văn vẫn đứng vững ở vị trí của một nhà văn hiện thực Tâm hồn của Tô Hoài bao giờ cũng có được vẻ đẹp trong sáng, đáng trân trọng trong cảnh đời đen tối thời kì này Ở đề tài nào và đối tượng khám phá nào, thế giới nghệ thuật của Tô Hoài trước cách mạng đều thấm đượm tính nhân văn và mang dấu ấn khá sâu đậm về một quãng đời của ông
Sau Cách mạng tháng Tám, Tô Hoài có sự chuyển biến mạnh mẽ về tư tưởng và sáng tác Tâm trạng trăn trở, phân vân định hướng không dừng lại quá lâu ở Tô Hoài Ông đã nhanh chóng chiếm lĩnh hiện thực cuộc sống và sáng tạo thành công nhiều tác phẩm có giá trị ở các thể loại khác nhau Trong
đó, tiểu thuyết Miền Tây của ông đạt giải thưởng Bông sen vàng của Hội Nhà
văn Á Phi vào năm 1970 Bước chuyển trong sáng tác của Tô Hoài được thể hiện rõ ở cả chủ đề và đề tài Tô Hoài không bó hẹp nội dung và đối tượng phản ánh trong phạm vi của một vùng dân nghèo ngoại thành Hà Nội nơi ông từng gắn bó, mà ông còn hướng đến một không gian rộng lớn, đến với cuộc sống của nhiều lớp người, nhiều vùng đất khác nhau, nổi bật nhất là miền núi Tây Bắc Không chỉ thành công ở thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết, Tô Hoài còn đạt được thành tựu đặc sắc ở thể kí Nhiều tác phẩm kí của ông xuất hiện
sau những chuyến đi lên Tây Bắc như Nhật kí vùng cao hay đi thăm nước bạn như Tôi thăm Cămpuchia, Thành phố Lênin, Hoa hồng vàng…
Trang 18Bên cạnh những mảng sáng tác trên, Tô Hoài còn tiếp tục viết khá nhiều
tác phẩm cho thiếu nhi như: Con mèo lười, Vừ A Dính, Đảo hoang, Chuyện nỏ
thần, Nhà Chử,…Ở mảng sáng tác này, ngay cả khi tuổi tác không còn trẻ Tô
Hoài vẫn có được cách cảm nhận và thể hiện đời sống qua trang văn phù hợp với tâm hồn, nhận thức của tuổi thơ, để cùng các em đến với một thế giới biết bao điều kì thú Trên cơ sở đó góp phần bồi đắp vẻ đẹp và sự trong sáng, cao
cả cho tâm hồn trẻ thơ
Như vậy những sáng tác của Tô Hoài sau Cách mạng tháng Tám đã khẳng định được vị trí và tài năng nghệ thuật của ông trước hiện thực của cuộc đời mới Ông xứng đáng là một tấm gương trong sáng trong lao động nghệ thuật để góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
1.2.3 Hồi kí của Tô Hoài
Tô Hoài sáng tác rất nhiều thể loại: truyện ngắn, bút kí, kịch bản phim, tiểu thuyết, tự truyện, hồi kí Có lẽ hồi kí là một thể loại mang đậm phong cách của Tô Hoài Tô Hoài có các tập hồi kí gắn liền với bao nỗi vui buồn và mơ ước của tuổi thơ, bao kỉ niệm về những bạn văn, đời văn của ông và những hồi
ký về đề tài Hà Nội như Cỏ dại (1944), Cát bụi chân ai (1992), Chuyện cũ Hà
Nội (1998) Những tác phẩm này đã đem lại những chứng từ sống động về địa
dư, lịch sử, phong tục, tiếng nói của thủ đô, và nhà văn Nga Ni-cu-Lin đã tinh
tế phát hiện ở nhà văn Tô Hoài một nhà dân tộc học Viết bao nhiêu về thủ đô
Hà Nội, Tô Hoài vẫn còn “tình thương chưa đã, nhớ chưa nguôi” nên thừa mọi
cơ hội để tự tình với Hà Nội, từ tiểu thuyết lịch sử Quê Nhà (1970) đến Chiều
Chiều (1999)
Cỏ dại là tập hồi kí đầu tay của Tô Hoài Ở cuốn hồi kí này, người đọc
được gặp hình ảnh “thằng cu Bưởi” những ngày thơ ấu nhếch nhác nơi Kẻ Chợ Tiếng là đi học nhưng ba năm trở về làng, chỉ biết “nhặt rau muống, biết
Trang 19cọ nồi và thổi cơm” Hành trang đem về là “mấy hòn bi sắt, một cái búa đinh”
cùng cái đầu mốc trắng tanh tưởi
Tự truyện là sự tiếp nối của Cỏ dại Tự truyện được bắt đầu từ ngày đi
học trường Yên Phụ Ở đó có biết bao kỉ niệm vui – buồn của bản thân, của
đám học trò nghèo và của thầy giáo với cuộc sống đạm bạc, tẻ nhạt Tự truyện
còn là kí ức vui – buồn về những người bạn thợ cửi Đáng chú ý nhất là “một quãng đời” đầy ý nghĩa mà tác giả được gặp các đồng chí hoạt động cách mạng
cùng nhau hoạt động phong trào
Cát bụi chân ai phác họa chân dung các nhà văn tầm cỡ trong làng Việt
Nam Ở đó, chúng ta được tiếp xúc với Xuân Diệu, Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Tú Mỡ, Ngô Tất Tố…từ góc độ con người bình thường
Trong cuốn Chiều chiều, Tô Hoài làm sống dậy những năm nhà văn đi
thực tế ở xóm Đồng – Thái Ninh, Thái Bình với những kỉ niệm vui - buồn một thời, được tiếp xúc với người nông dân điển hình - ông Ngải, những năm đi học chính trị với bao bạn bè mọi người “một mánh một tật”, những năm bao cấp “mỗi huyện, mỗi tỉnh đều thổi lên những cái bong bóng hợp tác xã điển hình”, những năm “ăn gian nói dối tràn lan”…
Như vậy Cỏ dại và Tự truyện là những dấu ấn đầu tiên để Tô Hoài viết
những hồi kí tiếp theo trong hành trình viết hồi kí - một hành trình đấu tranh tư
tưởng của mình Hành trình đến Cát bụi chân ai và Chiều chiều đã khẳng định
ngòi bút chân thực, khách quan, không tô điểm của Tô Hoài Trong những dòng hồi kí ấy, Tô Hoài vừa cho người đọc thấu hiểu một thời kỳ lịch sử, vừa cho người đọc chiêm ngưỡng các tác gia văn học từ góc độ sinh hoạt đời thường Như vậy với phong cách đặc biệt, Tô Hoài đã đem đến cho nền văn học Việt Nam những tác phẩm hồi kí xuất sắc
Chuyện cũ Hà Nội lại đem đến cho người đọc về một Hà Nội với đủ mọi
thứ chuyện của đời thường trong mấy chục năm trước Cách mạng tháng Tám:
Trang 20từ cảnh mua bán người thê thảm ở phố Mới đến chuyện kinh doanh thức ăn thừa rất dơ dáy của lính Tây ở Cửa Đông, từ việc Tây đoan khám rượu lậu đến
“tiếng rao đêm” bán quà bánh trên các đường phố
Hành trình viết hồi kí của Tô Hoài là hành trình xuyên suốt trong quá trình sáng tác của ông Mỗi tác phẩm hồi kí là một sự chiêm nghiệm về cuộc sống, về con người, về lịch sử và trên hết đó là sự thật, vì Tô Hoài quan niệm:
“Sự thật đã là đẹp rồi” Và đã là đẹp rồi thì cần gì phải thêm bớt, tô vẽ làm gì
sự thật ấy Viết lên chính mình để trung thành với sự thật, Tô Hoài đã tạo ra được một tiếng nói riêng ở thể hồi kí, không thể lẫn với bất kì nhà văn nào
1.3 Đặc điểm hồi kí của Tô Hoài
Viết các tác phẩm văn học dưới dạng thể hồi kí có rất nhiều tác giả, tiêu biểu như Đặng Thai Mai, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hà Minh Đức, Tố Hữu, Anh Thơ, Huy Cận…
Đặng Thai Mai, đã thể hiện niềm tự hào và hạnh phúc của mình trong hồi ký khi nghĩ về ông nội và người cha của mình, về người thầy Lê Thước đã dạy cho ông biết học, biết đọc sách, biết viết văn Tiếp nối bầu không khí học
thuật của gia đình, Đặng Anh Đào trong tập hồi ký Tầm xuân cũng cho người
đọc thấy được hình ảnh người cha (Đặng Thai Mai) đã ảnh hưởng như thế nào đến con đường văn chương của bà
Còn Tố Hữu, trong hồi ký Nhớ lại một thời, với tình yêu thích văn thơ
của những người trong gia đình như ông ngoại, cha, mẹ đã ảnh hưởng lớn đến
Tố Hữu - thơ Tố Hữu
Tự bao giờ, cuộc sống vùng quê trong không khí hương cau, hoa ngâu, những lũ chim gà quấn quýt bên nhau, những lễ hội hát Ví, hát Lim, hát quan
họ, hội Vẽ, hội Thương… đã làm cho tâm hồn Anh Thơ cứ mơ mộng và
thích làm thơ Điều đó được thể hiện trong tập hồi kí Từ bến sông Thương,
Tiếng chim tu hú, Bên dòng chia cắt
Trang 21Cái mà người ta trông đợi ở một cuốn hồi kí vẫn là phần liên quan đến nghề nghiệp của tác giả trên nền chung của xã hội mà nghề đó có liên quan Đọc hồi kí của Tố Hữu, ông đã khẳng định mình thuộc dòng văn học hiện thực
xã hội chủ nghĩa Còn Anh Thơ, nữ thi sĩ trong cái duyên của “Bức tranh quê”
đã khẳng định về nét đẹp của thơ mình không giống một ai Và bà tự thấy mình có thể nói chuyện với các thi sĩ sông Thương về sự nhận xét và đánh giá thơ của chính mình Còn nhìn vào cuộc đời sáng tác của Tô Hoài, người đọc cũng rất tâm đắc về lời nhận xét về mình của ông: “Tôi vào nghề văn có trong ngoài ba mươi năm trước 1945, và viết như chạy thi”
Hồi kí của Tô Hoài thể hiện một cái Tôi tự sự giản dị, tỉnh táo, điềm tĩnh ghi nhận mọi sự và thể hiện nó bằng thứ “ngôn ngữ của văn xuôi” - một thứ ngôn ngữ đa dạng, lắm cung bậc và thật nhiều sắc thái Cái chất hài hước, sự khôn ngoan minh mẫn, vẻ “đáo để” của người viết cũng bộc lộ thật sắc nét trên các trang hồi kí
Cảm hứng hướng ngoại là đặc điểm nổi bật trong hồi kí của Tô Hoài Cảm quan nhân bản đời thường là cái nhìn xuyên suốt, bao trùm trong suốt trong năm tập hồi kí Dù viết về ai, những người bạn nghệ sĩ, những con người bình thường hay chính bản thân mình, Tô Hoài cũng xuất phát từ quan niệm:
“người ta ra người ta thì phải là người ta đã chứ” Có sao viết vậy, cả tốt xấu
dở hay, cả những thói tật, những chuyện “bí mật riêng tư”, nhà văn cũng không
hề né tránh Chính vì thế, đọc hồi kí của ông, chúng ta một lần nữa được biết thêm rất nhiều điều thú vị về chính nhà văn, về tuổi thơ, những gì ông phải trải qua trong cuộc đời
Hồi kí là lối văn nói về chính cái tôi, nói về bản thân tác giả Song với
Tô Hoài, hồi kí của ông còn là rất nhiều những cuộc đời, những phong tục riêng ở những vùng miền mà nhà văn có dịp được đến, là cuộc sống của người nông dân có cả thời kì cải cách ruộng đất, có cả không khí sáng tác văn học rất
Trang 22căng thẳng thời kì Nhân văn giai phẩm… Tất cả những chuyện ấy đâu phải là chuyện của riêng ông Đó là chuyện cuộc đời Như thế, với Tô Hoài, qua những kỉ niệm và hồi tưởng của bản thân, ông đã nhằm nói về cuộc đời chung Những chuyện về cuộc đời riêng mà ông kể trong hồi kí bao giờ cũng gợi ra một điều gì đáng nói của cuộc đời Chính vì thế, GS Phong Lê cho rằng: “Khó
mà nói trong các mạch nguồn làm nên dòng sông chữ nghĩa nơi văn Tô Hoài, mạch nào là chìm, mạch nào là nổi Có chìm và có nổi, nhưng nổi hoặc chìm vẫn đều dồi dào trữ lượng và mang sự sống riêng, sự sống Tô Hoài” [19;37]
Sự hoà nhập những câu chuyện riêng của đời ông vào cuộc đời chung đã làm nên đặc trưng phản ánh hiện thực của hồi kí Tô Hoài Mỗi lần viết hồi kí là mỗi lần đấu tranh tư tưởng để nói ra sự thật Tô Hoài đã đấu tranh, đấu tranh
để vượt lên chính mình, để mở rộng tầm mắt cho tất cả sự thật ùa vào, để dũng cảm nói ra sự thật, kể cả những sự thật tưởng như chỉ có thể “đào sâu chôn chặt”
Hồi kí Tô Hoài là sự trở đi trở lại uyển chuyển giữa quá khứ và hiện tại Nhà văn luôn tìm cách phá vỡ trình tự không gian – thời gian, hay nói cách khác, đảo ngược, xen kẽ không gian – thời gian trong thế giới hoài niệm của mình từ đó tạo những trang viết đặc sắc, ấn tượng Ai đã từng đọc hồi kí Tô Hoài, hẳn không thể không ấn tượng với một Tô Hoài hóm hỉnh mà thông minh Rất tự nhiên, ông đi hết từ chuyện này sang chuyện khác, có chỗ tưởng như “lan man kề cà nhưng lại không hề vô vị” Hồi kí của Tô Hoài là dòng hồi tưởng chân thực với cách giới thiệu chắt lọc những sự việc tiêu biểu trong quá khứ Ông tôn trọng và tạo được niềm tin ở bạn đọc Ông không bịa đặt thêm thắt vào những sự việc đã xảy ra trong quá khứ và biết tôn trọng tính xác thực của người và việc Ông biết giữ đúng mức mối quan hệ riêng chung Nói về mình, đó là điều tự nhiên, nhưng mục đích của hồi kí của nhà văn cũng không chỉ nhằm nói về mình Phải biết qua những kỉ niệm và hồi tưởng của bản thân
Trang 23để nói về cuộc đời chung Các câu chuyện được kể theo một mạch hồi tưởng rất tự nhiên như dòng chảy của cuộc đời thực, nhớ đến đâu nhà văn kể đến đó bằng một thứ ngôn ngữ dung dị, đời thường bằng sự kết hợp rất nhiều giọng điệu, vừa hài hước, dí dỏm, tinh quái, vừa suồng sã, tự nhiên vừa trữ tình, thấm thía tạo nên sự phức điệu trong hồi kí
Đọc Nam Cao, thấy tiểu thuyết cứ như là tự truyện Đọc Tô Hoài, lại thấy tự truyện cứ như tiểu thuyết Hồi ức của Tô Hoài mở ra khá rộng các giới hạn sống Nhân vật của ông – đó là ông, những cu Bưởi thích ẵm em và ham chơi, cậu học trò tinh nghịch, hiếu động, anh thanh niên đi tìm việc, không ngại đến những chỗ lam lũ hoặc dơ dáy…Ở đó có Tô Hoài tự kể về mình, lại
có một người khác cũng đang kể về Tô Hoài Cu Bưởi chỉ mong lớn lên làm thợ cửi, anh thanh niên thất nghiệp Hải Phòng tìm việc rê rê chân cho chạm được vào chân cô gái điếm còm nhom ngồi trước mặt, gã trai phiêu lưu với đám thanh niên gây gổ vừa hung hăng vừa nhát sợ - tất cả Tô Hoài đang tự kể
về mình và cũng là nhân vật Tô Hoài được nhà văn dựng lại
Khi viết hồi kí, Tô Hoài luôn tạo ra một khoảng cách giữa người kể chuyện với đối tượng Khoảng cách ấy đủ để người kể chuyện khách quan phản ánh sự kiện không mờ đi theo dòng thời gian Với những đặc sắc về nghệ thuật hồi kí, Tô Hoài đã có những bước đột phá mới Từ đó, người đọc có một lượng thông tin phong phú về thời cuộc, về những nhà văn cùng thời, về những
sự kiện đáng ghi nhận trong thời kì lịch sử đất nước có nhiều biến động
1.4 Đề tài Hà Nội trong sáng tác của Tô Hoài nói chung và trong hồi kí nói riêng
Đề tài về Hà Nội đã từng được viết bởi nhà văn Nguyễn Tuân với những nét hào hoa, hào sảng Nguyễn Tuân viết về Hà Nội với tất cả ý tốt, lời trong, mặn mà, sâu sắc, có sức tỏa, sức ngân, có màu sắc, hương thơm và hồn người
với các tác phẩm Sau đêm 19 tháng chạp, Làng hoa, Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi,
Trang 24Hà Nội giải tù binh Mỹ qua phố Hà Nội, Băm sáu cái nõn nường Xuân Hương…Ẩn trong từng trang viết của ông, Hà Nội sống dậy với những âm
vang của mấy thời đánh giặc Hà Nội vang tiếng súng thần công những ngày đầu chống Pháp Hà Nội rền tiếng súng bắn máy bay Mỹ…Trong nhịp điệu những câu văn của Nguyễn Tuân, hiện ra Một Hà Nội chiến đấu, một Hà Nội thơ Đọc những trang Nguyễn Tuân viết về Hà Nội, chúng ta yêu Hà Nội, yêu
từ cái cụ thể, cái bé nhỏ, cái gọi tên hàng ngày Một hàng nước đêm 19 tháng chạp ngổn ngang dồi chả, tiết canh chó Một buổi chợ chiều, xác thù tơi tả giữa chợ Ngọc Hà, mớ rau, xóc cua, mẹt tôm riu từ ngoại thành về đây Một Hà Nội của cây sấu rơi trắng phố phường như hàng tạ gạo khao quân Một cánh hồng nhung vương lúc chợ hoa tàn còn để lại một chút thơm bay Qua ngôn ngữ của Nguyễn Tuân, một cánh hoa, một thoáng hương cũng xao xuyến gợi về một Hà Nội vừa đẹp vừa thơm Nó thức tỉnh cái thiện, cái đẹp, đưa con người về với
tình yêu Hà Nội…
Đó là còn là một Hà Nội nhiều sắc màu tươi mát lãng mạn của Vũ Bằng với “mùa xuân của Hà Nội là mùa xuân có mưa liêu riêu, gió lành lạnh, có tiếng nhạn kêu trong đêm xanh”, là “mộng về Hà Nội đi với vợ trên con đường
hò hẹn thơm thơm mùi hoa sấu” (Miếng ngon Hà Nội) Hay một Hà Nội của
Thạch Lam với những món ăn tinh tế, những ký ức ấm áp ngày tết với “đêm đông, gió lạnh” bên lò bánh chưng ấm áp… “cả nhà ngồi vây quanh, nghe
tiếng nước reo mà kể chuyện cũ” Trong Hà Nội băm sáu phố phường - bút kí nổi tiếng tập hợp những bài viết của Thạch Lam trên báo Ngày nay sau khi ông
qua đời - bằng con mắt của một cây bút văn xuôi thấm đẫm chất thơ trữ tình, tác giả đã cẩn thận ghi nhặt lại hình ảnh Hà Nội những năm đầu thế kỉ với từng nét vẽ cảnh sắc phố phường, văn hoá, con người Thăng Long nhẹ nhàng, sang trọng nhưng rất đỗi giản dị Một tiếng rao đêm vọng lại “Dầy giò, dầy giò”, một gánh hoả lò đi trong đêm, một thức quà quê thanh nhã của lúa non -
Trang 25Cốm…đã tạo nên chân dung Hà Nội bình dị, thanh lịch, giữa những xô bồ của đời sống nhiều biến động, mảnh đất kinh kỳ vẫn vẹn nguyên hồn vía và dáng dấp quê hương
Nguyễn Huy Tưởng lại viết về một Hà Nội hào hoa và anh hùng qua các
tác phẩm Chuyện xây thành ốc, Lá cờ thêu sáu chữ vàng, An Tư công chúa, Vũ
Như Tô, Đêm hội Long Trì đến Lũy hoa, Sống mãi với Thủ đô…Các tác phẩm
đó đều lấy bối cảnh xưa và nay của Hà Nội để ký thác tấm lòng Kinh thành Thăng Long, Thủ đô Hà Nội xưa và nay thấm trên từng trang văn Nguyễn Huy Tưởng Bằng những liên tưởng, đối chiếu giữa kiến thức sách vở với những trải nghiệm trong cuộc đời, Hà Nội đã vào văn ông, làm nên “toàn bộ hồn cốt
và đường nét trong văn ông”, khiến độc giả không chỉ thiện cảm với tác giả tiểu thuyết mà còn yêu quý hơn “Hà Nội - trung tâm tim óc của cả nước Qua bao triều đại, chế độ, cái tim óc bền dẻo vĩ đại ấy đã đập đều trên chín thế kỷ rưỡi” như cảm nhận của Nguyễn Tuân và đến bây giờ, “cái tim óc bền dẻo vĩ đại ấy” đã đập đều đến nghìn năm Thăng Long, đến chẵn mười thế kỷ
Giáo sư Phong Lê đánh giá: “Nguyễn Huy Tưởng là người chăm chỉ dành cho Hà Nội một mối quan tâm bền bỉ và dài lâu trong suốt hơn hai mươi năm đời viết của mình Đối với Nguyễn Huy Tưởng, cảm hứng lịch sử luôn luôn đậm đà trên mỗi trang viết về Hà Nội quá khứ, và chiều sâu lịch sử luôn luôn là sự cần thiết, là ưu thế cho ông nhìn về Hà Nội của hiện tại”
Nguyễn Huy Tưởng luôn nhìn quá khứ từ con mắt hiện tại, để góp phần soi sáng các khuất lấp trong quá khứ và lý giải các vấn đề của hiện tại Tình yêu của Nguyễn Huy Tưởng dành cho Hà Nội không chỉ bó hẹp trong thỏa mãn với những gì đang có Ông luôn trăn trở làm sao để Thủ đô đẹp lên trở thành “chốn kinh kỳ lộng lẫy nhất thế gian”, sánh vai với thủ đô hoa lệ của các nước trên thế giới Nguyễn Huy Tưởng đã chiêu tuyết cho nhân vật Vũ Như
Tô, nhà kiến trúc kỳ tài trong lịch sử, ông thầm tiếc về “Cửu trùng đài” dang
Trang 26dở đã bị thiêu rụi, cũng như sau này khi toàn quốc kháng chiến, Hà Nội trở thành thủ đô kháng chiến, thì ông thầm mơ về ngày hòa bình Thủ đô sẽ được tái thiết lại “to đẹp hơn, đàng hoàng hơn” như lời Hồ Chủ tịch Nguyễn Huy Tưởng còn viết rất gợi cảm về rừng bàng Yên Thái, bến trúc Nghi Tàm “hàng vạn cây trúc thân vàng soi bóng xuống nước hồ biếc”
Bên cạnh những nhà văn viết về Hà Nội như Nguyễn Tuân, Vũ Bằng, Thạch Lam, Nguyễn Huy Tưởng thì Tô Hoài cũng là tác giả viết nhiều về Hà Nội Tô Hoài là người Hà Nội Tô Hoài gắn bó với từng nhịp sống của Hà Nội
Tô Hoài yêu Hà Nội, yêu những con người Hà Nội Tô Hoài muốn góp sức mình làm cho cuộc sống của người Hà Nội tươi đẹp thêm, hạnh phúc thêm Mảnh đất và con người nơi đây đã tạo cảm hứng và định hướng nghệ thuật cho nhà văn từ những ngày đầu cầm bút Cho đến hôm nay, khi Tô Hoài đã vào tuổi 92, Hà Nội vẫn là nguồn đề tài chủ yếu trong sáng tác của ông Chính Tô Hoài đã khẳng định: cho đến bây giờ đề tài chủ yếu là viết về vùng ngoại thành
Hà Nội
Đề tài Hà Nội luôn luôn trở đi trở lại trong tác phẩm của Tô Hoài: Vỡ
tỉnh, Người ven thành, Quê nhà rồi đến Chuyện cũ Hà Nội, Cỏ dại, Chiều chiều, Cát bụi chân ai, Hà Nội, Hà Nội…Từ một cách nghe, cách cảm xúc,
một cách nhìn, gương mặt, tâm hồn của những con người Hà Nội xưa, Tô Hoài
đã chạm vào tầng sâu của đời sống con người Hà Nội cũng là của cả dân tộc người Việt Nam khi còn bị nô lệ bởi ngoại bang Phải trải qua nhiều năm tháng tích luỹ vốn sống, kinh nghiệm, tự gắn mình vào đời sống hiện thực Hà Nội những năm tháng đó, đã tạo nên nền tảng văn hoá của cá nhân nhà văn Cho nên dù Hà Nội là đề tài đã có nhiều nhà văn khám phá nhưng trong tác phẩm của Tô Hoài vẫn hiện lên những nét mới, những nhận thức mới về mảnh đất Thăng Long xưa, là bức ký hoạ với những nét buồn mong manh bằng hình tượng ngôn từ sống động Đối với các tác phẩm này, Tô Hoài viết kỹ, luôn
Trang 27luôn sửa, tỉa bớt chữ cho cô đọng, đảo cú pháp cho gần với cách nói thông thường, nhiều nhận xét hóm hỉnh, sắc sảo, giàu chất tạo hình và chất thơ, nhất
là trong những đoạn miêu tả thiên nhiên, cảnh sắc Có thể nói Tô Hoài là nhà văn đặc sắc và phong phú viết về Hà Nội, ở đó bóng dáng, linh hồn Hà Nội hiện ra rất rõ, rất gợi cảm
Hà Nội trong những trang viết c ủa Tô Hoài hiê ̣n lên r ất bình dị, mộc mạc và g ần gũi nhưng không vì thế mà mất đi nét hào hoa , lãng tử và dí dỏm vốn có của mô ̣t nhà văn gốc người Hà Nô ̣i Những kí ức về Hà Nô ̣i dường như bao giờ cũng ngồn ngô ̣n , đầy ắp, tường tâ ̣n, rõ ràng và tồn tại mãi mãi trong trí nhớ của nhà văn Tô Hoài Chẳng thế mà với Hà Nô ̣i , ông có thể “nh ắm mắt đi đến bất cứ khu ph ố nào cũng được” Hà Nội gắn liền với cuộc sống của Tô Hoài như hơi thở phải đi liền với sự sống , vì thế mà ông có những cách nhìn người Hà Nội hết sức độc đáo Ông từng nói r ằng: "Người Hà Nội có nét hào hoa phong nhã, nhưng đấy là tinh hoa của nhiều vùng đất tạo nên Dân Hà Nội
là dân tứ trấn Vì thế, ở Hà Nội tuyệt nhiên không có chuyện cục bộ địa phương Tôi cho đó cũng là một nét rất hay của Hà Nội”
Nói về nhà văn Tô Hoài , nhà nghiên cứu văn hóa Vương Trí Nhàn đã từng nhâ ̣n xét như sau : “Óc quan sát tinh tế và tỉ mỉ đã giúp cho Tô Hoài nhớ
và ghi được nhiều chi tiết về cuộc sống ở Hà Nội Xét về thời gian lịch sử , ta thấy Hà Nô ̣i đã được Tô Hoài theo dõi li ên tục, từ khi Pháp mới sang cho tới những năm 30, 40 và kết thúc bằng Cách mạng tháng Tám…” Và nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn cũng từng nói rằng : “Dân viết văn, viết báo là người Thủ
đô không phải là ít , nhưng có lẽ chỉ có Tô Hoài là mang được cái chất riêng của vùng đất mà mình đã từ đó trưởng thành Và ông đã giữ được cái chất đó trong suốt cuô ̣c đời cầm bút”
Nếu như trước Cách mạng Tô Hoài chỉ viết về “những chuyện trong làng và trong nhà, những cảnh và người của một vùng công nghệ đương sa sút,
Trang 28nghèo khó” thì sau Cách mạng nhà văn mở rộng không gian và thời gian phản
ánh Viết về Hà Nội, bộ ba tiểu thuyết Quê người (1941), Mười năm (1958),
Quê nhà (1980) đã tạo sự nhất quán về tiến trình lịch sử Hà Nội qua hơn 50
năm từ nửa cuối thế kỉ XIX đến năm 1945
Quê người là tập truyện đầu tay của Tô Hoài và là tập truyện tả những
thói tục cùng những cách sinh hoạt của những người sống về nghề dệt lĩnh ở vùng Bưởi Ở tập truyện này, Tô Hoài tỏ ra một nhà tiểu thuyết có con mắt quan sát sâu sắc Những tính tình u uẩn phô diễn ra ở những cử chỉ rất nhỏ của người dân quê, và cả những cách sống cùng cực rất đáng thương của người dân
quê, ông đều tả cặn kẽ Quê người đã miêu tả quá trình tàn lụi dần đến tan tác
chia lìa của một làng quê Bức tranh chung dồn tụ lại ở những nhân vật như Hời và Ngây, Thoại và Bướm Khởi đầu câu chuyện họ là những thanh niên giàu sức sống, những chủ nhân tuổi trẻ của làng quê Trước mắt họ là niềm vui
và mơ ước Kết thúc câu chuyện Thoại phải đem vợ con trốn đi giữa ngày tết sau lần đánh chó trộm ở làng bên….Các nhân vật đều không chống đỡ nổi số phận như đã định sẵn
Tiểu thuyết Mười năm từ 1939 đến 1945 là một thời gian dài, lại là thời
kì sôi động và dữ dội trong đời sống dân tộc và phong trào cách mạng Chọn thời gian lịch sử đó – tương ứng với tuổi thanh niên ham say hoạt động của bản thân, Tô Hoài muốn nói đến cuộc hành trình có tính quy luật của lịch sử, con đường dân tộc đi đến cách mạng tháng Tám, trên bối cảnh mà ông quen
thuộc nhất vùng quê ngoại thành của ông Mười năm sinh động ở những mảng
sống của một vùng tơ cửi với buồn vui đời thường của họ, cái cuộc đời bỗng
có lúc vui nhộn nhịp và sôi hẳn lên với phong trào Ái hữu, với các hoạt động học tập, tuyên truyền…rồi bỗng tắt lặng trong một trận đói lớn Đói - đó mới là
những trang đặc sắc của Mười năm Một vùng quê đói Những phiên chợ đói
Những thân người, mặt người đói…Rồi những cái chết đói Cũng trong thời kì
Trang 29đau thương đó, những người nông dân, người thợ thủ công nghèo đã đến với cách mạng Mặc dù còn có hạn chế nhất định nhưng lòng nhiệt huyết tham gia phong trào của nhóm thanh niên làng Nha như Lê, Lạp, Trung, Ba đã được khẳng định Đây là những nhân tố khởi nguồn cho mọi tầng lớp quần chúng đến với cách mạng
Tiểu thuyết Quê nhà viết về thời kì cuối thế kỉ XIX - thời kì thực dân
Pháp đặt chân lên đất Hà Thành Trong tình thế nước sôi lửa bỏng, khi các cuộc kháng cự của triều đình thất bại, quần chúng nhân dân nhất tề đứng dậy đánh đuổi giặc ngoại xâm Từ vùng Ba Trại chân núi Ba Vì đến nơi Kẻ Chợ, từ già đến trẻ, từ nam đến nữ, dưới sự lãnh đạo của thủ lĩnh Xuất rồi thủ lĩnh Nghĩa, nhân dân sôi sục tham gia đánh giặc giữ đất, giữ làng Trong tác phẩm này, hai nhân vật chính được tác giả dày công xây dựng là bà Xuất vợ góa thủ lĩnh Xuất và Nghĩa – cô gái Ba Trại đóng giả trai, nén nỗi đau riêng quyết đứng lên bước tiếp con đường mà người đi trước Nhà văn không đi vào mô tả những trận đánh tiêu biểu của thời kì này của quân lính triều đình, tình trạng
Hà thành thất thủ và tấm gương nghĩa liệt của Hoàng Diệu và những người anh hùng khác Tô Hoài muốn đi vào miêu tả mảng chiến tranh nhân dân, những cuộc chiến đấu có tổ chức và có tự giác của những làng ven thành chống lại những thế lực xâm lược Điều đáng quý là tác phẩm đã tạo được không khí của làng quê tham gia vào cuộc chiến đấu với những hình thức linh hoạt của nhân
dân Viết Quê nhà, Tô Hoài đã vận dụng có hiệu quả quan điểm giai cấp Quê
nhà chứng minh sự tiếp nối truyền thống yêu nước từ đời cha ông đến thời kì
hiện đại
Điều khác biệt của Tô Hoài so với các nhà văn khác cùng thời viết về
Hà Nội, đặc biệt là trong các các tập hồi kí viết về Hà Nội, là tác giả đi vào tầng sâu của cuộc sống Hà Nội, cảnh lầm than đau khổ của dân nghèo phố thị
bị bóc lột, đè nén, áp bức, cảnh bọn thực dân nghênh ngang đầu phố cuối chợ,
Trang 30ngoài ra Tô Hoài còn đi sâu vào đời sống riêng tư của các văn nghệ sĩ như
Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Nguyên Hồng trong hồi kí Cát bụi chân ai… nhưng
trong mạch sâu của cuộc sống vẫn tồn tại một đời sống văn hoá với bao phong tục, tập quán, lễ hội làm nên sắc diện đặc biệt của cuộc sống Hà Nội xưa Viết
về mảnh đất Thăng Long xưa, như lời tác giả “là tự thuật đời sống tinh thần, vật chất và hoạt động của một địa phương… là khơi gợi và xem xét thấy được lịch sử mỗi vùng làm nên hình ảnh cả nước, cả dân tộc, có nối tiếp và lâu dài
Nó cũng là kỷ yếu đời người, bài học hôm nay và mai sau”
Có thể nói Chuyện cũ Hà Nội của Tô Hoài là một tập ký sự độc đáo, hấp dẫn người đọc bởi một lối kể chân thực, một cách nhìn thấu đáo hồn hậu, thấm đẫm tình yêu sâu lắng, xót xa mà vẫn tràn trề hy vọng về mảnh đất Thăng
Long xưa của Tô Hoài Chuyện cũ Hà Nội được xuất bản từ năm 1986 gồm
bốn mươi truyện Đến lần tái bản (2004) là 114 truyện, tác phẩm được vinh dự nhận giải thưởng Thăng Long 1997 - 1998 Ấy là chuyện cũ Hà Nội có gốc gác
từ xa xưa ít ra là đầu thế kỉ Phố Mới, Băm sáu phố phường, Kẻ Chợ Rồi Tàu
điện, Xem phim, Cúp tóc, Hát ả đào…Hoặc chuyện cũ và mới Nem Sài Gòong, Chả cá, Bia, Bánh cuốn, Phở, Cháo…Mở đầu là Phố mới và kết thúc là Cửa Thiền - Cấu trúc tác phẩm đã tạo cảm hứng bao trùm về một đời sống văn hoá
Hà Nội xưa: vận động phát triển nhưng vẫn trầm lặng, cổ kính và ghi lại muôn mặt đời thường của Hà Nội Tác phẩm thể hiện vốn hiểu biết phong phú, kĩ càng thấu đáo về đời sống Hà Nội xưa và sự nhất quán trong cảm quan hiện thực đời thường trong sáng tác của Tô Hoài
Một Hà Nội – quê hương trong ba chiều thời gian: quá khứ, hiện tại, tương lai quả đã làm nên vóc dáng một Tô Hoài, có giống và có khác với Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng - cái bộ tứ làm nên khuôn hình
và chất lượng “Người Hà Nội – Văn Hà Nội”
Trang 31Dựng lại đời sống đất kinh kỳ xưa bằng hình tượng ngôn từ, các tập hồi
kí của Tô Hoài tạo nên cảm xúc thiết tha cho mọi người đọc về một thủ đô ngàn năm với bao chuyện khổ đau, nhọc nhằn ở một thời nô lệ tối tăm nhưng tiềm ẩn trong mảnh đất kinh kỳ vẫn là một sức sống, một khát vọng thay đổi, một vẻ đẹp lặng thầm, cổ kính Tác giả Tô Hoài, một nhân chứng của Thăng Long gần một thế kỷ thăng trầm, một Thăng Long – Hà Nội trong xưa cũ tối tăm, có một Hà Nội ngày nay vươn mình đứng dậy sau bao năm kiên cường đấu tranh, xây dựng, có những phong tục, lễ hội của Hà Nội xưa nay không còn nhưng cốt cách, tâm hồn của một thủ đô ngàn năm văn hiến vẫn hiện rõ trong từng chữ, từng trang viết của Tô Hoài Tháng 9 năm 2010, nhà văn Tô Hoài đã vinh dự đón nhận “Giải thưởng lớn – Vì tình yêu Hà Nội” , giải thưởng quan tro ̣ng nhất trong hê ̣ thống giải của Giải thưởng “Bùi Xuân Phái – Vì tình yêu Hà Nô ̣i” Đó không chỉ là niềm vui mà còn là phần thưởng xứng đáng dành cho nhà văn Tô Hoài , người đã cống hiến hết mình cho Hà Nô ̣i , cho Thủ
đô yêu dấu Nhiều người bảo Tô Hoài không chỉ là “cây đa ̣i thụ” của làng văn học Việt Nam mà còn là một nhà “Hà Nội học” bởi ông không chỉ là người Hà
Nô ̣i gốc mà còn sống với Hà Nô ̣i , hiểu về Hà Nô ̣i , yêu Hà Nô ̣i và viết về Hà
Nô ̣i sâu sắc và hay chẳng ai sánh bằng
Trang 32CHƯƠNG 2 BỨC TRANH HIỆN THỰC VỀ CUỘC SỐNG VÀ CON
NGƯỜI HÀ NỘI 2.1 Con người trong hồi kí về Hà Nội của Tô Hoài
2.1.1 Cái tôi tác giả
Do đặc trưng của thể loại hồi kí, nên ranh giới phân định giữa cái “tôi” tác giả và cái “tôi” nhân vật gần như không có khoảng cách Tác giả chính là nhân vật và nhân vật là tác giả Nhân vật trung tâm trong hồi kí và nghệ thuật thể hiện đặc sắc của Tô Hoài là kiểu người trần thuật xưng “tôi” vừa là người dẫn chuyện vừa là một nhân vật Hồi ức là lối văn nói về chính cái tôi, sự cuốn hút khi là cái tôi ấy gợi được một điều gì đáng nói của cuộc đời Ở đây có sự đối lập giữa “cái tôi” ngoài đời và “cái tôi” nghệ thuật Có những cuộc đời rất sôi nổi, rực rỡ nhưng khi vào văn lại tẻ nhạt và dễ quên Có những cuộc đời tưởng chẳng có gì đáng nói mà lại gợi bao cảm xúc và suy ngẫm Tô Hoài khi viết về hồi kí cũng quay trở lại về với thơ ấu, tuổi trẻ và những ấn tượng của nghề viết văn để ôn lại những vui - buồn, được - mất trong cuộc đời mình, cũng là để ôn lại, tìm ra những kinh nghiệm trong cuộc sống
Có thể nói Cỏ dại chính là những hồi ức của chính tác giả về những ngày thơ ấu: Vào bài mở đầu, phần Cỏ Dại viết từ năm 1943, ông (tác giả) kể
mình dạy học kèm cho bé Tư, một em nhỏ gọi ông là cậu Theo mạch tự truyện, ông ôn lại thời thơ ấu không có tiếng cười của ông “Nó không biết cười Đứng đâu nó đứng chôn hai chân xuống đất Chọc miệng cũng không chảy ra được một tiếng Mẹ nó mắng nó một câu Tức thì, nước mắt ràn rụa ra
xung quanh mi” [6;8] Ông đã so sánh tuổi thơ lặng lẽ, dễ tủi thân chứ không
được hồn nhiên vui tươi, chuyện líu ríu, cười như con nắc nẻ khi đến lớp học như bé Tư khi ấy “Nhưng nhiều khi, tôi thoáng thấy bâng khuâng buồn Chao
ôi, những năm tháng nào mờ mịt Trong kỉ niệm tôi một hình ảnh ngẩn ngơ gọi dậy, sống bên cạnh cái bóng dáng lung linh, hơn hớn của Tư” [6;8] và "Ký ức
Trang 33tôi mờ mịt những kỉ niệm một màu trắng sương” Ông ví mình đã sớm phải
‟phong trần” như đám cỏ hoang dại: ‟Những ngày thơ ấu của nó (tác giả) leo hoang trong đám cỏ bên lề đường đi Cỏ dại, cỏ không có tên, rườm rà ken khít nhau bò ngẩn ngơ trong khoảng đất rác rưởi” [6;9]
Nghệ thuật thể hiện cái tôi, để làm nổi bật cái tôi, tác giả tập trung xây dựng về hành động và suy nghĩ của nhân vật để làm nổi bật cái “tôi” ngây thơ, giàu trí tượng tượng Đây là dịp để cho nhân vật được bày tỏ, được bộc bạch, phơi bày tâm trạng của mình Nỗi sợ hãi về những con ma trong trí tưởng
tượng hấp dẫn ta bởi niềm tin thơ dại: “Biết bao nhiêu chuyện ma quái rùng rợn quanh cái ao Ông tôi kể Bà tôi kể Ngọn đèn khuya liu hiu Hễ động có tiếng người, ma liền đứng vươn dậy nhảy ùm xuống nước, lập lờ rồi biến mất Giữa những câu chuyện ghê rợn ấy, tôi ngồi nép khít bên tay áo bà tôi, nhìn ra ngoài trời tối Thấy chỗ nào cũng thấp thoáng trăng trắng những ma là ma Tôi nhắm nghiền mắt lại” [6;16] Không chỉ ở những nơi ao chuôm mới có ma mà ngay cả ‟Trong nhà còn có nhiều cái sợ hơn Ở một chiếc cột sườn có con ma
mộc Những tối khuya u uất nghe tiếng ma mộc gõ mõ nhớ rừng Nhiều đêm nằm bên bà tôi, tôi cứ đợi nghe ma mộc gõ nhỏ Nhưng rồi giấc ngủ cứ vụt đến
lúc nào không biết” [6;17] Trong trí tượng tượng thơ dại ấy còn biết bao nỗi
sợ hãi khác mà chỉ có ở lứa tuổi nhỏ, ngây thơ, hồn nhiên và giàu trí tượng tưởng mới tin như thế
Cùng với dòng hồi tưởng đó, Tô Hoài đã kể lại về kí ức tuổi thơ của mình từ cái tên gọi ‟Mới sinh - tôi được gọi là thằng cu Đến khi biết bập bẹ đòi ăn quà, cả nhà đặt cho cái biệt hiệu là thằng Bòi Cẩu, được cả nhà gán cho cái hình dong hao hao giống Bòi Cẩu Bởi cái đầu to quá” [6;23] Tô Hoài được sinh ra tại nếp nhà của ông bà ngoại Tô Hoài ít khi về quê nội bởi quê nội Tô Hoài cũng nghèo túng, khó khăn Quê nội chỉ cách quê ngoại khoảng hai, ba chục cây số mà giờ đây trở nên xa lắc Sinh ra ở quê ngoại và lớn lên
Trang 34rồi ở bên ngoại, cuộc đời Tô Hoài gắn bó với quê ngoại, với ông bà ngoại và các dì ‟Khai sinh, vào sổ làng, mua quan viên, đóng góp phần việc, nhất nhất mọi thứ nhiêu khê đều ở làng ngoại Tôi nghiễm nhiên là một viên quan kẻ Bưởi” [6;39] Chính vì thế Tô Hoài không thích về quê ‟Tôi tưởng về làng nội như bị ném về một nơi rặt người xa lạ Tôi chỉ về quê nội như đi chơi Vừa đặt
chân xuống mặt đường và khi cái xe ô tô xình xịch đi khỏi, tôi chợt có một
cảm giác lạ thường Tôi vừa ở Hà Nội náo nhiệt, vừa ngồi tầu điện ầm ĩ, vừa
đi ô tô ồn ào, bây giờ xuống đây, sao mà hoang vắng”[6;40-42]
Rồi nhà văn lại kể sang việc đi học của mình “Việc học của tôi được định từ trong tết Nguyên Đán, do một lá thư của thày tôi ở Sài Gòong gửi về Thầy tôi bảo u tôi cho tôi đi học, nhân tiện đương có một ông giáo quen dạy trường học làng trên” [6;57] Từ những chi tiết nhỏ nhặt nhất về tuổi ấu thơ của mình đã được nhà văn Tô Hoài viết trong hồi kí của mình Khi đi học, Cu Bưởi đã được đổi mốt tóc ‟Đầu tôi trọc hếu, rớm mấy vết máu, mất hẳn cái núm tóc quen thuộc trên đỉnh”, ‟Qua tết chần chừ mãi, ăn hết cả bánh chưng, tôi vẫn chưa được đi học vì chưa có sách Cho đến tháng 3, tháng 4 thì u tôi đã sắm cho tôi được đủ mọi thứ để đi học Tôi lại được ra Hàng Mã học” [6;58-59] Tác giả kể lại những kỉ niệm khó quên của đời học sinh những ngày đi học ở trường làng thật khủng khiếp và buồn cười, hơn hai năm trời ra Hà Nội ở với người bạn thân của bố, tiếng là trọ học, nhưng cả ngày quần quật làm đủ thứ việc linh tinh của một cửa hàng tạp hóa: dọn hàng, vần ra vần vào một cái lốp ô tô, đánh giày ‟Tôi kẹp chiếc giầy vào giữa hai bàn chân Tôi ngoẹo đầu, tay căng mảnh da, miết liên tiếp trên mặt da giầy” [6;100], rồi cọ chai, lau xe, phụ thổi cơm, nhặt rau muống, rửa bát ‟Tôi vào bếp nhặt rau muống với cái Hiến Cả nhà ăn cơm ngoài cửa hàng Bát dĩa rếch bỏ ra chậu Xong việc bát, tiếp đến cọ chai” [6;101] Cu Bưởi chỉ được về ăn tết mấy ngày Thấm thoát,
đã ngoài mùng 7 hạ nêu, u lại đưa xuống Kẻ Chợ Lúc đó thằng cu Bưởi chỉ
Trang 35mong tết lâu lâu bởi vì ra Kẻ Chợ, nó lại phải làm những công việc nhàm chán
“Thế là tôi trở lại cuộc đời năm ngoái cọ chai và vần những cái lốp ô tô vẫn đứng lù lù bên góc tường Tôi lại làm các công việc như năm trước” [6;114] Khi kì thi đã đến chỉ vì tính nhầm mà thằng cu Bưởi đã trượt vỏ chuối ‟Lần nữa, mùa hạ qua Mùa thu đến Cuộc sống vẫn một khuôn quen thuộc Nỗi nhớ nhà cũng khuây khỏa trong công việc hàng ngày Tôi quên hẳn việc sách vở Tôi làm khỏe Tôi ăn khỏe” [6;118] Những ngày đi học thật buồn tẻ, vô vị và buồn chán, không có gì đáng nói, để rồi cuối năm học mới được về với cái đầu
bị hắc lào mốc trắng mà chẳng có lấy một hột chữ nào nhét vào bụng Được về với mẹ, với bà ngoại và các dì, và với việc cõng em, đó mới chính là niềm vui của Bưởi ‟Tôi không bao giờ đi học nữa Vài năm nữa, tôi sẽ đi thợ cửi như những đứa trẻ khác trong xóm” [6;142]
Đó là những hồi ức về tuổi ấu thơ của Tô Hoài, còn khi đã trở thành một nhà văn, tác giả đã hòa mình trong môi trường sống gần gũi với các nhà văn
Ta thấy nổi bật lên cái ‟tôi” nghệ sĩ tài hoa, tinh tế, khéo léo thể hiện ở cách kể chuyện Chen giữa mạch truyện tự sự của chủ thể ‟tôi” kể về nhân vật khác là những đoạn tâm sự trực tiếp của nhân vật ‟tôi”, người chứng kiến câu chuyện, điều đó làm cho câu chuyện kể ngừng lại, nhịp kể chậm lại lắng sâu và suy tư của nhân vật tôi cũng như tạo sự ngừng lại, cùng suy tư với nhân vật của độc giả Cách kể được thể hiện bằng lời văn gián tiếp của người kể và lời nửa trực tiếp mang ý thức nhân vật rất đặc sắc ở Tô Hoài: ‟Khi bực tức một người, một bài báo, người ta nói thường thốt ra, câu nói ác khẩu mà nhiều người hay kể lại: bao giờ tôi chết thì nhớ chôn theo với tôi một thằng phê bình, theo cái nhớ của tôi, thật thì Nguyễn Tuân còn nói đùa thêm để dưới ấy trao đổi cho đỡ buồn Cũng táo tợn như cái câu của P.Môrăng: Ta muốn sau khi ta chết đi, da
ta được thuộc làm cái vali mà Nguyễn Tuân đã lấy đặt lên đầu trang tiểu thuyết
Thiếu quê hương khi in từng kỳ ở tuần báo Hà Nội Tân Văn Mỗi lần cáu kỉnh,
Trang 36Nguyễn Tuân vùng vằng nói: - Thế này thì tao đem trả thẻ Đảng cho Tố Hữu
Nhưng chưa bao giờ Nguyễn Tuân làm thế Mà chỉ thấy mỗi năm, dịp kỷ niệm ngày vào Đảng, hay tết nhất Nguyễn Tuân đều đến chơi Tố Hữu Thế nào cũng cầm lên mấy bông hồng vàng lòng trứng gà Trước sau tề chỉnh hầu như đã thành nếp Cũng là miệng xà thôi ” [8;164-165]
Ở đây nghệ thuật tự biểu hiện của nhân vật bằng cách dùng những nhận xét của người khác khi nhận xét về mình một cách thẳng thắn, khách quan Một cái tôi chân thành không né tránh Hoàn toàn nhất quán trong cách viết, không ngại ngần phanh phui ngay cả chính bản thân mình Ông viết cả những câu nói của bạn văn khi nói về ông, như nhận xét của Như Phong: “Thằng ngoại ô láu cá, văn chương thì đẽo gọt”; hay Nguyễn Tuân cũng từng nhận xét:
“Chó biết thằng này thế nào là thật! Tao ghét cái cười mủm mỉm hiền lành, không hiền lành của mày” [8;159] Và Tô Hoài cũng nhìn nhận về mình: “Có thể thế Tôi sinh ra nơi thành phố và làng mạc lẫn lộn, thế lực chánh lí không khạc ra lửa như trời đất làng Đại Hoàng của Nam Cao, ở quê tôi túi bạc đâm toạc tờ giấy, có tiền là có cả, bấy lâu tôi lăn lóc trong khóe đời ấy” Ngay cả việc đã từng bị Nguyên Hồng chửi thẳng vào mặt ông cũng không hề che giấu:
“Tiên sư mày, thằng Câu Tiễn! ” Phải chăng vì thế mà ta hình dung ra Tô Hoài như một bức chân dung được phác thảo giống như bất cứ bức chân dung nào khác; không thiên vị, không né tránh Tinh tường, tài hoa trong cách nhìn nhận, đánh giá, phản ánh Cả khi viết về mối tình trai lập dị của Xuân Diệu, Tô Hoài cũng không hề giấu diếm những mối quan hệ của mình với Xuân Diệu
‟Xuân Diệu yêu tôi Nhớ những tình yêu con trai với nhau, rồi trong làng và ở lớp, khi mới lớn Học lớp nhất trường Yên Phụ, nói vỗ tiếng ồ ồ, mặt sùi trứng
cá chúng nó cứ bảo tôi là con gái Nhiều thằng cặp đôi với tôi đòi làm vợ chồng Có hôm chúng nó tranh tôi, đánh nhau lung tung Có đứa xô vào ôm chặt, sờ soạng toạch cả đũng quần tôi” [8;168]
Trang 37Tô Hoài còn hồi tưởng lại về quá trình sáng tác của mình đặc biệt là việc viết bộ ba tiểu thuyết Lúc đó đã diễn ra cuộc tranh luận giữa các trường phái
về sáng tác tác phẩm Mười năm của ông ‟Mười năm của tôi - một trong những
ấn phẩm cuối cùng của nhà xuất bản Hội Nhà Văn Lập tức, các báo mổ xẻ phê bình Một đòn đánh mạnh và lý lẽ nhất, bài của Như Phong trong ban biên uỷ báo Nhân Dân in trên báo ấy và bài của Trần Độ trên tạp chí Văn nghệ Quân
đội Đấy cũng là một quyển sách còn sót lại thúc đẩy phải đóng cửa nhanh nhà xuất bản này” [8;178] Trong đó có hai người phát biểu gay gắt nhất Người
thứ nhất đó là Như Phong: ‟- Mười năm có thể là một cuốn tiểu thuyết khá, vì đấy cũng là thực tế ở làng quê tác giả và chính tác giả đã sống Nhưng nó đã được chuẩn bị và sáng tác trong thời kỳ Nhân Văn lũng đoạn nên bị ảnh hưởng
xấu Các nhân vật cán bộ cách mạng đã bị bóp méo đến thảm hại” [8;179]
Người thứ hai là Lưu Quyên, Lưu Quyên dõng dạc: -‟Tôi là người chịu trách nhiệm phong trào Hà Đông thời kỳ ấy Hà Đông chúng tôi khi đó không phải
như trong tiểu thuyết Mười năm Tôi phản đối người viết đã xuyên tạc sự thật lịch sử” [8;179] Từ đó người đọc có thể hiểu về hành trình sáng tác và những
tác phẩm của Tô Hoài, để sáng tác được những tác phẩm có giá trị, nhà văn đã phải trải qua biết bao cuộc tranh đấu, tranh luận của các trường phái, khuynh
hướng, các nhà nghiên cứu, phê bình
2.1.2 Những người thân trong gia đình
Hồi ức - nhân vật tôi đang nhớ lại những điều bản thân đã trải qua Tiếp
sau khi kể về kí ức tuổi thơ của mình, trong Cỏ dại, Tô Hoài kể về làng quê
ông và gia cảnh nhà ông Đọc những trang ông tả về làng xóm và căn nhà cổ xưa thừa kế của họ ngoại ông, hẳn nhiều bạn ở tuổi ‟ngũ thập nhi tri thiên mệnh” thường sẽ chạnh lòng khi nhớ lại căn nhà xưa, làng xóm cổ kính xưa của mình Sâu vào hoàn cảnh, ông giản lược kể về người cha: ‟Thày tôi học dốt, lại lười và bướng Thường phải nhảy xuống ao trốn đòn suốt ngày Rồi bỏ
Trang 38nhà đi lang thang, sau ông bà tôi lấy một người con gái làng cho thầy tôi Đó là người mẹ già Sau đó mới lấy mẹ tôi Thầy tôi đến làng u tôi với phong dạng chàng Kim Trọng du xuân trong truyện Thúy Kiều Rồi thầy tôi xuống Hải Phòng đi tàu thủy vào Nam Kì” [6;34-36] Nhà văn cảm thấy cuộc sống thật đáng buồn có cha mà cũng như không bởi vì người cha luôn biệt nhà đi xa kiếm sống ‟Mấy năm sau, thày tôi trở về Mọi người xôn xao mừng rỡ còn tôi lủi ra đằng đầu nhà, rồi tôi khóc Dần tôi quen thầy tôi Tôi nằm bên, thoáng ngửi một mùi thơm lạ mà tôi biết là mùi xà phòng thơm Thày tôi mang về bao nhiêu thứ mới, nào là cái kèn hát, nào là những cuốn sách” [6;78-79] Và cuối cùng trong kí ức của mình người cha dứt bỏ hẳn vợ con ‟Tết năm nay, nhà có
em bé mà chẳng thấy giấy má của anh mày gửi về Năm nay, đã ngoài rằm mà không có tin tức gì của thầy tôi” [6;112] Bằng miệng của một bác người cùng làng bên họ nội từ Sài Gòn ra, ông thuật lại: ‟ Thày tôi lấy người ở Hanh Thông Tây làm nghề bánh tráng đã được hai con một giai một gái Thày tôi bây giờ lòa cả hai mắt, đi phải chống gậy Giá thấy tôi trở về, dễ tôi cũng quên mặt, như lần về trước” [6;139] Nỗi mất mát thiếu thốn tình cảm của người cha từ bé được ông kể song hành với những ngày sống êm đềm ở quê ngoại với mẹ, với ông bà ngoại trong căn nhà gạch cổ, với mảnh vườn bé tẹo sum xuê cây quả mà chú bé Sen khéo tổ chức thành một ‟sở bách thú hấp
về chuyện ngày xưa ‟Ông tôi đã từng ăn trộm, đi ăn cướp Có lần ông tôi đi
Trang 39phu mộ làm đường trong Phan Rang, Phan Thiết Vào trong đó gặp cảnh hai
vợ chồng có con bị bỏng đã tưởng ông tôi là thầy lang, đã van xin ông tôi rối rít, đưa ông tôi về nhà Sáng hôm sau, ông tôi đành trốn” [6;28] Bây giờ về già, con người ấy ngoài việc ngồi đăm chiêu ‟thường cả ngày không nói” và quét lá rụng trước sân thì ‟không cất nhắc một việc gì nữa” [6;26] Dáng ngồi lặng lẽ, khắc khoải của người ông như một dấu chấm buồn góp vào bức tranh cuộc sống chung của những người dân trong làng Cuộc sống bị bao phủ màu xám tẻ ngắt của cái nghèo đói, cũ kỹ và lạc hậu
Trong kí ức của mình, có lẽ ám ảnh và day dứt trong trái tim thơ ngây và nhạy cảm của cậu bé Sen là hình ảnh người mẹ Cảm xúc về mẹ - đấng sinh thành, là điểm tựa tinh thần luôn đem đến cho ta một cảm giác dễ chịu, thân thiết Đó là một người mẹ hiền lành, đảm đang nhưng lúc nào cũng vất vả ‟U tôi là con đầu lòng Tôi biết nói những gì về u tôi trên những dòng chữ yếu đuối này Những nét chữ ẻo lả, làm sao mà chứa nổi hình ảnh vui thương chìm sâu trong những ngày cũ buồn bã Cái bóng lẫm lũi hòa với bóng tối, vẽ nên một khuôn mặt trắng với đôi mắt nhỏ lòng đen nhuộm một màu nâu đồng Thỉnh thoảng, như sực nhớ tôi chợt nhìn u, tôi bỗng giật mình Tôi ngờ ngợ như người ngồi trước mặt đây không phải là u tôi U tôi già đi từ bao giờ? Khi tôi ngậm ngùi như thế, tôi lại ngẩn ngơ tưởng tượng rằng có một hôm tốt trời nào đó tôi có tiền Tôi sẽ đưa u tôi ra Kẻ Chợ” [6;36-37] Hình ảnh người
mẹ cặm cụi trong những đêm khuya lắm rồi vẫn ngồi “lặng lẽ xắm giấy, bóng
đổ chập chờn trên vách” [6;38] bao năm qua vẫn còn in đậm trong tâm trí nhà văn với nỗi cảm thương day dứt Tác giả ngậm ngùi nhận ra cuộc sống của mẹ
từ khi sinh ra đã quen với sự chịu đựng, quen với những nỗi bất hạnh cay đắng của cuộc đời Tác giả đứng ở hiện tại để hồi tưởng lại nên khắc họa nhân vật của mình bằng tình yêu thương trong chiều sâu tâm hồn
Trang 40Trong kí ức của mình, Tô Hoài còn nhớ về đứa em gái lanh lợi, láu lỉnh của mình, không may bị bệnh sởi chết sớm ‟Tôi không nhớ rành rõ được những ngày đau yếu của Hồ thế nào Cả nhà ai cũng yêu Hồ hơn yêu tôi Mà ông tôi thì mắng tôi chớ chẳng hề bao giờ mắng nó Mắt nó nhắm như ngủ Mặt nó trắng xanh, xanh hơn thường ngày Tôi không hiểu nó đã chết” [6;75] Rồi tác giả nhớ tới bà Ba – cụ thân sinh ra ‟mẹ già” của tác giả - sống hắt hiu như cái bóng nhưng hết lòng yêu quý đứa cháu hờ ‟Trong những ngày về quê thuở ấy, tôi chỉ có thể tìm được một chút vui vui dịu dàng, mỗi lần ra ngoài nhà bà Ba Bà nói rằng bà nhớ tôi, có gì bà cũng để phần tôi Những bữa cơm
ăn với bà Ba ngon trong đời tôi, lắm khi chỉ có rau khoai” [6;44] Đồng thời, ông có thêm tình cảm của những bà dì ruột (Năm, Bảy, Nhâm), những cô em ruột (Hồ, Ngó), em họ (Châu, Nhâm), tuy chỉ loáng thoáng xen trong cảnh sống lận đận của toàn thể gia đình, họ hàng ông, nhưng nó vẫn toát ra sâu đậm cái nhớ thương của ông với họ Những dì ruột của Tô Hoài cũng loáng thoáng
xuất hiện trong những trang viết Trong Phố mới, Tô Hoài khắc họa hình ảnh
Dì Năm, Dì phải ra tận nhà cầm đồ Vạn Bảo ở phố Mới để chuộc cái áo cánh bông để ăn tết, rồi dì Năm bị lừa mất một hào cho con mụ Tú Bà với ý định đi làm khâu đầm, làm chị hai ở nhà Tây Hình ảnh dì Nhâm với cuộc sống mưu sinh cũng không kém phần vất vả ‟Dì Nhâm tôi ở Vân Nam về Dì Nhâm là
em thứ hai, ngay sau lưng u tôi Dì Nhâm béo tròn, da ngăm đen, mặt phinh phính Không một nét gẫy Vẻ đanh đá đáo để Dì Nhâm bắt đầu đi buôn chuyến lên Vân Nam rồi lỗ vốn Mẹ Nhâm túng quẫn nên hay cãi nhau có lúc mắng và đánh cả Châu, Nhâm” [6;123]
Thông qua những kí ức về người thân trong gia đình ông như ông bà ngoại, bố mẹ, dì Nhâm, cái Hồ ta thấy bóng dáng của những con người Hà Nội hiện lên rất rõ nét Đó là những con người Hà Nội lam lũ, vất vả, chịu thương, chịu khó và giàu đức hi sinh