Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể kể tên một số công trình sau: Nguyễn Thị Chiến trong bài Nét văn hóa Thăng Long xưa trong Chuyện cũ Hà Nội của Tô Hoài đã cho rằng: “Tác phẩm là một tập ký
Trang 1Thái Nguyên, tháng 5 năm 2018
Trang 2Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Diệu Linh
Thái Nguyên, tháng 5 - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sựhướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Diệu Linh
Nội dung đề tài nghiên cứu của luận văn chưa được ai công bố trong bất
kì công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2018
Tác giả luận văn
Lê Thị Thu
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
2.1 Những công trình nghiên cứu về Tô Hoài và đề tài Hà Nội trong văn Tô Hoài 2
2.2 Những công trình nghiên cứu về Chuyện cũ Hà Nội của Tô Hoài 4
3 Đối tượng, mục đích và phạm vi nghiên cứu 7
3.1 Đối tượng nghiên cứu 7
3.2 Mục đích nghiên cứu 7
3.3 Phạm vi nghiên cứu: 7
4 Phương pháp nghiên cứu 8
5 Đóng góp của luận văn 8
6 Cấu trúc của luận văn 8
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 9
1.1 Tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa 9
1.1.1 Mối quan hệ văn hóa - văn học 9
1.1.2 Nghiên cứu văn học dưới góc nhìn văn hóa trong văn học Việt Nam hiện đại 13
1.2 Đề tài Hà Nội trong văn học Việt Nam hiện đại 16
1.2.1 Đặc trưng văn hóa Hà Nội 16
1.2.2 Hà Nội - đề tài hấp dẫn trong văn xuôi hiện đại 19
1.3 Đề tài Hà Nội trong sáng tác của Tô Hoài 24
1.3.1 Một tình yêu Hà Nội sâu đậm 24
1.3.2 Nhãn quan hiện thực đặc sắc 28
Trang 51.4 Bối cảnh xã hội Việt Nam những năm 40 của thế kỉ XX 31
CHUYỆN CŨ HÀ NỘI CỦA TÔ HOÀI 34
2.1 Những dấu ấn văn hóa vật chất 34
2.1.1 Nét văn hóa ẩm thực bình dân 34
2.1.2 Những nét trang phục độc đáo 40
2.1.3 Một số biểu hiện khác trong văn hóa vật chất 43
2.2 Những dấu ấn văn hóa tinh thần 50
2.2.1 Những phong tục tập quán 50
2.2.2 Văn hóa lễ hội - món ăn tinh thần của người Hà Nội 55
2.2.3 Những tín ngưỡng dân gian 58
2.2.4 Văn hóa ứng xử của người Hà Nội 62
NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN VĂN HÓA HÀ NỘI TRONG CHUYỆN CŨ HÀ NỘI CỦA TÔ HOÀI 69
3.1 Ngôn ngữ xuất phát từ đời sống của quần chúng 69
3.1.1 Ngôn ngữ đời thường, mộc mạc 69
3.1.2 Ngôn ngữ biểu cảm, giàu tính tạo hình 73
3.2.1.Giọng điệu tự nhiên, nhẩn nha 76
3.2.2 Giọng điệu dí dỏm, hài hước 77
3.2.3 Giọng điệu trữ tình, xót xa 79
3.3 Không gian, thời gian nghệ thuật 81
3.3.1 Không gian nghệ thuật 81
3.3.2 Thời gian nghệ thuật 89
92
KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa là hướng nghiên cứu ngày càng được
sử dụng phổ biến Danh nhân người Pháp E.douard Herriot đã nói: “Văn hóa là những
gì còn lại sau khi người ta đã quên đi tất cả” Mỗi một dân tộc, một đất nước, một
vùng đất trên thế giới đều có cho riêng mình những bản sắc văn hóa không thể pha lẫn.Văn học nằm trong văn hóa, là một trong những yếu tố quan trọng nhất góp phần hìnhthành nên bản sắc văn hóa dân tộc Mối quan hệ văn hóa - văn học là mối quan hệ gắn
bó khăng khít không thể tách rời Nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa giúp chúng
ta có khả năng khai thác sâu giá trị nội tại của tác phẩm, có cái nhìn bao quát, sâu sắc
toàn diện đời sống văn hóa của cả cộng đồng dân tộc.
1.2 Tô Hoài không chỉ là nhà văn lớn của nền văn học hiện đại Việt Nam mà ôngcòn là một nhà văn hóa lớn Trên hành trình sáng tạo hơn 60 năm không ngừng nghỉ,
Tô Hoài đã trải qua những mốc lịch sử và văn học đặc biệt: trước và sau Cách mạngtháng Tám; trong chiến tranh và trong hoà bình; trước và sau thời kỳ đổi mới văn học.Sáng tác của Tô Hoài đa dạng về đề tài và thể loại: từ đề tài miền xuôi đến đề tài miềnnúi, từ truyện ngắn, tiểu thuyết, truyện đồng thoại đến kịch bản phim, tiểu luận Ở đềtài và thể loại nào, ông cũng để lại những dấu ấn riêng rõ nét thể hiện bản lĩnh và tàinăng của người cầm bút
Đề tài Hà Nội trong văn Tô Hoài là mảng sáng tác độc đáo, có những thành công
và tạo được dấu ấn riêng, đậm nét trong lòng độc giả Cùng với Nguyễn Tuân, Thạch
Lam, Vũ Bằng Tô Hoài đã để lại nhiều trang văn xuất sắc, vì câu chữ của ông không
những thể hiện được văn hóa, phong tục mà còn thể hiện được “hồn vía” của người Hà Nội Tô Hoài là người Hà Nội, mảnh đất và con người nơi đây đã tạo cảm hứng và
định hướng nghệ thuật cho nhà văn từ những ngày đầu cầm bút
1.3 Trong sự nghiệp sáng tác của Tô Hoài, tác phẩm Chuyện cũ Hà Nội không
đơn thuần là một tập ký sự mà còn được đánh giá như là“một tư liệu văn hoá dân tộc, một chứng từ thời đại và là tác phẩm văn học có giá trị cao về ba mặt nghệ thuật, sử
liệu và nhân đạo” [62] Tác phẩm được coi “là một Vũ trung tùy bút thời hiện đại”
[54] Với tư cách một chứng nhân, Tô Hoài đã ghi lại “muôn mặt đời thường” của Hà
Trang 7Nội thời thuộc Tây, một giai đoạn quá khứ tuy không quá xa nhưng cũng khiến ngườiđọc phải ngỡ ngàng, lạ lẫm Tuy nhiên, Phong Lê đã từng phải ngậm ngùi khi cho rằng
Chuyện cũ Hà Nội là “tác phẩm rất quý giá về tư liệu và vui hóm trong cách
kể nhưng lại ít có bài bàn và bình” [20, tr 18]
1.4 Tác phẩm của Tô Hoài đã được đưa vào giảng dạy và học tập trong nhà
trường phổ thông nhiều năm nay Vì vậy việc tìm hiểu Chuyện cũ Hà Nội - một tác
phẩm độc đáo của Tô Hoài sẽ góp phần giúp cho các thế hệ độc giả có cái nhìn toàndiện về sáng tác của nhà văn, có thêm nguồn tư liệu phục vụ cho công tác học tập và
giảng dạy.
Từ những lí do nói trên, chúng tôi đã chọn đề tài Chuyện cũ Hà Nội của Tô Hoài
từ góc nhìn văn hóa Đây chính là hành trình trở về với văn học, văn hóa truyền thống
khi mà vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa đang đặt ra bức thiết như hiện nay
có nhiều công trình nghiên cứu về tác giả Tô Hoài ở nhiều góc độ, nội dung khác nhau
Hà Minh Đức trong bài giới thiệu khái quát về các nhà văn Việt Nam đã dành
những lời nhận xét trân trọng, xác đáng, nhà văn Tô Hoài là “cây bút sung sức, giàu sáng tạo” và đặc biệt nhấn mạnh giá trị văn hóa qua những trang văn Tô Hoài “Ông viết về đất nước, quê hương, con người qua những bức tranh chân thực và lắng đọng với thời gian để làm nổi lên những giá trị vật chất và tinh thần bền vững” [7, tr 9].
Phong Lê là một trong những nhà nghiên cứu có nhiều tâm đắc với Tô Hoài Trong
bài Tô Hoài, sáu mươi năm viết khi tổng kết toàn bộ hành trình sáng tác bền bỉ, liên
tục của nhà văn, Phong Lê cho rằng: “Đề tài Hà Nội cũ và mới vốn là mạch sống quen
Trang 8thuộc ở Tô Hoài” [20, tr18] “Một Hà Nội - quê hương trong ba chiều thời gian, quả
đã làm nên vóc dáng một Tô Hoài, có giống và có khác với Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng - cái “bộ tứ” làm nên khuôn hình và chất lượng “Người Hà Nội -
văn Hà Nội” [20, tr37] Trong một bài viết khác mang tên Ngót sáu mươi năm văn Tô
Hoài, Phong Lê cũng khẳng định: Tô Hoài là nhà văn “Lực lưỡng và liên tục đến già”.
Đặc biệt phong cách Tô Hoài “không lẫn với ai Một Tô Hoài hết mình Hóm hỉnh và thông minh Nhẹ nhõm mà có sức nặng Cứ như đùa mà thật nghiêm chỉnh Nhũn nhặn, khiêm nhường mà thật dũng cảm” [20, tr 179].
Trong bài Tô Hoài, người sinh ra để viết, Nguyễn Đăng Điệp đã cho rằng “Tô
Hoài mang phẩm chất của một cây bút chuyên nghiệp”, “là một pho từ điển bách khoa
về đời sống” [49] Nhà nghiên cứu cũng rất tinh tế khi cho rằng cảm hứng chính trong những trang văn của Tô Hoài chính là lấy từ “hai vùng đất: con người, phong thổ ngoại ô Hà Nội và vùng đất Tây Bắc” Trong đó riêng về đề tài Hà Nội, Tô Hoài là
“một cây bút cự phách” Những trang văn xuất sắc của Tô Hoài không những thể hiện
được văn hóa, phong tục mà còn thể hiện được “hồn vía của người Hà Nội” [49]
Cũng nhận xét về đề tài Hà Nội trong văn Tô Hoài, Trần Hữu Tá viết: “Có thể coi ông là nhà văn của Hà Nội” [31, tr 150] Đồng thời nhà nghiên cứu cũng chỉ ra nét riêng độc đáo của Tô Hoài khi viết về mảnh đất đã được quá nhiều người “cày xới” và
“canh tác” thành công này: “Nguyễn Huy Tưởng viết rất gợi cảm về rừng bàng Yên Thái, bến trúc Nghi Tàm…Nguyễn Tuân lại có những trang đặc sắc tả khu trung tâm thành phố…Tô Hoài có riêng một vùng ngoại thành cần lao nhưng thơ mộng gắn bó với ông từ thuở lọt lòng” [31, tr 158].
Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn đã dành khá nhiều bài viết về các sáng tác của
Tô Hoài Trong bài Cuộc phiêu lưu giữa trần ai cát bụi, tác giả đã cho rằng đời văn
hơn 60 năm của Tô Hoài là quá trình lao động nghệ thuật sung sức, bền bỉ và nghiêm
túc: “Đó là một sự kéo dài đường hoàng chứ không phải lê lết, tẻ nhạt” Và “đời văn của Tô Hoài gợi ra hình ảnh một dòng sông miên man chảy và mang trong mình cả
cuộc sống bất tận” [29, tr 180] Trong một bài viết khác mang tên Tô Hoài với muôn
mặt nghề văn, Vương Trí Nhàn đã dẫn lời nhà thơ Tế Hanh khi so sánh “Có những
người như Picasso sinh ra để vẽ, ở một mức độ nào đó cũng có thể nói Tô Hoài sinh
Trang 9ra để viết” [20, tr 582] Điều đó càng khẳng định mối lương duyên bền chặt giữa Tô
Hoài và văn chương
Nhà thơ Trần Đăng Khoa, người bạn thân thiết của Tô Hoài cũng đã nhận xét: “Tô Hoài như một từ điển sống, một pho sách sống Ông như cuốn Bách khoa Toàn thư mà không Viện sĩ nào, không học giả nào có thể sánh được Tôi đã có dịp tò mò hỏi ông
về Hà Nội và rất ngạc nhiên Tôi không ngờ ông hiểu Hà Nội sâu sắc đến thế Tôi gọi ông là Nhà Hà Nội học, dù ông không nghiên cứu” [52].
Tác giả Hoài Anh trong bài viết Tô Hoài, nhà văn viết về Hà Nội đặc sắc và
phong phú cho rằng “Đề tài Hà Nội luôn luôn trở đi trở lại trong tác phẩm của Tô
Hoài: Vỡ tỉnh, Người ven thành, Chuyện cũ Hà Nội, Quê nhà…” Tác giả cũng chỉ
ra đặc trưng riêng của văn phong Tô Hoài đó là lối viết “hóm hỉnh, sắc sảo, giàu chất tạo hình và chất thơ, nhất là trong những đoạn miêu tả thiên nhiên, cảnh sắc” [1, tr.
175]
Như vậy, có thể nói đã có rất nhiều những bài viết, công trình nghiên cứu về sángtác của Tô Hoài và đề tài Hà Nội trong văn Tô Hoài Điều đó phần nào đã khẳng địnhtài năng văn chương và những cống hiến to lớn của Tô Hoài với văn hóa, văn họcnước nhà
2.2 Những công trình nghiên cứu về Chuyện cũ Hà Nội của Tô Hoài
Chuyện cũ Hà Nội của Tô Hoài là một tác phẩm hấp dẫn, có giá trị cả về mặt lịch
sử, văn hoá lẫn giá trị nghệ thuật văn chương Mặc dù có rất nhiều công trình nghiên
cứu về tác giả Tô Hoài nói chung, nhưng riêng hai tập Chuyện cũ Hà Nội của ông lại
ít được đề cập đến Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể kể tên một số công trình sau:
Nguyễn Thị Chiến trong bài Nét văn hóa Thăng Long xưa trong Chuyện cũ Hà Nội của Tô Hoài đã cho rằng: “Tác phẩm là một tập ký sự độc đáo, hấp dẫn người
đọc bởi một lối kể chân thực, một cách nhìn thấu đáo hồn hậu, thấm đẫm tình yêu sâu lắng, xót xa mà vẫn tràn trề hy vọng về mảnh đất Thăng Long xưa” [46] Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra nội dung chính của tác phẩm là “dựng lên diện mạo Hà Nội từ hai
phương diện: Văn hoá vật chất với cảnh sống cực khổ của người dân nô lệ mất nước
và văn hoá tinh thần với vẻ đẹp của phong tục tập quán, lễ hội, văn học dân gian và
Trang 10sức mạnh tinh thần bền vững” [46] Tuy nhiên bài viết chưa tái hiện đầy đủ bức tranh
văn hóa Hà Nội mà tác giả dừng lại bàn về một số nét văn hóa như lễ hội, tết…
Vương Trí Nhàn nhận xét: “Từ các làng xóm chung quanh nội thành, người đi viết văn, viết báo xưa nay không phải ít, nếu kể ra các vùng quê mới cắt từ Bắc Ninh, Hưng Yên, Sơn Tây, Hà Đông để nhập vào Hà Nội, thì số tác giả của Thủ đô thật là nhiều Song có lẽ chỉ có Tô Hoài là mang được cái chất riêng của vùng đất mà mình
đã từ đó trưởng thành Và giữ được cái chất đó, trong suốt cuộc đời cầm bút” [29, tr.
180]
Tác giả bài viết Tô Hoài - người Hà Nội khẳng định: “Nói đến Tô Hoài người ta
cũng không thể không nói đến những tác phẩm văn chương mang đậm dấu ấn Hà Nội của ông Hà Nội trong những trang viết của Tô Hoài hiện lên rất bình dị, mộc mạc mà gần gũi nhưng không vì thế mà mất đi nét hào hoa, lãng tử và dí dỏm vốn có của một nhà văn gốc người Hà Nội” [59].
Cũng đồng tình với các quan điểm trên, nhưng đứng trên cương vị của một người
đọc để thấu cảm tác phẩm, tác giả Đặng Tiến trong bài Đọc Chuyện cũ Hà Nội lại khá tinh tế khi nhận ra rằng: “Chuyện cũ Hà Nội là niềm hoài cựu miên man về một
thành phố, đồng thời là khối trầm tư ray rứt một đời người về thân phận làm người” [62] Tác giả cũng nhấn mạnh giá trị văn hóa của tác phẩm khi cho rằng “Tô Hoài đã
mở rộng đề tài Hà Nội sang địa hạt văn hoá dân tộc trên cả hai chiều lịch sử và thời
sự” Cuối cùng Đặng Tiến đánh giá “Chuyện cũ Hà Nội, ký sự địa phương, là một tư
liệu văn hoá dân tộc, một chứng từ thời đại và là tác phẩm văn học có giá trị cao về
ba mặt nghệ thuật, sử liệu và nhân đạo” [62].
Tác giả Quế Lam trong bài biết Nhà văn Tô Hoài với Chuyện cũ Hà Nội đã đánh giá: “Chuyện cũ Hà Nội được nhận xét là một tập ký sự về lịch sử…một tập điều
tra xã hội học của thời nửa đầu thế kỷ XX bằng văn chương” [54] Ở đó, nhà văn Tô
Hoài đã vẽ nên một Hà Nội đang trong quá trình đô thị hóa với những thay đổi “nửa Tây nửa Ta, nửa cũ nửa mới, nửa sang nửa quê” [54] Đồng thời người viết cũng
điểm qua đôi nét về nghệ thuật: “ngòi bút sắc sảo và sự hiểu biết phong phú”, “năng lực quan sát và kỹ thuật phân tích sâu rõ” [54] Mỗi mẩu chuyện tuy ngắn nhưng đều
đọng lại trong lòng độc giả nhiều cảm xúc, vui có, buồn có và cả sự thương cảm
Trang 11Trong một bài viết đăng trên Tạp chí Khoa học & Công nghệ, hai tác giả Lê Thị
Như Nguyệt và Phạm Kim Thoa lại nghiên cứu Đặc điểm cú pháp trong Chuyện cũ
Hà Nội của Tô Hoài Tác giả rút ra đặc điểm chủ yếu của câu văn Tô Hoài là sử dụng
nhiều kiểu câu “như câu đơn hai thành phần, câu đặc biệt (câu đặc biệt - danh từ, câu đặc biệt - vị từ), câu dưới bậc (câu ẩn chủ, câu khuyết chủ, câu dưới bậc có tính vị ngữ lâm thời), câu phức, câu ghép, trong đó nhà văn chủ yếu sử dụng câu đơn, câu đặc biệt và câu dưới bậc” [57], tạo ra sự mộc mạc, dung dị, dễ hiểu vốn là phong cách
đặc trưng của văn Tô Hoài
Ngoài ra, Chuyện cũ Hà Nội cũng là đề tài của một số luận văn trong những năm
gần đây Tác giả Ngô Chiến Thắng (Đại học Vinh, 2009) trong luận văn Ngoại ô Hà
Nội trước Cách mạng tháng Tám qua Chuyện cũ Hà Nội của Tô Hoài đã khám phá
bức tranh chung về ngoại ô Hà Nội trước Cách mạng, thế giới nhân vật với nhữngcảnh ngộ khác nhau, màu sắc văn hóa Hà Nội thể hiện qua những phong tục, tậpquán Bên cạnh đó, tác giả còn khám phá những nét đặc sắc nghệ thuật riêng của TôHoài trong tác phẩm như: khả năng quan sát, miêu tả tinh tế, sắc sảo; khả năng phântích thế giới và con người qua sự hiểu biết chân thành và nhân hậu; ngôn ngữ sống
động, giọng điệu phong phú Qua đó, tác giả Ngô Chiến Thắng đánh giá: “Chuyện
cũ Hà Nội là một tập truyện có giá trị về xã hội học, giàu kiến thức về lịch sử Hà Nội
nhưng hơn tất cả đó là một tác phẩm văn chương đặc sắc, gây ấn tượng” [36, tr 60].
Trong một luận văn thạc sĩ khác, tác giả Đỗ Thị Hồng Vân (Đại học Sư
phạm - Đại học Thái Nguyên, 2013) lại khám phá góc độ Cảm quan hiện thực trong Chuyện cũ Hà Nội của Tô Hoài một cách tỉ mỉ sâu sắc Tác giả luận văn đã cho
người đọc thấy được cảm quan hiện thực của Tô Hoài thông qua cảm quan về xã hội,con người và phong tục Qua quá trình tìm hiểu tác phẩm, người viết đã đưa ra những
kết luận khá xác đáng: “Chuyện cũ Hà Nội của Tô Hoài là một tác phẩm hấp dẫn, có
giá trị cả về mặt lịch sử, văn hoá lẫn giá trị nghệ thuật văn chương Xuất phát từ quan niệm viết văn độc đáo, từ tình yêu thiết tha dành cho Hà Nội, Tô Hoài đã viết nên những trang văn với cảm quan hiện thực sâu sắc, tiếp nối những trang văn về cảm hứng Hà Nội Đó là cảm nhận riêng của Tô Hoài về thủ đô, trong đó chứa đựng những quan niệm và cách cắt nghĩa riêng về không gian nghệ thuật này của người nghệ sĩ” [45, tr 78].
Trang 12Năm 2013, Nguyễn Thị Út Hà (Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên) dưới
sự hướng dẫn của GS Phong Lê đã tiến hành nghiên cứu thành công luận văn thạc sĩ
với đề tài Chuyện cũ Hà Nội trong văn Tô Hoài Tác giả đã chỉ ra bối cảnh xã hội
trong những năm 1941 - 1945, giá trị và đặc trưng của Chuyện cũ Hà Nội thông qua
bức tranh đô thị hóa, người và cảnh, nếp sống và phong tục, ẩm thực, thú chơi, đô thị,
ven đô trong Chuyện cũ Hà Nội cùng với những đặc sắc nghệ thuật và phong cách Tô
Hoài
Như vậy, có thể thấy rằng, Chuyện cũ Hà Nội là một tác phẩm xứng đáng để
nghiên cứu và đã bước đầu được quan tâm, khảo sát, tìm tòi Chúng tôi coi đây lànhững gợi ý quan trọng trong quá trình nghiên cứu đề tài của mình Tuy nhiên, chưa có
một công trình khoa học nào nghiên cứu về Chuyện cũ Hà Nội một cách công phu và
toàn diện từ góc nhìn văn hóa Vì lẽ đó, trên cơ sở kế thừa và phát huy những kết quả
mà những người đi trước đã đạt được, chúng tôi mở rộng, khơi sâu và làm rõ những
giá trị văn hóa trong Chuyện cũ Hà Nội của Tô Hoài.
3 Đối tượng, mục đích và phạm vi nghiên cứu.
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung vào việc tìm hiểu những dấn ấn văn hóa vật chất và văn hóa
tinh thần trong tác phẩm Chuyện cũ Hà Nội của Tô Hoài
3.2 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nhằm chỉ ra những giá trị về văn hóa được thể hiện trong tác phẩm
Chuyện cũ Hà Nội của Tô Hoài Từ đó góp phần khẳng định phong cách nghệ thuật
và đóng góp của Tô Hoài đối với nền văn học Việt Nam hiện đại, cũng như việc giữ
gìn bản sắc văn hóa Việt Nam
Luận văn cũng góp phần cung cấp cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về nhà văn
Tô Hoài phục vụ cho việc nghiên cứu và giảng dạy tác gia này trong nhà trường
3.3 Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là hai tập Chuyện cũ Hà Nội (1998), Nhà xuất
bản Hà Nội và có sự so sánh, đối chiếu với một số tác phẩm cùng đề tài của các nhàvăn khác như: Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Vũ Bằng…
Trang 134 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: tìm hiểu hoàn cảnh văn hóa - lịch sử - xãhội ảnh hưởng đến nhà văn và tác phẩm
- Phương pháp nghiên cứu thi pháp học
- Phương pháp nghiên cứu hình thức
- Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng các thủ pháp: so sánh, đối chiếu, thống kê, phânloại, phân tích…
5 Đóng góp của luận văn
- Luận văn chỉ ra những giá trị văn hóa kết tinh và thể hiện trong tác phẩm từ đógóp phần nào đó giáo dục ý thức tự hào, giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc trong bốicảnh giao lưu và hội nhập văn hóa hiện nay
- Thông qua những kết quả nghiên cứu, luận văn cũng góp phần cung cấp cái nhìnsâu sắc và toàn diện hơn về nhà văn Tô Hoài
- Luận văn cũng có thể là tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu và giảng dạy nhàvăn Tô Hoài trong nhà trường
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn được triển khai
thành 3 chương:
Chương 1 Những vấn đề chung
Chương 2 Những giá trị văn hóa trong Chuyện cũ Hà Nội của Tô Hoài
Chương 3 Nghệ thuật thể hiện văn hóa Hà Nội trong Chuyện cũ Hà Nội của
Tô Hoài
NỘI DUNG
Trang 14CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa
1.1.1 Mối quan hệ văn hóa - văn học
Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau Cho đến nay, chưa có một định nghĩa thống nhất về Văn hoá Trên thế giới hiện nay có khoảng hơn 400 định nghĩa về Văn hoá Theo từng góc độ tiếp cận, có định nghĩa xuất
phát từ bình diện lịch sử, chính trị, xã hội; có định nghĩa xuất phát từ những đặc trưng,chức năng, cấu trúc…Tuỳ theo mỗi ngành, mỗi lĩnh vực, mỗi nhà khoa học lại có một
cách định nghĩa khác nhau Điều này đã tạo nên sự phong phú cho khái niệm Văn hoá.
Về nguồn gốc thuật ngữ Văn hoá, theo các nhà ngôn ngữ học phương Tây, Văn hoá (culture) - với tư cách là một danh từ độc lập - chỉ bắt đầu được sử dụng vào cuối thế kỉ XVII Ở phương Đông, từ Văn hoá được sử dụng rất sớm Theo tư liệu ghi chép của Trung Hoa cổ đại, từ “Văn” có nghĩa gốc là vẻ đẹp do màu sắc tạo ra Từ nghĩa gốc này, “Văn” có nghĩa là hình thức đẹp trong lễ, nhạc, trong cách cai trị, trong ngôn ngữ cũng như trong cách cư xử…“Hoá” có nghĩa là làm thay đổi, làm cho trở nên tốt
đẹp, hoàn thiện
Trong phạm vi đề tài, chúng tôi chỉ xin đưa ra một số định nghĩa tiêu biểu, đáng
chú ý về Văn hoá Trước hết, theo nhà nghiên cứu Phan Ngọc thì “Văn hoá là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hoá theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hoá dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người, khác các kiểu lựa chọn của các cá nhân hay các tộc người khác”
[25, tr 20]
Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm lại đưa ra một định nghĩa khác về văn hóa
dựa trên cái nhìn cấu trúc hệ thống và loại hình: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [37,
tr 10]
Trang 15Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về Văn hóa như sau: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin” [63]
Từ những định nghĩa về Văn hoá trên đây, ta có thể hiểu một cách khái quát
như sau: Con người trong quá trình sống đã sáng tạo ra những giá trị vật chất và tinhthần Văn hoá chính là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần ấy Văn hóa đượcsáng tạo ra nhằm phục vụ con người trong quá trình ứng xử với môi trường tự nhiên và
xã hội, được con người lưu giữ và truyền tải từ thế hệ này sang thế hệ khác Đồng thời,văn hóa là hoạt động mang tính biểu tượng và mang những giá trị được kết tinh thànhnhững bản sắc riêng, đặc thù riêng để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác Văn hoágắn liền với cuộc sống con người, với sự phát triển và hoàn thiện của con người, xãhội
Bên cạnh khái niệm văn hóa thì văn học là một loại hình sáng tác tái hiệnnhững vấn đề của đời sống xã hội và con người Phương thức sáng tạo của văn họcđược thông qua sự hư cấu, cách thể hiện nội dung các đề tài được biểu hiện qua ngôn
ngữ Văn học hiểu theo nghĩa rộng là thuật ngữ gọi chung mọi hành vi ngôn ngữ nói
-viết và các tác phẩm ngôn ngữ Theo cách hiểu này thì các tác phẩm chính trị, triết
học, tôn giáo…cũng có thể được gọi chung là Văn học Theo nghĩa hẹp mà ngày nay chúng ta thường dùng thì khái niệm Văn học bao gồm các tác phẩm ngôn từ phản ánh
những vấn đề đời sống xã hội bằng hình tượng nghệ thuật
Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học, các tác giả đã đưa ra một định nghĩa
khá đầy đủ về văn học như sau:“Văn học là loại hình nghệ thuật sáng tạo bằng ngôn từ Văn học là sự phản ánh của đời sống xã hội thể hiện sự nhận thức và sáng tạo của con người (…).Văn học lấy con người làm đối tượng nhận thức trung tâm Văn học nhận thức con người với toàn bộ tính tổng hợp, toàn vẹn, sống động trong các mối quan hệ đời sống phong phú và phức tạp của nó trên phương diện thẩm mĩ Trong tác phẩm văn học, nhà văn không chỉ nhận thức chân lý khách quan mà còn bộc lộ tư tưởng và tình cảm, ước mơ và khát vọng của mình đối với con người và cuộc sống Do
Trang 16đó, nội dung của văn học là sự thống nhất biện chứng giữa phương diện chủ quan và phương diện khách quan” [11, tr 401- 402].
Như vậy, văn học là một hình thái ý thức xã hội đặc thù và có vị trí quan trọngtrong nền văn hoá của một dân tộc Cũng như màu sắc đối với hội hoạ, âm thanh đốivới âm nhạc, ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học Tuy nhiên, thứ ngôn ngữ đượcđưa vào sử dụng trong văn học không phải ngôn ngữ bình thường ta vẫn dùng hằng
ngày mà phải là “ngôn ngữ nghệ thuật” Theo M Gorki, ngôn ngữ nhân dân là tiếng nói “nguyên liệu”, còn ngôn ngữ văn học là tiếng nói đã được những “người thợ tinh xảo nhào luyện” Mỗi nhà văn lớn đều là những nhà ngôn ngữ trác tuyệt Trong sự
sáng tạo của nhà văn, sự sáng tạo về ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng Ngôn ngữcũng là phương tiện để nhà văn xây dựng nên các hình tượng nghệ thuật Thông quacác hình tượng nghệ thuật của mình, nhà văn thể hiện lập trường, quan điểm, suy nghĩcủa mình trước hiện thực cuộc sống
Mối quan hệ giữa văn học và văn hóa là mối quan hệ hữu cơ giữa cái riêng vàcái chung, giữa cái bộ phận và cái toàn thể Văn học là một bộ phận của văn hoá Vănhọc, cùng với triết học, chính trị, tôn giáo, đạo đức, phong tục tập quán là nhữngthành tố hợp thành cấu trúc tổng thể bao trùm lên tất cả là văn hoá Vì vậy, cũng nhưcác thành tố kia, văn học luôn chịu sự chi phối từ môi trường văn hóa của một thời đại
và truyền thống văn hóa độc đáo của một dân tộc Mặt khác, nói tới văn hoá của mộtdân tộc ta thường nghĩ tới văn học, bởi văn học có một vị trí không thể thiếu trong mỗi
nền văn hoá Văn học là sự “tự ý thức” của văn hóa Văn học không những là một bộ
phận của văn hóa, chịu sự ảnh hưởng và chi phối trực tiếp của văn hóa, mà còn là mộttrong những phương tiện tồn tại và bảo lưu văn hóa Văn học chịu ảnh hưởng trực tiếp
từ môi trường văn hóa của một thời đại và truyền thống văn hóa độc đáo của một dântộc Mặt khác, nhà văn - chủ thể sáng tác phải là con đẻ của một cộng đồng, thuộc vềmột cộng đồng nhất định, muốn hay không nhà văn đó cũng đã tiếp nhận những thành
tố văn hóa của cộng đồng mình
Có thể khẳng định, không thể có nền văn học nằm ngoài tổng thể văn hoá nhân
loại Nếu văn hoá trong quá trình hình thành và phát triển đã trải qua những chặng
đường tìm kiếm, lựa chọn, đấu tranh và sáng tạo để hình thành nên những giá trị trong
Trang 17xã hội thì văn học chính là nơi lưu giữ những thành quả giá trị xã hội đó Ở một khía
cạnh nào đó, có thể nói văn học là “tấm gương phản chiếu” văn hoá bằng nghệ thuật
ngôn từ Văn học là văn hoá lên tiếng bằng ngôn từ nghệ thuật
Một điều dễ nhận thấy là cả văn hoá và văn học đều lấy con người làm trungtâm Con người chính là chủ thể sáng tạo và đồng thời cũng là cái đích hướng tới củavăn hoá và văn học Do đó, văn hoá và văn học đều có những tác động chi phối lẫnnhau Sự tác động chi phối thể hiện trước nhất ở việc, văn học làm nên diện mạo cho
văn hóa Mặt khác, văn hoá lại chính là “chất liệu” của văn học, là “chìa khoá” mở ra
“cánh cửa” nghệ thuật trong tác phẩm văn học
Trong mỗi tác phẩm văn học, bao giờ ta cũng tìm thấy những hình ảnh của mộtnền văn hoá qua sự tiếp nhận và phản ánh của chủ thể sáng tạo văn học Đó có thể làhình ảnh của một nền văn hoá nông nghiệp lúa nước qua kho tàng tục ngữ, ca dao Việt
Nam; đó là những vẻ đẹp văn hoá Việt của Vang bóng một thời trong những trang tuỳ
bút tài hoa của Nguyễn Tuân; hay bản sắc văn hoá dân tộc thiểu số vùng núi Tây Bắc,Việt Bắc trong truyện ngắn của Tô Hoài, Cao Duy Sơn, Ma Văn Kháng…Tác phẩmvăn học mang bóng dáng của văn hoá là hệ quả tất yếu bởi bản thân người nghệ sysáng tạo văn học cũng là một sản phẩm văn hoá; cách suy nghĩ, quan điểm, lối viết của
họ bị chi phối bởi một nền văn hoá nhất định Đồng thời, văn hoá cũng chi phối cáchđánh giá, thưởng thức của người đọc trong quá trình tiếp nhận, bởi đối tượng người đọcnày đã được rèn luyện về thị hiếu thẩm mĩ trong một môi trường văn hoá nhất định Dovậy, nếu muốn tìm hiểu bức tranh văn hoá của một thời đại, người ta có thể căn cứ vàonhững dữ liệu có trong các tác phẩm văn học Nói cách khác, thực tiễn văn học có thểcung cấp những cứ liệu đáng tin cậy cho khoa học nghiên cứu văn hoá Nếu như văn hoá chi phối hoạt động và sự phát triển của văn học thì ngược lại,văn học cũng có những tác động nhất định đến đời sống văn hoá Trước hết, văn học lànơi lưu giữ những giá trị văn hoá nhân loại Có những giá trị văn hoá từ lâu, nay đãkhông còn nữa nhưng người ta có thể biết đến nó trong các tác phẩm văn học Văn họcdân gian chính là nơi lưu giữ văn hoá dân gian truyền thống, những tập tục, những tínngưỡng, phong tục, lễ hội…từ ngàn xưa, nay chỉ còn đọng lại bóng dáng trong nhữngtác phẩm văn học Văn học góp phần khẳng định, định hướng những giá trị văn hoánhân loại Các nhà văn đích thực đồng thời cũng là những nhà văn hoá Bằng nghệ
Trang 18thuật ngôn từ, họ khẳng định những giá trị văn hoá của dân tộc, bảo lưu và góp phầntuyên truyền đến mọi người những nét đẹp văn hoá Đồng thời họ đấu tranh, phê phán
những biểu hiện phi văn hoá, góp phần “thanh lọc” tạo nên một nền văn hoá lành
mạnh, tốt đẹp Thậm chí, các nhà văn thông qua các tác phẩm văn học của mình còn đitiên phong, định hướng cho sự phát triển một lí tưởng thẩm my, một lối sống văn hoámới mẻ Tác phẩm văn học tác động vào tình cảm của con người, qua đó điều chỉnhcách sống, cách suy nghĩ, cách ứng xử trong văn hoá
Như vậy, văn học và văn hoá gắn bó với nhau trong mối quan hệ hữu cơ mậtthiết không thể tách rời Nhà văn sáng tác tác phẩm văn học là một hoạt động văn hoá,tác phẩm văn học là một sản phẩm văn hoá và người đọc là người hưởng thụ văn hoá
1.1.2 Nghiên cứu văn học dưới góc nhìn văn hóa trong văn học Việt Nam hiện đại
Trong lịch sử nghiên cứu văn học, có rất nhiều con đường, nhiều phương thức
khác nhau để tiếp cận một tác phẩm văn học như: xã hội học, thi pháp học, nghệ thuậthọc…Trong đó, phương thức tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa đã ngày một khẳngđịnh được thế mạnh cũng như tính ưu việt của mình, nhất là trong bối cảnh giao lưuvăn hóa mạnh mẽ như hiện nay
Tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hoá chính là việc đặt tác phẩm văn học trongkhông gian văn hoá đã tác động đến tác phẩm văn học ấy, từ đó mà hiểu đúng, sâu sắcnội dung phản ánh của tác phẩm văn học Phương pháp tiếp cận này dùng văn hóa là
hệ quy chiếu để cảm nhận văn học Đồng thời, văn học cũng được xem như là mộthiện tượng của văn hóa, sản phẩm của văn hóa chứ không đơn thuần là sản phẩm của
đạo đức, chính trị…Phương pháp này “ưu tiên cho việc phục nguyên không gian văn hoá trong đó tác phẩm văn học đã ra đời, xác lập sự chi phối của các quan niệm triết học, tôn giáo, đạo đức, chính trị, luật pháp, thẩm mĩ, quan niệm về con người, cũng như sự chi phối của các phương diện khác nhau trong đời sống sinh hoạt xã hội sống động hiện thực…từng tồn tại trong một không gian văn hoá xác định” [39].
Hướng tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa phải được tiến hành theo những
nguyên tắc cụ thể:
Trang 191/ Phải đặt văn học trong bối cảnh rộng lớn của văn hóa xã hội hoặc trong sựảnh hưởng qua lại của văn học đối với các hiện tượng văn hóa khác.
2/ Xem văn học là bộ phận của văn hóa thì văn bản văn học cũng là một sảnphẩm văn hóa, vì thế cần giải mã nó trong ngữ cảnh văn hóa
3/ Văn học là một trong những loại hình nghệ thuật có khả năng bao quát,chạm tới cả mạch ngầm sâu thẳm của đời sống văn hóa cũng như chiều sâu tư tưởngcủa người nghệ sy Vì vậy cần chú ý đến sự tác động của văn hóa đến với thế giớiquan, tâm hồn người nghệ sy
Nghiên cứu văn học dưới góc nhìn văn hoá là hướng tiếp cận ngày càng đượcchú trọng và mở rộng phát triển theo nhiều hướng khác nhau Có hướng nghiên cứunhằm nhận diện và miêu tả các biểu hiện văn hóa có trong các tác phẩm văn học; cũng
có hướng nghiên cứu thiên về giải mã các hình tượng nghệ thuật, tìm ra nền tảng vănhoá lịch sử của chúng; lại có hướng nghiên cứu trên phương diện ngôn ngữ của cácvăn bản nghệ thuật, đi tìm hiểu nghĩa và cơ chế kiến tạo nghĩa của nội dung - hìnhthức của các tác phẩm văn học từ bối cảnh văn hóa - xã hội…
Phương pháp tiếp cận văn hoá học từ lâu đã được giới nghiên cứu vận dụnghoặc là tự giác, hoặc là tự phát trong một số công trình nghiên cứu văn học Nhữngnăm đầu thế kỉ XX ở nước ta, hướng tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa đã đượcnhiều học giả, các nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu Từ việc đưa ra những quan điểm
về mặt nhận thức, lí luận dựa theo lý thuyết phương Tây áp dụng vào thực tiễn ViệtNam đến việc thực nghiệm trên một số tác phẩm của các tác gia tiêu biểu, giới nghiêncứu đã tạo nên một bức tranh nghiên cứu văn hóa - văn học dưới sự soi rọi của ánh
sáng văn hóa Năm 1985, trong công trình Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, nhà văn hóa học Phan Ngọc đã sớm nhận ra và vận dụng những yếu tố
văn hóa xã hội để tìm ra những đặc trưng của phong cách Nguyễn Du trong Truyện
Kiều Năm 1994, trong cuốn sách Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới, Phan
Ngọc cũng đã đưa ra những quan điểm về văn hóa, cách tiếp cận văn hóa trong vănhọc, gợi mở nhiều hướng nghiên cứu khác nhau cho các học giả sau này Và khi một
số công trình của M.Bakhtin được dịch và giới thiệu ở Việt Nam thì hướng đi này càng
được thuyết phục Đến năm 1995, Trần Đình Hượu với công trình Nho giáo và văn
Trang 20học Việt Nam trung cận đại nghiên cứu văn học Việt Nam từ Nho giáo đã chỉ ra
được đặc điểm của giai đoạn văn học kể từ đầu Lê đến cuối Nguyễn, mối quan hệ giữaNho giáo và văn học Việt Nam trung đại và đưa ra những hình mẫu nhà nho (hành đạo,
ẩn dật, tài tử) như là một giả thuyết làm việc Điều này, về sau, được Trần Ngọc
Vương cụ thể hóa bằng một cái nhìn loại hình học trong Nhà nho tài tử và văn học Việt Nam (1995) Nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy trong Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực đã thấy được và lý giải những biểu tượng đa nghĩa, lấp lửng trong thơ Hồ Xuân Hương bằng tín ngưỡng phồn thực, còn Trần Nho Thìn trong Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa (2003) đã đi một bước tiến mới khi đưa ra quan
điểm nghiên cứu văn học trung đại từ những phạm trù cơ bản của văn hóa trung đại đểtránh hiện đại hóa văn học dân tộc
Như vậy, các tác giả như: Đặng Thai Mai, Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Huyên,nhà phê bình văn học Hoài Thanh, Phan Ngọc, Trần Đình Hượu, Phạm Vĩnh Cư, TrầnĐình Sử…đã đặt những nền móng đầu tiên cho việc nghiên cứu văn học từ góc nhìnvăn hóa khi xem tác phẩm như một cấu trúc văn hóa, kí hiệu văn hóa, văn bản của vănhóa và đặt trong tương quan so sánh với văn hóa Tiếp sau bước đi có tính chất mở đầu
đó, đã có nhiều học giả mạnh dạn áp dụng phương pháp tiếp cận văn học từ góc nhìnvăn hóa cho các công trình nghiên cứu của mình Có thể kể ra đây một số công trình
nghiên cứu thành công trong việc tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa như: Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa, Trần Nho Thìn, Nhà xuất bản (Nxb) Giáo dục, 2003; Bản sắc Việt Nam qua giao lưu văn học, Nguyễn Bá Thành, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004; Thơ Mới từ góc độ văn hóa - văn học, Luận án Tiến
sĩ, Hoàng Thị Huế, Học viện Khoa học Xã hội, 2007; Tiếp cận Truyện Kiều từ góc nhìn văn hóa, Lê Nguyên Cẩn, Nxb Thông tin và Truyền thông, 2011; Văn chương Vũ Bằng dưới góc nhìn văn hóa, Luận án Tiến sĩ, Đỗ Thị Ngọc Chi, Học viện Khoa học Xã hội,
2013;…Mỗi tác giả trong các công trình nghiên cứu của mình bằng những cách khácnhau đã đạt được những kết quả rất đáng ghi nhận
Cùng với những cách tiếp cận văn học ở những góc độ khác như thi pháp học,
xã hội học, my học… hướng tiếp cận văn học dưới góc nhìn văn hoá giúp ta lí giải trọnvẹn tác phẩm văn học với hệ thống mã văn hoá được bao hàm bên trong nó Góc nhìnvăn hóa cho phép người đọc định vị được chỗ đứng của nhà văn trong dòng chảy của
Trang 21lịch sử văn hóa - văn học dân tộc Bởi suy cho cùng, mỗi nhà văn tồn tại đều là “ con đẻ” của một nền văn hóa cụ thể Những sáng tạo đích thực của học sẽ có những đóng
góp nhất định cho một cộng đồng văn hóa, cao hơn cho dân tộc và nhân loại Phươngpháp tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa có nhiều thuận lợi, bởi nó dẫn nhà phê bình(cũng như người đọc) đi từ cái đã biết đến cái chưa biết, từ cái biết nhiều đến cái biết
ít, từ cái toàn thể đến cái bộ phận bằng con đường loại suy khoa học Bởi lẽ, văn họcvới tính cách là một yếu tố của hệ thống văn hóa thì phải chịu sự chi phối hoặc sự quyđịnh (chứ không phải quan hệ nhân quả đơn thuần của quyết định luận) của văn hóa.Phê bình văn học dù một tác phẩm, tác giả hay một trào lưu đều phải tìm hiểu trước
tiên là hệ thống văn hóa mà tác phẩm, tác giả hay trào lưu ấy thuộc vào
Mặt khác, từ góc nhìn văn hóa cho phép ta nhận thức sáng rõ các yếu tố cấuthành của các hiện tượng văn học trong mối liên hệ đa chiều với các hiện tượng vănhóa khác Bởi có một thực tế không thể phủ nhận, tác phẩm văn học không chỉ có mốiliên hệ ý nghĩa giữa các yếu tố nội bộ bên trong mà còn có những mối liên hệ liên vănbản Vì vậy, tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa sẽ giúp khai mở những cấp độ ýnghĩa mới mẻ, lý giải đúng đắn các hiện tượng văn học, trả lại chỗ đứng chính xác chonhà văn và tác phẩm
1.2 Đề tài Hà Nội trong văn học Việt Nam hiện đại
1.2.1 Đặc trưng văn hóa Hà Nội
Từ lâu, Hà Nội đã thành biểu tượng cho các giá trị văn hóa của dân tộc, là
“trái tim lớn” của cả nước, là niềm tự hào của mỗi người Việt Nam Câu thơ khá quen
thuộc của Huỳnh Văn Nghệ - một nhà thơ, một tướng tài của đất phương Nam:
“Từ thuở mang gươm đi mở cõi.
Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long”
đã nói thay tấm lòng của nhân dân cả nước đối với Hà Nội
Với hơn 1000 năm văn hiến, từ thuở là kinh thành Thăng Long cho tới nay, HàNội vẫn luôn là trung tâm văn hóa của cả nước Quả đúng như lời ca hùng tráng của cố
nhạc sĩ Nguyễn Đình Thi “Đây là hồn núi sông ngàn năm” Vùng đất lành vốn đã sản
sinh ra nền văn hóa dân gian với nhiều truyền thuyết, ca dao, tục ngữ, những vị anh
Trang 22hùng, danh nhân được nhân loại ca ngợi và những lễ hội dân gian mang đậm màu sắclịch sử, có tác động sâu sắc đến tinh thần của người dân Hơn nữa, Hà Nội còn là nơibốn phương tụ hội mang theo những nền văn hóa khác nhau, khiến cho văn hóa nơi đâytrở nên đa dạng, phong phú Văn hóa Hà Nội thấm vào những hàng cây cổ thụ ngàn nămtuổi, những phố phường tấp nập, bên tháp Rùa rêu phong, hoàng thành cổ kính và kết tinh
cả vào mẹt bún chả, bát bún riêu, vào mùi hoa sữa, vào hương cốm Vòng trong tiết lạnhđầu thu
Nhắc đến văn hóa Hà Nội chúng ta không thể không nhắc đến quần thể các disản văn hoá vật thể đặc sắc của Hà Nội Đó là Hồ Hoàn Kiếm với cầu Thê Húc, ThápBút, Tháp Rùa, đền Ngọc Sơn lung linh bóng nước đã đi vào sử sách, thơ ca…Và cònrất nhiều, rất nhiều những di tích lịch sử, những ngôi chùa, ngôi đình, những cổng làng
Hà Nội Đó còn là những dãy phố cổ mà ẩn sau mỗi tên gọi là một nghề thủ công đặcsắc, tiêu biểu cho một vùng quê, một hoài niệm của lịch sử: Hàng Tre, Hàng Cót, Hàng
Bồ, Hàng Chĩnh, Hàng Đào, Hàng Mắm, Hàng Lược…Cùng với đó là những khu phố
cổ, “phố nhỏ, ngõ nhỏ” tĩnh mịch, êm đềm tạo nên nét riêng cho thủ đô hoa lệ và là
niềm yêu, nỗi nhớ quay quắt với những người con xa xứ
Hà Nội còn là mảnh đất địa linh - nhân kiệt, nơi hội tụ những danh nhân đã làmrạng danh cho dân tộc Đó là Lý Công Uẩn - vị vua anh minh đã chọn vùng đất nàylàm nơi định đô cho muôn đời con cháu Đó cũng là những con người anh hùng, tàihoa như Lý Thường Kiệt, Chu Văn An, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn TriPhương, Hoàng Diệu, Văn Cao, Nguyễn Đình Thi…Nhà văn Nguyễn Tuân đã từng
phát hiện ra một điều lý thú rằng “Hình như hầu hết danh nhân, anh hùng cổ kim nước ta đều là những con người Hà Nội” Có những người sinh ra ở Hà Nội, cũng có
những danh nhân không sinh ra ở Hà Nội song tên tuổi, sự nghiệp của họ mãi bất tử
với Hà Nội và trở thành những di sản văn hoá thiêng liêng của văn hiến Thăng Long
Trong kho tàng văn hoá phi vật thể Hà Nội, các giá trị về văn hoá ẩm thực
chiếm một vị trí đáng kể Đã từ lâu, người Hà Nội nổi tiếng bởi “sành ăn, sành mặc,
sành chơi” “Ăn Bắc, mặc kinh” - câu ngạn ngữ chỉ nét đẹp thanh lịch, tinh tế trong
trang phục, ăn uống của người Hà Nội Người Hà Nội lịch sự trong cách ăn mặc Họmặc đẹp, cái đẹp của sự nền nã, kín đáo chứ không phô trương, lòe loẹt Trang phục,
Trang 23trang sức ưa sự gọn gàng, trang nhã, tề chỉnh, cách tân tinh tế, đủ độ lộng lẫy, kiêu sa.Người Hà Nội rất sành trong ăn uống, nâng cách ăn, cách nấu thành nghệ thuật ẩm
thực Cách ăn uống của người Hà Nội thanh cảnh, điềm đạm “ngọn giá cắn đôi”
nhưng không kém phần tinh túy, sành điệu Món ăn mặn, ngọt, chua, cay đều vừa độ,gia vị đầy đủ, nước chấm, nước canh khéo chế Bữa ăn ngon từ cách xếp mâm, bãyđĩa, lên cỗ Người Hà Nội ăn lấy ngon để nhớ mãi chứ không ăn lấy no căng bụng.Vào mâm, họ biết trọng già, quý trẻ, nhường món ngon tiếp cho khách, cách ăn cũng
từ tốn, thong thả, rượu uống từng ngụm, không dốc cả cốc to, không làm ầm ĩ
Văn hóa ẩm thực của người Hà Nội đặc sắc ở chỗ tinh sành, thanh cảnh, ngonlành, sạch sẽ, chế biến tinh vi với nghệ thuật cao Những món ăn đặc sản như Phở HàNội, Nem, Bún chả, Giò chả Ước Lễ, Chả cá Lã Vọng, Xôi lúa Tương Mai, cốm Vòng,
Bánh cuốn Thanh Trì, rượu Mơ, “dưa La, cà Láng”…mỗi món ăn là một hương vị
quyến rũ không nơi nào bắt chước nổi Chẳng thế mà nhiều đặc sản địa phương của
người Hà Nội đã đi vào tục ngữ, ca dao như:
“Cốm Vòng, gạo tám Mễ Trì
Tương Bần, húng Láng, còn gì ngon hơn…”;
Hay “Giò Chèm, nem Vẽ, chuối Sù”
“Bánh cuốn Thanh Trì, bánh dày Quán Gánh”
Chính những giá trị này đã góp phần sâu sắc để định hình nên bản sắc văn hoá
Hà Nội, phong vị Hà Nội Tất cả đã tạo nên một phong vị, một thương hiệu riêng của
Hà Nội góp phần làm cho Hà Nội trở thành khó quên đối với những ai đã từng mộtlần đặt chân tới nơi đây Có thể nói chính nghệ thuật ẩm thực là một phần làm nên cáitinh tế của văn hoá và con người Hà Nội
Hà Nội còn là vùng đất cổ xưa nên cũng lưu truyền rất nhiều văn hóa lễ hội.Các lễ hội tiêu biểu của Hà Nội như: Lễ hội đền Cổ Loa, lễ hội Đống Đa, hội Lệ Mật,
lễ hội Phù Đổng, hội thổi cơm thi Thị Cấm, lễ hội đền Đồng Nhân…Lễ hội là món ăntinh thần để nhân dân ta nhớ lại truyền thống anh dũng của dân tộc, thể hiện sự thuầnkhiết, giản dị mà hồn nhiên của người lao động
Trang 24Văn hóa Hà Nội kết tinh, hội tụ ở chính hình ảnh những con người Hà Nội Đã
từ lâu, người Hà Nội tự hào về truyền thống văn hóa, văn hiến lâu đời của mình Vẻđẹp hào hoa, thanh lịch, tao nhã, tế nhị mà văn minh của người Hà Nội đã được đúc
kết lại qua câu ca dao :
“Chẳng thơm cũng thể hoa nhài Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”
Người Hà Nội tự hào về sự thanh lịch của mình thể hiện trong nhiều mặt
Phong cách sống “thanh lịch” được thể hiện từ trong nhà ra xã hội, từ nói năng, ăn
mặc, cho đến phép giao tiếp, ứng xử giữa người với người, giữa người với thiên nhiên,môi trường Trước hết là ở lời nói, người Hà Nội thanh lịch trong lời ăn tiếng nói vàcách ứng xử ân cần, niềm nở, chân thật Người Hà Nội dùng ngôn ngữ chuẩn xác,thanh âm mẫu mực, không quen những từ thô tục, sỗ sàng Họ biết nhún mình, tôntrọng người khác, mềm mỏng mà không thớ lợ, tài hoa mà không khoe khoang, biết
rộng mà không làm cao, biết “lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”
Trong làm lụng, người Hà Nội cần cù, chịu khó, đã làm nghề gì thì học đến nơi,
đến chốn, có ý thức chịu trách nhiệm về sản phẩm làm ra "Khéo tay, hay nghề" là câu
ca tụng đất trăm nghề chốn kinh kỳ Họ tài hoa, khéo léo, tao nhã mà sành điệu; phóngkhoáng, lịch duyệt, quân tử, tinh tế, coi trọng cái đẹp và luôn sáng tạo trong cuộc sống
Tóm lại, Hà Nội là kinh đô ngàn năm văn hiến, văn hoá Hà Nội hội tụ, kết tinhtinh tuý văn hoá của mọi miền đất nước Từ trước tới nay, khi nhớ về Hà Nội, nhắc vềvăn hóa Hà Nội, tất cả mọi người đều thừa nhận rằng đây là mảnh đất của tinh hoa,
của văn minh, thanh lịch Đúng như nhà văn Thạch Lam đã nói: “Người Pháp có Paris, người Anh có London, người Tàu có Thượng Hải Trong các sách vở, trên các báo chí, họ nói đến thành phố của họ một cách tha thiết, mến yêu, Chúng ta cũng có
Hà Nội, một thành phố có nhiều vẻ đẹp” Mảnh đất đó, mỗi ngôi nhà, góc phố, hàng cây đã để thương, để nhớ cho biết bao người con khi đi xa
1.2.2 Hà Nội - đề tài hấp dẫn trong văn xuôi hiện đại
Hà Nội - mảnh đất nghìn năm văn hiến, tụ hội tinh hoa là nơi khơi nguồn cảmhứng cho biết bao văn nhân, nghệ sĩ Hà Nội là thiên tình sử của người nghệ sĩ, nơi mà
Trang 25mỗi ngôi nhà, góc phố, hàng cây, mỗi nụ cười đều có thể là nguồn cảm hứng cho sựsáng tạo Nhìn lại văn chương về đề tài Hà Nội trong những thập kỷ qua, chúng ta rất
dễ có cảm giác choáng ngợp Biết bao mặt người, biết bao tác phẩm nối nhau tạo thànhdòng chảy bất tận
Hà Nội - hai tiếng thân thương ấy đã trở thành không gian hấp dẫn cho biết baothế hệ nhà văn hiện đại Vào những năm đầu của thế kỉ XX, qua ngòi bút sắc sảo
nhưng đầy phóng túng, tự do của“Ông vua phóng sự Bắc kỳ” Vũ Trọng Phụng, Hà
Nội hiện ra thật bát nháo, nhầy nhụa, nhếch nhác Những phóng sự Cơm thầy cơm
cô, Cạm bẫy người, Làm đĩ…đã phản ánh mặt trái của thời buổi “Tây tàu nhố
nhăng”, cả xã hội quay cuồng trong cơn lốc đồng tiền, danh vọng, mọi giá trị đạo đức
đều bị băng hoại, đảo lộn Nhưng may mắn thay, giữa cuộc sống đầy sự tha hóa đó,người Hà Nội vẫn giữ được sự tinh túy của văn hóa Thăng Long trước sự tấn công củavăn hóa phương Tây
Nhắc đến nhà văn gắn bó với Hà Nội chúng ta không thể không nhắc tên Thạch
Lam Nhà văn đã viết nên Hà Nội 36 phố phường - tập bút ký tinh tế được tập hợp lại
từ những bài viết in trên báo sau khi ông qua đời như để nói hộ cho mọi trái tim tin
yêu luôn hướng tới thủ đô rằng: “Hãy yêu mến Hà Nội với tâm hồn người Hà Nội”.
Hà Nội băm sáu phố phường chủ yếu viết về chuyện phố, chuyện phường, đời sống
dân sinh, đặc biệt là đi sâu vào những thức quà chỉ riêng nơi đây mới có Thạch Lamnhìn cảnh trí, văn hóa, con người Hà Nội trong con mắt của một nhà thơ Nhà văn nhưdắt tay người đọc rong ruổi qua từng con phố của Hà Nội xưa, nếm từng thứ quà vặt
ngon lành, xinh xắn Đó là cốm, là bánh đậu, bánh khảo, kẹo lạc, chén trà nóng nghi
ngút khói trong đêm đông…Thạch Lam đưa ta đi qua từng cuộc phiêu du mang những
cái tên độc đáo như “những nơi ăn chơi”, “những biển hàng”, “quà Hà Nội”, “những thứ chuyên môn” Bằng giọng văn nhẹ nhàng, lãng đãng đến lạ lùng, bình dị mà lại
tinh tế như người Hà Nội từng trải thanh lịch, đôi lúc có tức giận mà vẫn như thủ thỉ,
tác giả đã nhận xét, đánh giá cả những vẻ đẹp cũng như nét xấu xí của phố phường, ẩmthực hay chính con người nơi đây với những nét thay đổi nhiều mặt Thạch Lam khiếnbạn đọc không khỏi tự hào về văn hoá đất Thăng Long xưa, nhưng rồi bạn cũng sẽ có
giây phút phải lắng lại, để nhìn nhận và suy nghĩ đôi chút Với Hà Nội 36 phố phường,
Thạch Lam đã mở ra cho ta một con đường nhận thức hết sức tinh tế Hà Nội có nhiều
Trang 26thức ngon ít nơi sánh được, nhưng để mà thưởng thức, để cảm nhận đến độ tinh hoa của
những món ăn ấy thì còn là cả một nghệ thuật, như Thạch Lam viết: “Biết ăn tức đã là một điều tiến bộ lớn trong các điều tiến bộ, nếu không phải là trong hàng những điều quan trọng nhất”.
Nguyễn Tuân cũng là nhà văn dành không ít tâm huyết và giấy mực để viết về
Hà Nội Xuất thân từ một người Hà Nội gốc, tình yêu Hà Nội là động lực để ông viếtkhá nhiều trang văn tài hoa, uyên bác và thanh lịch tái hiện hồn cốt của Thủ đô ngàn
năm văn hiến Ông từng tâm sự rằng “ Hà Nội đáng để cho ta viết và còn nhiều điều
để viết” Trước Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân đã tái hiện những nét đẹp phảng phất của Hà Nội Vang bóng một thời nay đã bị phôi phai, nhạt nhòa Văn hóa Hà Nội được tái hiện qua những thú chơi của các bậc tao nhân mặc khách như: thưởng trà, thả
thơ, đánh thơ, hát ca trù, thú chơi hoa địa lan Toàn bộ những con người trong thế giớinghệ thuật của Nguyễn Tuân về Hà Nội hiện lên như những nghệ sĩ của một thời vàngson đã qua, những người đã chi chút thú chơi tinh hoa để thông qua đó hiện lên hồn
dân tộc, hồn đất nước Một ông Phó Sứ (Đánh thơ) có tài sáng tạo thơ ca tới mức có thể sánh ngang với những thi nhân đời Đường, đời Tống; hay là một Huấn Cao (Chữ
người tử tù) tài hoa hơn người, có tài viết chữ đẹp; ấy là quan án họ Trần hay cụ Kép
làng Mọc (Hương cuội) đã dành hết thời gian còn lại của đời mình để vun trồng loài lan quý Hoặc một cụ Ấm (Chén trà sương) hay cụ Sáu (Những chiếc ấm đất) mỗi
buổi sớm mai, thưởng thức chén trà với tất cả nghi lễ thiêng liêng…Họ là những conngười không màng danh lợi, vinh hoa phú quý Những trí thức và những người dân HàNội thời đó tiếp nhận tinh hoa của phương Tây nhưng họ vẫn có ý thức giữ lại nhữngnét văn hóa của Hà Nội Tuy nhiên, ý thức gìn giữ cái riêng, cái độc đáo, cái tinh hoahiện nay không còn mạnh như trước nữa mà đang bị phai nhạt trước những xô bồ,nhốn nháo và lai căng Thế nhưng có những nét văn hóa, những phẩm chất kinh kỳmang tính chất tinh hoa của Hà Nội vẫn còn đủ mạnh và tồn tại đến hôm nay để chốnglại những sự lai căng, chống lại những mưu toan hòng phá vỡ, làm lu mờ những vẻ đẹp
ấy
Tập bút kí Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi của Nguyễn Tuân đã ghi lại chân thực, sâu
sắc vẻ đẹp hào hùng của Hà Nội trong cuộc đối đầu lịch sử với không lực Hoa Kì làm
nên chiến thắng vang dội của trận “Điện Biên phủ trên không” Mảnh đất, bầu trời,
Trang 27con người Hà Nội trong mười hai ngày đêm oằn mình trong mưa bão của bom đạn
nhưng vẫn anh dũng, hiên ngang “Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” Hà Nội ta đánh
Mĩ giỏi là thiên anh hùng ca thể hiện bản lĩnh văn hóa cao đẹp của Thủ đô nghìn năm
văn hiến ra đời ngay trong những thời khắc sinh tử mong manh ấy Trước bom đạn, đổnát, người Hà Nội một lần nữa chứng tỏ vẻ đẹp của mình trước toàn thế giới
Nhà văn Vũ Bằng sinh ra và lớn lên ở Hà Nội Ông có cả bốn mươi năm sốngtrong lòng Hà Nội, nghĩa là toàn bộ tuổi thơ, tuổi trẻ, ngay cả sự lập thân, lập nghiệpcủa ông đều mang đậm dấu ấn Hà Nội Vì vậy, khi chuyển vào Nam, Vũ Bằng ngàyđêm khắc khoải nhớ thương đất Bắc Ông trút vào những trang văn của mình nỗi nhớ,
tình yêu Hà Nội qua Miếng ngon Hà Nội và Thương nhớ mười hai Bằng ngòi bút
tài hoa, hồn văn mê đắm ngất ngây cảm xúc hoài niệm, Vũ Bằng đã tái hiện những
món ăn được coi là “quốc hồn, quốc túy” làm nên diện mạo ẩm thực Hà Nội: phở bò,
phở gà, bánh cuốn, bánh đúc, bánh khoái, bánh Xuân Cầu, cốm Vòng, rươi, ngô rang,khoai lùi, gỏi, quà bún, chả cá, thịt cầy, tiết canh cháo lòng, hẩu lốn… Với Vũ Bằng,miếng ăn không còn đơn thuần là miếng ăn, mà nó đã vượt qua ranh giới vật chất đểthành biểu tượng tinh thần khó quên Nhà văn viết về món ăn mà như thấy từng nét
quê hương, từng nỗi lòng đau đáu Miếng ngon Hà Nội là kết tinh của một tình yêu cháy bỏng với Hà Nội Còn với Thương nhớ mười hai ông viết về mười hai tháng với
khung cảnh thiên nhiên, đất trời, cảnh vật, con người, văn hóa của Hà Nội và của miền
Bắc: Tháng Giêng, mơ về trăng non rét ngọt, Tháng Hai, tương tư hoa đào,Tháng Chín, gạo mới chim ngói; Tháng Mười, nhớ gió bấc mưa phùn Mỗi tháng lại có vẻ
đẹp quyến rũ, đặc trưng riêng làm nên nỗi nhớ nhung se sắt Từng câu, từng chữ đềuphập phồng nhịp đập của trái tim yêu thương, tràn thấm những cảm xúc Ông đã dànhtrọn tác phẩm này để viết về văn hóa Hà Nội với chiều sâu lịch sử và vẻ đẹp của HàNội trong nỗi hoài niệm da diết
Nhắc đến đề tài Hà Nội không thể không nhắc đến gương mặt Nguyễn HuyTưởng Phong Lê từng cho rằng: Tô Hoài, Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy
Tưởng là “bộ tứ” làm nên khuôn hình và chất lượng “Người Hà Nội - văn Hà Nội” [20, tr 37] Sống mãi với thủ đô có thể xem là một “bộ sưu tập” về Hà Nội Nguyễn
Huy Tưởng cùng lúc vẽ ra nhiều bức tranh Hà Nội: Hà Nội truyền thống, Hà Nội hàohoa, Hà Nội lầm than, Hà Nội khói lửa, Hà Nội đau khổ, Hà Nội anh hùng, Hà Nội của
Trang 28chính nhà văn và Hà Nội của nhiều người Hà Nội…Lựa chọn biến cố Hà Nội trongđêm nổ súng mở đầu cuộc kháng chiến toàn quốc làm tâm điểm, Nguyễn Huy Tưởng
đã dựng lại được cả một giai đoạn lịch sử bi tráng và lưu giữ được hình ảnh Hà Nội,không khí Hà Nội trong thời điểm cam go ấy của lịch sử Chiến tranh đã gõ cửa đếntừng căn nhà, đã xâm nhập từng góc phố, cả Hà Nội sục sôi không khí kháng chiến,
ngổn ngang đất đá, bàn ghế, cây cối, cột đèn…Sống mãi với thủ đô là khúc hùng ca
của Hà Nội trong thời đại chiến đấu và chiến thắng chống thực dân đế quốc
Hà Nội cũng là đề tài trong sáng tác của rất nhiều cây bút trẻ hiện nay NguyễnViệt Hà - gương mặt nổi bật của văn xuôi đương đại Việt Nam - với các tiểu thuyết
được nhiều người biết tới như Cơ hội của Chúa, Khải huyền muộn, Con giai phố
cổ, Ba ngôi của người…Hà Nội trở thành không gian nghệ thuật, vùng thẩm my trong
sáng tác tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà Không chỉ viết về Hà Nội đương thời, Nguyễn
Việt Hà dựng cả Hà Nội 600 năm trong Ba ngôi của người Thông qua mười kiếp
luân sinh của nhân vật, tiểu thuyết đưa tới cảm thức về những sóng lớp phế hưng củađất kinh kỳ Bằng cái nhìn trẻ trung, tươi mới, Nguyễn Việt Hà đã tái hiện Hà Nội vớinhững con phố, ngõ nhỏ, nhà cửa, quán sá, cây cối, những không gian công cộng…HàNội không chỉ hiện lên với dáng nét trầm mặc, cổ kính, tao nhã mà Hà Nội đang đổithay Nguyễn Việt Hà không hề ngần ngại khi bóc trần những đổi thay của Hà Nộitrong bối cảnh mới Thiên nhiên tàn tạ và xác xơ, không khí đã vẩn những gam màutối, những điều khuất lấp Không gian Hà Nội nóng hơn, ngột ngạt hơn có cảm giácnhư đang rã rời và tan hoang ra Không gian đó đã góp phần khắc họa sự chông chênh,hoang hoải của con người trước một cuộc sống đang xoay vần chóng mặt với nhữngmặt trái của nền kinh tế thị trường, của cơn lốc đổi mới Nội đang trở nên xô bồ, xấu xí
và nhốn nháo chứa đựng những tiếc nuối
Hà Nội dường như cũng có một sức hấp dẫn lớn với Nguyễn Trương Quý Cây bút
này được định danh bởi những bài tản văn viết về Hà Nội: Tự nhiên như người Hà
Nội, Hà Nội là Hà Nội, Mỗi góc phố một người đang sống, Còn ai hát về Hà Nội…
Hà Nội trong tản văn của Nguyễn Trương Quý không phải là một Hà Nội “đẹp toàn
bích” mà đó là một Hà Nội rất thực tế, rất đời Trong Ăn phở rất khó thấy ngon,
người đọc tìm được một Hà Nội của dân công sở Ở Tự nhiên như người Hà Nội, tác
giả đưa tới những không gian đặc trưng về Hà Nội hiện nay như phố cổ, Hồ Gươm,
Trang 29văn hóa công viên ở Hà Nội, chợ ở Hà Nội, hoặc đưa ra cái nhìn bao quát về Hà Nội
qua điểm nhìn các đô thị vệ tinh… Trong Mỗi góc phố một người đang sống, Trương
Quý dựng lại chân dung những con người Hà Nội Xét cho cùng, Hà Nội là một vùngđịa lý sẽ chẳng khác biệt với những đô thị khác nếu thiếu đi những thực thể đang sốngtrong không gian ấy Trang viết về Hà Nội của Nguyễn Trương Quý là con người bình
dị với khuôn mặt, lời ăn tiếng nói, lối giao tiếp mộc mạc, thân tình
Như vậy có thể nói đề tài Hà Nội là mảnh đất quen thuộc được khá nhiều cây bút
“cày xới”,“canh tác” và đã cho ra những vụ mùa bội thu Có nhà văn thì nghiêng về
văn hiến, phong hóa, có nhà văn nghiêng về hào khí thủ đô, văn hóa ẩm thực hayphong tục tập quán Ở mỗi góc độ, mỗi nhà văn lại có những cách nhìn nhận và cáchtiếp cận khác nhau mang dấu ấn phong cách của từng tác giả Nhưng điểm chung cóthể nhận thấy ở các nhà văn là họ đều viết về thủ đô Hà Nội bằng niềm thành kính, say
mê và một tình yêu tha thiết
1.3 Đề tài Hà Nội trong sáng tác của Tô Hoài
1.3.1 Một tình yêu Hà Nội sâu đậm
Có thể nói Tô Hoài là nhà văn của Hà Nội Đề tài Hà Nội trong văn Tô Hoài làmảng sáng tác độc đáo, có những thành công và tạo được dấu ấn riêng, đậm nét tronglòng độc giả Điều này trước hết bắt nguồn từ sự gắn bó sâu nặng của ông với thủ đô.Quê gốc Tô Hoài ở làng Vạn Phúc, Hà Đông Thế nhưng, ông lại lớn lên ở vùng quêngoại ven sông Tô Lịch Vì vậy bút danh Tô Hoài cũng ghép từ hai chữ Tô Lịch - consông quê với Phủ Hoài Đức - vùng Nghĩa Đô, Cầu Giấy bây giờ Mảnh đất và conngười nơi đây đã tạo cảm hứng và định hướng nghệ thuật cho nhà văn từ những ngày
đầu cầm bút Và mãi cho đến sau này, Hà Nội vẫn là nguồn cảm hứng chủ yếu trong
sáng tác của ông
Nếu Nguyễn Tuân khai thác Hà Nội ở khu trung tâm sầm uất, Nguyễn Huy Tưởngtái hiện Hà Nội qua những sự kiện lịch sử thì cảm hứng sáng tác của Tô Hoài là vùng
ven đô ngoại thành cần lao nhưng thơ mộng Ông tái hiện “hồn vía”, diện mạo Hà Nội
từ phương diện văn hóa, phong tục, tập quán, lễ hội…Là người Hà Nội, sống với Hà
Nội, gắn bó với Hà Nội và viết về Hà Nội, Tô Hoài thuộc rất nhiều ca dao tục ngữ,truyền thuyết dân gian, những câu chuyện kể rất đời thường về con người Hà Nội,
Trang 30cuộc sống Hà Nội Tô Hoài rất am hiểu về Hà Nội Ngoài vốn sống trực tiếp, ông còntạo vốn sống gián tiếp bằng cách chăm chỉ đọc báo, hàng ngày ghi chép tỉ mỉ nhữngchi tiết về giá cả sinh hoạt chợ búa, tiếng nhà nghề, tiếng lóng, những mốt quần áo, bàihát, trò chơi thông dụng trong từng giai đoạn Có thể nói, Tô Hoài là cuốn từ điểnsống về văn hóa, phong tục tập quán và từ ngữ dân gian của Hà Hội xưa.
Trước Cách mạng tháng Tám, Tô Hoài viết nhiều truyện về vùng quê ven
thành: Quê người (1941), O chuột (1942), Giăng thề (1943), Nhà nghèo (1944),
Xóm Giếng ngày xưa (1944), Cỏ dại (1944) Đó là hình ảnh vùng quê làng Nghĩa Đô
của ông và các khu vực lân cận Trong tác phẩm của ông giai đoạn này hiện lên những
bức tường cũ ky, rêu phong, những con người lam lũ, những rặng cúc tần những
đường thôn ngõ xóm, căn nhà đơn sơ luôn văng vẳng tiếng khung cửi lách cách, những
“tàu seo” róc rách lúc đêm khuya, những cánh đồng rộng…Ở đó, có cuộc đời củanhững người nông dân, thợ thủ công quanh năm lam lũ, điêu đứng vì miếng cơm manh
áo Cuộc sống thường ngày với những sinh hoạt quen thuộc của con người vùng quêven thành được nhà văn miêu tả hiện lên sinh động, bình dị như những gì vốn có Khácvới những nhà văn hiện thực phê phán đương thời, Tô Hoài không đề cập đến nhữngmâu thuẫn giai cấp sục sôi, quyết liệt, không xây dựng những hình tượng điển hìnhnông dân và địa chủ Tô Hoài viết về những chuyện đời thường với những con ngừờithật bình thường, tâm hồn giản dị Ông không tô hồng hiện thực, cũng không né tránh
sự thật cho dù đó là sự thật khắc nghiệt, chua cay đến đau lòng
Nhà văn đã miêu tả chân thật và sinh động cảnh sống đói nghèo, cùng quẫn bếtắc của những kiếp người nghèo khổ, lang thang, phiêu bạt nơi đất khách quê người.Những người thợ thủ công bị phá sản xuất hiện dần qua từng trang sách với tất cả niềmcảm thông chân thành Những câu chuyện đời thường của người dân ven thành hiện
lên bình dị qua cuộc đời và số phận của các nhận vật Cái Gái (Nhà nghèo) chẳng may
bị rắn độc cắn chết vào một buổi chiều đi bắt nhái; mụ Hối (Ông cúm bà co) bỏ lại hai
đứa con thơ vì bệnh nặng nhà nghèo, trong nhà "không có lấy một đồng xu nhỏ" chữa
bệnh; lão lái Khế (Khách nợ) chết thê thảm vì bị chó dại cắn; anh Thoại (Quê người)
gia cảnh nghèo túng đến xót xa : ngày mùng một Tết, chẳng có xôi, chẳng có thịt,
chẳng có hương, chẳng có nến, nghĩa là chẳng có một thứ gì để cúng Vợ chồng đều ăncơm gạo đỏ với sung muối như ngày thường Thương xót cho gia cảnh, thân phận của
Trang 31mình, của vợ, của con anh đành đánh liều ra đồng bắt trộm chó Việc không thành,anh chẳng còn mặt mũi nào ở lại làng quê, mùng một Tết, vợ chồng con cái dắt nhau
đi lang bạt nơi đất khách quê người
Như vậy có thể thấy, trước Cách mạng, Tô Hoài viết về đề tài Hà Nội chủ yếu làphản ánh cuộc sống, sinh hoạt hằng ngày của người dân làng Nghĩa Đô với những khókhăn, nhọc nhằn, tủi cực, lấm láp nhưng cũng rất đỗi yên ả, thanh bình
Sau Cách mạng, Tô Hoài lại tiếp tục cảm hứng với miền sáng tác thân thuộccủa mình qua mảng đề tài viết về Hà Nội - ngoại ô quê ông Đề tài này xuất hiện trong
nhiều sáng tác của Tô Hoài sau cách mạng: Mười năm (1958), Tự truyện (1978),
Người ven thành (1972), Quê nhà (1980), Những gương mặt (1988), Cát bụi chân
ai (1992), Chuyện cũ Hà Nội (1998), Chiều chiều (1999), Giấc mộng ông thợ dìu
(2004)…Những tác phẩm này đã khắc họa rõ nét về các chặng đường biến đổi của Hà
Nội Nếu trước Cách mạng Tô Hoài chỉ viết về những chuyện trong làng và trong nhà,
những cảnh và người của một vùng công nghệ đương sa sút, nghèo khó, thì sau Cách
mạng nhà văn mở rộng không gian và thời gian phản ánh Tô Hoài không chỉ viết về
vùng "Kẻ Bưởi" mà còn viết về Hà Nội "Băm sáu phố phường", không chỉ viết về
cuộc sống hiện tại mà còn đi ngược dòng lịch sử viết về những năm tháng cuối thế kỉ
XIX trong thời kì thực dân Pháp xâm lược nước ta (Người ven thành, Quê nhà), tái
hiện thời kì đau thương nhưng vô cùng oanh liệt của dân tộc ta từ 1935 đến 1945
(Mười năm), thời kì xây dựng chủ nghĩa xã hội (Những ngõ phố, người đường phố;
Phố), và ở thời điểm lịch sử gần đây muôn chuyện đời thường ở Hà Nội được tác giả phản ánh trong Chuyện cũ Hà Nội.
Như vậy sau Cách mạng, viết về Hà Nội, Tô Hoài đã có cái nhìn trong chiều dàilịch sử Do đó qua muôn chuyện đời thường, nhiều biến cố của đời sống xã hội đã hiệndiện trong sáng tác của Tô Hoài Người đọc đón nhận những sáng tác của Tô Hoài về
Hà Nội có thể theo nhiều hướng khác nhau, nhiều mục đích khác nhau, song tựu chunglại họ tìm thấy ở những tác phẩm này một bức tranh hiện thực sống động với nhữngbiến cố thăng trầm của lịch sử và đặc biệt là tình yêu tha thiết của nhà văn đối vớimảnh đất thân thương này
Trang 32Hơn 90 năm sống với hàng loạt thăng trầm của Hà Nội, Tô Hoài được coi làmột chứng nhân của lịch sử Thăng Long Sáng tác của ông gần như viết về mọi giai
đoạn lịch sử của mảnh đất này Thời Pháp thuộc có Bố mìn mẹ mìn, Chuyện cũ Hà Nội Thời chống My, Hà Nội dưới mắt ông tổ trưởng tổ dân phố Tô Hoài ẩn hiện trong những Chiều chiều, Cát bụi chân ai Rồi sang thế kỷ 21, ở tuổi ngót 90, ông lại có
tập tản văn Giấc mộng ông thợ dìu với những cái nhìn khá độc đáo về một Hà Nội
đang thay đổi từng ngày “Tôi chỉ thích viết về quần chúng, viết về người lao động bình thường Bắt mình viết về anh trí thức nghèo như Nam Cao thì khó, bởi mình có phải là anh giáo như “hắn” đâu” - Tô Hoài nói Ngẫm ra, từ khi mới cầm bút, những
trang viết về Hà Nội của Tô Hoài luôn có những nét rất riêng: có lúc hơi bụi bặm,nhếch nhác xô bồ nhưng vẫn đáng yêu bởi tràn đầy hoài niệm và sự cảm thông, chia sẻcủa những con người đang sống nơi ấy Con mắt tinh đời, nhạy bén của Tô Hoài luôngiúp ông đọc ra những góc khuất các mẫu nhân vật của mình, để từ đó thanh thản biếtchấp nhận cái phần không hoàn thiện của cuộc sống như nó đang diễn ra Tô Hoài tâm
sự, suốt ngần ấy năm, đi đâu về đâu, ông vẫn yêu và nhớ nhất là vùng quê ngoại Nghĩa
Đô, Cầu Giấy của mình Hà Nội có thay da đổi thịt đến mấy, ông vẫn có thể nhắm mắt
mà đi băng băng trên những vỉa hè trong khu phố cổ, dù đã không còn lát đá xanh vànhững nắp cống tròn đúc bằng gang như thời xưa
Dù Hà Nội là đề tài đã có nhiều nhà văn khám phá nhưng trong tác phẩm của
Tô Hoài vẫn hiện lên những nét mới, nét riêng, những nhận thức mới về mảnh đấtThăng Long xưa Đó chính là bức ký hoạ với những nét buồn mong manh bằng hìnhtượng ngôn từ sống động Hà Nội trong những trang viết của Tô Hoài hiện lên rất bình
dị, mộc mạc và gần gũi nhưng không vì thế mà mất đi nét hào hoa, lãng tử và dí dómvốn có của một nhà văn gốc người Hà Nội Những kí ức về Hà Nội dường như bao giờcũng ngồn ngộn, đầy ắp, tường tận, rõ ràng và tồn tại mãi mãi trong trí nhớ của nhà văn
Tô Hoài Từ quan điểm đó, Tô Hoài đã dựng lên diện mạo Hà Nội từ hai phương diện:văn hoá vật chất với cảnh sống cực khổ của người dân nô lệ mất nước và văn hoá tinhthần với vẻ đẹp của phong tục tập quán, lễ hội, văn học dân gian và sức mạnh tinh thầnbền vững
Tô Hoài quả là một kho báu văn chương về Hà Nội Nhờ ông, một người chưa biết
về Hà Nội chỉ cần đọc riêng các sách của ông về chốn kinh thành này thôi đã đủ để
Trang 33hiểu Hà Nội là gì và Kẻ Chợ là thế nào Với những cống hiến to lớn của mình, Tô
Hoài xứng đáng được vinh danh với giải thưởng lớn Vì tình yêu Hà Nội do báo Thể
thao &Văn hóa phối hợp với Quy Bùi Xuân Phái tổ chức, và năm 2011, ông được trao
danh hiệu Công dân Thủ đô ưu tú.
1.3.2 Nhãn quan hiện thực đặc sắc
Văn học là tấm gương phản ánh hiện thực Hiện thực khách quan được tái hiệntrong tác phẩm nghệ thuật qua lăng kính chủ quan của người nghệ sy Nhà văn Nam
Cao gọi đó là“Đôi mắt” Có thể hiểu nhãn quan như là cách nhìn nhận, đánh giá, lối
cảm nhận riêng trong đó chứa đựng quan niệm và cách cắt nghĩa riêng về thế giới củatừng người nghệ sĩ
Tô Hoài là người có khiếu quan sát tinh anh, tỉ mỉ đến "con ruồi bay qua không lọt khỏi mắt" (Vương Trí Nhàn) Ông hay đến các quán ăn ở Hà Nội, từ đại lầu Hoan lạc
viên, bà bún thang, bà nem chua giò chả, đến ông Văn Phú ếch tẩm bột rán, bà cụ chả
cá phố Hàng Lược để quan sát và ghi chép Ông còn đọc "thượng vàng hạ cám, cái gì đến tay cũng đọc" Ông học trong sách, học ngoài cuộc đời và học nhân dân Chính vì
vậy, mọi cảnh đời, mọi số phận, mọi vui - buồn, hay dở trong cuộc sống đều được nhàvăn cảm nhận ở chiều sâu nhân bản Viết về cái dở, cái xấu không phải để dè bỉu, chêbai mà sự hiện diện của nó đem lại sự trọn vẹn trong thế giới vô cùng sinh động vàphong phú của chúng ta
Khi viết về đề tài Hà Nội, nhà văn Tô Hoài đã sử dụng nhãn quan hiện thực độcđáo, tinh tế để tái hiện một Hà Nội rất đỗi bình dị, thân quen nhưng không phải ai cũng
dễ dàng nhận ra Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh có một nhận xét chính xác: “Có thể nói, Tô Hoài là nhà văn của người thường, của chuyện thường, của đời thường” [49] Nhãn quan hiện thực đời thường chính là hạt nhân cơ bản làm nên phong cách Tô
Hoài Cuộc sống hiện ra dưới cái nhìn của Tô Hoài thật dung dị tự nhiên như nó vốnthế Tác phẩm của Tô Hoài là hình ảnh của dòng đời tự nhiên chảy trôi miên man bấttận Có vẻ như Tô Hoài đã tự chuẩn bị cho một thế nhìn: đời sống nó thế, lên gân quá,
tô vẽ quá cũng chỉ vậy mà thôi Đọc Tô Hoài, nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Điệp liên
tưởng đến Nguyễn Tuân và nhận thấy: “Cả hai cây đại thụ này đều có cái nhìn riêng
về đời sống Nguyễn Tuân truy tìm cái đẹp đượm màu lý tưởng Đó có thể là cái đẹp
Trang 34vang bóng, có thể là cái đẹp trong hiện tại nhưng trên cái nền hiện tại ấy, mọi cái đẹp đều hiện lên kỳ vĩ, khác lạ Còn Tô Hoài, cái đẹp hiện ra chính trong đời thường”
[49]
Nhãn quan hiện thực của Tô Hoài được thể hiện trên nhiều phương diện Trướctiên là cách nhìn nhận đánh giá về con người Dưới con mắt của Nguyễn Tuân, nhà vănluôn nhìn nhận con người ở phẩm chất nghệ sy tài hoa, tài tử Đó là ông nghè, ông
cử…với những tài nghệ thưởng thức thú vui tao nhã một thời (Vang bóng một thời).
Nam Cao trước cách mạng cũng đến với con người trong cái "vặt vãnh" đời thường,
nhưng ở đó con người luôn tự ý thức rõ rệt về chính mình; luôn tự đấu tranh, dằn vặtđau đớn trước những bi kịch xót xa của kiếp người, phải gánh chịu những kết cục hết
sức bi thảm (Chí Phèo, Lang Rận, Lão Hạc ) Tô Hoài với hơn nửa thế kỷ miệt mài
sáng tạo nghệ thuật nhưng đều nhất quán trên quan điểm nhìn nhận về con người
Trong cuốn hồi ký Cát bụi chân ai, ông phát biểu thật rõ ràng: "người ta ra người ta thì phải là người ta đã chứ" Vậy là theo Tô Hoài, con người trước hết phải là chính
mình, phải có phẩm chất, có thói tật; có hay, có dở; có tốt, có xấu; có ý thức và vôthức Ông cho rằng con người không phải là thánh nhân, càng không thể siêu phàm,ngay cả những con người vốn được coi là thần tượng cũng có những phần nhỏ nhoi,tầm thường trong họ Thế nhưng, từ sâu thẳm mỗi con người, cái tốt, cái hay vẫn là cơbản làm nền tảng Con người tha hoá của Tô Hoài không hoàn toàn biến chất AnhThoại trong cảnh bần cùng đánh vợ nhưng rồi lại xót xa đau đớn; đi ăn trộm, nhưng ở
anh vẫn có lòng tự trọng nên chẳng còn dám nhìn thấy mặt ai Lão lái Khế (Khách nợ)
hạch sách, doạ nạt, moi tiền con nợ bằng nhiều mẹo vặt, nhưng lão vẫn còn nhận ra
cảnh cùng kiệt nhà Hương Cay Tô Hoài viết với quan niệm “đấu tranh để nói ra sự thật, cho dù phải đập vỡ những thần tượng” Đây chính là điều mà Tô Hoài gần với
Vũ Trọng Phụng, Nam Cao: “Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết Tôi và các nhà văn cùng chí hướng như tôi muốn tiểu thuyết là sự thực ở đời”.
Nhãn quan hiện thực của Tô Hoài còn được thể hiện đặc sắc trong cách nhìn
nhận và tái hiện bức tranh xã hội Trần Hữu Tá cho rằng Tô Hoài có “nhãn quan
phong tục đặc biệt nhạy bén, sắc sảo” [32, tr 160] Mỗi nhà văn viết về phong tục
dưới một cảm quan hiện thực của riêng mình Nếu Nguyễn Tuân cảm nhận phong tụctrên một giá trị thẩm my đặc sắc, gắn với truyền thống văn hoá dân tộc, gắn với một
Trang 35lớp người nghệ sy tài hoa tài tử, Kim Lân đến với phong tục trong thú chơi tao nhãđồng quê thì Tô Hoài lại cảm nhận phong tục trên mọi phương diện tồn tại tự nhiên của
nó ở cả hai mặt tốt và xấu, phong tục và hủ tục lạc hậu, ấu trĩ Tô Hoài rất nhạy cảm với
những cảnh sinh hoạt, những tập tục quen thuộc của từng vùng quê, từng gia đình, từngcon người Biệt tài miêu tả phong tục chính là chất men nồng làm nên sức hấp hẫn trongvăn chương Tô Hoài
Nhãn quan phong tục đem lại cho văn chương Tô Hoài sức hấp dẫn riêng biệt
và độc đáo Tô Hoài đã ghi chép lại rất nhiều phong tục truyền thống của dân tộc nhưphong tục về giỗ tết, phong tục về ma chay, phong tục cưới hỏi,phong tục lễ hội, phong tục về ăn uống, văn hóa mặc, tục nhuộm răng hayngay cả phong tục chào hỏi của người Việt Nam…Chỉ riêng về phong tục ngày tết, tác
phẩm Giỗ tết đã nói một cách đầy đủ, tỉ mỉ và chi tiết về những ngày tết của Việt Nam:
tết Thượng nguyên, tết Trung nguyên, Hạ nguyên, tết Thanh minh, tết Đoan ngọ, tếtTrung thu…Phong tục tập quán còn được Tô Hoài nhắc đến ngay ở cuộc sống sinhhoạt của con người như: phong tục thể hiện qua trang phục, qua hàm răng mái tóc haycách ăn uống, giao tiếp của con người Bất cứ nhà dân tộc học, xã hội học nào cũngmong có được một vốn hiểu biết cực kỳ phong phú, sinh động như của nhà văn TôHoài
Con mắt tinh anh của Tô Hoài còn cảm nhận cả những “phong tục đã lỗi thời"
-những hủ tục như nạn tảo hôn (truyện ngắn Vợ chồng trẻ con), nạn đòi nợ (truyện ngắn Khách nợ), nạn chữa bệnh bằng lối mê tín dị đoan (truyện ngắn Ông cúm bà co),
nạn cho vay nặng lãi, nạn ma chay cưới xin, nạn chửi bới bêu xấu nhau (tiểu thuyết
Quê người), khiến bao gia đình điêu đứng, bao số phận bi thảm, bao tình làng nghĩa
xóm rạn nứt Không những thế, thói sĩ diện thường tình tiềm ẩn trong mỗi con ngườinhiều khi cũng trở thành mảnh đất cho hủ tục hoành hành, để lại kết cục bi thảm cho
con người Lệ khao vọng làng (tiểu thuyết Quê nhà) khiến những người nghèo khó
càng điêu đứng, họ vừa lo sợ, vừa ước ao, vừa áy náy đăm chiêu Không hiếm ngườicùng đường phải trẫm mình, phải thắt cổ Còn ông tổ họ Lê lại tính đến một nước
khác: “gà gáy một đêm kia, cái ông họ Lê không thể lo được bò lợn trình làng lên ảnh năm ấy, lủi thủi dắt vợ con ra khỏi luỹ tre cổng làng Chẳng một ai trông thấy" Chuyện "xấu hổ" ấy cụ tổ đầu tiên trên đất Sơn này không dối dăng lại Nó như một
Trang 36nỗi đau của những người tha thiết với quê hương nhưng rồi lại phải lìa xa quê hương
vì những hủ tục lạc hậu Có thể nói bằng nhãn quan hiện thực đặc sắc, độc đáo củamình, Tô Hoài đã lưu giữ cho chúng ta đời sống, phả lại nhịp đập của lịch sử, nói lên
câu chuyện muôn đời của kiếp nhân sinh
Tóm lại, Hà Nội trong những trang viết của Tô Hoài hiện lên rất bình dị, mộcmạc và gần gũi nhưng không vì thế mà mất đi nét hào hoa, lãng tử Với cách nhìn thấuđáo hồn hậu, xót xa mà vẫn tràn trề hy vọng, các trang văn của Tô Hoài đã tái hiệnsinh động và chân thực cuộc sống của mảnh đất Thăng Long xưa Từ các vùng quê ven
đô đến ba sáu phố phường nhộn nhịp, từ những câu ca dao bình dị kể về sự tích làng,các chợ…cho đến âm thanh rộn ràng của tiếng leng keng tàu điện, từ tà áo dài duyêndáng tha thướt của thiếu nữ Hà thành đến những hội hè đình đám vẫn được duy trì chođến ngày hôm nay…Đó là một Hà Nội luôn vận động phát triển nhưng vẫn trầm lặng
cổ kính Viết về mảnh đất Thăng Long xưa, như lời tác giả, là tự thuật đời sống tinhthần vật chất và hoạt động của một địa phương, là khơi gợi và xem xét thấy được lịch
sử của mỗi vùng làm nên hình ảnh cả nước, cả dân tộc, có nối tiếp và lâu dài Nó cũng
là kỷ yếu đời người, bài học hôm nay và mai sau Vì vậy, vẻ đẹp của một Hà Nội vớinhững nét sinh hoạt văn hoá truyền thống đã được Tô Hoài tạo dựng trên những trangvăn giản dị mà diễm tuyệt
1.4 Bối cảnh xã hội Việt Nam những năm 40 của thế kỉ XX
Văn học chính là bức tranh phản ánh sinh động, chân thực đời sống xã hội, conngười ở mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể Vì vậy nghiên cứu về văn hóa trong một tácphẩm văn học trước tiên chúng ta cần đi vào tìm hiểu bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hộicủa giai đoạn mà tác phẩm đó phản ánh
Chuyện cũ Hà Nội của Tô Hoài tập bút kí ghi lại những câu chuyện của Hà
Nội trong những năm 40 của thế kỉ XX Về mặt chính trị, đây là giai đoạn mà xã hôi
có nhiều biến động Trên thế giới, tháng 9 -1939, Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng
nổ Ở châu Âu, quân đội phát xít Đức tiến công nước Pháp, Chính phủ phản động Phápđầu hàng, làm tay sai cho Đức (tháng 6-1940) Ở Viễn Đông, quân đội phát xít Nhậttiến sát biên giới Việt -Trung Thực dân Pháp ở Đông Dương lo sợ cả ngọn lửa cáchmạng giải phóng dân tộc của nhân dân Đông Dương, lẫn sự đe doạ nhảy vào Đông
Trang 37Dương của phát xít Nhật Để đối phó, một mặt thực dân Pháp thực hiện chính sáchthời chiến, ra sức phát xít hóa bộ máy thống trị, thẳng tay đàn áp phong trào cách
mạng của nhân dân ta Hàng vạn vụ khám xét, bắt bớ diễn ra khắp nơi, lệnh "tổng động viên" được ban bố cùng với chính sách "kinh tế chỉ huy" được thi hành, nhằm
tăng cường vơ vét sức người và sức của ở thuộc địa để cung ứng cho cuộc chiến tranh
đế quốc Chính sách phản động trên của thực dân Pháp đã đẩy nhân dân ta vào cảnhsống ngột ngạt bần cùng Mặt khác, thực dân Pháp thi hành chính sách thoả hiệp, tiếptay cho Nhật mở rộng chiến tranh đế quốc xâm lược Cùng với việc buộc Pháp nhượng
bộ, Nhật ra sức lôi kéo một số phần tử cơ hội trong bộ phận địa chủ và tư sản phảnđộng người Việt Nam làm tay sai phục vụ cho chúng Bọn này núp dưới hình thứcđảng phái chính trị ( Đại Việt, Phục Quốc ), hình thức tôn giáo để hoạt động tuyêntruyền về văn minh và sức mạnh của Nhật Cuối tháng 9 -1940, quân Nhật vượt biêngiới Việt - Trung tiến vào miền Bắc Việt Nam Quân Pháp nhanh chóng đầu hàng dâng
Đông Dương cho Nhật, đẩy nhân dân Việt Nam đến cảnh “Một cổ hai tròng” đã làm
trâu ngựa cho Tây, lại làm nô lệ cho Nhật Nhật bắt Pháp phải cung cấp nhiều nguyênliệu, lương thực, thực phẩm, tiền bạc, các vật dụng khác Đáp lại yêu cầu của Nhật vàcũng để đầy túi tham của mình, thực dân Pháp dùng nhiều thủ đoạn bóc lột nhân dân
ta Pháp tăng thuế, và thủ đoạn buộc nông dân nhổ lúa để trồng đay, bông, thầu dầu,thuốc phiện nộp cho Nhật, cưỡng bức người sản xuất bán lương thực, thực phẩm vớigiá rẻ, một phần để tích trữ chuẩn bị chiến tranh, một phần để cung cấp cho Nhật.Chính sách bóc lột kinh tế, áp bức chính trị của Pháp - Nhật đã gây hậu quả tai hại đếnnền kinh tế đất nước, đến mọi mặt của đời sống nhân dân, trực tiếp làm hai triệu đồngbào ta ở miền Bắc chết đói trong mấy tháng đầu năm 1945 và hàng triệu đồng bàokhác trong cả nước sống dở, chết dở
Về mặt xã hội, dưới hai tầng áp bức bóc lột nặng nề của Nhật - Pháp, cáctầng lớp nhân dân nói chung, nhất là nông dân, bị đẩy đến tình trạng cực khổ,điêu đứng Công nhân và nông dân là hai giai cấp chịu hậu quả nặng nề nhất của chínhsách phát xít Cuộc sống của người nông dân thời đó thật sự khốn quẫn Họ là nạnnhân của chính sách chiếm đoạt ruộng đất, chính sách tô cao thuế nặng Họ sống cầmhơi với hớp cháo cám nhạt và trần mình chịu rét lúc đêm đông Bên cạnh đó, khôngchỉ nông dân, đời sống của các tầng lớp giai cấp khác trong xã hội cũng điêu
Trang 38đứng nhiều bề Giai cấp công nhân bị bóc lột nặng nề, đồng lương thực tế giảm sút,giờ làm việc tăng lên (từ 10 đến 12 giờ trong ngày) Hàng hoá trên thị trường khanhiếm, giá sinh hoạt đắt đỏ Ngày càng có nhiều công nhân, trí thức, viên chức bị sathải, thất nghiệp; nhiều học sinh, sinh viên bị thất học Tầng lớp tiểu tư sản chịu tácđộng không nhỏ, bị ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp của những chính sách thực dânphản động Nhiều tiểu thương sa vào cảnh hàng hoá ế ẩm, nhiều tiểu chủ sản xuất
ngừng trệ Giai cấp tư sản dân tộc cũng bị chính sách "kinh tế chỉ huy" thời chiến của
Pháp và chính sách tăng cường đầu tư của các công ty tư bản Nhật làm cho phá sản, bịthiệt hại do tư bản Pháp - Nhật cạnh tranh, do sức mua của nhân dân giảm sút Bộ phậnđịa chủ vừa và nhỏ bị thiệt hại do các chính sách cướp đất, tăng thuế, mua ngũ cốc vớigiá rẻ Vì vậy, nhân dân ta đều sôi sục căm thù, và sẵn sàng nổi dậy khi thời cơ tới Cảnước Việt Nam như một đồng cỏ khô, chỉ một tàn lửa nhỏ rơi vào là sẽ bùng lên thiêucháy bè lũ cướp nước và tay sai
Về văn hóa, thực dân Pháp thi hành chính sách văn hóa vô cùng xảo quyệtnhằm nhào nặn xã hội Việt Nam vào cái khuôn khổ có lợi cho chúng Chúng đưa vàonước ta đủ thứ rác rưởi của văn hóa tư sản phản động phương Tây, cùng với cặn bãphong kiến, chúng gọi là kết hợp Văn minh Âu My với Quốc hồn quốc túy An Nam.Thực dân Pháp tiếp tục chính sách ngu dân khiến số người mù chữ chiếm đến 90% dân
số Chế độ kiểm duyệt gắt gao, cấm đoán tất cả sách báo tiến bộ trong và ngoài nước
Đời sống văn học thời kì này có nhiều biến động gắn với sự biến đổi của batrào lưu văn học đó là văn học cách mạng, văn học hiện thực phê phán và văn họclãng mạn Văn học vô sản rút vào bí mật nhưng vẫn phát triển mạnh mẽ Thơ cacách mạng trong tù và thơ ca cách mạng ngoài nhà tù phát triển, nói nhiều tới tươnglai mới, cuộc sống sáng sủa Thời kì này thơ tuyên truyền kết hợp với thơ trữ tìnhcách mạng càng thấm thía, sâu sắc hơn Tố Hữu trưởng thành nhanh chóng với
tập thơ Từ ấy Bên cạnh thơ ca, hàng loạt bài chính luận của đồng chí Trường
Chinh xuất hiện trên các báo chí của Ðảng vào thời kì này cũng có nhiều giá trị vănhọc Có thể nói văn học cách mạng trong những năm tiền khởi nghĩa đã góp phầnquan trọng vào cuộc vận động cách mạng của Ðảng, đập tan chế độ thuộc địa, giànhthắng lợi trong những ngày tháng Tám năm 1945 lịch sử Văn học lãng mạn rơi vào
Trang 39cái tôi bế tắc, cực đoan Thơ mới khủng hoảng nghiêm trọng với thơ say, thơ điên,thơ loạn
Như vậy, có thể nói bối cảnh xã hội Việt Nam những năm 40 của thế kỉ XX cónhiều biến động Chính trị rối ren, kinh tế suy thoái, đặc biệt là đời sống nhân dân vôcùng cực khổ Đây chính là bối cảnh văn hóa được Tô Hoài phản ánh, ghi lại trong tác
phẩm Chuyện cũ Hà Nội.
Tiểu kết chương 1
Như vậy, đề tài Hà Nội là mảng sáng tác quen thuộc chứa đựng tình yêu sâu đậm
của nhà văn Tô Hoài Nghiên cứu Chuyện cũ Hà Nội từ góc nhìn văn hóa là hướng
nghiên cứu có nhiều ưu việt trong bối cảnh giao lưu văn hóa mạnh mẽ hiện nay Nógiúp chúng ta khai mở những cấp độ ý nghĩa mới mẻ về đề tài Hà Nội, về văn hóa HàNội và về nhãn quan hiện thực độc đáo của nhà văn Tô Hoài
CHƯƠNG 2 NHỮNG DẤU ẤN VĂN HÓA TRONG
CHUYỆN CŨ HÀ NỘI CỦA TÔ HOÀI
2.1 Những dấu ấn văn hóa vật chất
2.1.1 Nét văn hóa ẩm thực bình dân
Ăn uống là một trong những nhu cầu cơ bản của con người để duy trì và phát triển
sự sống Văn hóa ẩm thực xuất phát từ nguồn gốc văn hóa nông nghiệp, thể hiện tínhcộng đồng, tính tổng hợp và sự linh hoạt, biện chứng Ẩm thực luôn gắn kết với hoạtđộng kinh tế (một trong những thành tố văn hóa) Ăngghen cũng đã từng tổng kết quy
Trang 40luật phát triển của lịch sử loài người trong bài điếu văn Ba cống hiến vĩ đại của Các
Mác: “Con người nghĩ đến chuyện ăn, ở, mặc trước khi nghĩ đến chuyện làm văn hóa,
chính trị, nghệ thuật, tôn giáo…” Lý luận gia ẩm thực người Pháp Brillat Savarin cho rằng: “Hãy nói cho tôi biết anh thích ăn gì, tôi sẽ nói cho anh biết anh là người thế
nào”, “Số phận của các quốc gia tùy thuộc vào cách dinh dưỡng” Cách ăn uống, mục
đích ăn uống, thái độ ăn uống phản ánh trình độ văn hóa, nhân cách một con người,
một cộng đồng người Vì vậy, ẩm thực đã vượt khỏi tầm vật chất, trở thành yếu tố văn hóa - một mảng văn hóa mang đậm sắc thái, tâm hồn dân tộc nhưng không kém phần
duyên dáng và đầy cốt cách
Văn hóa ẩm thực, vì thế đã được các tao nhân mặc khách chạm vào, nâng lên
thành một hiện tượng đẹp, đáng trân trọng và đi vào thơ ca một cách tao nhã, tinh tế.
Để từ đó, làng văn có một Thạch Lam sâu lắng, trữ tình trong Hà Nội băm sáu phố
phường; một Nguyễn Tuân cầu kì, kiểu cách nhưng cũng trang trọng đầy nghệ thuật,
từ Cốm Vòng đến miếng Giò lụa hay bát Phở…Đặc biệt, một Vũ Bằng ở miền Nam
mà luôn ròng ròng nước mắt nhớ về món ăn đất Bắc, đã rút từ tim gan viết nên tập kí bất hủ Miếng ngon Hà Nội Trong Chuyện cũ Hà Nội có 106 câu chuyện thì có tới
67 chuyện có nhắc tới việc ăn, trong đó 12 chuyện miêu tả trực tiếp chuyện ăn, chuyệnuống Đọc tác phẩm của Tô Hoài có thể thấy chuyện ăn, chuyện uống không chỉ nằmtrong chuỗi những sinh hoạt thường ngày tạo nên chất hiện thực, đời thường của cácnhân vật mà còn thể hiện những giá trị văn hóa, thể hiện góc nhìn riêng của ông về vấn
đề văn hóa xưa và nay
Văn hóa ẩm thực được thể hiện trên nhiều phương diện: ăn món ăn gì, cách chếbiến ra sao, cách ăn như thế nào và ứng xử ra sao trong bữa ăn Trước hết về các món
ăn, trong Chuyện cũ Hà Nội nhà văn Tô Hoài nâng niu những giá trị văn hóa qua các
món ăn dân dã gắn với lối ăn, uống của người bình dân: cháo, bánh đúc chấm tương,bánh dày, bánh cuốn…Các món ăn phần lớn đều gắn với sản phẩm của nền nôngnghiệp lúa nước bình dị mà đậm chất dân tộc, gợi lên tình yêu quê hương xứ sở mộcmạc, thấm thía:
“Anh đi anh nhớ quê nhà Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương”