1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Không gian công cộng dưới góc nhìn của cư dân trong các khu đô thị mới xây ở Hà Nội gần đây ( Nghiên cứu trường hợp khu đô thị mới Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội

89 1,5K 13

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 4,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ý nghĩa lý luận và thực tiễn: 2.1 Ý nghĩa lý luận Thông qua khảo sát về ý kiến của người dân đối với việc sử dụng không gian công cộng tại một khu đô thị mới khu đô thị Văn Quán, quận

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN HỒNG GIANG

KHÔNG GIAN CÔNG CỘNG DƯỚI GÓC NHÌN CỦA CƯ DÂN TRONG CÁC KHU

ĐÔ THỊ MỚI XÂY Ở HÀ NỘI GẦN ĐÂY

(Nghiên cứu trường hợp khu đô thị mới Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội)

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

PHẦN A: MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn: 2

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 3

5 Tương quan giữa các biến số 4

6 Giả thuyết nghiên cứu: 4

7 Phương pháp nghiên cứu: 4

8 Kết cấu của luận văn 5

PHẦN B: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 6

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 6

1 Cơ sở lý luận 6

2 Định nghĩa và thao tác hóa khái niệm làm việc 9

3 Lược sử vấn đề nghiên cứu 11

4 Giới thiệu địa bàn khảo sát 12

CHƯƠNG II: KHÔNG GIAN CÔNG CỘNG Ở KHU ĐÔ THỊ MỚI DƯỚI GÓC NHÌN CỦA NGƯỜI DÂN 17

1 Sự hình thành và phát triển không gian công cộng trong đời sống xã hội 17

2 Yếu tố cộng đồng truyền thống trong quá trình đô thị hóa ở Việt Nam 21

3 Sự nhìn nhận của người dân về không gian công cộng ở khu đô thị mới Văn Quán 24

CHƯƠNG III: NHU CẦU, NGUYỆN VỌNG CỦA NGƯỜI DÂN VÀ CÁC GIẢI PHÁP TRONG VIỆC TỔ CHỨC KHÔNG GIAN CÔNG CỘNG Ở KHU ĐÔ THỊ MỚI 46

1 Nhu cầu và nguyện vọng của người dân 46

2 Kinh nghiệm tổ chức không gian công cộng của một số nước trên thế giới 55

3 Một số giải pháp trong việc tổ chức không gian công cộng trong các đô thị mới ở Hà Nội 59

Phần C: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 65

1 Kết luận 65

2 Kiến nghị 66

TÀI LIỆU THAM KHẢO 68

PHỤ LỤC

Trang 3

PHẦN A: MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong các khu đô thị mới hiện nay, ngoài không gian ở đóng vai trò chủ đạo còn tồn tại các loại hình không gian khác, trong đó có không gian công cộng Không gian công cộng (KGCC) là một phần quan trọng trong hệ thống các không gian và không thể thiếu trong cấu trúc của khu ở hay đô thị Không gian công cộng luôn gắn với không gian ở, nó góp phần hoàn thiện, nâng cao chất lượng sống cho người dân trong các khu đô thị mới, thông qua

đó góp một phần quan trọng làm đẹp cho thủ đô Hà Nội

Không gian công cộng là những không gian thân thiện, gần gũi với mọi người Ðó là nơi mà mọi người có thể trò chuyện với nhau, cùng vui chơi, cùng nhau thi thố tài năng Ðó cũng là nơi mà mọi người có thể mua sắm, ngồi nhâm nhi tách cà phê và đắm mình vào cảnh vật xung quanh Thậm chí đơn giản hơn, không gian thân thiện có thể xuất hiện lúc mọi người trò chuyện trong khi chờ xe buýt Với tính chất mở và thân thiện, không gian công cộng đã trở thành những nơi chốn quen thuộc của mọi người, ngoài ngôi nhà của họ

Tuy nhiên, cư dân trong các khu đô thị lại luôn phải đối mặt với hàng loạt các khó khăn về phí dịch vụ cao, về thiếu các không gian cây xanh, không gian giao tiếp công cộng Hơn nữa, hệ thống các công trình dịch vụ công cộng trong các khu đô thị mới phần lớn đều không đáp ứng được nhu cầu của người dân Bên cạnh đó, ở các khu đô thị mới, bể bơi, sân tennis, nhà trẻ, mẫu giáo, bãi đỗ xe…thường bị quá tải so với yêu cầu thực tế Vì vậy, cư dân các khu đô thị mới nhiều khi phải tìm kiếm các dịch vụ ở bên ngoài

Nhìn chung, các khu đô thị mới có quy mô lớn, xây dựng độc lập, hệ thống công trình hạ tầng xã hội đa dạng và hoàn thiện hơn về loại hình, đối tượng và thời gian phục vụ so với các khu đô thị mới quy mô trung bình và nhỏ, nằm xen kẽ ven đô Các khu đô thị phục vụ mục đích tái định cư, cung

Trang 4

cấp nhà ở xã hội do giá thành xây dựng rẻ nên hầu như thiếu các công trình dịch vụ công công, trang thiết bị tiện ích đô thị

Thành phần dân cư đa dạng đòi hỏi các công trình hạ tầng xã hội cần phải đa dạng và có quy mô hợp lý, có các hệ thống dịch vụ đặc biệt cho những nhóm người khác nhau Về tổ chức không gian, thực tế cho thấy các khu đô thị có hình thức khép kín sẽ ngày càng trở nên không phù hợp Một

mô hình mở, kết nối thuận tiện với xung quanh về hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, hình ảnh không gian liên tục và thân thiện, tăng cường các diện tích cây xanh và không gian giao tiếp cho cư dân là mô hình lý tưởng cho sự lựa chọn của những người dân về cuộc sống trong tương lai

Nói tóm lại, việc xây dựng, sử dụng và hoàn thiện không gian công cộng trong các khu đô thị mới ở Hà Nội hiện đang đặt ra nhiều vấn đề, không chỉ về mặt kỹ thuật, kiến trúc mà cả về mặt xã hội ở các khu dân cư Và đây cũng chính là lí do để chúng tôi chọn đề tài “Không gian công cộng dưới góc nhìn của cư dân trong các khu đô thị mới xây ở Hà Nội gần đây” mà cụ thể là nghiên cứu trường hợp khu Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội

2 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn:

2.1 Ý nghĩa lý luận

Thông qua khảo sát về ý kiến của người dân đối với việc sử dụng không gian công cộng tại một khu đô thị mới (khu đô thị Văn Quán, quận Hà Đông, Hà Nội), luận văn cung cấp thêm nguồn số liệu thực tế cho việc nghiên cứu và giảng dạy bộ môn Xã hội học đô thị, Xã hội học văn hóa… Ngoài ra, việc vận dụng một vài lý thuyết xã hội học trong quá trình nghiên cứu cũng góp phần tìm hiểu khả năng áp dụng các lý thuyết vào thực tiễn đời sống xã hội ở Việt Nam

2.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp thêm luận cứ khoa học trong việc tìm hiểu, đánh giá hiện trạng không gian công cộng từ đó tìm ra giải pháp phát triển thích hợp cho hệ thống cấu trúc không gian ở nói chung và hệ

Trang 5

làm thiết thực, thể hiện khả năng ứng dụng của đề tài vào trong đời sống thực tiễn của đất nước

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu

- Qua việc khảo sát ở khu đô thị mới Văn Quán, Hà Nội, đề tài có mục tiêu mô tả thực trạng của việc xây dựng, sử dụng cũng như tâm tư, nguyện vọng của cư dân đối với không gian công cộng trong các khu cư trú của họ

- Phân tích các giá trị tốt đẹp cần bảo tồn, phát huy, cũng như sự cần thiết của không gian công cộng trong các khu đô thị mới hiện nay, những thiếu hụt một số yếu tố cần khắc phục, từ đó đề xuất các giải pháp duy trì và phát huy các giá trị tích cực của không gian công cộng đối với cuộc sống hàng ngày của người dân

3.2 Nhiệm vụ

Từ mục đích nêu trên đề tài có những nhiệm vụ chính sau đây:

- Tổng quan một số vấn đề lý luận cơ bản, làm cơ sở cho việc khảo sát

và nghiên cứu không gian công cộng

- Qua việc khoả sát tại thực địa, thu thập các số liệu, các dữ liệu về định lượng và định tính nhằm mô tả thực trạng của không gian công cộng đang diễn ra, trong đó bao gồm cả việc thụ hưởng, sự đánh giá cũng như tâm tư, nguyện vọng của người dân

- Tìm hiểu kinh nghiệm tổ chức không gian công cộng ở các khu đô thị mới trên thế giới và dự báo xu hướng biến đổi, phát triển của không gian công cộng trong xu hướng phát triển của các khu đô thị mới trong tương lai

- Đề xuất một số giải pháp về nhận thức và hành động cụ thể nhằm cải thiện tình trạng bất cập về không gian công cộng ở các khu đô thị mới hiện nay

4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Sự nhìn nhận, đánh giá cũng như tâm tư, nguyện

vọng của người dân về không gian công cộng trong các khu đô thị mới ở Hà Nội hiện nay

Trang 6

4.2 Khách thể nghiên cứu: Cư dân sinh sống trong các khu đô thị mới (thành

phố Hà Nội)

4.3 Phạm vi nghiên cứu:

- Về không gian địa lý: Do những hạn chế về thời gian và kinh phí, đề

tài chỉ chọn khu đô thị mới Văn Quán, quận Hà Đông, Hà Nội làm địa bàn khảo sát

- Về thời gian: Ngoài thời gian chuẩn bị (kể cả về ý tưởng, soạn thảo bộ

công cụ và việc liên hệ với địa phương), cuộc khảo sát được tiến hành trong suốt tháng 7 năm 2009

5 Tương quan giữa các biến số

- Biến số phụ thuộc: Là sự nhìn nhận, đánh giá của người dân (bao gồm

cả quan niệm của họ về không gian công cộng, thái độ, sự đánh giá , nhu cầu

và nguyện vọng của họ) về không gian công cộng ở các khu đô thị mới

+ Độ tuổi: (gồm 3 nhóm: trẻ - trung niên - cao tuổi)

+ Nguồn gốc xuất thân (người Hà Nội gốc hay từ nơi khác đến)

6 Giả thuyết nghiên cứu:

Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh chóng như hiện nay thì không gian công cộng ở các khu đô thị mới vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu và nguyện vọng của người dân ở hai phương diện: đời sống vật chất và đời sống tinh thần

7 Phương pháp nghiên cứu:

7.1 Sử dụng tài liệu đã có nhằm giúp tác giả có cái nhìn tổng quát về lĩnh vực này, từ đó thừa kế và định hướng về vấn đề nghiên cứu

7.2 Phỏng vấn sâu: Tiến hành phỏng vấn sâu 10 trường hợp, các đối

Trang 7

thu được từ các cuộc phỏng vấn sâu mang tính chất bổ trợ và được dùng chủ yếu như là những dẫn liệu minh họa, giải thích, bổ sung thêm cho các dữ liệu định lượng

7.3 Phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi: Nhằm đo lường nhận thức thái

độ cũng như tâm tư, nguyện vọng của người dân về việc tổ chức, sử dụng, quản lý không gian công cộng hiện nay ở các khu đô thị Ở đây tác giả đã sử dụng 150 phiếu hỏi, trong đó nam chiếm 38%, nữ chiếm 62%, giàu là 15,4%, nghèo là 37,3%, trung bình là 47,4%; nhóm người dưới 35 tuổi là 27,3%, trung niên là 46%, người cao tuổi là 26,7%

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, phần Nội dung chính của Luận văn được chia làm ba chương

Chương I trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài, trong đó bao gồm tổng quan vấn đề nghiên cứu, cơ sở lý luận và các lý thuyết sử dụng, các khái niệm và giới thiệu về địa bàn nghiên cứu

Chương II mô tả các kết quả thu được từ cuộc khảo sát về không gian công cộng (bao gồm cả quan niệm của họ về không gian công cộng, thái độ

và sự đánh giá , nhu cầu và nguyện vọng của họ)

Chương III trình bày về nhu cầu, nguyện vọng của người dân, đồng thời kiến nghị các giải pháp nhằm từng bước hoàn thiện không gian công cộng trong các khu đô thị mới, sao cho các không gian này vừa mang tính hiện đại, vừa kế thừa được các giá trị cổ truyền của dân tộc Việt Nam

Trang 8

PHẦN B: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1 Cơ sở lý luận

Các lý thuyết xã hội học được vận dụng trong nghiên cứu này

Như chúng ta đều biết, để có thể nắm bắt hiện thực của đời sống xã hội, ngành xã hội học đã hình thành nên nhiều lý thuyết khác nhau: lý thuyết cấu trúc - chức năng, lý thuyết mâu thuẫn xung đột, lý thuyết tương tác biểu trưng, lý thuyết sinh thái học văn hóa, lý thuyết sự lựa chọn hợp lý, v…v…

Để giải quyết đề tài “Không gian công cộng dưới góc nhìn của cư dân trong các khu đô thị mới xây ở Hà Nội gần đây” trong khuôn khổ của một luận văn cao học, chúng tôi chỉ lựa chọn hai lý thuyết để ứng dụng: đó là lý thuyết cấu trúc chức năng và lý thuyết xung đột

- Lý thuyết cấu trúc - chức năng

Lý thuyết cấu trúc - chức năng có lịch sử phát triển khá dài với nhiều tác giả lớn như: Bronislaw Malinowski, Radcliffe – Brown, Talcott Parsons, Robert Merton, v v…Ở đây chúng tôi cũng chỉ vận dụng quan điểm của Robert Merton mà thôi

Công trình khoa học nổi tiếng nhất của Merton là cuốn “Lý thuyết xã hội và cấu trúc xã hội” (Social Theory and Social structure)

Theo đó thì nghiên cứu xã hội theo cấu trúc - chức năng là sự giải thích một hiện tượng xã hội bằng cách chỉ ra hệ quả (chức năng) của nó đối với những cấu trúc mà nó là một bộ phận cấu thành Nói cho dễ hiểu là mỗi bộ phận hay thành phần của cấu trúc tổng thể đều giữ một hoặc nhiều chức năng Các chức năng rối loạn sẽ dẫn đến sự bất ổn của cấu trúc Việc thực hiện đúng chức năng của các thành phần tạo nên cấu trúc sẽ đảm bảo cho cả hệ thống

ổn định và bền vững Giống như quan niệm của Durkheim và Parsons,

Trang 9

Merton cho rằng các cấu trúc văn hoá mà cụ thể là hệ các giá trị xã hội là những yếu tố cơ bản để lý giải cơ chế hoạt độngvà phối hợp hoạt động của các thiết chế xã hội Một đóng góp lớn của Merton đối với chủ thuyết chức năng trong xã hội học là việc phát hiện ra sự loạn phản chức năng còn gọi là phi chức năng hay phản chức năng Khác với Parsons luôn coi mọi hệ quả của một thiết chế xã hội là chức năng với nghĩa là những tác dụng tốt, có lợi cho toàn bộ cấu trúc xã hội, Merton chỉ ra những phản chức năng của thiết chế xã hội Phản chức năng là những hệ quả làm cản trở, thậm chí gây rối loạn, làm giảm khả năng tồn tại, thích ứng của cấu trúc Để nhận diện sự loạn chức năng hay phản chức năng cần trả lời câu hỏi: hệ quả của một hiện tượng xã hội đem lại lợi ích hay gây tổn hại tới lợi ích của ai?

Cần thấy rằng hệ quả có thể là chức năng, tức là có lợi cho nhóm người này nhưng lại là phản chức năng, tức là có hại cho nhóm người kia Một đóng góp quan trọng khác của Merton là việc phân loại chức năng trội và chức năng lặn dựa vào mức độ biểu hiện của chúng Merton chỉ ra những nhu cầu chức năng cần phải đáp ứng để xã hội vận hành một cách bình thường (cấu trúc chức năng thay thế) và gọi chúng là “những điều kiện tiên quyết về mặt chức năng đối với xã hội”

Ông cho rằng không nhất thiết mỗi thiết chế xã hội chỉ đáp ứng một loại nhu cầu xã hội, trên thực tế trong xã hội luôn có “các cấu trúc chức năng thay thế nhau” để thoả mãn các yêu cầu chức năng mà xã hội đặt ra Một chức năng có thể do hai hay nhiều hơn các tổ chức, thiết chế xã hội cùng có khả năng thực hiện Các thiết chế xã hội luôn luôn có khả năng thay thế lẫn nhau trong việc đáp ứng những nhu cầu cần thiết cho sự vận hành và hoạt động của

xã hội

Vận dụng lý thuyết chức năng - cấu trúc vào nghiên cứu không gian công cộng trong khu đô thị mới ở Hà Nội thì có thể giúp lý giải được nhiều điều Chẳng hạn, nhiều vỉa hè, mặt phố ở các khu đô thị mới đang bị sử dụng sai chức năng (điểm đỗ xe, mở quán nước ….), các sân chơi cho trẻ còn thiếu, các cửa hàng chưa đáp ứng đủ cho người làm nội trợ, v v…Lý thuyết cấu

Trang 10

trúc - chức năng cũng giúp cho việc nhìn nhận và tìm ra các giải pháp (về mặt chức năng của cấu trúc tổng thể) nhằm hoàn thiện không gian công cộng trong các khu đô thị mới hiện nay

- Lý thuyết xung đột

Cũng như lý thuyết cấu trúc - chức năng, lý thuyết xung đột cũng có một lịch sử phát triển khá lâu dài Các đại biểu lớn của lý thuyết này là Karl Marx, và tiếp sau đó là Loser, Dahrendort, Gurvitch, v v…Người ta cho rằng mâu thuẫn và xung đột xã hội là một hiện tượng mang tính phổ biến và được lặp đi lặp lại trong mọi xã hội và mọi nền văn hóa

Lý thuyết xung đột cho rằng xung đột có thể xảy ra trên mọi phương diện của đời sống xã hội: mục đích, đánh giá, lợi ích, hệ tư tưởng….Các cách thức thực hiện hành vi xung đột vừa đa dạng vừa bị chi phối bởi nhiều động

cơ khác nhau Việc phân tích, tìm hiểu làm rõ động cơ của các hành vi xung đột sẽ giúp cho việc quản lý xã họi tiếp cận được các giải pháp khoa học, qua

đó đưa các quan hệ xã hội trở về trạng thái bình thường và ổn định để phát triển

Vận dụng lý thuyết xung đột vào nghiên cứu không gian công cộng trong các khu đô thị mới ở Hà Nội hiện nay, chúng tôi thấy đôi khi xuất phát

từ các lợi ích, nhu cầu, thị hiếu khác nhau nên các nhóm xã hội khác nhau cũng có thể xảy ra mâu thuẫn, xung đột về không gian công cộng Cụ thể ở đây là xung đột giữa ban quản lý dự án với người dân tại các khu chung cư về phí dịch vụ quá cao hay việc sử dụng sai mục đích khu đất trong quy hoạch, mâu thuẫn xung đột giữa người dân bình thường với những người làm dịch vụ (như mở quán, trông xe…) v v…

Việc phân tích các loại hình và nguyên nhân xung đột sẽ giúp hiểu thêm những mặt tích cực cũng như những khó khăn trong việc quản lí và khai thác không gian công cộng hiện nay

Trong nghiên cứu này, tác giả thử vận dụng hai lý thuyết trên làm cơ sở

để giải thích cho việc sử dụng không gian công cộng của người dân trong các

Trang 11

của nó Tuy nhiên, sự phối hợp cả hai cách tiếp cận trên sẽ giúp chúng tôi hạn chế bớt những thiếu sót của từng cách tiếp cận đơn lẻ, qua đó chúng tôi hi vọng phản ánh được về không gian đô thị đúng như những gì nó đang diễn ra trong thực tế

2 Định nghĩa và thao tác hóa khái niệm làm việc

- Định nghĩa các khái niệm làm việc

+ Khái niệm “không gian công cộng”

Không gian công cộng có nhiều cấp độ khác nhau từ vĩ mô như không gian công cộng của đô thị, khu vực đô thị, đơn vị ở đến vi mô như ngôi nhà, ngõ phố, thậm chí là một hành lang đi lại trong các chung cư Trong nghiên cứu này thuật ngữ không gian công cộng được giới hạn và hiểu như sau:

“Không gian công cộng có thể hiểu là không gian diễn ra các hoạt động mang tính tập thể giữa một cộng đồng hay một nhóm người có xu hướng kết hợp với nhau và liên kết với nhau vì lợi ích, giá trị và nhu cầu chung” [32, tr.96]

+ Khái niệm “khu đô thị mới”

Nhìn trên quy mô thế giới, người ta thấy những khu định cư đô thị mới phát triển phổ biến trên khắp thế giới thông qua lịch sử nhân loại, thường là tự phát bởi sự tăng trưởng “hữu cơ” của các làng xóm và sự phát triển dần dần của cây xanh Đầu tiên là thành phố vườn của Howard (1850-1928) với các đặc trưng: Quy mô đất đai khoảng 400ha với nhà ở thấp tầng có vườn: Dân số khoảng 32.000 người; thành phố được bao quanh bởi các khu cây xanh và đất đai sản xuất nông nghiệp; Tiếp cận với các đô thị lân cận (cũ) bằng các tuyến đường sắt chạy nhanh và các tuyến ô tô khác Thiết bị phục vụ cơ sở đảm bảo yêu cầu toàn dân, tạo điều kiện cho cuộc sống văn hóa, xã hội thành phố phát triển Đất đai xây dựng thuộc quyền sở hữu chung, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển xây dựng toàn thể các điểm dân cư

Theo quan điểm của một số nước như Trung Quốc, Hàn Quốc, Pháp… thì khu đô thị mới phải có diện tích từ 400 ha trở lên và cách xa đô thị cũ không quá 30 km2

Trang 12

Ở Việt Nam, theo Nghị định 52/1999/NĐ-CP “Khu đô thị mới” là khu xây dựng mới tập trung theo dự án đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật hoàn chỉnh, đồng bộ và phát triển nhà của toàn khu, được gắn với một đô thị hiện

có hoặc với một đô thị mới đang hình thành, có ranh giới và chức năng được xác định phù hợp với qui hoạch xây dựng đô thị được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt

Những khu nhà ở đô thị tập trung có quy mô trên 10 ha phù hợp với một bán kính phục vụ khép kín hoàn chỉnh theo dạng một khu ở hay có cấu trúc như một đơn vị ở thường được gọi là khu đô thị mới

Khái niệm khu đô thị mới cho đến nay vẫn chỉ được hiểu như một khu xây dựng mới (có quy mô từ 10 ha trở lên) tập trung theo dự án đầu tư phát triển hoàn chính, đồng bộ kết cấu hạ tầng kỹ thuật, nhà ở, và các công trình công cộng khác để sử dụng vào mục đích kinh doanh hoặc không kinh doanh Các khu đô thị mới này được bố trí gắn với một đô thị hiện có hoặc với một

đô thị mới đang hình thành, có ranh giới chức năng xác định, phù hợp với quy hoạch xây dựng đô thị được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt (Theo TS.KTS Trần Trọng Hanh)

Vào ngày 05 tháng 01 năm 2006, Chính phủ đã ban hành Quy chế khu

đô thị mới kèm theo Nghị định số 02/2006/NĐ-CP Bộ Xây dựng quản lý việc

áp dụng quy chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn xây dựng đối với công trình thuộc dự

án khu đô thị mới

Dự án khu đô thị mới được lập có quy mô chiếm đất từ 50 ha trở lên Trường hợp diện tích đất để dành cho dự án nằm trong quy hoạch đất đô thị nhưng bị hạn chế bởi các dự án khác hoặc bởi khu đô thị đang tồn tại thì cho phép lập dự án khu đô thị mới có quy mô dưới 50 ha nhưng không được nhỏ hơn 20 ha

Giới hạn trong phạm vi luận văn này chỉ dùng thuật ngữ khu đô thị mới

để chỉ các khu ở được xây dựng hoàn chỉnh đồng bộ các công trình kiến trúc

và hạ tầng cơ sở để quản lý khai thác sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày

Trang 13

quy mô diện tích tương đương một hoặc một tổ hợp các đơn vị ở, giới hạn nhỏ hơn 100 ha

- Thao tác hóa khái niệm làm việc:

Người ta có thể xuất phát từ nhiều góc nhìn khác nhau về không gian công cộng trong các khu đô thị mới được xây dựng: đó là góc nhìn của kiến trúc sư, góc nhìn của chủ thầu xây dựng, góc nhìn của người quản lý, góc nhìn của người dân, v v…Trên tư cách là một đề tài xã hội học, nghiên cứu này chỉ đi sâu tìm hiểu “góc nhìn của người dân” với những nội dung cụ thể như sau:

+ Quan niệm của người dân về không gian công cộng

+ Thái độ, sự thụ hưởng và đánh giá của họ về không gian công cộng nơi họ đang cư trú

+ Nhu cầu và nguyện vọng của họ đối với không gian công cộng trong điều kiện hiện nay

3 Lược sử vấn đề nghiên cứu

Những năm gần đây đã có một số công trình nghiên cứu về không gian công cộng trong các khu đô thị mới Trước hết, có thể kể đến công trình:

- Tổ chức không gian công cộng trong đơn vị ở đô thị tại Hà Nội, Luận

án tiến sỹ Kiến trúc - Chuyên ngành Kiến trúc nhà ở và công trình công cộng, trường Đại học Kiến trúc Hà Nội, 2002 của Phạm Trọng Thuật Trên cơ sở khảo sát thực tế, luận án đã xác định thực trạng cụ thể của hệ thống không gian công cộng tại đơn vị ở xây dựng có quy hoạch từ trước đến nay, căn cứ vào nguyện vọng và nhu cầu sinh hoạt và phục vụ công cộng của cư dân đơn

vị ở Từ đó, tác giả đề xuất mô hình mang tính mềm dẻo cho cấu trúc hệ thống không gian công cộng tại các đơn vị ở Hà Nội, đề xuất kiến nghị các biện pháp khả thi của việc xây dựng cải tạo hoàn thiện cấu trúc không gian công cộng cho từng loại hình đơn vị ở hiện hữu của Hà Nội

Công trình thứ hai có thể kể đến là Nghiên cứu phát huy tính cộng đồng trong tổ chức các không gian ngoài căn hộ với nhà cao tầng Việt Nam - Luận

văn thạc sỹ chuyên ngành Kiến trúc, trường Đại học Kiến Trúc Hà Nội, 2002

Trang 14

của Phạm Mạnh Hải Luận văn đã xác định tầm quan trọng của sinh hoạt cộng đồng trong đô thị nói chung và trong phạm vi nhà ở cao tầng nói riêng Diễn giải các quá trình lịch sử phát triển, các biểu hiện của đời sống sinh hoạt cộng đồng từ xưa tới nay Khảo sát các không gian chức năng sinh hoạt cộng đồng trong nhà ở câo tầng, các mối quan hệ giữa chúng qua đố phân tích những tác động tương hỗ giữa việc tổ chức các không gian này với đời sống của cư dân trong đó Cũng ở công trình này, tác giả đã phát hiện, đề xuất các nguyên tắc chung để tổ chức các không gian chức năng trong nhà ở cao tầng nhằm mục đích nâng cao tính gắn kết của cộng đồng, ứng dụng thực tiễn vào thiết kế cụ thể công trình nhà ở cao tầng trong một khu đô thị mới của Hà Nội

Ngoài ra, cũng đã có một số công trình nghiên cứu khoa học như một

số luận văn thạc sỹ của các trường Đại học Kiến trúc, Đại học Xây dựng hay những đề tài nghiên cứu khoa học của Viện Qui hoạch Đô thị và Nông thôn -

Bộ Xây dựng Tuy nhiên, các đề tài này chỉ dừng ở bước tổ chức không gian

ở hoặc tổ chức không gian vui chơi giải trí của một địa bàn cụ thể

Nhìn chung lại, có thể thấy các công trình nghiên cứu về không gian công cộng từ trước đến nay đều được thực hiện bởi các kiến trúc sư hoặc các

kỹ sư xây dựng chủ yếu tập trung nghiên cứu ứng dụng các giải pháp Quy hoạch, Kiến trúc, Quản lý đô thị không gian công cộng cho các khu đô thị vì vậy đều nghiêng về kinh tế hoặc kỹ thuật mà chưa quan tâm đầy đủ đến khía cạnh xã hội của vấn đề nghiên cứu Đề tài “ Không gian công cộng dưới góc nhìn của cư dân trong các khu đô thị mới xây ở Hà Nội gần đây” của chúng tôi chính là một cố gắng nhằm bổ sung cho khiếm khuyết đó

4 Giới thiệu địa bàn khảo sát

Nằm ở cửa ngõ phía Tây Nam Hà Nội, khu đô thị mới Văn Quán là một khu dân cư đô thị mới khang trang với cảnh quan môi trường xanh, sạch, đẹp cùng hệ thống các công trình hạ tầng xã hội đồng bộ như nhà trẻ, siêu thị, trung tâm y tế…

Trang 15

Khu đô thị mới Văn Quán có vị trí ở phía Tây thành phố Hà Nội, thuộc địa giới hành chính của hai phường Văn Quán, Phúc La, thuộc Quận Hà Đông, thành phố Hà Nội

Có ranh giới:

- Phía Đông Bắc giáp với đường Nguyễn Trãi

- Phía Đông Nam giáp với viện Quân Y 103

- Phía Tây Nam giáp với làng Triều Khúc

- Phía Tây Bắc giáp với đường Chiến Thắng

Trường học, nhà trẻ, khu cây xanh thể thao được bố trí tại trung tâm khu đất nối liền với hồ Văn Quán tạo nên một hệ thống cây xanh liên hoàn, liên hệ chặt chẽ với khu ở

Trang 16

Hình 1.1: Sơ đồ tổ chức không gian quy hoạch kiến trúc cảnh quan khu đô

thị mới Văn Quán

Các công trình nhà ở cao tầng, công trình công cộng được bố trí dọc theo các trục đường lớn xung quanh khu đất để tạo cảnh quan cho trục đường và hình thành tuyến phố thương mại Các công trình được xây dựng lùi vào chỉ giới đường đỏ, phần đất phía trước được tổ chức kết hợp sân vườn, cây xanh Nhóm nhà biệt thự được bố trí xung quanh hồ điều hòa Nhà ở cao tầng có

1 tâng dành cho mục đích công cộng được bố trí dọc theo các đường giao thông bao quanh khu đất

Trong các nhóm nhà kết hợp tổ chức lối vào nhà với sân vườn và bãi đỗ xe nhằm phục vụ tốt cho nhu cầu sinh hoạt dân cư

Khu đô thị mới Văn Quán (quận Hà Đông - Hà Nội) được khởi công xây dựng cuối năm 2003, do Tổng Công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị (HUD) làm chủ đầu tư, được tổ chức khánh thành vào ngày 3 tháng 2 năm

2007

Trang 17

Hình 1.2: Lễ cắt băng khánh thàh Khu đô thị mới Văn Quán (nguồn:

internet)

Với diện tích gần 62 ha, với quy mô dân số gần 15.000 người, khu đô thị Văn Quán được thực hiện trong 3 năm rưỡi với tổng mức đầu tư khoảng 1.300 tỉ đồng Trong đó, 400 tỉ đồng đầu tư vào các công trình hạ tầng kỹ thuật và xã hội, 500 tỉ đầu tư nhà ở cao tầng và 400 tỉ đầu tư xây dựng nhà ở thấp tầng

Có thể nói, đây là khu đô thị mới đầu tiên ở Hà Tây được xây dựng đồng bộ hạ tầng kỹ thuật cùng các công trình nhà ở cao, thấp tầng, dịch vụ công cộng, khu cây xanh thể thao Riêng về nhà ở, khu đô thị có tổng cộng 2.641 căn hộ, trong đó có 1.412 căn (tương đương 37,6 vạn m2 sàn xây dựng)

là nhà thấp tầng liền kề, biệt thự Cạnh đó là 10 khối nhà cao từ 9-21 tầng, gồm 1.229 căn hộ (tương đương 12,4 vạn m2) gồm các tòa nhà CT1A, CT1B, CT2A, CT2B, CT3A, CT3B, CT7A CT7B, CT8A, CT8B và khoảng 4 ha công viên cây xanh, thảm cỏ với gần 4.000 cây bóng mát và các công trình công cộng như khu thương mại, siêu thị, bãi đỗ xe ô tô, vườn hoa, hồ mát, nhà trẻ, mẫu giáo, trường học và các khu dịch vụ như siêu thị

Trang 18

Hình 1.3: Sơ đồ tổng thể khu đô thị mới Văn Quán

Trang 19

CHƯƠNG II

KHÔNG GIAN CÔNG CỘNG

Ở KHU ĐÔ THỊ MỚI DƯỚI GÓC NHÌN CỦA NGƯỜI DÂN

1 Sự hình thành và phát triển không gian công cộng trong đời sống xã hội

- Trở lại đôi chút về lối sống cộng đồng truyền thống của người Việt

Lối sống sinh hoạt cộng đồng được thể hiện ở những hoạt động văn hóa từ: hội làng, những cuộc vui biểu diễn văn nghệ truyền thống đến những nhu cầu giao tiếp hàng xóm, láng giềng, thôn làng Đó cũng là những hoạt động ở những phạm vi hẹp hơn như cúng bái ông bà tổ tiên, ôn lại các sự kiện lịch sử trong gia đình, dòng họ

Với truyền thống sản xuất nông nghiệp, làng xã trở thành cái nôi văn hóa của người Việt, ở đó lối sống cộng đồng là một đặc trưng nổi bật Trong làng xã, mỗi con người là một thành viên chịu sự ràng buộc nhiều mối quan

hệ phức tạp: Gia đình, dòng họ ngõ xóm, giáp, phường, hội… Nếp nghĩ

“sống ở làng, sang ở họ” đã đi vào tiềm thức, các giá trị nhân văn làng xã cơ bản được hình thành từ hai nguyên tố nền sản xuất nông nghiệp tiểu nông và lối sống cộng đồng

Nét đặc trưng lối sống của làng còn thể hiện qua các mối quan hệ theo nhóm nơi ở Mỗi nhà thường là một gia đình gồm 3 - 4 thế hệ sống trên một khuôn viên bám theo ngõ, xóm Mỗi xóm lại có một vài dòng họi có quan hệ huyết thống hoặc phần nào quan hệ kinh tế Nhiều xóm tạo thành làng, trong phạm vi mỗi xóm, hình thành mối quan hệ tối lửa tắt đèn có nhau, họ quan tâm đến cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của nhau, giúp đỡ nhau Thói quen và lối sống sinh hoạt ấy đã có từ hàng nghìn năn nay hình thành lối sống mang nặng tính cộng đồng làng xã

Cội nguồn cơ bản của các loại hình sinh hoạt cộng đồng là thời vụ cấy trồng và cầu mong sinh sôi đông đúc Thờ cúng tổ tiên vốn là một tín ngưỡng

Trang 20

của người dân trồng lúa nước Sự gắn bó thiết tha với mảnh đất chôn rau cắt rốn của mỗi người cùng với ý nghĩa có chung một dòng họ với tổ tiên, với ông tổ của làng đã tạo nên mối liên kết bền vững với người dân trong làng

Nó thể hiện tính đoàn kết chung sống hoà thuận và đó chính là nét sinh hoạt nổi bật của sinh hoạt văn hóa cộng đồng thôn làng

- Không gian sinh hoạt cộng đồng truyền thống

Đã từ rất lâu rồi, khi nói đến văn hoá làng - nét văn hoá của nông thôn Việt Nam, chúng ta liên tưởng ngay tới những hình ảnh rất đặc trưng, làm nên biểu tượng của làng quê Đó là những hình ảnh của "cây đa, bến nước, sân đình, bụi tre, vườn cây, ao cá "

Từ bao đời nay, đình làng là hình ảnh thân quen, gắn bó với tâm hồn của mọi người dân Việt, là nơi chứng kiến những sinh hoạt, lề thói và mọi đổi thay trong đời sống xã hội của làng quê Việt Nam Cái đình trang trọng

và thiêng liêng, nó gần như đại diện, là biểu tượng của làng xã Nhưng đình làng lại là nơi tụ họp mọi người trong mọi sinh hoạt chung, vốn rất cần cho cuộc sống nông thôn cần có sự nương tựa, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau Chính

vì vậy, đình làng trở thành một nơi thân quen gần gũi, là nơi che chở, là nơi

ở, là cuộc sống của những người nông dân Việt Nam

Không gian công cộng của mỗi một làng quê Việt còn gắn với hình ảnh cây đa, bến nước, sân đình, chùa miếu, mỗi làng đều có một thần hoàng làng

và mỗi dòng họ trong làng có một nhà thờ họ Không gian công cộng nơi làng

xã là không gian mở, mọi người, mọi nhà, mọi dòng họ thường quây quần bên nhau và sum họp để bàn bạc những công việc lớn, để tưởng nhớ đến ông bà tổ tiên và nhắc nhở nhau trong cuộc sống để làng xã được an khang, thịnh vượng

Gốc đa là nơi trẻ nhỏ nô đùa, thỏa thích nhặt búp, hái lá, chơi những trò chơi dân gian Gốc đa cũng là nơi dân làng ngồi nghỉ chân sau những giờ lao động mệt nhọc, trước khi về làng hoặc đi khỏi làng Gốc đa còn là nơi hẹn hò của trai gái:

Trang 21

Em đang dệt vải quay tơ Bỗng đâu có khách đưa thơ tới nhà

Hẹn giờ ra gốc cây đa Phượng hoàng chả thấy thấy gà buồn sao

Hình 2.1: Cây đa bến nước- một không gian sinh hoạt truyền thống

Làng Việt Nam với kết cấu có tính cộng đồng cao như cộng đồng lãnh thổ, cộng đồng kinh tế tự cung tự cấp, cộng đồng tâm lý với các phong tục về sinh nở, ma chay hiếu hỉ Những yếu tố này đã có tác dụng quan trọng đến hình ảnh thôn làng Một đặc trưng quan trọng của cộng đồng làng xã là tính khép kín của nó Chúng ta thường thấy những luỹ tre, bờ rào lớn bao kín quanh làng Xung quanh làng là đất canh tác với lối bố cục khép kín hướng nội

Sinh hoạt cộng đồng vốn là một tập quán rất gắn bó với người Việt Nam từ xưa Làng xã nào của Việt Nam cũng có đình, chùa và chợ Đó là không gian công cộng của làng Đình là chỗ tập họp của cộng đồng để lo toan

và bàn tính mọi việc của làng, của nước, chùa là nơi tụ họp của quần chúng để hướng niềm tin vào một Tôn giáo hay một vị Thánh Thần nào đấy, còn chợ là nơi tụ họp để mua bán, trao đổi hàng hoá trong cuộc sống hàng ngày Ðấy là 3 nét tiêu biểu trong sinh hoạt cộng đồng của người Việt và những nét đặc trưng này còn in dấu ấn rất đậm trong tâm hồn của con người, kể cả ở thời hiện đại

Trang 22

Hình 2.2: Một số hình ảnh về không gian sinh hoạt cộng đồng truyền thống

Trang 23

2 Yếu tố cộng đồng truyền thống trong quá trình đô thị hóa ở Việt Nam

Nếp sinh hoạt cộng đồng truyền thống khi bước vào thời kỳ hiện đại về

cơ bản vẫn không có gì thay đổi nhiều lắm Sinh hoạt cộng đồng vẫn thường xuyên là một sinh hoạt không thể thiếu được của người đô thị Trước tiên nói

về chợ Rất dễ dàng nhận thấy là bất kỳ một khu dân cư mới hay một khu ở mới hình thành thì thế nào cũng mọc lên một cái chợ bên cạnh Người Việt Nam thích ăn đồ sống, đồ tươi, mớ rau con cá, miếng thịt bao giờ cũng ngon cũng ngọt hơn mấy thứ đồ đông lạnh và dĩ nhiên là nhiều chất bổ dưỡng hơn Người Việt Nam ăn không nhiều nên món ăn phải tươi phải bổ và chỉ có chợ mới đáp ứng được những thứ đó

Ngoài ra chợ còn là nơi giao lưu thường xuyên giữa con người với con người Mọi thông tin nóng hổi nhất thường có ngay ở chợ Người bán người mua quen thân nhau, hỏi thăm nhau, để giành cho nhau miếng ngon, miếng rẻ Chợ cũng là nơi mọi thành viên trong xã hội có thể trao đổi mọi nỗi tâm tư, tình cảm riêng của mình Chợ Việt Nam là một không gian cộng đồng đầy tính nhân văn

Nhưng ngày nay, tình hình đã có phần đổi khác Siêu thị mọc lên khắp nơi - một phương thức mua bán có vẻ hiện đại, phù hợp với thới đại hơn Nhưng siêu thị không tránh khỏi cái chất công nghiệp lạnh lùng của nó Siêu thị ở Việt Nam đang phát triển và sẽ phát triển tiếp tục Tuy nhiên, siêu thị vẫn chưa có thể thay thế được tất cả các chợ, ít ra trong một thời gian rất lâu, rất dài nữa Chợ là một cái gì đấy rất riêng của người Việt Nam nó sẽ tồn tại lâu dài cho đến khi những tập quán vốn có của mình thay đổi hoặc chợ có một

sự biến tướng nào đấy để có thể phù hợp với thời đại hơn Mong sao những siêu thị hiện nay cũng "chợ hoá" đi một chút, tức là làm sao để cho siêu thị cũng là nơi giao lưu giữa con người với con người chứ không phải đơn thuần chỉ là sự giao lưu giữa con người với hàng hoá và tiền tệ

Trang 24

Hình 2.3: Một số hình ảnh sinh hoạt cộng đồng trong quá trình đô thị hóa

Bên cạnh cái chợ, những ngôi chùa với những lễ hội cũng là những không gian công cộng mang đầy tính nhân văn của người Việt Ngày nay bước vào cuộc sống hiên đại, những ngôi chùa, những lễ hội đưa người ta trở

về với cội nguồn, làm phong phú thêm cho những bản sắc văn hoá riêng của mình Xã hội càng hiện đại thì cuộc sống con người càng có nhu cầu cao hơn

về tâm linh Chính những công trình tôn giáo với không khí tưng bừng lễ hội

là những không gian công cộng đầy tính nhân văn, những kiến trúc tôn giáo là một trong những yếu tố không kém phần quan trọng trong cấu thành quy hoạch kiến trúc của đô thị Những kiến trúc tôn giáo đó trong những ngày thường lại là mảng xanh, là những nốt lặng trong bản nhạc rộn rịp náo nhiệt với những nhịp điệu ồn ào và náo nhiệt của một thành phố to lớn

Thực ra trong cuộc sống hiện đại hôm nay vẫn rất cần có một không

Trang 25

gian công cộng để cho mỗi cộng đồng bàn về việc dân, việc nước, để giúp nhau giải quyết những mối quan hệ rất bình thường trong cuộc sống hàng ngày

Quá trình đô thị hóa các đô thị lớn song song với quá trình dịch cư từ khu vực nông nghiệp sang khu vực đô thị Cùng với quá trình gia tăng dân số

tự nhiên, quá trình gia tăng dân số cơ học thiếu sự kiểm soát đã khiến cho hầu hết các đô thị Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng rơi vào tình trạng quá tải về cư dân đô thị Sự thay đổi cơ cấu dân số do quá trình dịch cư, sự ảnh hưởng của phương thức sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của các tầng lớp nhập cư, lối sống sinh hoạt cộng đồng truyền thống đã ảnh hưởng đáng kể đến tính chất cũng như cấu trúc không gian công cộng tại các đơn vị

Cùng với quá trình đô thị hóa, cùng với sự bành trướng của nội thành, các khu vực đất thuộc ven đô trước đây đã thuộc nội thành, tuy nhiên, về lối sống, tập tục sinh hoạt còn mang nặng dấu ấn nông nghiệp, tiểu thương, tiểu thủ công nghiệp của hàng ngàn đời để lại Mặt khác, số lượng di dân tự do và

cơ học, số lượng cán bộ công nhân viên chức nhà nước làm việc tại Hà Nội xuất thân từ các địa phương khác không thuộc đô thị cũng chiếm một tỷ trọng đáng kể trong cơ cấu dân cư đô thị Chính vì vậy, có thể nói, một phần không nhỏ cư dân đô thị của Hà Nội vẫn chịu sự ảnh hưởng của lối sống nói chung

và sinh hoạt cộng đồng nói riêng của các khu dân cư truyền thống

Quá trình đô thị hóa làm thay đổi bộ mặt của đô thị một cách chóng mặt, các khu đô thị cũ đã quá chật chội và nhếch nhác, chúng ta phải dần dần cải tạo và cấy thêm vào đấy những không gian công cộng cần thiết để nâng cao chất lượng sống của người dân Những khu đô thị mới ở Hà Nội hay các thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh có thể tạo nên những không gian công cộng hoành tráng, hiện đại và đầy màu sắc riêng

“Cho dù mỗi địa phương có nếp sống khác nhau song nét đặc trưng trong cấu trúc làng xã - cấu trúc đơn vị ở truyền thống của Việt Nam thì phần lớn là cấu trúc khép kín về quan hệ xã hội và sản xuất, tín ngưỡng, tôn giáo,

Trang 26

phong tục tập quán và sinh cảnh, đặc thù vừa mang tính khép kín, vừa giao lưu rộng mở Có thể thấy rõ cấu trúc qua bố cục của một làng truyền thống, với hình ảnh lũy tre làng bao quanh, có cổng ngõ lưu thông với bên ngoài Mỗi làng có trung tâm văn hóa riêng đó là đình làng, sân đình, cây đa, bến nước, chùa miếu…Chất lượng cuộc sống người dân không chỉ biểu hiện trong nội thất mà cả ngoại thất và chất lượng tổ chức không gian công cộng của đơn

vị cư trú” [11]

Chỉ có không gian công cộng, công trình công cộng mới sớm làm thay đổi diện mạo của thành phố tiến đến văn minh hiện đại Chỉ có không gian công cộng, công trình công cộng mời góp phần tích cực làm cho chất lượng sống của người dân đô thị được nâng cao và mới đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt công đồng vốn được coi là một giá trị truyền thống của người Việt Nam

3 Sự nhìn nhận của người dân về không gian công cộng ở khu đô thị mới Văn Quán

- Sự thụ hưởng của người dân đối với không gian công cộng tại khu

cư trú

Từ xa xưa, những nhu cầu như ăn, mặc ở, đi lại đã là những đòi hỏi sống còn của con người Đó là những nhu cầu hết sức thiết yếu Khi xã hội phát triển, những nhu cầu đó dẫn đến sự hình thành các cơ cấu dịch vụ công cộng phục vụ cho các hoạt động của đời sống nhân loại Con người có bao nhiêu loại hình hoạt động trong lịch sử phát triển đô thị, thì có bấy nhiêu nhu cầu cần được đáp ứng, và vì thế hệ thống không gian kiến trúc phục vụ cũng được xây dựng dựa trên cơ sở ấy

Người dân đô thị ngày nay rất nhạy cảm với các biến đổi kinh tế xã hội đang diễn ra Với định hướng phát triển nền kinh tế thị trường, một số loại hình công trình phục vụ công cộng hiện cũng đang được tư nhân hoá (trường học, bệnh viện, thương mại dịch vụ….) Cùng với sự bùng nổ về xây dựng, sự bùng nổ về các hoạt động thương mại, dịch vụ, sự cạnh tranh trong nền kinh

tế với số lượng nhiều, chất lượng cao đã góp phần tạo nên một tâm lý mới về

Trang 27

sử dụng không gian công cộng của người dân, bất luận nguồn gốc xuất thân của họ ở đâu

Ở khu đô thị Văn Quán, số người chuyển đến từ các quận/huyện khác trong thành phố chiếm 46%, cư dân chuyển từ tỉnh khác đến chiếm 36%, còn

cư dân tại chỗ chỉ chiếm 18%, trong đó đa số người trả lời là sống khoảng 3 năm.

Khu đô thị Văn Quán tập trung nhiều cư dân sinh sống với nhiều thành phần xã hội khác nhau, các đối tượng sử dụng nhà ở cũng thuộc nhiều loại hình khác nhau nên hệ thống các không gian dịch vụ thương mại trong nhà ở cao tầng phải đáp ứng được các nhu cầu tiêu dùng rất đa dạng Hệ thống các không gian thương mại trong nhà ở cao tầng cần phải được tính toán sao cho phục vụ được đầy đủ số lượng cư dân đông đảo và tính đa dạng của nhu cầu Theo kết quả điều tra cho thấy đa số mọi người đều thích ở gần trung tâm có các cơ sở dịch vụ vật chất và tinh thần cần thiết Họ chấp nhận ở chung cư, song phải gần trung tâm, gần các dịch vụ hơn là ở nhà liền kề mà xa trung tâm, dịch vụ công cộng

Khu đô thị Văn Quán là một trong những khu đô thị mới đưa vào sử dụng trong một vài năm gần đây, vì vậy đã khắc phục được những thiếu sót

về không gian công cộng so với các khu đô thị được xây dựng từ trước Hầu hết các loại hình dịch vụ công cộng chiếm tỉ lệ vượt trội và sử dụng phần lớn diện tích không gian dành cho dịch vụ công cộng trong nhà chung cư cao tầng Dưới đây là một vài biểu hiện cụ thể:

- Thương mại, siêu thị, cửa hàng bán lẻ phục vụ nhu cầu cuộc sống hàng ngày chủ yếu được bố trí tại tầng 1 và 2 của tòa nhà

- Các dịch vụ nhà hàng, quán ăn, giải khát bar café được bố trí ở tầng 1 hay các kiốt của các khu chung cư

- Các dịch vụ lợi ích công cộng như dịch vụ thư báo, dịch vụ thu gom rác vệ sinh được bố trí tại tầng 1 Hệ thống tầng hầm chủ yếu phục vụ các dịch vụ gửi xe 2 bánh Ô tô được bố trí tại các bãi đỗ xe ngay trong khu đô thị

Trang 28

Hình 2.4: Kiốt, quán café tại tầng 1 của khu chung cư CT7A (Nguồn: Internet)

Khi được hỏi “ Các thành viên trong gia đình thường đến nơi nào để vui chơi giải trí thì có đến 65,3% người trả lời là đến vườn hoa, 64,7% người trả lời đến khu vui chơi trẻ em và chỉ có 26,7% người trả lời là chỉ chơi trong nhà Các số liệu này đã cho thấy, vườn hoa có ý nghĩa rất lớn đối với nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí của người dân

Bảng 2.1: Thời gian sống của cư dân với việc sử dụng KGCC

em

Ở vỉa hè của đường phố

Ngay trên lòng đường phố

Chỉ chơi trong nhà

Khác (ghi rõ)

Mức độ sử dụng không gian công cộng cũng phụ thuộc vào thời gian sống của người dân trong khu đô thị Văn Quán Những người có thời gian sống trên 5 năm ít đến vui chơi giải trí tại các địa điểm như vườn hoa, công viên v…v…hơn so với những người dân mới đến ở Tần suất sử dụng không

Trang 29

gian công cộng của nhóm những người sống trên 5 năm chỉ chiếm chưa đến 10% trong khi đó nhóm người sống tại khu từ 2 đến 3 năm thì mức độ tham gia cao hơn hẳn chiếm trên 25%

Trong khu đô thị Văn Quán có duy nhất 1 khu vui chơi cho trẻ em, vì vậy vào các buổi tối mùa hè hay các buổi chiều của ngày lễ, ngày nghỉ, khu vui chơi thường rất đông Vì không chỉ những gia đình trong khu đô thị cho con em mình đến đó để vui chơi mà còn có cả cư dân xung quanh khu đô thị cũng cho con họ đến đó

Văn Quán được coi là một trong những khu đô thị dành khá nhiều đất cho không gian công cộng Nếu như các khu đô thị mới như Trung hòa Nhân Chính hay Mỹ Đình, hầu như quỹ đất dành cho không gian công cộng là rất ít hoặc cho đến nay vẫn chưa được xây dựng, thì ở khu Văn Quán dưới các tòa chung cư như CT2A, CT2B, CT3A, CT3B là khoảng sân chơi khá rộng dành cho cư dân Vào buổi chiều tối mùa hè, những khoảng sân này là nơi mà cư dân của các chung cư tụ họp

Nhu cầu hoạt động của cư dân trong các khu đô thị mới là rất lớn, điều

đó phản ánh thông qua các hoạt động khá đa dạng trong các khu đô thị mới đã hình thành hiện nay Cư dân trong khu đô thị mới Văn Quán với thành phần

xã hội khác nhau với mức thu nhập khác nhau, mức sống khác nhau do vậy đòi hỏi cũng khác nhau Việc đáp ứng phù hợp với các nhu cầu cụ thể của từng nhóm tuổi, từng thành phần dân cư là điều không dễ trong việc tổ chức không gian công cộng

Bảng 2.2: Tương quan giữa mức độ thường xuyên mua sắm của người dân theo

thu nhập

Địa điểm mua sắm

Nhóm thu nhập bình quân đầu người/tháng Dưới 2,5 triệu

đồng

2,5 - dưới 4 triệu đồng Trên 4 triệu đồng Siêu thị 16.1 15.5 43.5

Cửa hàng tự chọn 17.9 28.2 13.0

Trang 30

Mức độ tham gia ở các không gian công cộng trong khu đô thị cũng có

sự khác nhau theo mức thu nhập của cư dân Với những gia đình có mức thu nhập trên 4 triệu đồng/tháng thì mức độ tham gia các hoạt đồng mua sắm tại siêu thị hơn hẳn (43,5%) những gia đình có thu nhập dưới 2,5 triệu đồng/tháng (16,1%)

Có thể thấy, nhu cầu về thương mại là nhu cầu cấp thiết của cuộc sống, tuy nhiên, trong các khu đô thị mới hiện nay thì việc phục vụ vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của số lượng cư dân khá lớn Nhu cầu thương mại của hơn

2000 hộ dân trông chờ vào một siêu thị bố trí ở tầng 1 dẫn đến sự phục vụ quá tải Hệ quả tất yếu xuất hiện các dịch vụ nhỏ tự phát với các dịch vụ ngay trong căn hộ của tư nhân hay các quầy kiốt đại lý Dạo qua một vòng quanh khu đô thị Văn Quán có thể thấy hàng loạt các kiốt tạp hóa hay các đại lý, cửa hàng tự chọn bên dưới các khu chung cư, hay một số hộ gia đình tại các khu liền kề được mở ra rất nhiều nhằm phục vụ nhu cầu mua sắm của cư dân trong khu đô thị Hầu hết tâm lý của mọi người là thích mua gần nhà, giá rẻ vì vậy mọi người chọn các đại lý để mua hàng với tâm lý mua đựơc hàng giá rẻ

Biểu đồ 2.1: Mức độ lựa chọn địa điểm mua sắm của người dân

Trang 31

Khu đô thị Văn Quán chỉ có duy nhất siêu thị Citimart nên việc mua thức ăn hàng ngày chủ yếu được mọi người mua ở chợ Mức độ thường xuyên

đi chợ chiếm 82% trong khi đó chỉ có 20% người được hỏi trả lời thường xuyên đi siêu thị và 22% người trả lời họ thường xuyên đi cửa hàng tự chọn Thói quen, khẩu vị của dân ta từ lâu nay vẫn rất chuộng những thực phẩm tươi sống Siêu thị với tỷ lệ thực phẩm tươi sống nhiều nhất là 10%, giá cả chẳng thể phù hợp với mọi túi tiền nên dù hàng hóa có đa dạng đến mấy cũng không đáp ứng được nhu cầu của người dân Hơn nữa, các siêu thị đang hoạt động trong khu đô thị hiện vẫn thiên về hàng công nghiệp chứ không chú trọng đến những hàng hóa phục vụ bữa cơm hàng ngày

“…Đi siêu thị thì cũng chỉ đi vào ngày nghỉ cuối tuần thôi, mà chủ yếu

là mua xà phòng, nước rửa bát, còn hàng ngày thì vẫn phải mua thức ăn tươi

ở chợ chứ.” (Nữ, 34 tuổi)

Theo thói quen, chỉ có chợ mới thỏa mãn được nhu cầu chăm cho gia đình của người nội trợ Đấy là chưa kể đến nhu cầu được giao tiếp, được hưởng sự ưu ái, ân cần, của mấy bà, mấy chị bán hàng dành cho những người khách quen Trên thực tế, số gia đình đến siêu thị một lần là mua đủ các thức cho cả tuần (cũng phải là các siêu thị lớn như Big C hay Metro) hiện vẫn chưa nhiều và chủ yếu là những gia đình trẻ, quá bận bịu với công việc

Là một trong những khu đô thị mới đầu tiên của quận Hà Đông được đưa vào sử dụng trong khi những khu đô thị trên địa bàn như khu đô thị mới Văn Phú, Văn Khê, Mỗ Lao v v…vẫn đang trong quá trình thi công các hạng mục công trình nên khu đô thị Văn Quán gần như là điểm thu hút dân cư của

cả quận Vào những ngày lễ như Trung Thu, Tết Dương Lịch, Noel v v… thanh niên cũng như các gia đình có con nhỏ tập trung rất đông chủ yếu xung quanh hồ và trên các trục chính của khu đô thị

Trong khu đô thị Văn Quán, khu cây xanh được qui hoạch tập trung vào giữa các khu, ở một số khu chưa hoàn chỉnh và phù hợp với công trình xây dựng Hình thức tổ chức thường là kết hợp thảm cỏ, cây xanh, sân đường Các yếu tố tự nhiên như địa hình, mặt nước được tận dụng khai thác Hệ

Trang 32

thống công viên cây xanh, mặt nước đã góp phần tích cực cải thiện môi trường và đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi giải trí của người dân

“…Tôi quyết định mua nhà tại khu này đó là do hai hồ nước điều hoà trong khu đô thị, vào những hôm hè nóng bức như đợt tháng 7 vừa rồi, chỉ cần rẽ vào đường Chiến Thắng thôi là không khí đã mát mẻ, dễ chịu hơn rất nhiều Khu này quý nhất là 2 cái hồ tự nhiên này.”(Nam, 54 tuổi)

Hiếm khi

Không bao giờ

Trang 33

Hoạt động tập thể dục được hầu hết người dân trong khu đô thị Văn Quán tham gia, là một trong những khu đô thị mới có hạ tầng cơ sở khá tốt với công viên, vườn hoa, hồ nước rộng rãi nên việc đi tập thể dục trong khu thu hút được đông đảo mọi người Nhìn vào bảng trên cũng có thể thấy mức

độ người dân trong khu đô thị sử dụng không gian công cộng là khá cao Hoạt động tập thể dục, chơi thể thao hay đi tản bộ được người dân tham gia với mức độ thường xuyên điều đó cho thấy các không gian công cộng như vườn hoa, công viên, sân tennis là nơi mà mọi người thường xuyên sử dụng

Vào các buổi sáng sớm hay buổi chiều hè, xung quanh hai hồ trong khu

đô thị lúc nào cũng tấp nập người Tuy nhiên, mức độ tham gia vào các hoạt động cũng khác nhau theo từng lứa tuổi Hầu hết các hoạt động như tập thể dục, chơi thể thao và đi tản bộ thì nhóm tuổi trên 50 tham gia thường xuyên hơn hẳn hai nhóm trung niên và trẻ Nhưng những hoạt động khác như đi siêu thị, cửa hàng tự chọn thì mức độ thường xuyên lại rơi vào nhóm dưới 35 tuổi

“…Đừng tưởng về hưu rồi là chúng tôi không vận động nhé, câu lạc bộ cầu lông của chúng tôi sáng chiều nào cũng thi ở ngay sân trong khu đô thị đấy nhé” (Nam, 67 tuổi)

Còn với nhóm tuổi dưới 35 thì việc sử dụng không gian công cộng chủ yếu là đưa con đi chơi ở khu vui chơi trẻ em, hay chiều chiều khi cơm nước xong cho con ra hồ đi dạo 1 vòng

“…Cứ buổi chiều, cơm nước xong là em lại cho con ra hồ, nhưng dạo này hồ đông quá, buổi chiều học sinh đi học về tụ tập, phóng xe ầm ầm, nhiều lúc đẩy bé đi ở hồ cũng sợ” (Nữ, 27 tuổi)

Cùng với sự phát triển về điều kiện kinh tế và xã hội, cuộc sống của người cao tuổi đang ngày càng được nâng cao Bí quyết để các cụ sống vui, sống khoẻ chính nhờ bởi nếp sinh hoạt khoa học, sự thoải mái về tâm lý và sự yêu thương chăm sóc của con cái Điều này được thể hiện rõ qua bảng 2.4 dưới đây:

Trang 34

Bảng 2.4: Mục đích sử dụng không gian công cộng

Giải trí 56.7 % Thể dục thể thao 64.0%

Giao tiếp, gặp gỡ mọi người 67.3%

Tìm nơi biệt lập, không gian tĩnh 50.0%

Quan sát mọi người 34.0%

Khác (chỉ rõ)… 3.4%

Người dân trong khu đô thị chủ yếu sử dụng không gian công cộng nhằm mục đích giao tiếp, gặp gỡ mọi người (67.3%), tập thể dục thể thao chiếm 64% Đa số những người già đều có tâm lý chung:

“… Bây giờ có tuổi rồi, chả có nhu cầu ăn uống gì, chỉ có nhu cầu được gặp gỡ mọi người thôi Trừ những hôm trong người mệt mỏi, còn lại ngày nào cũng như ngày nào, cứ 6h là tôi có mặt ở hồ, chạy vài vòng rồi về đưa cháu đi học.” (Nữ, 65 tuổi)

Người dân cảm thấy việc sống trong một khu đô thị là rất thuận tiện:

“ Cứ thử hình dung bây giờ mà không có được công viên, hồ nước thì những người già như chúng tôi suốt ngày chỉ quanh quẩn với 4 bức tường, sống tại khu đô thị thích nhất là tất cả mọi thứ đều sẵn sàng trong 1 phạm vi hẹp, không mất nhiều công di chuyển Như trước kia nhà tôi ở Giáp Bát, phải đi bộ

45 phút mới ra được đến công viên LêNin, nhưng từ ngày chuyển vào đây, chỉ mất 5 phút đi bộ từ nhà ra hồ.” (Nữ, 55 tuổi)

Mức độ thụ hưởng không gian công cộng cũng khác nhau theo từng nhóm lứa tuổi Nếu nhóm tuổi trên 50 chiếm 30% mức độ tham gia thường xuyên đối với hoạt động chơi thể thao thì nhóm dưới 35 tuổi chỉ chiếm 14,6%, còn đối với hoạt động đi tản bộ nếu nhóm tuổi trên 50 chiếm 35% thì nhóm dưới 35 tuổi chiếm 29,3%

Trang 35

Bảng 2.5: Mục đích sử dụng không gian công cộng

(%)

Mục đích sử dụng KGCC Dưới 35 tuổi 35 - 49 tuổi Trên 50 tuổi

Giải trí 75.6 53.6 42.5

Thể dục thể thao 70.7 59.4 65.0

Giao tiếp, gặp gỡ mọi người 82.9 59.4 65.0

Tìm nơi biệt lập, không gian

Quan sát mọi người 19.5 34.8 47.5

Khác (chỉ rõ)… 0 4.3 5.0

Những bài tập vận động nhẹ sẽ giúp ích rất nhiều cho sức khỏe người

cao tuổi Đặc biệt, những buổi tập sớm này cũng giúp người cao tuổi gìn giữ

những mối quan hệ xã hội, hòa nhập với cộng đồng

“…Lúc này, tôi có nhiều thời gian rảnh rỗi hơn để chăm sóc cây cảnh

quanh nhà Không giúp con được những công việc nặng nhọc, tôi muốn mình

góp phần làm nhà cửa đẹp hơn một chút Hơn nữa, tập thể dục buổi sáng hay

đi dạo cũng giúp mình nhanh nhẹn, linh hoạt hơn rất nhiều Được gặp gỡ các

cụ cùng tuổi, nói chuyện con cháu cũng vui lắm.” (Nam 70 tuổi)

Không những thế, việc vận động như đi tản bộ hay đi chợ cũng có thể

là hoạt động giao tiếp chính đối với nhóm tuổi trên 50:

“…Tôi vẫn thường cùng bạn bè trao đổi về các cách chăm sóc sức khỏe

cho bản thân Những buổi trò chuyện như vậy không chỉ giúp tôi có thêm

nhiều thông tin về sức khỏe, biết thêm về những dược phẩm dành cho người

cao tuổi, mà còn giúp tâm trạng trở nên thoải mái, yêu đời hơn” (Nữ, 55 tuổi)

Nhóm người già với đặc thù trong hoạt động giao tiếp là ưa các hình

thức giao tiếp tĩnh, nhẹ nhàng, với đối tượng là những người cùng lứa tuổi, vì

vậy các hoạt động như tập thể dục thể thao, trò chuyện là hoạt động giao tiếp

hàng ngày

Trang 36

“…Về hưu rồi, con cái thì bận bịu công việc, hàng ngày đi tập thể dục, gặp gỡ mọi người cũng là một cách thư giãn, chứ cô bảo, cứ ở trong nhà với

4 bức tường thì chịu sao được Trừ những lúc trái nắng trở trời, không có chiều nào là tôi không xuống dưới sân chung cư ngồi đâu Nhìn ngắm bọn trẻ

đi học về, rồi bọn con nít chơi đá bóng thấy cũng vui vui.”(Nữ, 65 tuổi)

Vì thế, mỗi buổi sáng, công viên lại trở nên sôi động hơn với rất nhiều

cụ già đến tập thể dục thể thao Đặc biệt, trước cổng nghĩa trang nằm trong khu đô thị (vì trước đây là làng Văn Quán nên việc di dời nghĩa trang ra khỏi khu đô thị vẫn chưa thực hiện được) vào các buổi sáng sớm, hay buổi chiều, các trận đấu cầu lông diễn ra sôi nổi của các cụ về hưu Buổi tối ở đây lại là lớp tập khiêu vũ cho những ai say mê môn nghệ thuật này Đối tượng tham gia chủ yếu là người dân sinh sống trong khu đô thị và các khu xung quanh Hầu hết đều trong độ tuổi từ 35-55 tuổi

“…Tuần 3 buổi tôi tập khiêu vũ ở đây, lúc đầu cũng vắng lắm, nhưng dần dần mọi người đi dạo, tập thể dục qua thấy hay đứng lại xem, rồi ghi tên tham gia lớp Bây giờ trở thành một thói quen không thể thiếu của tôi rồi, hôm nào trời mưa không tham gia được, phải ở nhà là tôi thấy trong người bứt rứt, khó chịu” (Nữ, 40 tuổi)

Hình2.6: Trước cửa nghĩa trang trong khu Văn Quán – nơi mọi người tập trung đánh cầu

lông và khiêu vũ vào các buổi chiều tối

Còn tại các sân tennis thì lại là nơi thư giãn sau một ngày làm việc mệt mỏi của nhóm thanh niên, trung niên

Trang 37

Hình2.7: Sân tennis trong khu đô thị Văn Quán (nguồn: tác giả)

Nhìn chung, trong khu đô thị mới Văn Quán, giữa các khối nhà đã có

sự phân biệt với không gian sinh hoạt cộng đồng, giới hạn bằng không gian xanh và không gian đường phố Tuy nhiên, giữa các khối nhà thì các đường dạo, ghế ngồi, điểm nghỉ hợp lý cần được bố trí cùng với các hàng cây ven đường, ven hồ thích hợp làm tăng tính thẩm mỹ của không gian công cộng trong khu

Yếu tố cây xanh mặt nước là yếu tố không thể thiếu trong không gian sinh hoạt cộng đồng Ngoài tác dụng tạo cảnh, nó còn là yếu tố quan trọng để điều hòa vi khí hậu và môi trường trong khu

Bên cạnh đó, do điều kiện sống ở tầng cao và chủ yếu sử dụng phương tiện xe gắn máy, các gia đình không thể để phương tiện trong từng căn hộ Dịch vụ gửi xe là không thể thiếu trong các khu ở cao tầng

Dịch vụ gửi xe ô tô, xe máy ngoài trời cũng là một không gian dịch vụ công cộng phải tính toán tổ chức khi khối công trình nhà ở cao tầng tiếp xúc với giao thông cơ giới Khi đó các không gian dịch vụ không chỉ phục vụ cho bản thân cư dân mà còn phục vụ cư dân khu vực lân cận với thói quen mua sắm trên đường phố và lưu chuyển dòng người bằng các phương tiện cơ giới

Vị trí bãi để xe ngoài trời trong khu Văn Quán được đặt hai bên trục đường chính của khu, đó là vị trí khá thuận lợi vì ít ảnh hưởng đến giao thông đi bộ nhất

Trang 38

Biểu đồ 2.2: Phương tiện sử dụng đi lại của người dân theo loại hình nhà ở

Như vậy, hầu hết người dân sống tại các tòa nhà chung cư sử dụng phương tiện đi lại là xe đạp, xe máy, và họ thường gửi tại tầng hầm của khu chung cư Trong khi đó, những hộ liền kề hay biệt thự thì tỷ lệ đi xe ô tô chiếm khá cao và thường để trong nhà Còn những gia đình có ô tô nhưng sống tại khu chung cư cao tầng thì gửi xe tại bãi gửi xe của khu đô thị

“Xe gửi ngoài bãi để xe cũng không thuận tiện lắm vì phải đi bộ khá

xa Mức thu phí trông xe là 480.000 đồng/tháng đối với xe để ngoài trời, không để trong gara Tuy nhiên, trong khu chỉ có 2 bãi gửi xe thôi nên đành phải chấp nhận Giá mà ban quản lý dự án mở rộng thêm một hay hai bãi gửi

xe nữa thì tốt.”(Nam, 47 tuổi)

Hình 2.8: Hai bãi đỗ xe trong khu Văn Quán luôn trong tình trạng quá tải

Trang 39

- Thái độ và sự đánh giá của người dân về không gian công cộng tại khu

cư trú

Về cơ bản, người dân trong khu Văn Quán cảm thấy khá hài lòng với không gian công cộng trong khu Đặc biệt người dân cảm thấy rõ giá trị của hai hồ nước tự nhiên mà một số khu đô thị xây dựng trước đó hay như khu đô thị vào loại cao cấp như The Manor cũng không có được

Nhóm nhà ở biệt thự đa số được bố trí ven hồ Văn Quán vì điều kiện hình thù, ranh giới khu đất không được vuông vức như các khu đô thị khác, theo trục đường Nguyễn Khuyến, vì vậy nhà quy hoạch đưa ra mặt hồ đem lại hình thái sinh động cho khu đô thị Có cao tầng, có thấp tầng nằm trên trục đường chính

Như đã phân tích ở trên, đời sống kinh tế xã hội của người dân ngày càng nâng cao, do đó đòi hỏi một chỗ ở tốt, tiện nghi với các không gian công cộng thuận tiện, dịch vụ phục vụ tốt để đáp ứng yêu cầu ngày một cao của người dân (đi lại thuận tiện, khoảng cách phục vụ đảm bảo, đa dạng về loại hình phục vụ, các dịch vụ mua bán, nghỉ ngơi, giải trí….) Tâm lý thường muốn mua ở gần trung tâm, gần các dịch vụ công cộng, thuận tiện cho các nhu cầu hàng ngày của cuộc sống

Biểu đồ 2.3: Mức độ đáp ứng của không gian công cộng trong khu đô thị

Chợ Siêu thị Cửa hàng tự chọn Nhà trẻ Trường tiểu học Trường trung học cơ sở Trường trung học phổ thông

Công viên Vườn hoa

Hồ nước Sân tennis Khu vui chơi Bãi đỗ xe

Bể bơi Trung tâm y tế Đường, ngõ, ngách đi lại

Không có Chưa đáp ứng đủ Tạm

Đáp ứng đủ

Trang 40

Nếu so sánh khu đô thị mới Văn Quán, với các khu đô thị như Trung hòa Nhân Chính, hay khu Mỹ Đình, Khu Định Công v…v…thì có thể thấy đã

có sự khác biệt khá rõ rệt trong việc quy hoạch không gian công cộng Tổng công ty đầu tư phát triển nhà và đô thị (HUD) đã chú trọng đến việc bố trí không gian công cộng khá hợp lý và đầy đủ

Nếu như tại khu đô thị Mỹ Đình 2, nhiều người dân chuyển đến một thời gian dài vẫn cảm giác sống trong cảnh "tạm bợ" Khu này rộng 26 ha, với hàng nghìn dân cư sinh sống, song hiện mới chỉ có một số trường học, bãi để

xe rộng hơn 1.000m2, vắng bóng trạm y tế, khu thể thao giải trí, sân chơi, chợ thì một thuận lợi của khu Văn Quán là gần bệnh viện (103 và viện Bỏng Quốc Gia, bệnh viện tỉnh Hà Tây, bệnh viện Tuệ Tĩnh), gần các khu đô thị mới như khu đô thị mới Bắc Hà, khu đô thị mới Mỗ Lao, làng Việt kiều Châu

Âu, khu đô thị mới Xa La, Văn Phú……… , trường học trong khu đô thị cũng khá đầy đủ, nên người dân cũng không quá vất vả trong việc xin học cho con mình Những gia đình có con trong độ tuổi mẫu giáo, tiểu học thì lại đánh giá cao về sự thuận tiện khi cho con đi học tại các trường trong khu đô thị này

“…Cháu nhà tôi học ở trường Nguyễn Du, đi học cách nhà chỉ nửa cây

số thôi Đặc biệt là vào mùa đông, những hôm mưa rét không phải đi xa, không phải sang đường, cũng thuận tiện lắm” (Nữ, 34 tuổi)

Hầu hết những gia gia đình sống trong các khu đô thị mới ở Hà Nội đang đứng trước một bài toán không biết cho con đi học ở đâu Không chỉ ở bậc mầm non, mà kể cả tiểu học, THCS, số trường thuộc các khu đô thị mới rất ít và phần lớn là trường dân lập có mức học phí cao Tại KĐT Trung Hoà - Nhân Chính, trường tiểu học tuy có trong quy hoạch nhưng đến nay vẫn chưa xây, hàng trăm học sinh phải quay lại học nơi ở cũ, hộ khẩu không dám chuyển về vì phải học trái tuyến.

Các khu đô thị mới ở đâu cũng đều thiếu hoặc trắng trường học, nhất vẫn là ở mầm non và tiểu học Ở khu đô thị Văn Quán về cơ bản đã khắc phục

Ngày đăng: 20/03/2015, 16:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Xây dựng - Viện Quy hoạch đô thị nông thôn – Chương trình KC.11 - Đề tài KC.11-12(1994), Xã hội học trong quy hoạch xây dựng và quản lý đô thị, Nxb Xây dựng, tr. 26-33, 55-83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học trong quy hoạch xây dựng và quản lý đô thị
Tác giả: Bộ Xây dựng - Viện Quy hoạch đô thị nông thôn – Chương trình KC.11 - Đề tài KC.11-12
Nhà XB: Nxb Xây dựng
Năm: 1994
6. Trần Mạnh Cường (2002), Nghiên cứu đề xuất các giải pháp tổ chức không gian mở trong khu ở tại thành phố Hà Nội, Luận văn Thạc sỹ Kiến trúc, Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đề xuất các giải pháp tổ chức không gian mở trong khu ở tại thành phố Hà Nội
Tác giả: Trần Mạnh Cường
Năm: 2002
7. Võ Kim Cương (2004), Quản lý đô thị thời kỳ chuyển đổi, Nxb Xây dựng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý đô thị thời kỳ chuyển đổi
Tác giả: Võ Kim Cương
Nhà XB: Nxb Xây dựng
Năm: 2004
8. Vũ Cao Đàm (2005), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2005
9. Nguyễn Bá Đang (1997), Chung cư cao tầng trong các đô thị lớn, Tạp chí Kiến trúc Việt Nam, số 4/1997, tr.5-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chung cư cao tầng trong các đô thị lớn
Tác giả: Nguyễn Bá Đang
Năm: 1997
10. Vũ Quang Hà (2001), Các lý thuyết Xã hội học, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các lý thuyết Xã hội học
Tác giả: Vũ Quang Hà
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2001
11. Nguyễn Văn Hải (2005), Giải pháp quy hoạch kiến trúc nhằm nâng cao chất lượng không gian ở các khu Đô thị mới Hà Nội, Luận án Tiến sỹ Kiến trúc, Đại học Kiến trúc Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp quy hoạch kiến trúc nhằm nâng cao chất lượng không gian ở các khu Đô thị mới Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Văn Hải
Năm: 2005
12. Phạm Mạnh Hải (2002), Nghiên cứu phát huy tính cộng đồng trong tổ chức các không gian ngoài căn hộ với nhà ở cao tầng Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ Kiến trúc, Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phát huy tính cộng đồng trong tổ chức các không gian ngoài căn hộ với nhà ở cao tầng Việt Nam
Tác giả: Phạm Mạnh Hải
Năm: 2002
13. Mai Văn Hai (Chủ biên), 2005. Xã hội học Văn hóa, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học Văn hóa
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội
14. Đỗ Hậu (2001), Xã hội học đô thị, Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội, Nxb Xây dựng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học đô thị
Tác giả: Đỗ Hậu
Nhà XB: Nxb Xây dựng
Năm: 2001
15. Nguyễn Thị Thuý Hằng (2002), Tổ chức quản lý, khai thác sử dụng không gian giao tiếp trong các khu chung cư tại Hà Nội, Luận văn Thạc sỹ Quản lý đô thị, Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức quản lý, khai thác sử dụng không gian giao tiếp trong các khu chung cư tại Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Thị Thuý Hằng
Năm: 2002
16. Tô Duy Hợp (1990), Về thực trạng và xu hướng chuyển đổi cơ cấu xã hội nông thôn vùng đồng bằng Bắc bộ hiện nay, Tạp chí Xã hội học số 4/1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Về thực trạng và xu hướng chuyển đổi cơ cấu xã hội nông thôn vùng đồng bằng Bắc bộ hiện nay
Tác giả: Tô Duy Hợp
Năm: 1990
18. Nguyễn Thế Kiên (2006), Tổ chức không gian kiến trúc thương mại và dịch vụ nhà ở chung cư cao tầng tại các khu đô thị mới trên địa bàn Hà Nội, Luận văn Thạc sỹ Kiến trúc, Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức không gian kiến trúc thương mại và dịch vụ nhà ở chung cư cao tầng tại các khu đô thị mới trên địa bàn Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Thế Kiên
Năm: 2006
19. Văn Thị Ngọc Lan (2006), Tình trạng cư trú và cơ sở hạ tầng ở các vùng đô thị mới tại thành phố Hồ Chí Minh, tạp chí X ã hội học, năm 2006, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng cư trú và cơ sở hạ tầng ở các vùng đô thị mới tại thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Văn Thị Ngọc Lan
Năm: 2006
20. Trần Thƣợng Duy Linh (2007), Giải pháp tổ chức không gian kiến trúc cộng đồng trong tổ hợp chung cư cao tầng tại Hà Nội, Luận văn thạc sỹ chuyên ngành Kiến trúc, trường Đại học Kiến trúc Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp tổ chức không gian kiến trúc cộng đồng trong tổ hợp chung cư cao tầng tại Hà Nội
Tác giả: Trần Thƣợng Duy Linh
Năm: 2007
21. Nguyễn Thành Long (2004), Nghiên cứu tổ chức không gian khu ở Hà Nội trong mối quan hệ với các công trình dịch vụ công cộng, Luận văn thạc sỹ chuyên ngành Kiến trúc, Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Nghiên cứu tổ chức không gian khu ở Hà Nội trong mối quan hệ với các công trình dịch vụ công cộng
Tác giả: Nguyễn Thành Long
Năm: 2004
22. Trịnh Duy Luân, Michael L (1996), Vấn đề nhà ở đô thị trong nền kinh tế thị trường của thế giới thứ 3, Nxb Xây dựng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề nhà ở đô thị trong nền kinh tế thị trường của thế giới thứ 3
Tác giả: Trịnh Duy Luân, Michael L
Nhà XB: Nxb Xây dựng
Năm: 1996
23. Trịnh Duy Luân (2000), Hà Nội: một số biến đổi trong đời sống và diện mạo đô thị hiện nay. Tạp chí Kiến trúc. Số 3/2000. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Nội: một số biến đổi trong đời sống và diện mạo đô thị hiện nay
Tác giả: Trịnh Duy Luân
Năm: 2000
24. Trịnh Duy Luân (2000), Vấn đề nhà ở tại Hà Nội: Thực trạng và nhu cầu. Tạp chí Kiến trúc. Số 6/2000. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề nhà ở tại Hà Nội: Thực trạng và nhu cầu
Tác giả: Trịnh Duy Luân
Năm: 2000
25. Trịnh Duy Luân (2004), Xã hội học đô thị, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học đô thị
Tác giả: Trịnh Duy Luân
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Sơ đồ tổ chức không gian quy hoạch kiến trúc cảnh quan khu đô  thị mới Văn Quán - Không gian công cộng dưới góc nhìn của cư dân trong các khu đô thị mới xây ở Hà Nội gần đây ( Nghiên cứu trường hợp khu đô thị mới Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội
Hình 1.1 Sơ đồ tổ chức không gian quy hoạch kiến trúc cảnh quan khu đô thị mới Văn Quán (Trang 16)
Hình 1.2: Lễ cắt băng khánh thàh Khu đô thị mới Văn Quán (nguồn: - Không gian công cộng dưới góc nhìn của cư dân trong các khu đô thị mới xây ở Hà Nội gần đây ( Nghiên cứu trường hợp khu đô thị mới Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội
Hình 1.2 Lễ cắt băng khánh thàh Khu đô thị mới Văn Quán (nguồn: (Trang 17)
Hình 1.3: Sơ đồ tổng thể khu đô thị mới Văn Quán . - Không gian công cộng dưới góc nhìn của cư dân trong các khu đô thị mới xây ở Hà Nội gần đây ( Nghiên cứu trường hợp khu đô thị mới Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội
Hình 1.3 Sơ đồ tổng thể khu đô thị mới Văn Quán (Trang 18)
Hình 2.1: Cây đa bến nước- một không gian sinh hoạt truyền thống - Không gian công cộng dưới góc nhìn của cư dân trong các khu đô thị mới xây ở Hà Nội gần đây ( Nghiên cứu trường hợp khu đô thị mới Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội
Hình 2.1 Cây đa bến nước- một không gian sinh hoạt truyền thống (Trang 21)
Hình 2.2: Một số hình ảnh về không gian sinh hoạt cộng đồng truyền thống - Không gian công cộng dưới góc nhìn của cư dân trong các khu đô thị mới xây ở Hà Nội gần đây ( Nghiên cứu trường hợp khu đô thị mới Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội
Hình 2.2 Một số hình ảnh về không gian sinh hoạt cộng đồng truyền thống (Trang 22)
Hình 2.3: Một số hình ảnh sinh hoạt cộng đồng trong quá trình đô thị hóa - Không gian công cộng dưới góc nhìn của cư dân trong các khu đô thị mới xây ở Hà Nội gần đây ( Nghiên cứu trường hợp khu đô thị mới Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội
Hình 2.3 Một số hình ảnh sinh hoạt cộng đồng trong quá trình đô thị hóa (Trang 24)
Hình 2.4: Kiốt, quán café tại tầng 1 của khu chung cư CT7A  (Nguồn: Internet) - Không gian công cộng dưới góc nhìn của cư dân trong các khu đô thị mới xây ở Hà Nội gần đây ( Nghiên cứu trường hợp khu đô thị mới Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội
Hình 2.4 Kiốt, quán café tại tầng 1 của khu chung cư CT7A (Nguồn: Internet) (Trang 28)
Bảng 2.1: Thời gian sống của cư dân với việc sử dụng KGCC - Không gian công cộng dưới góc nhìn của cư dân trong các khu đô thị mới xây ở Hà Nội gần đây ( Nghiên cứu trường hợp khu đô thị mới Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội
Bảng 2.1 Thời gian sống của cư dân với việc sử dụng KGCC (Trang 28)
Bảng 2.2: Tương quan giữa mức độ thường xuyên mua sắm của người dân theo  thu nhập - Không gian công cộng dưới góc nhìn của cư dân trong các khu đô thị mới xây ở Hà Nội gần đây ( Nghiên cứu trường hợp khu đô thị mới Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội
Bảng 2.2 Tương quan giữa mức độ thường xuyên mua sắm của người dân theo thu nhập (Trang 29)
Hình 2.5: Hồ Văn Quán - Không gian công cộng dưới góc nhìn của cư dân trong các khu đô thị mới xây ở Hà Nội gần đây ( Nghiên cứu trường hợp khu đô thị mới Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội
Hình 2.5 Hồ Văn Quán (Trang 32)
Bảng 2.3: Mức độ thụ hưởng không gian công cộng qua  các hoạt động hàng ngày của người dân ở khu đô thị mới Văn Quán - Không gian công cộng dưới góc nhìn của cư dân trong các khu đô thị mới xây ở Hà Nội gần đây ( Nghiên cứu trường hợp khu đô thị mới Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội
Bảng 2.3 Mức độ thụ hưởng không gian công cộng qua các hoạt động hàng ngày của người dân ở khu đô thị mới Văn Quán (Trang 32)
Bảng 2.5: Mục đích sử dụng không gian công cộng - Không gian công cộng dưới góc nhìn của cư dân trong các khu đô thị mới xây ở Hà Nội gần đây ( Nghiên cứu trường hợp khu đô thị mới Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội
Bảng 2.5 Mục đích sử dụng không gian công cộng (Trang 35)
Hình 2.8: Hai bãi đỗ xe trong khu Văn Quán luôn trong tình trạng quá tải - Không gian công cộng dưới góc nhìn của cư dân trong các khu đô thị mới xây ở Hà Nội gần đây ( Nghiên cứu trường hợp khu đô thị mới Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội
Hình 2.8 Hai bãi đỗ xe trong khu Văn Quán luôn trong tình trạng quá tải (Trang 38)
Bảng 2.6: Lý do không hài lòng về KGCC theo nhóm tuổi của người trả lời - Không gian công cộng dưới góc nhìn của cư dân trong các khu đô thị mới xây ở Hà Nội gần đây ( Nghiên cứu trường hợp khu đô thị mới Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội
Bảng 2.6 Lý do không hài lòng về KGCC theo nhóm tuổi của người trả lời (Trang 44)
Bảng 2.7: Lý do không hài lòng về KGCC theo thu nhập của người trả lời - Không gian công cộng dưới góc nhìn của cư dân trong các khu đô thị mới xây ở Hà Nội gần đây ( Nghiên cứu trường hợp khu đô thị mới Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội
Bảng 2.7 Lý do không hài lòng về KGCC theo thu nhập của người trả lời (Trang 45)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm