1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển du lịch nông thôn tại Ninh Bình

107 914 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 3,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để giải quyết vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng bền vững, việc gắn kết giữa hoạt động sản xuất nông nghiệp với các loại hình dịch vụ thu hút lao động, khai thác các giá

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ 3

MỞ ĐẦU 4

1 Tính cấp thiết của đề tài 4

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 9

4 Phương pháp nghiên cứu 9

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10

6 Cấu trúc của đề tài 11

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH NÔNG THÔN 12

1.1 Du lịch và các loại hình du lịch 12

1.1.1 Du lịch 12

1.1.2 Xu hướng phát triển các loại hình du lịch 14

1.2 Du lịch nông thôn 17

1.2.1 Khái niệm và các loại hình của du lịch nông thôn 17

1.2.1.1 Khái niệm về du lịch nông thôn 17

1.2.1.2 Biểu hiện và các nguyên tắc phát triển du lịch nông thôn 20

1.2.2.Đặc điểm và các tiêu chí xác định du lịch nông thôn 22

1.3 Các điều kiện để phát triển du lịch nông thôn 25

1.3.1 Tài nguyên du lịch nông thôn 25

1.3.2 Cộng đồng dân cư 26

1.3.3 Cơ sở vật chất kỹ thuật và cơ sở hạ tầng 28

1.3.4 Các chủ trương, chính sách 29

1.4 Sự phát triển của du lịch nông thôn trên thế giới và Việt Nam 30

1.4.1 Trên thế giới 30

1.4.2 Tại Việt Nam 35

1.4.3 Một số kinh nghiệm phát triển du lịch nông thôn cho Ninh Bình 36

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH NÔNG THÔN TẠI NINH BÌNH 39

Trang 4

2.1 Giới thiệu về du lịch Ninh Bình 39

2.1.1 Tài nguyên du lịch phát triển Ninh Bình 39

2.1.2 Doanh thu và lượng khách đến Ninh Bình giai đoạn 2001 -2010 42

2.1.3 Nguồn nhân lực du lịch Ninh Bình 45

2.2 Điều kiện phát triển du lịch nông thôn tại Ninh Bình 47

2.2.1 Tài nguyên phát triển du lịch nông thôn 47

2.2.2 Cộng đồng dân cư nông thôn 51

2.2.3 Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch nông thôn 52

2.2.4 Chủ trương chính sách, quy hoạch phát triển du lịch nông thôn 56

2.3 Thực trạng khai thác hoạt động du lịch nông thôn tại Ninh Bình 59

2.4 Đánh giá về hoạt động du lịch nông thôn tại Ninh Bình 69

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH NÔNG THÔN TẠI NINH BÌNH 73

3.1 Định hướng phát triển du lịch nông thôn tại Ninh Bình 73

3.2 Các giải pháp phát triển du lịch nông thôn tại Ninh Bình 75

3.2.1 Liên kết và phát triển sản phẩm 75

3.2.2 Giải pháp nâng cao chất lượng CSVC-KT 75

3.2.3 Phát triển du lịch nông thôn gắn với lợi ích của cộng đồng 76

3.2.4 Xây dựng mô hình tổ chức du lịch nông thôn phù hợp 78

3.2.5 Tăng cường hoạt động xúc tiến quảng bá 81

3.3 Các khuyến nghị 82

KẾT LUẬN 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87 PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ

Bảng 2.1 Kết quả kinh doanh du lịch tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2001 - 2006 Bảng 2.2 Kết quả kinh doanh du lịch tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2007 - 2010 Bảng 2.3 Cơ cấu nguồn khách quốc tế đến Ninh Bình giai đoạn 2001- 2010 Bảng 2.4 Thực trạng lao động Ninh Bình giai đoạn 2005 - 2009

Bảng 2.5 Số lượng cơ sở lưu trú tại TP và các huyện Ninh Bình tính đến

tháng 12/2010 Bảng 2.6 Thống kê cơ sở lưu trú tại huyện Hoa Lư giai đoạn 2004 - 2010 Bảng 2.7 Số liệu kinh doanh ước tính du lịch nông thôn huyện Gia Viễn

(Ninh Bình) giai đoạn 2006 - 2010 Bảng 2.8 Số liệu kinh doanh ước tính du lịch nông thôn huyện Gia Viễn

(Ninh Bình) giai đoạn 2006 - 2010 Bảng 2.9 Thống kê thu phát phiếu điều tra

Bảng 2.10 Mức độ sẵn sàng tham gia du lịch nông thôn của du khách

Bảng 2.11 Mức độ sẵn sàng tham gia du lịch nông thôn của người dân địa

phương Biểu đồ 2.1 Trình độ lao động Ninh Bình giai đoạn 2005 - 2009

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Với điều kiện tự nhiên, địa hình thổ nhưỡng đa dạng từ Bắc vào Nam và với điều kiện của các khu đồng bằng châu thổ, Việt Nam là quốc gia có tiềm năng phát triển ngành nông nghiệp một cách đa dạng Đến thời điểm này, vẫn khoảng 80% lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp

Trải qua một thời gian dài, ngành nông nghiệp của Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc, đóng góp không nhỏ vào thu nhập GDP, đảm bảo an ninh lương thực không chỉ cho Việt Nam mà còn đóng vai trò quan trọng đối với thế giới

Tuy vậy, nền kinh tế đang trong quá trình phát triển theo hướng thay đổi

cơ cấu nền kinh tế theo hướng tiến bộ, phát triển công nghiệp làm nền tảng đi đôi với phát triển mạnh lĩnh vực thương mại và dịch vụ, trong bối cảnh đó lĩnh vực nông nghiệp chịu những ảnh hưởng không nhỏ, biểu hiện ở việc diện tích đất canh tác bị thu hẹp, chuyển đổi mục đích, hiệu quả sử dụng thấp Mặt khác, quá trình đô thị hoá đang diễn ra mạnh mẽ cũng là một trong những tác nhân ảnh hưởng đến lĩnh vực nông nghiệp Việc thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển công nghiệp, thương mại và dịch vụ là hướng đúng đắn tuy vậy với tỉ lệ gần 70% dân số vẫn phụ thuộc vào nông nghiệp như Việt Nam hiện nay thì việc duy trì và phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng bền vững đã và đang trở thành một vấn đề mang tính bức thiết Theo đó, vấn đề phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững, xây dựng nông thôn mới trong bối cảnh hiện nay ở Việt Nam đã trở thành vấn đề thời sự, được sự quan tâm của toàn xã hội

Để giải quyết vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng bền vững, việc gắn kết giữa hoạt động sản xuất nông nghiệp với các loại hình dịch

vụ thu hút lao động, khai thác các giá trị về tài nguyên của địa phương, đặc biệt là khai thác các giá trị nội tại của hoạt động sản xuất nông nghiệp để tạo

Trang 7

thu nhập ngoài các sản phẩm thuần túy nông nghiệp cho những người nông dân là vấn đề đang được xã hội quan tâm đặc biệt

Trong bối cảnh đó, việc phát triển loại hình du lịch gắn với nông thôn và sản xuất nông nghiệp trong đó có dịch vụ du lịch được Việt Nam quan tâm Việc phát triển du lịch nông thôn không chỉ có ý nghĩa là phát triển một loại hình du lịch mới, tạo ra cho du lịch Việt Nam những sản phẩm du lịch khác biệt, mà nó như một phương pháp hiệu quả nhằm duy trì và bảo tồn và lưu giữ những giá trị văn hoá truyền thống đang phải chịu áp lực của phát triển kinh tế và quá trình đô thị hóa đang diễn ra phổ biến Tuy nhiên, đây là loại hình du lịch còn mới nên chưa thực sự được quan tâm phát triển theo những hướng đi phù hợp

Ninh Bình là tỉnh nằm ở phía Nam đồng bằng Bắc Bộ, có rừng núi, đồng bằng, có vùng bán sơn địa, có biển và dải đồng bằng ven biển Chính thế mạnh này tạo cho Ninh Bình nguồn tài nguyên phong phú để phát triển du lịch

Quá trình đô thị hoá tại đây diễn ra chưa mạnh mẽ, tuy đã xuất hiện các khu công nghiệp đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế địa phương, nhưng phần lớn tại các làng quê còn giữ được nét truyền thống liên quan đến các phong tục tập quán sinh hoạt, tập quán sản xuất độc đáo, các di tích lịch sử văn hoá

và kiến trúc nghệ thuật có giá trị Với những đặc điểm như vậy, việc phát triển

du lịch nói chung và loại hình du lịch nông thôn là cần thiết và là thế mạnh của Ninh Bình

Về chủ trương, lãnh đạo của tỉnh Ninh Bình đã đưa ra được những chiến lược dài hạn cho phát triển loại hình du lịch nông thôn, được trình bày trong một số nội dung của nghị quyết số 15 - NQ/TU về phát triển du lịch đến năm

2020, định hướng đến năm 2030 của Tỉnh Cụ thể, nghị quyết đã khẳng định:

“Nghiên cứu thiết kế hệ thống nhà mẫu theo phong cách những ngôi nhà tiêu biểu của Đồng bằng Bắc bộ, đặc biệt là những ngôi nhà đẹp điển hình của làng quê Ninh Bình, cung cấp thiết kế miễn phí, hướng dẫn xây dựng đối với dân cư đang sinh sống trong các khu du lịch chính, như Tràng An, Cố đô Hoa

Trang 8

Lư, Tam Cốc - Bích Động và các khu tái định cư, nhằm tạo cảnh quan cho khu du lịch, tạo tiền đề phát triển loại hình du lịch ở nhà dân, đưa loại hình

du lịch này trở thành phổ biến” Đây là cơ sở mang tính nền tảng thể hiện rõ

sự quan tâm của lãnh đạo tỉnh Ninh Bình đối với phát triển du lịch nói chung

và loại hình du lịch gắn với nông thôn nói riêng

Tuy đã có những định hướng về việc phát triển nhưng chưa định hình được

mô hình phát triển thế nào cho phù hợp Vấn đề đặt ra là: xây dựng mô hình phát triển du lịch nông thôn tại Ninh Bình như thế nào để khai thác, phát huy được những thế mạnh về tài nguyên và con người của Ninh Bình là vấn đề cần được quan tâm làm rõ

Xuất phát từ những lý do đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Phát triển du lịch

nông thôn tại Ninh Bình” để làm luận văn tốt nghiệp của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

- Nghiên cứu về loại hình du lịch

Trong nghiên cứu về các loại hình du lịch có nhiều học giả nghiên cứu và đưa ra các quan điểm khác nhau Trong thời gian gần đây, cùng với sự biến đổi trong nhu cầu du lịch, nhận thức của khách du lịch cũng có những biến đổi, bên cạnh đó những biến đổi của môi trường, sự suy thoái của tài nguyên

du lịch đang diễn ra phổ biến như hiện nay, quan điểm phát triển du lịch mang tính đại chúng đã thay đổi và quan điểm phát triển du lịch bền vững đã được quan tâm và phát triển trên thế giới cũng như ở Việt Nam

Nhiều loại hình du lịch mới như Du lịch sinh thái, Du lịch cộng đồng…được quan tâm nghiên cứu và phát triển Tại Việt Nam, Du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng…cũng được quan tâm đặc biệt

Trong trong nghiên cứu của mình, học giả Phạm Trung Lương (1996) đã khái quát khái niệm cơ bản về du lịch sinh thái, du lịch sinh thái với phát triển bền vững tài nguyên và môi trường, mối quan hệ và phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam; Tiềm năng du lịch sinh thái và các yếu tố tác động đến du lịch sinh thái ở Việt Nam Đồng thời, ông cũng đưa ra định hướng phát triển

du lịch sinh thái ở Việt Nam Bên cạnh đó, học giả Lê Huy Bá (2006) cũng đã

Trang 9

nghiên cứu và đã hệ thống các khái niệm về du lịch sinh thái, phát triển du lịch bền vững và các nguyên tắc du lịch sinh thái bền vững Quy hoạch và hoạt động du lịch sinh thái tại Việt Nam Giới thiệu một số vùng điển hình ở Việt Nam có khả năng phát triển du lịch sinh thái

Ngoài ra, để cụ thể hóa về loại hình du lịch sinh thái, học giả Đỗ Thị Thanh Hoa (2007), đã triển khai nghiên cứu và đề xuất tiêu chí xây dựng khu

du lịch sinh thái ở Việt Nam Trong nghiên cứu này tác giả đã khái quát một

số lý luận về du lịch sinh thái; Kinh nghiệm một số nước và tổ chức trên thế giới trong xây dựng, phát triển du lịch sinh thái và khu du lịch sinh thái; Thực trạng phát triển du lịch sinh thái và các khu du lịch sinh thái ở Việt Nam, và

từ đó đưa ra tiêu chí khu du lịch sinh thái ở Việt Nam

Đối với mô hình du lịch cộng đồng, học giả Võ Quế (2006) đã nghiên cứu

về vấn đề du lịch cộng đồng và đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến du lịch dựa vào công đồng, tổng kết và đưa ra các mô hình du lịch dựa vào cộng đồng của một số quốc gia ở Châu Á

- Loại hình du lịch nông thôn

Các nghiên cứu ở nước ngoài:

Các tác giả Nichakan Tanjaruvechgul, Yamada Kosei (2003), với nghiên cứu “Giới thiệu phát triển du lịch nông thôn tại Thái Lan – Ví dụ về thành phố Buddhamonton”, theo đó, giới thiệu và đánh giá về mô hình du lịch nông nghiệp ở một số địa phương của Thái Lan

Tác phẩm “Du lịch nông nghiệp và du lịch thiên nhiên ở California” do Đại học nông nghiệp và tài nguyên thiên nhiên California (2005), xuất bản đã cung cấp thông tin giúp cho chủ nông trại và chủ trang trại chăn nuôi xác định tiềm năng du lịch, vạch ra các bước để thu hút khách du lịch đến tham quan Tác giả Dr Peter William, Kathryn và Kim C.Smith (2004), trong nghiên cứu có tiêu đề “Cultivating Agritourism: Tools and techniques for building success” đã đưa ra những căn cứ khoa học cho việc tiếp cận du lịch nông thôn

và cách thức để kinh doanh loại hình này một cách hiệu quả

Trang 10

Hội đồng doanh nghiệp nông nghiệp Oregon (2003), đã đưa ra những chỉ dẫn về những cách thức xây dựng một doanh nghiệp thành công thông qua marketing nông nghiệp trực tiếp trong cuốn sách “Cẩm nang du lịch nông nghiệp”

Tác giả Malinda Geisler (2002), đã đưa ra các thông tin về tổ chức các tour học tập, liên hoan, các hoạt động giáo dục tại nông thôn Và đưa ra các cơ hội đối với các nhà sản xuất nông nghiệp trong việc phục vụ và phát triển du lịch nông thôn trong nghiên cứu có tựa đề “Du lịch nông nghiệp”

Ở Việt Nam, du lịch nông thôn vẫn còn là loại hình du lịch mới, nhưng

cũng đã có một số các công trình nghiên cứu, bài báo được đăng trên các tạp chí đã được công bố Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đề tài đã liệt kê được các nghiên cứu về loại hình du lịch có liên quan đến nông thôn và cộng đồng địa phương

Đề tài cấp bộ của Trường cao đẳng nghề du lịch Hải Phòng (2007) có đề cập đến du lịch nông thôn với đề tài: “Xây dựng mô hình du lịch nông thôn ven biển ở Việt Nam - Ví dụ ở Hải phòng”

Tác giả Lê Anh Tuấn (2010), giới thiệu một số kinh nghiệm phát triển du lịch nông thôn ở một số quốc gia Châu Âu và Châu Á, và đề xuất những kinh nghiệm phát triển du nông thôn ở Việt Nam Trong nghiên cứu “Du lịch nông

nghiệp và du lịch nông thôn”, tác giả Bùi Thị Lan Hương (2009), đã chỉ rõ

sự khác biệt giữa du lịch nông nghiệp và du lịch nông thôn

Trên đây là một số công trình nghiên cứu về loại hình du lịch nông thôn trên thế giới và Việt Nam Nội dung cơ bản liên quan đến du lịch nông thôn, một số mô hình du lịch nông thôn trên thế giới, tuy vậy các bài viết chưa mang tính hệ thống Đặc biệt đối với việc phát triển du lịch nông thôn ở Việt Nam, các nghiên cứu đã có vẫn chỉ mang tính định hướng mà chưa có những nghiên cứu cụ thể điển hình để đề xuất những mô hình cụ thể

Như vậy, việc triển khai một cách hệ thống về du lịch nông thôn, đồng thời nghiên cứu các trường hợp cụ thể để đưa ra các định hướng về mô hình phát triển áp dụng tại Việt Nam sẽ rất cần thiết và đảm bảo ý nghĩa khoa học

Trang 11

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

- Mục đích của đề tài: Đề xuất các giải pháp phát triển du lịch nông thôn

tại tỉnh Ninh Bình

- Nhiệm vụ của đề tài

 Hệ thống hoá cơ sở lý luận về du lịch nông thôn, đặc điểm và các tiêu chí xác định du lịch nông thôn

 Tổng kết kinh nghiệm phát triển du lịch nông thôn trên thế giới

 Phân tích tiềm năng phát triển du lịch nông thôn tại Ninh Bình

 Phân tích và đánh giá hiện trạng phát triển du lịch nông thôn tại Ninh Bình

 Đề xuất các giải pháp phát triển DL nông thôn tại Ninh Bình

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập và xử lý thông tin, số liệu

Mục đích của phương pháp này là dựa trên những tài liệu thu thập được về

loại hình du lịch đang nghiên cứu đưa ra những khái niệm chung nhất, những đặc điểm cũng như kinh nghiệm phát triển du lịch nông thôn trên thế giới và ở Việt Nam

Mặt khác, trên cơ sở thu thập các số liệu liên quan đến hoạt động du lịch

và hoạt động du lịch nông thôn tại Ninh Bình Nhằm đưa ra những nhận định

để đề xuất định hướng phát triển cho loại hình và dự đoán xu hướng phát triển của loại hình du lịch này tại Ninh Bình

- Phương pháp điền dã

Đây là phương pháp để nghiên cứu loại hình du lịch nông thôn nhằm góp phần làm cho kết quả nghiên cứu có tính xác thực Việc có mặt tại thực địa sẽ giúp cho tác giả đưa ra những giải pháp hợp lý và khả thi

Trong quá trình điền dã, tác giả có điều kiện đối chiếu, bổ sung nhiều thông tin cần thiết mà các phương pháp khác không cung cấp hoặc cung cấp chưa chính xác

- Phương pháp điều tra xã hội học

Trang 12

Tác giả thực hiện phương pháp này thông qua hệ thống các câu hỏi đối với

3 đối tượng là: khách du lịch, công ty du lịch và người dân địa phương Với mục đích là nắm bắt được nhu cầu, nguyện vọng của khách du lịch, người dân địa phương cũng như của các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành tại Ninh Bình

Đối với phiếu điều tra dành cho công ty lữ hành, đề tài xây dựng 20 câu

hỏi, tiến hành điều tra doanh nghiệp kinh doanh lữ hành trên địa bàn thành phố Ninh Bình Để hoàn thành được nội dung này, tác giả thực hiện trong 10 ngày (Từ 1/5 - 10/5/2011)

Đối với phiếu điều tra dành cho người dân địa phương, đề tài xây dựng 20

câu hỏi, tiến hành điều tra 50 gia đình tại 5 thôn (Phụ Long, Chi Lễ, Mai Trung, Trung Hoà, Tập Ninh) của xã Gia Vân, xã Gia Hoà (huyện Gia Viễn)

và xã Ninh Hải (huyện Hoa Lư) Nội dung này được thực hiện trong 15 ngày (Từ 11/5 – 25/5/2011)

Đối với phiếu điều tra dành cho khách du lịch, đề tài xây dựng 23 câu hỏi,

tiến hành điều tra khách du lịch tại điểm du lịch Tam Cốc – Bích Động và KBTTN đất ngập nước Vân Long của huyện Gia Viễn và Hoa Lư và các đối tượng khách khác Phiếu điều tra được thực hiện trong 10 ngày (Từ 26/5/2011 – 6/6/2011)

- Phương pháp dự báo

Với phương pháp này, tác giả dựa trên thực trạng phát triển du lịch nông thôn tại Ninh Bình để đưa ra những dự báo và đề xuất định hướng phát triển loại hình du lịch nông thôn phù hợp với Ninh Bình

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: Du lịch nông thôn

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Về nội dung: phát triển du lịch gắn với lĩnh vực nông nghiệp

+ Về thời gian: từ năm 2002 đến nay

+ Không gian nghiên cứu: Xã Gia Vân, Gia Hoà (huyện Gia Viễn), xã Ninh Hải (huyện Hoa Lư) tỉnh Ninh Bình

Trang 13

6 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về du lịch nông thôn

Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch nông thôn tại Ninh Bình

Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển loại hình du lịch nông

thôn tại Ninh Bình

Trang 14

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH NÔNG THÔN

1.1 Du lịch và các loại hình du lịch

1.1.1 Du lịch

Ngay từ buổi đầu của nền văn minh nhân loại, du lịch đã được biết đến như một hoạt động, một sở thích tích cực của con người Cùng với quá trình của lịch sử du lịch dần trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống văn hoá - xã hội của các nước Đến nửa đầu của thế kỷ 20 thì du lịch đã là một hiện tượng phổ biến Và theo dự báo trong thế kỷ 21 du lịch sẽ trở thành

1 trong 3 ngành hàng đầu trong nền kinh tế thế giới nói chung

Đứng trên quan điểm khác nhau nhiều học giả đã đưa ra định nghĩa về

du lịch Năm 1811, lần đầu tiên có định nghĩa về du lịch tại Anh như sau: “Du lịch là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của các cuộc hành trình với mục đích giải trí Ở đây sự giải trí là động cơ chính” [5,tr 3]

Theo Azar: “Du lịch là một trong những hình thức di chuyển tạm thời

từ vùng này sang vùng khác, từ một nước này sang một nước khác nếu không gắn với sự thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc” [15,tr.13]

Nhà kinh tế học Karlfiotis đã nêu như sau: “Du lịch là sự di chuyển của

cá nhân hay tập thể từ nơi ở đến một nơi khác nhằm thoả mãn nhu cầu tinh thần, đạo đức do đó tạo nên các hoạt động kinh tế” [15, tr 9]

Theo Jozep Stander - học giả người Thuỵ Sĩ thì cho rằng: “Du lịch là hiện tượng những người đi đến những nơi không phải nơi cư trú thường xuyên bằng phương tiện vận tải và các dịch vụ du lịch”.[12, tr 26]

Còn theo định nghĩa của Hunsiker và Krap thì “Du lịch là tập hợp các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không phải cư trú thường xuyên và không dính dáng đến hoạt động kỹ thuật, kinh tế và tổ chức liên quan đến các cuộc hành trình của con người và việc lưu trú của họ ngoài

Trang 15

nơi ở thường xuyên với nhiều mục đích khác nhau, loại trừ mục đích hành nghề, kiếm lời hoặc đến thăm có tính chất thường xuyên” [12, tr 26]

Đại hội lần thứ 5 của Hiệp hội quốc tế những nhà nghiên cứu khoa học

về du lịch đã chấp nhận định nghĩa này làm cơ sở cho môn khoa học du lịch, nhưng đặt vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện Tuy nhiên, định nghĩa đã tiến một bước về lý thuyết trong việc nghiên cứu nội dung của du lịch Định nghĩa này ngày nay vẫn được nhiều nhà kinh tế sử dụng để giải thích từng mặt và cả hiện tượng du lịch

Đối với Việt Nam, đất nước nhiều tiềm năng về du lịch thì du lịch được chính thức coi là một ngành kinh tế vào ngày 9/7/1960 theo nghị định 26 CP của hội đồng chính phủ quyết định thành lập công ty du lịch Việt Nam đầu tiên và trực thuộc Bộ Ngoại Thương Nhà nước đã đề ra những chiến lược nhằm phát triển du lịch lâu dài

Cũng có nhiều định nghĩa mà các học giả nghiên cứu về du lịch đưa ra : Theo Nguyễn Khắc Viện “Du lịch là mở rộng không gian văn hoá của con người”

Theo Trần Nhoãn “Du lịch là quá trình hoạt động của con người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên đến một nơi khác với mục đích chủ yếu là được thẩm nhận những sắc thái văn hóa và cảnh quan thiên nhiên vùng, miền khác với nơi cư trú thường xuyên” [12, tr 27]

Để có quan niệm đầy đủ cả về góc độ kinh tế và kinh doanh của du lịch, khoa Du lịch và Khách sạn (trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội) đã đưa

ra định nghĩa trên cơ sở tổng hợp những lý luận và thực tiễn của hoạt động trên thế giới và Việt Nam trong những thập niên gần đây: “Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hoá và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại, lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và nhu cầu khác của khách du lịch Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội thiết thực cho nước làm du lịch và cho bản thân doanh nghiệp” Trong Luật du lịch của Việt Nam thì thuật ngữ “Du lịch” được hiểu như sau: “Du

Trang 16

lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [9, tr 9]

Như vậy, du lịch là hoạt động có nhiều đặc thù, gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thế hết sức phức tạp Hoạt động du lịch vừa có đặc điểm của ngành kinh tế, lại có đặc điểm của ngành văn hoá - xã hội

Trên thực tế, hoạt động du lịch ở nhiều nước chẳng những đã đem lại lợi ích kinh tế mà còn cả lợi ích chính trị, văn hoá, xã hội Ở nhiều nước trên thế giới, ngành du lịch phát triển với tốc độ khá nhanh và trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân, nguồn thu nhập từ ngành du lịch chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng sản phẩm xã hội

Chính vì những lẽ trên, hội nghị du lịch thế giới họp tại Manila, Philippin (1980) đã ra tuyên bố Manila về du lịch, trong điều 2 ghi rõ

“ Trước ngưỡng cửa của thế kỷ 21 và trước triển vọng của những vấn đề đang đặt ra với nhân loại, đã đến lúc cần thiết và phải phân tích bản chất của

du lịch, chủ yếu đi sâu vào bề rộng mà du lịch đã đạt được kể từ khi người lao động được quyền nghỉ phép năm, đã chuyển hướng du lịch từ một phạm vi hẹp của thú vui sang phạm vi lớn của cuộc sống kinh tế và xã hội Phần đóng góp của du lịch vào nền kinh tế quốc dân và thương mại quốc tế đang làm cho

nó trở thành một luận cứ tốt cho sự phát triển của thế giới Vai trò thiết thực của Du lịch trong hoạt động kinh tế quốc dân, trong trao đổi quốc tế và trong

sự cân bằng cán cân thanh toán, đang đặt du lịch vào vị trí trong số các ngành

hoạt động kinh tế thế giới quan trọng nhất”

1.1.2 Xu hướng phát triển các loại hình du lịch

Xu thế phát triển du lịch trên thế giới hiện nay là hướng tới những khu vực có tiềm năng đặc sắc về mặt thiên nhiên và văn hoá Chính vì thế, những chương trình du lịch đại chúng theo những chương trình tham quan ngắm cảnh chung chung đang dần nhường chỗ cho loại hình du lịch chuyên biệt như

du lịch thiên nhiên

Trang 17

Theo nghiên cứu thì du lịch thiên nhiên từ khoảng năm 1990 đến nay, trong khi tốc độ tăng trưởng hằng năm của du lịch đại chúng trên toàn thế giới chỉ đạt 5% thì các loại hình du lịch gắn với thiên nhiên như du lịch mạo hiểm,

du lịch quan sát đời sống hoang dã, du lịch nông thôn… thường đạt mức trên 20%

Một số loại hình du lịch thiên nhiên tiêu biểu như: Du lịch sinh thái (DLST), quan điểm du lịch bền vững, du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái cộng đồng là những loại hình và quan điểm phát triển du lịch phổ biến hiện nay có gắn đến yếu tố thiên nhiên Những loại hình du lịch này không chỉ hướng đến hoạt động thăm quan, ngắm cảnh mà còn hướng đến bảo tồn các giá trị tự nhiên, văn hoá và mang lại lợi ích kinh tế cho cộng đồng dân cư địa phương Có thể tìm hiểu khái quát về các loại hình này qua nội dung dưới đây:

- DLST là khái niệm tương đối mới và đã nhanh chóng thu hút được sự quan tâm của nhiều người hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau từ những góc độ tiếp cận khác nhau Đối với một số người DLST chỉ đơn giản là sự ghép nối giữa hai khái niệm “du lịch” và “sinh thái” vốn đã quen thuộc Tuy nhiên, đứng ở góc nhìn rộng hơn, tổng quát hơn thì “DLST là một loại hình

du lịch thiên nhiên” Như vậy, với cách tiếp cận này, mọi hoạt động của du lịch có liên quan đến thiên nhiên như: tắm biển, leo núi đều được hiểu là DLST

- Du lịch bền vững: Du lịch bền vững được hiểu như sau“ Du lịch bền vững là sự đáp ứng được các nhu cầu hiện tại không làm tổn hại đến khả năng

đáp ứng nhu cầu về du lịch của tương lai"

Du lịch bền vững đòi hỏi phải quản lý tất cả các dạng tài nguyên theo cách nào đó để chúng ta có thể đáp ứng các nhu cầu kinh tế, xã hội và thẩm

mỹ trong khi vẫn duy trì được bản sắc văn hoá, các quá trình sinh thái cơ bản,

đa dạng sinh học và các hệ đảm bảo sự sống

- Du lịch cộng đồng: Theo tổ chức Quỹ bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (WWF):” Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch mà ở đó cộng đồng địa phương có sự kiểm soát và tham gia chủ yếu vào sự phát triển và quản lý hoạt

Trang 18

động du lịch đó; và phần lớn lợi nhuận thu được từ hoạt động du lịch được giữ cho cộng đồng”

Du lịch cộng đồng phải hiểu ý nghĩa của nó ở cả hai khía cạnh: Thứ nhất là khai thác được các giá trị văn hoá bản địa Thứ hai là tạo được công ăn việc làm, cải thiện thu nhập, nâng cao được đời sống của cộng đồng và có ý nghĩa lớn trong xoá đói giảm nghèo Để thành công được điều này, phải quan tâm đến lợi ích cộng đồng đầu tiên, từ đó phát huy giá trị của văn hoá bản địa

để phục vụ du khách

Du lịch cộng đồng đem lại lợi ích thiết thực đối với người dân thể hiện

ở chỗ: Trước hết, người dân có được nguồn thu trực tiếp từ các dịch vụ cung cấp cho khách và những nguồn thu này đôi khi lớn hơn rất nhiều so với sản xuất nông nghiệp Tiếp đến là những lợi ích từ việc phát triển cơ sở hạ tầng Ngoài ra, còn những lợi ích thiết thực khác như công ăn việc làm, giao lưu văn hoá và đặc biệt là ý thức xã hội về bảo tồn văn hoá được nâng cao

- Du lịch sinh thái cộng đồng: (DLSTCĐ) là sự kết hợp của du lịch cộng đồng và du lịch sinh thái DLSTCĐ do cộng đồng tổ chức dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa với mục tiêu bảo vệ môi trường DLSTCĐ đề cao việc làm chủ, chú ý phân bổ lợi ích cộng đồng rộng rãi và nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng Với khách du lịch, DLSTCĐ tạo cơ hội tìm hiểu, nâng cao nhận thức về môi trường, về văn hoá địa phương cho du khách

So sánh với du lịch đại chúng thường được tổ chức với nhóm đông vì mục đích giải trí, nghỉ dưỡng DLSTCĐ tổ chức theo nhóm nhỏ, gồm những người yêu thích thiên nhiên đi du lịch để tìm hiểu môi trường hoặc trải nghiệm cuộc sống Du lịch đại trà và DLSTCĐ đều nhằm mục tiêu phát triển kinh tế, tuy nhiên DLSTCĐ chú trọng hơn tới việc bảo vệ môi trường và phát triển mọi mặt cho cộng đồng

DLSTCĐ mang nhiều lợi ích cho môi trường và cộng đồng dân cư địa phương

Trang 19

Tạo cơ hội việc làm và gia tăng thu nhập từ các dịch vụ như: lưu trú tại gia đình, hướng dẫn diễn giải về môi trường, biểu diễn văn nghệ hoặc cung cấp dịch vụ ăn uống và phương tiện vận chuyển

Góp phần bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học: Đóng góp vào việc hạn chế chặt phá rừng, săn bắt thú hoang và khai thác thuỷ sản quá mức Đồng thời giúp cộng đồng nhận thấy trách nhiệm và lợi ích của việc bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế địa phương Hơn thế nữa, DLSTCĐ giáo dục môi trường cho cộng đồng và du khách thông qua các hoạt động du lịch : diễn giải môi trường, trồng cây, thu gom rác đồng thời đóng góp kinh phí cho công tác bảo vệ môi trường

Bảo tồn các giá trị văn hoá: Giúp nâng cao lòng tự hào của người dân

về đặc trưng văn hoá của địa phương Nhằm khôi phục và giữ gìn các trò chơi dân gian, lễ hội truyền thống, sinh hoạt văn hoá cộng đồng Giúp cộng đồng nhận thấy trách nhiệm và lợi ích của việc bảo tồn các giá trị văn hoá với phát triển kinh tế địa phương

Như vậy, có thể nói với xu thế hiện nay bên cạnh các loại hình du lịch đại chúng thì phát triển những loại hình du lịch mới, hướng đến môi trường và lợi ích của dân cư địa phương, và du lịch nông thôn là một ví dụ

1.2 Du lịch nông thôn

1.2.1 Khái niệm và các loại hình của du lịch nông thôn

1.2.1.1 Khái niệm về du lịch nông thôn

Trong những năm gần đây, trong xu hướng đa dạng hóa các loại hình

du lịch, du lịch nông thôn được quan tâm phát triển Xem xét khái niệm du lịch nông thôn, có nhiều quan điểm khác nhau

Theo quan điểm của các nhà quy hoạch Châu Âu, vùng nông thôn được hiểu là những khu vực được xác định dưới 2000 dân (đôi khi dưới 5000 dân)

có tính đến các hoạt động kinh tế và trắc diện của dân cư liên quan

Theo họ, không gian nông thôn là những khu vực đang trong tình trạng trì trệ hoặc suy thoái về mặt dân số hoặc kinh tế, không kể miền núi hay đồng bằng, trong khu vực còn tự nhiên hay ở vùng nông nghiệp

Trang 20

Ở Việt Nam, vùng nông thôn được quan niệm là những khu vực được

cư trú theo làng xã, với hoạt động kinh tế chính là nông nghiệp, ngư nghiệp hoặc thủ công nghiệp, kết cấu hạ tầng còn hạn chế và vẫn duy trì lối sống nông thôn

Trong thực tế, qua quá trình phát triển, du lịch nông thôn (rural tourism)

có nhiều cách gọi khác nhau, phụ thuộc vào cách hiểu và cách thức thể hiện theo nội dung chủ yếu của hoạt động du lịch nông thôn được tổ chức, cụ thể:

- Tại các quốc gia Châu Âu: Rural tourism

- Tại Úc: Farmtourism

- Tại Đài Loan: Agro-tourism/Leisure Farm

- Tại Mỹ: Agritourism

- Tại Anh: Greentourism

Tuy cách gọi có khác nhau nhưng nội dung chủ yếu của hoạt động du lịch trong loại hình du lịch nông thôn đều hướng về những vùng đất có khí hậu trong lành, có hoạt động sản xuất của con người nhằm mục đích trải nghiệm những giá trị tự nhiên và văn hoá địa phương

Khái niệm du lịch nông thôn đã xuất hiện cùng với sự hình thành của ngành đường sắt ở châu Âu Tuy nhiên, cho đến những năm đầu của thập niên

80 thế kỷ XX, du lịch nông thôn mới được xem là một loại hình du lịch và phổ biến ở hầu hết các quốc gia ở châu Âu như Pháp, Hung-ga-ri, Bun-ga-ri,

Hà Lan, Đan Mạch, Thụy Điển Lúc bấy giờ, khái niệm du lịch nông thôn được quan niệm tương đồng với các loại hình du lịch ở nông trại, du lịch di

sản, du lịch xanh, du lịch nhà nghỉ ở nông thôn

Trên thế giới có nhiều định nghĩa về du lịch nông thôn Theo Ramiro Lobo - chuyên gia cố vấn trang trại thì “Du lịch nông thôn là hoạt động giải trí có liên quan đến việc tới thăm quan những nơi có khung cảnh làng quê hay môi trường nông thôn vì mục đích tham gia hoặc trải nghiệm các hoạt động,

sự kiện hoặc các điểm thu hút mà không sẵn có ở các vùng đô thị hoá Những hoạt động này không cần thiết phải diễn ra ở vùng nông nghiệp tự nhiên

Trang 21

Theo học giả Lee Seong-Woo Đại học Quốc gia Seoul, thì “du lịch

nông thôn là sự kết hợp của các sản phẩm nông nghiệp, sản phẩm sinh thái và sản phẩm văn hoá mà chúng bao hàm các chức năng khác nhau như kinh tế,

xã hội, giáo dục, môi trường, giải trí, chữa bệnh”

Tại Úc, thuật ngữ này là Farmtourism và được định nghĩa là: “là sự di chuyển của con người đến các nông trại thưởng thức không gian nông thôn nhằm mục đích nghỉ ngơi, giải trí và các hoạt động kinh doanh”

Theo Ngô Kiều Oanh (2008) thì du lịch nông thôn “là bất kỳ hoạt động

du lịch nào nhằm giới thiệu cuộc sống, văn hoá, nghệ thuật và các di sản của vùng quê, nhờ đó mang lại lợi ích kinh tế - xã hội cho cộng đồng địa phương, đồng thời làm tăng sự tiếp xúc, giao lưu giữa khách du lịch với người dân bản địa thông qua các hoạt động du lịch đa dạng Du lịch nông thôn về cơ bản là những hoạt động diễn ra ở các làng quê Đây là hoạt động rộng lớn, có thể bao gồm cả du lịch nông nghiệp, du lịch văn hoá, du lịch thiên nhiên, du lịch mạo hiểm và du lịch sinh thái”

Hay có học giả định nghĩa “Du lịch nông thôn là loại hình du lịch dựa vào các giá trị thiên nhiên và văn hoá vùng nông thôn nhằm thoả mãn nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí, nghỉ dưỡng phục hồi sức khoẻ và tìm hiểu tập quán văn hoá làng quê, mang lại những lợi ích cho cộng đồng địa phương và đóng góp

cho việc bảo tồn các di sản”

Ngoài ra, xem xét mối quan hệ giữa du lịch và hoạt động sản xuất nông nghiệp, du lịch nông thôn còn được quan niệm “Là hình thức du lịch mà tận dụng văn hoá nông thôn như là một điểm du lịch Nó tương tự như du lịch sinh thái ngoại trừ hấp dẫn chính của nó không phải là cảnh quan thiên nhiên

mà là văn hóa Agrotourism thúc đẩy phát triển khu vực để đảm bảo rằng nó cũng giúp bảo tồn đa dạng và giúp cho người dân hiểu được giá trị về sinh thái và văn hoá cần được bảo vệ”

Trong thực tế có sự khác biệt trong quan niệm về loại hình du lịch nông

thôn, thông qua cách gọi, thông qua quan niệm Tại các quốc gia đang phát

triển, người ta xem du lịch nông thôn là cách thức để đa dạng hóa thu nhập từ

Trang 22

nông nghiệp, góp phần chống đói nghèo, phát huy sức mạnh nội lực của cộng đồng, bảo tồn các giá trị bản sắc văn hóa truyền thống và bảo vệ môi trường

Vì vậy, du lịch nông thôn ở các nước này phát triển theo chiều rộng

Ở các quốc gia phát triển thì loại hình du lịch này lại phát triển theo

chiều sâu mà nguyên nhân chính là do các khu vực nông thôn ngày càng bị thu hẹp lại

Như vậy, ta có thể thấy rằng, tuy đứng trên những hướng nghiên cứu khác nhau, nhưng định nghĩa về du lịch nông thôn của các học giả đều có điểm chung về không gian đó chính là vùng nông thôn gắn với hoạt động sản xuất của con người

Vậy, trong phạm vi luận văn này, chúng ta có thể đưa ra khái niệm về

du lịch nông thôn như sau: “ Du lịch nông thôn là loại hình du lịch mang đến

sự trải nghiệm cho du khách về các phương thức sản xuất, sinh hoạt của người dân địa phương có ý nghĩa bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống đồng thời mang lại lợi ích kinh tế cho cộng đồng dân cư tại các khu vực nông thôn”

1.2.1.2 Biểu hiện và các nguyên tắc phát triển du lịch nông thôn

Du lịch nông thôn được biểu hiện thông qua các hình thức sau đây

- Hình thức thứ nhất là du lịch tự nhiên Du khách khi tham gia vào

loại hình du lịch này là trở về những khu vực tự nhiên như những vùng quê, vùng núi, biển nhằm mục đích nghỉ ngơi, tái phục hồi sức lao động

- Thứ hai là du lịch văn hoá, quan tâm tới văn hoá, lịch sử và khảo cổ

của địa phương Hình thức này của du lịch nông thôn là du khách tham gia vào các hoạt động văn hoá, lễ hội, thậm chí là các hoạt động liên quan tới lịch

sử hay khảo cổ của địa phương nơi khách tới

- Thứ ba là du lịch sinh thái quan tâm tới việc bảo vệ nguồn lợi tự

nhiên cũng như phúc lợi, giá trị văn hoá của người dân địa phương Hình thức này coi trọng vấn đề bảo vệ nguồn lợi tự nhiên, coi trọng những nét văn hoá của người dân địa phương

Trang 23

- Một hình thức của du lịch nông thôn nữa đó là du lịch làng xã, trong

đó du khách chia sẻ với cuộc sống làng xã và dân làng được hưởng các lợi ích kinh tế do các hoạt động du lịch mang lại Hình thức này đã đánh giá cao vai trò của người dân bản địa cũng như lợi ích của họ khi tham gia vào loại hình

du lịch nông thôn

- Hình thức cuối của du lịch nông thôn là du lịch nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp, trong đó khách du lịch tham quan và tham gia vào các hoạt động sản xuất của người dân địa phương

Với các hình thức của du lịch nông thôn như đã nêu ở trên, ta có thể tổng kết lại rằng dù với hình thức nào thì du lịch nông thôn cũng hướng đến mục tiêu là mang giá trị tự nhiên và văn hoá của nông thôn đến với mọi người nhằm bảo tồn các giá trị truyền thống Hơn thế nữa, đề cao các giá trị truyền thống giúp người dân địa phương nâng cao được mức sống của mình

Việc phát triển du lịch nông thôn cần phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

Thứ nhất, bảo đảm tính công bằng cho các chủ thể tham gia Phải đảm

bảo tính công bằng cho tất cả mọi người dân đã tham gia nhằm tạo lòng tin của người dân Có như thế thì mới có sự kết hợp bền chặt với người dân và như thế mới có được sự phát triển lâu dài

Thứ hai, đem lại lợi ích cho người dân địa phương và phát huy nội lực

ở từng địa phương Đây là tiêu chí khá quan trọng bởi chỉ khi có lợi ích thì người dân cũng như chính quyền địa phương mới tham gia vào loại hình du lịch nông thôn Và khi người dân nhận thức được quyền lợi của họ quan trọng như thế nào thì khi đó họ mới nỗ lực hết mình cùng địa phương phát triển loại hình du lịch này

Thứ ba, bảo tồn phát huy vốn di sản và bảo vệ môi trường Không chỉ

loại hình du lịch nông thôn mà tất cả các loại hình du lịch khác đều phải bảo tồn di sản và bảo vệ môi trường bởi chúng ta khai thác, phát triển không chỉ cho hiện tại mà cho tương lai, cho thế hệ mai sau đảm bảo cho phát triển bền vững

Trang 24

Thứ tư, luôn đổi mới và tạo sự khác biệt và tăng cường mối liên kết

theo chiều dọc và chiều ngang để làm phong phú thêm sản phẩm Bởi nếu chúng ta không biết đổi mới thì sẽ tạo sự nhàm chán cho du khách khi quay trở lại Và phải tạo nên sự khác biệt với các điểm du lịch khác để tạo nên sự tò

mò, hấp dẫn đối với du khách

Thứ năm, giữ gìn bản sắc, xây dựng hình ảnh trong lòng du khách Đây

là nguyên tắc cuối cùng nhưng cũng là nguyên tắc quan trọng nhất Bởi du lịch nông thôn gắn liền với sự tìm hiểu bản sắc địa phương nơi khách đến, nếu không biết giữ gìn thì không thể phát triển được loại hình du lịch này

1.2.2 Đặc điểm và các tiêu chí xác định du lịch nông thôn

Đặc điểm của du lịch nông thôn có thể xác định như sau:

Chủ thể tham gia: bao gồm đối tượng trực tiếp và gián tiếp Đối tượng

trực tiếp là khách du lịch và người dân địa phương Đối tượng gián tiếp là các doanh nghiệp lữ hành và các cấp quản lý

Đối với khách du lịch nông thôn có thể chia ra 2 nguồn khách chính: Nguồn khách du lịch quốc tế đến Việt Nam: Khả năng di chuyển dễ dàng đã làm gia tăng lượng khách du lịch ngoại quốc đến các nước trên thế giới Ngoài nhu cầu tìm hiểu lịch sử văn hóa đất nước viếng thăm, nhu cầu tìm hiểu thiên nhiên và con người và vùng nông thôn của nước đó

Nguồn khách du lịch từ các trung tâm đô thị: Đối với người dân trong nước, cuộc sống công nghiệp và hiện đại đã làm nảy sinh nhu cầu tham quan,

du lịch, giải trí hướng về vùng nông thôn của họ Chính vì thế các trung tâm

đô thị là nơi phát sinh khách du lịch nông thôn chủ yếu

Đặc biệt, các nhu cầu thư giãn, gần gũi thiên nhiên, hoạt động ngoài trời, khám phá kho tàng văn hóa nghệ thuật dân gian, thưởng thức ẩm thực dân gian, các món ăn cổ truyền, tìm hiểu các lễ hội truyền thống, các sản vật địa phương phải một cách thực tế chứ không qua tái tạo, tái hiện

Nguồn khách du lịch nông thôn bổ sung: ở những vùng nông thôn có điểm đến du lịch nông thôn nổi tiếng như thắng cảnh, khu bảo tồn, đền tưởng niệm, di tích lịch sử văn hóa, di sản thiên nhiên, văn hóa thế giới, đền đài,

Trang 25

lăng tẩm, lễ hội mang tính vùng miền thì người dân cư ngụ tại chỗ là nguồn khách bổ sung cho du lịch nông thôn

Như vậy, khách du lịch nông thôn chủ yếu là khách ngoại quốc, người dân sống ở trung tâm đô thị và các đối tượng có nhu cầu tiếp cận nông thôn trực tiếp nhằm thỏa mãn các nhu cầu du lịch ở nông thôn và có tiêu dùng ở nơi đến như đã trình bày ở phần trên Phần lớn họ là giới trẻ, có sức khỏe, thích thể hiện bản thân, thích thử sức, tìm tòi, khám phá, học hỏi Các nhóm đối tượng học sinh, sinh viên, công chức thành thị thuộc phần lớn trong nhóm này

Còn người dân địa phương đóng vai trò là người hướng dẫn khách du lịch các hoạt động và có vai trò quan trọng để hoạt động diễn ra thuận lợi

Đối tượng gián tiếp là các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành, các cấp quản lý về du lịch ở tỉnh/thành phố Đây là đối tượng đưa ra chương trình du lịch nông thôn đến với du khách, và các chính sách quản lý cũng như định hướng cho phát triển loại hình này tại các địa phương

Đối tượng tham quan: là cảnh quan thôn xóm, phong tục tập quán và hoạt động canh tác sản xuất Trong ba nhân tố này thì cả 3 đều có ý nghĩa quyết định đến thành công chương trình du lịch nông thôn

Hoạt động: Có thể xác định được cần phải đáp ứng các nhu cầu dưới đây của du khách

 Nhu cầu thư giãn, gần gũi thiên nhiên, hoạt động ngoài trời

 Nhu cầu khám phá kho tàng văn hóa nghệ thuật dân gian

 Nhu cầu thưởng thức ẩm thực dân gian, các món ăn cổ truyền,

 Nhu cầu tìm hiểu các lễ hội truyền thống, các sản vật địa phương…

 Nhu cầu tìm hiểu đời sống cư dân nông thôn

 Nhu cầu trãi nghiệm thực tế

 Nhu cầu nghiên cứu, học tập

 Nhu cầu thăm viếng gắn liền với địa danh, sự kiện, nhân vật

Không gian hoạt động du lịch: phạm vi là các vùng nông thôn

Trang 26

Tiêu chí xác định Du lịch nông thôn:

Thứ nhất, du lịch nông thôn phải được tổ chức trong phạm vi là các

vùng nông thôn Vùng nông thôn bao gồm các vùng nông thôn thuần tuý trồng trọt cây lương thực, hoa mầu, trồng cây ăn quả hoặc chăn nuôi gia súc, gia cầm hoặc thuỷ cầm; các vùng quê ven biển bao gồm các làng ngư dân sống bằng nghề nuôi trồng thuỷ sản hoặc đánh bắt khai thác thuỷ hải sản Các vùng quê miền núi và trung du với các hoạt động trồng tỉa theo phương pháp canh tác truyền thống, trồng cây công nghiệp, trồng rừng gắn với cảnh quan nông thôn miền núi và trung du

Thứ hai, du lịch nông thôn được tổ chức gắn liền với việc du khách trực

tiếp tham gia trải nghiệm các hoạt động ở vùng nông thôn Du khách tham gia vào các hoạt động sản xuất hàng ngày của người dân địa phương và trải nghiệm những cách thức trồng trọt, thu hái và đánh bắt tại những vùng nông thôn Thông qua các hoạt động này, khách du lịch nâng cao được nhận thức và kinh nghiệm của mình đối với các hoạt động sản xuất nông, lâm và ngư nghiệp, các nghề thủ công truyền thống Trong du lịch nông thôn, việc trực tiếp tham gia vào các hoạt động cùng với người dân địa phương là một tiêu thức để đánh giá và xác định loại hình du lịch nông thôn

Thứ ba, du lịch nông thôn được tổ chức trên cơ sở khách du lịch tiêu

dùng các sản phẩm và dịch vụ chủ yếu do chính những người dân địa phương cung cấp Chủ thể cung cấp các dịch vụ cho hoạt động du lịch này là hộ gia đình nông thôn và cá nhân các nông dân trực tiếp tham gia Người dân địa phương sẽ là chủ thể rất quan trọng trong việc cung cấp các sản phẩm và dịch

vụ Những sản phẩm và dịch vụ này phải do chính những người nông dân sản xuất ra hoặc được sản xuất ra tại các địa phương có tổ chức hoạt động du lịch nông thôn

Thứ tư, du lịch nông thôn được tổ chức trên cơ sở có sự giao hữu giữa

khách du lịch với người dân địa phương Trong quá trình tham gia hoạt động

du lịch nông thôn, thông qua các hoạt động văn hoá lễ hội, sinh hoạt trong môi trường nông thôn với các loại hình nhà nghỉ, nhà hàng ăn uống do các hộ

Trang 27

nông dân kinh doanh, tham gia cùng các thành viên của hộ gia đình trong các hoạt động trồng trọt chăn nuôi, hoặc các hoạt động khác, khách du lịch và người dân địa phương có thời gian cùng làm việc, học hỏi và có điều kiện để tiếp xúc, giao lưu

Thứ năm, du lịch nông thôn được tổ chức trên cơ sở khách du lịch sử

dụng các điều kiện địa hình và cảnh quan nông thôn để thực hiện các hoạt động tham quan, giải trí thuần tuý Ngoài những hoạt động tham gia với người dân địa phương, khách du lịch cũng có những hoạt động giải trí thưởng ngoạn cho riêng mình như các hoạt động thư giãn, tản bộ chiêm ngưỡng cảnh quan thôn xóm, làng mạc, cảnh quan nông thôn, lâm, ngư nghiệp, tổ chức các hoạt động cắm trại, câu cá và các loại hình thể thao phù hợp khác

1.3 Các điều kiện để phát triển du lịch nông thôn

1.3.1 Tài nguyên du lịch nông thôn

Hoạt động du lịch nông thôn được hình thành và phát triển gắn với các tài nguyên, đây là điều kiện kiên quyết để tạo nên sức hấp dẫn đối với du khách Nguồn tài nguyên này được chia thành 3 nhóm:

Cảnh quan: cảnh quan thôn xóm gắn với thiên nhiên, bao gồm các yếu

tố nhân văn như kiến trúc, kết cấu, các yếu tố đặc trưng của thôn xóm, cùng với các yêu tố tự nhiên sẵn có, các sản phẩm nội tại của hoạt động sản xuất, canh tác của người dân

Có thể chia thành 3 dạng cảnh quan là cảnh quan nông nghiệp, cảnh quan ngư nghiệp, cảnh quan lâm nghiệp

Dạng cảnh quan nông nghiệp: là đồng lúa, cánh đồng hoa màu hay trang trại chăn nuôi gia cầm, gia súc Bên cạnh đó có thể kể đến cảnh quan làng xã với hình ảnh quen thuộc như cây đa, giếng nước, sân đình…với lối kiến trúc truyền thống

Cảnh quan ngư nghiệp: là làng chài, với công cụ đi biển là: thuyền, ghe, lưới… hoặc các trang trại nuôi trồng hải sản như: tôm, cua, cá…

Cảnh quan lâm nghiệp: là cảnh quan rừng, tại các vườn quốc gia, khu

dự trữ sinh quyển nằm tại một vùng nông thôn nào đó Nguồn tài nguyên tự

Trang 28

nhiên ở đây rất phong phú như: các loài động thực vật quý hiếm, các loài đặc hữu…Đây là những yếu tố thu hút du khách

Phong tục tập quán: có thể gọi nhóm tài nguyên này là tài nguyên nhân

văn Bao gồm các lễ hội, phương thức và không gian sống, đặc điểm sinh hoạt, văn hoá ẩm thực của vùng nông thôn sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp hay lâm nghiệp… Đối với nhóm tài nguyên này dường như được bảo tồn trong các gia đình nông dân và có giá trị thu hút mạnh mẽ đối với khách du lịch

Hoạt động canh tác, thu hoạch: là cách thức trồng cấy, thu hái hay cách

thức chăm sóc và chăn nuôi gia cầm, gia súc; hoạt động nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản; hoạt động tại các vùng nông thôn mà hoạt động sản xuất nông nghiệp là chủ yếu Vùng hoạt động sản xuất lâm nghiệp thì hoạt động chính ở đây là cách thức bắt các nguồn lợi từ biển hoặc cách thức chăn nuôi thuỷ hải sản Đối với vùng nông thôn mà hoạt động ngư nghiệp chiếm ưu thế thì tài nguyên của hoạt động sản xuất chính là cách thức chăm sóc và khai thác tài nguyên rừng sao cho phù hợp mà không làm tổn hại đến môi trường

tự nhiên

Các hoạt động này có giá trị cho việc tạo cho du khách có được sự trải nghiệm, thoả mãn nhu cầu hiểu biết và tò mò của du khách trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất tại các làng quê

1.3.2 Cộng đồng dân cư

Theo Clanrence Shubert “Sự tham gia của cộng đồng là quá trình trong

đó các nhóm dân cư của cộng đồng tác động vào quá trình quy hoạch, thực hiện, quản lý sử dụng hoặc duy trì một dịch vụ, trang thiết bị hay phạm vi hoạt động Các hoạt động cá nhân không có tổ chức sẽ không được coi là sự tham gia của cộng đồng

Người dân có quyền tham gia vào việc ra quyết định, vì kết quả của các quyết định trong cộng đồng sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của họ Sự tham gia của cộng đồng làm tăng sức mạnh người dân Đó chính là sức mạnh lớn mà

Trang 29

họ tổng hợp được qua thời gian và không có sức mạnh nào có thể thắng được,

đó là sự đồng lòng, đồng sức, đoàn kết để cùng thực hiện, cùng gánh chịu, cùng hưởng quyền lợi Khi làm việc cùng nhau sẽ tăng tính tự tin và khả năng

để vượt qua mọi khó khăn trong cộng đồng và cùng gắng sức xây dựng mục tiêu chung

Đặc biệt, sự tham gia của cộng đồng đảm bảo thu được những kết quả của các hoạt động tốt hơn, vì chính người dân biết rõ nhất là họ cần gì, những khả năng của họ và có thể dùng các nguồn lực riêng cho các hoạt động của cộng đồng Những quyết định của họ rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của họ Hơn nữa, sự tham gia của cộng đồng trong các hoạt động là chức năng cao nhất, thể hiện cam kết của người dân địa phương và tăng tính hiệu quả của các công việc như:

- Sự tham gia của nhiều người được hưởng lợi, giúp đảm bảo cho công việc sẽ đạt được mục tiêu đề ra

- Tăng tính hiệu quả của các công việc thông qua việc trao đổi ý kiến với những người được hưởng lợi trong suốt quá trình lập kế hoạch, cũng như

sự tham gia của họ trong công tác quản lý, thực hiện và điều hành các công việc

- Đảm bảo cho những người tham gia chủ động dành hết tâm chí vào việc quy hoạch và thực hiện các công việc

- Hơn nữa, sự tham gia của cộng đồng đã xóa bỏ chủ nghĩa cá nhân, giúp cộng đồng phát triển cân bằng, đoàn kết giúp đỡ nhau cùng phát triển Đối với hoạt động du lịch thì vai trò của cộng đồng còn có ý nghĩa hơn

“Du lịch dựa vào cộng đồng” hay “du lịch cộng đồng” là khái niệm được rất nhiều người quan tâm Đây là định nghĩa đề cao vai trò trách nhiệm của cộng đồng vào du lịch cộng đồng chính là mục tiêu của sự phát triển bền vững nhằm đề cao sự tham gia của cộng đồng địa phương và hướng tới lợi ích của cộng đồng, phát triển kinh tế, xã hội của một đất nước, đối với loại hình

du lịch nông thôn, việc tham gia của cộng đồng đóng vai trò quan trọng, vì họ

Trang 30

đóng vai trò là nguời trực tiếp tham gia vào các hoạt động cung cấp các dịch

vụ du lịch tại đây

1.3.3 Cơ sở vật chất kỹ thuật và cơ sở hạ tầng

Các điều kiện về kỹ thuật ảnh hưởng đến sự sẵn sàng đón tiếp khách du lịch trước tiên là các vấn đề trang bị tiện nghi ở nơi du lịch, việc xây dựng và duy trì cơ sở vật chất kỹ thuật cần thiết… Đó là cơ sở vật chất kỹ thuật của tổ chức du lịch và cơ sở hạ tầng

Cơ sở vật chất kỹ thuật bao gồm toàn bộ nhà cửa và phương tiện kỹ thuật để thoả mãn nhu cầu thường ngày của khách du lịch như: khách sạn, tiệm ăn, phương tiện giao thông, các khu nhà giải trí, cửa hàng, công viên, đường sá trong khu du lịch, hệ thống thoát nước, mạng lưới điện… Cơ sở vật chất kỹ thuật còn gồm tất cả những công trình mà tổ chức du lịch xây dựng bằng vốn đầu tư của mình

Cơ sở hạ tầng là những phương tiện vật chất không phải do tổ chức du lịch xây dựng nên mà là của xã hội Đó là hệ thống đường sá, nhà ga, sân bay, bến cảng, đường sắt, công viên Cơ sở hạ tầng được xây dựng để phục vụ nhân dân địa phương, phục vụ khách du lịch đến thăm điểm du lịch Đây là cơ

sở có tầm quan trọng đặc biệt, nó quyết định chất lượng phục vụ du lịch

Cũng như du lịch thuần tuý thì cơ sở hạ tầng đóng vai trò quyết định đến sự phát triển của du lịch nông thôn, vì nó liên quan đến sự sẵn sàng đón tiếp du khách của điểm du lịch

Để phục vụ tốt mục đích kinh doanh, cơ sở vật chất - kỹ thuật đều phải đáp ứng được những nhu cầu nhất định Với đặc trưng này, hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phải đáp ứng các yêu cầu cơ bản về mức độ tiện nghi, thẩm mỹ,

vệ sinh và mức độ an toàn Tuy nhiên, do đặc thù của du lịch nông thôn, yêu cầu cơ sở vật chất kỹ thuật và hạ tầng của du khách có khác biệt so với loại hình du lịch khác

Yêu cầu về lưu trú: Có thể xác định 2 hình thức lưu trú cơ bản của du

khách: tại khách sạn và tại nhà dân (homestay) Nếu lưu trú tại khách sạn, du khách sẽ không quá bận tâm về các dịch vụ tối thiểu như ăn, ở Còn nếu ở tại

Trang 31

nhà dân cũng cần phải có các tiêu chí lựa chọn khi đưa du khách ngủ lại Theo nghiên cứu cho thấy, đối tượng khách quốc tế tham gia du lịch nông thôn hầu như không ngủ nhà dân, mà chỉ ghé thăm quan Lý do đơn giản là mức độ vệ sinh của các hộ gia đình còn kém Đây cũng là một hạn chế khiến cho sản phẩm du lịch nông thôn ở Việt Nam chưa có sức hấp dẫn du khách

Yêu cầu về ăn uống: Khi tham gia du lịch nông thôn du khách có nhu

cầu được thưởng thức ẩm thực đặc trưng của vùng/miền, đây cũng là nhân tố thu hút và hấp dẫn du khách

Yêu cầu về vận chuyển: Du khách sẽ thích thú được trải nghiệm trên

những phương tiện vận chuyển hàng ngày mà người dân địa phương sử dụng

Có thể liệt kê các phương tiện vận chuyển tại các vùng quê là: xe bò, xe trâu, thuyền, ghe, …Đây cũng có thể coi như một nguồn tài nguyên hấp dẫn du khách tham gia vào loại hình du lịch nông thôn

Về cung ứng các dịch vụ khác: Nói chung du khách tham gia loại hình

du lịch này không có yêu cầu nhiều về dịch vụ bổ sung Lý do là bởi, hầu hết các đối tượng khi đã tham gia vào loại hình này đều đặt lợi ích của bản thân

mình sau những tài nguyên tự nhiên và giá trị văn hoá bản địa

1.3.4 Các chủ trương, chính sách

Một khu vực có tài nguyên du lịch phong phú, mức sống của người dân không thấp nhưng chính quyền địa phương không có những chủ trương chính sách hỗ trợ thì các hoạt động du lịch cũng không thể phát triển được

Hoạt động của du lịch nông thôn cũng vậy Một vùng quê vẫn còn giữ được những nét truyền thống cả về cảnh quan và văn hoá truyền thống, nếu được sự quan tâm của các cấp chính quyền và hiểu đúng đắn giá trị để bảo tồn

sẽ là điều kiện tốt để phát triển hoạt động du lịch Còn ngược lại, nếu không

có được những quan tâm và đầu tư cũng như định hướng phát triển thì không thể phát triển được

Khi các cấp quản lý đưa ra các chủ trương, chính sách phát triển loại hình du lịch nông thôn cần phải nghiên cứu các mục tiêu chung và mục tiêu

cụ thể

Trang 32

Mục tiêu chung: nhằm xác định rõ nhiệm vụ của các cơ quan quản lý

nhà nước về du lịch ở Trung ương và địa phương, của các doanh nghiệp du lịch nhằm tận dụng thế mạnh, cơ hội đưa hoạt động du lịch nông thôn đạt các chỉ tiêu đã đề ra

Đối với mục tiêu cụ thể cần phải xác định được:

- Lượng khách tham gia du lịch nông thôn theo tháng, quý, năm

- Thu nhập từ hoạt động du lịch nông thôn đạt bao nhiêu?

- Phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch nông thôn: điều tra, lập quy hoạch và đầu tư xây dựng; nâng cấp các tuyến điểm du lịch quốc gia và quốc

tế, các khu du lịch có ý nghĩa vùng và địa phương; đầu tư xây mới và nâng cấp hệ thống khách sạn, đáp ứng nhu cầu lưu trú của khách

- Xây dựng và thực hiện chiến lược xúc tiến du lịch nông thôn

Một khu vực có tài nguyên du lịch phong phú, mức sống của người dân không thấp nhưng chính quyền địa phương không có những chủ trương chính sách hỗ trợ thì các hoạt động du lịch cũng không thể phát triển được

Hoạt động của du lịch nông thôn cũng vậy Một vùng quê vẫn còn giữ được những nét truyền thống cả về cảnh quan và văn hoá truyền thống, nếu được sự quan tâm của các cấp chính quyền và hiểu đúng đắn giá trị để bảo tồn

sẽ là điều kiện tốt để phát triển hoạt động du lịch Còn ngược lại, nếu không

có được những quan tâm và đầu tư cũng như định hướng phát triển thì không thể phát triển được

1.4 Sự phát triển của du lịch nông thôn trên thế giới và Việt Nam

1.4.1 Trên thế giới

Du lịch nông thôn đã được quan tâm và phát triển mạnh ở nhiều nước Châu Âu từ những năm 30 của thế kỷ trước Một số quốc gia ở Châu Âu như Anh, Đức, Pháp và Ý đã có nhiều kinh nghiệm và được coi là những nước tiên tiến trong việc phát triển loại hình du lịch này

Hãy xem xét loại hình du lịch nông thôn tại các quốc gia trên thế giới

để tổng kết quá trình phát triển loại hình du lịch này trên thế giới

Trang 33

Du lịch nông thôn tại Pháp

Theo quan điểm của các nhà kinh doanh du lịch nông thôn của Pháp, du lịch nông thôn không chỉ có ý nghĩa là việc đi nghỉ tại các nhà nghỉ gia đình ở các vùng nông thôn Ngay cả việc nghỉ tại các khách sạn tại các vùng nông thôn và tham gia các hoạt động liên quan đến các hoạt động canh tác… cũng

là yếu tố thuộc du lịch nông thôn

Trong số 50.000 nhà nghỉ và khách sạn tại các vùng nông thôn, nhà nghỉ gia đình chỉ chiếm khoảng 40% Đồng thời có một đặc điểm là không phải tất cả các chủ khách sạn hoặc nhà nghỉ gia đình đều là các nông gia và đều có kinh nghiệm làm nông nghiệp Các nhà nghỉ gia đình bao gồm nhà nghỉ, nàh nghỉ kèm dịch vụ cưỡi ngựa, nhà nghỉ thông thường

Nhà nghỉ gia đình còn lưu trữ rất nhiều những kỷ vật thể hiện truyền thống văn hoá của gia tộc được giữ gìn, như vậy phát triển loại hình này còn

là một hoạt động giữ gìn văn hoá truyền thống Quy định nhà nghỉ dưới 5 phòng sẽ không bị điều chỉnh bởi các quy định nhà nước, nếu từ 6 phòng nghỉ trở lên, nhà nghỉ phải đảm bảo các quy định liên quan đến bảo đảm sự an toàn cho khách du lịch như một khách sạn và nhà nghỉ chuyên nghiệp

Bên cạnh kinh doanh nhà nghỉ gia đình, việc kinh doanh các nhà hành gia đình cũng được phát triển mạnh Vị trí của nhà hàng được đặt trong khuôn viên của các nông gia Việc kinh doanh nhà hàng thông thường đi đôi với việc kinh doanh nhà nghỉ gia đình tuy nhiên cũng có những trường hợp có hộ gia đình chỉ kinh doanh nhà hàng Quy mô của nhà hàng theo quy định có số ghế tối đa 60 ghế

Mặt khác, chính phủ Pháp đã xây dựng quy định về hoạt động của các nhà hàng khách sạn gia đình để đảm bảo cho chất lượng dịch vụ và ý nghĩa của du lịch nông thôn Cụ thể, đối với nhà nghỉ gia đình, diện tích tối thiểu phải đạt 21m2, với diện tích tối thiểu này có thể sử dụng không gian cho việc

bố trí 01 giường đôi, 01 giường cho trẻ em Các phòng nghỉ đều phải đảm bảo ánh sáng; đều có bồn rửa mặt với nước nóng lạnh và những vật dụng cần thiết cho phòng tắm; phải có chăn đệm, mắc treo quần áo, bàn nhỏ, rèm che cửa sổ,

Trang 34

máy sưởi ấm Đồng thời để đảm bảo cho hoạt động vui chơi giải trí theo nhu cầu của khách du lịch nông thôn, đòi hỏi các nhà nghỉ gia đình phải có khuôn viên phù hợp và có những điều kiện cơ sở vật chất như có vườn, bãi cỏ, các

bộ bàn ghế , chỗ chơi cho trẻ em… đây được coi là nghĩa vụ

Đối với các nhà hàng gia đình cũng có những quy định nhất định Các nàh hàng gia đình này buộc phải sử dụng những nguyên liệu chủ yếu thu hái được trong quá trình canh tác của chủ nhà hàng mà không được sử dụng các nguyên liệu thực phẩm thu mua từ nơi khác Các loại nguyên liệu thực phẩm đóng chai hoặc hộp cũng phải là sản phẩm tự sản xuất của gia đình hoặc nếu không có phải là sản phẩm của địa phương Đối với các hộ nông dân còn trẻ hoặc những hộ nông dân tham gia vào hoạt động kinh doanh nhà nghỉ hoặc nhà hàng gia đình phục vụ cho nhu cầu du lịch nông thôn thì chính quyền địa

phương sẽ có những khoản hỗ trợ kinh phí nhất định

Du lịch nông thôn tại Đài Loan

Tại Đài Loan, từ khi gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), nhiều sản phẩm bị cạnh tranh bởi thị trường xuất khẩu truyền thống như Nhật Nông dân bắt đầu việc mở rộng sang một lĩnh vực tạo thu nhập mới bằng việc chuyển đất sản xuất của họ sang du lịch và nông trại giải trí Du lịch giải trí tại nông thôn đã trở thành một hình thức quản lý nông nghiệp mới ở Đài Loan

đã giúp nông dân bước qua những khó khăn trước mắt do quy mô sản xuất nhỏ Hai mục tiêu chính cho loại hình này là phục vụ nhu cầu vui chơi giải trí cho cộng đồng và nâng cao thu nhập cho người nông dân

Nhằm đảm bảo cho người dân và người kinh doanh thu được lợi nhuận

từ chính mô hình này, Hội phát triển nông trại nghĩ dưỡng Đài Loan được thành lập vào năm 1998 với mục tiêu là duy trì văn hóa nông thôn, kết hợp giữa nguồn tài nguyên nông nghiệp và du lịch nghĩ dưỡng, giáo dục, hiệp hội này đã trở thành cầu nối giữa người sản xuất, người kinh doanh, chính phủ, giáo dục và du lịch Qua nhiều năm phối hợp hoạt động, có thể nói rằng ngành công nghiệp này đã có sự kết hợp thành công Nó đã không chỉ cung cấp một môi trường lý tưởng cho du lịch sinh thái, thúc đẩy ngành thực phẩm

Trang 35

cho sức khỏe và thực phẩm hữu cơ mà còn tạo nên nét văn hóa đặc thù cho việc phát triển các làng nghề nông thôn và tiếp tục phát triển các thế hệ sau Trong nỗ lực đó, du lịch nghĩ dưỡng đã tiếp nhận hơn 10 triệu du khách Hơn

100 tỷ Đài tệ (gần 600 ngàn tỷ VN Đồng) và 20.000 công việc mới được tạo

ra hàng năm

Theo như Cơ quan quản lý nông nghiệp Đài Loan (Council of Agriculture of Taiwan- COA) khoảng 2.000 ha đất đã chính thức chuyển qua nông trại và hơn 180 nông trại phục vụ cho giải trí đã được thành lập Ngành này đã góp phần thu hút con số tăng trưởng của ngành du lịch, đặc biệt tạo sản phẩm nông nghiệp để làm quà cho du khách giúp gia tăng lợi nhuận ngành công nghiệp Sự phát triển của những “cửa hàng sản phẩm” với mục tiêu trưng bày những công nghệ, thiết kế và đặc điểm của sản phẩm đặc trưng của địa phương

Hàng năm cơ quan nông nghiệp Đài loan đã tổ chức những hội chợ hàng hóa nông nghiệp, để giới thiệu những sản phẩm cải tiến chất lượng và bao bì Theo COA, giá trị sản phẩm đầu ra của các cửa hàng này gồm có rựu, gạo chất lượng cao, sản phẩm từ tre, và những sản phẩm giá trị cao từ vật nuôi

và thủy sản sẽ đạt khoảng 12,3 tỷ Đài tệ (khoảng 7.195,5 tỷ VNĐ) vào năm

2012 Hơn nữa, 4.500 cơ hội việc làm sẽ được tạo bởi ngành công nghiệp trong 4 năm

Những loại hình du lịch giải trí nông thôn của Đài loan gồm các loại hình chủ yếu như trải nghiệm nghĩ dưỡng, trải nghiệm giải trí, trải nghiệm hương vị, khám phá những hiểu biết mới

Trải nghiệm nghĩ dưỡng (Roam): Hoạt động trải nghiệm nghĩ dưỡng

gồm những hoạt động sau đây:

 Cảm nhận những vất vả, trải nghiệm cuộc sống bình dị ở nông thôn

 Sự khác nhau về mùa vụ, cảnh vật, văn hóa cũng tạo cho những hình ảnh cuộc sống nông trại, môi trường tự nhiên

Trang 36

 Dùng những tách trà hoặc chất lên men với không gian đẹp hoặc cùng tham gia làm đồ gốm, đồ thủ công

 Cùng tham gia trồng cây, hoa và nghe sự giải thích để không chỉ hiểu biết địa phương và một số kiến thức làm vườn

Trải nghiệm giải trí (Lohas)

 Du khách có thể theo người bản địa xuống cánh đồng để xem các loại cây, côn trùng…Qua đó có thể hiểu được thế nào là trồng cây và cuộc sống của động vật

 Tham gia nướng khoai mỡ tại các lò nung ngoài trời hoặc đến các vườn hoa lan và cây ăn trái, hái và tạo thành những bộ quần áo trên những chiếc áo thun

 Du khách có thể tự cầm những cái xẻng đến những vườn rau hoặc đi chân trần vào trong các thửa ruộng để gieo các hạt giống hoặc xay bột bằng các máy cối xay, xem cách sửa soạn những bữa ăn

 Về đêm, du khách có thể thấy nhiều loại côn trùng hoạt động về đêm, du khách có thể tự tạo các đèn lồng và ghi những điều ước

 Giải trí tại các khu rừng tre, và cây cối mọc tự nhiên, bắt cá…vui chơi cùng với thiên nhiên, và nhiều hoạt động khác

Trải nghiệm hương vị - Slow food:

 Nó liên quan đến sử dụng nguyên liệu có nguồn gốc địa phương trong việc chuẩn bị và không phải thực phẩm đã được chế biến hay thực phẩm đã được vận chuyển từ nơi khác đến

 Tự tay trồng và hái rau, các sản phẩm vật nuôi tự nuôi và nhất là luôn tươi ngon

Trang 37

Vì vậy, với chính sách kêu gọi của chính phủ Đài Loan, sự ủng hộ của cộng đồng và nỗ lực của người dân, lĩnh vực nông nghiệp sẽ không ngừng

phát triển

1.4.2 Tại Việt Nam

Ở Việt Nam cho đến nay, khái niệm du lịch nông thôn vẫn chưa được nhắc tới trong các văn bản pháp lý, mặc dù nước ta có tiềm năng lớn để phát triển du lịch nông thôn Với phong cảnh thiên nhiên đẹp, địa hình đa dạng gồm núi đồi, sông suối, biển đảo, hang động, hệ động, thực vật phong phú, vùng nông thôn với những làng quê cổ kính vùng Bắc Bộ, những nét văn hóa truyền thống đặc sắc, những vùng đất có lịch sử hình thành lâu đời, nơi lưu giữ nhiều di tích lịch sử và truyền thống văn hóa tập tục của người xưa, những cánh đồng bát ngát, phì nhiêu ở Nam Bộ là những điều kiện cần và đủ để nước ta phát triển du lịch nông thôn Hơn thế nữa, người Việt Nam nhân hậu, thủy chung, yêu chuộng hòa bình và giàu lòng mến khách cùng với đôi bàn tay khéo léo, trí thông minh, nhạy bén và giàu lòng quả cảm, đã làm nên những nét văn hóa truyền thống đặc sắc Việt Nam từ chính tâm hồn mộc mạc

ấy của mình Làng quê với những hoạt động của nghề nông, những nghề thủ công kiếm sống hằng ngày của người dân cư ngụ, là cả một tài nguyên lớn của du lịch nông thôn mà du khách quốc tế rất quan tâm

Với những tiềm năng về tài nguyên cảnh quan nông thôn và văn hoá bản làng, ta có thể nhận thấy một số hoạt động của du lịch nông thôn đang diễn ra tại Việt Nam Tuy nhiên, chỉ là hoạt động riêng lẻ chưa trở thành một phong trào du lịch rộng khắp Có thể liệt kê một số những hoạt động du lịch nông thôn trên các vùng miền của đất nước :

Tại miền Bắc: du khách tham gia vào hoạt động trồng cấy lúa, hoa màu, nuôi gia cầm, gia súc

Tại miền Trung: du khách tham gia các hoạt động đánh bắt và nuôi trồng thuỷ hải sản

Tại miền Nam: du khách tham gia các hoạt động hái trái cây tại các miệt vườn

Trang 38

Những năm gần đây, ngành du lịch Việt Nam phát triển đa dạng các loại hình du lịch, nhưng du lịch nông thôn chưa phát triển bởi các lý do sau:

Một là, chưa có quy hoạch cụ thể cho từng địa phương để phát triển du lịch nông thôn, cụ thể là chưa có một khung lý thuyết chung cho các khái niệm về loại hình du lịch này

Hai là, du lịch phát triển, nhưng chưa tương xứng với tiềm năng vốn có của nó Sự phát triển của du lịch đã tác động đến đời sống con người, thiên nhiên và môi trường ở nông thôn về cả hai hướng tích cực lẫn tiêu cực, mà phần nhiều là tiêu cực

Ba là, do phát triển du lịch chưa gắn kết với địa phương nên các tài nguyên thiên nhiên được ngành du lịch khai thác chưa hiệu quả và bền vững Trong khi đó, người nông dân ở nông thôn vẫn đứng bên lề các quá trình vận động của ngành du lịch, những hoạt động du lịch chỉ mới mang lợi cho Nhà nước và khu vực tư nhân

Bốn là, chưa có sự chuẩn bị tốt về nhận thức cho cấp ủy, chính quyền các cấp và người dân địa phương có tài nguyên du lịch nông thôn để họ sẵn sàng tham gia hoạt động này, từ đó giảm bớt được những tệ nạn thường gặp như chèo kéo khách, cung ứng sản phẩm và dịch vụ kém chất lượng, dần làm mất đi bản sắc văn hóa của địa phương

Năm là, nông dân là những người đưa di sản sinh thái và văn hóa của mình tham gia hoạt động du lịch nông thôn, nhưng trong thực tế lại thu được rất ít lợi từ hoạt động này

Như vậy, dù chưa phát triển nhưng du lịch nông thôn đã bắt đầu với những hoạt động tại các làng quê trên khắp cả nước Đây chính là tiền đề kinh nghiệm cho phát triển du lịch nông thôn tại Ninh Bình

1.4.3 Một số kinh nghiệm phát triển du lịch nông thôn cho Ninh Bình

Với cơ sở lý luận về du lịch nông thôn như khái niệm, đặc điểm và các tiêu chí xác định, cũng như sự hình thành và phát triển của loại hình du lịch này trên thế giới và tại Việt Nam, ta có thể khái quát một số kinh nghiệm cho Ninh Bình khi phát triển loại hình du lịch này

Trang 39

Một là, khi phát triển loại hình du lịch nông thôn tại Ninh Bình, cần có

các nghiên cứu cơ bản về từng vùng nông thôn trong kế hoạch phát triển của tỉnh Xác định sức thu hút của tài nguyên du lịch trên địa bàn nông thôn trên

cơ sở điều tra và đánh giá toàn diện tài nguyên thông qua các tiêu chí chính sau: mức độ hấp dẫn của tài nguyên du lịch nông thôn của từng địa phương; thời gian khai thác các tài nguyên; các yếu tố môi trường; sức chứa của từng vùng; độ bền vững trong khai thác tiềm năng du lịch nông thôn; khả năng tiếp cận; điều kiện hạ tầng; khả năng phát triển; hiệu quả kinh tế và xã hội Các tiêu chí trên giúp cho việc lượng hóa tài nguyên theo thang bậc tạo cơ sở để tổ chức khai thác và quản lý, phát triển tài nguyên trong du lịch của từng địa phương

Hai là, xác định rõ nội dung chủ yếu để khai thác tài nguyên du lịch

trên địa bàn nông thôn là phát triển du lịch sinh thái, du lịch văn hóa với phương thức đa dạng hóa chủ thể tham gia Tài nguyên du lịch nông thôn sẽ được khai thác để tổ chức các loại hình du lịch mới, gắn kết các chương trình

du lịch hiện có với các sản phẩm và dịch vụ mới, nâng cao chất lượng các chương trình Đặc biệt coi trọng mối quan hệ liên kết, đối tác trong cung ứng các dịch vụ phục vụ tối đa nhu cầu của du khách

Ba là, hoàn thiện quy hoạch du lịch cho từng địa phương và tăng cường

quản lý để thực hiện các quy hoạch đã được phê chuẩn, tránh tình trạng làm cho du lịch nông thôn kém tính bền vững Xây dựng các mô hình du lịch ở nông thôn phù hợp như mô hình trang trại hoặc mô hình du lịch theo quy mô làng để du khách có thể tham gia các hoạt động với các tiện nghi dịch vụ có chất lượng và nhất là các công trình vệ sinh ở nông thôn;

Bốn là, tăng cường đầu tư kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất - kỹ thuật và

sản phẩm du lịch làm cho các làng trở nên dễ tiếp xúc hơn và tạo thuận lợi trong liên kết giữa các làng, các khu vực trong thu hút khách du lịch

Năm là, hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý dịch vụ du lịch, mở các

lớp cho cán bộ chính quyền các địa phương nâng cao nhận thức về phát triển

du lịch; xây dựng các quy ước của các làng trong khai thác du lịch Tuyên

Trang 40

truyền, phổ biến cho dân cư địa phương về phát triển du lịch nông thôn, đưa chương trình này vào dạy trong các trường phổ thông ở các địa phương

Sáu là, đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp du lịch,

đưa chương trình đào tạo phát triển du lịch nông thôn vào các cơ sở đào tạo Các doanh nghiệp lữ hành khi xây dựng các chương trình du lịch nông thôn cần nghiên cứu kỹ đặc điểm của các địa phương có tài nguyên du lịch và có mối liên hệ chặt chẽ khác trong hệ thống du lịch là chính quyền, cư dân các địa phương và khách du lịch Cần nghiên cứu để đưa nông dân tham gia tạo thêm giá trị mới bằng chính tài nguyên “nông thôn” của họ để phát triển các dịch vụ, trong đó có dịch vụ du lịch để trực tiếp phục vụ du khách

Bảy là, tăng cường mở rộng thị trường và tuyên truyền quảng bá cho

các chương trình du lịch nông thôn tại Ninh Bình, được xây dựng trên cơ sở bảo đảm quan hệ giữa khai thác và phát triển bền vững tài nguyên, kết hợp phát triển du lịch với phát triển nông thôn, kết hợp yếu tố truyền thống với yếu tố hiện đại

Tiểu kết chương 1

Trong chương 1, tác giả đã nghiên cứu và đưa ra “khái niệm về du lịch,

du lịch nông thôn”, các điều kiện phát triển cũng như quá trình phát triển của

du lịch nông thôn trên thế giới và Việt Nam Trên cơ sở đó, đưa ra kinh nghiệm phát triển du lịch nông thôn cho Ninh Bình

Trên cơ sở lý luận đã nghiên cứu ở trên, đó sẽ là tiền đề để đưa ra được thực trạng khai thác du lịch nông thôn tại Ninh Bình dựa trên những điều kiện phát triển mà Ninh Bình đang có

Ngày đăng: 20/03/2015, 16:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
17. Nguyễn Văn Trò (2004), Cố Đô Hoa Lư, NXB Văn hoá dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cố Đô Hoa Lư
Tác giả: Nguyễn Văn Trò
Nhà XB: NXB Văn hoá dân tộc
Năm: 2004
18. Nguyễn Văn Trò (2004), Ninh Bình theo dòng lịch sử, NXB Văn hoá dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ninh Bình theo dòng lịch sử
Tác giả: Nguyễn Văn Trò
Nhà XB: NXB Văn hoá dân tộc
Năm: 2004
19. Võ Quế (2006), Du lịch cộng đồng, NXB khoa học và kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch cộng đồng
Tác giả: Võ Quế
Nhà XB: NXB khoa học và kỹ thuật
Năm: 2006
22. Bùi Thị Hải Yến (2000), Tuyến điểm du lịch VN, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyến điểm du lịch VN
Tác giả: Bùi Thị Hải Yến
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
23. Bùi Thị Hải Yến (2006), Tài nguyên du lịch, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên du lịch
Tác giả: Bùi Thị Hải Yến
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
26. Phát triển du lịch nông thôn ở nước ta hiện nay, Tạp chí Cộng sản, Số 16, 17, 18, năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển du lịch nông thôn ở nước ta hiện nay
Nhà XB: Tạp chí Cộng sản
Năm: 2009
27. Phát triển làng nghề, giải quyết việc làm ở nông thôn, Tạp chí thương mại, số 44, 2005, tr 5- 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển làng nghề, giải quyết việc làm ở nông thôn
31. www.dungog.nsw.gov.au/files/1175/File/FarmTourismInfo.pdf 32. http://www.itdr.org.vn (mục thống kê) Link
20. Quyết định Số 2845/QĐ-UBND của UBND tỉnh Ninh Bình về việc Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình đến năm 2010, định hướng đến năm 2015 Khác
21. Quyết định số: 2795/QĐ-UBND ngày 14/12 năm 2006 của UBND tỉnh Ninh Bình về việc Phê duyệt quy hoạch điều chỉnh, bổ sung khu du lịch Tam Cốc – Bích Động thời kỳ 2006 – 2010 và định hướng đến năm 2020 Khác
24. Nghị quyết số 03 NQ-TU ngày 18/12/2001 của Ban thường vụ Tỉnh uỷ Ninh Bình về Phát triển Du lịch đến năm 2010 Khác
25. Nghị quyết số 15-NQ/TU ngày 13/7/2009 của BCH Đảng bộ tỉnh Ninh Bình về phát triển du lịch đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG 2.2: KẾT QUẢ KINH DOANH DU LỊCH   TỈNH NINH BÌNH GIAI ĐOẠN 2007 - 2010 - Phát triển du lịch nông thôn tại Ninh Bình
BẢNG 2.2 KẾT QUẢ KINH DOANH DU LỊCH TỈNH NINH BÌNH GIAI ĐOẠN 2007 - 2010 (Trang 45)
BẢNG 2.1: KẾT QUẢ KINH DOANH DU LỊCH   TỈNH NINH BÌNH GIAI ĐOẠN 2001 -2006 - Phát triển du lịch nông thôn tại Ninh Bình
BẢNG 2.1 KẾT QUẢ KINH DOANH DU LỊCH TỈNH NINH BÌNH GIAI ĐOẠN 2001 -2006 (Trang 45)
BẢNG 2.4: THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG DU LỊCH NINH BÌNH - Phát triển du lịch nông thôn tại Ninh Bình
BẢNG 2.4 THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG DU LỊCH NINH BÌNH (Trang 48)
BẢNG 2.5: SỐ LƯỢNG CƠ SỞ LƯU TRÚ   TẠI TP VÀ CÁC HUYỆN NINH BÌNH (TÍNH ĐẾN 12/2010) - Phát triển du lịch nông thôn tại Ninh Bình
BẢNG 2.5 SỐ LƯỢNG CƠ SỞ LƯU TRÚ TẠI TP VÀ CÁC HUYỆN NINH BÌNH (TÍNH ĐẾN 12/2010) (Trang 55)
BẢNG 2.10: MỨC ĐỘ SẴN SÀNG THAM GIA DU LỊCH NÔNG THÔN - Phát triển du lịch nông thôn tại Ninh Bình
BẢNG 2.10 MỨC ĐỘ SẴN SÀNG THAM GIA DU LỊCH NÔNG THÔN (Trang 65)
BẢNG 2.9: THỐNG KÊ PHÁT – THU PHIẾU ĐIỀU TRA - Phát triển du lịch nông thôn tại Ninh Bình
BẢNG 2.9 THỐNG KÊ PHÁT – THU PHIẾU ĐIỀU TRA (Trang 65)
BẢNG 2.11: MỨC ĐỘ SẴN SÀNG THAM GIA DU LỊCH NÔNG THÔN - Phát triển du lịch nông thôn tại Ninh Bình
BẢNG 2.11 MỨC ĐỘ SẴN SÀNG THAM GIA DU LỊCH NÔNG THÔN (Trang 70)
Hình 5: Du khách thích thú khi tự say sát gạo Hình 5: Du khách tát gầu sồng - Phát triển du lịch nông thôn tại Ninh Bình
Hình 5 Du khách thích thú khi tự say sát gạo Hình 5: Du khách tát gầu sồng (Trang 91)
Hình 1: Du khách tham gia du lịch nông thôn  Hình 2: Du khách kéo vó - Phát triển du lịch nông thôn tại Ninh Bình
Hình 1 Du khách tham gia du lịch nông thôn Hình 2: Du khách kéo vó (Trang 91)
Hình 3: Du khách nấu ăn bằng bếp rơm Hình 4: Du khách tập úp nơm - Phát triển du lịch nông thôn tại Ninh Bình
Hình 3 Du khách nấu ăn bằng bếp rơm Hình 4: Du khách tập úp nơm (Trang 91)
Hình 1: Động Tiên (Tam Cốc – Hoa Lư)  Hình 2: Chùa Hạ (Tam Cốc- Hoa Lư) - Phát triển du lịch nông thôn tại Ninh Bình
Hình 1 Động Tiên (Tam Cốc – Hoa Lư) Hình 2: Chùa Hạ (Tam Cốc- Hoa Lư) (Trang 92)
Hình 1: Cảnh quan nông thôn tại Gia Viễn - Phát triển du lịch nông thôn tại Ninh Bình
Hình 1 Cảnh quan nông thôn tại Gia Viễn (Trang 93)
Hình 2: Cố đô Hoa Lư xen kẽ những cánh đồng  Hình 3: Cánh đồng tại khu Tam Cốc (Hoa Lư) - Phát triển du lịch nông thôn tại Ninh Bình
Hình 2 Cố đô Hoa Lư xen kẽ những cánh đồng Hình 3: Cánh đồng tại khu Tam Cốc (Hoa Lư) (Trang 93)
Hình 1: Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long (Gia Viễn) - Phát triển du lịch nông thôn tại Ninh Bình
Hình 1 Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long (Gia Viễn) (Trang 94)
Hình 1: Lễ hội cố đô Hoa Lư  Hình 2: Lễ hội chùa Bái Đính - Phát triển du lịch nông thôn tại Ninh Bình
Hình 1 Lễ hội cố đô Hoa Lư Hình 2: Lễ hội chùa Bái Đính (Trang 95)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w