1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiềm năng phát triển du lịch nông thôn tại trang trại Đồng Quê Ba Vì Hà Nội. Ba Vì Hà Nội..

118 957 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 4,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Du lịch nông thôn trên thực tế không chỉ góp phần mang lại công ăn việc làm, cuộc sống ổn định cho người dân mà còn tạo động lực duy trì và bảo tồn những nét đẹp truyền thống của dân tộc. Chú trọng đồng thời đến lợi ích xã hội và kinh tế chính là ưu điểm lớn nhất của loại hình du lịch này. Du lịch nông thôn hiện nay có vị trí quan trọng trong xu thế hội nhập và phát triển. Nông thôn nước ta còn có nhiều điểm du lịch, cảnh quan thiên nhiên đẹp, hệ thống làng nghề đa dạng. Là vùng đất lưu giữ nhiều phong tục tập quán, các làn điệu dân ca, ẩm thực mang đậm nét văn hóa của vùng đồng bào dân tộc thiểu số, thuận lợi cho phát triển loại hình du lịch nông thôn kết hợp du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch cộng đồng. Du lịch nông thôn bắt đầu phát triển mạnh ở các nước phát triển, và ở Việt Nam còn là một loại hình khá mới. Ba Vì là huyện của Hà Nội có nhiều thế mạnh để phát triển các loại hình du lịch nông thôn nhờ lợi thế tự nhiên. Cách trung tâm Hà Nội 60 km về phía Tây, Ba Vì là một vùng địa linh nhân kiệt thuộc xứ Đoài, địa danh được biết đến gắn liền với truyền thuyết huyền thoại “Sơn Tinh, Thủy Tinh”. Nơi đây tập trung nhiều thiết chế văn hoá dân tộc như đình, chùa, đền, miếu… với hơn 300 di tích lịch sử văn hoá, đặc biệt có những ngôi đình được các nhà nghiên cứu xếp vào loại đình cổ nhất, kiến trúc độc đáo nhất Việt Nam như Đình Tây Đằng, Đình Thuỵ Phiêu, Đình Thanh Lũng… Vùng đất này có 3 dân tộc chủ yếu sinh sống Kinh , Mường, Dao hình thành một bề dầy sinh hoạt văn hoá cộng đồng mang bản sắc riêng của mỗi dân tộc như cồng chiêng, hát ru, ném còn… của dân tộc Mường, múa Chuông, tết Nhẩy của đồng bào dân tộc Dao. Trong những năm gần đây, nhiều du khách đến Ba Vì không khỏi ngỡ ngàng trước sự đổi thay của một vùng núi Tản, sông Đà. Từ năm 2009 đến nay, mỗi năm du lịch Ba Vì thu hút hơn một triệu lượt khách, trong đó có hàng vạn khách quốc tế, doanh thu hơn 100 tỷ đồng mỗi năm, tạo việc làm cho khoảng 1200 1400 lao động. Có thể nói, vùng đất thiêng sông núi đã mang lại cho Ba Vì tiềm năng to lớn. Trong tương lai, du lịch sẽ trở thành ngành kinh tế mũi nhọn để phát triển kinh tế xã hội của địa phương, góp phần xây dựng hình ảnh huyện Ba Vì và thủ đô Hà Nội văn minh hiện đại, đậm đà nét truyền thống dân tộc.

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN! 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 5

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 6

MỞ ĐẦU 7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DU LỊCH NÔNG THÔN 12

1.1 Một số khái niệm 12

1.1.1 Du lịch 12

1.1.2 Tài nguyên du lịch 13

1.1.3 Các loại hình du lịch 13

1.1.4 Xu hướng phát triển các loại hình du lịch 15

1.2 Du lịch nông thôn 17

1.3 Đặc điểm du lịch nông thôn 20

1.4 Nguyên tắc của du lịch nông thôn 23

1.5 Lịch sử hình thành và phát triển loại hình du lịch nông thôn 23

1.6 Các loại hình du lịch nông thôn 25

1.7 Các loại dịch vụ trong du lịch nông thôn 27

1.8 Ý nghĩa của du lịch nông thôn đối với cuộc sống hiện nay 28

1.9 Tiềm năng phát triển du lịch nông thôn tại các trang trại Việt Nam 29

1.10 Một số mô hình phát triển du lịch nông thôn thành công tại Việt Nam 32

CHƯƠNG 2: TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH NÔNG THÔN TẠI TRANG TRẠI ĐỒNG QUÊ- BA VÌ- HÀ NỘI 35

2.1 Khái quát chung về huyện Ba Vì 35

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 35

2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 38

2.2 Tiềm năng phát triển du lịch của huyện Ba Vì 39

2.2.1 Cảnh quan tự nhiên 39

2.2.2 Kinh tế xã hội 41

Trang 2

2.3 Một số loại hình du lịch tại Ba Vì 42

2.3.2 Du lịch tâm linh 48

2.3.3 Du lịch nông nghiệp 50

2.4 Quá trình hình thành và phát triển trang trại Đồng Quê - Ba Vì 51

2.4.1 Giai đoạn thành lập ý tưởng 51

2.4.2 Giai đoạn hình thành và phát triển 52

2.5 Xu hướng phát triển du lịch nông thôn tại trang trại Đồng Quê - Ba Vì trong tương lai 53

2.5.1 Liên kết với nhiều loại hình du lịch trong huyện Ba Vì 53

2.5.2 Phát triển bền vững 54

2.5.3 Hướng tới du khách thành thị và du khách nước ngoài 54

2.6 Những thuận lợi và khó khăn của trang trại Đồng Quê trong việc phá triển du lịch nông thôn tại Ba Vì 54

2.6.1 Thuận lợi 54

2.6.2 Khó khăn 56

2.7 Thực trạng khai thác du lịch nông thôn tại trang trại Đồng Quê - Ba vì 58

2.7.1 Cơ cấu tổ chức 58

2.7.2 Hình thức tổ chức và hoạt động 59

2.7.3 Nguồn khách 67

2.7.4 Chương trình du lịch tổng quan 68

2.7.5 Bảng giá các dịch vụ 74

2.7.6 Kết quả bước đầu đạt được trước năm 2016 80

2.7.7 Một số tour nổi bật 82

2.8 Tiềm năng khai thác du lịch nông thôn của trang trại Đồng Quê với các loại hình du lịch khác 82

2.8.1 Du Lịch nông nghiệp 82

2.8.2 Du Lịch sinh thái 83

2.8.3 Du Lịch văn hóa 84

2.9 Nhận xét và đánh giá 84

Trang 3

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN DU LỊCH NÔNG THÔN TẠI TRANG TRẠI ĐỒNG QUÊ- BA VÌ – HÀ NỘI 87 3.1 Tăng cường sự quản lý của nhà nước về du lịch 88

3.2 Đối với cộng đồng địa phương 90 3.2.1 Tăng cường công tác dào tạo phát triển nguồn nhân lực phục vụ phát triển du lịch 90 3.2.2 Thu hút cộng đồng địa phương tham gia tích cực vào hoạt động du lịch 91

3.3 Đối với điểm du lịch, cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch 92

3.3.1 Thu hút vốn đầu tư cho hoạt động du lịch 92 3.3.2 Đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch 93 3.3.3 Đa dạng hóa các sản phẩm du lịch 99 3.3.4 Đẩy mạnh công tác tác tuyên truyền quảng bá 100 3.3.5 Tăng cường liên kết với các cơ sở cung cấp các loại hình du lịch khác trong vùng 102

3.4 Đối với khách du lịch 103

3.4.1 Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho khách du lịch 103 3.4.2 Tập huấn cho du khách về bảo vệ tài nguyên thiên nhiên tại điểm du lịch 104

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 105 TÀI LIỆU THAM KHẢO 109

Trang 4

LỜI CẢM ƠN!

Được sự phân công của Khoa Du Lịch trường Đại học Công Nghiệp HàNội, và sự đồng ý của cô giáo hướng dẫn Th.S Chu Thị Hoàng Khuyên em đãthực hiện đề tài “Tiềm năng phát triển du lịch nông thôn tại trang trại ĐồngQuê- Ba Vì- Hà Nội”

Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với những

sự hỗ trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác.Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu học tập tại trường đến nay, em đã nhậnđược rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý Thầy Cô, gia đình và bạn bè Đểhòan thành khóa luận này, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô đã tận tìnhhướng dẫn, giảng dạy em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và rènluyện ở trường Đại học Công Nghiệp Hà Nội

Xin chân thành cảm ơn cô giáo hướng dẫn Th.S Chu Thị HoàngKhuyên đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình để hoàn thiệnkhóa luận này Mặc dù đã có nhiều cố gắng để hoàn thiện khóa luận một cáchtốt nhất song do buổi đầu mới làm quen với việc nghiên cứu sâu sắc một vấn

đề, tiếp cận trực tiếp với thực tế thay vì chỉ trên sách vở, cũng như hạn chế vềkiến thức và kinh nghiệm nên cũng không tránh khỏi nhiều sai sót Em rấtmong được sự góp ý và chỉ dạy của quý thầy cô để khóa luận được hoànchỉnh hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 25 tháng 04 năm 2016

Sinh viênĐoàn Thị Nhung

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

3 Bộ VH-TT&DL Bộ văn hóa – thể thao và du lịch

Lan

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Trang 6

STT Tên Trang

1 Bảng 2.1 Chương trình du lịch tổng quan tại TTĐQ 68

2 Bảng 2.2 Báo giá vé vào cổng trang trại tại TTĐQ 73

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Trong thời đại kinh tế hội nhập toàn cầu như hiện nay thì việc phát triểncác nhóm ngành dịch vụ là điều không thể thiếu Du lịch là một ngành dịch vụ

đã và đang phát triển tại nhiều quốc gia phát triển trên thế giới Ở Việt Nam

du lịch cũng đang trên đà phát triển với nhiều cơ hội và thách thức

Bước sang thế kỷ XXI, trong xu thế phát triển các loại hình du lịch ngàymột đa dạng và nhiều màu sắc, việc chọn cho mình một chuyến nghỉ mát vớinhững nhà hàng, khách sạn sang trọng tiện nghi không còn là ưu tiên hàngđầu của nhiều du khách Con người không chỉ quan tâm đến việc có thể tiêudùng bao nhiêu sản phẩm và dịch vụ mà còn rất quan tâm đến chất lượngcuộc sống Xu hướng này chính là tiền đề cho loại hình du lịch xanh pháttriển, mở ra cơ hội cho các nước kém phát triển vốn có nền kinh tế dựa vàongành nông - lâm - ngư nghiệp có thể chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế từnông nghiệp sang dịch vụ Một trong các xu hướng hấp dẫn đó chính là “dulịch nông thôn”

Từ khi mới ra đời đã nhận được sự ủng hộ của rất nhiều du khách, đặc biệt

là khách thành thị với nhu cầu muốn trải nghiệm những điều mới mẻ rất nôngthôn, rất tự nhiên

Du lịch nông thôn trên thực tế không chỉ góp phần mang lại công ăn việclàm, cuộc sống ổn định cho người dân mà còn tạo động lực duy trì và bảo tồnnhững nét đẹp truyền thống của dân tộc Chú trọng đồng thời đến lợi ích xãhội và kinh tế chính là ưu điểm lớn nhất của loại hình du lịch này

Du lịch nông thôn hiện nay có vị trí quan trọng trong xu thế hội nhập vàphát triển Nông thôn nước ta còn có nhiều điểm du lịch, cảnh quan thiênnhiên đẹp, hệ thống làng nghề đa dạng Là vùng đất lưu giữ nhiều phong tụctập quán, các làn điệu dân ca, ẩm thực mang đậm nét văn hóa của vùng đồngbào dân tộc thiểu số, thuận lợi cho phát triển loại hình du lịch nông thôn kếthợp du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch cộng đồng

Trang 8

Du lịch nông thôn bắt đầu phát triển mạnh ở các nước phát triển, và ở ViệtNam còn là một loại hình khá mới.

Ba Vì là huyện của Hà Nội có nhiều thế mạnh để phát triển các loại hình

du lịch nông thôn nhờ lợi thế tự nhiên

Cách trung tâm Hà Nội 60 km về phía Tây, Ba Vì là một vùng địa

linh nhân kiệt thuộc xứ Đoài, địa danh được biết đến gắn liền với truyềnthuyết huyền thoại “Sơn Tinh, Thủy Tinh”

Nơi đây tập trung nhiều thiết chế văn hoá dân tộc như đình, chùa, đền,miếu… với hơn 300 di tích lịch sử văn hoá, đặc biệt có những ngôi đình đượccác nhà nghiên cứu xếp vào loại đình cổ nhất, kiến trúc độc đáo nhất ViệtNam như Đình Tây Đằng, Đình Thuỵ Phiêu, Đình Thanh Lũng…

Vùng đất này có 3 dân tộc chủ yếu sinh sống Kinh , Mường, Dao hìnhthành một bề dầy sinh hoạt văn hoá cộng đồng mang bản sắc riêng của mỗidân tộc như cồng chiêng, hát ru, ném còn… của dân tộc Mường, múaChuông, tết Nhẩy của đồng bào dân tộc Dao

Trong những năm gần đây, nhiều du khách đến Ba Vì không khỏi ngỡngàng trước sự đổi thay của một vùng núi Tản, sông Đà Từ năm 2009 đếnnay, mỗi năm du lịch Ba Vì thu hút hơn một triệu lượt khách, trong đó cóhàng vạn khách quốc tế, doanh thu hơn 100 tỷ đồng mỗi năm, tạo việc làmcho khoảng 1200- 1400 lao động

Có thể nói, vùng đất thiêng sông núi đã mang lại cho Ba Vì tiềm năng tolớn Trong tương lai, du lịch sẽ trở thành ngành kinh tế mũi nhọn để phát triểnkinh tế- xã hội của địa phương, góp phần xây dựng hình ảnh huyện Ba Vì vàthủ đô Hà Nội văn minh hiện đại, đậm đà nét truyền thống dân tộc

Một số khu du lịch có quy mô lớn của Ba Vì hiện tại có thể kể đến: sângolf Đồng Mô, được đánh giá là sân golf hàng đầu miền Bắc, khu du lịchKhoang Xanh- Suối Tiên, khu du lịch Thác Đa, khu du lịch Thiên Sơn- ThácNgà, khu du lịch Suối Mơ, du lịch Ao Vua, khu du lịch Suối Hai, vườn Quốcgia Ba Vì…

Trang 9

Ngoài ra Ba Vì còn nổi tiếng với những thảo nguyên cỏ xanh mướt vànhững trang trại lớn, đa dạng, hấp dẫn như trang trại bò sữa, trang trại nuôi

dê, trang trại đà điểu và không thể không nhắc đến trang trại Đồng Quê BaVì- Một mô hình du lịch nông thôn được khai thác để phục vụ du lịch

Toạ lạc trên một khu đồi nhỏ xinh xắn, tựa lưng vào dãy núi Ba Vì.Trangtrại Đồng Quê- Ba Vì – Hà Nội có địa hình thiên nhiên nông nghiệp rất đẹp

và đa dạng, tiêu biểu cho một nền văn minh lúa nước vào hàng cổ đại của thếgiới thuộc châu thổ sông Hồng

Từ trang trại nhìn xuống, khách du lịch có thể chiêm ngưỡng những cánhđồng lúa có hình dạng bậc thang thấp, phía sau là màu xanh ngút ngàn củakhu rừng nguyên sinh thuộc dãy núi Ba Vì với ba đỉnh cao 1100, 1200 và

1300 mét Đến với Trang trại Đồng Quê Ba Vì ngoài việc nghỉ ngơi, du khách

sẽ được tham quan các làng sản xuất nông nghiệp có truyền thống lâu đờixung quanh trang trại với các cảnh quan đẹp, được hưởng thụ các đặc sảnthiên nhiên tươi lành trong khung cảnh gia đình ấm cúng Trang trại ĐồngQuê Ba Vì mang trong mình tiềm năng phát triển du lịch lớn, không chỉ dựavào các sản phẩm du lịch sẵn có mà còn có sự liên kết phát triển với các khu

du lịch khác trong huyện Ba Vì

Với những lí do trên ,em chọn đề tài “ Tiềm năng phát triển du lịch nôngthôn tại trang trại Đồng Quê- Ba Vì- Hà Nội” là đề tài khóa luận của mình đểnghiên cứu tiềm năng phát triển, thực trạng và đưa ra một số giải pháp nhằmgóp một phần nhỏ bé của mình để đưa du lịch nông thôn trở thành một loạihình phát triển tại Ba Vì nói riêng và nhiều vùng nông thôn ở Việt Nam nóichung

2 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu, phân tích và đánh giá tiềm năng phát triển du lịch nông thôn tạitrang trại Đồng Quê- Ba Vì- Hà Nội

Trang 10

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Tiềm năng phát triển du lịch nông thôn tại trang trại Đồng Quê- Ba Vì- HàNội

3.2 Khách thể nghiên cứu

Trang trại Đồng Quê- Ba Vì- Hà Nội

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ cơ sở lý luận về Du lịch nông thôn.

- Phân tích, đánh giá tiềm năng và thực trang phát triển du lịch nông

thôn qua thực tiễn phát triển du lịch tại trang trại Đồng Quê – Ba Vì– Hà Nội

- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần đưa du lịch

nông thôn trở thành một loại hình du lịch phổ biến và phát triển tạitrang trại Đồng Quê – Ba Vì – Hà Nội

5 Phạm vi nghiên cứu

Không gian: Đề tại tập trung nghiên cứu tại Trang trại Đồng Quê- Ba

Vì-Hà Nội và một số cơ sở kinh doanh du lịch liên kết với trang trại

Thời gian : Đề tài chủ yếu nghiên cứu tình hình phát triển du lịch tại trangtrại Đồng Quê – Ba Vì – Hà Nội từ năm 2010- 2016

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập và xử lý số liệu : Là thu thập thông tin liên

quan

đến đề tài nghiên cứu rồi xử lý các thông tin đó nhằm chọn lọc cácthông tin chuẩn nhất,chính xác nhất phục vụ nghiên cứu Các tài liệutrên sách báo, các thông tin về công trình nghiên cứu, báo cáo khoahọc

- Phương pháp thực nghiệm : Đây là phương pháp được sử dụng chủ

yếu trong thời gian tác giả thực hiện nghiên cứu tại địa bàn trang trạiĐồng Quê,Ba Vì nhằm khảo sát thực tế hiện trạng tiềm năng du lịch

Trang 11

nông thôn từ đó cập nhật các số liệu thống kê, tài liệu chính xáchơn, đáng tin cậy hơn.

- Phương pháp so sánh : Người viết có sự so sánh tình hình phát triển

DLNT với các loại hình du lịch khác, trên thế giới và ở Việt Nam,

so sánh sự phát triển mạnh mẽ của du lịch Việt Nam qua một sốnăm để thấy rõ những cơ hội, lợi thế mà DLNT sẽ có và đạt được

- Phương pháp phỏng vấn : Với đối tượng được phỏng vấn khá rộng

là các cấp chính quyền, các cơ quan ban ngành, nhân dân địaphương, khách du lịch nội địa và quốc tế nhằm phục vụ cho việcđánh giá tiềm năng và sự phát triển của DLNT

7 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần mở đầu,kiến nghị, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo , nộidung chính của đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận chung về du lịch nông thôn.

Chương 2: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch nông thôn tại

trang trại Đồng Quê – Ba Vì – Hà Nội.

Chương 3: Một số giải pháp nhằm phát triển du lịch nông thôn tại trang trại Đồng Quê – Ba Vì – Hà Nội.

Trang 12

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DU LỊCH NÔNG

THÔN1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Du lịch

Theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới:

Du lịch được hiểu là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạtđộng kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tậpthể ở bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ với mục đích hòa bình Nơi

họ đến không phải là nơi làm việc của họ

Tại Việt Nam, mặc dù du lịch là một lĩnh vực khá mới mẻ nhưng các nhànghiên cứu của Việt Nam cũng đưa ra các khái niệm xét trên nhiều góc độnghiên cứu khác nhau

Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, du lịch được hiểu trên haikhía canh:

Thứ nhất, du lịch là một dạng nghỉ dưỡng sức, tham quan tích cực của conngười ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắngcảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa nghệ thuật Theo nghĩa này, du lịchđược xem xét ở góc độ cầu, góc độ người đi du lịch

Thứ hai, du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao vềnhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hóadân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nướcngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế du lịch là lĩnh vựckinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩu hànghóa và dịch vụ tại chỗ Theo nghĩa này, du lịch được xem xét ở góc độ mộtngành kinh tế

Luật Du lịch Việt Nam (được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 7, Khóa

XI năm 2005) đã nêu khái niệm về du lịch như sau:

Trang 13

Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoàinơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìmhiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.

1.1.2 Tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cáchmạng, giá trị nhân văn, công trình lao động, sáng tạo của con người có thểđược sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch

Là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch, nhằm tạo

ra sự hấp dẫn du lịch (pháp lệnh du lịch Việt Nam 1999)

1.1.3 Các loại hình du lịch

Có nhiều loại hình du lịch khác nhau, tùy theo mục đích, đặc điểm vàmục đích phân loại của các tác giả nghiên cứu khác nhau Theo đặc điểm củatừng loại hình, tác giả có thể phân thành một số nhóm loại hình du lịch chính:

- Du lịch sinh thái

Du lịch sinh thái, hay còn có nhiều tên gọi thường gặp khác nhau như: Du lịchthiên nhiên; Du lịch dựa vào thiên nhiên/ Du lịch xanh; Du lịch môi trường,nhưng đều được hiểu là loại hình “du lịch có trách nhiệm với các khu thiênnhiên là nơi bảo tồn môi trường và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địaphương” (Hiệp hội Du lịch Sinh Thái -The Internatonal Ecotourism society);hay là loại hình du lịch “dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địaphương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững” (Luật dulịch năm 2005)

Lê Huy Bá thì định nghĩa về du lịch sinh thái “DLST là một loại hình dulịch lấy các hệ sinh thái đặc thù, tự nhiên làm đối tượng để phục vụ cho nhữngkhách du lịch yêu thiên nhiên, du ngoạn, thưởng thức những cảnh quan haynghiên cứu về các hệ sinh thái Đó cũng là hình thức kết hợp chặt chẽ, hài hòagiữa phát triển kinh tế du lịch với giới thiệu về những cảnh đẹp của quốc giacũng như giáo dục tuyên truyền và bảo vệ, phát triền môi trường và tàinguyên thiên nhiên một cách bền vững” (2000)

Trang 14

Một số loại hình du lịch khác cũng thường được xếp và sử dụng vớinghĩa tương đương trong loại hình du lịch sinh thái có thể kể đến như: Du lịchđặc thù; Du lịch mạo hiểm (khám phá, thám hiểm); Du lịch bản xứ; Du lịch

có trách nhiệm; Du lịch nhạy cảm; Du lịch nhà tranh và Du lịch bền vững

- Du lịch văn hóa

Theo UNESCO, du lịch văn hóa thông thường được phân thành hailoại: Du lịch văn hóa vật thể (Tangible) và Du lịch văn hóa phi vậtthể (Intangible) Trong khi Du lịch văn hóa vật chất hay còn gọi là văn hóahữu thể, bao gồm các công trình kiến trúc như đình chùa, miếu mạo, lăng mộ,nhà sàn thì di sản văn hóa phi vật thể bao gồm các biểu hiện tượng trưng và

“không sờ thấy được” được lưu truyền và biến đổi theo thời gian, với một sốquá trình tái tạo, trùng tu rộng rãi như âm nhạc, múa, truyền thống, vănchương truyền miệng, ngôn ngữ, huyền thoại, tư thái, nghi lễ, phong tục, tậpquán, y dược cổ truyền, các món ăn, các công nghệ thủ công truyền thống.Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu về văn hóa hiện nay đều đồng nhất mộtquan điểm trong cách phân loại về di sản văn hóa đó là: Sự phân chia văn hóathành cái ‘hữu thể’ và cái ‘vô thể’ trong văn hóa hiện nay chỉ mang tính chấttương đối, bởi giá trị và nội hàm của văn hóa nhiều khi không đơn giản mà nólồng vào nhau như thân xác và tâm trí con người

Hiện nay, do sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin và sự hộinhập toàn cầu trên một phương diện rộng, các tổ chức và cá nhân làm việc,nghiên cứu trong lĩnh vực du lịch tùy theo mục đích quảng cáo, chào bán haynghiên cứu có thể tự phân chia các loại hình du lịch theo nhiều tên gọi khácnhau

Căn cứ nhu cầu du lịch có thể chia ra thành nhiều loại hình du lịch như:

Du lịch cộng đồng, Du lịch chữa bệnh, Du lịch nghỉ ngơi giải trí, Du lịch thểthao, giải trí, Du lịch công vụ, Du lịch tôn giáo, Du lịch khám phá, Du lịchthăm thân Trong bối cảnh toàn cầu hóa du lịch hiện nay, theo nhu cầu củakhách không thể không kể đến một loại hình du lịch khá thú vị đó là du lịchMICE (M: meetings (hội, họp); I: Incentives (khen thưởng); C: Conferences

Trang 15

(Thảo luận); E: Exhibitions (triển lãm) Du lịch Mice đã phát triển ở các quốcgia phát triển du lịch và những nơi có tác động ảnh hưởng bởi toàn cầu hóa,tuy nhiên mới chỉ thực sự phát huy được tối đa vai trò và ưu thế của nó trongnhững thập kỉ gần đây

Một số loại hình du lịch mới, lạ, tuy nhiên số lượng khách tham gia vẫnchỉ rất giới hạn như: du lịch vũ trụ; du lịch bằng chuyên cơ (máy bay riêng)hay du lịch theo mùa; du lịch quá cảnh; du lịch “phượt”của một bộ phậnnhững người trẻ ưa trải nghiệm và tự mình khám phá ở những vùng đấtmới; du lịch trăng mật với những cặp vợ chồng mới cưới;du lịch công vụ (cókhả năng chi trả cao nhưng thiếu thời gian nghỉ ngơi hoàn toàn) Một bộ phận

du khách đi du lịch ảo với loại hình “Du lịch online” với sự trợ giúp củalaptop; ipad hay iphone để xem các hình ảnh về nơi mong muốn trải nghiệm.Tuy nhiên, căn cứ vào những đặc thù cụ thể, phạm vi lãnh thổ của tàinguyên du lịch, phương thức tổ chức và chào bán chương trình du lịch củadoanh nghiệp lữ hành ở các thị trường khác nhau; phương thức sử dụngphương tiện di chuyển; cách thức lưu trú; độ tuổi của khách du lịch; thậm chíkhả năng chi trả của khách là những cách phân loại số đông để đề cập, liệt

kê cũng như có được cái nhìn đầy đủ hơn về các loại hình du lịch Việt Namtrong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa xã hội

1.1.4 Xu hướng phát triển các loại hình du lịch

Đi sâu vào các đặc thù của xu hướng du lịch, có một số điểm sau:

- Thứ nhất: Cơ cấu nguồn khách sẽ ngày càng đa dạng

Về khả năng chi tiêu: Du lịch đang ngày càng phổ biến, khôngchỉ những người giàu có từ các nước phát triển mới đi du lịch mà tất cả cáctầng lớp khác, từ nhiều quốc gia khác nhau cũng tham gia ngày càng đôngđảo

Về độ tuổi: Người già, người mới nghỉ hưu đi du lịch ngày càng nhiềunên cần có những chương trình đặc biệt phục vụ nhu cầu về nghỉ dưỡng chođối tượng khách này

Về nhân thân: Số người độc thân đi du lịch ngày càng tăng

Trang 16

Về giới tính: Những thay đổi về vai trò và trách nhiệm trong gia đìnhkhiến khách là phụ nữ ngày càng tăng, yêu cầu các cơ sở có những cải tiến,

bổ sung các trang thiết bị, vật dụng và các dịch vụ, lịch trình phù hợp với nhucầu của nữ thương nhân

Về loại hình: Ngày càng nhiều những nhóm gia đình đăng ký đi du lịchvới sự tham gia của đầy đủ các thành viên của cả ba thế hệ trong gia đình, đặcbiệt các dịp lễ, cuối tuần và kỳ nghỉ hè của trẻ em

- Thứ hai: Xu hướng chọn các dịch vụ, hàng hoá bền vững, có nhãn

sinh thái, thân thiện với môi trường.

Đây là xu hướng của khách du lịch quốc tế đến Việt Nam, nhất là kháchđến từ các nước châu Âu, Bắc Mỹ, Nhật, Thái Lan Họ có ý thức và nhu cầucao về an toàn và sức khoẻ, ngày càng nhiều người muốn quay về với thiênnhiên Vì vậy, cần triển khai thực hiện và tập trung tuyên truyền cho cácnhững chương trình, dịch vụ thân thiện với môi trường

- Thứ ba: Ngày càng nhiều người sử dụng thời gian nhàn rỗi và thu

nhập để nghỉ ngơi và hưởng thụ các dịch vụ có lợi cho sức khoẻ và sắc đẹp.

Đáp ứng xu hướng này, cần tạo những khu vực không hút thuốc lá,không bán và phục vụ rượu mạnh, bổ sung các thực đơn tăng cường rau, củ,quả chứng minh được nguồn gốc, các món ăn ít béo, đường, calo hoặc ítcarbohydrate, các đồ uống ít calo và ít cafein, tăng cường tổ chức câu lạc bộsức khoẻ với những dụng cụ, thiết bị thể thao, phòng tập yoga, sân tennis, sântập gofl mini, bể bơi, bể sục, phòng tắm nước khoáng, ngâm thuốc bắc, nơiphơi nắng hoặc các phòng matxa ; các dịch vụ du lịch kết hợp chữa bệnhthời đại như các bệnh gut, tiểu đường, tim mạch v.v

- Thứ tư: Xu hướng ngày càng tăng nhu cầu khách lựa chọn chương

trình du lịch có sự kết hợp giữa các loại hình du lịch.

Ví dụ: Nghỉ biển kết hợp với hội nghị, du lịch khen thưởng kết hợpthăm dò thị trường, du lịch nghỉ dưỡng ngắn ngày kết hợp với casino v.v đòihỏi các cơ sở đa dạng hoá các sản phẩm như tạo chương trình nghỉ ngơi tham

Trang 17

quan di tích lịch sử kết hợp thăm trang trại trồng rau, chè và cây ăn quả, tổchức các hoạt động giải trí trên biển.

- Thứ năm: Xu hướng chọn tour du lịch tự thiết kế, đặt chỗ qua

mạng; tự lựa chọn dịch vụ, không đi theo tour trọn gói.

Du lịch mang tính cá nhân nhiều nhất là dịch vụ ăn uống Vì vậy cácdoanh nghiệp lữ hành, vận chuyển, khách sạn thường kết hợp tổ chức cácchương trình chỉ cung ứng một phần dịch vụ du lịch như Hãng Hàng khôngquốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines) đã tổ chức khá thành công gói sảnphẩm Free and Easy chỉ gồm vé máy bay, dịch vụ đón tiễn sân bay và 3 đêmkhách sạn Nếu có nhu cầu, khách có thể tiếp tục mua tour lẻ và các dịch vụkhác tại điểm đến Như vậy, để hỗ trợ thúc đẩy xu hướng này, cần hỗ trợ nângcao năng lực tiếp cận thị trường của các doanh nghiệp, cơ quan xúc tiến dulịch bằng các công cụ cập nhật theo đời sống hiện đại như các mạng mobile,mạng xã hội như Facebook, Twitter…

- Thứ sáu: Xu hướng đi nghỉ rời xa những nơi đô thị ồn ào, đến

những nơi yên tĩnh, biệt lập

Đây là một xu hướng khiến các điêm du lịch ở các vùng xa trung tâm đôthị ngày càng đông khách Như vậy, xuất khẩu của dịch vụ du lịch có tiềmnăng lớn cho những vùng sâu vùng xa và đặc biệt khả năng cùng hỗ trợ xúctiến thương mại Trong thời gian tới cần chú trọng hơn tới xu thế du lịch vìsức khỏe, vì xu hướng này hiện chưa được nhìn nhận một cách thích đángtrong các chiến lược phát triển du lịch của tỉnh, vùng và cả nước Theo đó cầnđẩy mạnh liên kết vùng theo chuỗi cung ứng, hình thành các mô hình giúpphát triển sản phẩm du lịch mới: Du lịch văn hóa, du lịch chăm sóc sức khỏe

cá nhân, du lịch MICE, du lịch tàu biển, định vị du lịch cho từng khu vực

1.2 Du lịch nông thôn

Du lịch nông thôn: Là loại hình khai thác các vùng nông thôn như một

nguồn tài nguyên và đáp ứng nhu cầu của cư dân đô thị trong việc tìm kiếmkhông gian yên tĩnh và giải trí ngoài trời hơn là chỉ liên quan đến thiên nhiên

Trang 18

Du lịch nông thôn bao gồm các chuyến thăm vườn quốc gia và công viêncông cộng, du lịch di sản trong khu vực nông thôn, các chuyến đi tham quandanh lam thắng cảnh và thưởng thức cảnh quan nông thôn, và du lịch nôngnghiệp Nói chung, khu vực nông thôn hấp dẫn nhất đối với khách du lịch lànhững vùng ven khu nông nghiệp, thường là vùng dân cư thưa thớt, vùng biệtlập hoặc những vùng cao, miền núi ít được biết đến

Du lịch nông thôn cung cấp một nguồn thu nhập thêm, đặc biệt là chophụ nữ, và đóng vai trò quan trọng trong việc giảm tỷ lệ suy giảm dân số nôngthôn Đầu tư du lịch nông thôn có thể bảo tồn các công trình lịch sử, và cáchoạt động truyền thống như lễ hội làng có thể được phục hồi thông qua sựquan tâm của khách du lịch

Các công trình bỏ hoang trong các ngôi làng xuống cấp hoặc đang códấu hiệu xuống cấp có thể được phục dựng để trở thành ngôi nhà thứ hai cho

cư dân đô thị Sự phát triển đó mang lại sự thịnh vượng mới cho các vùngnông thôn nghèo, nhưng cũng có thể phá hủy các đặc trưng cảnh quan mà banđầu đã thu hút khách du lịch Việc gia tăng sự hiện diện của người dân đô thị

đã thay đổi tính chất xã hội của các làng, lưu lượng dày đặc của xe ô tô và cácđoàn khách gây ra ùn tắc giao thông trên các tuyến đường làng chật hẹp vàcản trở sự di chuyển của gia súc Ô nhiễm giao thông, vật nuôi thả rông, sựthiếu kiểm soát du khách ra vào có thể gây tổn thương vật nuôi và cây trồng

Sự trùng hợp của mùa vụ nông nghiệp và du lịch cũng dễ dẫn đến xung đột vềnguồn nhân lực Vì vậy, cán cân giữa chi phí và lợi ích từ du lịch nông thônkhông phải lúc nào cũng mang đến kết quả tích cực, nhưng tại một số vùngnông thôn, du lịch được xem là một hoạt động hiển nhiên Được diễn ra ởnhững khu vực nông thôn, thiết thực cho nông thôn – hoạt động dựa trênnhững đặc điểm tiêu biểu của những khu vực nông thôn với quy mô kinhdoanh nhỏ, không gian mở, được tiếp xúc trực tiếp và hòa mình vào thế giớithiên nhiên, những di sản văn hóa, xã hội và văn hóa truyền thống ở làng xã

Có quy mô nông thôn – bao gồm các công trình xây dựng cũng như quy

mô khu định cư thường có quy mô nhỏ (thôn, bản) Dựa trên đặc điểm, yếu tố

Trang 19

truyền thống, phát triển chậm và được tổ chức chặt chẽ, gắn kết với các hộdân địa phương Được phát triển và quản lý chủ yếu bởi địa phương phục vụlợi ích lâu dài của dân cư trong làng xã Với nhiều loại hình, thể hiện đặc tính

đa dạng về môi trường, kinh tế, lịch sử, địa điểm của mỗi nông thôn

Như vậy, có thể nói du lịch nông thôn là loại hình du lịch trong đó nôngnghiệp, sinh hoạt, nghề truyền thống, cảnh quan, v.v vốn chưa được xem là tàinguyên du lịch, giờ được sử dụng như những tài nguyên du lịch dành cho dukhách tiếp xúc, trải nghiệm với đời sống nông thôn Việc này phụ thuộc vàophương pháp phát triển nhưng có nghĩa là tất cả mọi nông thôn đều có khảnăng trở thành điểm đến du lịch Trong tâm trí mỗi người ắt sẽ xuất hiện hìnhảnh du lịch thực tế của những người thành thị chưa từng tiếp xúc với cuộcsống nông thôn bình thường đến trải nghiệm nông nghiệp, ăn những thức ăntươi ngon từ các loại rau do mình hái, hoặc ngồi nghe người dân nói về đờisống nông thôn

Đối với người dân nông thôn thì đó chỉ là cuộc sống và sinh hoạt thườngngày, nhưng chỉ cần thêm vào một chút dịch vụ giá trị gia tăng nào đó chophù hợp với du lịch thì có thể làm thành điều hấp dẫn thú vị cho du khách và

cư dân thành phố Thêm vào đó, nhờ có du lịch mà nhu cầu về nông nghiệptăng lên, các giá trị văn hóa có hướng kế thừa, nên có thể nói du lịch nôngthôn giúp cho việc gia tăng thu nhập Nói cách khác, du lịch nông thôn là cơhội mở rộng kinh doanh ở khu vực nông thôn đó thông qua du lịch Mặt khác,một khi du lịch phát triển thành công tại địa phương thì cũng có thể phát sinhcác vấn đề thay đổi về mặt xã hội và môi trường ở địa phương đó Vì thế, cầnphải cân nhắc từ phương diện xã hội và môi trường khi phát triển du lịch nôngthôn

Có thể tóm tắt về khái niệm du lịch nông thôn như sau: Một trong nhữngđịnh nghĩa phổ biến nhất về du lịch nông thôn được nhiều học giả trích dẫn làcủa tác giả Bernard Lane (1994) đúc kết trong bài viết “Du lịch nông thôn làgì?” đăng trên tạp chí Du lịch Bền vững, quyển 2, số 1-2, tại trang 14 Theo

đó, du lịch nông thôn với hình thức thuần túy nhất là loại hình du lịch:

Trang 20

- Tất cả các yếu tố nông thôn (đời sống, nghề truyền thống, cảnh quan

v.v) đều có thể trở thành tài nguyên du lịch có sức hấp dẫn dukhách

- Là hướng sinh kế mới cho vùng nông thôn.

- Có thể tạo công ăn việc làm mới cho phụ nữ và những người trẻ

khác

- Có thể phát triển bằng cách kết hợp hài hòa tài nguyên khu vực

nông thôn (nông nghiệp và nghề truyền thống, di sản văn hóa v.v)với du lịch

1.3 Đặc điểm du lịch nông thôn

Có nền tảng là nông nghiệp :

Du lịch nông thôn là một loại hình du lịch đưa du khách về với làng quê,đến với không gian của thôn dã để thưởng thức những cảnh quan, hoạt độngsản xuất nông nghiệp, các sản phẩm nông nghiệp, đời sống của người nôngdân,…cùng với nhiều sản phẩm du lịch khác, du lịch nông thôn có điều kiệnphát triển dựa trên nông nghiệp Đặc biệt nước ta là nước nông nghiệp lâuđời, nông nghiệp chiếm một vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nước ta, và

để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội Bên cạnh việc sản xuất nôngnghiệp thì nó còn được khai thác để phục vụ cho du lịch, nước ta có đủ điềukiện để phát triển loại hình du lịch này

Mô hình du lịch nông thôn thay đổi theo thời gian, không gian

Khác với những mô hình du lịch khác, du lịch nông thôn tạo sức hút cho

du khách bởi sự dễ thay đổi Ví dụ như khi đến với nông thôn vào mùa lũ cácbạn sẽ thấy các hoạt động nơi đây đều gắn với thuyền bè, khi hết lũ thì cảnhquan nơi đây lại thay đổi với những cánh đồng lúa xanh mướt, những vườntrái cây bạt ngàn, hoặc trồng các loại cây ăn trái khác nhau, có lúc là cả vườnquýt hồng, có khi là cả vườn xoài xanh thẫm,… cảnh quan đa dạng, dễ thayđổi nên thu hút được sự chú ý của du khách

Không cạnh tranh với các loại hình du lịch khác nhưng sự cạnh tranh trong ngành thì rất lớn

Trang 21

Điều này thể hiện rất rõ trong mối quan hệ giữa các hoạt đông du lịch do

du lịch nông thôn gắn liền với nhiều hoạt động và nhiều loại hình du lịch như

du lịch sinh thái, du lịch văn hóa – lịch sử, tham quan làng nghề,…Mối quan

hệ này là sự tương hỗ giữa các hoạt động du lịch, các loại hình này bổ sungqua lại nhằm một mục đích là đáp ứng được nhu cầu của du khách, tuy nhiên

sự cạnh tranh trong ngành thì rất lớn, do điều kiện tự nhiên gần như tươngđồng trên một khu vực lãnh thổ, chỉ có một vài nét riêng biệt đối với một sốnơi nên sản phẩm du lịch bên cạnh cái riêng cũng có nhiều nét chung, từ đótạo ra sức cạnh tranh lớn đối với các vùng, còn quy mô nhỏ hơn là giữa cácchủ cơ sở trong một vùng với nhau…

Loại hình du lịch nông thôn dễ phát sinh những hình thái biến tấu

Do đây là một loại hình tổng hợp, tập hợp của nhiều loại hình, hoạt động

du lịch nên nó không có nét riêng biệt, hay một loại sản phẩm đặc thù nàohết, từ đó mà việc làm cho loại hình này trở nên phong phú, đa dạng hơn,biếnđổi nhanh là một điều không khó

Có tính liên ngành và liên vùng cao

Tính liên nghành như ta đã thấy đó là mối quan hệ chặt chẽ giữa các loạihình du lịch như du lịch miệt vườn, tham quan trang trại, tham quan làng nghềtruyền thống hay tìm hiểu văn hóa địa phương, đều có thể kết hợp với dulịch nông thôn Còn tính liên vùng đó là sự kết hợp để mở rộng quy mô củaloại hình du lịch này, đối với những địa phương gần nhau thì loại hình du lịchnày rất thích hợp cho việc kết nối cùng phát triển, vì bên cạnh cái chung thìmỗi địa phương sẽ có các sản phẩm du lịch riêng dễ dàng thu hút du khách vàtăng nguồn lợi cho các vùng

Du lịch nông thôn đòi hỏi cao về chất lượng môi trường

Trang 22

Không khí trong lành, yên tĩnh, thanh bình, thoáng mát : Đây là điểm nổibật của loại hình du lịch này, chính điều này đã làm cho nhiều du khách muốntìm tới làng quê, nông thôn để gần gũi với thiên nhiên.

Du lịch nông thôn có tính tổng hợp và liên kết

Nhiều loại hình du lịch ở địa phương như tham quan cảnh đẹp, tham quan

di tích lịch sử ở địa phương, các cơ sản sản xuất đặc sản vùng, tham quan cáclàng nghề truyền thống của vùng nông thôn đó, du lịch sinh thái, du lịch văn

hóa của vùng,… đan xen với du lịch nông nghiệp.

Đối tượng chủ yếu là khách đô thị

Loại hình này thu hút nhiều du khách khác nhau nhưng chủ yếu vẫn là dukhách đến từ các thành thị, vì nhịp sống hối hả, tấp nập, môi trường nhiễm bị

ô nhiễm trầm trọng, không gian chặt hẹp, cùng với cách sống hời hợt trongmối quan hệ thường ngày làm cho những người sống ở đô thị có nhu cầu tìmđến nơi có môi trường sống với bầu không khí trong lành, yên tĩnh tránh xanhững tiếng ồn, không gian rộng lớn, thoải mái, cùng với sự thân thiện tronglối sống của người dân quê

Chủ thể tham gia du lịch

Không chỉ có du khách, nhà cung ứng, hay một chủ sở hữu nào cả mà chủthể ở đây là bao gồm tất cả du khách, nhà cung ứng, chủ cơ sở, cả cộng đồng,dân cư của vùng nông thôn này

Nhấn mạnh vai trò của chính quyền địa phương

Chính quyền địa phương có vai trò rất quan trọng trong việc quản lí, tổchức vì nếu chính quyền địa phương quản lí không tốt hoặc nhận thức của cácchủ thể tổ chức du lịch nông nghiệp không đầy đủ thì những xung đột về môitrường và văn hóa giữa chủ thể tổ chức du lịch nông nghiệp, du khách vớicộng đồng dân cư địa phương sẽ phát sinh

1.4 Nguyên tắc của du lịch nông thôn

Từ những đặc điểm trên, phát triển du lịch nông thôn phải bảo đảm cácnguyên tắc sau:

 Bảo đảm tính công bằng cho các chủ thể tham gia

Trang 23

 Đem lại lợi ích cho người dân địa phương và phát huy nội lực ở từngđịa phương.

 Bảo tồn, phát huy vốn di sản và bảo vệ môi trường

 Luôn đổi mới và tạo sự khác biệt

 Tăng cường mối liên kết theo chiều dọc và chiều ngang để làm phongphú thêm sản phẩm

 Giữ gìn bản sắc, xây dựng hình ảnh đẹp trong lòng du khách

1.5 Lịch sử hình thành và phát triển loại hình du lịch nông thôn

Khái niệm du lịch nông thôn đã manh nha cùng với sự hình thành củangành đường sắt ở châu Âu Tuy nhiên, cho mãi đến những năm đầu của thậpniên 80 thế kỷ XX, du lịch nông thôn mới được xem là một loại hình du lịch

và phổ biến ở hầu hết các quốc gia ở châu Âu như Pháp, Hung-ga-ri,

Bun-ga-ri, Hà Lan, Đan Mạch, Thụy Điển Lúc bấy giờ, khái niệm du lịch nông thônđược quan niệm tương đồng với các loại hình du lịch ở nông trại, du lịch disản, du lịch xanh, du lịch nhà nghỉ ở nông thôn Sự khác biệt về du lịch nôngthôn ở các quốc gia phát triển và quốc gia đang phát triển là ở chỗ: Tại cácquốc gia đang phát triển, người ta xem du lịch nông thôn là đa dạng hóa thunhập từ nông nghiệp, góp phần chống đói nghèo, phát huy sức mạnh nội lựccủa cộng đồng, bảo tồn các giá trị bản sắc văn hóa truyền thống và bảo vệ môitrường Vì vậy, du lịch nông thôn ở các nước này phát triển theo chiều rộng.Còn ở các quốc gia phát triển thì loại hình du lịch này lại phát triển theo chiềusâu mà nguyên nhân chính là do các khu vực nông thôn ngày càng bị thu hẹplại

Ở Pháp, Bộ Du lịch đã phát triển đa dạng hóa các loại hình du lịch (như

du lịch bãi biển và du lịch nông thôn) để thu hút du khách nước ngoài Trongthời gian tới, tại Pháp có khoảng 300 điểm ở các vùng nông thôn sẽ được lựachọn để thực hiện các dự án lắp đặt các thiết bị, phát triển các phương tiệngiao thông công cộng nhằm thu hút khách du lịch quốc tế

Ở Trung Quốc, từ năm 1990, chính phủ đã tuyên bố một chương trình

du lịch nông thôn nhằm mục đích chống đói nghèo tại một số tỉnh như Vân

Trang 24

Nam, Quảng Đông Các điểm du lịch tại những khu vực nông thôn rộng lớncủa Trung Quốc hằng năm tiếp đón 300 triệu khách du lịch, đạt doanh thu 40

tỉ NDT (5,13 tỉ USD) Theo các số liệu chính thức của Tổng cục Du lịchTrung Quốc, 30 điểm du lịch nông thôn quanh Thượng Hải đã đón 3,91 triệukhách du lịch trong năm 2006, tăng 86% so với năm 2005; hằng năm cókhoảng 60 triệu du khách từ khu vực thành thị chọn đến các vùng nông thôntrong "3 tuần nghỉ vàng" vào tháng 5, tháng 10 và thời gian diễn ra Lễ hộiMùa xuân

Ở Nhật Bản, từ năm 1995, Bộ Nông Lâm Thủy sản đã thiết lập chương

trình nhà nghỉ nông thôn khắp trên đất nước Các nhà nghỉ nông thôn này chủyếu do các nông hộ cá thể hay dựa vào trang trại Du khách được phục vụ cácdịch vụ ăn nghỉ tại các nhà nghỉ nông thôn hoặc tham gia các hoạt động hằngngày ở đây như trồng trọt, gặt hái, câu cá

Ở Hàn Quốc, du lịch nông thôn bắt đầu vào năm 1984 từ một dự án của

chính phủ nhằm tăng thu nhập cho nông dân Nhiều làng quê Hàn Quốc trướcđây vốn nghèo nàn, nhờ chương trình này mà bộ mặt đã thay đổi hẳn, thunhập của nông dân tăng lên đáng kể

Ở Thái Lan, từ lâu chính phủ đã có chính sách khuyến khích đầu tư phát

triển du lịch nông thôn theo mô hình các trang trại hoặc các khu làng khépkín, có đầy đủ các dịch vụ phục vụ du khách Từ năm 1997, du lịch nông thôn

đã phát triển khá nhanh, thu hút nhiều du khách nội địa và quốc tế

Ngoài ra, du lịch nông thôn còn có ở hầu hết các quốc gia trên thế giớinhư Mỹ, Ô-xtrây-li-a, Ca-na-đa, Lat-vi-a, Tây Ban Nha, In-đô-nê-xi-a, Nê-pan, Ấn Độ Đáng chú ý là Anh, Pháp, Đức và Áo là những quốc gia thốngtrị thị trường du lịch nông thôn toàn cầu với hàng ngàn doanh nghiệp kinhdoanh loại hình du lịch này ở mỗi nước

Do những điều kiện kinh tế, xã hội, tự nhiên khác nhau, nên hình thức dulịch nông thôn cũng khác nhau theo từng vùng, quốc gia, lãnh thổ Chẳng hạn,

ở Ô-xtrây-li-a, du lịch nông thôn chủ yếu dựa vào các trang trại lớn; ở NhậtBản, hình thức du lịch chủ yếu là các nhà nghỉ thân thiện ở nông thôn; ở Hàn

Trang 25

Quốc, du lịch nông thôn được tổ chức theo các trang trại nhỏ; ở Đài Loan, dulịch nông thôn được tổ chức theo nhóm sở thích của cộng đồng; Trung Quốc

và ấn Độ là những quốc gia có nhiều làng nên du lịch nông thôn được tổ chứctheo quy mô làng Phát triển du lịch nông thôn sẽ góp phần bảo tồn di sản vàbảo vệ môi trường; giảm nghèo thông qua phát triển kinh kế nông thôn, pháttriển ngành, nghề; giúp phát triển du lịch sinh thái và các loại hình du lịchkhác; giáo dục, huấn luyện và tăng cường kỹ năng cho cộng đồng; tạo việclàm cho phụ nữ và sử dụng sản phẩm địa phương, giúp phát triển nông nghiệpsinh thái

Tuy xuất hiện trước du lịch sinh thái, nhưng du lịch nông thôn ít đượcbiết đến, bởi sức ảnh hưởng của du lịch nông thôn bấy giờ chỉ ở mức độ cáchoạt động trong trang trại và được coi như là một nguồn thu nhập thêm củacác trang trại Trong khi đó, du lịch sinh thái ra đời trong bối cảnh hình thànhnhững loại hình du lịch có trách nhiệm với môi trường Du lịch sinh thái đãthu hút sự quan tâm của nhiều tổ chức bảo tồn thiên nhiên và của nhiều quốcgia thế giới Du lịch sinh thái phát triển mạnh đến mức trở thành một hiệntượng của ngành du lịch Không dừng lại ở đó, tiếp nối các loại hình du lịch

có trách nhiệm với môi trường là các loại hình du lịch có trách nhiệm vớicộng đồng ra đời, từ đó chúng ta có các khái niệm du lịch chống đói nghèo,

du lịch bản địa, du lịch cộng đồng và khái niệm du lịch bền vững ra đời

1.6 Các loại hình du lịch nông thôn

Du lịch di sản (Heritage tourism)

Mô hình: Làng Đường Lâm, Hà Nội

Là du lịch bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa trong làng (nhà cổ, đìnhlàng, miếu-đền, nhà thờ họ, bia đá) được truyền lại cho hậu thế và các hoạtđộng của người xưa, để người bên ngoài có thể học tập, giao lưu Thăm thú vàhọc tập về các di tích lịch sử, thăm các nhà cổ, lưu trú, ẩm thực tại nhà hàng

nông gia, hướng dẫn viên địa phương hướng dẫn du khách đi thăm làng v.v.

Du lịch văn hóa (Cultural tourism)

Mô hình: Làng Bồ Dương, tỉnh Hải Dương

Trang 26

Du lịch sử dụng các đặc trưng văn hóa, nghi lễ, nghệ thuật truyền thống vàvăn hóa phi vật thể độc đáo của làng Tham quan các buổi trình diễn nghệthuật truyền thống, tour tham quan nguồn gốc văn hóa truyền thống, thamquan và trải nghiệm các nghi lễ v.v

Du lịch làng nghề truyền thống (Craft tourism)

Mô hình: Làng nghề truyền thống tỉnh Bắc Ninh Làng Phước Tích, tỉnhThừa Thiên Huế

Du lịch trải nghiệm, giao lưu nghề truyền thống, nghề thủ công mỹ nghệ,các tác phẩm nghệ thuật, nghề gốm v.v có nguồn gốc từ nông thôn Trảinghiệm nghề truyền thống, giao lưu với nghệ nhân, mua các sản phẩm nghềtruyền thống, tham gia tour đi tham quan nguồn gốc các sản phẩm nghềtruyền thống v.v

Du lịch cộng đồng (Community based tourism)

Mô hình: Làng Thanh Toàn, tỉnh Thừa Thiên Huế

Du lịch với thú vui hòa mình vào cuộc sống và người dân nông thôn, giaolưu với họ Trải nghiệm và giao lưu liên quan đến nghề truyền thống, nghềnghiệp do người dân sinh sống trong làng kinh doanh, tour tiếp xúc đời sốngnông thôn, tour vận dụng môi trường tự nhiên trong làng v.v

Du lịch sinh thái (Eco tourism)

Mô hình: Cái Bè, tỉnh Tiền Giang

Du lịch vận dụng các không gian tự nhiên như cảnh quan sông nước, câyxanh, công viên, vườn cây ăn quả, nhà vườn Tour khám phá môi trường thiênnhiên như sông nước, phong cảnh, thăm và dùng thử tại các cơ sở chế biếntrái cây…

Du lịch nông sinh học (Agro tourism)

Du lịch có các hoạt động nghề và cuộc sống tại các nông thôn Các chươngtrình trải nghiệm, học tập về nông nghiệp, dùng thử nông sản, giao lưu vớingười dân làm nông nghiệp v.v

Du lịch dân tộc thiểu số (Ethno-tourism)

Mô hình: Làng dân tộc Cơ Tu huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam

Trang 27

Du lịch vận dụng đời sống và văn hóa của các dân tộc thiểu số Lý giải đờisống của người dân tộc thiểu số, trải nghiệm văn hóa dân tộc, tham gia cácbuổi trình diễn, âm nhạc của người.

1.7 Các loại dịch vụ trong du lịch nông thôn

Du lịch nông thôn đòi hỏi tạo ra các dịch vụ trên cơ sở sử dụng các tàinguyên du lịch có ở nông thôn đó Các loại dịch vụ du lịch nông thôn đangđược thực hiện tại Việt Nam bao gồm:

- Nhà hàng nông gia: Là dịch vụ ẩm thực tại nhà người dân sử dụng

rau và các loại thực phẩm lấy tại nông thôn

- Dịch vụ Homestay: Là dịch vụ lưu trú tại nhà người dân, trải nghiệm

chính cuộc sống của họ

- Trải nghiệm, mua sắm với nghề truyền thống: Quảng diễn cho du

khách xem các nghề thủ công truyền thống như nghề gốm, các loạihình nghệ thuật dân gian v.v còn lưu lại tại làng, cung cấp dịch vụtrải nghiệm hoặc bán cho du khách hàng lưu niệm

- Trải nghiệm nông nghiệp: Dịch vụ trải nghiệm khi tham gia các hoạt

động nông nghiệp

- Tour bơi thuyền, đi xe đạp: Là dịch vụ sử dụng cảnh quan của làng

(như sông nước, cảnh quan thiên nhiên) để làm hấp dẫn du khách

- Tham quan, trải nghiệm các lễ tế, màn trình diễn truyền thống: Hát

múa tại các lễ hội, tổ chức các buổi trình diễn truyền thống

- Giao lưu với người dân địa phương - hướng dẫn viên địa phương:

Là hoạt động giao lưu hoặc giới thiệu về làng cho du khách bởichính người dân địa phương

- Tái hiện lịch sử và văn hóa: Là dịch vụ viếng thăm và nghe giải

thích các tài nguyên văn hóa và các kiến tạo vật còn lưu giữ lại từ

xưa.

- Các dịch vụ khác: Là các dịch vụ sử dụng tài nguyên du lịch và tài

nguyên con người khác còn lưu giữ tại địa phương

Trang 28

1.8 Ý nghĩa của du lịch nông thôn đối với cuộc sống hiện nay

Du lịch nông thôn hiện nay có vị trí quan trọng trong xu thế hội nhập vàphát triển Nông thôn nước ta còn có nhiều điểm du lịch, cảnh quan thiênnhiên đẹp, hệ thống làng nghề đa dạng Là vùng đất lưu giữ nhiều phong tụctập quán, các làn điệu dân ca, ẩm thực mang đậm nét văn hóa của vùng đồngbào dân tộc thiểu số, thuận lợi cho phát triển loại hình du lịch nông thôn kếthợp du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch cộng đồng

Đây là những điểm tạo nên bức tranh của nông thôn Việt Nam phongphú, đa dạng, một tiềm năng du lịch lớn, mang lại lợi ích cho đất nước Pháthuy được tiềm năng này, khai thác và phát triển du lịch nông thôn không chỉmang lại lợi nhuận cho các nhà kinh doanh du lịch mà còn tạo việc làm, tạonguồn thu nhập cho người dân địa phương, đồng thời góp phần giữ gìn, pháthuy bản sắc văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc

Nhiều người dân nông thôn đã mạnh dạn đầu tư mở rộng và phát triểncác loại hình du lịch nông thôn như nhà hàng nông gia một số cơ sở đã cóthương hiệu “Quán Hai Lúa”, cà phê “Hương Quê”, “Hương Đồng”, “SôngQuê”, “Quê Biển”, quán nhậu “Tư Ếch”, bành xèo “A Mật”, “Tư Ù”; các cơ

sở dịch vụ nông thôn được lấy tên theo địa danh, tên người hay theo lối suynghĩ cảm nhận ngộ nghĩnh “Chân quê” rất ấn tượng…

Dịch vụ ẩm thực tại nhà người dân sử dụng rau và các loại thực phẩm tạinông thôn, dịch vụ Homestay lưu trú tại nhà dân, được trải nghiệm chính cuộcsống của người dân, trải nghiệm với mua sắm các sản phẩm ngành nghềtruyền thống, giao lưu với nghệ nhân thông qua kỹ năng tài nghệ hoàn thiệncác sản phẩm, trình độ của người dân tái hiện lịch sử văn hóa nông thôn thôngqua các buổi trình diễn nghệ thuật Đờn ca tài tử, Nói thơ Bạc Liêu, Hò chèoghe…tham quan cảnh quan môi trường sông nước, các chương trình trảinghiệm học tập kiến thức nông nghiệp, giao lưu với nông dân… rất hấp dẫn,thu hút khách du lịch

Phát triển loại hình du lịch nông thôn không chỉ mang đến lợi nhuậnkinh tế cho nhiều phía mà còn góp phần giới thiệu, quảng bá hình ảnh về

Trang 29

thiên nhiên, văn hoá, con người Việt Nam một cách hiệu quả và chân thựcnhất

1.9 Tiềm năng phát triển du lịch nông thôn tại các trang trại Việt Nam

Khu vực nông thôn có khoảng 75% dân cư đang sinh sống, có diện tíchđất chiếm trên 92% diện tích lãnh thổ Việt Nam Thu nhập bình quân đầungười khu vực nông thôn thấp hơn dân cư thành phố khoảng 2,5 lần vàkhoảng cách thu nhập ngày càng có xu hướng gia tăng Tình trạng thiếu việclàm, thất nghiệp ở nông thôn cũng cao hơn thành thị khoảng 7 triệu người.Mỗi năm, khu vực này có hơn 1 triệu người được bổ sung thêm vào lực lượnglao động, hàng chục nghìn người dân di cư tự phát ra thành phố và đến nhữngđịa phương có nhiều đất rừng để khai hoang, mong tìm cuộc sống tốt đẹp hơn.Việc di cư này làm yếu cơ cấu xã hội ở vùng nông thôn, gia tăng nạn phárừng, và tăng thêm áp lực ở thành phố về các mặt kinh tế, xã hội, môi trường

Sự yếu kém của khu vực nông thôn còn thể hiện ở cả kết cấu hạ tầng như hệthống đường sá, cung cấp nước tưới, tiêu, cung cấp điện và thông tin

Về nông nghiệp: Nông nghiệp là hoạt động chính của kinh tế nông thôn,

chiếm 68% tổng giá trị sản phẩm (GDP) ở nông thôn Luật Đất đai năm 1993

đã tạo lập cơ sở pháp lý để hộ nông dân là đơn vị sản xuất nông nghiệp tựchủ, và nhờ đó, đã tạo ra động lực nâng cao sản xuất, bảo đảm an toàn lươngthực cho hầu hết người dân Nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất gạo, hiện nayđang đóng góp nhiều cho xuất khẩu Tuy nhiên, thu nhập bình quân của nôngdân vẫn còn rất thấp Hầu hết nông dân không có đủ việc làm, vì có ít đất đai(trung bình có 0,5 ha/hộ), ruộng đất lại bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ Cơkhí hóa nông nghiệp phát triển rất chậm Tương tự, có nhiều việc phải làm đểcải thiện giống cây trồng, vật nuôi và áp dụng kỹ thuật canh tác hiện đại Dovậy, nếu so sánh với nông nghiệp của các nước Đông - Nam Á khác như TháiLan và Phi-lip-pin thì nông nghiệp Việt Nam không hiệu quả và không cótính cạnh tranh Sự tiếp cận của Việt Nam với thương mại thế giới ngày càngsâu rộng làm cho việc khắc phục những thiếu sót này là đòi hỏi rất cấp thiết

Trang 30

Về công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn: Khu vực công nghiệp, dịch vụ ở

nông thôn còn yếu, nhưng có nhiều tiềm năng để phát triển Do công nghiệpchưa phát triển nên chất lượng gạo xuất khẩu từ Việt Nam thấp do hư hạitrong quá trình chế biến; chi phí sản xuất đường mía cao hơn các nước khác;lãng phí trong bảo quản, chế biến rau quả Hơn nữa, quá nhiều nhà máy chếbiến lại đặt ở thành phố, điều này có nghĩa là chi phí nhiều cho việc vậnchuyển nông sản nguyên liệu từ nông thôn và khu vực nông thôn không cóthêm việc làm do các nhà máy chế biến sản phẩm không ở gần nơi có nguồnnguyên liệu

Một tiềm lực đáng kể ở nhiều vùng nông thôn là truyền thống làm hàngthủ công, như sản xuất đồ gốm sứ, hàng dệt, đồng, da, sơn mài, mây tre vànón Các mặt hàng này tuy có tiềm năng phát triển, nhưng chưa được quantâm và đầu tư đúng mức Các ngành dịch vụ tương đối yếu ở nông thôn dokhó khăn trong vận chuyển và nhu cầu của địa phương thấp Du lịch đã đượcthiết lập như là một nguồn thu nhập và là công việc đáng kể ở vài vùng nôngthôn cụ thể Du lịch có tiềm năng mang lại lợi ích trên phạm vi rộng hơn, nếuđược phát triển một cách bền vững

Ở nước ta cho đến nay, khái niệm du lịch nông thôn vẫn chưa được nhắctới trong các văn bản pháp lý, mặc dù nước ta có tiềm năng lớn để phát triển

du lịch nông thôn Với phong cảnh thiên nhiên đẹp, địa hình đa dạng gồm núiđồi, sông suối, biển đảo, hang động, hệ động, thực vật phong phú, vùng nôngthôn với những làng quê cổ kính vùng Bắc Bộ, những nét văn hóa truyềnthống đặc sắc, những vùng đất có lịch sử hình thành lâu đời, nơi lưu giữ nhiều

di tích lịch sử và truyền thống văn hóa tập tục của người xưa, những cánhđồng bát ngát, phì nhiêu ở Nam Bộ là những điều kiện cần và đủ để nước taphát triển du lịch nông thôn Người Việt Nam nhân hậu, thủy chung, yêuchuộng hòa bình và giàu lòng mến khách cùng với đôi bàn tay khéo léo, tríthông minh, nhạy bén và giàu lòng quả cảm, đã làm nên những nét văn hóatruyền thống đặc sắc Việt Nam từ chính tâm hồn mộc mạc ấy của mình Làngquê với những hoạt động của nghề nông, những nghề thủ công kiếm sống

Trang 31

hằng ngày của người dân cư ngụ, là cả một tài nguyên lớn của du lịch nôngthôn mà du khách quốc tế rất quan tâm.

Để góp phần xóa đói, giảm nghèo, từ năm 2001, Tổ chức Phát triển quốc

tế của Hà Lan (SNV) phối hợp với sở du lịch của một số tỉnh thực hiệnChương trình Du lịch bền vững vì người nghèo và Sa pa (Lào Cai) là điểmđược lựa chọn làm thí điểm Tại Thừa Thiên - Huế, SNV phối hợp với Sở Dulịch của tỉnh đề ra nhiều chương trình thiết thực và cụ thể với những nội dungchính: nâng cao nhận thức về du lịch bền vững; xóa đói, giảm nghèo; quản lýnhà nước về du lịch ở địa phương; xây dựng mô hình du lịch cộng đồng vàquan hệ hợp tác giữa các bên liên đới trong du lịch Với chương trình này,SNV hỗ trợ tư vấn kỹ thuật cho các đối tác cấp tỉnh, huyện và cộng đồng đểxây dựng mô hình du lịch bền vững, góp phần bảo tồn môi trường, văn hóa vàphát triển sinh kế cho người nghèo Mô hình thí điểm tại vùng đồng bào dântộc thiểu số vốn khá nghèo nàn ở miền núi của tỉnh đã thu hút trên 30 đoànkhách quốc tế đến mua các sản phẩm du lịch của địa phương Từ năm 1986tại Long Hồ (Vĩnh Long) đã xây dựng được mô hình du lịch sinh thái ở nôngthôn khá hiệu quả, mô hình đầu tiên từ ngôi nhà ba gian truyền thống củaNam Bộ gắn liền với sông nước, kênh rạch, miệt vườn Hiện nay mô hình này

đã được nhân rộng lên 21 điểm du lịch miệt vườn, thu hút khá đông khách dulịch trong và ngoài nước Tuy nhiên, các mô hình này vẫn còn thiếu sự quantâm hỗ trợ của chính quyền địa phương

Những năm gần đây, ngành du lịch Việt Nam phát triển đa dạng các loạihình du lịch, nhưng du lịch nông thôn chưa phát triển bởi các lý do sau:

Một là, chưa có quy hoạch cụ thể cho từng địa phương để phát triển du

lịch nông thôn, cụ thể là chưa có một khung lý thuyết chung cho các kháiniệm về loại hình du lịch này

Hai là, du lịch phát triển, nhưng chưa tương xứng với tiềm năng vốn có

của nó Sự phát triển của du lịch đã tác động đến đời sống con người, thiênnhiên và môi trường ở nông thôn về cả hai hướng tích cực lẫn tiêu cực, màphần nhiều là tiêu cực

Trang 32

Ba là, do phát triển du lịch chưa gắn kết với địa phương nên các tài

nguyên thiên nhiên được ngành du lịch khai thác chưa hiệu quả và bền vững.Trong khi đó, người nông dân ở nông thôn vẫn đứng bên lề các quá trình vậnđộng của ngành du lịch, những hoạt động du lịch chỉ mới mang lợi cho Nhànước và khu vực tư nhân

Bốn là, chưa có sự chuẩn bị tốt về nhận thức cho cấp ủy, chính quyền

các cấp và người dân địa phương có tài nguyên du lịch nông thôn để họ sẵnsàng tham gia hoạt động này, từ đó giảm bớt được những tệ nạn thường gặpnhư chèo kéo khách, cung ứng sản phẩm và dịch vụ kém chất lượng, dần làmmất đi bản sắc văn hóa của địa phương

Năm là, nông dân là những người đưa di sản sinh thái và văn hóa của

mình tham gia hoạt động du lịch nông thôn, nhưng trong thực tế lại thu đượcrất ít lợi từ hoạt động này

1.10 Một số mô hình phát triển du lịch nông thôn thành công tại Việt Nam

Du lịch nông thôn hiện nay có vị trí quan trọng trong xu thế hội nhập vàphát triển Nông thôn nước ta còn có nhiều điểm du lịch, cảnh quan thiênnhiên đẹp, hệ thống làng nghề đa dạng Là vùng đất lưu giữ nhiều phong tụctập quán, các làn điệu dân ca, ẩm thực mang đậm nét văn hóa của vùng đồngbào dân tộc thiểu số, thuận lợi cho phát triển loại hình du lịch nông thôn kếthợp du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch cộng đồng

Xã Yên Đức, huyện Đông Triều (Quảng Ninh)

Những công việc nhà nông như: xay thóc giã gạo, úp nơm bắt cá đã trởthành các sản phẩm phục vụ khách du lịch Người hướng dẫn, trực tiếp thamgia trải nghiệm cùng du khách không ai khác chính là những người nông dân

Sự phát triển của mô hình du lịch tại Yên Đức đã góp phần làm thay đổidiện mạo làng quê và đời sống người dân nơi đây Người nông dân có thêmnguồn thu nhập ổn định cuộc sống, được đóng bảo hiểm hàng năm và có ngàynghỉ hàng tháng Từ chỗ ban đầu chỉ có 8 người, hiện nay, xã Yên Đức cótrên 30 người tham gia làm du lịch, đều là những người nông dân ở địa

Trang 33

phương Họ có thể đảm nhiệm cùng lúc nhiều công việc khác nhau phục vụ

du khách Đặc biệt, người dân ở đây hiện đều được đào tạo kỹ năng về tiếngAnh, có thể trò chuyện trực tiếp với người nước ngoài như những hướng dẫnviên thực thụ

Tỉnh Hòa Bình

Tỉnh Hòa Bình từ lâu được xem là thiên đường hấp dẫn chưa được khámphá với 4 mường lớn: Bi, Vang, Thàng, Động và kho tàng văn hóa phong phúcủa 7 dân tộc chủ yếu cùng sinh sống: Mường, Kinh, Tày, Dao, Mông, Hoa.Điều hấp dẫn du khách trong và ngoài nước không chỉ có tiềm năng về đadạng sinh học, cảnh quan thiên nhiên hoang sơ với núi non hùng vĩ, nhữnghang động có nhiều thạch nhũ, đến Hòa Bình, du khách được hòa mình vàonếp sống, sinh hoạt truyền thống của các dân tộc vùng Tây Bắc; tìm hiểu vàthưởng thức không gian văn hóa qua các điệu thường dang, bọ mẹng củangười Mường; điệu khặp của người Thái; điệu khèn của người Mông làm sayđắm lòng người ; khám phá những món ăn truyền thống, như: cơm lam, canhđắng, thịt nướng cùng say men rượu cần và thưởng thức những điệu múa của người Mường, Thái

Xã Phong Phú (Tân Lạc)

Xã Phong Phú (Tân Lạc) đã phát triển du lịch cộng đồng , du lịch nôngthôn (Homestay) dành cho những du khách thích khám phá, trải nghiệm vàtìm hiểu phong tục tập quán của người dân địa phương Homestay là loại hình

du lịch độc đáo, phát huy lợi ích cao nhất ở các vùng nông thôn, miền núi, đặcbiệt là những nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, có sức cuốnhút với nhiều du khách nước ngoài Điểm hấp dẫn nhất của loại hình nàychính là nét văn hóa độc đáo của dân tộc bản địa Du lịch homestay chọn nhàdân bản địa cho khách du lịch nghỉ chân và "ba cùng": cùng ăn, cùng nghỉ,cùng chơi với gia chủ Qua đó, khách du lịch có thể tiếp cận, tìm hiểu rõ hơn

về văn hóa, lịch sử, đời sống, con người hay ẩm thực; tận hưởng trọn vẹnkhông gian văn hóa truyền thống của địa phương, trải nghiệm cuộc sống, trảinghiệm chính mình

Trang 34

Tỉnh Bạc Liêu

Tại tỉnh Bạc Liêu, với khá nhiều những danh lam thắng cảnh đẹp như:vườn nhãn cổ, vườn chim Lập Điền (huyện Đông Hải), vườn chim PhongThạnh Tây (TX Giá Rai), vườn chim huyện Phước Long, đặc biệt vườn chimBạc Liêu (phường Nhà Mát, TP Bạc Liêu) nằm trong trung tâm thành phốđang được đầu tư khai thác phát triển Bên cạnh đó, các vùng sinh thái rừngphòng hộ ven biển; các trang trại nuôi trồng của các hộ gia đình, hợp tác xã,doanh nghiệp; làng nghề làm nông cụ Ngan Dừa (huyện Hồng Dân), làngnghề đan đát Vĩnh Phú Đông (huyện Phước Long), làng nghề chế biến thủysản thị trấn Gành Hào, làng nghề truyền thống muối Kinh Tư - Long ĐiềnTây (huyện Đông Hải), tuyến đường sông Vàm Lẽo (huyện Vĩnh Lợi)… đãgóp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng cho bức tranh du lịch nông thôn vàđang được tỉnh định hướng đầu tư để phát huy tối đa lợi thế

Nhiều người dân nông thôn đã mạnh dạn đầu tư mở rộng và phát triển cácloại hình du lịch nông thôn như nhà hàng nông gia một số cơ sở đã có thươnghiệu “Quán Hai Lúa”, cà phê “Hương Quê”, “Hương Đồng”, “Sông Quê”,

“Quê Biển”, quán nhậu “Tư Ếch”, bành xèo “A Mật”, “Tư Ù”; các cơ sở dịch

vụ nông thôn được lấy tên theo địa danh, tên người hay theo lối suy nghĩ cảmnhận ngộ nghĩnh “Chân quê” rất ấn tượng…

CHƯƠNG 2: TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN

DU LỊCH NÔNG THÔN TẠI TRANG TRẠI ĐỒNG QUÊ- BA

VÌ- HÀ NỘI2.1 Khái quát chung về huyện Ba Vì

Ba Vì là huyện thuộc vùng bán sơn địa, nằm về phía Tây Bắc thủ đô HàNội Với tổng diện tích 424km2, dân số hơn 265 nghìn người (bao gồm 3 dântộc Kinh, Mường, Dao), toàn huyện có 31 xã, thị trấn, trong đó có 7 xã miềnnúi, một xã giữa sông Hồng Phía đông giáp thị xã Sơn Tây, phía nam giáp

Trang 35

tỉnh Hòa Bình, phía tây giáp tỉnh Phú Thọ và phía Bắc giáp tỉnh Vĩnh Phúc.Thực hiện Nghị quyết 15 của Quốc Hội khóa XII, Ba Vì tái nhập Thủ đô HàNội tháng 8 năm 2008.

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Địa hình của huyện thấp dần từ phía Tây Nam sang phía Đông Bắc, chiathành 3 tiểu vùng khác nhau: Vùng núi, vùng đồi, vùng đồng bằng ven sôngHồng

Về khí hậu, Ba Vì nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng chịu ảnhhưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa Các yếu tố khí tượng trung bình nhiều năm

ở trạm khí tượng Ba Vì cho thấy:

Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 10 với nhiệt độ trungbình 23°C, tháng 6 và tháng 7 có nhiệt độ trung bình cao nhất là 28,6°C Tổnglượng mưa là 1832,2mm (chiếm 90,87% lượng mưa cả năm) Lượng mưa cáctháng đều vượt trên 100 mm với 104 ngày mưa và tháng mưa lớn nhất làtháng 8 (339,6mm)

Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 và kết thúc vào tháng 3 với nhiệt độ xấp xỉ200C , tháng 1 có nhiệt độ thấp nhất 15,80C; Lượng mưa các tháng biến động

từ 15,0 đến 64,4mm và tháng mưa ít nhất là tháng 12 chỉ đạt 15mm

Đất đai huyện Ba Vì được chia làm 2 nhóm, nhóm vùng đồng bằng vànhóm đất vùng đồi núi Nhóm đất vùng đồng bằng có 12.892 ha bằng 41,1%diện tích đất đai toàn huyện Nhóm đất vùng đồi núi: 18.478 ha bằng 58,9%đất đai của huyện

Ba Vì là nơi có mạng lưới thủy văn hết sức độc đáo, xung quang gần nhưđược bao bọc bởi hai dòng sông lớn là sông Hồng và sông Đà Ngoài ra trongkhu vực còn có nhiều các dòng suối nhỏ bắt nguồn từ trên đỉnh núi xuống,mùa mưa lượng nước lớn tạo ra các thác nước đẹp như thác Ao Vua, thácNgà, thác Khoang Xanh Đứng trên đỉnh núi Ba Vì ta có thể quan sát đượctoàn cảnh non nước của vùng Phía Tây là dòng sông Đà chảy sát chân núi.Phía Đông là hồ Đồng Mô, phía Bắc là Hồ Suối Hai, xa hơn là dòng sông

Trang 36

Hồng Tất cả tạo nên cảnh trí non nước hưu tình thơ mộng hiếm có của vùngnúi Ba Vì.

Theo số liệu thống kê năm 2008, diện tích rừng toàn huyện có 10.724,9

ha, trong đố rừng sản xuất 4.400,4 ha, rừng phòng hộ 78,4 ha và 6.246ha rừngđặc dụng Diện tích rừng tự nhiên tập trung chủ yếu ở vùng núi Ba Vì từ độcao 400m trở lên Rừng tự nhiên được phủ xanh bằng các loại thảm thực vậtphong phú, đa dạng, trong đó có nhiều loại cây đặc trưng của rừng nhiệt đớithuộc phạm vi Vườn quốc gia Ba Vì

Động thực vật Ba Vì rất đa dạng, phong phú Hiện nay các nhà thực vậthọc Việt Nam ước khoảng 2000 loại Gồm thực vật nhiệt đới, á nhiệt đới bướcđầu kê được 812 loài thực vật bậc cao với 88 họ thực vật, 270 loài bậc caogồm nhiều loại gỗ quý hiếm như lát hoa, kim giao sến mật, sồi, dẻ gai Hailoại cây rất quý được ghi vào "Sách đỏ Việt Nam" là Bách xanh và Thông đỏđang được bảo vệ nghiêm ngặt Động vật cú 44 loài thú, 104 loại chim, 15loại bò sát, 9 loại lưỡng cư (tài liệu quy hoạch Vườn quốc gia Ba Vì) Đây lànguồn tài nguyên rừng quý hiếm được bảo vệ nghiêm ngặt

Ba Vì có một hệ thống đường giao thông thuỷ bộ rất thuận lợi nối liềncác tỉnh Tây Bắc, Việt Bắc với toàn bộ đồng bằng Bắc Bộ, trong đó có thủ đô

Hà Nội - Trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá của cả nước Từ Trung tâmhuyện lỵ theo quốc lộ 32 đi Sơn Tây về Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc bộhoặc ngược Trung Hà đi Tây Bắc, Việt Bắc Đồng thời cũng từ trung tâmhuyện lỵ theo sông Hồng ngược Trung Hà theo sông Lô, sông Thao lên TâyBắc, hoặc theo sông Đà đi Hoà Bình - cửa ngõ Tây Bắc của Tổ quốc Ngoài

ra trên địa bàn huyện còn có một số tuyến đường Tỉnh lộ như 411A,B,C; 412,

413, 414, 415 và các đường liên huyện, đê sông Hồng, sông Đà thôngthương giữa các vùng, miền, các tỉnh, huyện bạn Với những lợi thế về giaothông đường thủy, đường bộ, Ba Vì có điều kiện khá thuận lợi trong giao lưukinh tế, văn hóa với bên ngoài, tiếp thu những tiến bộ khoa học - kỹ thuật đểphát triển kinh tế với cơ cấu đa dạng: nông nghiệp, dịch vụ, du lịch, côngnghiệp - tiểu thủ công nghiệp

Trang 37

Núi Ba Vì là cái nôi của huyền thoại Sơn Tinh, Thuỷ Tinh - Thần TảnViên và thần Sông nước (sông Đà) Xung quanh núi Ba Vì có nhiều nơi thờSơn Tinh - vị thánh đứng đầu trong Tứ Bất Tử mà điển hình là: Đền Thượng,Đền Trung, Đền Hạ, Đình Tây Đằng (Bắc Cung), Đền Và - Sơn Tây (ĐôngCung), Đền Bố - Tản Lĩnh (Nam Cung), Đền La Phù - Phú Thọ (Tây Cung),

Đến năm 2010 Ba Vì có 63 di tích lịch sử văn hoá được xếp hạng, đượcphân bố đều khắp ở cả 3 vùng trong huyện Những di tích lịch sử này phầnlớn có kiến trúc độc đáo gắn liền với tên tuổi các vị anh hùng của dân tộc,danh nhân văn hoá như: đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đỉnh núi Ba Vì,khu di tích K9 Nhiều di tích có tầm cỡ quốc gia như: Đình Tây Đằng, ĐìnhChu Quyến là 2 di tích được xếp hạng đặc biệt quan trọng cấp quốc gia, ĐìnhThụy Phiêu được các nhà khoa học đánh giá là một trong những ngôi đình cổnhất Việt Nam có niên đại 1531- thời Nhà Mạc

Nhân dân Ba Vì vốn bình dị, thông minh, hiếu học, cần cù, sáng tạotrong lao động kiên cường, bất khuất trong chống giặc ngoại xâm nhất làtrong hai cuộc kháng chống Thực dân Pháp và đế Quốc Mỹ xâm lược Trongthời kỳ đổi mới Đảng bộ, nhân dân huyện Ba Vì tiếp tục phát huy truyềnthống quê hương, phát triển mạnh mẽ và vững chắc góp phần thực hiện thắnglợi sự nghiệp hiện đại hóa đất nước Những thành tích mà Đảng bộ và nhândân huyện Ba Vì đã được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùnglực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ chống Mỹ, Huân chương lao động hạngnhất thời kỳ đổi mới

Ba Vì được thiên nhiên ưu đãi ban tặng cả bức tranh sơn thuỷ hữu tình,với hệ sinh thái phong phú, thảm thực vật đa dạng, được coi là "lá phổi xanh"phía Tây thủ đô Hà Nội, là điểm đến của khách du lịch trong và ngoài nước

Đó chính là Vườn Quốc Gia Ba Vì Nơi đây có rất nhiều cảnh quan thiênnhiên tươi đẹp như: Núi, rừng, Thác, suối, Sông, Hồ cùng với các danh lamthắng cảnh nổi tiếng như: Ao Vua, Khoang Xanh - Suối Tiên, Hồ Tiên Sa,Thiên Sơn - Suối Ngà, Khu du lịch Tản Đà, Thác Đa, Hồ Suối Hai, Hồ Cẩm

Trang 38

Quỳ, Rừng nguyên sinh Bằng Tạ - Đầm Long, Đồi cò Ngọc Nhị Nơi cónhiều trang trại đồng quê, nhiều sản phẩm nông nghiệp phong phú Có nguồnnước khoáng nóng thiên nhiên tại Thuần Mỹ rất thuận lợi cho phát triển dulịch nghỉ dưỡng.

2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội

Về kinh tế xã hội(số liệu hết năm 2010): Trong những năm qua, được sự

quan tâm của thành phố, sự nỗ lực của Đảng bộ, nhân dân các dân tộc huyện

Ba Vì đã phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lầnthứ XX (2005-2010) Các mục tiêu cơ bản đạt và vượt Nghị quyết đề ra Tổnggiá trị sản xuất đạt 9.116 tỷ đồng, giá trị tăng thêm đạt 4.311 tỷ đồng tăngtrưởng kinh tế đạt 16%

Sản xuất nông lâm nghiệp thủy sản: Theo giá trị tăng thêm đạt 1.662 tỷ

đồng, tăng 24,2% so với cùng kỳ Nông nghiệp với hai sản phẩm đặc trưng Ba

Vì đó là Chè sản lượng đạt 12.800 tấn/năm và sản lượng sữa tươi đạt 9.750tấn/năm

Sản xuất công nghiệp: Giá trị tăng thêm đạt 340 tỷ đồng, tăng 34% so

với cùng kỳ Huyện có hai cụm công nghiệp (Cam Thượng và Đồng Giai xãVật Lại) và 12 làng nghề đang hoạt động hiệu quả

Dịch vụ du lịch: Giá trị tăng thêm đạt 1.803 tỷ đồng, tăng 48,4% so với

cùng kỳ Doanh thu du lịch đạt 70 tỷ đồng, thu hút 1,5 triệu lượt khách đếnvới Ba Vì Huyện có 15 đơn vị hoạt động kinh doanh du lịch

Chính sách xã hội, lao động việc làm, nông nghiệp, nông thôn, nông dânđược quan tâm giải quyết việc làm mới cho 10.750 lao động; sự nghiệp giáodục được quan tâm đã có 18 trường trên địa bàn đạt chuẩn quốc gia; công tác

y tế đã có 23/31 trạm có Bác sỹ, 30/31 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế; về vănhóa đã có 96 làng và 45 cơ quan đạt danh hiệu văn hóa, cải cách hành chính

có sự tiến bộ, an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội được giữ vững; công tácxây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể luôn có sự chỉđạo tập trung; hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở được củng cố, đảm bảo

sự lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện thắng lợi Nghị quyết đề ra

Trang 39

Với truyền thống đoàn kết, cần cù, sáng tạo trong lao động, sản xuất vàbảo vệ tổ quốc được sự quan tâm giúp đỡ của Trung ương, của Thành ủy,HĐND, UBND và các Sở ngành Thành phố, sự đóng góp của các doanhnghiệp Đảng bộ và nhân dân huyện Ba Vì phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghịquyết đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXI đã đề ra ( năm 2010- 2015) Xâydựng Ba Vì trở thành huyện phát triển của thành phố Hà Nội vững bước trêncon đường hội nhập và phát triển.

2.2 Tiềm năng phát triển du lịch của huyện Ba Vì

2.2.1 Cảnh quan tự nhiên

Nằm ở phía tây bắc của Hà Nội, Ba Vì được biết đến là mảnh đất cócảnh quan thiên nhiên đẹp, một hệ thống di tích dày đặc gắn với huyền thoạiTản Viên Sơn Thánh và là nơi giàu bản sắc văn hóa truyền thống Những nămqua, huyện Ba Vì thực hiện nhiều giải pháp khơi dậy tiềm năng, phát triển cácloại hình du lịch, thu hút ngày càng nhiều du khách

Phát triển du lịch để khai thác những tiềm năng, lợi thế là một hướng đihiệu quả của huyện Ba Vì Định hướng của huyện là đưa du lịch, dịch vụ trởthành ngành kinh tế mũi nhọn, phát triển bền vững, hiệu quả cao

Chỉ cách trung tâm Hà Nội gần 60 km, Ba Vì nổi tiếng là vùng đất cónhững nét đẹp hoang sơ, mang đậm dấu ấn ngàn năm lịch sử Ba Vì là huyện

có tiềm năng lớn để phát triển các loại hình du lịch như: Du lịch sinh thái, dulịch văn hoá và du lịch nghỉ dưỡng

Đã từ lâu, Ba Vì được coi là huyện du lịch Khu vực sườn đông núi Ba

Vì là nơi có nhiều thuận lợi nhất với dãy núi Ba Vì linh thiêng và truyềnthuyết Sơn Tinh-Thuỷ Tinh đã đi vào thi ca Nơi đây có thác, có suối và nhiềucánh rừng nguyên sinh Hệ sinh thái động thực vật của Ba Vì rất đa dạng, khíhậu mát mẻ, rất phù hợp với phát triển du lịch sinh thái

Khu vực sườn Tây núi Ba Vì (bao gồm 3 xã Minh Quang, KhánhThượng, Ba Vì) có tổng diện tích hơn 8000 ha thì có tới hơn 2000 ha nằm ởtrên cốt 100, nơi đây khung cảnh thoáng đãng, một bên là núi nhìn ra sông Đàrất đẹp và hấp dẫn, bên cạnh đó còn các đền Hạ, Trung, Thượng đã được công

Trang 40

nhận di tích lịch sử cấp quốc gia và các hồ suối Bóp, suối Mít, suối Di rất phùhợp cho phát triển du lịch tâm linh và du lịch nghỉ dưỡng.

Ba Vì còn có nhiều hồ nước lớn: Suối Hai, với diện tích mặt nước 950

ha và nhiều hòn đảo lớn nhỏ đã được Nhà nước đưa vào một trong 19 khu dulịch chuyên đề cấp quốc gia của cả nước là nơi có phong cảnh sơn thuỷ hữutình có thể phát triển du lịch tổng hợp Ngoài ra, thiên nhiên ban tặng cho Ba

Vì những tài nguyên du lịch quý giá như hồ Cầm Quỳ, nước khoáng nóngThuần Mỹ Tất cả những điều đó đã tạo cho Ba Vì những thế mạnh riêngtrong phát triển du lịch.Thêm nữa, có thể nhìn thấy tiềm năng phát triển dulịch ở Ba Vì trên những thảo nguyên cỏ xanh mướt, những trang trại bò sữatrải rộng Chăn nuôi và cung cấp bò sữa đã và đang là thế mạnh của Ba Vìtrong phát triển du lịch và dịch vụ

Huyện Ba Vì đã và đang tập trung phát triển ngành “công nghiệp khôngkhói” theo hướng bền vững, hiệu quả kinh tế cao Trong các đề án phát triển

du lịch, Ba Vì đặc biệt quan tâm đến công tác quy hoạch, mời gọi đầu tư vàkhuyến khích các doanh nghiệp kinh doanh du lịch đầu tư cơ sở hạ tầng, cho

ra đời các sản phẩm du lịch độc đáo, hấp dẫn khách du lịch

Cùng với việc tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh du lịchtrên địa bàn, huyện Ba Vì đã xác định được chiến lược phát triển dài hơi.Những khu vực như: Hồ Suối Hai, sườn Đông và sườn Tây núi Ba Vì đã có

đề án nghiên cứu, sắp tới sẽ được triển khai để sớm trở thành những địa điểm

du lịch sinh thái hấp dẫn

2.2.2 Kinh tế xã hội

Trong những năm gần đây, nhiều du khách đến Ba Vì không khỏi ngỡngàng trước sự đổi thay của một vùng núi Tản, sông Đà Từ năm 2009 đếnnay, mỗi năm du lịch Ba Vì thu hút hơn một triệu lượt khách, trong đó cóhàng vạn khách quốc tế, doanh thu hơn 100 tỷ đồng mỗi năm, tạo việc làmcho khoảng 1200- 1400 lao động

Nằm trong những hoạt động đẩy mạnh phát triển du lịch, từ đầu năm đếnnay, huyện Ba Vì đã tổ chức lễ khai trương Du lịch Ba Vì năm 2011 với qui

Ngày đăng: 20/06/2016, 20:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Đỗ Doãn Đạt (Biên dịch), Du lịch nông nghiệp - chiến lược phát triển nông thôn ở Hàn Quốc, Chương trình Thông tin quy hoạch vùng và tài nguyên môi trường , 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch nông nghiệp - chiến lược phát triểnnông thôn ở Hàn Quốc
[2]. PGS. TS. Đoàn Thị Mỹ Hạnh, ThS. Bùi Thị Quỳnh Ngọc, Phát triển du lịch nông thôn ở vùng đồng bằng sông Cửu Long: Đường đến cơ cấu kinh tế dịch vụ - nông - công nghiệp, Khoa Quản trị Kinh doanh, Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 97 Võ Văn Tần, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam,2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển dulịch nông thôn ở vùng đồng bằng sông Cửu Long: Đường đến cơ cấu kinh tếdịch vụ - nông - công nghiệp
[3]. ThS. Bùi Thị Lan Hương, Du lịch nông nghiệp và du lịch nông thôn, Nội san Nghiên cứu khoa học, Trường Cán bộ quản lý nông nghiệp và phát triển nông thôn 2, thành phố Hồ Chí Minh, 1/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch nông nghiệp và du lịch nông thôn
[4]. PGS.TS. Nguyễn Văn Mạnh và ThS.Trần Huy Đức , Phát triển du lịch nông thôn để thúc đẩy hiện đại hóa nông thôn ở Hà Nội , Khoa Du lịch và Khách sạn, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển du lịchnông thôn để thúc đẩy hiện đại hóa nông thôn ở Hà Nội
[5]. Bùi Xuân Nhàn, Phát triển du lịch nông thôn ở nước ta hiện nay, Tạp chí cộng sản, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển du lịch nông thôn ở nước ta hiện nay
[6]. TS. Lê Anh Tuấn , Kinh nghiệm phát triển du lịch nông thôn ở một số quốc gia trên thế giới, Tạp chí Du lịch Việt Nam số 2/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm phát triển du lịch nông thôn ở một sốquốc gia trên thế giới
[7]. Phòng Văn hóa Thể thao và Du lịch huyện Ba Vì , Báo cáo về đặc điểm tài nguyên du lịch huyện Ba Vì , 2010.Tiếng anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về đặc điểmtài nguyên du lịch huyện Ba Vì
[8]. Beus, Curtis E, Agritourism: Cultivating tourists on the farm – Small FarmsTeam, Washington State University, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Agritourism: Cultivating tourists on the farm – SmallFarmsTeam
[9]. Lobo, Ramiro, Agricultural tourism benefits in San Diego County – California Agriculture, Volume 53, No.6, 10-12/1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Agricultural tourism benefits in San Diego County –California Agriculture

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.7.2. Hình thức tổ chức và - Tiềm năng phát triển du lịch nông thôn tại trang trại Đồng Quê Ba Vì Hà Nội. Ba Vì Hà Nội..
2.7.2. Hình thức tổ chức và (Trang 57)
Bảng 2.1. Chương trình du lịch tổng quan tại Trang trại Đồng Quê - Tiềm năng phát triển du lịch nông thôn tại trang trại Đồng Quê Ba Vì Hà Nội. Ba Vì Hà Nội..
Bảng 2.1. Chương trình du lịch tổng quan tại Trang trại Đồng Quê (Trang 67)
Bảng 2.3. Báo giá hệ thống phòng nghỉ tại TTĐQ - Tiềm năng phát triển du lịch nông thôn tại trang trại Đồng Quê Ba Vì Hà Nội. Ba Vì Hà Nội..
Bảng 2.3. Báo giá hệ thống phòng nghỉ tại TTĐQ (Trang 73)
Bảng 2.4. Báo giá phòng hội thảo tại TTĐQ - Tiềm năng phát triển du lịch nông thôn tại trang trại Đồng Quê Ba Vì Hà Nội. Ba Vì Hà Nội..
Bảng 2.4. Báo giá phòng hội thảo tại TTĐQ (Trang 75)
Bảng 2.5. Bảng gía các dịch vụ khác tại TTĐQ - Tiềm năng phát triển du lịch nông thôn tại trang trại Đồng Quê Ba Vì Hà Nội. Ba Vì Hà Nội..
Bảng 2.5. Bảng gía các dịch vụ khác tại TTĐQ (Trang 76)
Sơ đồ điểm liên kết - Tiềm năng phát triển du lịch nông thôn tại trang trại Đồng Quê Ba Vì Hà Nội. Ba Vì Hà Nội..
i ểm liên kết (Trang 110)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w