1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển làng nghề ở huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình (Trường hợp làng nghề đá mỹ nghệ ở xã Ninh Vân)

102 726 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những nội dung định hướng phát triển kinh tế nông thôn ở Đại hội IX đề ra là: Mở mang các làng nghề, phát triển các điểm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp sản xuất hàng thủ côn

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i DANH MỤC BẢNG BIỂU ii

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ 15

1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LÀNG NGHỀ VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ 151.1.1 Khái niệm về làng nghề và phát triển làng nghề 151.1.2 Vai trò của phát triển làng nghề trong quá trình phát triển kinh tế

- xã hội 19

1.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ 23

1.3 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG 281.3.1 Kinh nghiệm phát triển làng nghề của huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định 281.3.2 Kinh nghiệm của làng nghề Đá mỹ nghệ Non Nước, quận Ngũ Hành Sơn 32

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ HUYỆN HOA LƯ TỈNH NINH BÌNH: TRƯỜNG HỢP LÀNG NGHỀ ĐÁ MỸ NGHỆ Ở XÃ NINH VÂN 39

2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ HUYỆN HOA LƯ 392.1.1 Điều kiện tự nhiên 392.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 42

2.2 TỔNG QUAN THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ Ở HUYỆN HOA

LƯ TỈNH NINH BÌNH 54

Trang 2

2.3 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ HUYỆN HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH 582.3.1 Quá trình hình thành và phát triển các làng nghề huyện Hoa

Lư 582.3.2 Các chính sách phát triển làng nghề 592.3.3 Thực trạng các điều kiện phát triển làng nghề huyện Hoa Lư 622.3.4 Các hình thức sản xuất kinh doanh tại làng nghề 68

2.4 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ HUYỆN HOA

LƯ, TỈNH NINH BÌNH 692.4.1 Đánh giá chung 692.4.2 Những vấn đề đặt ra cần giải quyết để phát triển làng nghề huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình 78

CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ HUYỆN HOA LƯ TỈNH

NINH BÌNH: TRƯỜNG HỢP LÀNG NGHỀ ĐÁ MỸ NGHỆ Ở XÃ NINH VÂN 83

3.1 QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ HUYỆN HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH 833.1.1 Phát triển làng nghề phải gắn với thị trường 833.1.2 Phát triển sản phẩm làng nghề trên cơ sở kết hợp yếu tố hiện đại

và yếu tố truyền thống 843.1.3 Phát triển làng nghề phù hợp với thế mạnh của địa phương 843.1.4 Phát triển làng nghề trên cơ sở kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ môi trường và xây dựng nông thôn mới 853.1.5 Phát triển làng nghề gắn với đa dạng hoá hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh, kết hợp hài hòa các cơ sở ngành nghề quy mô vừa và nhỏ 86

3.2 CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ HUYỆN HOA

LƯ TỈNH NINH BÌNH 87

Trang 3

3.2.1 Giải pháp về quy hoạch phát triển làng nghề 87

3.2.2 Giải pháp về thị trường 89

3.2.3 Giải pháp phát triển thương hiệu 91

3.2.4 Giải pháp về nguồn vốn cho phát triển làng nghề 92

3.2.5 Giải pháp về môi trường 94

3.2.6 Phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở các làng nghề 95

3.2.7 Đổi mới cơ chế, chính sách đối với phát triển làng nghề 95

KẾT LUẬN 97

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

STT Từ viết tắt Nguyên nghĩa

1 CNH, HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá

2 CN- TTCN Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp

5 NN-PTNT Nông nghiệp - Phát triển nông thôn

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

STT Số hiệu

bảng

1 Bảng 2.1 Số liệu thống kê theo các đơn vị hành chính

thuộc huyện Hoa Lư năm 2009

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Kinh tế nông thôn có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh

tế - xã hội ở nước ta Một trong những nội dung định hướng phát triển kinh

tế nông thôn ở Đại hội IX đề ra là: Mở mang các làng nghề, phát triển các điểm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ

Phát triển ngành nghề nông thôn là cách làm “rẻ” nhất để tạo việc làm, tăng thu nhập và xóa đói giảm nghèo cho người dân nông thôn, góp phần thực hiện chiến lược kinh tế hướng ngoại, với sản phẩm mũi nhọn là hàng thủ công mỹ nghệ và cũng là thực hiện mục tiêu “ly nông bất ly hương” ở nông thôn Phát triển làng nghề con mang ý nghĩa giữ gìn và quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Như vậy, việc phát triển các làng nghề ở nông thôn có ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội rất lớn đối với kinh tế nông thôn

Huyện Hoa Lư là vùng đất nổi tiếng của Ninh Bình không chỉ với truyền thống lịch sử vẻ vang, với tiềm năng lớn về du lịch mà còn nổi tiếng với nhiều nghề tiểu thủ công nghiệp và thủ công truyền thống như nghề thêu ren (xã Ninh Hải), nghề mộc (Phúc Lộc)…Đặc biệt nghề Đá mỹ nghệ ở xã Ninh Vân được xem là một nghề đầy triển vọng Nghề chế tác đá tập trung chủ yếu ở xã Ninh Vân bởi có lợi thế về truyền thống và nguồn nguyên liệu núi đá vôi dồi dào, chiếm 32% diện tích đất tự nhiên Trước đây do chiến tranh, nghề chế tác Đá mỹ nghệ bị mai một, nay đất nước đang trên đà phát triển và hội nhập, cuộc sống của nhân dân ngày càng được nâng lên thì nhu cầu về mặt hàng Đá mỹ nghệ ngày càng lớn

Trang 7

Tên tuổi của làng nghề Đá mỹ nghệ xã Ninh Vân được đánh dấu bởi các công trình nổi tiếng như: Tượng đài Bác Hồ ở thành phố Vinh; cụm tượng đài Bà mẹ và Tổ quốc ở thành phố Hồ Chí Minh; cụm tượng đài ở Nghĩa trang Trường Sơn; tượng đài Thanh niên xung phong ở Quảng Trị; tượng đài Trần Hưng Đạo ở Hải Dương; gần đây nhất là trên 500 pho tượng

La Hán ở chùa Bái Đính-Ninh Bình, ngôi chùa được coi là lớn nhất Đông Dương…Bên cạnh đó, một số sản phẩm còn vượt khỏi phạm vi quốc gia như tượng cố Tổng Bí thư Cay – Sỏn – Phôm – Vy – Hẳn đặt tại Lào; tượng đài chiến thắng ở Campuchia; tượng phật ở Đài Loan và hàng nghìn công trình mang ý nghĩa tâm linh khác nằm ở khắp các khu du lịch, danh lam thắng cảnh của Quốc gia đó là: các bức phù điêu; cổng tam quan; văn bia; lăng mộ và các công trình công sở; đình chùa; đền thờ; miếu mạo, với quy

mô to nhỏ khác nhau, kiến trúc nghệ thuật vô cùng phong phú Với tiềm năng lớn về lao động và nguyên liệu đá, nghề chế tác Đá mỹ nghệ đã thu hút trên 75 doanh nghiệp tư nhân và 453 hộ tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh, chế tác Đá mỹ nghệ, doanh thu mỗi năm trên 200 tỷ đồng, đóng góp ngân sách địa phương gần 100 tỷ đồng Tạo việc làm cho 6000 lao động chính, 4000 lao động theo mùa vụ, thu nhập bình quân của riêng người thợ chế tác đá khoảng 60 - 80 triệu đồng/ người/ năm Doanh thu tại xã Ninh Vân, nghề đá chiếm gần 80 % thu nhập toàn xã

Cùng với sự đóng góp vô cùng to lớn của làng nghề Đá mỹ nghệ trên tất cả các lĩnh vực là những khó khăn vướng mắc mang tính cấp bách mà các làng nghề đang gặp phải như: Khu tập trung sơ chế đá chưa được hình thành, phần lớn các làng nghề còn sản xuất với quy mô nhỏ lẻ Các doanh nghiệp luôn trong tình trạng “khát vốn”, bế tắc trong việc tìm đầu ra, hoạt động mang tính tự phát chưa có kế hoạch phát triển cụ thể, cũng như chưa

có sự liên minh gắn kết tạo nên sức mạnh tổng hợp Sự cạnh tranh còn thiếu

Trang 8

lành mạnh, quảng bá, giới thiệu sản phẩm, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm chưa được quan tâm đúng mức…Bên cạnh đó là các vấn đề nhức nhối ngay tại các làng nghề Đá mỹ nghệ như: ô nhiễm môi trường; tiếng ồn; bụi bặm; vấn đề suy giảm đạo đức và trình độ học vấn…đã và đang ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống và phát triển kinh tế - xã hội của huyện Hoa Lư

Bối cảnh đó đã lý giải: Vì sao phải phát triển làng nghề ở huyện Hoa

Lư, đặc biệt là làng nghề Đá mỹ nghệ ở xã Ninh Vân? Trên thực tế các cấp lãnh đạo tỉnh Ninh Bình đã nhìn thấy rõ tính cấp thiết này và đã có các quan điểm, chủ trương phát triển làng nghề Đá mỹ nghệ Tuy nhiên, vấn đề là làm

gì và làm thế nào để phát triển mạnh mẽ hơn làng nghề Đá mỹ nghệ Để tìm câu trả lời cho các câu hỏi đó cần thiết phải nghiên cứu tìm ra các giải pháp nhằm phát huy thế mạnh, khắc phục các tồn tại, hạn chế trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng, động thái và xu hướng vận động của làng nghề Đá mỹ

nghệ Với yêu cầu cả về lý luận và thực tiễn, học viên chọn đề tài “Phát triển làng nghề huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình: Trường hợp làng nghề Đá

mỹ nghệ ở xã Ninh Vân” làm luận văn tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Do vai trò quan trọng cả về kinh tế, văn hóa, xã hội nên phát triển làng nghề được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu trên nhiều phương diện

và đã đạt được những kết quả nhất định Điển hình là các công trình như:

- “Bảo tồn và phát triển các làng nghề trong quá trình CNH” của tiến

sĩ Dương Bá Phượng, NXB khoa học xã hội, 2001

Trong công trình này tác giả đã đưa ra những nét cơ bản về khái niệm làng nghề truyền thống về đặc điểm kinh tế - xã hội trong các làng nghề, đề

Trang 9

xuất giải pháp cơ bản để bảo tồn làng nghề truyền thống trong quá trình CNH, HĐH

- “Phát triển làng nghề truyền thống ở nông thôn Việt Nam trong quá trình CNH, HĐH” của tiến sĩ Trần Minh Yến, NXB khoa học xã hội, 2004

Luận án đã đưa ra những vấn đề cơ bản bao quát nhất lý luận về làng nghề Đã chỉ ra được mâu thuẫn của làng nghề trong quá trình phát triển Luận án cũng đã trình bày tổng thể các giải pháp để phát triển làng nghề trong quá trình CNH, HĐH

- “Những giải pháp nhằm phát triển làng nghề ở một số tỉnh Đồng bằng sông Hồng” Đề tài cấp bộ của viện đào tạo Công nghệ và Quản lý

quốc tế, 2005, chủ nhiệm đề tài GS.TS Nguyễn Trí Dĩnh

- “Về các giải pháp phát triển thủ công nghiệp theo hướng CNH, HĐH

ở vùng Đồng bằng sông Hồng” Đề tài cấp bộ của học viện Chính trị Quốc

gia Hồ Chí Minh, 1998, chủ nhiệm đề tài PGS.TS Đặng Lễ Nghi

Các đề tài nghiên cứu ở cấp bộ đã đưa ra được các số liệu đa dạng, phong phú và chỉ ra được các giải pháp chung cơ bản để phát triển làng nghề trong quá trình CNH, HĐH

Ngoài ra còn có một số công trình khoa học, sách báo, tạp chí và các bài viết đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng về phát triển làng nghề ở Việt Nam Có thể đánh giá chung các công trình nghiên cứu trên đều đề xuất các giải pháp phát triển làng nghề trong quá trình CNH, HĐH Tuy nhiên chưa có đề tài nào nghiên cứu trực tiếp vấn đề phát triển làng nghề ở huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình, trường hợp làng nghề Đá mỹ nghệ ở xã Ninh Vân

Trang 10

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

* Mục đích

Trên sơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển làng nghề Mục đích của luận văn là đưa ra bức tranh tổng quan về sự phát triển làng nghề ở huyện Hoa Lư, đặc biệt là đánh giá đúng thực trạng làng nghề

Đá mỹ nghệ của huyện Hoa Lư Từ đó đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển làng nghề, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của huyện trong thời gian tới

* Nhiệm vụ

Thực hiện mục đích trên, đề tài cần tập trung giải quyết những nhiệm

vụ sau:

- Trình bày có hệ thống một số lý luận cơ bản về phát triển làng nghề

- Tổng quan kinh nghiệm phát triển làng nghề ở một số địa phương trong nước để rút ra bài học cho phát triển làng nghề huyện Hoa Lư

- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển làng nghề của huyện Hoa

- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển làng nghề ở huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình trong thời gian tới

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Luận văn lấy sự phát triển làng nghề huyện Hoa Lư, đặc biệt là các làng nghề Đá mỹ nghệ làm đối tượng nghiên cứu dưới góc độ Kinh tế chính trị

Trang 11

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm phương pháp luận chung Ngoài ra còn chú trọng đến các phương pháp như:

- Phương pháp phân tích tổng hợp:

Phương pháp này được thực hiện thông qua việc phân tích dữ liệu thực

tế Từ đó đánh giá chính xác nhất những thành tựu và hạn chế trong quá trình phát triển của làng nghề Đá mỹ nghệ Tìm ra nguyên nhân chủ yếu của những thành tựu và hạn chế đó, đồng thời đề xuất những quan điểm giải pháp nhằm phát triển mạnh mẽ làng nghề Đá mỹ nghệ ở xã Ninh Vân trong thời gian tới

- Phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu:

Trong quá trình làm luận văn, học viên sẽ thu thập tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau, sau đó so sánh, xử lý các số liệu rồi rút ra kết luận ví dụ:

Sử dụng phương pháp thống kê, so sánh để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, hộ gia đình chế tác Đá mỹ nghệ trong những năm qua

- Phương pháp điều tra thực tế:

Trang 12

Học viên dùng hệ thống các câu hỏi theo nội dung xác định, có thể dùng phiếu điều tra hoặc phỏng vấn chuyên sâu để thu thập thông tin phục

vụ cho luận văn

6 Những đóng góp của luận văn

- Hệ thống hóa được những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển làng nghề

- Phân tích đánh giá một cách toàn diện thực trạng phát triển của làng nghề huyện Hoa Lư Rút ra những thành tựu đã đạt được, chỉ ra những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của nó

- Đề xuất được những giải pháp chủ yếu có tính khả thi nhằm phát triển làng nghề huyện Hoa Lư trong thời gian tới

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

- Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển làng nghề

- Chương 2: Thực trạng phát triển làng nghề huyện Hoa Lư tỉnh Ninh

Bình: trường hợp làng nghề Đá mỹ nghệ ở xã Ninh Vân

- Chương 3: Quan điểm định hướng và giải pháp chủ yếu phát triển

làng nghề huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình: trường hợp làng nghề Đá mỹ nghệ

ở xã Ninh Vân

Trang 13

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Đến nay đã có rất nhiều quan niệm khác nhau về làng nghề

Quan niệm thứ nhất: Làng nghề là một cộng đồng dân cư sinh sống

trong một làng (hoặc khu vực dân cư) có hoạt động sản xuất kinh doanh tại các hộ gia đình hoặc các cơ sở sản xuất trong làng, có sử dụng các nguyên liệu trong và ngoài địa phương, phát triển đến mức trở thành nguồn sống chính hoặc thu nhập chủ yếu của người dân trong làng

Quan niệm thứ hai: Làng nghề là làng nghề cổ truyền làm thủ công,

nhưng không nhất thiết toàn bộ dân làng đều làm nghề thủ công Người thợ thủ công nhiều khi cũng làm nghề nông nhưng do yêu cầu chuyên môn hoá

họ chuyển sang sản xuất hàng thủ công ngay tại làng

Quan niệm thứ ba: Làng nghề là trung tâm sản xuất thủ công, có quy tụ

các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề truyền thống lâu đời có

sự liên kết hỗ trợ sản xuất, tiêu thụ sản phẩm theo kiểu phường hội và có cùng tổ nghề

Quan niệm thứ tư: Làng nghề là những làng ở nông thôn có các ngành

nghề phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số hộ, số lao động và số thu nhập so với nghề nông

Quan niệm thứ năm: Làng nghề là nơi mà hầu hết mọi người trong làng

đều hoạt động cho một nghề thủ công và lấy đó làm nghề sinh sống chủ yếu

Trang 14

Theo quy định hiện hành của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, công nhận là làng nghề phải đảm bảo 3 tiêu chí sau:

1 Có tối thiểu 30 % tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn

2 Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính tới thời điểm đề nghị công nhận

3 Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước

Từ các quan niệm trên cho thấy, “làng nghề” là một thiết chế kinh tế -

xã hội ở nông thôn gắn liền với 2 yếu tố “làng” và “nghề”

Làng là khối dân cư ở nông thôn tồn tại trong một không gian địa lý nhất định, làm thành một đơn vị có đời sống riêng về nhiều mặt Phần lớn các làng xưa kia đều là nơi sản xuất nông nghiệp Sau đó, do yêu cầu cuộc sống đòi hỏi ngày càng nhiều sản phẩm hơn vì vậy một số nghề phi nông nghiệp đã xuất hiện, có các hộ vừa sản xuất nông nghiệp vừa làm nghề hoặc

có hộ tách khỏi nông nghiệp để chuyên sản xuất nghề Dần dần, nghề phi nông nghiệp đã chiếm ưu thế Phần lớn các nghề trong làng nghề thuộc lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp Ngày nay, do sự phát triển của kinh tế hàng hoá đã xuất hiện nhiều người chuyên làm dịch vụ cung cấp nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm cho các hộ, các cơ sở sản xuất chuyên làm nghề thủ công, vì vậy, nghề nghiệp được mở rộng sang cả lĩnh vực buôn bán

Như vậy, yếu tố "nghề" trong làng nghề không nên hiểu là tất cả các nghề tạo ra thu nhập, tạo việc làm nói chung mà "nghề" ở đây phải là những nghề phi nông nghiệp

Từ đó có thể rút ra khái niệm làng nghề như sau: Làng nghề là những làng ở nông thôn có các ngành nghề phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số

hộ, số lao động và tỷ trọng thu nhập so với nghề nông

Trang 15

* Làng nghề truyền thống:

+ Nghề truyền thống:

Nghề truyền thống là một phạm trù dùng để chỉ những nghề đã có một quá trình lịch sử phát triển lâu đời, được tập trung sản xuất tại một vùng hay một làng, các sản phẩm được làm ra đã nổi tiếng trong vùng, trong nước biết đến và được nhiều lớp nghệ nhân, thợ thủ công đã được rèn rũa tay nghề qua nhiều đời và thế hệ thực hiện

Đặc trưng cơ bản nhất của nghề truyền thống là có kỹ thuật và công nghệ truyền thống, có các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề Mỗi nghề bao giờ cũng có ông tổ của nghề, được dân làng ghi công và thờ phụng từ đời này sang đời khác

Nghề truyền thống ở nước ta rất phong phú đa dạng, có những nghề đã hình thành và tồn tại hàng trăm năm, nhiều sản phẩm đã từng nổi tiếng trong nước và thế giới, ví dụ như: Nghề gốm sứ Bát Tràng (Hưng Yên), nghề dệt

tơ lụa Vạn Phúc (Hà Đông), nghề dệt chiếu cói Nga Sơn (Thanh Hoá)… Những nghề truyền thống được truyền bá trong phạm vi từng làng Trong những làng có nghề truyền thống thì đa số người dân biết làm nghề đó, ngoài ra, họ còn có thể phát triển những nghề khác nhưng những nghề này chiếm tỷ lệ nhỏ hơn nghề truyền thống

Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, việc sản xuất các sản phẩm có tính truyền thống được hỗ trợ bởi quy trình công nghệ mới với những vật liệu mới Vì vậy, khái niệm nghề truyền thống cũng

được mở rộng hơn Khái niệm này có thể được hiểu : Nghề truyền thống bao

gồm những nghề tiểu thủ công nghiệp xuất hiện từ lâu trong lịch sử, được truyền từ đời này qua đời khác còn tồn tại đến ngày nay kể cả những nghề

đã được cải tiến hoặc sử dụng những loại máy móc hiện đại để hỗ trợ sản xuất nhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống và sản phẩm của nó vẫn thể hiện những nét văn hoá đặc sắc của dân tộc

Trang 16

sự liên kết, hỗ trợ trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Trong làng nghề

truyền thống những người thợ có cùng tổ nghề và đặc biệt các thành viên luôn ý thức tuân thủ những chế ước xã hội và gia tộc Sản phẩm được nhiều thế hệ sản xuất ra có giá trị, có tính đặc thù riêng, nổi tiếng ở địa phương và nhiều nơi biết đến

Trong các làng nghề truyền thống thường có tuyệt đại bộ phận dân số làm nghề truyền thống hoặc một vài dòng họ chuyên làm nghề theo kiểu cha truyền con nối Song, sự truyền nghề không phải là sự sao chép, mỗi làng nghề, mỗi thợ thủ công khi tiếp thu nghề đều có những cải tiến, sáng tạo làm cho sản phẩm của mình có những nét độc đáo riêng so với sản phẩm của người khác, làng khác

* Khái niệm phát triển làng nghề

Theo từ điển tiếng Việt năm 2004, phát triển là một khái niệm chỉ sự biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn

Với ý nghĩa đó, phát triển làng nghề có thể được hiểu đó là sự củng cố, duy trì, hoàn thiện hoạt động sản xuất kinh doanh của các làng nghề hiện có, tạo điều kiện thuận lợi nhằm khuyến khích thúc đẩy, nâng cao năng lực sản xuất và hiệu quả của các làng nghề Từ đó, có thể sử dụng một cách có hiệu

Trang 17

quả những nguồn lực sẵn có ở nông thôn, đẩy mạnh sự chuyên môn hoá sản xuất và tạo ra nhiều sản phẩm hơn đáp ứng nhu cầu của xã hội

1.1.2 Vai trò của phát triển làng nghề trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội

* Góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Nội dung và mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là tạo ra một

cơ cấu kinh tế mới, hợp lý và hiệu quả trong nông nghiệp, nông thôn Do đó tất yếu phải chuyển nền kinh tế nông thôn với cơ cấu thuần nông, sản xuất mang tính chất tự cấp, tự túc là chủ yếu sang nền kinh tế nông thôn công nghiệp hoá với cơ cấu nông, công nghiệp, dịch vụ và sản xuất ra nhiều sản phẩm hàng hoá

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn là nhằm phát triển kinh tế nông thôn lên một bước mới về chất làm thay đổi cơ cấu sản xuất, cơ cấu lao động, cơ cấu làm việc, cơ cấu giá trị sản lượng và cơ cấu thu nhập của dân cư nông thôn bằng các nguồn lực từ trong lĩnh vực nông nghiệp và phi nông nghiệp Với mục tiêu như vậy, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh

tế nông nghiệp, nông thôn ngày càng được thúc đẩy và diễn ra ngay trong nội bộ ngành nông nghiệp và các bộ phận hợp thành khác của cơ cấu kinh tế nông thôn Trong quá trình vận động và phát triển của mình, các làng nghề

đã tỏ rõ vai trò tích cực đối với sự chuyển dịch này Nó thể hiện ở chỗ góp phần tăng tỷ trọng của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, thu hẹp

tỷ trọng nông nghiệp, chuyển lao động từ sản xuất nông nghiệp có thu nhập thấp sang ngành nghề phi nông nghiệp có thu nhập cao hơn Trong thực tế

sự ra đời và phát triển của các làng nghề ngay từ đầu đã làm biến đổi cơ cấu kinh tế nông thôn Điều đó có nghĩa là ở nông thôn khi nghề thủ công xuất

Trang 18

hiện thì kinh tế nông thôn không chỉ có ngành nông nghiệp thuần nhất mà bên cạnh nó còn có các ngành thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ cùng tồn tại phát triển Trên góc độ phân công lao động thì làng nghề có tác động rất tích cực tới sản xuất nông nghiệp Nó không chỉ cung cấp tư liệu sản xuất cho nông nghiệp mà còn có tác dụng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Chẳng hạn, ngành nghề chế biến lương thực, thực phẩm phát triển yêu cầu nguyên liệu từ nông nghiệp phải nhiều hơn, đa dạng hơn và chất lượng cao hơn Vì vậy, trong nông nghiệp hình thành những khu vực nông nghiệp chuyên môn hoá, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao động cao và nhiều sản phẩm hàng hoá Đồng thời, người nông dân trước yêu cầu tăng lên của sản xuất sẽ tự thấy nên đầu tư vào lĩnh vực nào là

có lợi nhất Như vậy, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đã được thực hiện dưới tác động của sản xuất và nhu cầu thị trường

Sản xuất phi nông nghiệp ở các làng nghề cho thu nhập và giá trị sản lượng cao hơn so với sản xuất nông nghiệp Do từng bước tiếp cận với nền kinh tế thị trường, người lao động chuyển sang đầu tư vào các ngành nghề phi nông nghiệp, đặc biệt là ngành mà sản phẩm có khả năng tiêu thụ mạnh Điều đó có nghĩa là khu vực sản xuất nông nghiệp sẽ bị thu hẹp lại, khu vực sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp được tăng lên Sự phát triển này đã khẳng định một hướng đi đúng, nó tạo ra cơ sở kinh tế phi nông nghiệp cho những vùng thuần nông trước đây chỉ chuyên có trồng trọt và chăn nuôi Cùng với các nghề thủ công, làng nghề phát triển đã tạo cơ hội cho hoạt động dịch vụ ở nông thôn mở rộng quy mô và địa bàn hoạt động, thu hút nhiều lao động Sản xuất trong các làng nghề là một quá trình liên tục, vì vậy đòi hỏi dịch vụ cung cấp nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm phải thường xuyên Do đó, dịch vụ nông thôn phát triển mạnh mẽ với nhiều hình thức phong phú đa dạng Như vậy, sự phát triển làng nghề có tác dụng

Trang 19

quan trọng đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

* Góp phần giải quyết việc làm, tận dụng nguồn nguyên liệu và lực lượng lao động

Giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho dân cư nông thôn là vấn đề bức xúc ở nước ta hiện nay Bởi khu vực nông thôn chiếm khoảng 75% dân số

và 70% lao động cả nước, đất canh tác bình quân đầu người thấp, người nông dân chỉ sử dụng khoảng 60-70% thời gian làm nông nghiệp, vì vậy, tình trạng thiếu việc làm là phổ biến Với vai trò đặc biệt của mình, làng nghề đã tạo ra được một khối lượng lớn công việc, thu hút nhiều lao động ở nông thôn Phát triển làng nghề có vai trò quan trọng trong giải quyết việc làm cho người lao động không những cho riêng làng mình mà còn cho dân

cư của làng khác đến làm thuê

Sự phát triển của làng nghề kéo theo sự phát triển của nhiều ngành nghề khác tạo ra nhiều việc làm cho người lao động, bởi vì khi phát triển làng nghề đưa những nghề thủ công vào các vùng nông thôn nó sẽ lại tạo điều kiện cho các ngành nghề khác phát triển hơn, ví dụ như ngành chế biến lương thực thực phẩm tạo điều kiện cho ngành cơ khí chế tạo công cụ, ngành chăn nuôi phát triển, ngành tái chế nguyên vật liệu đã tạo điều kiện cho mạng lưới thu gom nguyên liệu, phế liệu phát triển và nó còn có tác dụng làm sạch môi trường

Do đặc điểm sản xuất của các làng nghề ở quy mô hộ là chủ yếu đồng thời nơi sản xuất cũng chính là nơi ở của người lao động nên có khả năng tận dụng và thu hút nhiều loại lao động từ lao động thời vụ, nông nhàn đến lao động trên dưới độ tuổi lao động vào quá trình sản xuất Lực lượng lao động này chiếm một tỷ lệ rất đáng kể trong tổng số lao động trong các làng nghề

Trang 20

* Thu hút vốn nhàn rỗi

Quy mô các cơ sở kinh tế trong làng nghề chủ yếu là hộ gia đình và đang hình thành một số doanh nghiệp vừa và nhỏ Đồng thời, hầu hết các cơ

sở sản xuất kinh doanh trong các làng nghề đều dành một phần diện tích nhà

ở của gia đình làm nơi sản xuất, kinh doanh, nhiều nghề chỉ cần công cụ thủ công nhỏ, thô sơ là những người thợ trong các làng nghề có thể tự sản xuất hoặc chế tạo được Cho nên, mức đầu tư cho một lao động và quy mô vốn cho một cơ sở sản xuất - kinh doanh trong các làng nghề không nhiều Vì vậy, rất phù hợp với khả năng huy động vốn và các nguồn lực vật chất của các hộ gia đình Vốn đầu tư không lớn, trong điều kiện hiện nay thì đó là một lợi thế để các làng nghề có thể huy động các loại vốn nhàn rỗi trong dân vào hoạt động sản xuất kinh doanh

* Cải thiện đời sống nhân dân và xây dựng nông thôn mới

Việc cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở ổn định việc làm và nâng cao thu nhập Ở nông thôn, vấn đề này được phản ánh rất rõ thông qua tác động của phát triển làng nghề Những vùng có làng nghề phát triển đều thể hiện một sự thay đổi về đời sống, có dân trí cao hơn hẳn những vùng thuần nông Ở các làng nghề, tỷ lệ hộ khá

và giàu cao, tỷ lệ hộ nghèo thấp và hầu như không có hộ đói Thu nhập từ nghề thủ công chiếm tỷ lệ lớn trong tổng thu nhập đã đem lại cho người dân của các làng nghề một cuộc sống đầy đủ, phong lưu hơn cả về vật chất lẫn tinh thần, số hộ có nhà cao tầng, các loại đồ dùng tiện nghi đắt tiền chiếm tỷ

lệ khá Như ở làng nghề Bát Tràng Hà Nội mức thu nhập bình quân của các

hộ từ 40 - 50 triệu đồng/năm còn các hộ có thu nhập cao thì đạt tới hàng trăm triệu đồng/năm; ở làng nghề Ninh Hiệp Hà Nội tỷ lệ hộ gia đình giàu chiếm 30%, hộ nghèo chỉ chiếm 1%

Trang 21

Phát triển làng nghề góp phần tăng thu nhập của người dân đồng thời tạo ra nguồn tích luỹ khá lớn và ổn định cho ngân sách địa phương cũng như cho các hộ gia đình Vì vậy, nguồn vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn được huy động từ sự đóng góp của người dân tại các địa phương này khác hẳn với các địa phương không có nghề Ở làng nghề, đặc biệt là các làng nghề vùng Đồng bằng sông Hồng, gần như 100% đường làng ngõ xóm được

bê tông hoá hoặc lát gạch, các địa phương đều có trường mầm non, tiểu học, phổ thông cơ sở khang trang; hệ thống điện nước được cải tạo nâng cấp; đời sống vật chất, tinh thần của người dân được cải thiện, sức mua tăng lên tạo thị trường công nghiệp và dịch vụ tăng; thu hẹp dần khoảng cách giữa thành thị và nông thôn

1.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ

Quá trình phát triển của làng nghề chịu tác động của nhiều nhân tố, những nhân tố này có sự biến đổi trong từng thời kỳ và tác động theo những mức độ khác nhau Ở đây chúng ta có thể nêu lên những nhân tố tác động đến sự phát triển làng nghề:

* Một là nguồn nguyên vật liệu:

Đây là một yếu tố có ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất của các làng nghề Trước đây, nguồn vật liệu được coi là một trong những điều kiện tạo nên sự hình thành và phát triển của các làng nghề truyền thống Hiện nay, nhờ sự hỗ trợ tích cực của các phương tiện giao thông vận tải và phương tiện

kỹ thuật vấn đề xa hay gần nguồn nguyên liệu trở nên không quan trọng đối với sự phát triển của các làng nghề Tuy nhiên, vấn đề khối lượng, chất lượng chủng loại và khoảng cách từ cơ sở sản xuất tới nơi có nguồn nguyên vật liệu vẫn có ảnh hưởng nhất định tới sản xuất và giá thành sản phẩm của các đơn vị sản xuất kinh doanh Cho đến nay, nguồn nguyên vật liệu cung

Trang 22

cấp cho một số làng nghề truyền thống vẫn phong phú đặc biệt là nguyên liệu cho các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm Nhưng đối với nhiều làng nghề thì đây lại là một khó khăn gây cản trở tới sản xuất vì nguồn nguyên liệu vật liệu đang bị cạn kiệt dẫn đến không đủ để đáp ứng cho sản xuất Chẳng hạn như nguyên liệu dùng để sản xuất chiếu cói ở Nga Sơn Thanh Hoá, gỗ quý cho sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ…

* Hai là nguồn nhân lực:

Nguồn nhân lực là một trong những nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển Nguồn nhân lực của làng nghề bao gồm những nghệ nhân, những người thợ thủ công và chủ cơ sở sản xuất kinh doanh Những nghệ nhân có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc truyền nghề, dạy nghề, đồng thời họ là những người sáng tạo ra những sản phẩm độc đáo mang đậm yếu tố văn hoá dân tộc Hiện nay, ở nhiều làng nghề truyền thống vẫn còn những nghệ nhân tâm huyết với nghề, muốn giữ gìn và phát triển nghề Bên cạnh đó, một lực lượng lao động dồi dào, cơ cấu lao động trẻ có khả năng thích ứng với những điều kiện mới của nền kinh tế thị trường, là nhân tố cốt yếu nhất quyết định toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh ở các làng nghề Song, một hạn chế rất lớn đối với nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực ở các làng nghề nói riêng là chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, trình độ chuyên môn và trình độ văn hoá thấp, nhất là đối với các chủ doanh nghiệp Đây là một khó khăn cơ bản trong việc phát triển sản xuất theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

* Ba là yếu tố thị trường:

Sự tồn tại và phát triển của làng nghề phụ thuộc rất lớn vào thị trường

và sự biến động của nó Những làng nghề có khả năng thích ứng với sự thay đổi của nhu cầu thị trường, có khả năng tiêu thụ lớn thường có tốc độ phát triển nhanh Điều này đã được chứng minh ở sự phát triển của một số làng

Trang 23

nghề gốm sứ mỹ nghệ, chạm khắc gỗ, chế biến lương thực, thực phẩm Ngược lại, một số làng nghề không phát triển được, ngày càng mai một, giảm sút, thậm chí có nguy cơ tan rã không duy trì được nghề do sản phẩm làm ra không đáp ứng được những đòi hỏi khắt khe của thị trường hoặc nhu cầu thị trường không cần đến loại sản phẩm đó nữa như: Dệt chiếu ở làng Ứng Luật xã Quang Thiện huyện Kim Sơn Kim Sơn; làm Miến dong ở làng Chí Tĩnh xã Hùng Tiến, huyện Kim Sơn Ngay ở trong một làng (một cơ sở sản xuất) có sản phẩm phát triển như các mẫu nhỏ, khay, đĩa được làm ra từ cây cói và được xuất khẩu ra nước ngoài, trong khi đó, sản phẩm chiếu chẻ lại trở nên sa sút Như vậy, rõ ràng thị trường và sự phát triển của thị trường

đã tác động rất mạnh tới phương hướng phát triền, cách thức sản xuất kinh doanh, cơ cấu sản phẩm và là động lực thúc đẩy sản xuất của làng nghề Tuy nhiên, nếu thị trường không ổn định sẽ gây ra những khó khăn và bấp bênh cho sản xuất của làng nghề

* Bốn là nguồn vốn:

Đây là một nguồn lực vật chất rất quan trọng đối với quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh Nhiệm vụ chủ yếu của nguồn vốn là đầu tư để phát triển sản xuất, đầu tư phát triển cơ sở vật chất và kết cấu hạ tầng, đầu tư đổi mới công nghệ Trong khi đó, với thực trạng phát triển nhỏ lẻ ở các làng nghề hiện nay, nguồn vốn có để sản xuất kinh doanh chủ yếu là vốn tự có và vốn vay của người thân nên kéo theo: Sản phẩm làm ra thường không có sức cạnh tranh, bởi một phần vì công nghệ lạc hậu, mẫu mã kém phong phú còn phần khác là không tận dụng được lợi thế về qui mô nên chi phí tăng cao bất lợi trong cạnh tranh về giá Để giải quyết được vấn đề này, làng nghề cần thiết phải huy động được một lượng vốn lớn để thay đổi cả qui mô sản xuất lẫn công nghệ, vừa nâng cao năng suất, chất lượng, tận dụng ưu thế về qui

mô, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường Đồng thời, nâng cao năng lực

Trang 24

quản lý, lúc này khả năng tìm kiếm thị trường mới của làng nghề được nâng cao, thị trường được đa dạng hoá, làng nghề có thể xác định được thị trường mục tiêu cho mình Vì vậy, sự phát triển của làng nghề phụ thuộc rất lớn vào các nguồn vốn huy động được Trước đây, vốn của các hộ sản xuất kinh doanh đều rất nhỏ bé Tuy nhiên, với năng lực của các làng nghề thì không thể tự huy động được nguồn vốn lớn như vậy Cho nên, để giải quyết khó khăn này, các làng nghề cần có sự hỗ trợ tích cực và cụ thể từ phía Nhà nước

* Năm là trình độ kỹ thuật và công nghệ:

Trình độ kỹ thuật và công nghệ ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng và giá thành của sản phẩm, đến năng lực cạnh tranh của các sản phẩm hàng hoá trên thị trường và cuối cùng là quyết định đến sự tồn tại phát triển hay suy vong của một cơ sở sản xuất, một ngành nghề nào đó Nhận thức được điều đó, nhiều làng nghề đã đổi mới trang thiết bị, cải tiến áp dụng tiến

bộ khoa học và công nghệ vào các lĩnh vực sản xuất để đa dạng hoá sản phẩm, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, tạo ra sự phát triển mạnh mẽ và ổn định cho các làng nghề Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp do đặc điểm kỹ thuật công nghệ của một số làng nghề vẫn còn mang nặng tính chất thủ công, thô sơ lạc hậu nên đó vẫn là một trong những nhân tố làm cản trở quá trình phát triển các làng nghề

* Sáu là kết cấu hạ tầng:

Kết cấu hạ tầng bao gồm hệ thống các đường giao thông, điện, cấp và thoát nước, bưu chính viễn thông… có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành, tồn tại và phát triển của các làng nghề Thực tế ngày càng cho thấy rõ làng nghề chỉ có thể phát triển mạnh ở những nơi có kết cấu hạ tầng đảm bảo và đồng bộ Đây là yếu tố có tác dụng tạo điều kiện, tiền đề cho sự ra đời và phát triển của làng nghề, tạo điều kiện khai thác và phát huy những tiềm

Trang 25

năng sẵn có của làng nghề Sự phát triển của yếu tố này sẽ đảm bảo việc vận chuyển và cung ứng nguyên vật liệu, tiêu thụ sản phẩm, mở rộng giao lưu hàng hoá, đưa nhanh tiến bộ khoa học công nghệ mới vào sản xuất đồng thời làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường Hệ thống thông tin liên lạc, bưu chính viễn thông đã giúp các chủ thể sản xuất kinh doanh nắm bắt kịp thời, nhanh chóng, chính xác thông tin thị trường để có những ứng xử kịp thời Tuy nhiên, cho đến nay sự phát triển của các làng nghề vẫn còn gặp phải không

ít khó khăn do ảnh hưởng của sự yếu kém và thiếu đồng bộ của hệ thống kết cấu hạ tầng

* Bẩy là chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước:

Hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước có ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển hay suy vong của các làng nghề Thời kỳ trước đổi mới, chúng ta chỉ tập trung phát triển kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, không chấp nhận kinh tế tư nhân, kinh tế cá thể Các hộ sản xuất trong các làng nghề truyền thống không được coi là các chủ thể kinh tế độc lập Đó là một nhân tố khiến cho các làng nghề không phát triển được Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đến nay, các làng nghề đã phục hồi và phát triển mạnh Sự chuyển biến quan trọng này được tác động bởi các đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI, VII, VIII, IX, X và nhiều nghị quyết trung ương đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của kinh tế nông thôn, đề ra biện pháp, chính sách phát triển toàn diện kinh tế xã hội nông thôn, trong đó có làng nghề Một trong những chính sách đặc biệt quan trọng trong thời kỳ đổi mới có tác dụng phát huy sức mạnh nội lực của làng nghề, đó là chính sách phát triển các thành phần kinh

tế Với chính sách này, các thành phần kinh tế tư nhân, kinh tế cá thể trước đây không được chấp nhận nay được khuyến khích phát triển Chính sách này có tác động thúc đẩy tất cả các thành phần kinh tế tồn tại trong làng

Trang 26

nghề cùng phát triển, làm cho làng nghề được phục hồi và phát triển mạnh Đồng thời, chính sách mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế đã kích thích sản xuất trong các làng nghề phát triển vì nó mở rộng thêm nhiều thị trường mới Ngoài ra, còn có nhiều chính sách khác như chính sách miễn giảm thuế, chính sách hỗ trợ vốn, chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ… đã có tác động tích cực tới sự phát triển của các làng nghề trên cơ sở đổi mới đường lối, chính sách kinh tế một loạt các văn bản pháp luật cũng được ra đời và ngày càng hoàn thiện như: Luật doanh nghiệp, luật HTX, luật đất đai … đã tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho sự phát triển của làng nghề Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có chính sách cần thiết và đồng bộ giành riêng cho sự phát triển làng nghề trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn mà nó chỉ được tác động thông qua nhiều chính sách khác

1.3 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG

1.3.1 Kinh nghiệm phát triển làng nghề của huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định

Nghĩa Hưng là một huyện ven biển thuộc tỉnh Nam Định, là huyện có điều kiện tự nhiên và dân số khá tương đồng với huyện Hoa Lư, có vị trí thuận lợi cho phát triển kinh tế nói chung và làng nghề nói riêng Nghĩa Hưng có diện tích đất tự nhiên 254,44 km2, dân số hiện có của huyện khoảng 178.000 người (theo kết quả điều tra tháng 11 năm 2009), tỷ lệ đồng bào theo tôn giáo chiếm trên 56% tổng số dân của huyện Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm giai đoạn 2005-2010 đạt 8,9%, thu nhập bình quân đầu người đạt 10,5 triệu đồng một năm Tuy đạt được tốc độ tăng trưởng khá nhưng cơ cấu kinh tế huyện Nghĩa Hưng vẫn là cơ cấu Nông nghiệp Cơ cấu kinh tế huyện Nghĩa Hưng năm 2009: Công nghiệp - Xây dựng chiếm

Trang 27

19,2%, Thương mại - Dịch vụ là 32%, tỷ trọng Nông - Lâm - Ngư nghiệp là 48,8% Đến năm 2010 tuy tỷ trọng Nông - Lâm - Ngư nghiệp đã được cải thiện nhưng vẫn chiếm một tỷ lệ cao là 48% Riêng nội bộ ngành Nông nghiệp, trồng trọt và chăn nuôi chiếm tỷ trọng trên 60% Nhóm ngành sản xuất Công nghiệp - Xây dựng phát triển còn nhỏ bé, chiếm 19,2% đến 19,5% trong GDP toàn huyện năm 2009 và năm 2010 Tuy nhiên trước nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn trên cả nước nói chung, huyện Nghĩa Hưng nói riêng, Công nghiệp đang dần và sẽ trở thành ngành phát triển mạnh ở địa phương

Tính đến năm 2010, Nghĩa Hưng có 18 làng nghề Sự phát triển của các làng nghề trên địa bàn huyện trong những năm gần đây đang khởi sắc dần lên Tỷ trọng giá trị sản xuất của các làng nghề tăng từ 25% năm 2005 lên 35% vào năm 2009 trong tổng giá trị sản xuất của nhóm ngành Công nghiệp

- Xây dựng trên địa bàn huyện Các làng nghề truyền thống trên địa bàn huyện bao gồm: Dệt chiếu ở Tân Liêu xã Nghĩa Sơn, Nghĩa Trung, thị trấn Liễu Đề; khâu Nón lá ở xã Nghĩa Châu, Hoàng Nam, Nghĩa Trung, Nghĩa Minh ; làm Miến dong ở xã Nghĩa Lâm; chế biến các mặt hàng thủ công mỹ nghệ: Mây tre đan, hàng cói, thảm, các sản phẩm từ len, sợi, bẹ chuối, bèo,…ở thị trấn Quỹ Nhất, Nghĩa Thành, Nghĩa Lợi, Nghĩa Hồng; sản xuất thuỷ sản ở Ngọc Lâm, Nghĩa Hải Riêng nghề làm Nón đã trở lên nổi tiếng

cả nước Tổng số lao động được thu hút vào làm việc tại các làng nghề năm

2008 khoảng 12.964 người, trong tổng số 118.300 lao động của huyện Việc phát triển làng nghề ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết việc làm cho người lao động tại địa phương

Để đạt được kết quả như trên Nghĩa Hưng đã và đang thực hiện hàng loạt các giải pháp quan trọng như:

Trang 28

Thứ nhất, xây dựng và quản lý các cụm công nghiệp làng nghề:

Nghĩa Hưng coi việc quy hoạch tạo mặt bằng cho sản xuất ở các làng nghề là một khâu đột phá quan trọng trong phát triển làng nghề Hình thành các cụm công nghiệp làng nghề thực chất là chuyển một phần diện tích đất nông nghiệp của chính làng nghề sang đất chuyên dùng cho sản xuất Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp tạo điều kiện cho các hộ sản xuất trong các làng nghề di dời ra khu sản xuất tập trung, tách sản xuất ra khỏi khu dân cư Theo quan điểm của huyện Nghĩa Hưng việc làm này phải phù hợp với đặc điểm riêng của từng làng, từng nghề Vì vậy, Nghĩa Hưng có chủ trương là chỉ thực hiện việc di dời ở những khâu sản xuất đồng bộ, những công đoạn lắp ráp hoàn chỉnh sản phẩm, còn việc sản xuất những chi tiết nhỏ lẻ, không ảnh hưởng đến môi trường, sức khoẻ của cộng đồng thì vẫn ở từng hộ gia đình cho phù hợp với điều kiện và tập quán lao động trong làng nghề

Dưới sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh, huyện Nghĩa Hưng, đến thời điểm hiện nay, các ngành chức năng của tỉnh phối hợp với các địa phương đã tiến hành xây dựng được 01 cụm công nghiệp với tổng diện tích đất quy hoạch là 460,87ha Đến nay đã thu hút được hơn 1000 lao động với thu nhập bình quân trên 1,7 triệu đồng/ tháng

Để các khu, cụm công nghiệp làng nghề được hình thành và hoạt động

có hiệu quả Nghĩa Hưng đã thành lập ra ban quản lý các khu công nghiệp làng nghề Ban quản lý khu công nghiệp làng nghề có nhiệm vụ giúp các cấp, các ngành trước hết là UBND cấp xã, thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp làng nghề Ban quản lý các khu công nghiệp làng nghề là cơ quan trực tiếp quản lý các khu công nghiệp làng nghề, đồng thời phối hợp với các cơ quan chuyên môn của UBND huyện, các tổ chức kinh tế - chính trị - xã hội và UBND các xã có khu công nghiệp

Trang 29

làng nghề để giải quyết những vấn đề phát sinh trong việc quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp làng nghề trên địa bàn

Thứ hai, vấn đề vốn cho sản xuất kinh doanh:

Để giải quyết vấn đề khó khăn về vốn cho sản xuất kinh doanh của các làng nghề tỉnh Nghĩa Hưng đã chú trọng đến hệ thống ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Chính sách Xã hội Ngân hàng Chính sách Xã hội và Ngân hàng NN-PTNT huyện hỗ trợ vốn vay cho các

hộ, các cơ sở sản xuất của làng nghề, cho vay theo phương thức trả chậm tạo điều kiện cho các cơ sở mở rộng sản xuất tạo việc làm cho người lao động, nâng cao thu nhập dân cư

Thứ ba, giải pháp về phát triển nguồn nhân lực cho các làng nghề:

Các ban ngành đoàn thể tại cơ sở tổ chức các lớp dạy nghề để nâng cao chất lượng nguồn lao động cho các làng nghề; hỗ trợ về công nghệ và nâng cao năng lực quản lý Thay đổi phương thức đào tạo, thời gian đào tạo cho phù hợp với từng loại đối tượng, phát huy hình thức đào tạo tại chỗ theo hợp đồng của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất … sau đào tạo được các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất nhận ngay vào làm việc

Thứ tư, quán triệt việc thực hiện con đường phát triển bền vững, đảm bảo phát triển kinh tế thân thiện với môi trường:

Cấp giấy phép xây dựng khu xử lý rác thải, ứng dụng công nghệ điện hoạt hoá để giảm ô nhiễm môi trường tạo ra các mô hình ứng dụng về xử lý

môi trường ở các làng nghề

Thứ năm, thực hiện các giải pháp về phát triển thị trường:

Xây dựng quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng, giao thông phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu thông hàng hoá Khuyến khích phát triển các trung tâm thương mại, siêu thị, chợ

Trang 30

đầu mối tạo điều kiện và cơ chế thuận lợi để các thành phần kinh tế tham gia phát triển hệ thống chợ

1.3.2 Kinh nghiệm của làng nghề Đá mỹ nghệ Non Nước, quận Ngũ Hành Sơn

Làng nghề Đá mỹ nghệ Non Nước, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đã có từ rất lâu đời, được hình thành giữa thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XVIII Trong hơn 300 năm hình thành và phát triển làng nghề Đá mỹ nghệ Non Nước đã khẳng định được thương hiệu bằng những sản phẩm điêu khắc

đá tinh xảo, đa dạng ở trong và ngoài nước

Hiện nay, làng nghề Đá mỹ nghệ Non Nước có hơn 20 doanh nghiệp,

430 cơ sở sản xuất – kinh doanh lớn, nhỏ với hơn 4.500 lao động Quy mô

và tốc độ phát triển sản xuất làng nghề không ngừng gia tăng, giải quyết việc làm cho người lao động, đặc biệt là nông dân bị thu hồi đất, thu nhập bình quân của lao động từ 2-3 triệu đồng / tháng Năm 2008 giá trị sản xuất làng nghề thực hiện: 76,5/282 tỷ đồng, chiếm 27,1 % tổng giá trị sản xuất của các ngành kinh tế do quận quản lý

Để có được những kết quả đáng khích lệ đó, thành phố Đà Nẵng kết hợp với Hiệp hội làng nghề truyền thống điêu khắc Đá Non Nước – Ngũ Hành Sơn đã thực hiện các giải pháp sau:

Thứ nhất Chú trọng quảng bá thương hiệu, thương mại hóa cho các

sản phẩm Đá mỹ nghệ Non Nước

Hiện nay, trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa, khi nước ta trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) thì nguồn lực của các cơ sở, các doanh nghiệp, các làng nghề không chỉ bằng vốn, bằng năng lực quản lý sản xuất kinh doanh, bằng công nghệ tiên tiến, bằng giá thành rẻ, bằng sức sáng tạo, kỹ năng và năng lực thiết kế, sáng tác mẫu mã

Trang 31

mà còn phải có thương hiệu mạnh, có uy tín Thương hiệu chính là nguồn lực, là động lực để phát triển, đặc biệt là làng nghề truyền thống Đối với thương hiệu làng nghề Đá mỹ nghệ Non Nước, hiện nay tuy chưa đăng ký

sở hữu trí tuệ về thương hiệu làng nghề nhưng đã có logo làng nghề Trong khuôn khổ chương trình 68 của chính phủ (Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp), Sở khoa học công nghệ thành phố Đà Nẵng đã được Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt triển khai dự án “ Tạo lập, quản

lý và phát triển nhãn hiệu chứng nhận Non Nước” cho sản phẩm thủ công

mỹ nghệ từ đá của làng nghề Đá Non Nước, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố

Đà Nẵng Dự án này có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển làng nghề nói riêng và sự phát triển kinh tế - xã hội của quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng nói chung Trong thời gian tới, khi dự án được triển khai thì nhãn hiệu sản phẩm Đá mỹ nghệ của làng nghề truyền thống Đá mỹ nghệ Non Nước sẽ ngày càng được khẳng định được tên tuổi và vị thế

Để thực hiện dự án trên, Sở Khoa học và Công nghệ và UBND quận Ngũ Hành Sơn đã sử dụng các biện pháp như: hoàn thiện sản phẩm đang có

đi đôi với việc phát triển sản phẩm mới; thu thập ý kiến khách hàng để củng

cố khâu tiếp thị, quảng bá sản phẩm; phát triển mạng lưới phân phối sản phẩm hợp lý trong thành phố và cả nước; thực hiện một số chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp phát triển…đồng thời giúp họ có sự nhận thức, nắm bắt pháp luật trong nước và quốc tế về bản quyền tác giả, từ đó sáng tạo ra những sản phẩm mang đặc trưng của làng nghề Đá Non Nước – Đà Nẵng; thương mại hóa sản phẩm bằng các biện pháp như: tập trung nâng cao, bồi dưỡng tư duy, sáng tác sản phẩm mới cho các hộ sản xuất để có những sản phẩm mới thu hút khách du lịch, cách đóng gói bao bì sản phẩm, quy hoạch khu mua bán, trưng bày sản phẩm Đá mỹ nghệ, xây dựng và phát huy tính

Trang 32

đoàn kết Hội làng nghề để phát triển sản phẩm đồng thời mở rộng thị trường

và đem lại lợi ích cho cộng đồng làng Đá Non Nước

Hiện tại, UBND thành phố Đà Nẵng đang triển khai xây dựng khu công viên văn hóa tâm linh Ngũ Hành Sơn, một trong những điểm nhấn quan trọng nhất của quy hoạch là Bảo tàng Đá mỹ nghệ duy nhất tại Việt Nam trên diện tích khoảng 7.3 ha Tại đây sẽ có các khu trưng bày, triển lãm chế tác và trao đổi, mua bán các tác phẩm Đá mỹ nghệ, quảng trường, trục lễ hội, sân khấu ngoài trời…tổ chức các sự kiện văn hóa về Đá mỹ nghệ Đây

là một trong những hoạt động quảng bá và thu hút khách du lịch trong và ngoài nước đến với thành phố Đà Nẵng nói chung và làng nghề Non Nước nói riêng

Thứ hai Quy hoạch lại làng nghề

UBND thành phố Đà Nẵng đã quy hoạch lại làng nghề Đá mỹ nghệ Non Nước với quy mô đầu tư lên đến 35,4 ha, di dời 605 hộ để sắp xếp lại làng nghề Với mức đầu tư 102 tỷ đồng phấn đấu đến năm 2015 có ít nhất 5 -7 làng nghề hoạt động ổn định, giải quyết việc làm cho trên 15.000 lao động, tổng doanh thu của các làng nghề này đạt khoảng 314 tỷ đồng/ năm Sau khi quy hoạch, sẽ có từng phân khu chức năng của quy trình sản xuất sản phẩm đá, mang tính liên hoàn, khép kín Như phân khu chế tác đánh bóng sản phẩm, khu phố chuyên giới thiệu sản phẩm Việc sắp xếp lại làng nghề sẽ tạo thành những điểm nhấn đối với làng nghề đa dạng nghệ thuật điêu khắc, đặc biệt là những khu vườn tượng để nghệ nhân có điều kiện thực hiện khả năng sáng tạo của mình, khi có từng khu vực thực hiện quy trình sản xuất sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn trong sản xuất, kinh doanh Dấu ấn làng nghề được thể hiện rõ thì việc thu hút khách du lịch sẽ dễ dàng hơn Lúc đó lợi nhuận sẽ cao hơn

Trang 33

Trước mắt, thành phố Đà Nẵng sẽ tập trung xây dựng và hoàn thiện cơ

sở hạ tầng đồng bộ như đường điện, hệ thống xử lý nước thải…, mở rộng quy mô sản xuất Đồng thời kết hợp với Sở Công nghiệp và Sở Nông lâm – Thủy sản lập quy hoạch phát triển vùng nguyên liệu để cung cấp nguồn nguyên liệu tại chỗ cho các làng nghề hoạt động ổn định

Ngoài hai biện pháp trên, UBND quận Ngũ Hành Sơn còn quan tâm chỉ đạo việc phát triển làng nghề gắn liền với bảo vệ môi trường sinh thái, không

để làng nghề ảnh hưởng đến môi trường du lịch, cảnh quan đô thị, liên kết với công ty, doanh nghiệp để sử dụng lao động làm việc ngay tại địa phương theo phương thức tổ hợp, giải quyết việc làm theo phương châm “tại chỗ”

Căn cứ vào tiềm năng thế mạnh của vùng, cùng với sự nắm bắt thời cơ

và thách thức trong điều kiện hiện nay UBND Quận Ngũ Hành Sơn đã đề ra định hướng phát triển làng nghề từ nay đến năm 2020 là: “ Phát huy lợi thế của làng nghề điêu khắc Đá mỹ nghệ truyền thống Non Nước, tiếp tục phát triển công nghiệp chế tác trở thành ngành công nghiệp mũi nhọn, nhằm tạo

ra các sản phẩm có sức cạnh tranh trong nước và quốc tế Quy hoạch lại làng nghề theo hướng mở rộng tại làng nghề hiện nay, và đẩy mạnh phát triển thương mại kết hợp phát triển du lịch Ưu tiên phát triển mạnh làng nghề Đá

mỹ nghệ Non Nước trên địa bàn được quy hoạch, khuyến khích và tạo điều kiện cho doanh nghiệp và tư nhân đầu tư phát triển các sản phẩm mỹ nghệ

từ đá với quy mô lớn Nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp trong việc tìm đầu ra, giới thiệu mặt hàng với các đối tác trong và ngoài nước Phấn đấu tốc độ tăng sản phẩm bình quân đạt 30% / năm

**

* Bài học kinh nghiệm cho phát triển làng nghề huyện Hoa Lƣ, đặc biệt là làng nghề Đá mỹ nghệ ở xã Ninh Vân

Trong bối cảnh hiện nay, việc xuất khẩu lao động gặp nhiều khó khăn,

cơ hội tìm kiếm việc làm ở các thành phố lớn cũng không còn nhiều, nên

Trang 34

UBND huyện Hoa Lư đã chỉ đạo thực hiện các chương trình giải quyết việc làm theo phương châm “tại chỗ”, con đường ngắn nhất và rẻ nhất để thực hiện nó là phát triển các làng nghề thủ công mỹ nghệ, trong đó nghề chế tác

đá là một nghề đang có tiềm năng và triển vọng lớn nhất Qua thực tế cho thấy, nghề chế tác đá ở huyện Hoa Lư có quá trình lịch sử lâu đời, có tiềm năng về nguồn nguyên liệu, về vốn và lao động nhưng so với làng nghề Đá

mỹ nghệ Non Nước quận Ngũ Hành Sơn thành phố Đà Nẵng thì làng nghề

Đá mỹ nghệ ở Ninh Vân huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình chưa thực sự đứng vững trên thị trường Vẫn còn rất nhiều bất cập, nhiều yếu tố kìm hãm sự phát triển của làng nghề Từ những nghiên cứu kinh nghiệm phát triển làng nghề của một số huyện trong cả nước ở trên Để làng nghề huyện Hoa Lư, đặc biệt làng nghề Đá mỹ nghệ ở Ninh Vân phát triển xứng đáng với tầm vóc và nhu cầu phát triển của làng nghề điêu khắc đá thì cần phải rút kinh nghiệm trên một số vấn đề sau:

+ Về quy hoạch

Quy hoạch có vai trò rất quan trọng đối với phát triển làng nghề, trong khi tất cả các làng nghề Đá mỹ nghệ đều đứng trước nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người dân thì quy hoạch làng nghề là một trong những biện pháp hữu hiệu để giảm bớt tác hại của tiếng ồn bụi khói và nước thải ảnh hưởng đến sức khỏe người dân

Do vậy quy hoạch cần phải có kế hoạch, chiến lược, tầm nhìn và quy hoạch trên diện rộng, quy mô lớn Việc phân khu, phân vùng quy hoạch cần căn cứ vào chức năng của từng khu, từng vùng đồng thời có kế hoạch, lộ trình để từng bước tiến tới thực hiện triệt để việc tách khu sản xuất ra khỏi khu dân

cư, tránh việc manh mun, nhỏ lẻ, sản xuất kinh doanh không có kế hoạch, tự phát hoạt động Việc quản lý lỏng lẻo, không chặt chẽ thì việc quy hoạch khó mang lại hiệu quả, tác dụng như mong muốn

Trang 35

+ Về phát triển thương hiệu sản phẩm

Phát triển thương hiệu sản phẩm là vấn đề then chốt để tạo chỗ đứng cho các sản phẩm làng nghề Đá mỹ nghệ xã Ninh Vân trên thị trường trong

và ngoài nước Phát triển thương hiệu cần tránh việc sản xuất, kinh doanh sản phẩm Đá mỹ nghệ một cách ồ ạt, không theo quy hoạch, chất lượng sản phẩm không đảm bảo, giảm giá trị thẩm mỹ, mất uy tín đối với khách hàng Bên cạnh đó, cần chú trọng khâu tiếp thị, quảng bá sản phẩm, phát triển mạng lưới phân phối và phát triển sản phẩm mới Tiếp tục sản xuất những mặt hàng tinh xảo để đa dạng hóa các sản phẩm, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng Hướng tới xây dựng logo của làng nghề, đăng ký sở hữu trí tuệ về thương hiệu làng nghề

+ Về thị trường

Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm quảng bá sản phẩm đến người tiêu dùng, trong đó quan tâm đến thị trường nội địa, tìm kiếm và mở rộng thị trường tiêu thụ các sản phẩm mỹ nghệ, đặc biệt coi trọng các thị trường truyền thống Khuyến khích và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư công nghệ sản xuất, cải tiến mẫu mã và đa dạng hóa sản phẩm nhằm tăng năng lực cạnh tranh cũng như nâng cao giá trị sản xuất của doanh nghiệp Kiện toàn bộ máy và nâng cao vai trò hoạt động của hiệp hội làng nghề Đá mỹ nghệ Ninh Vân

+ Giải pháp về chính sách

Để các làng nghề phát triển cần phải có nhiều giải pháp đồng bộ từ làng nghề đến chính sách vĩ mô Lâu nay, Nhà nước với các chính sách, nguồn vốn của mình luôn chú trọng đến các doanh nghiệp lớn mà lơ là các doanh nghiệp nhỏ, các cơ sở sản xuất ở làng nghề Chẳng hạn như việc tiếp cận nguồn vốn, do nhiều hộ nghề không nắm được thông tin về nguồn vốn

hỗ trợ, khả năng lập dự án kinh doanh còn yếu, lại không có tài sản thế chấp

Trang 36

hoặc không đủ tiền đáo hạn nên khả năng tiếp cận nguồn vốn là vô cùng khó khăn Hầu hết các hộ nghề cùng các doanh nghiệp nhỏ có nhu cầu thực sự về vốn đều không tiếp cận được nguồn vốn từ chính sách hỗ trợ mà tập trung vào các doanh nghiệp lớn, có uy tín và quan hệ chặt chẽ với các ngân hàng Chỉ khi nào Nhà nước quan tâm hơn đến thành phần kinh tế tư nhân nhỏ ở làng nghề bằng các giải pháp cụ thể như chính sách thông thoáng, nguồn vốn dễ tiếp cận, hỗ trợ xúc tiến thương mại, hỗ trợ đào tạo nghề, giúp đỡ giải quyết ô nhiễm môi trường thì các làng nghề mới phát triển đồng bộ được Ngoài ra, cần có chính sách hỗ trợ kinh phí cải tạo hạ tầng, chi phí thuê mặt bằng, bến bãi sản xuất kinh doanh Xây dựng cơ chế hỗ trợ giải phóng mặt bằng, đơn giản hóa thủ tục cho thuê mặt bằng tại khu sản xuất tập trung

Trang 37

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ HUYỆN HOA LƯ TỈNH NINH BÌNH: TRƯỜNG HỢP LÀNG NGHỀ ĐÁ

MỸ NGHỆ Ở XÃ NINH VÂN

2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN

SỰ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ HUYỆN HOA LƯ

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

* Về địa hình

Hoa lư là khu vực chuyển tiếp giữa địa hình vùng rừng núi sang vùng đồng bằng; địa hình bị chia cắt khá phức tạp; là huyện thuộc vùng chiêm trũng, chịu ảnh hưởng của úng lụt, có nhiều núi đá (ở 10/11 xã, thị trấn đều

có núi đá), hang động sông ngòi

Địa hình huyện chia làm hai vùng: vùng Bạch Cừ - sông Chanh; vùng hữu sông Chanh, sông Vân, sông Vạc và ven núi đá vôi

Vùng Bạch Cư – sông chanh (gồm các xã Ninh Giang, Ninh Khang, Ninh Mỹ, thị trấn Thiên Tôn và một phần của xã Ninh Hòa): địa hình tương

Trang 38

đối bằng phẳng, xu thế địa hình cao ở khu giữa (phía tây quốc lộ 1A) và thấp dần về phía sông Chanh, sông Đáy Nơi cao thường là khu dân cư, ruộng màu, dọc theo đường Nơi thấp là các ruộng nước và ven theo các bờ sông Trong vùng Bạch Cừ - sông Chanh có một số quả núi đá độc lập, nằm rải rác ở các xã Ninh Giang, Ninh Khang, Ninh Mỹ và thị trấn Thiên Tôn Vùng này nhìn chung thuận lợi cho phát triển nông nghiệp

Vùng sông Chanh, sông Vân, sông Vạc và ven núi đá vôi (gồm 7 xã: Trường Yên, Ninh Hòa, Ninh Xuân, Ninh Thắng, Ninh Hải, Ninh An, Ninh Vân, trong đó có 6 xã miền núi – trừ xã Ninh An): đây là vùng có địa hình rất phức tạp Vùng này bị chia cắt bởi nhiều con sông như: sông Hệ Dưỡng, sông Vó, sông Hang Luồn, sông Ba Hang…; là vùng đất trũng, đất chua, đất lầy thụt, địa hình mấp mô, xen lẫn vùng trũng và vùng cao Những ngọn núi

đá chạy dài ra sát sông Chanh chia diện tích canh tác ở nơi đây thành những vùng nhỏ Riêng hai xã Ninh An và Trường Yên có diện tích đất canh tác tương đối tập trung và bằng phẳng; còn những nơi khác trong vung này có diện tích canh tác nhỏ hẹp nằm sát ven chân núi.Với diện tích và trữ lượng

đá lớn, với nhiều di tích lịch sử, văn hóa, hang động đẹp, vùng này có nhiều thế mạnh về sản xuất vật liệu xây dựng và phát triển du lịch

* Khí hậu và nguồn nước

Huyện Hoa Lư nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với vùng mùa hè nóng, ẩm, mưa nhiều và mùa Đông lạnh có mưa phùn

Theo số liệu thống kê của trạm khí tượng Ninh Bình (tính bình quân nhiều năm) thì nhiệt độ trung bình hàng năm của huyện là 23,4oC, nhiệt độ cao nhất là 38 – 39oC, thấp nhất là 5 – 8oC Tổng số giờ nắng trong năm từ 1.620 – 1700 giờ, bình quân một tháng là 135 giờ, tháng cao nhất là 136 –

202 giờ, thấp nhất là 43 – 46 giờ Độ ẩm bình quân trong năm là 83,4 %; độ

ẩm bình quân nhiều năm là 55 % Huyện là khu vực có lượng mưa lớn hằng

Trang 39

năm của tỉnh, nhưng chế độ phân bố mưa không đều, tập trung chủ yếu vào mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10), chiếm 82 – 89% lượng mưa lớn hàng năm; trong khi đó vào mùa khô, có năm hàng tháng không có trận mưa nào (dù là mưa nhỏ) Lượng mưa trung bình hằng năm của nhiều năm là 1820 – 1840mm Về gió bão, trong năm có hai hướng gió mùa chính là gió mùa đông nam (từ tháng 5 đến tháng 10) và gió mùa đông bắc (từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau) Đột xuất có những năm, địa bàn huyện có bị ảnh hưởng của gió Lào khô, nóng (còn gọi là gió Tây) Mùa mưa bão thường xảy ra từ tháng 7 đến tháng 9 hàng năm, ít khi xảy ra bão lũ vào tháng 6 hoặc tháng 10 dương lịch Bão thường gây ra mưa lớn và trên diện rộng, lượng mưa phổ biến từ 200 – 600mm, gây ra lũ sông và ngập úng nặng ở các vùng trũng thấp, cản trở không ít đến sản xuất nông nghiệp của Huyện

Trên địa phận huyện có hai con sông lớn chảy qua, đó là sông Đáy và sông Hoàng Long; ngoài ra còn có các con sông nội địa khác như sông Chanh, sông Vân, sông Vạc, sông Hệ Dưỡng, sông Hang Luồn Hàng năm

về mùa khô, lượng nước ở các con sông này bảo đảm tưới nước cho cây trồng qua hệ thống thủy lợi và cung cấp nước sinh hoạt Về mùa mưa, mực nước ở các sông dâng cao làm ngập lụt các vùng đất ngoài đê, đồng thời gây ngập úng cục bộ trong nội đồng

Nhìn chung, các sông nội địa có tác dụng rất lớn đối với việc cấp nước

và tiêu úng cho khu vực Đồng thời, vào những năm lũ sông Hoàng Long lớn, các sông còn làm nhiệm vụ thoát nước cho khu vực Hoàng Long Tuy vậy, các sông này đều nhỏ và nông, từ trước đến nay hầu như chưa nạo vét nên tác dụng còn hạn chế, nhất là việc thoát lũ úng còn chậm Nếu nạo vét tốt thì không những có tác dụng rất lớn đến thủy lợi mà giao thông thủy nội địa cũng rất thuận lợi

Trang 40

* Về đất đai

Đất phù sa được bồi đắp hằng năm chủ yếu ở các vùng ngoài đê sông Đáy và sông Hoàng Long vào mùa nước lũ Đất có thành phần cơ giới nhẹ (cát pha hoặc thịt nhẹ), độ phì trung bình Loại đất này phù hợp với các loại cây hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày

Đất phù sa không được bồi phân bố chủ yếu ở xã Ninh An Đất thường ở địa hình vàn, độ phì trung bình, thích hợp với trồng lúa và một số loại cây màu

Đất phù sa được phân bố ở hầu hết các xã, thị trấn trong huyện Thành phần cơ giới của đất từ thịt trung bình đến thịt nặng Độ phì nhiêu của đất khá, thích hợp với trồng lúa nước

Đất phù sa úng nước mưa mùa hè được phân bố ở các xã ven núi và các xã vùng thấp trong huyện Thành phần cơ giới của đất từ thịt nặng đến sét, dễ tiêu nghèo Do địa hình của loại đất này thấp nên về mùa mưa thường ngập úng

* Về khoáng sản

Cả tỉnh Ninh Bình có trên 12000 ha núi đá vôi với trữ lượng hàng chục

tỷ m3 đá vôi, loại khoáng sản này mang lại cho Ninh Bình tiềm năng to lớn

về vật liệu xây dựng như sản xuất xi măng, đá xây dựng đặc biệt là việc sản xuất và chế tác Đá mỹ nghệ đang rất phát triển

Như vậy điều kiện tự nhiên có cả thuận lợi và khó khăn cho sự phát triển làng nghề ở huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

+ Đặc điểm dân cư, dân số và lực lượng lao động

Tại thời điểm năm 2009 dân số huyện Hoa Lư là 103.900 người, trong đó: nam có 52.957 người, nữ có 50.943 người Mật độ dân số là 743 người/

Ngày đăng: 18/03/2015, 08:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2: Cơ cấu kinh tế huyện Hoa Lư từ năm 1991 – 2010. - Phát triển làng nghề ở huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình (Trường hợp làng nghề đá mỹ nghệ ở xã Ninh Vân)
Bảng 2.2 Cơ cấu kinh tế huyện Hoa Lư từ năm 1991 – 2010 (Trang 42)
Bảng 2.3: Tốc độ tăng trưởng kinh tế huyện Hoa Lư qua các năm  Năm  Tốc độ TTKT - Phát triển làng nghề ở huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình (Trường hợp làng nghề đá mỹ nghệ ở xã Ninh Vân)
Bảng 2.3 Tốc độ tăng trưởng kinh tế huyện Hoa Lư qua các năm Năm Tốc độ TTKT (Trang 43)
Bảng 2.4: Số lượng làng nghề, cụm làng nghề tại Ninh Bình - Phát triển làng nghề ở huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình (Trường hợp làng nghề đá mỹ nghệ ở xã Ninh Vân)
Bảng 2.4 Số lượng làng nghề, cụm làng nghề tại Ninh Bình (Trang 54)
Bảng 2.7: Nguồn vốn sản xuất tại các làng nghề huyện Hoa Lư năm - Phát triển làng nghề ở huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình (Trường hợp làng nghề đá mỹ nghệ ở xã Ninh Vân)
Bảng 2.7 Nguồn vốn sản xuất tại các làng nghề huyện Hoa Lư năm (Trang 62)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w