1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hội nhập việc làm, nghề nghiệp của thanh niên - khảo sát trên địa bàn Thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình (Giai đoạn 2005 - 2011

135 439 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy, tác giả đã quyết định nghiên cứu đề tài: “Hội nhập việc làm, nghề nghiệp của thanh niên – khảo sát trên địa bàn Thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình Giai đoạn 2005-2011” vớ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐINH THỊ MAI TRÂM

HỘI NHẬP VIỆC LÀM, NGHỀ NGHIỆP CỦA THANH NIÊN - KHẢO SÁT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH

(GIAI ĐOẠN 2005-2011)

LUẬN VĂN THẠC SỸ XÃ HỘI HỌC

Hà Nội – 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐINH THỊ MAI TRÂM

HỘI NHẬP VIỆC LÀM, NGHỀ NGHIỆP CỦA THANH NIÊN - KHẢO SÁT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH

(GIAI ĐOẠN 2005-2011)

Chuyên ngành: Xã hội học

Mã số: 60 31 30

LUẬN VĂN THẠC SỸ XÃ HỘI HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Trương An Quốc

Hà Nội - 2012

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn 2

2.1 Ý nghĩa khoa học 2

2.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

3 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 3

3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

3.2 Khách thể nghiên cứu 3

3.3 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Mục tiêu nghiên cứu 3

5 Giả thuyết nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 4

6.1 Phương pháp luận 4

6.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 6

6.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu 6

6.2.2 Phương pháp quan sát 6

6.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu 6

6.2.4 Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi 7

6.3 Phương pháp chọn mẫu 7

6.4 Kỹ thuật xử lý thông tin 8

7 Khung lý thuyết 9

Trang 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Cơ sở lý luận 10

1.1.1 Lý thuyết xã hội học áp dụng 10

1.1.1.1 Lý thuyết Tương tác xã hội 10

1.1.1.2 Lý thuyết Trao đổi xã hội và sự lựa chọn duy lý 12

1.1.1.3 Lý thuyết Vốn xã hội 14

1.1.2 Các khái niệm công cụ 19

1.1.2.1 Khái niệm Hội nhập, Hội nhập việc làm, nghề nghiệp 19

1.1.2.2 Khái niệm Việc làm 21

1.1.2.3 Khái niệm Nghề nghiệp 21

1.1.2.4 Khái niệm Thanh niên 22

1.2 Cơ sở thực tiễn 23

1.2.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 23

1.2.2 Điều kiện kinh tế xã hội của địa bàn nghiên cứu 34

Chương 2: HỘI NHẬP VIỆC LÀM, NGHỀ NGHIỆP CỦA THANH NIÊN 2.1 Nhu cầu về việc làm, nghề nghiệp 42

2.1.1 Những khó khăn, trở ngại trong việc tìm kiếm việc làm của thanh niên 43

2.1.2 Những tiêu chí của việc tìm kiếm việc làm, lựa chọn nghề nghiệp 50

2.1.2.1 Đánh giá về những tiêu chí việc làm, nghề nghiệp 50

2.1.2.2 Mức độ hài lòng về các tiêu chí việc làm, nghề nghiệp 53

2.2 Cách thức tìm kiếm việc làm, nghề nghiệp của thanh niên 58

2.2.1 Cách thức tiếp cận với các nguồn thông tin về việc làm 58 2.2.2 Vai trò, tầm quan trọng của các yếu tố/tiêu chí trong việc tìm kiếm việc làm 66

Trang 5

2.2.2.1 Yếu tố Kết quả học tập, bằng cấp 68

2.2.2.2 Yếu tố Mối quan hệ và tài chính 69

2.2.2.3 Yếu tố về trình độ ngoại ngữ, tin học 71

2.2.2.4 Yếu tố Kinh nghiệm thực tế 72

2.2.3 Cách thức chuẩn bị công việc cho tương lai 73

2.3 Khả năng đáp ứng yêu cầu về việc làm, nghề nghiệp 75

2.3.1 Quá trình tuyển dụng 75

2.3.2 Đánh giá về một số trình độ, kỹ năng của thanh niên 77

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 1 Kết luận 88

2 Khuyến nghị 91

2.1 Đối với cơ quan Nhà nước, cơ quan chức năng 91

2.2 Đối với các trường THPT, trường chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học 91

2.3 Đối với các Trung tâm Giới thiệu việc làm 91

2.4 Đối với Đoàn thanh niên 92

2.5 Đối với thanh niên 92

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Số lao động được giải quyết việc làm qua các năm 35

Bảng 2.1 Dân số Việt Nam từ 15-29 tuổi qua các năm 45

Bảng 2.2: Cơ cấu trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động thanh niên 45

Bảng 2.3: Hệ số ứng viên lao động trung bình trên 1 vị trí cần tuyển 46

Bảng 2.4: Những khó khăn, trở ngại trong việc tìm kiếm việc làm của thanh niên 48 Bảng 2.5: Những khó khăn, trở ngại trong việc tìm kiếm việc làm, lựa chọn nghề nghiệp của thanh niên chia theo trình độ học vấn 49

Bảng 2.6: Đánh giá về tầm quan trọng của các yếu tố/tiêu chí việc làm 50

Bảng 2.7: Mức độ hài lòng về công việc hiện nay của thanh niên 55

Bảng 2.8: Số lượng lao động được giải quyết việc làm qua các năm 60

Bảng 2.9: Những nguồn cung cấp thông tin việc làm cho thanh niên 63

Bảng 2.10: Tầm quan trọng của các yếu tố để có được việc làm 66

Bảng 2.11: Loại kỹ năng muốn học thêm (% trên tổng số muốn học thêm) 71

Bảng 2.12: Cách thức chuẩn bị việc làm cho tương lai (% trên tổng số người được hỏi) 74

Bảng 2.13: Tỷ lệ lao động thanh niên tiếp tục phải đào tạo sau khi được tuyển dụng 76

Bảng 2.14: Đánh giá về một số trình độ/kỹ năng của thanh niên hiện nay 78

Bảng 2.15: Mức độ thường xuyên sử dụng các cách thức để nâng cao kiến thức, kỹ năng của thanh niên 82

Trang 7

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Tầm quan trọng của tiêu chí môi trường và điều kiện làm việc tốt 51 Biểu đồ 2.2: Tầm quan trọng của tiêu chí cơ hội có thu nhập cao 52 Biểu đồ 2.3: Nguồn cung cấp thông tin việc làm cho thanh niên 64

Trang 8

ra nhiều việc làm cho người lao động nhưng cũng đòi hỏi người lao động phải chủ động và tích cực hơn trong việc tìm kiếm việc làm và thích ứng với những việc làm mới, nghề nghiệp mới Mỗi người lao động phải tự nỗ lực để tìm kiếm việc làm Việc làm có được hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ, năng lực, khả năng, kỹ năng cũng như các mối quan hệ của họ Trong khi số lượng việc làm không nhiều, gia tăng chậm hơn so với sự gia tăng số lượng lao động hằng năm Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đưa ra dự báo cung - cầu lao động giai đoạn 2011-2020, theo đó: “Tỷ lệ lao động qua đào tạo trong thập kỷ tới tăng từ 29,81% lên 43,07% năm 2015 và đạt 58,45% vào năm 2020 Trong đó, tỷ lệ lao động công nhân kỹ thuật có bằng trở lên tăng từ 14,66% năm 2015 lên 23,31% năm 2020 Trong 10 năm tới, tốc độ tăng việc làm giảm dần, chỉ còn 0,86%/năm so với mức 2,4%/năm giai đoạn 2000-2009” [36] Do vậy, sự cạnh tranh trên thị trường lao động ngày càng khốc liệt đối với những người đang tìm kiếm việc làm và cả giữa những người đang có việc làm muốn duy trì hay cố gắng tìm một công việc tốt hơn Điều này đặc biệt quan trọng đối với thanh niên, những người có nhu cầu rất lớn về việc làm, có trình độ, năng lực, sự nhanh nhạy và khả năng thích ứng cao với cái mới nhưng cũng là người đang chịu áp lực rất lớn về việc làm, thiếu việc làm và thất nghiệp

Ninh Bình là một thành phố trong những năm vừa qua có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá mạnh, sự phát triển kinh tế đã tạo ra nhiều việc làm cho người lao động đặc biệt là những loại hình việc làm mới trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ Nhưng đây cũng là thành phố có số người trong độ tuổi lao động rất lớn đặc biệt là tầng lớp thanh niên và họ cũng đang gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại trong việc tìm kiếm việc làm, lựa chọn nghề nghiệp cho bản thân Cùng với sự thay đổi của cơ cấu,

Trang 9

2

tính chất việc làm, những yêu cầu mới trên thị trường lao động, đòi hỏi thanh niên phải có những điều chỉnh để thích ứng Chính vì vậy, tác giả đã quyết định nghiên

cứu đề tài: “Hội nhập việc làm, nghề nghiệp của thanh niên – khảo sát trên địa

bàn Thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình (Giai đoạn 2005-2011)” với mong

muốn góp phần đưa lại một cái nhìn khái quát về những nhu cầu và sự lựa chọn của

họ về việc làm, nghề nghiệp; Thực trạng khả năng đáp ứng của thanh niên trước những yêu cầu, đòi hỏi về việc làm, nghề nghiệp trong thời kỳ hội nhập cũng như cách thức họ tìm kiếm việc làm để từ đó các nhà hoạch định chính sách và các nhà quản lý có những giải pháp để sử dụng hợp lý nguồn lao động này, tạo những cơ hội

để họ có được những việc làm, nghề nghiệp bền vững đảm bảo thu nhập và phát huy năng lực bản thân

2 Ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn

2.1 Ý nghĩa khoa học:

Với đề tài này, tác giả đã sử dụng các khái niệm cơ bản của xã hội học: hành

động xã hội, quan hệ xã hội, cơ cấu xã hội, vai trò… cùng một số lý thuyết như: Lý

thuyết Tương tác xã hội, lý thuyết Trao đổi xã hội và sự lựa chọn hợp lý, lý thuyết Vốn xã hội Đồng thời kết quả nghiên cứu thu được dựa trên cơ sở việc sử dụng các

phương pháp nghiên cứu xã hội học Chính vì vậy, việc thực hiện đề tài này góp phần đưa hệ thống lý thuyết, lý luận xã hội học vào nghiên cứu thực tiễn Và cũng chính thông qua nghiên cứu thực tiễn góp phần bổ sung, hoàn thiện và làm phong phú thêm hệ thống lý thuyết xã hội học

2.2 Ý nghĩa thực tiễn:

Việc thực hiện đề tài có một ý nghĩa thực tiễn nhất định: Đưa lại một cái nhìn tổng quan về khả năng đáp ứng yêu cầu việc làm, nghề nghiệp của họ trong thời kỳ hội nhập; Nhu cầu và sự lựa chọn của thanh niên đối với việc làm, nghề nghiệp, bên cạnh đó là cách thức họ tìm kiếm việc làm thông qua những thông tin,

số liệu điều tra cụ thể trên địa bàn nghiên cứu trong giai đoạn 2005 – 2011, đặc biệt

Trang 10

3 Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu:

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

“Hội nhập việc làm, nghề nghiệp của thanh niên – khảo sát trên địa bàn Thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình (Giai đoạn 2005-2011)”

3.2 Khách thể nghiên cứu:

- Thanh niên trên địa bàn Thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình (độ tuổi từ

15 - 29 tuổi)

3.3 Phạm vi nghiên cứu:

- Phạm vi thời gian: Từ tháng 6 năm 2011 đến tháng 2 năm 2012

- Phạm vi không gian: Thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình

- Phạm vi nội dung:

+ Những nhu cầu về việc làm, nghề nghiệp của thanh niên

+ Khả năng đáp ứng (trình độ, kỹ năng) của thanh niên đối với việc làm, nghề nghiệp trong thời kỳ hội nhập

+ Cách thức tìm kiếm việc làm, lựa chọn nghề nghiệp của thanh niên

4 Mục tiêu nghiên cứu:

- Chỉ ra nhu cầu về việc làm, nghề nghiệp của thanh niên

Trang 11

4

- Làm rõ thực trạng khả năng đáp ứng (trình độ, kỹ năng) đối với việc làm, nghề nghiệp của thanh niên trong thời kỳ hội nhập trên địa bàn thành phố Ninh Bình

- Cách thức thanh niên trên địa bàn nghiên cứu tìm kiếm việc làm, lựa chọn nghề nghiệp

5 Giả thuyết nghiên cứu:

- Bước vào thời kỳ hội nhập, thanh niên đang gặp nhiều khó khăn trong tìm kiếm việc làm, lựa chọn nghề nghiệp

- Thanh niên lựa chọn việc làm, nghề nghiệp chủ yếu theo sự phù hợp với năng lực bản thân

- Bước vào thời kỳ hội nhập, thanh niên tìm kiếm việc làm, nghề nghiệp chủ yếu thông qua mạng lưới xã hội

- Trình độ chuyên môn và kỹ năng của thanh niên còn chưa đáp ứng được yêu cầu đối với việc làm, nghề nghiệp trong thời kỳ hội nhập

6 Phương pháp nghiên cứu:

6.1 Phương pháp luận:

Đề tài nghiên cứu lấy chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng làm cơ sở phương pháp luận cho việc nghiên cứu của mình Thông qua đó, các hành động cũng như sự kiện, hiện tượng xảy ra được nhìn nhận và đánh giá dưới góc nhìn khách quan, khoa học

Thứ nhất, đề tài phản ánh các hiện tượng, sự kiện, hành động xã hội đúng những gì nó đang tồn tại, đang diễn ra trong đời sống xã hội Khi nghiên cứu tác giả luôn cố gắng nhìn nhận một cách khách quan nhất, tránh lồng quan điểm suy nghĩ của cá nhân về vấn đề rồi quy các góc nhìn của vấn đề vào tiêu cực hoặc tích cực

Thứ hai, khi tiến hành nghiên cứu, đề tài luôn phải đặt trong một bối cảnh lịch sử kinh tế - xã hội nhất định Bởi vì mỗi thời điểm lịch sử thì có những quan

Trang 12

hệ chính yếu và thứ yếu

Thứ tư, khi xem xét một vấn đề không chỉ dựa vào hiện tượng và biểu hiện

bề ngoài mà phải chỉ ra, đánh giá đúng bản chất của hiện tượng, hành động đó Việc chỉ ra được bản chất thực sự của vấn đề chính là việc đạt được mục tiêu nghiên cứu

Với đề tài: “Hội nhập việc làm, nghề nghiệp của thanh niên – khảo sát

trên địa bàn Thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình (Giai đoạn 2005-2011)” tác

giả đã đặt vấn đề việc làm, nghề nghiệp của thanh niên trong bối cảnh kinh tế - xã hội của đất nước nói chung và của thành phố Ninh Bình nói riêng đặc biệt là với sự hội nhập kinh tế thế giới và khu vực tạo ra nhiều việc làm cho người lao động Bên cạnh đó, chuyển dịch cơ cấu kinh tế dẫn đến cơ cấu, tính chất việc làm thay đổi, xuất hiện nhiều loại hình việc làm mới, hay những nghề nghiệp đòi hỏi những yêu cầu mới Điều này tác động tới người lao động đòi hỏi họ phải thay đổi, điểu chỉnh

để thích ứng Mặt khác, vấn đề việc làm của thanh niên được đặt trong điều kiện cụ thể của địa phương còn được thể hiện ở sự gia tăng về số lao động hằng năm và cơ cấu về độ tuổi lao động, trong đó có tầng lớp thanh niên với độ tuổi từ 15-29 tuổi Điều này có tác động rất lớn tới vấn đề nghiên cứu của đề tài

Đồng thời với việc nghiên cứu đề tài, tác giả cố gắng chỉ ra được bản chất của vấn đề thông qua việc xác định những yếu tố tác động tới việc làm của thanh niên: sự tăng trưởng về kinh tế, những chính sách về lao động việc làm, khả năng

Trang 13

6

đáp ứng về việc làm, nghề nghiệp của thanh niên: trình độ, kỹ năng ảnh hưởng tới

cơ hội việc làm, nghề nghiệp của họ

6.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể:

6.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu:

Nhằm đem lại một cái nhìn khách quan, toàn diện về vấn đề nghiên cứu, đề tài sử dụng những tài liệu, sách báo, công trình nghiên cứu có nội dung liên quan, sau đó thông qua việc phân tích, đánh giá, tổng hợp, làm phong phú và hoàn thiện hơn cho kết quả nghiên cứu

6.2.2 Phương pháp quan sát:

Thông qua quá trình tri giác trực tiếp để thu thập những thông tin cần thiết liên quan tới đề tài, những hành động, thái độ của thanh niên trong việc tìm kiếm việc làm, lựa chọn nghề nghiệp cũng như khả năng đáp ứng yêu cầu về việc làm, nghề nghiệp của họ Bên cạnh đó là thái độ, hành động của người tuyển dụng lao động đối với vấn đề này

6.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu:

Thông qua quá trình tương tác trao đổi trực tiếp giữa người đi phỏng vấn và người được phỏng vấn, qua đó thu thập những thông tin mang tính định tính cho đề tài nghiên cứu Đồng thời với phương pháp này, nhiều khía cạnh không khai thác được bằng bảng hỏi cũng sẽ được làm rõ

Đề tài tiến hành phỏng vấn sâu:

- Cán bộ ngành Lao động, thương binh và xã hội: 01 người

- Cán bộ Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh: 01 người

- Người sử dụng lao động: 01 người

- Trung tâm giới thiệu việc làm: 01 người

- Thanh niên đang làm việc trong cơ quan nhà nước: 01 người

Trang 14

7

- Thanh niên đang làm việc trong công ty cổ phần: 01 người

- Thanh niên đang làm việc trong doanh nghiệp tư nhân: 01 người

- Thanh niên đang làm việc trong công ty có vốn đầu tư nước ngoài: 01 người

Với việc phỏng vấn đa dạng khách thể có những đặc trưng khác nhau và liên quan tới đề tài nghiên cứu, từ đó làm rõ, sâu sắc hơn những quan điểm của từng nhóm đối tượng khách thể đối với những luận điểm được đưa ra, để có được cái nhìn, sự đánh giá khách quan, khoa học

6.2.4 Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi:

Nhằm thu thập được những thông tin định lượng về vấn đề nghiên cứu, đề tài xây dựng bảng hỏi tập trung vào những nội dung cụ thể như sau:

- Nhu cầu về việc làm, nghề nghiệp của thanh niên

- Khả năng đáp ứng về việc làm, nghề nghiệp của thanh niên trong thời kỳ hội nhập

- Cách thức tìm kiếm việc làm, lựa chọn nghề nghiệp

6.3 Phương pháp chọn mẫu:

Đề tài tiến hành chọn mẫu theo cụm, sau đó phân tầng theo trình độ học vấn,

số lượng phiếu phát ra: 220 phiếu Trong đó:

Sau khi kiểm tra làm sạch, số phiếu sử dụng là 200 phiếu, cụ thể như sau:

Trình độ

Địa bàn Tốt nghiệp

THPT

Tốt nghiệp THCN

Tốt nghiệp Cao đẳng, Đại học

Trên Đại học

Trang 15

8

6.4 Kỹ thuật xử lý thông tin

Thông tin trong phiếu điều tra sau khi thu được sẽ được xử lý bằng phần mềm SPSS for windows 13.0 với các bước cụ thể như sau:

- Kiểm tra và làm sạch phiếu hỏi

- Mã hóa các biến trong bảng hỏi

- Nhập các câu trả lời theo các biến đã được mã hóa

- Kiểm tra và làm sạch dữ liệu

- Tiến hành xử lý thông tin:

+ Đưa ra các bảng phân phối tần suất với các biến: Mức độ khó khăn về việc làm nghề nghiệp; Những khó khăn về việc làm, nghề nghiệp; Tầm quan trọng của các yếu tố/tiêu chí việc làm, nghề nghiệp; Mức độ hài lòng về việc làm, nghề nghiệp hiện nay; Đánh giá về nguồn thông tin về việc làm/nghề nghiệp; Tầm quan trọng của các yếu tố để có được việc làm, nghề nghiệp; Đánh giá về một số trình độ,

kỹ năng của thanh niên; Mức độ thường xuyên của việc sử dụng các cách thức để nâng cao trình độ, kiến thức, kỹ năng của thanh niên

+ Lập bảng chéo mô tả mối quan hệ giữa các biến: Mức độ khó khăn về việc làm nghề nghiệp; Những khó khăn về việc làm, nghề nghiệp; Tầm quan trọng của các yếu tố/tiêu chí việc làm, nghề nghiệp; Mức độ hài lòng về việc làm, nghề nghiệp hiện nay; Đánh giá về nguồn thông tin về việc làm/nghề nghiệp; Tầm quan trọng của các yếu tố để có được việc làm, nghề nghiệp; Đánh giá về một số trình độ,

kỹ năng của thanh niên; Mức độ thường xuyên của việc sử dụng các cách thức để nâng cao trình độ, kiến thức, kỹ năng của thanh niên với các biến về giới tính, trình độ học vấn

+ Kiểm định mối quan hệ giữa các biến: Đánh giá về tầm quan trọng của các yếu tố/tiêu chí về việc làm, Tầm quan trọng của các yếu tố để có được việc làm, Mức độ thường xuyên của việc sử dụng các cách thức để nâng cao trình độ, kiến

thức, kỹ năng của thanh niên với biến trình độ học vấn

Trang 16

9

7 Khung lý thuyết:

HỘI NHẬP VIỆC LÀM, NGHỀ NGHIỆP

CỦA THANH NIÊN

Điều kiện kinh tế-xã hội (Thời kỳ hội nhập)

Cơ chế, chính sách

Quan niệm, giá trị, chuẩn mực

Khoa học, công nghệ

Nhu cầu về việc

làm, nghề nghiệp

Khả năng đáp ứng yêu cầu của việc làm, nghề nghiệp

Cách thức tìm việc làm, lựa chọn nghề nghiệp

Kỹ năng

Trình độ chuyên môn, tay nghề

Đạo đức, tác phong

Vốn xã hội

Truyền thông đại chúng

Trung tâm giới thiệu việc làm

Việc làm có

cơ hội phát triển

Trang 17

1.1.1.1 Lý thuyết Tương tác xã hội

Thuyết Tương tác xã hội có nguồn gốc là các quan niệm xã hội học của Max Weber, G Simmel, R Park, và các tác giả nổi bật của thuyết tương tác biểu trưng là Charles Horton Cooley, George Herbert Mead, Herbert Blumer, Erving Goffman Luận điểm gốc của thuyết tương tác biểu trưng là: xã hội được tạo thành từ sự tương tác của vô số các cá nhân, bất kỳ hành vi và cử chỉ nào của con người đều có

vô số các ý nghĩa khác nhau, hành vi và hoạt động của con người không những phụ thuộc mà còn thay đổi cùng với các ý nghĩa biểu trưng Do đó, để hiểu được tương tác xã hội giữa các cá nhân, giữa con người với xã hội, cần phải nghiên cứu tương tác xã hội, cần phải lý giải được ý nghĩa của các biểu hiện của mối tương tác đó

Theo Cooley, cái tôi ở mỗi người là kết quả của sự tương tác với người khác, của tri giác người khác tức là nhìn vào người khác như là soi mình trong gương Đến lượt nó, “cái tôi trong gương” là cơ sở để cá nhân tự đánh giá, tự kiểm soát, tự điều chỉnh và tạo ra những mối tương tác xã hội, tổ chức xã hội Như vậy, câu hỏi

“ta là ai?” chỉ có thể được trả lời dựa vào ý kiến đánh giá của người khác mà ta có thể cảm nhận được khi tương tác với họ, chứ không hoàn toàn phụ thuộc vào bản thân ta Cooley cho rằng “cái tôi nhìn trong gương” gồm ba yếu tố quan trọng là: sự hình dung về bề ngoài của ta đối với một người khác, sự hình dung về ấn tượng của người đó về cái vẻ bề ngoài đó và sự tự cảm nhận của bản thân khi có những hình dung đó Như vậy, thuyết tương tác biểu trưng của Cooley góp phần trả lời trực tiếp câu hỏi về bản chất mối quan hệ giữa các cá nhân và xã hội Và xã hội được tạo nên

từ các mối tương tác xã hội giữa các cá nhân

Trang 18

11

Còn G Mead coi tương tác xã hội trong đó các cá nhân sử dụng các biểu tượng và lý giải ý nghĩa của các hành động của nhau là chìa khóa để hiểu bản chất của con người và của xã hội Quan niệm về “cái tôi” là hạt nhân của thuyết tương tác biểu trưng của Mead Theo ông, “cái tôi” là một cấu trúc xã hội nảy sinh từ kinh nghiệm xã hội mà cá nhân đã trải qua trong mối quan hệ “ba ngôi” của cá nhân với bản thân, cá nhân với người khác và cá nhân với xã hội Cá nhân tương tác với chính bản thân mình qua cơ chế độc thoại, tự thoại, tự tác động tới chính bản thân

và qua cơ chế tương tác với người khác Các biểu hiện của cơ chế này là việc đặt mình vào vị trí của người khác, đóng vai người khác và đóng vai/nhập vai vào sự vật Trong mối quan hệ với xã hội, nhờ “cái tôi” mà con người có một loạt các khả năng hành động quan trọng Thứ nhất, cá nhân có thể tự tách ra khỏi bản thân để nhìn mình như một người khác, tự đặt mình đối lập với người khác Nhờ vậy, cá nhân có thể phối hợp, thống nhất hành động của mình với hành động của người khác Thứ hai, con người có thể đặt mình vào vị trí của người khác, có thể đóng vai, nhập vai để hiểu người khác, để tham gia vào quá trình xã hội, hội nhập xã hội Đồng thời, Mead quan niệm thành tố cơ bản của tương tác xã hội là biểu tượng: là một loại kích thích mà phản ứng đáp lại của nó đã được đem lại từ trước Do trong quan hệ tương tác, điệu bộ, cử chỉ của người này là sự kích thích làm nảy sinh phản ứng đáp lại từ phía người khác

Trong khi đó, Erving Goffman cho rằng cá nhân thường tìm cách hiểu bằng được họ cần phải làm gì và phải thể hiện như thế nào để không bị đánh mất “cái tôi”, đánh mất mình Do vậy, bất kỳ ở đâu, bất kỳ lúc nào, mọi người luôn có xu hướng thu thập các thông tin về bối cảnh đó, nhất là về những người tham gia với tư cách

là thành viên và những đối tác của họ Goffman chỉ rõ, cá nhân có nhu cầu và nhiệm

vụ điều khiển ấn tượng, tức là luôn tìm cách để định hướng, dẫn dắt và tạo ra ấn tượng tốt đẹp về bản thân mình ở người khác Ông làm rõ quan niệm cuộc đời là sân khấu, mỗi tình huống là một cảnh, một đoạn kịch, trong đó, mỗi cá nhân thể hiện, đóng vai diễn của mình Đồng thời, Goffman cho rằng sợi chỉ đỏ xuyên suốt mọi tương tác xã hội là tương tác xã hội trực tiếp giữa các cá nhân mà ông gọi là tương

Trang 19

có được việc làm và khả năng đáp ứng được trước những yêu cầu, đòi hỏi của việc làm, những thay đổi của công việc: tính chất, công nghệ, tổ chức… Trong sự đa dạng, phức tạp của những mối quan hệ xã hội thì tương tác xã hội trong mối quan

hệ với bạn bè, đồng nghiệp có ý nghĩa, tầm quan trọng quyết định đối với việc hội nhập việc làm, nghề nghiệp của thanh niên

1.1.1.2 Lý thuyết Trao đổi xã hội và sự lựa chọn duy lý

Thuyết lựa chọn duy lý dựa vào tiên đề cho rằng con người luôn hành động một cách có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một cách duy lý nhằm đạt được kết quả tối đa với chi phí tối thiểu Trước khi quyết định một hành động nào đó con người luôn đặt lên bàn cân để cân đo, đong đếm giữa chi phí

và lợi ích mang lại, nếu chi phí ngang bằng hoặc nhỏ hơn lợi ích thì cá nhân sẽ thực hiện hành động và ngược lại nếu chi phí lớn hơn thì họ sẽ không thực hiện hành động đó

Trang 20

13

Thuyết lựa chọn duy lý đòi hỏi phải phân tích hành động lựa chọn của cá nhân trong mối liên hệ với cả hệ thống xã hội của nó bao gồm các cá nhân khác với những nhu cầu và sự mong đợi của họ, các khả năng lựa chọn và các sản phẩm đầu

ra của từng lựa chọn cùng các đặc điểm khác Do tác động của nhiều yếu tố như vậy

mà các hành vi lựa chọn duy lý của các cá nhân có thể tạo ra những sản phẩm phi lý không mong đợi của cả nhóm, tập thể

G Homans, nhà xã hội học người Mỹ đã đưa ra một số định đề cơ bản về hành vi người như sau:

Định đề phần thưởng: đối với tất cả các hành động của con người, hành động nào càng thường xuyên được khen thưởng thì càng có khả năng được lặp lại

Định đề kích thích: nếu một (nhóm) kích thích nào trước đây đã từng khiến cho một hành động nào đấy được khen thưởng thì một (nhóm) kích thích mới càng giống với kích thích đó bao nhiêu thì càng có khả năng làm cho hành động tương tự như trước đây được lặp lại bấy nhiêu

Định đề giá trị: kết quả của hành động càng có giá trị cao đối với chủ thể bao nhiêu thì chủ thể càng có xu hướng thực hiện hành động đó bấy nhiêu

Định đề duy lý: cá nhân sẽ lựa chọn hành động nào mà giá trị của kết quả hành động đó và khả năng đạt được kết quả đó là lớn nhất

Định đề giá trị suy giảm: càng thường xuyên nhận được một phần thưởng nào đó bao nhiêu, thì giá trị của nó càng giảm đi bấy nhiêu đối với chủ thể hành động

Định đề mong đợi: nếu sự mong đợi của con người được thực hiện thì người

ta sẽ hài lòng, còn nếu không được thực hiện thì cá nhân sẽ bực tức, không hài lòng

Như vậy, con người luôn xem xét, lựa chọn hành động nào có thể đem lại phần thưởng lớn nhất và có giá trị lớn nhất và luôn có xu hướng nhân bội giá trị của kết quả hành động với khả năng hiện thực hóa hành động đó

Trang 21

14

Khác với Homans, Blau quan tâm nghiên cứu sự trao đổi xã hội trong mối quan hệ với cấu trúc vĩ mô Trao đổi xã hội tạo ra mối quan hệ gắn kết, thiện chí, tin cậy, nhất trí trong xã hội, tạo ra mối quan hệ quyền lực giữa các bên tham gia trao đổi Đồng thời, trao đổi xã hội có giá trị nội sinh, các bên tham gia sẵn sàng cho - nhận những giá trị không ngang giá nhau Bên cạnh đó, các bên tham gia luôn có xu hướng tạo ra ấn tượng tốt đẹp với nhau Blau còn cho rằng quan hệ thực sự là quan

hệ “xã hội” đem lại sự dễ chịu, thoải mái, tự nguyện chủ yếu là quan hệ xã hội diễn

ra giữa những người ngang bằng nhau về vị thế xã hội Theo ông, quan hệ bất bình đẳng tức là sự trao đổi giữa các bên không ngang nhau về vị thế sẽ đỡ căng thẳng hơn nếu sự bất bình đẳng là có thật và được nhận thức một cách đầy đủ Trao đổi xã hội còn là sự thỏa thuận ngầm, hiểu ngầm và sự chờ đợi ngầm những gì sẽ được nhận lại khi đem trao cái gì đó cho người khác

Bước vào thời kỳ hội nhập, nhiều giá trị và quan niệm của xã hội thay đổi, trong đó có những giá trị về việc làm, nghề nghiệp Việc xác định cho mình những giá trị nghề nghiệp có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi người, đặc biệt là tầng lớp thanh niên Trên cơ sở xác định những giá trị đó, họ có được những sự lựa chọn cho mình về nghề nghiệp và việc làm Những sự lựa chọn, nhu cầu của họ được định hướng và xác định đúng đắn, phù hợp với năng lực, khả năng, sở thích, điều kiện của bản thân sẽ có ý nghĩa rất lớn tới việc họ có được việc làm cũng như sự gắn bó, tâm huyết với công việc, với nghề, từ đó có được những thành công trong nghề nghiệp

Tuy nhiên, không phải lúc nào những mong muốn, nguyện vọng về nghề nghiệp việc làm của họ cũng đạt được Nó cũng phụ thuộc vào cách thức họ tìm việc làm Họ sử dụng những cái mà họ có: trình độ, kỹ năng, bằng cấp, tài chính, mối quan hệ… để trao đổi, đạt được việc làm mà họ mong muốn

1.1.1.3 Lý thuyết Vốn xã hội

Vốn xã hội (Social capital) là một thuật ngữ đã được sử dụng từ đầu thế kỷ

XX, nhưng nó chỉ được sử dụng một cách rộng rãi sau công trình của Coleman,

Trang 22

15

Bourdieu và Putnam vào cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990 Thuật ngữ này liên quan đến mạng lưới xã hội, các chuẩn mực và sự tán thành, thừa nhận khiến cho hành động hợp tác giữa các cá nhân và các cộng đồng được dễ dàng

Pierre Bourdieu đưa ra định nghĩa về vốn xã hội: “Là tổng hợp các nguồn lực, hữu hình hay vô hình hoặc sự tích lũy của một cá nhân hay một nhóm bởi một mạng lưới bền vững của các mối quan hệ qua lại có mức độ thể chế hóa nhiều hay ít đã được thừa nhận Phải thừa nhận rằng vốn có thể mang đến một sự khác biệt về các hình thức mà không thể thiếu được trong việc giải thích cấu trúc và những động lực

về sự khác biệt giữa các xã hội” (Bourdieu và Wacquant, 1992, tr119).[38]

Nhà xã hội học người Mỹ, Jame Coleman, tương tự như Bourdieu, đưa ra một khái niệm rất rộng về vốn xã hội mà không dựa vào cơ sở nghiên cứu lĩnh vực hẹp “Vốn xã hội được định nghĩa bằng chức năng của nó Nó không phải là những thực thể riêng lẻ mà là những thực thể đa dạng, với hai thành tố chung: chúng bao gồm một số khía cạnh của cấu trúc xã hội và tất nhiên là chúng linh hoạt trong các hành động của các tác nhân – dù các tác nhân hoặc liên kết các tác nhân – trong cấu trúc đó Cũng giống như các hình thức khác của vốn, nhờ vốn xã hội có thể đạt được những mục tiêu cụ thể mà nếu không có vốn xã hội thì không thể đạt được” (Halpern, 2005, tr 39).[38]

Khác với các định nghĩa trên đề cập đến cấp độ vĩ mô của vốn xã hội, thì Putnam, một giáo sư xã hội học ở Đại học Harvard lại nhấn mạnh khía cạnh vi mô của vốn xã hội: “Những mối liên hệ trong mạng kết nối giữa các cá thể từng con người với nhau, giữa cá thể con người và xã hội, về những mối quan hệ tạo ra sự có

đi và có lại, sự tin cậy nhau về những chuẩn mực hình thành từ những mối quan hệ này Với nghĩa như vậy, vốn xã hội liên quan mật thiết đến phẩm chất công dân” (Putnam, 2000) [38]

Như vậy, có nhiều định nghĩa khác nhau về vốn xã hội, song nhìn chung vốn

xã hội được xem như là tập hợp các mối quan hệ của mỗi cá nhân trong các mạng lưới xã hội và khả năng tạo ra các mối quan hệ mới của mỗi cá nhân đó Vốn xã hội

Trang 23

16

của mỗi cá nhân được tích lũy trong quá trình xã hội hóa của họ và thông qua sự tương tác giữa các cá nhân Vốn xã hội được duy trì, phát triển và tạo ra những lợi ích mà người sở hữu nó mong muốn như khả năng tiếp cận và huy động các nguồn lực được gắn vào các mối quan hệ, chia sẻ thông tin, kiến thức, cơ hội việc làm, tình cảm, các chuẩn mực, giá trị

Vốn xã hội được xây dựng trên cơ sở các cá nhân cùng chia sẻ những chuẩn mực và quy tắc để tạo ra sự tin cậy lẫn nhau Sự tin cậy này cho phép các cá nhân quan hệ và hợp tác với nhau để tạo ra các mạng lưới xã hội Tuy nhiên, khả năng tạo ra vốn xã hội là khác nhau ở mỗi cá nhân, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như gia đình, dòng họ, nơi cư trú (nông thôn, đô thị), học vấn, giới tính, địa vị xã hội, tôn giáo…

Coleman đã đưa ra một số hình thức của vốn xã hội như sau: Lòng tin, sự kỳ vọng, trách nhiệm được thể hiện trong quan hệ xã hội và nhờ chúng mà hành động được thực hiện đều là những hình thái của vốn xã hội; Thông tin được phát triển và trao đổi trong quan hệ giữa người này với người khác mà nhờ nó hành động được thực hiện cũng là hình thái của vốn xã hội; Những chuẩn mực xã hội có hiệu lực mà nhờ nó hành động được thực hiện Dưới hình thái là những chuẩn mực, vốn xã hội

có thể khuyến khích hoặc kiềm chế hành động của các cá nhân, nhóm xã hội; Quyền lực hay uy tín cũng được xem là một hình thái của vốn xã hội, bởi vì khi giao quyền kiểm soát hành động cho một người nào đó, điều này cũng có nghĩa là đã tạo ra vốn

xã hội cho người đó

Vốn xã hội được xem là một dạng vốn được sử hữu bởi các thành viên của một nhóm hay mạng lưới xã hội Do vậy, vốn xã hội cũng có những đặc trưng cơ bản của “vốn” như “tích lũy”, “đầu tư” và “sinh lợi” Tính tích lũy được thể hiện ở chỗ các mối quan hệ xã hội được tạo thành và được tích lũy qua thời gian để tạo thành vốn Vì vậy, vốn xã hội đòi hỏi phải có sự đầu tư, ít nhất là về thời gian để duy trì và phát triển các mối quan hệ Từ đó, các lợi ích vật chất và tinh thần mà các

cá nhân mong đợi sẽ được sản sinh thông qua sự tương tác giữa các cá nhân trong

Trang 24

17

cuộc sống hàng ngày Ngoài ra, vốn xã hội còn có đặc trưng của một “tài sản công”

mà mỗi thành viên của một nhóm hay mạng lưới xã hội có thể tiếp cận được và huy động cho các mục đích riêng Đây là đặc trưng để phân biệt vốn xã hội với các loại vốn khác Đồng thời, vốn xã hội chỉ tồn tại và sinh ra lợi ích khi có một sự tương tác được lặp lại giữa ít nhất hai cá nhân Bởi vì, thông qua sự tương tác lặp đó thì vốn xã hội mới được duy trì và sản sinh ra các lợi ích, trong khi đó vốn con người (kiến thức, kỹ năng, tay nghề) có thể tự sản sinh ra lợi ích mà không cần tương tác với các cá nhân khác Ngoài ra vốn xã hội còn chứa đựng các yếu tố ngoại sinh như các chuẩn mực, quy tắc, giá trị mà các cá nhân cùng chia sẻ để tạo ra sự tin cậy lẫn nhau, nhờ đó mà các quan hệ xã hội và các mạng lưới xã hội được hình thành Với các đặc trưng như vậy nên vốn xã hội có thể sẽ bị nghèo đi nếu ít có sự đầu tư và không thể sản sinh ra lợi ích nếu không có sự chia sẻ hay tiếp cận và huy động các nguồn lực được gắn vào mạng lưới xã hội

Thuyết mạng lưới xã hội là một nhánh của khoa học xã hội đã được ứng dụng cho một phạm vi rộng của tổ chức con người, từ những nhóm nhỏ cho đến toàn bộ quốc gia Thuật ngữ “mạng lưới” liên quan đến chuỗi các vật thể, điểm mấu chốt và một bản đồ miêu tả về mối quan hệ giữa các vật thể Theo cách thức của mạng lưới xã hội thì các vật thể liên quan đến con người hoặc những nhóm người Mối quan hệ đó có thể có định hướng một chiều hoặc hai chiều

Mạng lưới xã hội có thể chia theo những cấp độ khác nhau (vi mô, trung gian,

vĩ mô) và mạng lưới xã hội của các cá nhân cũng có thể khác nhau Điều này tùy thuộc vào vốn xã hội và vốn con người của cá nhân

Trong mạng lưới xã hội, vốn con người nằm ở các đầu mối còn vốn xã hội nằm ở các đường liên hệ, quan hệ giữa các đầu mối Người ta có thể phân chia mạng lưới xã hội thành mạng lưới vi mô (quan hệ xã hội trong các nhóm nhỏ) và mạng lưới xã hội vĩ mô (quan hệ xã hội trong các nhóm lớn, cộng đồng, xã hội)

Khái niệm vốn xã hội có quan hệ bổ sung với cách tiếp cận “quan hệ yếu” Cách tiếp cận quan hệ mạnh-yếu cụ thể hơn, chú ý đến quan hệ giữa các cá

Trang 25

mạnh-18

nhân và chú ý đến cái được trao đổi Granovetter đưa ra giả thuyết “Sức mạnh của

quan hệ yếu” từ góc nhìn chức năng “cầu nối” (“bridging”) – chức năng truyền

thông tin từ xã hội này đến xã hội kia – của những người quan hệ yếu [35, tr 1364] Theo Granovetter, những người thuộc nhóm quan hệ mạnh (hay nói đúng hơn là quan hệ với những người gần gũi, thường xuyên gặp gỡ) thì có mức độ “đồng chất” cao về mạng lưới xã hội, họ có khả năng thuộc vào mạng lưới xã hội giống nhau Trong khi đó, những người có quan hệ yếu (hay nói đúng hơn là quan hệ với những người hiếm khi gặp) thì mức độ “đồng chất” thấp, họ có khả năng thuộc vào mạng lưới xã hội khác Xã hội hoặc thế giới xung quanh mình và xã hội hoặc thế giới của người khác tất nhiên có khác biệt về mặt thông tin Cho nên người ta có thể biết được những thông tin mới nhiều hơn qua những người có quan hệ yếu [35, tr 205] Những người có quan hệ yếu có giá trị thông tin Granovetter nói một cá nhân có ít quan hệ yếu sẽ bị tước mất cơ hội tiếp cận những thông tin của cơ cấu xã hội khác

và sẽ bị giới hạn ở những thông tin cục bộ, thậm chí bị giới hạn ở cách nhìn của người thân Nghĩa là các cá nhân đó bị cách ly với những ý tưởng mới họ rơi vào thế bất lợi trong thị trường lao động [35, tr 202]

Trong bối cảnh hội nhập với thế giới và khu vực, cùng với sự phát triển về kinh tế đã tác động tới việc làm, nghề nghiệp: số lượng, cơ cấu, loại hình, tính chất… Do đó để có được việc làm, nghề nghiệp đặc biệt là những việc làm phù hợp với nguyện vọng, mong muốn của bản thân thì mỗi thanh niên trong thị trường lao động bên cạnh việc học tập về trình độ, kỹ năng thì họ cần có đến vốn xã hội, các mối quan hệ trong mạng lưới xã hội của họ để có được việc làm Cách thức họ tìm kiếm việc làm có ý nghĩa quyết định tới việc họ có được việc làm

Do có sự chuyển hóa lẫn nhau giữa vốn văn hóa, vốn tài chính, vốn xã hội,

họ có thể sử dụng vốn văn hóa, vốn tài chính để có được vốn xã hội và cũng có thể

sử dụng vốn xã hội để có được vốn văn hóa và tài chính Những thanh niên có vốn con người cao thường dễ dàng hơn trong việc thiết lập và duy trì các mối quan hệ và những mối quan hệ đó cũng thường hướng đến những người có vốn con người cao Chính vốn xã hội này góp phần gia tăng cơ hội có được việc làm của họ

Trang 26

19

Nhờ các mối quan hệ của họ, họ có được những thông tin từ việc làm, những thông tin này có thể xuất phát từ người thân trong gia đình, anh em, họ hàng hoặc từ bạn bè Sự mở rộng của mối quan hệ với sự đa dạng của mạng lưới xã hội, từ đó thông tin về việc làm phong phú hơn Trong nhiều trường hợp, những thông tin từ việc làm lại xuất phát từ những người quen, những mối quan hệ ít thân thiết hơn Cùng với những mối quan hệ đã trở nên gắn bó, gần gũi thì những mối quan hệ ban đầu còn ít thân thiết (sức mạnh của mối quan hệ yếu), những mối quan hệ này có vai trò, ý nghĩa rất lớn trong việc hỗ trợ để có được việc làm: tư vấn, đưa ra những lời khuyên, cung cấp tài liệu, cách thức thi tuyển… gia tăng cơ hội có được việc làm

1.1.2 Các khái niệm công cụ

1.1.2.1 Khái niệm Hội nhập, Hội nhập việc làm, nghề nghiệp

Hội nhập là hòa mình vào một cộng đồng lớn (nói về quan hệ giữa các dân tộc, các quốc gia) [31, tr 569]

Hội nhập là khái niệm nền tảng của lý thuyết chức năng, nó mô tả phương thức quan hệ của những đơn vị trong một hệ thống mà vì hệ thống đó, một mặt chúng hành động một cách tập thể để tránh phá vỡ nó và làm cho nó không thể duy trì được tính ổn định của mình và mặt khác chúng “hợp tác” để thúc đẩy sự hoạt động của nó như một thể thống nhất (T.Parsons, Những tiểu luận về lý thuyết xã hội học) [32, tr 243]

Hội nhập xã hội và hội nhập hệ thống: những thuật ngữ này được nhà xã hội học người Anh David lockwood đặt ra, để chỉ những vấn đề mà ông coi là cơ bản đối với những lý thuyết chức năng quy chuẩn của thập niên 50 Hội nhập xã hội nói đến những nguyên tắc mà qua đó các cá nhân hay chủ thể hành động được liên kết với nhau trong xã hội Hội nhập hệ thống nói đến những mối quan hệ giữa các bộ phận của xã hội hay hệ thống xã hội Mặc dù sử dụng từ hội nhập nhưng không có nghĩa là những quan hệ được mô tả ở đây là hòa hợp với nhau Thuật ngữ hội nhập

xã hội và hội nhập hệ thống có thể bao hàm cả trật tự và xung đột

Trang 27

20

Hội nhập theo thể hiện lý thuyết hệ thống khái quát nhất, là một quá trình trong đó các phần tử mới được tiếp nhận vào một hệ thống sao cho chúng không khác gì với những phần tử cũ như là so các phần tử này với nhau Điều này cũng đúng với nghĩa gốc La Tinh: integer: không bị động chạm, không suy chuyển, nguyên vẹn… Tương ứng như vậy, trong xã hội học đại cương chủ yếu người ta hiểu hội nhập là một quá trình xã hội mà trong đó một người hoặc nhiều người với

sự quy gán về địa vị và chức năng được thu nhận vào cấu trúc xã hội của một hệ thống xã hội Như vậy, hội nhập là một hình thức của biến đổi xã hội Vì việc hội nhập đòi hỏi có tiền đề là sự sẵn sàng thu nhận của hệ thống xã hội nên ở hệ thống này nó cũng là hệ quả hoặc là yếu tố của biến đổi văn hóa xã hội

Độ hội nhập của một hệ thống bên cạnh các yếu tố khác được xác định bởi mức độ sự chấp thuận Thể chế phụ cho sự ổn định hệ thống, đồng thời cũng xác định cả phạm vi độ lệch cho phép và với nó sự biến đổi có thể Sự tăng lên của phân công lao động của tính đa nguyên tư tưởng, của sự phi tập trung hóa về hành chính… đòi hỏi phải có các biện pháp thể chế để tránh quá trình phản hội nhập Ngược lại, hội nhập trở nên quá mạnh do kiểm soát xã hội, hệ thống sẽ mất đi khả năng để biến đổi Hệ thống càng lớn chừng nào thì sự cân bằng của hội nhập càng trở nên có vấn đề hơn Trong thuyết chức năng-cấu trúc, khái niệm hội nhập được

sử dụng theo hai dạng đặc biệt Một mặt nó gần như là hội nhập phụ cận, chức năng của hệ thống xã hội trong phạm vi các hệ thống hành động Mặt khác, nó là hội nhập cân bằng, một quá trình cân bằng cần thiết, nếu một hệ thống được chia thành các hệ thống con và giờ đây cần được bảo đảm rằng các hệ này phải được phối hợp với nhau để đáp ứng được các chức năng hệ thống cũ [9, tr 220, 222]

Như vậy, hội nhập không chỉ là tìm được việc làm, đó còn là tìm được một việc làm phù hợp/tương ứng với/đáp ứng được những gì mà người lao động kỳ vọng, biểu thị bằng những mục tiêu rõ rệt (được đặt ra và đã, hoặc) cần đạt được;

Không chỉ là tìm một việc làm để có nguồn thu nhập (kiếm sống), đó còn là một việc làm cho phép hướng tới một tương lai nghề nghiệp xác định, được hiểu là

Trang 28

1.1.2.2 Khái niệm Việc làm

Điều 13, Bộ luật Lao động của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” [15, tr 12]

Như vậy, theo Bộ Luật Lao động thì khái niệm việc làm bao gồm những nội dung sau: Là hoạt động lao động của con người; hoạt động lao động nhằm mục đích tạo ra thu nhập (là các khoản nhận được bằng tiền hoặc hiện vật từ việc làm, thường được tính theo tháng, năm); hoạt động lao động đó không bị pháp luật ngăn cấm

Việc làm còn là giới hạn xã hội mà trong đó lao động diễn ra Lao động nằm trong giới hạn thì tạo việc làm Ở định nghĩa này, việc làm bao gồm cả điều kiện lao động, không gian và thời gian nhất định

1.1.2.3 Khái niệm Nghề nghiệp

Theo Từ điển Tiếng Việt thì nghề nghiệp là một việc làm được một người chuyên làm trong một thời gian dài, được người đó thực hiện một cách thành thạo,

có chất lượng và hiệu quả

Định nghĩa này đưa ra 3 thang đo: thời gian lao động, trình độ lao động, chất lượng lao động Nhưng lại không có những căn cứ, tiêu chí cụ thể để đánh giá các thang đo này

Ngoài ra, một số định nghĩa khác lại cho rằng: Nghề là một loại hình việc làm, nghề bao gồm đầy đủ những tính chất của việc làm; Nghề là một thực thể xã

Trang 29

22

hội; Nghề là một thực thể phát triển và có xu thế biến động ngày một nhanh; Nghề

là công việc được hình thành như là sứ mệnh được thực hiện, đang thực hiện Một trạng thái như vậy tức là sự cảm nhận khi hoàn thành một công việc không phải là cái tự nhiên, vốn có của con người Trạng thái thoải mãn đó không phải do một nguyên nhân duy nhất là “trả lương” Trạng thái đó là kết quả của một quá trình giáo dục lâu dài Mức độ thoải mãn với nghề có sự khác ở những người có quá trình giáo dục khác nhau

Nghề: một vai trò kinh tế tách biệt khỏi hoạt động hộ gia đình, như một kết quả của sự phát triển các thị trường cho lao động Những vai trò như vậy hình thành nên một bộ phận của sự phân công lao động kinh tế rộng lớn hơn trong một doanh nghiệp công nghiệp, tổ chức chính thức hoặc cấu trúc kinh tế [32, tr 374]

Nghề nghiệp, định hướng chuyên môn: một dạng tổ chức công việc, một loại định hướng công việc, một quá trình kiểm soát nhóm lợi ích đạt hiệu quả cao Là một hình thức tổ chức, là một nghề nghiệp bao gồm một thực thể điều tiết tự nhiên nào đó nhằm đảm bảo cho các thành viên cá nhân thực hiện theo tiêu chuẩn đề ra; một điều lệ để các thành viên tuân theo; một sự quản lý chặt chẽ về kiến thức liên quan đến trình độ chuyên môn, là những yếu tố cấu thành cơ sở của hoạt động nghiệp vụ và cuối cùng nó bao hàm việc kiểm soát số lượng, việc tuyển lựa và đào tạo những thành viên mới M.Weber đối lập các nghề nghiệp với chế độ quan liêu

và ông coi các nghề nghiệp là hình thái kiểu mẫu của quyền hạn đồng nghiệp, trong

đó quyền lực duy lý hợp pháp dựa trên dân chủ đại diện và những người lãnh đạo về nguyên tắc chỉ là những người thứ nhất trong số những người sàn sàn như nhau [32,

tr 374, 375]

1.1.2.4 Khái niệm Thanh niên

Thanh niên là thuật ngữ được đề cập đến trong xã hội học như là một điển hình về vị thế quy gán, hay một cái nhãn được đặt ra về mặt xã hội chứ không chỉ đơn giản là điều kiện sinh học của thời tuổi trẻ Thuật ngữ này được sử dụng theo ba cách: Một cách rất chung thì nó bao hàm toàn bộ các giai đoạn trong vòng đời, từ

Trang 30

23

lúc còn trẻ đến khi bắt đầu thành người trưởng thành; một cách hay dùng thay cho thuật ngữ vị thành niên vốn chưa hợp lý lắm, để chỉ lý thuyết và nhu cầu thanh thiếu niên (tuổi 13-19 tuổi) và quá trình chuyển thành người lớn; Cách sử dụng hiện nay

ít phổ biến hơn để chỉ một tập hợp những vấn đề giả định về tình cảm và xã hội gắn với việc lớn lên trong xã hội công nghiệp đô thị [32, tr 547]

“Theo N O’Higgins, thanh niên là lứa tuổi đang trong thời gian chuyển tiếp giữa thời thiếu niên và trưởng thành” [5, tr 30]

Theo cơ cấu lứa tuổi của dân số các nước trên thế giới có những quy định khác nhau về độ tuổi thanh niên, thông thường từ 15 đến 24, 25, 29 hoặc 34 tuổi Theo Liên Hợp Quốc lứa tuổi 15 – 34 là thuộc cơ cấu lao động trẻ Còn thanh niên thường chỉ tính trong độ tuổi 15 – 24 để hàm ý ở độ tuổi này thanh niên bao gồm những người rời ghế nhà trường sớm nhất từ 15 tuổi (kết thúc THCS khi 15 tuổi) và kết thúc việc đào tạo nghề nghiệp ở cấp Đại học lúc 24 tuổi Nhiều nước quy định, thanh niên là trong độ tuổi 15-24, riêng Việt Nam quy định ở độ tuổi 15-29 (tuổi còn sinh hoạt trong tổ chức đoàn Thanh niên)

Thanh niên Việt Nam xem xét dưới góc độ lực lượng tham gia thị trường lao động (15-29 tuổi) được chia ra làm 3 nhóm:

- Nhóm sau khi tốt nghiệp THCS hoặc THPT không có điều kiện học lên, tham gia ngay vào thị trường lao động Đó là lao động phổ thông chưa có nghề;

- Nhóm sau khi tốt nghiệp các trường Cao đẳng, Đại học, Dạy nghề sẵn sàng tham gia vào thị trường lao động Đó là lao động có chuyên môn kỹ thuật (có nghề);

- Nhóm bị mất việc làm hoặc thất nghiệp đang có nhu cầu việc làm, sẵn sàng tham gia hoặc trở lại thị trường lao động

1.2 Cơ sở thực tiễn:

1.2.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Việc làm, nghề nghiệp là nhu cầu, mối quan tâm của tất cả những người lao động và gia đình của họ Nó gắn bó thiết thực để đảm bảo cuộc sống và khẳng định

Trang 31

24

bản thân Chính vì vậy, việc làm, nghề nghiệp cũng trở thành chủ đề nghiên cứu của nhiều ngành khoa học và nhiều nhà khoa học với những công trình nghiên cứu sâu sắc, giàu ý nghĩa Việc tổng quan về vấn đề việc làm, nghề nghiệp đặc biệt là việc làm, nghề nghiệp của thanh niên giúp tác giả có cái nhìn đa dạng, nhiều chiều hơn

về vấn đề nghiên cứu, từ đó có những cách tiếp cận mới và hướng nghiên cứu mới với bối cảnh hội nhập thế giới và khu vực mang lại những ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn sâu sắc

- Hội nhập việc làm nghề nghiệp của người tốt nghiệp đại học (Khảo sát trên địa bàn thành phố Hà Nội), TS Trương An Quốc, đề tài cấp Đại học Quốc gia, nghiệm thu: tháng 12/2006: Đề tài đã mô tả hiện trạng phân công lao động xã

hội đối với người có trình độ đại học, giai đoạn những năm đầu sau khi tốt nghiệp

Từ đó, phân tích và nhận diện một số đặc trưng xã hội của phân công lao động hiện nay; Tìm hiểu môi trường việc làm hiện tại của người mới tốt nghiệp đại học Khảo sát việc làm của họ từ nhiều phương diện nhằm xác định những nhu cầu xã hội về lao động, việc làm và nghề nghiệp Đồng thời tìm hiểu khả năng, mức độ đáp ứng

và được đáp ứng của người lao động có trình độ đại học; Phân tích một số nguyên nhân ảnh hưởng đến thành công của người mới tốt nghiệp đại học trong lĩnh vực việc làm- nghề nghiệp Từ đó đưa ra một vài kiến nghị nhằm khắc phục phần nào những khó khăn hiện tại và tăng thêm khả năng thành công của họ

Qua khảo sát cho thấy người tốt nghiệp đại học có việc làm chủ yếu vẫn là làm trong khu vực nhà nước, sau đó là khu vực tư nhân và liên doanh với nước ngoài Phân bố việc làm theo khu vực kinh tế, lĩnh vực ngành nghề, theo thời gian làm việc hay theo dạng hợp đồng đã ký kết đều có sự liên quan qua lại với nhau một cách chặt chẽ, đều rất đa dạng và tùy thuộc vào nhiều yếu tố như chuyên ngành- trình độ đào tạo, nơi sinh, giới tính và xuất thân gia đình

Khi trao đổi về những khía cạnh khác nhau của việc làm mà họ mong muốn (việc làm lý tưởng), người tốt nghiệp đại học không nhấn mạnh quá nhiều vào yếu

tố thu nhập, họ có phần quan tâm nhiều hơn tới các yếu tố ổn định và thăng tiến

Trang 32

25

trong công việc Tuy nhiên mối quan tâm hàng đầu của họ, vượt rất xa các mối quan tâm khác, chính là cơ hội được đào tạo Tiếp đó là cơ hội sử dụng các nguồn lực tiềm năng cá nhân Họ cũng đồng thời tỏ rõ ý muốn có cơ hội thử thách để vượt lên,

tự khẳng định mình

Qua khảo sát, đề tài đánh giá về mức độ hài lòng của người tốt nghiệp đại học, cho thấy: nhìn chung những người đang làm việc tỏ ra hài lòng với việc làm của họ Mức độ hài lòng có xu thế tăng lên theo thời gian làm việc Tuy nhiên, ở đây có sự phân hóa khác biệt theo ngành học, nơi sinh và giới tính, nữ giới tỏ ra ít hài lòng hơn nam giới

Đồng thời, đề tài cũng nêu lên mức độ thành công trong nghề nghiệp - việc làm tùy thuộc vào nhiều yếu tố mà trước hết có lẽ cần phải nói tới chất lượng và trình độ các quan hệ xã hội (vốn xã hội) cũng như phẩm chất, năng lực và trình độ (vốn văn hóa) của người lao động

- Thanh niên với việc làm và phát triển tài năng, TS Dương Tự Đam, NXB Thanh niên, năm 2008: Cuốn sách đã nêu lên thực trạng tuổi trẻ Việt Nam

với yêu cầu phát triển khoa học và công nghệ vì sự nghiệp Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa đất nước mà cụ thể là cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã tác động tạo

ra những yêu cầu mới đối với đào tạo nguồn nhân lực, từ đó đưa ra một số giải pháp cải cách giáo dục và đào tạo để thích ứng Tiếp đó, cuốn sách thể hiện chi tiết thực trạng vấn đề lao động, việc làm và phát triển tài năng của thanh niên: lao động việc làm và định hướng nghề nghiệp của học sinh, sinh viên; Thực trạng việc làm, nghề nghiệp của lao động thanh niên và vai trò của Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh; Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh kết hợp với nhà trường, đoàn thể xã hội tham gia giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực tích cực góp phần vào sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Đồng thời, tác giả cũng đưa ra một số mô hình giải quyết việc làm cho thanh niên của Đoàn TNCSHCM và những chính sách của Đảng và Nhà nước về giáo dục, đào tạo nghề và phát triển tài năng cho thanh niên

Trang 33

là nguyên tắc và tư tưởng chỉ đạo công tác thanh niên trong hội nhập khu vực và thế giới Từ đó, tác giả nêu lên những định hướng cơ bản về công tác thanh niên trong tiến trình hội nhập khu vực và thế giới như vị trí, vai trò của thanh niên và công tác thanh niên trong hội nhập, những đặc điểm tâm lý, tư tưởng của thanh niên trong quá trình hội nhập, nhận thức về hội nhập khu vực và thế giới của thanh niên Việt Nam hiện nay, lợi ích của thanh niên trong hội nhập, những định hướng cơ bản chỉ đạo công tác thanh niên trong tiến trình hội nhập khu vực và thế giới Đặc biệt, cuốn sách đã đưa ra một số kiến nghị nhằm tăng cường công tác thanh niên trong tiến trình hội nhập khu vực và thế giới như: kiến nghị với Đảng và Nhà nước: xây dựng chiến lược bồi dưỡng và phát huy thế hệ trẻ, coi thanh niên là nguồn nhân lực quan trọng trong việc thực hiện sự nghiệp Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá đất nước; Có chính sách về giáo dục, đào tạo và bồi dưỡng thanh niên, Nhà nước có chính sách riêng về đào tạo sử dụng nhân tài trẻ; Chính sách về việc làm cho thanh niên, chính sách về chăm lo những vấn đề xã hội cho thanh niên; Những biện pháp giáo dục cho thanh niên trong việc chống âm mưu thủ đoạn diễn biến hoà bình; Mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài; Lựa chọn cán bộ đủ đức đủ tài để vững vàng trong hội nhập; Tăng cường công tác quốc tế thanh niên do Trung ương đoàn Thanh niên là cơ quan thường trực Đồng thời tác giả cũng nêu lên một số kiến nghị với Đoàn TNCSHCM: Tăng cường công tác giáo dục, nâng cao kỹ năng và nhận thức về hội nhập khu vực

Trang 34

27

và thế giới, quan tâm chỉ đạo mở rộng giao lưu, hợp tác; Tăng cường tổ chức học ngoại ngữ, tin học cho thanh niên và cán bộ Đoàn, Hội, Đội; Công tác quốc tế thanh niên là công tác quan trọng của Đoàn, tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu khoa học về thanh niên và tổ chức thanh niên quốc tế để kịp thời rút ra những bài học kinh nghiệm trong hội nhập khu vực và thế giới

- Thị trường lao động và định hướng nghề nghiệp cho thanh niên, TS Nguyễn Hữu Dũng, NXB Lao động xã hội, Hà Nội năm 2005: Cuốn sách đã đưa

ra những khái niệm, đặc điểm và phân loại thị trường lao động, các yếu tố của thị trường lao động Đồng thời tác giả cũng phân lớp thị trường lao động thanh niên với những nét đặc thù của thị trường lao động thanh niên về cung, cầu và sự cân bằng cung – cầu lao động trên thị trường lao động thanh niên Tiếp đó, tác giả đưa ra những nhận thức và những nội dung cơ bản của định hướng nghề nghiệp cho thanh niên, mối quan hệ giữa thị trường lao động và định hướng nghề nghiệp cho thanh niên: những yêu cầu chủ yếu của thị trường lao động đối với định hướng nghề nghiệp cho thanh niên, sự tác động trở lại của định hướng nghề nghiệp cho thanh niên đến thị trường lao động, vai trò của hệ thống giáo dục, đào tạo đối với phát triển nguồn nhân lực thanh niên, tạo cung cho thị trường lao động và khả năng hội nhập của thanh niên vào thị trường lao động Bên cạnh đó, cuốn sách cũng đánh giá khái quát thực trạng thị trường lao động Việt Nam và thực trạng thị trường lao động thanh niên Từ đó, tác giả đánh giá thực trạng định hướng nghề nghiệp của thanh niên bao gồm: xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của thanh niên (học sinh phổ thông, cao đẳng, đại học, dạy nghề, thanh niên mất việc làm, thất nghiệp), khả năng hội nhập của thanh niên vào thị trường lao động và vấn đề đặt ra đối với giáo dục, đào tạo cho thanh niên được thể hiện trong quá trình tìm việc và trong quá trình làm việc Không những thế, cuốn sách còn đưa ra những dự báo về cung, cầu lao động của thị trường lao động đến năm 2010 và các giải pháp phát triển thị trường lao động, định hướng nghề nghiệp, giải quyết việc làm cho thanh niên giai đoạn 2006-

2010

Trang 35

28

- Lao động - việc làm trong thời kỳ hội nhập, Bộ Lao động - Thương binh và xã hội, Viện Khoa học Lao động và xã hội, NXB Lao động – xã hội, năm 2009: Cuốn sách đã tập hợp một số kết quả nghiên cứu của Viện Khoa học

Lao động và Xã hội về tác động của hội nhập tới lao động, việc làm được thực hiện

từ năm 2007 đến nay, đưa lại những đánh giá ban đầu về tác động của hội nhập WTO đối với các vấn đề về kinh tế - xã hội nói chung và lao động - việc làm nói riêng Các tác giả đã phân tích tác động của toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc

tế nói chung và tác động kinh tế của quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc

tế nói riêng: đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế và nâng cao mức sống, đặt các nước trước thách thức của cạnh tranh và điều chỉnh, phân hóa xã hội, tác động đối với vấn đề việc làm Đồng thời, cuốn sách cũng nêu lên phương pháp luận và mô hình đánh giá tác động tăng trưởng kinh tế và hội nhập đến lao động – việc làm và các vấn đề xã hội giai đoạn 2011-2020 Thực trạng lao động việc làm và các vấn đề

xã hội: xu hướng lao động việc làm của Việt Nam; Thu nhập của người lao động trong các doanh nghiệp; Tác động của khủng hoảng kinh tế đến thị trường lao động

và các vấn đề xã hội Cuốn sách còn đưa ra những dự báo tác động của tăng trưởng kinh tế, hội nhập đến lao động, việc làm giai đoạn 2011-2020 Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đã đưa ra khuyến nghị về hệ thống các giải pháp để phát triển thị trường lao động và giải quyết việc làm đồng thời hạn chế những vấn đề xã hội nảy sinh khi nước ta hội nhập ngày càng sâu rộng với khu vực và thế giới

- Định hướng nghề nghiệp và việc làm, Tổng cục Dạy nghề, NXB Lao động - xã hội, Hà Nội năm 2004: Cuốn sách đã đưa ra những khái quát về nghề

nghiệp và việc làm, mối quan hệ giữa việc làm và tương lai, nghề nghiệp và sự thành đạt Tiếp đó, để lựa chọn được nghề nghiệp phù hợp thì cần phải căn cứ vào năng lực, kỹ năng, tính cách, tinh thần trách nhiệm, sự thích thú, các nhu cầu Đồng thời cũng phải rèn luyện cho mình các kỹ năng cơ bản: kỹ năng đọc, kỹ năng viết,

kỹ năng tính toán, kỹ năng nói, kỹ năng nghe, bên cạnh đó là các kỹ năng tư duy và các kỹ năng sống trong cộng đồng Cuốn sách cũng trình bày rất cụ thể, chi tiết về vấn đề việc làm, các ngành nghề đang tăng trưởng ở Việt Nam, sự liên hệ giữa bản

Trang 36

29

thân và công việc; những nguồn cung cấp thông tin để có được việc làm: trung tâm giới thiệu việc làm, báo chí, internet, đài và ti vi, hội chợ việc làm, bạn bè và người thân, những người sử dụng lao động, các trường cơ sở đào tạo, quảng cáo cá nhân Cùng với đó, hoạt động hướng nghiệp và giới thiệu việc làm cũng được trình bày cụ thể, chi tiết

- Xu hướng việc làm Việt Nam 2009, Trung tâm Quốc gia Dự báo và thông tin thị trường lao động, Cục Việc làm, Bộ Lao động - Thương binh và xã hội, Hà Nội, tháng 8 năm 2009: Báo cáo phân tích nhu cầu thông tin và phân tích

thị trường lao động Vai trò của phân tích thông tin thị trường lao động đối với tăng trưởng và hoạch định chính sách thị trường lao động, mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và giảm đói nghèo Tiếp đó, cuốn sách đã tóm lược các ước lượng và dự báo lực lượng lao động theo nhóm tuổi và giới tính, đô thị hóa thị trường lao động Bên cạnh đó, những thay đổi trong các đặc điểm việc làm từ 1997 đến 2007 được thể hiện: Việc làm theo nhóm tuổi và giới tính; Tỷ số việc làm trên dân số; Vị thế công việc; việc làm theo ngành; Số giờ lao động; Việc làm và trình

độ học vấn; Việc làm theo nghề; So sánh thành thị - nông thôn Báo cáo cũng phân tích vấn đề thất nghiệp từ năm 1997 đến năm 2007: Thất nghiệp chia theo nhóm tuổi và giới tính; Thất nghiệp trong thanh niên và tỷ số thanh niên trên người trưởng thành; Thất nghiệp chia theo trình độ học vấn và cuối cùng là so sánh thành thị - nông thôn

- Xu hướng việc làm Việt Nam 2010, Trung tâm Quốc gia Dự báo và thông tin thị trường lao động, Cục Việc làm, Bộ Lao động - Thương binh và xã hội, Hà Nội, tháng 10 năm 2010: Ấn phẩm tập trung phân tích thực trạng phát

triển thị trường lao động giai đoạn 2007-2009 về phát triển lực lượng lao động, việc làm, thất nghiệp và các yếu tố thị trường lao động như: vị thế công việc, việc làm phi chính thức, thiếu việc làm theo thời gian, năng suất lao động… Bên cạnh đó, vấn đề phát triển phân tích và thông tin thị trường lao động sử dụng dự báo việc làm cũng được trình bày cụ thể, sâu sắc trong ấn phẩm

Trang 37

30

- Báo cáo phân tích tình hình sử dụng và dự báo cầu lao động trong các

doanh nghiệp Việt Nam 2011, Trung tâm Quốc gia Dự báo và thông tin thị trường lao động, Cục Việc làm, Bộ Lao động - Thương binh và xã hội, Hà Nội, tháng 6 năm 2011: Báo cáo đã phân tích thị trường lao động phát triển mạnh trong

năm 2011, cuộc điều tra Thực trạng sử dụng và nhu cầu lao động trong doanh nghiệp được tiến hành với cỡ mẫu 16.000 doanh nghiệp vào tháng 7 và tháng 8 năm

2010 Kết quả cho thấy có những dấu hiệu doanh nghiệp chịu sự tác động tiêu cực

từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu như giảm lao động trong năm 2009 và đồng thời đã xuất hiện những dấu hiệu tích cực về phát triển kinh tế từ phía doanh nghiệp trong năm 2010

Tiếp đến là số lao động dự kiến tăng lên trong năm 2011, mặc dù trong thời gian khủng hoảng tài chính nhưng không có sự suy giảm rõ rệt trong tổng số lao động có việc làm năm 2009 Điều này cho thấy Việt Nam có một mô hình phát triển khác so với nhiều quốc gia đã có sự suy giảm rất lớn về việc làm Theo nhận định của các doanh nghiệp thì sẽ có những ảnh hưởng tích cực từ những chính sách ổn định kinh tế vĩ mô của Chính phủ làm tăng số lao động trong năm 2011

Về số lao động trong các ngành, báo cáo đã đưa ra những phân tích nêu lên những khác biệt tương đối lớn giữa các ngành trong việc xem xét sự thay đổi về nhân công trong năm 2011 Mức tăng cao nhất dự báo ở ngành chế tạo, tiếp theo là ngành hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ, các hoạt động chuyên môn khoa học

và công nghệ và ngành dịch vụ khác Dự kiến tăng trưởng lao động thấp hơn ở các ngành sản xuất phân phối điện, ga, khí đốt; ngành tài chính, ngân hàng bảo hiểm; ngành nghệ thuật vui chơi, giải trí và ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử

lý rác thải, nước thải Đây là các ngành sẽ sử dụng ít lao động hơn so với năm 2010 Dường như ngân hàng và các tổ chức tài chính chịu ảnh hưởng ít hơn từ cuộc khủng hoảng tài chính với độ trễ thời gian lớn hơn một năm

Xuất hiện những điều kiện thuận lợi hơn khi các doanh nghiệp tuyển dụng lao động theo nhu cầu, sự sẵn có của lao động đối với các nghề đang phát triển có

Trang 38

31

vai trò quyết định ảnh hưởng tới tăng trưởng lao động việc làm Kết quả điều tra cho thấy không phải tất cả các nghề đều có mức tăng trưởng khi nền kinh tế phát triển; Điều này được thể hiện có sự chênh lệch biến động về việc làm ở từng nghề

có thể rất lớn Lao động ở một số nghề này tăng, trong khi lại giảm đối với một số nghề khác Nguyên nhân là những biến động mang tính chu kỳ của các ngành dẫn đến thay đổi cơ cấu của các nghề Do vậy cần phải theo bám sát các biến động mang tính chu kỳ và cơ cấu để hoạch định những chính sách nhằm tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp thực hiện công tác tuyển dụng, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tuyển dụng người lao động nhanh chóng, dễ dàng, nghĩa là thời gian tuyển dụng lao động nhanh hơn

Về các hình thức tuyển dụng: thông dụng nhất đối với các doanh nghiệp Việt Nam là chú ý tới hình thức tự thông báo tuyển lao động tại doanh nghiệp, tiếp đến

là thông qua quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng, thông qua quyền

sở hữu của các cổ đông Hình thức tuyển dụng thông qua các trung tâm giới thiệu việc làm chiếm tỷ trọng thấp hơn so với các phương thức nêu trên

Báo cáo đã đưa đến một cái nhìn khái quát về tình hình lao động và thị trường lao động của Việt Nam năm 2011

- Từ việc làm ổn định đến ổn định việc làm: người tốt nghiệp đại học chủ động hơn trong hội nhập, TS Trương An Quốc, Những vấn đề xã hội học trong sự biến đổi xã hội, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2011, tr 254 - 264: Nghiên cứu vấn đề người tốt nghiệp đại học tham gia thị trường lao động, khi

đưa ra câu hỏi về việc làm mong đợi, tác giả đã ghi nhận được rằng: phần lớn người tốt nghiệp đại học mong có được một việc làm ổn định Đồng thời, tác giả cũng đặt

ra câu hỏi: những ai và bằng những cách nào họ có được việc làm ổn định và mặt khác liệu ổn định có mang nội dung và ý nghĩa như nhau ở những người được hỏi hay ngược lại, những yếu tố đó có thể biến động ở ngay trong quan niệm của một người? Tiếp đó, bài viết phân tích hai quan niệm khác nhau về việc làm Thứ nhất là quan niệm về việc làm ổn định: bài viết đã phân tích việc làm ổn định là một cách

Trang 39

32

nhìn xã hội có phần máy móc, xơ cứng và có xu thế tiếp cận tới quan niệm cơ cấu chức năng bảo thủ, nghĩa là chỉ tập trung sự chú ý vào tính ổn định của hệ thống việc làm xã hội mà không ghi nhận những biến đổi đã và đang diễn ra một cách thường xuyên và liên tục trong các thành phần, trong phân hệ và trong tổng thể của

nó Cùng với đó là quan niệm ổn định việc làm: những người theo đuổi quan niệm này lại thường hướng tới những hoạt động hết sức năng động và đa dạng Tuy nhiên những hoạt động của họ chủ yếu vẫn hướng tới một mục tiêu chung được xác định

rõ là nhằm để duy trì, cải thiện, điều chỉnh việc làm và đảm bảo hiệu quả, chất lượng cao hơn cho công việc của mình

Trên cơ sở phân tích hai quan niệm về việc làm ổn định và ổn định việc làm, tác giả đã so sánh hai quan niệm này cùng với nhận thức khác biệt về thời gian: những người đi theo quan niệm việc làm ổn định không tham gia một cách thường xuyên vào quá trình trao đổi hay thương lượng về hợp đồng với phía sử dụng lao động Trong những giai đoạn kế tiếp, hiếm khi họ đặt vấn đề về sự cần thiết hay về những nhu cầu, đòi hỏi phải điều chỉnh hoặc thay đổi một cách cơ bản các hạng mục của bản hợp đồng đã ký Ngược lại, những người theo quan niệm ổn định việc làm đặt mục tiêu chủ yếu của họ vào những bản “hợp đồng” về tương lai việc làm

và nhất là những bản hợp đồng sẽ đến trong tương lai nghề nghiệp - việc làm của họ

- Vốn xã hội, vốn con người và mạng lưới xã hội qua một số nghiên cứu

ở Việt Nam, GS.TS Lê Ngọc Hùng, Tạp chí Nghiên cứu con người số 4 (37)

2008, tr 45 – 54: Bài viết đã đặt vấn đề vốn xã hội từ góc độ kinh tế học; Thuyết

chức năng về vốn xã hội theo quan niệm của Coleman; Thuyết cấu trúc về vốn xã hội theo quan niệm của Bourdieu; Mô hình tổng hợp về vốn xã hội, vốn con người

và mạng lưới xã hội; Tiếp đó là một số phát hiện về vốn xã hội, vốn người và mạng lưới xã hội ở Việt Nam như: mạng lưới xã hội của người lao động, mạng lưới thông tin của doanh nghiệp, mạng di cư, vai trò của các loại vốn trong xóa đói giảm nghèo, vai trò của vốn xã hội trong giao dịch kinh tế, cách thức sử dụng vốn xã hội của người nông dân Trong đó mạng lưới tìm kiếm việc làm của sinh viên thông qua mô hình mạng lưới xã hội kiểu hỗn hợp, là sự kết hợp mô hình kiểu truyền thống đặc

Trang 40

33

trưng bởi các mối quan hệ gia đình và người thân quen với mô hình kiểu hiện đại đặc trưng bởi mối quan hệ chức năng của cá nhân với các cơ quan, tổ chức và thiết chế chính thức Sinh viên có ý thức trong việc phát triển vốn người tức là học tập để

có tri thức, năng lực chuyên môn nghề nghiệp đồng thời phát triển vốn xã hội thông qua việc tiếp xúc, trao đổi và hợp tác với những cá nhân có vốn người cao

- Giải quyết việc làm trong thời kỳ hội nhập, Nguyễn Thị Kim Ngân, tạp chí Cộng sản, số 23 (143)/2007: Ở nước ta, quá trình phát triển kinh tế thị trường

định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế đang đặt ra hàng loạt vấn đề bức xúc liên quan đến việc làm và chính sách giải quyết việc làm Đây

là tiền đề quan trọng để sử dụng có hiệu quả nguồn lực lao động, góp phần tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Bài viết đã nêu rõ chủ trương giải quyết việc làm của Đảng thể hiện trong Chiến lược phát triển kinh tế -

xã hội Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010 đã được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng: “Giải quyết việc làm là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân” Và trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X xác định rõ: “Phát triển thị trường lao động trong mọi khu vực kinh tế, tạo sự gắn kết cung – cầu lao động, phát huy tính tích cực của người lao động trong học nghề, tự tạo và tìm việc làm” Tiếp đó, tác giả nêu những kết quả đã đạt được trong thời gian qua trong việc giải quyết việc làm Đồng thời, bài viết cũng phân tích rõ những vấn đề cần khắc phục: Các văn bản, chính sách về lao động – việc làm ra đời nhưng việc ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện chưa đầy đủ, chưa sát thực tiễn, hiệu quả triển khai còn thấp, chất lượng việc làm chưa cao, tính ổn định, bền vững trong việc làm thấp, chuyển dịch cơ cấu lao động chậm…

- Đào tạo nghề nghiệp cho thanh niên – yếu tố quan trọng đảm bảo cho việc giải quyết vấn đề an sinh và phát triển xã hội, Trần Hồng Lưu, Tạp chí Khoa học và công nghệ, Đại học Đà Nẵng, Số 5 (40), 2010: Trong giai đoạn hiện

nay, sự phát triển của đất nước đòi hỏi nguồn tri thức khoa học công nghệ hiện đại,

Ngày đăng: 20/03/2015, 16:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Lao động Thương binh và xã hội (2006), Số liệu thống kê Việc làm và thất nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 1996-2005, NXB Lao động - xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số liệu thống kê Việc làm và thất nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 1996-2005
Tác giả: Bộ Lao động Thương binh và xã hội
Nhà XB: NXB Lao động - xã hội
Năm: 2006
2. Bộ Lao động Thương binh và xã hội (2007), Báo cáo điều tra Lao động - Việc làm, NXB Lao động-xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo điều tra Lao động - Việc làm
Tác giả: Bộ Lao động Thương binh và xã hội
Nhà XB: NXB Lao động-xã hội
Năm: 2007
3. Cục Việc làm, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2009), Thực trạng đầu tư nâng cao năng lực các trung tâm giới thiệu việc làm và định hướng đến năm 2010, Tài liệu tập huấn nghiệp vụ giải quyết việc làm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng đầu tư nâng cao năng lực các trung tâm giới thiệu việc làm và định hướng đến năm 2010
Tác giả: Cục Việc làm, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Tài liệu tập huấn nghiệp vụ giải quyết việc làm
Năm: 2009
4. Phạm Tất Dong - Lê Ngọc Hùng (2006), Xã hội học đại cương, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học đại cương
Tác giả: Phạm Tất Dong - Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
5. Nguyễn Hữu Dũng (2005), Thị trường lao động và định hướng nghề nghiệp cho thanh niên, NXB Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường lao động và định hướng nghề nghiệp cho thanh niên
Tác giả: Nguyễn Hữu Dũng
Nhà XB: NXB Lao động xã hội
Năm: 2005
6. Dương Tự Đam (2008), Thanh niên với việc làm và phát triển tài năng, NXB Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh niên với việc làm và phát triển tài năng
Tác giả: Dương Tự Đam
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2008
8. Gunter Edruweit (1999), Các lý thuyết xã hội học hiện đại, NXB Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các lý thuyết xã hội học hiện đại
Tác giả: Gunter Edruweit
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 1999
9. Gunter Edruweit và Gisela Trommsdorff (2009), Từ điển Xã hội học, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Xã hội học
Tác giả: Gunter Edruweit và Gisela Trommsdorff
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2009
10. Trần Thị Thu Hiền, Luận văn mang mã số: VL2/01462 “Định hướng nghề nghiệp của sinh viên sau khi ra trường hiện nay (Nghiên cứu tại đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội)” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng nghề nghiệp của sinh viên sau khi ra trường hiện nay (Nghiên cứu tại đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội)
Tác giả: Trần Thị Thu Hiền
11. Lê Ngọc Hùng (2002), Lịch sử và lý thuyết xã hội học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử và lý thuyết xã hội học
Tác giả: Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
12. Lê Ngọc Hùng (2008), Vốn xã hội, vốn con người và mạng lưới xã hội qua một số nghiên cứu ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu con người, số 4 (37), tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu con người
Tác giả: Lê Ngọc Hùng
Năm: 2008
13. Trần Hồng Lưu (2010), Đào tạo nghề nghiệp cho thanh niên – yếu tố quan trọng đảm bảo cho việc giải quyết vấn đề an sinh và phát triển xã hội, Tạp chí Khoa học và công nghệ, Đại học Đà Nẵng, Số 5 (40) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học và công nghệ
Tác giả: Trần Hồng Lưu
Năm: 2010
14. Nguyễn Thị Kim Ngân (2007), Giải quyết việc làm trong thời kỳ hội nhập, tạp chí Cộng sản, số 23 (143) Sách, tạp chí
Tiêu đề: tạp chí Cộng sản
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Ngân
Năm: 2007
15. Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2007), Bộ Luật Lao động, NXB Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Luật Lao động
Tác giả: Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: NXB Lao động xã hội
Năm: 2007
17. Nguyễn Thị Minh Phương, Luận văn mang mã số: VL2/01731 “Định hướng nghề nghiệp và khu vực làm việc sau khi tốt nghiệp của sinh viên ngoài công lập hiện nay (Nghiên cứu trường hợp tại đại học dân lập Đông Đô)” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng nghề nghiệp và khu vực làm việc sau khi tốt nghiệp của sinh viên ngoài công lập hiện nay (Nghiên cứu trường hợp tại đại học dân lập Đông Đô)
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Phương
18. Trương An Quốc (2006), Hội nhập việc làm nghề nghiệp của người tốt nghiệp đại học (Khảo sát trên địa bàn thành phố Hà Nội), đề tài cấp Đại học Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nhập việc làm nghề nghiệp của người tốt nghiệp đại học (Khảo sát trên địa bàn thành phố Hà Nội)
Tác giả: Trương An Quốc
Năm: 2006
19. Trương An Quốc (2011), Từ việc làm ổn định đến ổn định việc làm: Người tốt nghiệp đại học chủ động hơn trong hội nhập, Những vấn đề xã hội trong sự biến đổi xã hội, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề xã hội trong sự biến đổi xã hội
Tác giả: Trương An Quốc
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
20. Phạm Văn Quyết - Nguyễn Quý Thanh (2001), Phương pháp nghiên cứu xã hội học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu xã hội học
Tác giả: Phạm Văn Quyết - Nguyễn Quý Thanh
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
21. Sở Lao động, Thương binh và xã hội tỉnh Ninh Bình (2011), Báo cáo số 25/LĐTBXH-VL, ngày 13/2/2011, Báo cáo kết quả giải quyết việc làm giai đoạn 2006-2010, phương hướng và giải pháp giai đoạn 2011-2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả giải quyết việc làm giai đoạn 2006-2010, phương hướng và giải pháp giai đoạn 2011-2015
Tác giả: Sở Lao động, Thương binh và xã hội tỉnh Ninh Bình
Năm: 2011
22. Hoàng Bá Thịnh (2009), Vốn xã hội, mạng lưới xã hội và những phí tổn, Tạp chí Xã hội học, số 1 (105) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Xã hội học
Tác giả: Hoàng Bá Thịnh
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Số lao động được giải quyết việc làm qua các năm. - Hội nhập việc làm, nghề nghiệp của thanh niên - khảo sát trên địa bàn Thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình (Giai đoạn 2005 - 2011
Bảng 1.1. Số lao động được giải quyết việc làm qua các năm (Trang 42)
Bảng 2.1. Dân số Việt Nam từ 15-29 tuổi qua các năm. - Hội nhập việc làm, nghề nghiệp của thanh niên - khảo sát trên địa bàn Thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình (Giai đoạn 2005 - 2011
Bảng 2.1. Dân số Việt Nam từ 15-29 tuổi qua các năm (Trang 52)
Bảng 2.4: Những khó khăn, trở ngại trong việc tìm kiếm việc làm của thanh niên. - Hội nhập việc làm, nghề nghiệp của thanh niên - khảo sát trên địa bàn Thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình (Giai đoạn 2005 - 2011
Bảng 2.4 Những khó khăn, trở ngại trong việc tìm kiếm việc làm của thanh niên (Trang 55)
Bảng 2.5: Những khó khăn, trở ngại trong việc tìm kiếm việc làm, lựa  chọn nghề nghiệp của thanh niên chia theo trình độ học vấn - Hội nhập việc làm, nghề nghiệp của thanh niên - khảo sát trên địa bàn Thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình (Giai đoạn 2005 - 2011
Bảng 2.5 Những khó khăn, trở ngại trong việc tìm kiếm việc làm, lựa chọn nghề nghiệp của thanh niên chia theo trình độ học vấn (Trang 56)
Bảng 2.7: Mức độ hài lòng về công việc hiện nay của thanh niên. - Hội nhập việc làm, nghề nghiệp của thanh niên - khảo sát trên địa bàn Thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình (Giai đoạn 2005 - 2011
Bảng 2.7 Mức độ hài lòng về công việc hiện nay của thanh niên (Trang 62)
Bảng 2.8: Số lượng lao động được giải quyết việc làm qua các năm. - Hội nhập việc làm, nghề nghiệp của thanh niên - khảo sát trên địa bàn Thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình (Giai đoạn 2005 - 2011
Bảng 2.8 Số lượng lao động được giải quyết việc làm qua các năm (Trang 67)
Bảng 2.9: Những nguồn cung cấp thông tin việc làm cho thanh niên. - Hội nhập việc làm, nghề nghiệp của thanh niên - khảo sát trên địa bàn Thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình (Giai đoạn 2005 - 2011
Bảng 2.9 Những nguồn cung cấp thông tin việc làm cho thanh niên (Trang 70)
Bảng 2.10: Tầm quan trọng của các yếu tố để có được việc làm. - Hội nhập việc làm, nghề nghiệp của thanh niên - khảo sát trên địa bàn Thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình (Giai đoạn 2005 - 2011
Bảng 2.10 Tầm quan trọng của các yếu tố để có được việc làm (Trang 73)
Bảng 2.11: Loại kỹ năng muốn học thêm (% trên tổng số muốn học thêm) - Hội nhập việc làm, nghề nghiệp của thanh niên - khảo sát trên địa bàn Thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình (Giai đoạn 2005 - 2011
Bảng 2.11 Loại kỹ năng muốn học thêm (% trên tổng số muốn học thêm) (Trang 78)
Bảng 2.12: Cách thức chuẩn bị việc làm cho tương lai (% trên tổng số người - Hội nhập việc làm, nghề nghiệp của thanh niên - khảo sát trên địa bàn Thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình (Giai đoạn 2005 - 2011
Bảng 2.12 Cách thức chuẩn bị việc làm cho tương lai (% trên tổng số người (Trang 81)
Bảng 2.13: Tỷ lệ lao động thanh niên tiếp tục phải đào tạo sau khi được - Hội nhập việc làm, nghề nghiệp của thanh niên - khảo sát trên địa bàn Thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình (Giai đoạn 2005 - 2011
Bảng 2.13 Tỷ lệ lao động thanh niên tiếp tục phải đào tạo sau khi được (Trang 83)
Bảng 2.14: Đánh giá về một số trình độ/kỹ năng của thanh niên hiện nay. - Hội nhập việc làm, nghề nghiệp của thanh niên - khảo sát trên địa bàn Thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình (Giai đoạn 2005 - 2011
Bảng 2.14 Đánh giá về một số trình độ/kỹ năng của thanh niên hiện nay (Trang 85)
Bảng 2.15: Mức độ thường xuyên sử dụng các cách thức để nâng cao kiến thức, - Hội nhập việc làm, nghề nghiệp của thanh niên - khảo sát trên địa bàn Thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình (Giai đoạn 2005 - 2011
Bảng 2.15 Mức độ thường xuyên sử dụng các cách thức để nâng cao kiến thức, (Trang 89)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w