Trang phục Quan họ làng Diềm một sản phẩm của sinh hoạt văn hóa Quan họ trong các lễ hội truyền thống của địa phương..... Tác giả LQĐ còn chú dẫn thêm tài liệu của sứ nhà Nguyên trong t
Trang 1Đ ẠI HỌC QUỐC G IA HÀ NỘI
N gườ i h ư ớ n g (làn K hoa học: PGS TS H oàng Lưưniỉ
ĐA HỌC QUỐC GIA HẢ NỘI TRUNG TÂM IHỎNS TIN THU VIỄN
V-L ?J (-rỉ1)
I là Noi - 2005
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình Iriển khai và thực hiện luận vãn “Trang pliục trong
sinh hoạt văn hoá Quan h ọ ”, tôi đã nhận được sự hướng dẫn chu dáo và sự
quan tâm động viên, khích lệ của PGS.TS Hoàng Lương Tỏi xin bay tó lòng biết ơn chân thành tới sự quan tâm, chí dạy đó
Tôi cũng gửi lời cảm ơn sâu sác lới các Tháy, c ỏ giáo tron2 Khoa Lịch
sử đã giúp tôi có nhũng kiến thức cơ ban để hoàn thành luận văn này
Đặc biệt, trong quá trình điền dã đê thực hiện luận văn, lôi còn nhặn được sự giúp đỡ nhiệt tình và hiệu quá của nhiều cơ quan han imành và bà con thuộc lỉnh Bác Ninh Nhãn dây, tỏi xin tri ân và bày tỏ lòng biêt oil tơi:-Sở Vãn lioá Thông tin tỉnh Bắc Ninh
-Ông Lẽ Danh Khiêm, Trưởng ban nghiên cứu Quan họ, Truniỉ tăm văn hoá tỉnh Bác Ninh
-Gia đình nghệ nhân Quan họ Nguyễn Thị Bàn, làng Diem
-Ông Nguyễn Văn Thêu, Hiệu trưởng trường Trung học Vãn hoa nghệ thuật tỉnh Bắc Ninh
Cuối cùng, tôi xin cam ơn gia dinh và bạn bè, những người đã gan gũi
và giúp đỡ tói rất nhiều để tỏi có the hoàn thành được luận vãn nay
Hà Nội, m>ày tliânạ Iiăm 2005
Tác giá luận vãn
Đinh Thị Thanh Huyèn
Trang 3ỵ7W/>/«/ phụt trrWij sỉnlt hitạt tuiit héưi Qfiun fart - 'íũình r 7 hì Tĩluiiih ~ 3 (,infill
MỤC LỤC
Mục lục ]
Mỏ' đầu 4
1 Tính cấp thiết của đề tài 4
2 Đối tượng nghiên cứu 5
3 Mục đích nghiên cứu 5
4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
5 Các nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp của luận văn 10
7 Bố cục của luận vãn 11
Chương 1: 12
Khái quát điều kiện tự nhiên và cư dân làng D iềm 12
1.1 Điều kiện tự nhiên và dân cư 12
1.1.1 VỊ ữí địa lý và điều kiện tự nhiên 12
1.1.2 Khái lược về lịch sử làng Diềm 16
1.1.3 Sinh hoạt kinh tế của cư dân làng Diềm 17
1.2 Đời sống văn hóa - xã hội cư dán làng Diềm 20
1.2.1 TTn ngưỡng 20
1.2.2 Lễ hội 22
1.2.3 Các loại hình hoạt động vãn hóa truyền thống của làng Diềm 23
1.3 Làng Diềm hôm nay 26
Tiểu kết chương 1 28
Chương 2: 29
Lễ hội và sinh hoạt văn hóa Quan họ - môi trường tổn tài và phát triển của trang phục Quan họ 29
2.1 Vài nét sơ lược về các lẽ hội làng Diềm 30
2.1.1 Lễ hội chùa Hung Sơn 31
2.1.2 Lễ hội đền Vua Bà 31
Trang 4Qrantj phne h'tHtt; i'uth hrmf ÓH htuI Quan ho - 'í)ình \jhi 'ỹhuiih 'ZtiMjv"
2.1.3 Lẻ hội đền Cùng 32
2.1.4 Lễ hội đình Diềm 34
2.1.5 Lễ hội cầu đảo 34
2.2 Sinh hoạt vãn hố Quan họ ở làng Diềm 36
2.2.1 Nguồn gốc Quan họ 36
2.2.2 Đặc điểm chung của lối chơi Quan họ làng Diềm 40
2.2.3 Một số tục lệ trong sinh hoạt văn hố Quan họ trong các lễ hội làng Diềm 46
2.2.4 Văn đề tạo nguồn Quan họ 50
Tiểu kết chương 2 52
Chương 3 53
Trang phục Quan h ọ 53
3.1 Quan niệm chung về trang phục 53
3.2 Nguồn gốc của trang phục Quan họ 54
3.3 Quá trình tạo ra trang phục 57
3.3.1 Nghề trồng dâu nuơi tằm, ươm tơ ở Bắc Ninh 57
3.3.2 Quá trình dệt vải bằng sợi tơ tằm 59
3.3.3 Nhuộm và chuội vải 60
3.3.4 Các loại sản phẩm từ dệt tơ tầm 61
3.4 Các thành tỏ' của trang phục Quan họ 62
3.4.1 Về màu sắc của trang phục Quan họ 62
3.4.2 Trang phục nam Quan họ 64
3.4.3 Trang phục nữ Quan họ 67
3.4.4 Trang phục Quan họ hiện nay 79
Tiểu kết chương 3 81
Chương 4: 82
Giá trị văn hĩa và việc bảo tồn trang phục Quan họ 82
4.1 Những giá tiị cơ bản của trang phục Quan họ ở Bắc Ninh 82
4.1.1 Trang phục Quan họ phản ánh mơi trường sinh thái và đời sống kinh tế xã hội của cộng đồng làng Diềm 83
Trang 5'Jram j phụe trtmtj tình limit Mill him Qfiian lit) - fj)!nh /hi C/hutth ' 3 f>nụỉn
4.1.2 Trang phục Quan họ làng Diềm góp phần thể hiện quan điểm thám
mỹ dân gian 84
4.1.3 Trang phục Quan họ làng Diềm một sản phẩm của sinh hoạt văn hóa Quan họ trong các lễ hội truyền thống của địa phương 86
4.2 Thực trạng ữang phục Quan họ hiện nay 88
4.3 Một sô' giải pháp bảo tồn trang phục truyền thống Quan họ 91
4.3.1 Bảo tổn phát hụy văn hoá Quan họ- môi trườns sống của trang phục Quan họ làng Diềm và Bắc Ninh 91
4.3.2 Một sô' kiến nghị, giải pháp bảo tồn trang phục truyền thống Quan họ 93
4.3.2.1 Giải pháp về một trung tám bảo tồn bảo tàng đối với Quan họ 97
4.3.2.2 Giải pháp về việc phát triển loại hình dịch vụ - du lịch văn hóa Quan họ 98
Tiểu kết chương 4 100
Kết luận 101
Chú thích: 105
Tài liệu tham khảo 108
Phụ lụ c 114
Phụ lục l:Bản đồ 1
Phụ lục 2: Tư liệu chữ viết 6
Phụ lục 3: Hình vẽ 27
Phụ lục 4: ảnh chụp 41
Trang 6mở ĐẦU
1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI.
Trang phục là một trong những thành tố vãn hoá vật chất đạc sắc của vãn hoá tộc người Do diều kiện tự nhiên và xã hội cụ thể, từng vùng, từng nhóm địa phương của tộc người thường có những nét đạc điểm riêng Trang phục của liền anh, liền chị các làng Quan họ Bắc Ninh là một trong những nét độc đáo đó
Tục ngữ người Việt có cáu “Cói răng cái tóc là góc con người" hay
V nghĩa của nó Trang phục có ý nghĩa vừa làm đẹp cho con nguời, vừa thê hiện bản lĩnh, bản sắc văn hóa của dán tộc Cho nên, từ xa xưa con người luôn tìm tòi và phát triển nhiều loại trang phục độc đáo, đồng thời cũng luôn đấu tranh bảo vệ những
đặc điểm riêng của trang phục dán tộc mình Vì thế, “Trang phục chính là một trong
những sắc thái nổi bật nhất của văn hóa rộc người ”(84, 12).
Trang phục của 54 dân tộc ở Việt Nam là 54 bông hoa rực rỡ trong đó bộ trang phục của các liền anh liền chị xứ Kinh Bắc (người Việt) là một bông hoa đẹp trong vườn hoa muôn màu đó của các dân tộc anh em Hơn nữa, hiện nay, Tỉnh uỷ Bắc Ninh và Bộ Văn hóa Thông tin đang đề nghị Uỷ ban UNESSCO công nhận dân ca Quan họ là một trong những di sản văn hóa phi vật thể của thê giới thì việc nghiên cứu về trang phục Quan họ thiết nghĩ càng cần thiết hơn Việc nghiên cứu đó sẽ góp phần tìm hiểu sâu hơn về những giá trị độc đáo của di sản văn hóa quý giá trên của dán tộc ta Qua đây cũng góp phần cung cấp thêm những tư liệu, ý kiến khoa học để chính quyền địa phương và các cơ quan vãn hóa
có những biện pháp bảo tồn và phát huy hơn nữa những giá trị văn hóa đặc sắc trên
Trên cơ sở ý nghĩa khoa học và thực tiên đó, chúng tôi đã chọn đề tài :
“Trang phục trong sinh hoạt văn hoá Quan họ” của làng Diềm (Viêm Xá)-xã
Hòa Long - huyện Yên Phong - tỉnh Bắc Ninh làm luận vãn Thạc sĩ của mình
Trang 7^ĩrỉỉttíỊ Ịỉhuí- tra it If sinh hftạt oiitt ỉtmt Qt/a/t ho - 'ỉ)ìtiỉt ~ĩtũ ~httnii ~j(-utfỉtt
2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN c ứ u
Với đề tài luận vãn “Trang phục trong sinh hoạt vãn hoá Quan họ '
chúng tôi xác định đối tượng nghiên cứu là bộ trang phục của các liền anh liền chị Quan họ Điều lý thú là bộ trang phục đó được sử dụng trong một không gian
và thời gian có ý nghĩa đặc biệt: các lễ hội có sinh hoạt hát (chơi) dán ca Quan
họ Do vậy, trang phục Quan họ ở đây được đật trong mỏi trường lễ hội của địa bàn nghiên cứu Hay nói cách khác, các lễ hội mùa xuân, hội Quan họ tại địabàn nghiên cứu cũng là đối tượng nghiên cứu của luận văn
Về phạm vi nghiên cứu, chúng tôi chọn cụ thể một làng Quan họ gốc- làng Diềm (Viêm Xá) - xã Hòa Long - huyện Yên Phong - tỉnh Bắc Ninh đê đặt trọng tám nghiên cứu, sau đó mỏ' rộng so sánh sang các làng khác ở Bắc Ninh như: Châm Khê, Lim, Y Na
3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN c ứ u
Qua việc nghiên cứu trang phục Quan họ ở làng Diềm, bước đầu hệ thống lại các nguồn tư liệu và công trình nghiên cún về trang phục Quan họ ở Bắc Ninh, các tài liệu về nguồn gốc, sự hình thành, phát triển của dân ca Quan họ môi trường tồn tại khổng gian phát triển của trang phục Quan họ
- Tim hiểu nguồn gốc, quá trình tồn tại và biến đổi theo thời gian của bộtrang phục Quan họ
- Những giá trị quý báu của bộ trang phục Quan họ nói riêng trong sinh hoạt vãn hoá Quan họ nói chung ở Bắc Ninh
- Tìm ra nhũng giải pháp tối ưu để bảo lưu, kế thừa phát huy nét đẹp văn hoá Quan họ, trong đó có trang phục Quan họ
4 LỊCH SỬ NGHIÊN c ứ u VẤN ĐỀ.
Trang phục là một vấn đề không mới trong công tác nghiên cứu dân tộc học 0 nhiều khía cạnh khác nhau, vấn đề này đã được các nhà nghiên cứu các học giả trong và ngoài nước quan tám nghiên cứu
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã đề cập đến vấn đề trang
phục trong nhiều tác phẩm Trong Phép biện chứng của tụ nhiên, F.Anghen đã
nói đến nhu cầu về quần áo của con người trong quá trình di chuyển nơi ở đến
những vùng có khí hậu khác nhau Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình,
của chê độ tư hữu và của nhà nước” F.Anghen đã đề cập đến sự phán công lao
Trang 8~ĩrỉtu(Ị f t / m e tromj sình htuit {HÍ 11 htm Quan firi - Otn h \Jhi cThanh Jii/i/fn
động có tính tự nhiên giữa nam và nữ, đến vai trò của đổ sắt thúc đẩy nghề dệt
- Các tài liệu dưới dạng các bài báo, các bài nghiên cứu đãng trên các báo
và tạp chí chuyên ngành như: Văn hóa, Vãn nghệ, Dân tộc học Vãn hóa dán gian, Vãn hóa nghệ thuật
- Các tài liệu nghiên cứu dưới dạng những báo cáo của các Hội thảo khoa học những khóa luận tốt nghiệp Đại học, luận vãn sau Đại học về trang phục.Trong số đó, trước hết phải kể đến các nguồn tài liệu thư tịch cổ Các công
trình của các học giả thời phong kiến ở nước ta như D ư địa chí của Nguyễn Trãi
Kiên văn tiểu lục, Phủ bién tạp lục của Lê Quý Đôn Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, Khâm định Việt sử thông giám cưong mục của
Quốc sử quán triều Nguyễn đã đề cập đến nội dưng của trang phục dưới nhiều góc độ khác nhau
Cụ thể, trong Kiến văn tiêu lục, nhà bác học Lê Quý Đôn đã mô tả kỹ thuật nhuộm vải của nhân dán ta như sau: “Tục nước Nam ta, lấy chày đập rồi
phoi khô đ ể nhuộm may áo, gọi lả thanh cát y, có 3 thứ: màu lửa sáng, màu hoi nhạt, màu hoa quỳ Bất cứ quan, dân, sang hèn đều mặc như thé” (28, 80) Tác
giả (LQĐ) còn chú dẫn thêm tài liệu của sứ nhà Nguyên trong tập ‘Sứ Gmo
cháu thi tập” cửa Trần Cương Trung mô tả về cách ăn mặc của dán thường nước
Nam một cách khách quan: "Người trong nước đều mặc áo lụa thâm, áo hoa,
quán mỏng, cổ áo tròn khâu bằng là, đàn bà cũng mặc áo thâm, nhưng màu trắng ở trong rộng hơn đ ể viền vào cổ áo, rộng bốn tấc, họ cho th ế là khác với
áo dàn ông, các sắc xanh, hồng, vàng, tía, tuyệt nhiên không có” (28, 81)
Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí cũng đề cập đến vấn
đề trang phục trong phần L ễ nghi chí, quyển XX với những ghi chép về quv định,
quy chế về mũ áo đế vương, quan lại và dân thường (18, 103)
Trang 9Kế đến các học giả người Việt Nam và người Pháp thời Pháp thuộc cũng quan tám nhiều đến trang phục ở các khía cạnh: phong tục, văn hóa tộc người, đó
là J.Cuisinier M.Colani, ứng Hòe, Hoa Bằng, Biền Xa dưới dang các bài viết trên các tạp chí và công trình cá nhân Các học giả miền Nam thời Mỹ - Nguy,
tiêu biểu là Toan Ánh với cuốn Phong tục Việt Nam cũng đề cập đến nội dune
và nói về những thông tin của trang phục (87,3)
Từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay có rất nhiều công trình nghiên cứu được công bố trên các tạp chí chuyên ngành, ÚI sách với ý nghĩa là công trình chuyên
khảo về trang phục cũng có và đề cập một phần về vấn đề trang phục cũng có.
Học giả Đào Duy Anh trong tác phẩm ‘"'Nguồn gốc dân tộc Việt N am ” đã khảo cứu về vấn đề trang phục và cách phục sức của người Việt cổ như sau: “Xét
những đổ đồng tìm được ở Đông Sơn người ta thấy có một hình người đ ể tóc bối
ở sau gáy có bịt một cái khăn ngang hai mối buộc với nhau và xõa xuống lưng, ơ mỏi lai có đeo một cái vanh lớn Tuồng như có một cái dây lưng, ó' sau lưng có một cái tua bỏ thõng xuống Lại có một cái hình người khác, mỗi tai đeo một cái vòng, phần thân dưới mang một cái váy như kiểu váy của người Mọi ngày nay, ở phía trước váy có thêm một miéhg lá phủ Tóc thì một nửa bối ngược ở đỉnh đàu, một nửa tết thành bím bỏ xuống lưng, bối tóc có bịr một cái khâu Xem hai hình người ấy, chúng ta có thể phỏng đoán được phục sức của người Lạc Việt như thế nào” (4, 62).
Từ những năm 1970 trở lại đây xuất hiện những công trình của các nhà nghiên cứu về vãn hóa vật chất nói chung và y phục nói riêng của các dán tộc
Một số các công trình đề cập đến trang phục khi giới thiệu các dán tộc như: Các
dân tộc ít người ỏ Việt Nam gồm 2 tập của Viện dân tộc (95-96) Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam của GS Nguyễn Vãn Huy (38),Vổ/Ỉ hoá các dán tộc thiểu số ở Việt Nam của Ngô Vãn Lệ - Nguyễn Vãn Tiệp (49) đã nói sâu hơn
về trang phục các dân tộc ở Việt Nam
Đặc biệt, các công trình chuyên khảo về trang phục gần đây của các nhà
nghiên cún đã được công bô như: Tim hiểu trang phục Việt Nam của Đoàn Thị Tinh (83), Trang phục cổ truyền các dân tộc Việt Nam của Ngô Đức Thịnh (84), Hoa Vãn Thái của Hoàng Lương (60) Ngoài ra còn có các cốns trình
Trang 10Cfrunti pliitf tro t!tị tình h n a t iuin htut Lilian hit - Cjhi €/ltanh
nghiên cứu chuyên khảo là các luận án Tiến sĩ như Trang phục có truyén của
người Dao ỏ Việt Nam của Nguyễn Anh Cường (21), Trang phục cổ truyền của người N ùng ở Đông Bắc Việt Nam của Lê Văn Bé (7), Trang phục cô truyén
Trong các công trình nghiên cứu về Quan họ đã cóng bố tiêu biểu nhu
cuốn Nghệ nhân quan họ làng Viém Xá của tác giả Trần Chính (16 97) có đề
cập đến tran2 phục của các nghệ nhân Quan họ trong một mục nhỏ, cuốn Một sô vấn
đề về vãn hóa Quan họ, có một bài của tác giả Lé Thị Chung viết về trang phục
tư liệu đó, bản luận văn của chúng tôi hy vọng rằng sẽ góp thêm vào một chút tư liệu về trang phục Quan họ nói riêng
5 CÁC NGUỒN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u
5.1 Các nguồn tài liệu.
- Trướe hết là nguồn tài liệu chữ viết đã được công bố liên quan đến trang phục
- Nguồn tài liệu thứ hai và là nguồn tài liệu chính quan trọng nhất chúng tôi thu thập được trên địa bàn nghiên cứu: làng Diềm, làng Chấm Khẽ, làng Lim ở Bắc Ninh thời gian qua
- Ngoài ra chúng tôi còn nghiên cứu thêm nguồn tư liệu hiện vật và ảnh có liên quan đến đề tài tại các bảo tàng như Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, Bảo tàng Dán tộc học
5.2 Phương pháp nghiên cứu.
Trang 11'Uramj pliiỉi' trtitHỊ tinh hunt tuìn háu Qfian fart - 'Oittil C/hi ~imnh ’JfimjrH
Về Cơ SỞ lý luận, để hoàn thành luận văn chúng tôi vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác chủ nghĩa Duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch
sử để xem xét đánh giá quá trình hình thành và phát triển cùa trang phục Quan họ
Trang phục nói chung là một hiện tượng văn hóa của cộng đổng Cũng như các hiện tượng văn hóa khác, nó cũng phát sinh, phát triển và biến đổi theo thời gian Luận vãn nhìn nhận trang phục Quan họ với ý nghĩa như vậy, tức là
đật đối tượng nghiên cứu trong đời sống cộng đồng tộc người và sự vận hành của
nó trong không gian và thời gian
Đồng thời luận văn cũng nhìn nhận đối tượng nghiên cứu trên nền tảng của tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng và Nhà nước về văn hóa và
chính sách dán tộc theo định hướng “Xá\ dựng và phát triển văn hóa Việt Nam rién
tiến đậm đà bản sác dân tộc" Đây là những cơ sở định hướng và tiếp cận của luân
vãn, đồng thời đề ra những biện pháp bảo tồn và phát triển vốn văn hóa đặc sắc của làng Quan họ làng Diềm nói riêng và vùng văn hóa Quan họ Kinh Bắc nói chung
Để thực hiện đề tài luận văn này, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu tổng hợp, liên ngành cho từng giai đoạn thu thập tư liệu trong các Thư viện, Bảo tàng, nghiên cứu điền dã, hệ thống phán tích, so sánh đối chiếu Trong đó, phương pháp điển dã Dân tộc học được sử dụng triệt để trong quá trình nghiên cứu qua các hình thức: phỏng vận, quan sát, đo vẽ, chụp ảnh phiếu hỏi, ghi âm, quay phim, mô tả Đáy là nguồn tư liệu chính để xử lý và trình bày luận vãn này
lấy một địa bàn cụ thể để nghiên cứu điểm sau đó mở rộng phạm vi nghiên cứu
ra các khu vực lán cận có liên quan Từ đó tiến hành cấu trúc về bố cuc và trình bày luận văn
Tuy nhiên, để đạt được kết quả nghiên cứu, chúng tôi gặp rất nhiều khó khãn Trước hết, vấn đề nghiên cứu về trang phục Quan họ từ trước nay chưa có một sự nghiên cứu, tìm hiểu sâu sắc, toàn diện và liên tục Các nhà nghiên cứu láu năm về văn hóa Quan họ như Hồng Thao, Trần Linh Quý, Đặng Vãn Lung, và sau này là Lẻ Danh Khiêm, Trần Chính là những tác giả đã có bề dày nghiên cứu
về văn hóa Quan họ nhiều năm nhưng họ chủ yếu đi sáu về phần ám nhạc, lời ca
Trang 12Ĩ7nmy Ịihue Iromj iình /irựif niiti htU! Qiiuti hít - rtìinh Ĩ77f/ ~lutiih JtiM/jtn
các lề lối Quan họ Một số các cổng bố về ván đề này là những bài viết trên các tạp chí chưa đủ cứ liệu để có thẻ hình dung ra vấn đề trang phục Quan họ
Khó khăn, trở ngại thứ hai xuất phát từ thực tế, lớp nghệ nhân Quan ho được gọi là các anh Hai chị Hai Quan họ vốn tham gia sinh hoạt Quan họ từ những năm đầu thế kỷ XX (trước cách mạng tháng Tám) nav đã già và trí nho' không còn minh mẫn như xưa Qua cụ Nguyễn Vãn Thị 97 tuổi, cụ Ngô Thị Nhi
84 tuổi ở Diềm cho biết những bộ trang phục Quan họ ngày xưa của các thế hệ
trước và ngay cả của các cụ trước đây hiện nay đều không còn do điều kiện thời
tiết, chiến tranh loạn lạc
Do đó, chúng tôi bắt tay vào công việc nghiên cứu về trang phục Quan họ không có con đường nào khác ngoài cách tự mày mò khảo tả, tìm hiểu phục dựng qua ký ức hồi tưởng của các nghệ nhân Quan họ, qua các kênh thông tin của các nhà nghiên cứu đi trước, qua so sánh đối chiếu tư liệu sưu tầm và đặc biệt qua bộ trang phục Quan họ hiện nay Trải qua qúa trình cải biến và dòng chảy của thời đại, bộ trang phục Quan họ đã có nhiều thay đổi, đó là một điéu không thê phủ nhận Nhưng cũng không thể phủ nhận rằng, bộ trang phục đó vẫn mang dáng dấp của bộ trang phục Quan họ ngày xưa
Vậy nén quan niệm thế nào về bộ trang phục Quan họ ơ đáy tên gọi của
nó cũng đã minh họa một phần cho bản chất của vấn đề đặt ra Trang phục Quan
họ là trang phục của người hát Quan họ, tức những người trực tiếp tham gia sinh hoạt văn hóa Quan họ, được sử dụng trong những ngày lễ hội và các dịp sinh hoạt vãn hóa Quan họ Do đó, trang phục thường nhật của người Quan họ khống phải đối tượng nghiên cứu cụ thể chi tiết của luận văn này
6 ĐỎNG GÓP CỦA LUẬN VĂN.
Luận văn là công trình nghiên cứu chuyên khảo về trang phục Quan họ đặt trong bối cảnh của một nét sinh hoạt văn hóa tiêu biểu của vùng đất có bề dày văn hóa là Kinh Bắc xưa trong Bắc Ninh nay: là sinh hoạt dán ca Quan họ
Từ việc nghiên cứu về trang phục Quan họ, luận văn góp phần giới thiệu những nét đẹp của trang phục Quan họ nói riêng và văn hóa lâu đời của vùng Bắc Ninh là sinh hoạt dán ca Quan họ nói chung Từ đó góp phần cung cấp thêm mót nguồn tư liệu cụ thể nữa vào kho tư liệu nghiên cứu về trang phục ở Việt Nam nói chung
Trang 13Cuối cùng qua nghiên cứu trang phục Quan họ, đặt ra một số ván để về
việc bảo tồn những giá trị của bộ trang phục lễ hội này cũng nhu vấn đề bảo tồn.phát huy nét đẹp trong sinh hoạt vãn hóa Quan họ
7 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN.
Luận vãn được bố cục như sau: ngoài phần mở đầu (8 trang), phán kết luận (3 trang), tài liệu tham khảo (7 trang), phục lục (63 trang), nội dung chính của luận văn gồm 4 chươne:
Chưone 1 Khái quát điểu kiện tự nhién và cư dán làng Diém
Chương 2 : Lẻ hội và sinh hoạt văn hóa Quan họ - mỏi trường tón tai
và phát triển của trang phục Quan họ.
Chươne 3 : Trang phục Quan họ.
Chươns 4 : Giá trị vãn hóa và việc bảo tồn trang phục Quan họ truyền
thống.
Trang 14*Jranự phne tvtmtị íinh hoạt tùm hóa 0 , 11(111 hít - rOinh 'Jhi ^Thunh '3{>ut)ỉn
CHƯƠNG 1:
KHÁI QUÁT ĐIỂU KIỆN Tự NHIÊN VÀ c ư DÂN LÀNG DIÊM
1.1 ĐIỀU KIỆN T ự NHIÊN VÀ DÂN c ư
1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhién.
Làng Diềm (tên chữ là Viêm Xá) là một làng cổ của mảnh đất vãn hiến nổi tiếng một thời, một trong những cái nôi vãn hóa của dân tộc, vùng đất Kinh Bắc xưa và Bắc Ninh ngày nay Để có cái nhìn tổng quát về địa ]ý hành chính của làng phải đặt trong toàn bộ hệ thống phán cấp từ trên xuống
Như chúng ta đã biết, Bắc Ninh là một tỉnh thuộc vùng đổng bàng cháu
thổ Sông Hồng, với diều kiện khí hậu sông ngòi thuận lợi, ở vào vị trí khí hậu có
tính đa dạng của chế độ hoan lưu gió mùa nhiệt đới phức hợp Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,50"c, cao nhất là 38,4tìc , thấp nhất là 4,80°c Lượng mưa tập trung từ tháng 6 đến tháng <s hàng năm Gió Đông Nam thịnh hành từ tháng
4 đến tháng 9 Toàn bộ vùng đất Bắc Ninh nhận được bức xạ mặt trời, do đó cây lúa, hoa màu, cây công nghiệp, cây ăn quả phát triển tốt (9 16)
Yên Phong là một huyện đồng bằng nằm ở phía Tây tỉnh Bắc Ninh, Tọa
độ địa lý của Yên Phong nằm trong kìĩoảng vĩ độ 21°8 ’45s đến 21" 14 '30s độ vĩ Bắc và trong khoảng từ 105°54 '30s đến ]06"04 'Ỉ5s độ Kinh Đông (72, 11)
Làng Diềm thuộc tổng Châm Khê, huyện Yên Phong, phủ Từ Sơn, Kinh
Bắc xưa Trong Lịch triều hiến chương loại chí phần Dư địa chí - chuyên về
khảo cứu địa lý và lịch sử hành chính của các vùng trên đất nuớc Việt Nam, Phan Huy Chú biên chép về Kinh Bắc như sau:
“Kinh Bắc phía Nam giáp trấn Sơn Nam, trấn Hái Dương, phía Bắc giáp
Kinh Bắc có núi cao chót vót, nhiêu sông quanh vòng, là mạn trên của nước ta Mảnh đất tốt tụ về đây, nên càng nhiều chỗ có dấu tích đẹp, rinh hoa họp vào đấy, nên sinh ra nhiều danh thần Vì là khí hồn trong ở phương Bắc nén khác với mọi nơi (17,12).
Trang 15~ĩt (t!UỊ p h ạ c 1 1 'OHIỊ s in h ỈỊítat ó n h í‘íi hi' - *O ìitíi ~ĩỉìi ~7luuili JfiuụỈM
Sách Đại Nam nhất thơng chí của Quốc Sử quán triều Nguyễn cũng viết:
Huyện Yên Phong thuộc Phủ Từ Sơn ở phía Bắc lệch về phía Đỏng phủ cách 15 dặm Đơng Tây cách nhau 29 dặm Nam Bắc cách nhau 24 dặm (97 58)
Học giả Nguyên Văn Huyên cũng cĩ những nghiên cứu, ghi chép về địa lý
vùng đất Bắc Ninh như sau: “Địa danh Bắc Ninh ngày nay là rỉnh Bắc Ninh của
xứ Bắc Kỳ, cĩ một diện tích 1.100 km2, ở phần giữa tỉnh cĩ con sĩng đào Thiên Đức (nay là sĩng Đuống) cháy qua từ Tây sang Đơng, phía Táy và Tây Nam cĩ con sơng Nhị Hà, rức sĩng Hổng bao bọc, mặt Bắc cĩ sống Cáu và mặt Đỏng cĩ sĩng Thái Bình” (39 337)
Thực tế Bắc Ninh là vùng đất trung tám cháu thổ Bắc Bộ, giữa lưu vực
sơng Hồng và sơng Thái Bình “Đây là vùng đất màu mỡ, giàu nguồn nước, tiện
lọi cho con người cư trú làm ăn, nhất là canh tác nơng nghiệp” (21.10) Từ xưa,
xứ Bắc đã là nơi gặp gỡ, giao hội của các mạch giao thơng thuỷ bộ nhất là hệ thống giao thơng đường thuỷ sơng Hồng, sĩng Cầu, sơng Đuống, sơng Dâu sống Lục Đầu, sơng Thái Bình tạo cho xứ Bắc trở thành trung tám giao thương, tiếp xúc kinh tế, văn hĩa giữa nước ta với các nước trong khu vực Đĩng Nam Á với Trung Quốc, Ân Độ và các nước trong vùng Trung Á
Với vị trí và cảnh quan phong phú, đa dạng đã tạo điều kiện thuận lợi cho
cư dán làm ăn, phát triển kinh tế văn hĩa, tạo nên vị thế đặc biệt của Kinh Bắc - Bắc Ninh trong lịch sử dán tộc và lịch sử văn hĩa Việt Nam
Và Diềm là một làng quê cổ của vùng đất Kinh Bắc giàu đẹp
Làng Diềm nằm ở phía Đơng Bấc huyện Yên Phong: phía Đống Bắc giáp làng Hữu Chấp, phía Tây Nam giáp làng Xuân Đồng (cịn gọi là làng Đồng Mật)
và làng Quả Cảm (cịn gọi là làng Xuân Quả), phía Tây Bắc và Đổng Bắc là con sơng Ngũ Huyện Khé chảy vịng như dải lụa rồi nhập vào với sơng Cầu soi bĩns núi Kim Sơn đầu làng tạo thành một thế đất vừa sơn thuỷ hữu tình, vừa êm đềm trù mật
Về mặt tự nhiên: làng Diềm (Viêm Xá) xưa là một vùng đồng bằng chiêm
trũng chỉ canh tác nơng nghiệp được vụ chiêm , cịn vào hè - thu nước ngập trắng
băng Đĩ chính là điều kiện tự nhiên khách quan để xưa làng cĩ hình thức sinh hoạt dân ca rất độc đáo: hát ghẹo dưới thuyền
Trang 16Về mặt giao thông: làng Diềm cách thị xã Bắc Ninh khoảng 3km theo đường bộ, nhưng đoạn đường đó thật quanh co khó đi Sự bất thuận về giao thông này đồng thời lại là diều kiện đế làng Diềm còn lum giữ được ở dạng cổ kính các di sản văn hóa cổ truyền, kể cả văn hóa vật thể và văn hóa phi vát thể.Điểm đạc biệt về địa lý cảnh quan của làng Diềm là tiếp giáp và tiếp cận
với những dòng sông thiên cổ, những dòng sóng gắn với nhiều huyẻn tích về
những mối tình thơ mộng
Phía Bắc làng Diềm là dòng sông Cầu (còn gọi là sông Nguyêt Đức), con sông ngãn cách một bên là làng Diềm và một bén là làng Thổ Hà - Bắc Giang cũng là một làng Quan họ
Sông Cấu, một dòng sông của những sự rích anh hùng, của những nương dâu bát ngát, của những lời hẹn ước nguyện thề (71, 15) Sông Cầu chảy qua địa
phận Yên Phong từ Ngã Ba Xà thuộc Xã Tam Giang đến Đẩu Hàn thuộc xã Hòa Long dài 21km Trên hành trình chảy qua Yên Phong, sông Cầu nhận được nước của hai chi lưu: chi lưu sông Cà Lồ ở xã Tam Giang, chi lun sông Ngũ Huyện Khê ở thôn Quả Cảm xã Hòa Long
Vào thời Lý, sông Cầu có tên là sông Như Nguyệt11' Năm 981 Lé Hoàn đắp thành Bình Lỗ phá tan quân Tống xâm lược Năm 1077 Lý Thường Kiệt xây dựng phòng tuyến Như Nguyệt, đại phá 30 vạn quán Tó'ng(2) lần thứ 2 Cả hai
người đều lấy sông Như Nguyệt làm “chiến hào" thiên nhiên để chống giặc Tống
và đều đại thắng Năm Thiệu Bảo thứ 7 triều Trần, đạo quán của Thoát Hoan sang xâm lược bị thua rút về đóng ở Ái Lãnh Kinh trên sóng Như Nguyệt bị quân Trần mai phục tiêu diệt, Thoát Hoan phải chui vào ống đồng để thoát về nước Từ đó bọn xám lược phong kiến Trung Quốc nghe đến tên sông Như Nguyệt là hồn xiêu phách lạc
Thế kỷ XV, dưới thời nhà Lê, sông Cầu có tên là sông Nguyệt Đức được liệt vào hàng sông lớn quốc gia, nên chép vào điển thờ
Tên sông Cầu có từ đầu thế kỷ XX khi thực dán Pháp xây 3 cây cầu lớn trên sông: cầu Đáp Cầu trên quốc lộ 1 thuộc địa phận Thị Cầu - thị xã Bắc Ninh, cầu Đa Phúc trên quốc lộ 3 thuộc huyện Sóc Sơn - Hà Nội, cầu Gia Bẩy thuộc thị
xã Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên Ca dao về dòng sông này còn lưu giữ đến ngày nay:
Trang 17rut I (Ị Ịihụe trỉỉntỊ t inh hoot I)/Ìti Ị Ị (UI Qfian họ - oittỉi ~ĩỉn' ~ỈỊuni h 'SC iiiịịỉii
“ Sông Cầu nước chảy Iff thơ
Đôi ta thương nhớ bao giờ cho nguôi."
Phía Tây Nam làng Diềm là sông cổ Ngựa Sông cổ Ngựa đổ ra sông Cẩu rồi thông sang sông Ngũ Huyện Khê Sông Ngũ Huyện Khê là con sông lớn thứ hai của Yén Phong sau sông Cầu, còn có tên là Suối Thiếp, sông Tập chảy từ Tây sang Đông, bao bọc phía Nam huyện là ranh giới giữa Yên Phong với huyện Từ Sơn Cách đáy 2000 năm, vào thời An Dương Vương xây thành ốc ỏ' Kinh đó cổ Loa sông Ngũ Huyện Khê có tên là sông Hoàng Giang, là một chi lưu của sông Hồng chảy vào Sông Cầu v ề sau, do sự bồi lắng của sông Hồng, cửa thượng nguồn Ngũ Huyện Khê bị vùi 'lấp tạo nên một hồ lớn gọi là Ao Cả vực đê ở huyện Đống Anh ngày nay Sông Ngũ Huyện Khê vì thế mà trở thành con sông tiêu nội địa cho 5 huyện Yên Lãng Đông Anh, Từ Sơn, Yên Phong, Tiên Du (42, 25) Sông c ổ Ngựa cùng sông Ngũ Huyện Khê là nơi đầy ắp những huyền tích về mối duyên tình thắm thiết nhưng đấy bi kịch éo le giữa bà Chúa Sành (Chúa Quả Cảm) với vua c ổ Loa
Có lẽ chất trữ tình của các con sông thiên cổ đã là một trong những điều kiện để sản sinh ra sinh hoạt vãn hóa Quan họ thắm động lòng người, sáu sắc tình cảm, tình yêu lứa đôi
Đặc điểm nữa về mật địa hình của làng Diềm là giữa một vùng đổng bằng chiêm trũng mênh mang sông nước, làng Diềm lại có một quả núi sótí3,nhô lén, dân làng gọi là núi thấp, tên chữ là Kim Lĩnh (hay Kim Sơn) Đáy là quả núi cuối cùng của dãy núi Quả Cảm - dãy núi của nhũng truyền thuyết đậm tính chất phong thuỷ Giữa một vùng đồng bằng thẳng cánh có bay, lại đột khởi một vài quả núi sót, nhất định ở đó có con người đến quần cư từ sớm Như chúng ta đã biết tổ tiên của người Việt, những người Việt cổ buổi đầu lịch sử khi chưa có đắp
đê, điều kiện tự nhiên còn khó khăn thì cách hiệu quả nhất để tồn tại là tụ cư trẽn
những dãy đồi núi ven sông Qua quá trình quần tụ, dần dần con người mới tiến xuống chinh phục vùng đồng bằng châu thổ thấp Điếm tụ cư ban đầu ấy đương nhiên sẽ có lưu lại ít nhất là dấu ấn các hoạt động của con người, trong đó không loại trừ hoạt động văn hóa tinh thần
Tóm lại, có thể nói làng Diềm là nơi “Sơn thuỷ hữu tình” và đó cũng là
một trong những điều kiện tiên quyết để nơi đây đã hình thành và phát triển cũng
Trang 18’Jrnm j plỉụe trong tinh hoạt Ịlủit lưitt Qiitin ho - fffinh c7/i/ /ha n h 7ì()iitjỉn
như bảo lưu phong phú đa dạng các hoạt động văn hóa bao gồm cả văn hóa vật
thể và phi vật thể
1.1.2 Khái lược về lịch sử làng Điềm.
Làng Diềm có tên chữ là Viêm Xá, nay thuộc xã Hòa Lone, huyện Yên Phong, tinh Bắc Ninh Từ xa xưa, làng còn có tên là Viêm Ap ấp Viêm Trang
Có thê đấy là dấu ấn ghi lại mộl thời nơi đây mới khai đất, lập làng trên chồn hoang sơn Đây là một làng Việt cổ Các dấu tích khảo cổ học và di tích lịch sử cho hay nơi đáy là điểm tụ cư hàng ngàn nãm của người Việt cổ thuộc nền văn hóa Đông Sơn Các di vật khảo cổ như: nơi cư trú, mộ táng, đồ đồng, đồ gốm tìm thấy tại núi Quả Cảm là những minh chứng cho tính cổ kính của làng Diềm.Truyền thuyết tiêu biểu nhất của làng Diềm là truyện vế đức Vua Bà Thuỷ
tổ Quan họ, cũng là minh chứng rõ nét cho tính cổ xưa của lịch sử làng Diềm Bà
là công chúa, con gái Vua Hùng (thứ 16) đã tới đây khai phá rừng cây nước, lau sậy um tùm, dạy dân làm ruộng, trồng dâu nuôi tằm Truyền thuyết này đã trở thành ký ức dân gian và là một cơ sở đê định niên đại cho lịch sử của làng Diềm, nghĩa là với thời Vua Hùng làng Diềm có lịch sử ra đời cách ngày nay gần 3.000
năm Ngoài ra chữ “Viêm" trong tên làng (Viêm Trang Viêm Ap Viêm Xá) khiến chúng ta liên tưởng đến chữ “Viêm" trong “Viêm Đ ế ” <4) ở trong truyền
thuyết về nguồn gốc người Việt Những tên địa danh các khu cánh đồng như: đồng Rừng, đồng Mật Gương, cổng Đầm, cổng Đò là dấu ấn còn lại của một vùng đất làng quê được lập nén từ một chốn rừng cây, đầm nước xa xưa
Truyền thuyết về Đức thánh Tam Giang được thờ ở đình làng Diềm cũng đê’ lại chứng tích cho thấy đáy là một vùng đất cổ Đức Thánh Tam Giang có tén gọi là Trương Hống, Trương Hác có công giúp dán trong vùng đánh đuổi giặc Lương xãm lược Khi đóng quán ở làng Diềm, một đêm hai người nằm nghi ở chùa, bỗng có một người con gái đi vào tự xưng là người giữ ngôi chùa ấy Người con gái nói rằng: nếu nhị vị muốn diệt trừ giặc Lương thì chỉ có cách là kéo quân về vùng đầm Dạ Trạch mà dùng mai phục kế Dứt lời thì biến mất Trương Hống, Trương Hác giật mình tỉnh dậy nhận ra đó là một giấc chiêm bao Hai người cho rằng đó là do lòng trời nên mới sai thần báo mộng, liền lập tức kéo quân về Dạ Trạch Sau đó, quả nhiên giặc Lương bị đánh tan tành phải rút chạy về nước
Trang 19'Jrunt! Ịthụe fi'imij tinh limit lùm háu Cjimii họ - rt)hth 'T/ll! 'Jliiiiih TfCimjin
Thánh Tam Giang thực chất là thần thoại về một vị thần nước, ra đời từ tín ngưỡng tôn thờ thần nước cùa cư dán Lạc Việt trồng lúa nước Trong quá trình lưu truyền, thần thoại này đã được lịch sử hóa khiến cho các nhân vật trong truyện gắn với nhiều thời đại Hùng Vương đánh Thục Phán, Triệu Quang Phục đánh giặc Lương Lê Đại Hành rồi Lý Thường Kiệt đánh Tống trên sông Như Nguyệt Bản thân việc làng Diềm thờ Thánh Tam Giang - Thán nước, đã chứng
tỏ tính cổ kính, lịch sử lâu đời của làng qué này
Thời Lý (1010 - 1225) tỉnh Bắc Ninh nói chung bao gồm cả đất đai phũ Phú Lương Thời nhà Trán (1225 - 1400) vùng Bắc Ninh này tươne ứng với đất các lộ Bắc Giang lộ và Như Nguyệt Giang lộ (39 339)
Theo sách “D ư địa c h í' của Nguyễn Trãi, thời đầu thế kỷ XV, xứ Kinh
Bắc được chia làm 4 phủ và 21 huyện (39 345) Trong đó, huyện Yên Phong là 1 trong 6 huyện của phủ Từ Sơn
Phủ Từ Sơn thời Lé là đất châu Vũ Ninh phủ Bắc Giang thời thuộc Minh
Thời Lê đổi làm phủ Từ Sơn Theo danh sách các huyện ở sách Thién Nai?i du
hạ tập thì phủ Từ Sơn thời Lê chỉ có 5 huyện, không có huyện Thanh Thuỷ Thời
Nguyễn vẫn gọi là Từ Sơn
Huyện Yên Phong, theo Phương đình địa chí là tên huyện thời Minh,
thuộc cháu Vũ Ninh phủ Bắc Giang Khoảng đời Lê Hồng Thuận (1509 - 1516) đổi làm Yên Phủ Khoảng Lê Quang Thiệu (1516 - 1526) lại đổi làm Yên Phong Hiện nay là huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh (98, 590 - 591)
Làng Diềm (Viêm Xá) thuộc tổng Châm Khê huyện Yên Phong Sau Cách mạng tháng Tám đến nay làng thuộc xã Hòa Long - huyện Yên Phong
Như vậy, gạt bỏ đi nhũng yếu tố huyền tích của các truyền thuyết liên quan đến các nhân vật lịch sử, cùng với các ghi chép có hệ thống của các tài liệu thư tịch phong kiến sau này có thể hình dung làng Diềm (Viêm Xá) là một làng
quẽ có bề dày lịch sử hình thành và phát triển với những giá trị củ a m ột nền vãn
hóa lâu đời đi lên
1.1.3 Sinh hoạt kinh tê của cư dân làng Diềm.
Xuất phát từ điểu kiện tự nhién là vùng đổng bầng chiêm trũng nên nghề chính của cư dân làng Diềm là canh tác nông nghiệp lúa nước
Đ Ạ I H Ọ C Q U Ố C G IA H À N Ộ I TRUNG TÂM THÒNG TIN THƯ VIÊN
/ / " í :
Trang 20Nghề trồng lúa ở làng Diém xuất hiện từ rất sớm và gán liền với truyền thuyết về đức Vua Bà Truyện lưu truyền rằng, bà là Công chúa con Vua Hùng sau khi được trời giáng xuống Ap Viêm Trang cùng bảy người khác họ đã lặp ra làng xóm giữa vùng cây nước um tùm, rậm rạp rồi bà cho khai phá đất hoang,
dạy dán cách làm ruộng, cấy lúa Thưc chất, ngoài ý nghĩa là “Thuỷ tồ" Quan họ như truyền thuyết lưu truyền, cụng không loại trừ khả năng chữ “Thuỷ tổ" ở đáy
còn có nghĩa sâu xa là người khai sinh ra làng Diềm, ra nghề nông làng Diềm Truyện còn có tình tiết: Bà sáng tác ra các bài ca và dạy dán hát Bấy giờ do mới lập làng, mà “<iứ/7” chủ yếu là các thanh nam, thanh nữ tới tuán cập kê Bởi vậy
những bài ca thiên về tình yêu của “Trai thanh tân sánh với gái mỹ miều” Tiếng
ca ấy sau gọi là Quan họ và do vậy người ta suy tôn bà làm Thuỷ tổ Quan họ.Bên cạnh nghề trồng lúa nước, cư dân làng Diềm còn phát triển nghé tróng dâu nuôi tằm Tương truyền, nghề này cũng ra đời từ sớm do Vua Bà khai phá ruộng bãi dạy dán cách trồng dâu nuôi tầm và sau đó còn cả ươm tơ, dệt lụa Người làng Diềm còn lưu truyền những cáu ca dao về nghề này như sau:
Hỡi cô thắt lưng bao xanh
Có vé Viêm Xá với anh thì vé Viêm Xá có lịch, có nê
Có nghề trồng mía, có nghề cửi canh
Tham vì cái bút, cái nghiên anh đồ
Ai vê Viêm Xá thì vé
Có đến Giếng Ngọc, có nghé cửi canh.
Không bằng canh cửi gốc dâu làng Diềm .
Hình tượng trong truyền thuyết về người con gái xinh đẹp có giọne háthay, chuyên hái dâu ở bãi sông Cầu, lấy Vua Thuỷ Tể rồi sau làm Thuỷ tổ Quan
họ chính là được ra đời từ công việc vốn là của người phụ nữ làng Diềm này
-Nghề trồng mía, kéo mật.
Song hành với nghề trồng dâu nuôi tằm ở làng Diềm chính là nghề trồng
Có nghề trồng mía, có nghé tằm tơ ”.
Trang 21'7rí//íí/ phục trotUỊ tinh bruit w in háu Quan hn - Oilt/í ~/z/ '~ĩhttníì ~ỈỈIÌfft n
Giống “mía í/ữ tre” làng Diềm cùng với tài khéo léo của bàn tay lao động
cần cù 'của con người vùng này đã làm ra nhiều sản phẩm nổi tiếng, ví dụ như
"’chù đỗ đ ã r là một món ãn ngon Vì vậy, mới có câu tục ngữ “Mía da tre, chè
dỗ đãi
Mật làng Diềm vừa ngọt vừa thơm và nổi tiếng khắp vùng với cáu nói
truyền nhau: “Mậr Diềm, Chiêm Chấp” Nghĩa là mật mía làng Diềm có thế sánh
ngang với thóc Chiêm làng Hữu Chấp - một thứ thóc ngon, tương truyền là đê đem tiến Vua khi xưa
gỗ Ví dụ: giai thoại kết chạ làng Khúc Toại -Hữu Chấp như sau:
Thời Vua Lê - Chúa Trịnh, người làng Khúc Toại mua gỗ về để đóng đồ
Bè gỏ ngược theo dòng sông Cầu tới địa phận làng Hữu Chấp thì nước chảy xiết không sao kéo nổi Người Hữu Chấp ra kéo giúp, đổi bên vừa kéo vừa hát với nhau Vào các dịp hội xuân, người ta sắp xếp cho trai gái hai làng hát đối với nhau sau gọi là Quan họ
Làng Diềm cũng lưu truyền những giai thoại tương tự về việc kéo gỗ và ca hát với người nơi khác Thực tế, từ những bài ca trong lao động, sản xuất với mục đích làm tăng thêm sức mạnh, súc khỏe, láu dần trở thành lối hát giao duyên nam nữ có lề lối, đó chính là tiền thán của sinh hoạt văn hóa Quan họ sau này của cư dán làng Diềm nói riêng và nhiều làng Quan họ khác trong khu vực nói chung
-Tiểu thưong nghiệp.
Hoạt động kinh tế của làng Diềm, nhất là các nghề phụ thuộc tiểu thủ
công nghiệp, tất yếu sẽ dẫn tới sự phát triển (dù là rất hạn chế, chừng m ực) của
kinh tế hàng hóa Trên nền móng ấy, hoạt động kinh tế tiểu thương nghiệp nơi
Trang 22tjraittj phụt- tratnj tinh hoof ruin hóa Quail tut - ftììnli Tĩhi UCimjeu
đây sớm được hình thành Trung tâm giao lưu hàng hóa của làng Diềm chính là ngôi chợ có tên gọi là chợ Đình do chợ họp ở trước cửa đình làng Đây là nơi giao lưu hàng hóa tiêu dùng, lương thực, thực phẩm trong nội bộ làng mang tính chất tự cung tự cấp làng xã Chợ Đình xưa họp từ sáng sớm đến nửa buối Tuy
không hình thành "chợphiên", nhưng vào những ngà}' chẵn (2, 4 6 8, 10) thì
đông hơn cả Ngoài những ngày bình thường, chợ Đình Diềm còn có những phiên đặc biệt Vào dịp tết Nguvên đán, chợ họp cả vào các ngày lẻ với những mặt hàng phục vụ tết như bánh kẹo pháo, cáu đối tết, đồ vàng mã Ngàv 4 tháng Giêng, chợ bán nhiều guốc mộc, ngà)' 6 tháng Giêng, chợ bán nhiều gà con .Khi các nghề phụ gia tăng, hàng hóa dư thừa,, vượt khỏi khả nãng cung - cầu của làng xã, nhu cầu tất yếu là phải giao lưu buôn bán sản phẩm, hàng hóa với các địa phương khác Do đó, cư dân mang hàng hóa sang các chợ lán cận trong vùng như chợ Ván, chợ Dốc Đặng, chợ Trục, chợ Thổ Hà
Sự phát triển của tiểu thương nghiệp, sự giao lưu hàng hóa đồng thời cũng
là điều kiện cho giao lưu văn hóa Người làng Diềm sớm có thuận lợi trong việc tiếp thu các loại hình văn hóa từ các vùng khác qua quá trình tiếp xúc, gặp gỡ, trao đổi, lao động, buôn bán Đáy cũng là nguyên nhấn giải thích tại sao các
"Bọn Quan họ” của làng Diềm lại kết bạn với các “Bọn Quan họ” ở những làng
rất xa như Hoài Thị, Hoài Trung, Đống Cao
Với bề dày truyền thống lịch sử, kinh tế xã hội của mình, làng Diềm có một nền móng, một cơ sở thuận lợi cho sự ra đời và phát triển của các loại hình văn hóa một cách phong phú và đa dạng trong đó có sinh hoạt Quan họ
1.2 ĐỜI SỐNG VĂN HÓA - XÃ HỘI CƯ DÂN LÀNG DIỀM.
Xuất phát từ bề dày lịch sử phát triển kinh tế xã hội như đã trình bày, đời sống văn hóa tinh thần của GỘng đồng cư dân làng Diềm vô cùng phong phú đậm nét thể hiện ở nhiều lĩnh vực: văn hóa tín ngưỡng, vãn hóa lễ hội, văn học dân gian, sân khấu truyền thống Chúng tôi xin đề cập lần lượt
1.2.1 Tín ngưỡng.
Hoạt động văn hóa tín ngưỡng cộng đồng là những sinh hoạt chung trong đời sống tám linh, tinh thần của con người gắn liền và song song với sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng là các hoạt động lẻ hội Hai hoạt động này cùng tồn tại song
hành, cái này là nguyên nhân, là điều kiện của cái kia, bổ trợ cho nhau để cùng
Trang 23tồn tại và phát triển Đặc điểm này biểu hiện rất rõ ở làng Diềm Vãn hóa Quan
họ là một loại hình sinh hoạt vãn hóa tinh thần độc đáo nhất của làng Diềm có
quan hệ tương tác hai chiều với cả văn hóa tín ngưỡng và văn hóa lễ hội Tín ngưỡng và lễ hội là mỏi trường, là điều kiện để văn hóa Quan họ tồn tại, phát triển Ngược lại, văn hóa Quan họ với tư cách là một bộ phận cấu thành của các hoạt động tín ngưỡng, lễ hội, đã làm cho các hoạt động này ỏ làng Diềm mang màu sắc riêng: tín ngưỡng và lễ hội vừa được nâng cao hơn về tính cộng đồng, lại vừa thêm tôn nghiêm, sôi động và trữ tình Chúng tôi sẽ phán tích và trình bày kỹ hơn về sinh hoạt văn hóa Quan họ làng Diềm trong nội dung chương sau
Điểm nổi bật, có thẻ xem là đặc trưng của hoạt động tín ngưỡng ỏ làng Diềm chính là tín ngưỡng thờ nữ thần (thờ mẫu) Việc thờ nữ thần ở làng Diềm
là tín ngưỡng có ý nghĩa đạc biệt quan trọng, chi phối toàn diện mọi hoạt động tín ngưỡng và cả lễ hội của làng này
Thực tế, hầu hết các nơi linh thiêng của làng Diềm như đình, chùa, đền đều có thờ hoặc phối thờ nữ thần Chùa Hưng Sơn thờ Phật nhưng nguyên thủy là thờ Vua Bà, đình Diềm thờ Thánh Tam Giang và Vua Bà, đền Cùng thờ công chúa Ngọc Dung, Thuỷ Tiên, đền Vua Bà thờ nữ thần là Thuý tổ Quan họ Lý giải về sự độc đáo này có lẽ phải xem xét từ góc độ lịch sử về vị thần Thành hoàng làng Từ rất xa xưa vị thần Thành hoàng làng được người dân tôn kính và thờ phụng là một nữ thần; đó là đức Vua Bà - người đã có công giúp dân lập làng, dạy người dán cách thức làm ăn, lao động, sản xuất, ca hát Sau này đình mới phối thờ các vị thần khác Mặt khác, lý giải về việc thờ nữ thần phổ biến ở làng Diêm còn do dấu ấn của lịch sử phát triển xã hội nói chung.Làng Diềm vốn là một trong những làng Việt cổ, trong buổi đầu lập làng, định hình cuộc sống sơ khai, vai trò kinh tế của người phụ nữ đóng vai trò rất lớn Do đó, việc người dân tôn quý và thờ phụng nữ thần (đức Vua Bà) thành thần Thành hoàng làng là điều dễ hiểu
Bén cạnh việc thờ nữ thần, trong tâm thức người dân làng Diềm còn thờ Phật, đặc biệt việc tôn thờ đức thánh Tam Giang làm Thành hoàng làng, v ề sự tích thánh Tam Giang xin trình bày cụ thể, chi tiết trong phần phụ lục Nói một cách vắn tắt, đáy là hai vị nam thần có tên dân gian là Trương Hống và Trương Hác' là những người có công giúp đỡ nhân dân địa phương trong vùng đánh giặc Lương giữ yên làng quê, được lịch sử hóa thành nhân thần
Trang 24Cjrumj fthuc irony tilth hitat mìn httii Qftait ho - rtìình 7 /hi cjhtmh 'dtnujrn
Tóm lại trong văn hóa tín ngưỡng của người dân làng Diếm vừa thò nữ thần là thần tự nhiên, thần nước: lại vừa thò nam thần - là nhân thán làm Thành hoàng Đây là kết quả của sự kết hợp hài hoà giữa thần và người, giữa trời và đất giữa âm và dương, giữa xây dựng và bảo vệ gìn giữ làng qué đế tạo ra các lễ tục cầu mưa và tạo ra cho quê hương một loại hình sinh hoạt vãn hóa giao duyên nam nữ độc đáo - vãn hóa Quan họ
1.2.2 Lễ hội.
Trong lịch sử dán tộc Việt Nam, lễ hội là một hoạt động mang tính phổ biến và ra đời từ rất sớm Hầu khắp các tộc người, các vùng làng quê Việt Nam đều có những lễ hội chung và riêng của mình và hoạt động đó gắn liền với quá trình tồn tại và phát triển của mỗi cộng đồng, mỗi dán tộc (58, 1) Sinh hoạt lễ hội phản ánh khá tập trung và tiêu biểu truyền thống lịch sử, bản sắc văn hóa, đời sống tám linh, tín ngưỡng tôn giáo của mỗi cộng đồng, mỗi dán tộc, mỗi vùng miền Trong quá trình tồn tại và phát triển, sinh hoạt lễ hội trở thành một nhu cầu không thể thiếu của con người và cộng đồng xã hội Qua thời gian hun đúc dần dần hoạt động này đã trở thành một hoạt động mang tính vãn hóa trong đời sống tinh thần nói chung của xã hội
Ra đời, tồn tại và phát triển trong bối cảnh chung của lễ hội Việt Nam các lễ hội của làng Diềm vừa mang những đặc điểm chung của các lễ hội dán tộc nói chung vừa có những yếu tố riêng của một làng quê Việt cổ giàu truyền thống văn hóa.Điểm chung của lễ hội làng Diềm cũng mang ý nghĩa ghi công tưởng nhớ những danh nhân lịch sử, văn hóa, những người có công với quê hương đất nước, tôn vinh vẻ đẹp quê hương, làng xóm, vun xới sự gắn bó, đoàn kết cộng đồng.Cũng giống như các lễ hội truyền thống ở các miền quê khác trên đất nước Việt Nam, các ngày lễ hội làng Diềm cũng là ngày vui chung sum họp gặp mặt của
người đi xa tụ họp về, của người bản địa long trọng thanh k ín h tất cả đều hướng về
cái chung của sự cố kết cộng đồng là ý nghĩa trung tâm của từng lễ hội cụ thể
Tuy nhiên, bên cạnh nét chung, các lễ hội làng Diềm còn mang sắc thái riêng độc đáo Đó là sự phong phú của các lễ hội và đặc biệt hơn nữa là trong các
lễ hội của làng đều diễn ra hoạt động sinh hoạt văn hóa Quan họ - một sinh hoạt văn hóa tiêu biểu nhất của vùng quê giầu truyền thống này Cụ thể, theo thứ tư thời gian, làng Diềm trong một nãm có 4 lễ hội chính sau:
© Hội chùa Hưng Sơn diễn ra vào ngày 15 tháng Giêng
Trang 25yjrantj phụt- trout/ sinh h n ạ t mìn htui Quan hr) r&hik Í7hi < 7 hanh Jfmụỉu
© Hội đền vua Bà - Thuỷ tổ Quan họ tổ chức vào hai ngày 6 - 7 tháng 2
âm lịch
© Hội đền Cùng (còn gọi là hội Tát Giếng), tổ chức vào tiết thanh minh mồng 3 tháng 3 âm lịch
Hội đình Diềm tổ chức vào hai ngày 6 - 7 tháng 8 ám lịch
Ngoài ra, không định kỳ hàng năm, nhưng những khi hạn hán láu ngày, người làng Diềm lại tổ chức lễ hội cầu đảo còn gọi là lễ hội cầu mưa (hay cấu mùa) Các lẽ hội này sẽ được đề cập cụ thể trong chương hai
Nhìn chung, các lễ hội truyền thống làng Diềm ở một khía cạnh nhất định
là sự tống hòa giữa mùa xuân thiên nhiên, mùa xuân của lòng người với các anh hùng, danh nhân được tôn thờ tại làng Lễ hội Diềm vừa là dịp, vừa là nơi hội tụ sum vầy của bao thế hệ con người làng Diềm và du khách trong niềm vui chung của một vùng quê ngày càng khởi sắc
1.2.3 Các loại hình hoạt động văn hóa truyền thống của làng Diềm.
Bên cạnh sinh hoạt vãn hóa Quan họ, sân khấu truyền thống của làng Diềm còn được phong phú thêm bởi sự góp mặt của các loại hình diễn xướng dân gian khác tuy mức độ không đặc sắc như Quan họ, nhưng nó vẫn tồn tại như: hát chèo, hát tuồng, hát ghẹo Đây là những sinh hoạt thuộc về đời sống văn nghệ dân gian của quần chúng nhân dân địa phương, được diễn ra vào các dịp lễ hội của làng
- Đời sống văn học dán gian.
Với đặc điểm là một làng Việt cổ, nơi con người đã quấn cư sinh tụ ở đây rất sớm xung quanh các núi sót và dọc theo các dòng sông thiên nhiên cổ nén phản ánh đời sổng sinh hoạt hàng ngày thông qua vãn học dân gian là một đãc điểm nổi bật của con người làng Diềm từ xa xưa Trong quá trình lịch sử con người nơi đáy luôn sáng tạo nên những câu chuyện dán gian, những thần thoai, những cáu ca dao tục ngữ để phản ánh cuộc sống đấu tranh chống thiên nhiên khắc nghiệt, cũng như ghi lại trong ký ức lịch sử cuộc sống phong phú của mình
Vì vậy, nguồn văn học truyện kể dân gian, thần thoại ca dao tục ngữ ở làng Diềm rất phong phú và đa dạng kể về các vị thần được tôn thờ ở làng và làng có liên
quan; vế sự tích các địa danh, giải thích nguồn gốc tên sông, tên đất, cánh đổng
Mỗi nhân vật, mỗi địa danh đều gắn với một câu chuvện dân gian lý thú Trong đó, truyện thần thoại(6) nổi bật với các truyện về đức thánh Tam Giang, về hai vị thần ở Giếng Ngọc; về Vua Bà
Trang 26Thần thoại vé đức thánh Tam Giang có tình tiết: người mẹ do tám sông bị rắn cuốn mà có thai, đẻ ra 5 cái trứng trong cùng một bọc Khi Trương Hống Trương Hác mất đều hoá thành rắn Đến khi hiển thánh giúp Lý Thường Kiệt đánh Tống, các ngài cũng hóa thành hai con rắn đưa đường cho quán nhà Lý dời Đại bản doanh từ Thất Diệu Sơn về Như Nguyết Do đó, Thánh Tam Giang là thần nước của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước vùng châu thổ Bắc Bộ.
Thán thoại về hai vị thần ở Đền Cùng kê về hai bà công chúa Ngọc Dung Thuỷ Tiên cùng nhân dán diệt trừ yêu quái, thú dữ (Mộc tinh, Ngư tinh Hồ tinh)
Đó chính là tình tiết thường thấy trong các thần thoại người Việt về thời khai phá đồng hoang, rừng nước để lập làng, lập nghiệp
Thần thoại về đức Vua Bà thực chất cũng là nói về thần nước, bởi có các tình tiết: bà là con Vua Hùng, bà bị cơn phong vũ giáng lên trời rồi giáng xuống
ấp Viêm Trang Trong truyện bà còn là cô gái hái dâu được vua Thuỷ tề yêu thương đưa về cung làm vợ Sau bà có công giúp dân cách trồng trọt, sản xuất nồng nghiệp
Như vậy, truyện thần thoại làng Diềm tuy kể về các vị thần siêu nhiên, nhung lại gắn bó mật thiết với cuộc sống của con người nơi đây Thần tự nhiên,
thần nước đã được cụ thể hóa, nhân hóa, lịch sử hóa thành những con người có
công khai đất, lập làng, mở mang mọi nghề (trong đó có “nghề chơi Quan họ")
của làng Diềm
Về chuyện cổ tích(7) làng Diềm nổi lên với các đề tài: chống giặc ngoại xâm giặc cướp, lịch sử của làng, quan niệm về cuộc sống Trong đó, đặc biệt phản ánh nhân sinh quan, quan niệm về đạo đức của con người nơi đây là cáu
chuyện “Thuỷ chung ở làng Diềm”.
Tinh tiết chuyện kể như sau: xưa làng Diềm có một cồ gái rất xinh đẹp, thông minh nhưng lại lấy phải- một người chồng đần độn Giận và xấu hổ vì chồng, cô gái bỏ nhà ra đi Tới bờ sông thì thấy một ông già đang mò dưới nước, bèn hỏi và được biết ông đang mò một cây kim Cô gái liền hỏi: cái kim đáng giá bao nhiêu mà ông phải mất công mà làm vậy?
Ông đồ đáp rằng đó là vật kỷ niệm của người vợ quá cô' của õng đế lại Nghe vậy người vợ thông minh hiểu ngay liền nghĩ lại và quay về với chồng (93, 327) Trong các truyện phản ánh về nhân sinh quan, có lẽ đây là truyện tiêu biểu nhất của người làng Diềm Bởi vì, con người sống có thuỷ, có chung, trước sau
Trang 27như nhất, chính là cốt lõi của người Quan họ nhất là ở chính ngay qué hương Thủy tổ Quan họ.
Về ca daồ, tục ngữ làng Diềm cũng mang nội dung ca ngơi vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước, con người nơi đây Các cáu ca dao vé đình Diềm:
Thứ nhất là đình Đông Khang,
Thứ nhì đình Bàng, vẻ vang đinh Diềm
Trước đình lại có rỗng chấu
Có đôi quy phượng tựa màu non tiên.
Về đền Cùng:
Dù ai đi lễ bốn phương
Không bàng linh hiến thắp hương đền Cùng.
Đặc biệt mảng ca dao tục ngữ nói về nghề nghiệp và sản vật của làng Diềm rất phong phú:
- Mía da tre, chè đỗ đãi.
Là quê hương Quan họ, người làng Diềm có nhiều cáu ca dao tục ngữ nói
về tài ca hát của đức Vua Bà, cũng như tự hào về quê hương Quan họ:
- Tay cám bún nguyệt xênh xang
Bao nhiêu cây cỏ ì ai hàng tay ta.
Thuỷ tổ Quan Họ làng ta.
Những lời ca xướng vua Bà sinh ra.
Xưa nay trai gái trẻ già
Ai mà ca được ắt là hiển vinh.
- Giếng làn (Ị la vừa trong vừa mát
Đường lùng ta lắm cát dễ đi.
Tóm lại, dòng vãn học dân gian truyền thống của vùng quê làng Diém mang đậm bản sắc, hơi thở của con người và cuộc sống nơi đáy
Trang 28’drantf phạc trout/ tình hoạt lúÍH hót! Qimn hạ - rt)ình ~Jhi ~lumlt Tftui/rti
1.3 LẢNG DIỀM HÔM NAY.
Tiếp bước truyền thống lao động sản xuất chuyên cần, bề dày văn hóa của
bao lớp người đi trước đã khơi dựng và định hình cho vẻ đẹp của m ảnh đất làne
Diềm, người dán nơi đây ngày nay đang nỗ lực trong mọi phương diện đế giữ vững và phát huy tốt truyền thốrig của ông cha
- Về kinh tế: Làng Diềm vẫn là một làng thuần nông nghiệp, nhưng đã phát triển thành một làng quê trù phú có hệ thống cơ sở hạ tầng đảm bảo cho sự phát triển bền vững trong tương lai cả trên hai phương diện kinh tế và văn hóa.Với 3038 nhân khẩu, trong đó có 1800 lao động gồm 619 hộ được phán bố hài hoà trong một kết cấu chạt chẽ của 9 ngõ xóm cơ bản, Viêm Xá (làng Diềm) đang đẩy mạnh các hoạt động kinh tế nóng nghiệp và các nghề phụ khác như mộc, nề, dịch vụ nhỏ, trồng dâu nuôi tằm nhằm thúc đẩy nhanh chóng đời sống kinh tế của người dân lên cao
Nãm 2004, năng suất lúa bình quán đạt 53,5 tạ/ha Khoa học kỹ thuật được đảm bảo 85% giống cấp 1; trong đó lúa xuân muộn chiếm 80% diện tích, không còn lúa mùa muộn, ước đạt 25,3 triệu/ha và bình quân lương thực là 516 kg/người (8,2)
- Về chãn nuôi: Tổng số đàn bò khoảng 300 con với giống bò lai Sin Mô hình nuôi gia cầm, tập trung phát triển nuôi cá, con đặc sản, giữ vững đàn lợn được đẩy mạnh
Thực hiện Nghị quyết số 17/NQ - HU(ngày 01 tháng 03 năm 2004) về việc chuyển đổi đồng trũng thả cá, trồng trọt và chăn nuôi kết hợp, do vậy các khu ruộng đầm trũng được đấu thầu để vừa cấy lúa nếp một vụ vừa thả cá kết hợp
Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống, giao thông thuỷ lợi, tập trung nạo vét kênh mương đảm bảo phục vụ sản xuất cả xã đạt 3.100m2 năm 2004 Đặc biệt, năm 2005 kết hợp cùng với lãnh đạo cấp xã, huyện bà con làng Diềm đang bắt tay vào làm mới và mở rộng con đường giao thông chính về làng từ dốc Đặng về hết cuối làng Con đường này được bê tông hóa và mở rộng thành 9m mặt ngang, kế hoặch sẽ hoàn thành trước tết Nguyên đán năm 2005 để chuẩn bị điều kiện cho ngày hội Quan họ 6/2 nãm tới
- Về giáo dục đào tạo:
Đảng uỷ xã, Ban lãnh đạọ chi bộ thôn Viêm Xá( làng Diềm) thường xuyên tuyên truyền vận động nhân dán quan tám đến sự nghiệp giáo dục động viên con
Trang 29em đến lớp, không có học sinh bỏ học, xây dựng quỹ khuvến học đến dòne họ
hỗ trợ học sinh nghèo vượt khó, tham gia đóng góp xây dựng trường Năm 2004
- 2005, UBND xã Hoà Long và chi bộ thôn Viêm Xá đã kết hợp cấp 15.500.000 đồng để san lắp mặt bằng làm sán trường tiểu học và 150.000.000 đồng đế xây dựng trường tiểu học Viêm Xá Trong năm qua, phong trào giáo dục của xã Hoà Long nói chung và Viêm Xá (Làng Diềm) nói riêng đã được nâng lén, số học sinh
đến lóp bảo đảm số lượng, chất lượng dạy và học ngày càng được nâng lên, cơ sở
vật chất cũ được cải thiện Kết quả cụ thể tính chung toàn xã:
Trường mầm non tổng số học sinh có 366 cháu, có 01 giáo viên đạt loại giỏi cấp tính và 3 cấp huyện Trường xếp loại khá
Nhìn chung, cùng với bước chuyển mình đi lên của nền kinh tế xã hộichung của toàn xã, làng Diềm cũng đang từng bước tự khẳng định vị trí và thếmạnh của mình Với thuận lợi là vùng nằm ven thị xã Bắc Ninh, nền kinh tế của làng Diềm cũng đang chuyển dần từ nông nghiệp thuần tuý sang mở rộng các loại hình kinh tế phụ khác, trong đó đặc biệt là kinh doanh dịch vụ
Trên cơ sở đó, đời sống vãn hóa tinh thần của người dán địa phương cũng được cải thiện từng ngày và làng Diềm đang phấn đấu để xây dựng thành một làng văn hóa mẫu mực, lấy duy trì sinh hoạt dán ca Quan họ làm thế mạnh và hòa nhập vào đời sống vãn hóa tinh thần vừa dân gian vừa hiện đại đang được định hình trong vùng Quan họ Bắc Ninh như một sự phục hưng Đặc biệt, các lễ hội và những sinh hoạt mang tính tám linh của nhân dân được quan tám thỏa đáng đã là cơ sở vững chắc cho sự đơm hoa kết trái trở lại của những sinh hoạt ca hát Quan họ Với truyền thống của mình, làng Diềm vẫn là đơn vị giữ vững được
vị trí xứng đáng của một làng Quan họ cổ, một trung tám duy trì cho tám thức cội nguồn của các nghệ nhân Quan họ toàn vùng Kinh Bắc
Trang 30'Jran tị fihne from/ iitth hoạt oàn há a Qfutn hr> - rtì ình -jlti '~ĩlitinli JtiMjen
TIỂU KÊT CHITONS I.
Với đặc điếm về địa lý tự nhiên, điều kiện sinh thái của một vùng qué nằm trong vùng đất cổ đã tạo cho con người làng Diềm những đặc trưng của riêng mình: chàm chỉ, cần cù, yêu lao động nhưng cũng rất phong phú trong đời sổng tinh thán Trên cơ sở đó, làng Diềm đã trở thành một trong những cái nôi sớm nhất sinh ra vãn hoá Quan họ Đây là điểm nổi bát trong đời sống tinh thán của
cư dân làng Diềm- làng Quan họ Cũng từ một cái nền và cái đà là một truníỉ tám vãn hoá cổ, Quan họ nơi đáy đã vươt lén nhờ một số yếu tố khách quan và chú quan riêng của nó Với nghề trổng lúa nước phát triển khá sớm cùng các dòng sông cổ đã tạo nén mạng lưới thông thương thuận lợi cho sự hội tụ kinh tế, văn hoá của vùng Mặt khác, vùng đất Kinh Bắc nói chung trong đó có đất Quan họ làng Diềm nói riêng nàm gần kề Kinh đô - trune tám kinh tế chính trị văn hóa của cả nước qua các thời kỳ, là nơi sản sinh và nuôi dưỡng nhiéu thế hệ trí thức văn nghệ sĩ và quan lại phong kiến, đặc biệt là đất phát tích của nhà Lý nén được hướng nhiều ưu đãi và gắn bó với đời sống cung đình Những yếu lố đó hiển nhiên là những động lực mạnh, ít nhất là trong khoảng 1.000 nãm trước đã thúc đẩy hình thức hát nam nữ đối đáp giao duyên nguyên sơ của đất Quan họ phát triển Cùng với thời gian các yếu tố: nếp sống, nếp nghĩ, phong tục tập quán, tín
ngưỡng, trang phục đã được hun đúc thành truyền thống và thấm sáu vào
vùng đất Quan họ, được lưu giữ và phát triển cùng với Quan họ Trong đó độc đáo nhất là bộ trang phục cúa liền anh liền chị
Trang 31<7'rang p h ụ c trtintj iiu ft hr* (ft w in ft lút Qtiti/I hit C£Hnh c7/t/ xjhiiitli Itut/VH
CHƯƠNG 2:
LỄ HỘI VÀ SINH HOẠT VĂN HÓA QUAN HỌ - MÔI TRƯỜNG TỐN
TAI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TRANG PHỤC QUAN HỌ.
Lẻ hội là một hình thức sinh hoạt văn hóa tinh thần mang tính cộng đồng cao và phổ biến của nhân loại Lễ hội được ra đời từ rất sớm và đã tón tại, phát triển qua nhiều thời đại Có rất nhiều ý kiến khác nhau xung quanh khái niệm
“L / hội" Trong sô' các ý kiến đó, ý kiến của tác giả Nguyễn Duy Quý được nhiều người đồng tình nhất Ông cho rằng: “L ễ hội là một hình thức sinh hoạt
tổng họp bao gồm các mặt tinh thần và vật chất, tôn giáo tín ngưỡng và văn hóa nghệ thuật, linh thiêng và đời thường .là một sinh hoạt có sức hút một số lượng lớn những hiện tượng của đời sống xã hội” (61,119)
Cốt lõi của các lễ hội chính là việc thờ cúng các vị thần và tổ tiên Nhưng
bất cứ một lễ hội truyền thống nào cũng bao gồm hai phán: lễ và hội Lễ là phần
mang đậm nét tín ngưỡng, phần của thế giới tâm linh sâu lắng nhất của con
người, là phần đạo Còn hội là phần tập hợp vui chơi giải trí, là đời sống vãn hóa
thường ngày, phần đời của mỗi con người, mỗi cộng đồng Bên cạnh phần lẻ rất quan trọng thì phần hội cũng không thể thiếu được trong mỗi lễ hội Trong phần
hội “ vui chơi, giải trí cũng là phương thức thỏa mãn nhu cầu tinh thẩn của con người Nó là một dạnạ hoạt động không thế thiếu trong quá trình hình thành và phút triển con người xã hội" (50, 148)
Nằm trong cái nôi văn hóa thấm đẫm các lễ hội mùa xuân, mùa thu của Việt Nam nói chung, mảnh đất ngàn năm văn hiến Kinh Bắc xưa kia và nay là Bắc Ninh cũng góp phần mình rất nhiều vào bức tranh lễ hội chung bằng các lễ hội của địa phương mình Đặc biệt, điểm đặc trưng nổi bật của các lễ hội truyền thống ở Bắc Ninh chính là các hoạt động sinh hoạt văn hóa Quan họ Dân ca Quan họ là một sinh hoạt vãn hóa đặc sắc, góp phần làm nén bản sắc văn hóa của Bắc Ninh và của cộng đồng các dân tộc Việt Nam nói chung
Hàng năm, cứ mỗi độ xuân về, người dân xứ Kinh Bắc dù ở bất cứ nơi đáu cũng trở về quê hương để trẩy hội đình, hội đền, hội chùa, những lẻ hội hết sức độc đáo bởi đã gắn liền với sinh hoạt vă hoá Quan họ tự bao đời Theo thống ké
của tác giả Trần Linh Quý, Hồng Thao, toàn bộ vùng Kinh Bắc xưa có tất cả 49
Trang 32lùng quan họ gốc (rinh tới trước năm 1945), trong đó Bắc Nimh có 44 làng Bắc Giang có 5 làngw (44, 154)
Trong 49 làng Quan họ gốc đó có những nơi sinh hoạt Quan họ đã trơ nén nổi tiếng trong cả nước, ví dụ Quan họ ở hội Lim làng Lũng Giang -xã Nội Duệ - huyện Tiên Du: nhưng có những làng lại có những di tích, những huyền thoai được các làng khác công nhận là làng gốc nơi phát sinh ra sinh hoạt Quan họ Đê hiểu và khái quát được những nét chung cơ bản về tát cả nhũng ván đề liên quan đến sinh hoạt vãn hóa Quan họ ở các lễ hội Bắc Ninh như: nguồn gốc, lẽn goi thời gian, không gian, nội dung, trang phục, ý nghĩa của sinh hoạt Quan ho chúng tỏi đã đi sâu vào tìm hiểu cụ thế một làng Quan họ gốc là làng Diềm (Viêm Xá) - xã Hòa Long - huyện Yên Phong
Như đã giới thiệu trong nội dung chương 1, làng Diềm một vùng quê nông nghiệp mượt óng của vùng đất Yên Phong trù phú, một vùng đất cổ với những dấu tích cua các hòn núi sót như núi Thấp, núi Kim Sơn của những dòng sóng cổ; sông Ngũ Huyện Khê sông Cầu Ngôi làng với ý nghĩa như tên gọi giống như hình một chiếc dải quạt đó là nơi lưu giữ biết bao nhiêu nét văn hóa đặc sắc, phong phú riêng có của vùng đất này
Trong không gian ấy các lễ hội làng Diềm còn ẩn tàng biết bao giá trị văn hóa tinh thần, tám linh, bao cái nao nức xanh tươi của những lời ca Quan họ giữa
buổi bình m inh “đón bạn” và hoàng hôn “giã bạn” còn chạng vạng cuối vạt tre
làng Hội Diềm như hồn nước gọi ta về Cứ ãm vang mãi lời của núi sông đầm thắm Như tơ vương đầy xao xuyến nhớ mong và đợi chờ mùa xuân đến sớm và mùa thu đến gần đê đến với các lễ hội Diềm nồng nàn, dịu ngọt Trong sáu thảm của cõi lòng người xa xứ, hội Diềm mộc mạc đáng quý như sự mộc mạc của chính mảnh đất và con người vốn có nơi đây từ hàng ngàn năm lịch sử Để hiểu
rõ hơn vể cái đẹp và giá trị của các lễ hội làng Diềm, phải tìm hiểu kỹ càng và thông qua các lễ hội cụ thể diễn ra hàng năm nơi đây
2.1 VÀI NÉT S ơ LƯỢC VỀ CÁC LỄ HỘI LÀNG DIỂM.
Lễ hội truyền thống ở Việt Nam thường được tổ chức vào mùa xuân, mùa đâm chồi nẩy lộc khi xuân về; là khi con người tổ chức các hoạt động tưởng nhớ, ghi cóng các anh hùng, giai nhân và mùa xuân của con người (nén còn gọi là
xuân hội) Ngoài ra lẻ hội còn được tổ chức vào mùa thu, là khi làng vào đám
Trang 33ra Ị Ị tị Ịíhụe trtmụ sinh hoạt oàn Ị Ị Ị) a Qftan ho - f-O'mh 7 /»' lluiiili K hu /Ỉ u
rước nên còn gọi hội m ùa thu là “thu tể ' và hai kỳ lễ hội phổ biến thường niên
đó trong dán gian gọi là “xuân thu nhị kỳ" là vì thế Song chắc ràng ít có nơi nào
có nhiều lễ hội nhu ở làng Diềm, đặc biệt là xuân hội Mỗi lễ hội làng Diềm đểu
gắn với một cơ sở tín ngưỡng và mộ: hoạt động tám linh riêng Tính theo trình tự thời gian trong năm (âm lịch), làng Diềm có các lễ hội chính như sau:
2.1.1 Lễ hội chùa Hưng Sơn.
Tương truyền, chùa vốn được khởi dụng từ thời nhà Lý, tường chùa xây hoàn toàn bằng đá Đôi cáu đối' còn lại ở chùa này đã ghi lại cảnh đẹp cúa làng Diềm ngày xưa:
“ Thanh tại Hưng Sơn thành rác ngạn
Xá hoà phong cảnh đắc viên hoa ”
Dịch ý : “ Đá chùa Hưng Sơn thành bờ rác ngõ,
Làng chan hoà phong cảnh đẹp như vườn hoa
Lễ hội chùa Hưng Sơn được tổ chức vào ngày 15 tháng Giêng Việc lễ hộichùa được mở ra đúng vào ngày rằm tháng Giêng đã chứng tỏ đây là một hội
chùa tiêu biểu, vì dân gian có câu “Lễ Phật quanh năm không bằng rằm tháng
Giêng" Đó cũng đồng thời cho thấy hội chùa Hưng Sơn có từ rất sớm trong năm
vào dịp ngay sau Tết Nguyên đán, ngày rộng tháng dài nên người tứ phương đến
lẻ chùa rất đông Lễ chùa Hưng Sơn bao gồm các hóạt động: lễ Phật và các hình
ihức diễn xướng thường thấy ở các hội chùa như chạy đàn, diễn phướn (ban
ngày) bên cạnh các hoạt động dáng hương iễ Phật Trước đáy, làng Diềm còn có
cả phường chèo, phường trống nén vào buổi tối thường có hát chèo và hát tuồng
ở trước sân chùa Đạc biệt, trong ngày hội chùa làng Diềm cũng có các hình thức
sinh hoạt Quan họ, nội dung này sẽ được trình bày cụ thể ở phần sau.
2.1.2 Lễ hội đến Vua Bà.
Lễ hội này được tổ chức vào hai ngày mồng 6 và mồng 7 tháng Hai (ám lịch) Tương truyền, ngày mồng 6 là ngày đức Vua Bà được trời giáng xuống Viêm Trang, tức làng Diềm (Viêm Xá) ngày nay Đây là lễ hội lớn nhất, quan trọng nhất trong nãm của làng Diềm Hội đền Vua Bà cũng là hội Quan họ duy nhất trong vùng Quan họ, bởi đáy là lễ hội Thuỷ tổ Quan họ Mọi hoạt động trong lễ hội, từ phần lễ (đạo) đến phần hội (vui chơi) đều liên quan đến Quan ho
Trang 34Truyền thuyết về Vua Bà còn lưu truyền rất đậm nét trong tám thức người
dân làng Diềm và còn được ghi lại trong thần tích đạt trong đền: “Bà là con gái
Vua Hùng Khi bà xấp xỉ lói tuổi cặp kê, có rất nhiều người đến cầu hôn Vua bèn tổ chức hội cướp cáu đ ể chọn phò mã Song bà không ưng thuận lây người thắng cuộc và xin với Vua cha cho đi chu du vãn cảnh trong nước Bà và các thị
nữ vừa ra khỏi Kinh thành thì bỗng có cơn mưa to gió ìớn (phong vũ) ặp đến, cuốn cả đoàn người lên trời, rối lại giáng bà xuống ấp Viêm Trang Bấy giờ Viêm Trang là một vùng hoang dã, cây nước, lau sậy um tùm, rậm rạp Bà cho khai phú đất hoang, bờ bãi, lập lên đồng ruộng, trổng dâu nuôi tằm Bà sáng rác
ra các bài hát trong quá trình lao động rồi dạy dãn hát Sau khi bà mất, dân làng lập đển thờ tôn làm Thẩn'thành hoàng và tôn vinh bà là đức Vương mấu, Vua Bù, Thuỷ tổ Quan họ Dân làng lại mở hội đền vào hai ngày mồng 6 - 7 tháng Hai, ngày mà tương truyền là bà được giáng xuống Viêm Tranẹ Nqười làng Diềm coi bờ là sự hòa họp của ám dương, trời đất, sánh nganíị với các bậc Quán vương thiên tử nên bức bài vị đền Vua Bà để rõ: "Đương cánh thành hoàng, Quốc vương thiên tử, Nhữ Nương nam nữ, Nam hải Đại vương” (47 31)
Đức Vua Bà được tôn thờ là Nam hải Đại vương, nén lễ hội đền Vua Bà
(và cả lễ hội cầu đảo) đều được gọi là “Lễ hội cầu mưa"
Về thời gian, lễ hội Vua Bà diễn ra chính hội là ngày mồng 6 tháng Hai nhưng từ chiều mồng 5 làng đã tổ chức mở cửa đền và làm lễ dáng hương, lễ cầu mưa rửa đền Sáng mồng 6, dán làng làm lễ tế thần Trong lễ có hát Quan họ thờ.Sau lễ tế thần là rước ngai vị Vua Bà cùng các đồ thờ quanh làng Đặc biệt, những người khiêng ngai nhất nhất phải là các cô gái chưa chồng Đi trước ngai vị là một cô gái xinh đẹp, chưa chổng đóng vai Vua Bà v ề đến đền Cùng, đám rước dừng lại Một sô' cụ thượng xuống giếng Ngọc lấy nước; sau đó rước cả nước đó về đền để làm lễ tắm Vua Bà Sau lẻ rước thần là các trò vui chơi mà chủ yếu là ca Quan họ
2.1.3 Lẻ hội đền Cùng.
Đền Cùng toạ lạc trên một dải đất rộng dưới chân núi Kim Lĩnh, thấp thoáng ẩn hiện trong bóng cây già Đền Cùng nổi tiếng với Giếng Ngọc vốn được xây bao quanh bằng đá; nước trong vất và rất ngọt có thể uống trực tiếp
Trang 35được Dù Giếng cung cấp nước ãn uống cho cả làng nhung chưa bao giờ cạn vì giếng có mạch nước từ núi Kim Lĩnh chảy xuống Giếng Ngọc có một đôi cá vàng rất đẹp đã sống ở đây từ lâu đời Những năm trước đây, vào mùa mưa bão hàng năm, đền bị bão lụt trắng băng nước nhưng khi nước rút đi đôi cá vẫn còn
trong giếng không hề đi theo nước Người dán nơi đáy thành kính gọi là "cá
thần7', và đôi cá thần này được xem là hiện thán của hai bà công chúa Ngọc
Dung và Thuỷ Tiên vốn là những người có cóng giúp dán đánh giặc giữ đất yén dân Bên cạnh giếng có một chiếc cối đá to và có ban thờ riêng là nơi dùng đế thả cá khi tát giếng và vo gạo đổ xôi, gói bánh chưng của dán làng
Đền rất linh thiêng nên người tứ phương về làm lễ rất đông, đặc biệt là việc cầu nhân duyên, con cái'9' Ca dao lưu truyền về sự linh thiêng của ngôi đền
Không bằng linh hiển thắp hương đền Cùng”
Chính vì sự linh thiêng ấy mà quanh năm đều có người tấp nập đến lễ ởđền Cùng, nhất là vào dịp đầu xuân và vào ngày hội đền
Sáng ngày mồng 3 tháng Ba, dán làng tổ chức tế thần ở trong đình với mục
đích là xin phép dược “tắm gội” đức thần, có nghĩa là tát nước giếng, vét nạo
bùn lá cây và rác bẩn dưới đáy để làm thanh sạch nước Trong lễ, cũng có Quan
họ hát thờ thần
Sau khi làm lễ xong sẽ đến phần tát giếng Dụng cụ tát giếng là gầu, thùng, dây thừng, phục trang cho những người tát đã được chuẩn bị sẵn từ trước Trực tiếp tát giếng là các thanh niên chưa vợ trong làng, họ đều chít khăn nhiễu điều, cởi trần, đóng khố đỏ Người ta dùng gầu kéo nước lên và dùng thùng, chậu chuyền tay nhau múc đổ nước đi Giếng gần cạn thì bắt cá vàng thả vào cối đá (đã chứa sẵn nước) Cá đã được yên vị trong cối rồi, người ta làm lễ thờ cá ở ban thờ cạnh cối đá Giếng đã được vét sạch bùn và đồ bẩn, nước trong mạch ngầm lại chảy ra trong vắt Bấy giờ cá thần lại được thả xuống giếng Chỉ vài tiếng sau, nước lại đầy lại như cũ Dán trong làng tấp nập gánh nước về ãn, họ cố gáng gánh được càng nhiều càng tốt vì người ta tin rằng ăn nước giếng hôm đó thì quanh năm sẽ làm ăn thuận hòa, phát đạt Bởi vậy, mà không khí vô cùng náo nhiệt Đã có người cho rằng hộí tát giếng chính là hội gánh nước
Trang 36tfmmj fthne trrmạ sình hoạt nàn hói Ị Quan /tợ - <"■£)!nh rJltì ^ĩlìiiuli lỉCuụỉn
2.1.4 Lễ hội đình Diềm.
Đình Diềm được xây dựng tháng 6 năm 1692 nằm uy nghi trên một nền cao bó đá với một quy mô lớn Đình dựng theo kiểu chữ công (Hán tự), tiền tế gồm 5 gian, dài 17,5m, rộng 14,9m Phần chuôi vồ dài 6,8m, rộng 9.7m Nghệ thuật kiến trúc và chạm khắc tinh tế và lộng lẫy Từ xưa đình Diềm đã được dán gian xếp hạng vào hàng nhất nhì trong vùng:
“Thứ nhất là đình Đông Khang Thứ nhì đình Báng, vẻ vang đình Diềm”<IOi
Đình thờ đức thánh Tam Giang Trương Hống, Trương Hác Thần tích ghi
lõ rằng hai ngài có công giúp Triệu Quang Phục đánh tan giặc Lương Mấy trãm nãm sau lại hiển thánh giúp Lê Đại Hành, rồi Lý Thường Kiệt đánh giặc Tống Đình Diềm được Bộ vãn hóa xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia từ ngày 13- 1
- 1964
Hội đình Diềm được mở ra vào các ngày mồng 6, mồng7 tháng Tám (ám
lịch) song từ chiều ngày mồng 5, làng đã làm lễ “nhập tịch” mở cửa đình, tế lễ
tại đình Sáng ngày mồng 6, mở đầu là lễ rước thần Đô Thống từ nghè (nghè Đô Thống) và rước vua Bà từ đén (đền Vua Bà) về đình, sau đó làm lễ tế thần
Bẽn cạnh phần lễ, suốt hái ngày hội đều có các trò chơi như đu cây chọi
gà, bắt vịt dưới ao, cờ vây đặc biệt sôi động là các hoạt động hát Quan họ Lễ hội đình Diềm vì vậy mà từ xưa tới nay đã thu hút được rất nhiéu người ở các địa phương đến làm lễ, chơi hội, hoặc trực tiếp tham gia vào phần hội
2.1.5 Lễ hội cầu đảo.
Lễ hội này không tổ chức định kỳ hàng năm mà người ta chỉ mở hội vào những dịp làng gặp hạn hán láu ngày
Lễ hội cầu đảo được tổ chức 3 ngày đêm liên tục tại đền Vua Bà vì vị nũ' thần này được xem là Nam hải Đại vương (vua bể Nam) Hai hoạt động quan trọng nhất của lễ cầu đảo ià lễ cướp quả cầu trước cửa đền (sáng ngày thứ 3) và hát Quan họ trong đền (cả 3 đêm) Lễ cướp cầu diễn ra rất náo nhiệt Người ta đào hai cái lỗ vuông ở hai phía trên bãi đất sán trước cửa đền Ông đám (chủ lễ) làm lễ xin thần được mang quả cầu ra ngoài Đó là 3 quả cầu tròn, sơn đỏ Người ta
quan niệm rằng quả cầu sơn đỏ ]à tượng trung cho m ặt trời, còn hố vuông đào xuống
đất là tương trưng cho đất theo quan niệm dân gian xưa là “trời tròn đất vướng”.
Trang 37Cjraittl fihue trfiiif/ tilth hrmt m il) It rig Of/an họ - rtìình 'Jh i Qfmii/i '3(>IHJỈII
Ông chủ lễ đật các quả cầu bên một cái bàn ở giữa sân kháu, khán xin thần cho được khai cuộc cướp cầu Bấy giờ ở mỗi bên sán dứng cạnh lỗ đất vuông là 12 thanh niên trai tráng của làng cởi trần, đóng khố Chủ lễ khấn xong thì tung 3 quả cầu xuống sân Tức thì thanh niên đỏi bên nhanh chóng ào tới thi nhau cướp quả cầu bỏ vào lỗ của bên đối phương Cuộc vui kết thúc khi cả 3 quả cầu được bỏ vào lỗ (ai đưa được quả cầu vào lỗ thì nằm úp lên miệng lỗ sau đó dậy để tiếp tục tranh quả cầu khác) Kết thúc cuộc thi khi bên nào đưa được nhiều cầu vào lỗ đối phương thì giành phần thắng Người làng Diềm quan niệm
rằng bỏ được quả cầu (m ặt trời, trời, dương tính) vào lỗ vuông (đất , âm tính) sẽ tạo ra ám - dương hòa hợp và như thế tất sẽ có mưa Lễ hội cầu đào do vảy còn
gọi là “Lễ hội cầu m ư a’.
Các cụ ở làng Diềm nói rằng, lẻ hội cầu mưa rất hiệu nghiệm Sau 3 ngày làm lễ thường bao giờ trời cũng có mưa to Chỉ thỉnh thoảng có nãm qua 3 ngày
lễ hội rồi mà vẫn không mưa, thì người ta tiếp tục cầu đảo 3 ngày tiếp, các hình thức tổ chức và diễn xướng cũng như vậy
Lễ hội cầu mưa ở làng Diềm là lễ hội cầu đảo thường gặp ở các cư dán nông nghiệp, đời sống tinh thần phần nào đó mang nạng tính chất của các tín ngưỡng dân gian truyền thống Cái làm nên sự khác biệt của lẻ hội cầu đảo làng Diềm so với các nơi khác chính là các sinh hoại văn hóa Quan họ
Là một làng Quan họ gốc, lại là nơi được xem như là qué hương của thuỷ
tổ Quan họ, hầu hết các cơ sở tín ngưỡng đều thờ Vua Bà, nén dù là lễ hội nào thì cũng có các hình thức sinh hoạt vãn hóa Quan họ Đương nhiên ở mỗi lễ hội lại có hình thức sinh hoạt Quan họ riêng cho phù hợp
Ngày nay, lễ hội (đặc biệt là Xuân hội) ở làng Quan họ gốc nào cũng được
khách thập phương gọi là “hội Quan họ” - nhất là với hội Lim Thực ra, theo nhà
nghiên cứu Lê Danh Khiêm thì chỉ có ở làng Diềm mới đích thực được gọi là lễ hội Quan họ bởi ở đây trong bất kỳ một lễ hội nào, Quan họ đều tham gia vào cả phần lễ, phần đạo và cả phần hội, phần đời (47, 29) Đáy chính là đặc trưng tiêu biểu nhất của
lễ hội làng Diềm chúng tôi xin được trình bày kỹ hơn vấn đề này ở phần sau
Trang 38'Jramj phụt trrtmj iình hoạt nàn hnu Quart hti - )'tíitth Cĩhi Qhatth '3(>IIIJỈH
2.2 SINH HOẠT VĂN HOÁ QUAN HỌ ở LÀNG DIỀM.
Sinh hoạt văn hóa Quan ho là một loại hình văn hóa dãn gian của Bác Ninh nói chung Đây thực sự ià một di sản phong phú và quý báu của nền nehệ thuật dán gian Việt Nam (103 102)
Vì thế vãn hóa Quan họ đã đang trở thành một đề tài thú vị của nhiều nhá nghiên cứu ở các khía cạnh và nhiều mặt: vãn hóa nghệ thuật, ám nhạc, lịch sử từ nguồn gốc, tên gọi nghi thức, không gian, thời gian, các phong tục có liên quan đến Quan họ Đế hiểu sáu hơn về sinh hoạt Quan họ làng Diềm, trước hết chúng tôi đi vào tìm hiểu sơ lược về tên gọi nguồn gốc của Quan họ nói chung và làng Diềm nói riêng
2.2.1 Nguồn gốc Quan họ.
Quan họ do ai đặt ra và vào thời nào? Vì sao lại gọi là Quan họ? Đáu là làng Quan họ gốc đầu tiên? Việc xác định rõ những vấn đề này đã được các nhà nghiên cứu quan tâm giải quyết từ nhiều mặt tuy vậy đây là một công việc khó
khăn vì không có thư tịch hoặc hiện vật xưa nhái trực tiếp nói về vấn đề này mà
chủ yếu là những ức thuyết trong dán gian
Theo ý kiến của một số nhạc sĩ đã từng nghiên cứu trong nhiều làne Quan
họ thời danh ở Bắc Ninh, thì có lẽ Quan họ xuất hiện cách đáy vào lối 12 đời
(43, 17) Xuất xứ mốc thời gian này là do câu chuyện: “Có hai người làm quan
tronq triều, một người qué ở Di ém Xá (Lũng Giàng) và một người quê ở Bịu Sim rất thân nhau khi còn hành chức tại triều cũng như khi về hưu Trong hai Ìàììíị
đó, nhà ai cỏ đám khao, đám cưới đểu mời cả hai họ nhà quan này tới dự và trong dịp vui vẻ đó, những câu hát đúm đã có từ trước trong dán gian được đem
ra cho hai họ nhà quan hát với’nhau Do đó, lối hát này mang tên là Quan họ"
(15,4)
Có người cho rằng hát Quan họ ra đời cách đây khoảng 300 năm thuở
Trạng Bịu vinh quy về làng hay là quán lính ông Trạng Bịu “đi kéo gổ trên ngàn
vé bi cạn tại sông Tiêu Tưong, “hồ hát kéo gỗ rồi sau cứ lim tniyén mãi với rén Quan họ”.
Theo các thuyết ấy thì “Quan họ” đều có nghĩa là hai “họ" nhà “quan" kết
bạn hát chơi với nhau
Trang 39Giải thích về mật ngũ' nghĩa, tác giả Hổng Thao cho ràng: “Theo quan
niệm vé tinh thần khiêm tốn và rinh thần lịch sự, dân ta thích xưng hô những từ
cỏ ỷ nqhia đê cao người mà mình tiếp xúc giao thiệp Từ “Quan " thoạt đáu chì các quan viên thực thụ nhưng về sau bất cứ ai được tôn trọng đều ẹọ; là “quan ”
cả Danh từ Quan họ cũng không còn dành riêng cho nhóm tập thể các quan viên nữa mà mỏ' rộng ra đê gọi nhóm những người được coi là sang trọng, lịch
sự Đ ể để cao, đổng thời thi vị hóa bạn mình, các liền anh, liền chị gọi bạn là Quan họ, là người xinh, người ngoan, người lịch sự; coi họ không kém gì những
"ông quan h ọ ” trong xã hội Với ý thức phong kiến, các liền anh, liền chị coi quan họ, quan viên là những hình ảnh ước mơ, là nhân vật lý tưởng của mình
(78,45) Do đó khái niệm bạn Quan họ - xã hội đã chuyển hóa thành Quan họ - nghệ thuật là như thế
Quan họ với nghĩa là bạn nghệ thuật tôn kính khiến tiếng hát của những con
người ấy cũng ngẫu nhiên mang luôn cái tên là “hát Quan họ ”, “ca Quan họ”.
Vậy nguyên nhân nào đưa tới sự ra đời của sinh hoạt Quan họ Với bất kỳ một loại hình dân ca nào khi xét nguồn gốc phải tính từ chỗ đột biến trên chặng đường lịch sử của sinh hoạt xã hội bằng ca hát và do đó nói đến nguồn gốc cũng
là nói đến quá trình phát triển, nói đến quy luật vận động của dán ca Một trong những nguyên nhân quan trọng sự ra đời của dân ca Quan họ (cũng như của văn nghệ dán gian nói chung) là những sản phẩm tinh thần của nền văn hóa thống trị không đáp ứng được nhu cầu tinh thần, nhu cầu thẩm mỹ của nhân dân lao động Nguyên nhân này thúc đẩy người dân Bắc Ninh xưa sáng tạo nên tiếng hát của mình Ngoài ra, điều kiện thúc đấy để sinh hoạt văn hóa Quan họ ra đời và phát
triển là bắt nguồn từ tục kết chạ giữa các làng xã từ thời kỳ phát triển kinh tế
hàng hóa tiểu thủ công nghiệp, tiểu thương nghiệp phát triển (khoảng thế kỷ XVI
- XVII), trên cơ sở của sự tiếp thu, kế thừa và sáng tạo từ các loại hình dán ca nhạc cổ vốn có của các làng xã vùng Quan họ(l ° (46, 56)
Về tục kết chạ giữa các làng Quan họ được biểu hiện qua các giai thoại dân gian Các nghệ nhân làng Diềm kể: thời xưa, có hai viên quan quê ở Diềm và Bịu chơi thán với nhau, nghĩa tình gắn bó như anh em ruột thịt Từ đó, 2 làng kết chạ với nhau, nghĩa tình gắn bó như con một nhà Phải những khi có việc làng
Trang 40họ mời nhau tới và cùng hát đúm lâu dần rồi gọi là hát Quan họ (tức là tiếng hát của quan viên hai họ Diềm, Bịu)
Lược bỏ những yếu tố hư cấu cùa giai thoại, truyền thuyết một cách lý giải
mà các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác gọi là “Phép biện chứng dán gian",
chúng ta sẽ thấy đó là những ký ức lưu truyền có cơ sở đặc biệt khi đối chiếu những mặt sinh hoạt cụ thể và bền chặt của vãn hóa Quan họ Thõng qua những nguyên tắc trong kết bạn làng Quan họ này với làng Quan họ kia như yêu cầu vé cách xưng hồ, về việc không lấy nhau giữa các làng kết chạ có thể nói ràng sinh hoạt vãn hóa Quan họ có nguồn gốc từ tục kết chạ giữa các cộng đổng làng
xã Sự phát triển của Quan họ là kẻ thừa theo hướng ngày càng mỏ' rộng, từ ngọn nguồn là các yếu tố của tục kết chạ giữa các làng, tới chỗ là phổ biến chung cho tất cả các liền anh, liền chị tất cả các bọn Quan họ Chính quá trình kế thừa, mở rộng và hoàn thiện ấy là nét mới của văn hóa lễ nghĩa Quan họ so với gốc truyền thống ban đầu
Về nền móng kinh tế, ngoài nghề trồng lúa nước trên quê hương Quan họ thì kinh tế hàng hóa tiểu thủ công, thương nghiệp cũng góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy tác động cho sinh hoạt văn hóa Quan họ phát triển Hầu như làng Quan họ nào cũng có nghé phụ: nghề làm giấy dó ỏ Đống Cao, Điều Thổn Châm Khê, nghề làm hàng sáo ở Bái Uyên, Hòa Đình, Bịu Sim; nghề trồng dãu nuôi tàm ở Viêm Xá, Hữu Chấp, nghề làm hàng mã ở Xuân Ô nghề dệt vải ở Lũng Giang, Duệ Đông Sự phát triển của các nghề phụ đó đã góp phần phá vỡ thế tự cung tự cấp của kinh tế làng xã, đặt ra nhu cầu giao lưu hàng hóa vượt ra khỏi phạm vi làng xã; hình thành nên một sự giao lưu trong cả vùng Quan họ Đáy cũng chính là một điều kiện quan trọng để ra đời tục kết chạ giữa các làng
xã bên cạnh lý do thờ chung một vị thần Thành hoàng Xét về mặt thời gian lịch
sử thì cả hai nhân tố, sự thờ chung thần Thành hoàng và sự nở rộ của kinh tế tiểu thủ công, thương nghiệp ở Việt Nam diễn ra mạnh mẽ là khoảng thế kỷ XVI - XVII, đặc biệt là thế kỷ XVII v ề mặt logic, có thể nói sinh hoạt văn hóa Quan
họ ra đời trên những điều kiện cơ bản nêu trên ắt cũng có thời gian sớm nhất là
từ thế kỷ XVII
Về mặt bài ca Quan họ ở Bắc Ninh nói chung, vùng Quan họ nói riêng là nơi rất trù phú các loại hình dân ca, nhạc cổ truyền Nhiều giai thoại về nguồn