Trước yêu cầu phát triển cả quy mô và chất lượng của Nhà trường theo mô hình một đại học nghiên cứu có thứ hạng trong hệ thống các trường đại học ở Châu Á, hơn bao giờ hết, việc nhận diệ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ THỊ CẨM THANH
NHẬN DIỆN NHỮNG BIỂU HIỆN VĂN HÓA QUẢN LÝ TRONG CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ (Nghiên cứu trường hợp Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn,
Đại học quốc gia Hà Nội)
LUẬN VĂN CAO HỌC Chuyên ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ
Mã số: 60 34 72
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Phạm Ngọc Thanh
Hà Nội, 2011
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC CÁC BẢNG 4
PHẦN MỞ ĐẦU 5
1 Tính cấp thiết của Luận văn: 5
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu : 7
3 Mục tiêu nghiên cứu: 10
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 11
5 Vấn đề nghiên cứu: 11
6 Giả thuyết nghiên cứu: 11
7 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu: 11
8 Ý nghĩa của Luận văn: 13
9 Kết cấu Luận văn 13
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VÀ VĂN HÓA QUẢN LÝ 15
1.1.Lý luận về tổ chức KH&CN 15
1.1.1 Khái niệm tổ chức KH&CN 15
1.1.2 Phân loại và đặc trưng của tổ chức KH&CN 19
1.2 Lý luận chung về văn hoá quản lý 21
1.2.1 Khái niệm văn hoá quản lý 21
1.2.2 Các thành tố cấu thành văn hoá quản lý 26
1.2.3 Quá trình hình thành và phát triển văn hoá quản lý trong các tổ chức: 34
CHƯƠNG 2 NHỮNG ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA VĂN HÓA QUẢN LÝ TRONG CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM 38
2.1 Lịch sử hình thành và đặc điểm của hệ thống tổ chức khoa học và công nghệ của Việt Nam 38
2.2 Từ triết lý quản lý đến các biểu hiện cụ thể 42
2.2.1 Triết lý quản lý: 42
2.2.2 Những hệ giá trị cốt lõi: 45
2.2.3 Những biểu hiện cụ thể: 49
CHƯƠNG 3: NHẬN DẠNG VĂN HÓA QUẢN LÝ CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC VÀ NHÂN VĂN HÀ NỘI VỚI TƯ CÁCH LÀ MỘT TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 59
3.1 Đặc trưng văn hóa quản lý của Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn: 59
Trang 33.1.1 Biểu hiện trực quan và phi trực quan 62
3.1.2 Giá trị cốt lõi và Triết lý quản lý của trường Đại học KHXH&NV: 71
3.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình hình thành văn hoá quản lý của trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội 73
3.2.1 Đặc thù nguồn nhân lực KH&CN 73
3.2.2 Đặc điểm nhân lực khoa học xã hội và nhân văn: 74
3.2.3 Đặc điểm đội ngũ cán bộ quản lý: 76
3.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả của tổ chức KH&CN thông qua phát triển văn hoá quản lý trong quá trình hội nhập quốc tế 79
3.3.1 Những quan điểm cơ bản của việc phát triển văn hoá quản lý ở Việt Nam hiện nay 80
3.3.2 Những giải pháp chủ yếu đối với các tổ chức KH&CN Việt Nam: 82
3.3.3 Những giải pháp đối với Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn: 84
KẾT LUẬN 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ĐHKHXH&NV : Đại học Khoa học xã hội và nhân văn
ĐHQG : Đại học quốc gia
KH&CN : Khoa học và Công nghệ
KHXH&NV : Khoa học xã hội và nhân văn
NCKH : Nghiên cứu khoa học
R&D : Nghiên cứu và triển khai
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: số lượng các Viện NCPT giai đoạn 1960 – 1990: 40
Bảng 2.2: Danh mục các tổ chức khoa học và công nghệ trên địa bàn thành phố Cần Thơ 44
Bảng 3.1: số lượng nguồn nhân lực của trường ĐHKHXH&NV: 73
Bảng 3.2: Số lượng, độ tuổi cán bộ quản lý của Trường ĐHKHXH&NV: 76
Bảng 3.3: Tỷ lệ giới tính của vị trí Phó phòng, và BCN các Khoa: 77
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của Luận văn:
Trong sự biến đổi của thế giới, lĩnh vực văn hoá ngày càng có vai trò quan trọng, ngày càng xuất hiện những vấn đề mới cần được luận giải về mặt lý luận Khái niệm văn hoá rất đa dạng và phức tạp, bao gồm nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần Trong một vài thập kỷ trở lại đây, văn hoá được các nhà nghiên cứu về tổ chức và các nhà quản lý sử dụng để nói về môi trường hay một thực tế trong đó các cá nhân được liên kết với nhau Văn hoá quản lý là một trong những yếu tố thiết yếu để có được hiệu quả hoạt động, văn hoá càng mạnh thì tổ chức hoạt động càng hiệu quả
Lịch sử tư tưởng quản lý đã trải qua các thời kỳ quản lý chính trị, quản lý xí nghiệp theo khoa học trong đó con người được nhìn nhận ở thế bị động trong quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý Bước vào thế kỷ XXI, nhân loại đối mặt với bức tranh mới của thế giới: cách mạng thông tin, toàn cầu hoá, kinh tế tri thức…Tất cả những điều này đòi hỏi thế giới và con người phải cải biến một cách toàn diện hơn, sâu sắc hơn Có nghĩa là trong quản lý, cần có một cái nhìn mới, nhân bản hơn và chú trọng đến tính chủ động của con người – văn hoá quản lý - bởi nói tới văn hoá chính là nói tới ý thức, cái gốc tạo nên “tính người” cùng những gì thuộc về bản chất nhất làm cho con người trở thành chủ thể sáng tạo, năng động nhất trong cuộc sống, trong lao động sản xuất
Khía cạnh hấp dẫn của văn hoá nói chung và văn hoá quản lý nói riêng thể hiện
ở chỗ nó chỉ cho chúng ta thấy rằng đằng sau những biểu hiện bề ngoài là một sức mạnh vô hình to lớn, nó có thể điều khiển, hướng dẫn và chi phối hành vi của các thành viên trong tổ chức Khi chúng ta quan sát hành vi quản lý trong các loại hình tổ chức khác nhau, ta thấy giữa giám đốc một doanh nghiệp và một viện trưởng có cách hành xử khác nhau trong cùng tình huống quản lý tương tự nhau Ta có thể dễ dàng nhận ra những khác biệt văn hoá giữa các quốc gia và các dân tộc nhưng lại thấy chúng thật rắc rối tại cấp độ tổ chức hoặc các nhóm nghề nghiệp Văn hoá quản lý trong các loại hình tổ chức khác nhau sẽ mang những tính chất và hình thức biểu hiện riêng biệt Nghiên cứu để làm rõ văn hoá quản lý trong loại hình tổ chức khác nhau sẽ
Trang 7có thể giúp cho chính những cơ quan đó nhận ra được mặt mạnh, mặt yếu của mình, phát huy những truyền thống tốt đẹp, đem lại những động lực làm việc cho các thành viên, và tạo dựng được lợi thế cạnh tranh cho mình
Các tổ chức khoa học và công nghệ là một loại hình tổ chức đặc biệt, ra đời nhằm mục tiêu thực hiện công tác nghiên cứu và triển khai, chuyển giao công nghệ và thực hiện các dịch vụ khoa học và công nghệ Luật Khoa học và Công nghệ đã nhấn mạnh ngay từ những dòng đầu tiên rằng khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là nền tảng và động lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nhanh và bền vững đất nước Quá trình hoạt động và phát triển của hệ thống các tổ chức khoa học và công nghệ ở Việt Nam gắn liền với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, và mọi biến động của nó chịu sự điều tiết của cơ chế quản lý vĩ mô Tuy nhiên, quan trọng hơn tất cả, tổ chức khoa học và công nghệ là tổ chức của trí thức gồm các nhà khoa học và các nhà công nghệ Con người làm nên văn hoá Với tập thể những con người trí thức, và với đặc điểm thực tiễn của Việt Nam, văn hoá quản lý trong các tổ chức khoa học và công nghệ là gì?
Với hai chức năng cơ bản là đào tạo và nghiên cứu khoa học, trường đại học được xếp vào nhóm tổ chức nghiên cứu – triển khai trong hệ thống các tổ chức khoa học và công nghệ, và mang đầy đủ những đặc trưng cho tổ chức khoa học và công nghệ của Việt Nam Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia
Hà Nội là một trong những trung tâm đào tạo và nghiên cứu có uy tín nhất trên đất nước, có nhiệm vụ thực hiện và đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học cơ bản có trình độ đại học và trên đại học đáp ứng yêu cầu giảng dạy, nghiên cứu khoa học và công tác ở các trường đại học, các viện, các tổ chức xã hội nghề nghiệp, phục vụ sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ đất nước Trường có lịch sử phát triển lâu dài và nền tảng truyền thống vững chắc, từ đó hình thành nên những đặc trưng ổn định, một Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn giàu bản sắc truyền thống mà hiện đại, năng động và trí tuệ Trước yêu cầu phát triển cả quy mô và chất lượng của Nhà trường theo mô hình một đại học nghiên cứu có thứ hạng trong hệ thống các trường đại học ở Châu Á, hơn bao giờ hết, việc nhận diện văn hóa quản lý của trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn với tư cách một tổ chức khoa học và công nghệ nhằm hướng tới xây dựng và phát triển một
Trang 8nền văn hóa quản lý mạnh là yêu cầu cấp thiết cho sự phát triển bền vững của Nhà trường
Do đó, tác giả lựa chọn vấn đề về “Nhận diện văn hoá quản lý trong các tổ
chức khoa học và công nghệ (Nghiên cứu trường hợp: Trường Đại học Khoa học
xã hội và nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội)" nhằm chỉ ra những biểu hiện của văn
hoá quản lý trong các tổ chức này thông qua trường hợp của trường Đại học Khoa học
xã hội và nhân văn, đồng thời phát hiện ra bản chất cũng như quá trình hình thành nên nền văn hoá đặc biệt đó Kết quả nghiên cứu của Luận văn góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ thông qua việc quan tâm xây dựng văn hoá quản lý của tổ chức mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu :
Trong những năm qua, vấn đề văn hóa và văn hóa quản lý trong các tổ chức đã thu hút được sự quan tâm chú ý của các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước
Đối với các nghiên cứu nước ngoài, chưa bao giờ khái niệm văn hoá được đề
cập nhiều trong học thuật cũng như trong thực tế đời sống như hiện nay Từ những năm 70 của thế kỷ XX cho đến nay, văn hóa được đề cập đến dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, ở nhiều cấp độ khác nhau, trong nhiều lĩnh vực khác nhau và ngày càng được quan tâm nghiên cứu Các cuốn sách kinh doanh, quản lý bán chạy nhất trên thị trường đều ít nhiều đề cập đến những vấn đề văn hoá như văn hoá kinh doanh, văn hoá tổ chức, văn hoá quản lý, văn hoá lãnh đạo… Ta có thể dễ dàng bắt gặp hàng trăm
đầu sách như vậy mà tiêu biểu là các cuốn Tư duy lại tương lai (R.Gibson biên tập), Thế giới phẳng (Thomas L.Friedman), Bản sắc văn hoá doanh nghiệp (David H.Maister), Chinh phục các làn sóng văn hoá, Quản lý bằng giá trị, Những thách thức của quản lý trong thế kỷ 21 (Peter Drucker),… Ngoài ra còn rất nhiều cuốn sách được
đúc rút từ thực tiễn quản lý, cho ta cái nhìn cụ thể về văn hoá quản lý ở một lĩnh vực,
một tổ chức hay một cá nhân người lãnh đạo như Bí quyết hoá rồng (Lý Diệu Quang), Made in Japan: Akio Morita and the Sonny (Akia Morita), My life and work (Henry
Ford),… Từ nửa đầu thế kỷ XX, M.Weber đã đặt niềm tin vào một “thể chế lý tưởng”,
mà trong đó chúng ta có thể nhận ra mô hình văn hóa tổ chức mang những đặc trưng
Trang 9của nước Đức (The Theory of Social and Economic Organizations, New York, 1947)
Những vấn đề của văn hóa tổ chức cũng được đề cập khá đậm nét trong lý thuyết tổ
chức của C.I Barnard (The Functions of the Executive, 1938) Một số công trình đã đi
sâu vào việc nhìn nhận yếu tố văn hoá trong các loại hình tổ chức khác nhau trong đó
có cả lĩnh vực khoa học và công nghệ như cuốn Culture, leadership, and organizations (Global study); Science and Technology in multiculture world (David J.Jess),… Việc
làm rõ khái niệm văn hoá, văn hoá quản lý, văn hoá lãnh đạo trong từng lĩnh vực cụ thể giúp ta có sự so sánh, giải quyết được các nhiệm vụ riêng biệt đối với mỗi loại
Đối với các nghiên cứu trong nước, tuy các Hội thảo khoa học về văn hoá quản
lý và văn hoá kinh doanh được tổ chức đã được tổ chức khá nhiều, không một website
về quản lý, kinh doanh nào mà không đưa các bài về “làm thế nào để có văn hoá”, và hầu hết các tổ chức từ tư nhân lẫn nhà nước đều đang quảng bá thương hiệu qua văn hoá tổ chức mình nói chung và văn hoá quản lý nói riêng, nhưng các công trình nghiên cứu về vấn đề này không nhiều
Các nghiên cứu về về văn hoá tập trung nhiều ở các khía cạnh:
- Các vấn đề lý luận về văn hoá như cuốn Văn hoá - một góc nhìn (Hoàng Sơn Cường), Xã hội học Văn hóa (Đoàn Văn Chúc);
- Các vấn đề về văn hoá làng xã truyền thống như cuốn Làng xã Việt Nam Một
số vấn đề kinh tế-văn hoá-xã hội (Phan Đại Doãn);
- Quan niệm về văn hoá, văn hoá chính trị, văn hoá quản lý trong tư tưởng của
Hồ Chí Minh như Về tư tưởng Hồ Chí Minh (Võ Nguyên Giáp);
- Luận điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hoá, văn hoá lãnh đạo
quản lý như Chủ nghĩa Mác và vấn đề văn hoá Việt Nam;
- Các vấn đề liên quan đến văn hoá trong các tổ chức kinh doanh như Tinh thần doanh nghiệp – giá trị định hướng của văn hoá kinh doanh Việt Nam (Trần
Quốc Dân)
Những công trình nghiên cứu trên, nhìn chung đã bàn tới rất nhiều những khía cạnh, biểu hiện khác nhau của văn hóa nói chung và văn hóa quản lý nói riêng Các học giả đã đi sâu nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của các hệ giá trị, các
Trang 10chuẩn mực xã hội, vai trò của chúng trong quá trình quản lý, lãnh đạo, gắn với việc xây dựng môi trường văn hóa Triết lý văn hóa, hệ giá trị văn hóa, các chuẩn mực văn hóa, lối sống văn hóa là những cơ sở quan trọng cho việc xây dựng và phát triển văn hóa quản lý ở Viêt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế Hơn thế nữa, trong các công
trình nghiên cứu có liên quan, đề tài “Văn hóa quản lý - Truyền thống và Hiện đại”
(trong chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước KX.06) do cố giáo sư Nguyễn Hồng Phong thực hiện, là một tổng kết khá quan trọng, có những đóng góp lớn trong việc tổng kết mô hình văn hóa quản lý trong lịch sử, đề xuất mô hình văn hóa quản lý thống nhất giữa cái truyền thống, hiện đại hóa và chủ nghĩa xã hội
Gần đây, đã có một đề tài cấp nhà nước mã số KX03.21/06-20 về Đổi mới văn hoá quản lý tại Việt Nam do PGS.TS Phạm Ngọc Thanh, trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn làm chủ trì, nhưng đề tài này tương đối rộng và bao quát, nên vẫn cần
có những nghiên cứu sâu về các khía cạnh để góp phần xây dựng một hệ thống lý luận các vấn đề lý luận của văn hoá quản lý
Qua tổng quan tình hình nghiên cứu, ta rút ra được những nhận định như sau:
Các học giả nước ngoài đã nghiên cứu khá toàn diện, có các nghiên cứu đã đi sâu vào lĩnh vực quản lý, lãnh đạo, văn hoá quản lý, có ảnh hưởng tích cực tới thực tiễn quản lý ở các nước tư bản phát triển Nhưng những nghiên cứu đó cũng chưa thể
đề cập đến vấn đề văn hoá quản lý của Việt Nam; và đối với các nghiên cứu trong nước, còn thiếu những công trình làm rõ hệ thống khái niệm, phạm trù của văn hoá quản lý
Đang thiếu những công trình nghiên cứu chuyên sâu để làm rõ các biểu hiện của văn hoá quản lý trong các loại hình tổ chức của Việt Nam;
Các tác phẩm, công trình nghiên cứu liên quan thường tập trung vào các tổ chức kinh doanh hoặc hành chính, công vụ Nhưng văn hoá quản lý của các tổ chức khoa học và công nghệ dường như chưa được quan tâm đúng mức, mặc dù trong thời gian gần đây, các tổ chức khoa học và công nghệ xuất hiện ngày càng nhiều, với các hình thức đa dạng , mang lại những tác động không nhỏ cho xã hội
Do đó, đề tài luận văn có ý nghĩa lý luận, góp phần bổ sung và hoàn thiện khái niệm văn hoá quản lý, nhất là qua tiếp cận khoa học tổ chức và tiếp cận nghề nghiệp
Trang 11Đồng thời, luận văn có ý nghĩa thực tiễn cao khi làm rõ các biểu trưng văn hoá trong các tổ chức khoa học và công nghệ góp phần giải quyết nhiều vấn đề vướng mắc về nhận thức các ứng xử văn hoá trong các tình huống quản lý tại các tổ chức này
3 Mục tiêu nghiên cứu:
Trên cơ sở lý luận chung về tổ chức khoa học và công nghệ và lý luận về văn hóa quản lý, luận văn tập trung nhận diện những biểu hiện văn hóa quản lý trong trong các tổ chức khoa học và công nghệ; từ đó đánh giá thực trạng văn hoá quản lý của các
tổ chức khoa học và công nghệ qua việc chỉ ra nguyên nhân hình thành và những hạn chế, nhược điểm của nó Tác giả đi sâu vào nghiên cứu trường hợp cụ thể (Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn) nhằm làm rõ hơn những vấn đề chung của Luận văn
Để thực hiện các mục tiêu đã xác định của Luận văn, các nhiệm vụ chính cần thực hiện là:
Làm rõ các khái niệm quản lý, văn hoá quản lý và tổ chức khoa học và công nghệ; luận chứng sâu sắc thêm vai trò của văn hóa trong quản lý, tác động sâu sắc và toàn diện của văn hóa quản lý đối với sự tồn tại và phát triển của tổ chức
Phân tích các biểu hiện của văn hoá quản lý trong các tổ chức khoa học
và công nghệ bao gồm:
+ Triết lý + Phong cách quản lý + Hệ giá trị quản lý + Các biểu hiện hữu hình và vô hình
Nhận diện và đánh giá văn hoá quản lý của Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn;
Đưa ra những khuyến nghị cần thiết để xây dựng văn hoá quản lý vững mạnh đối với các tổ chức khoa học và công nghệ nói chung, và Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn nói riêng
Trang 124 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Những biểu hiện văn hóa quản lý trong các tổ chức
khoa học và công nghệ
- Phạm vi nội dung: nghiên cứu những biểu hiện của văn hoá quản lý trong các
tổ chức khoa học và công nghệ Việt Nam
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu trường hợp Trường Đại học Khoa học xã hội
và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
- Phạm vi thời gian: tập trung nghiên cứu chủ yếu các quá trình diễn ra từ năm
6 Giả thuyết nghiên cứu:
- Bên cạnh những đặc trưng của văn hoá nói chung, văn hoá quản lý của các tổ chức KH&CN nổi bật ở tính công quyền (đối với các tổ chức công lập) hoặc chịu sự giám sát chặt chẽ của Nhà nước (đối với các tổ chức ngoài công lập), tính hành chính cao, tính nghề nghiệp, và đang từng bước thiết lập cơ chế để đảm bảo sự tôn trọng đối với các quy tắc, chuẩn mực chung của thế giới
- Văn hoá quản lý của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG HN) cũng mang đầy đủ những đặc trưng trên, nhưng có những nét riêng về triết lý quản lý, hệ giá trị, phong cách quản lý và các đặc trưng trong hoạt động chức năng của một trường Đại học hàng đầu của đất nước trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn
7 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu:
7.1 Các cách tiếp cận:
Trang 13- Cách tiếp cận hệ thống: Đâylà cách tiếp cận phức hợp các yếu tố có liên quan
với nhau một cách nhân quả tạo ra chỉnh thể thống nhất, xem xét văn hoá quản lý trong bối cảnh của một tổ chức khoa học và công nghệ, trong mối quan hệ giữa các hình thức văn hoá khác, xem xét mối quan hệ giữa biểu hiện bề ngoài với mối liên hệ bên trong để tìm ra bản chất của sự việc
- Cách tiếp cận tổ chức học: Từ những đặc trưng cơ bản của một tổ chức khoa
học và công nghệ, chỉ ra mối liên hệ giữa văn hoá và cấu trúc tổ chức
- Cách tiếp cận lịch sử: Nghiên cứu phải được đặt trong điều kiện lịch sử cụ thể
về thời gian và không gian, tình hình phát triển của Việt Nam nói chung và các tổ chức khoa học và công nghệ nói riêng Cách tiếp cận này cũng cho chúng ta thấy văn hoá quản lý trong các tổ chức khoa học và công nghệ luôn có sự kế thừa, và học hỏi
- Cách tiếp cận văn hoá học: từ góc nhìn văn hoá, các chuẩn mực văn hoá, các
giá trị văn hoá, truyền thống văn hoá và lối ứng xử văn hoá để tham chiếu hoạt động quản lý trong các tổ chức khoa học và công nghệ
7.2 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích tài liệu:
Phân tích các nguồn tư liệu, số liệu về Văn hoá quản lý, tổ chức khoa học và
công nghệ và hoạt động của trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn trên cơ sở các nguồn:
+ Các báo cáo và thống kê của Chính phủ và Bộ Khoa học và Công nghệ,
+ Các báo cáo của Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn,
+ Các công trình khoa học đã công bố liên quan đến vấn đề,
Đặc biệt, Luận văn có sử dụng số liệu điều tra khảo sát về văn hóa quản lý của
Đề tài cấp nhà nước mã số KX03.21/06-20 về Đổi mới văn hoá quản lý tại Việt Nam hiện nay
- Phương pháp quan sát: Phương pháp quan sát được vận dụng xuyên suốt
trong quá trình nghiên cứu, nhằm bổ trợ cho các phương pháp khác, đặc biệt trong việc phát hiện vấn đề và phát huy tác dụng cao đối với việc nghiên cứu những vấn đề như
văn hóa giao tiếp, hội họp, đồng phục, logo, khẩu hiệu
Trang 14- Phương pháp chuyên gia: Luận văn trưng cầu ý kiến chuyên gia về vấn đề lý
luận văn hóa quản lý và đánh giá thực trạng văn hóa quản lý trong Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, về giải pháp giữ gìn và phát huy những nhân tố tích cực trong mô hình văn hóa quản lý của một tổ chức khoa học và công nghệ
8 Ý nghĩa của Luận văn:
Ý nghĩa lý luận:
Luận văn góp phần bổ sung và hoàn thiện hệ thống khái niệm về văn hoá quản
lý, và đưa ra một nghiên cứu trường hợp để làm sáng tỏ những nhận định về các biểu hiện văn hoá trong loại hình tổ chức khoa học và công nghệ
Ý nghĩa thực tiễn:
Luận văn có thể sử dụng tài liệu tham khảo cho nghiên cứu lý luận phục vụ môn Văn hoá đạo đức quản lý dành cho đào tạo cử nhân ngành Khoa học quản lý và đào thạc thạc sĩ ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ;
Kết quả nghiên cứu của Luận văn góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ thông qua việc quan tâm xây dựng văn hoá quản lý của tổ chức mình, xây dựng và phát triển đội ngũ nhân sự đầy đủ tài và đức
Luận văn có thể sử dụng được vào quá trình hoạch định chính sách khoa học và
công nghệ
9 Kết cấu Luận văn
Chương 1: Lý luận về tổ chức KH&CN và văn hoá quản lý
1.1.Lý luận về tổ chức KH&CN
1.1.1 Khái niệm tổ chức KH&CN
1.1.2 Phân loại và đặc trưng của tổ chức KH&CN
1.2 Lý luận chung về văn hoá quản lý
1.2.1 Khái niệm văn hoá và văn hoá quản lý
1.2.2 Các thành tố cấu thành văn hoá quản lý
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình hình thành văn hoá quản lý
Trang 15Chương 2 Những đặc trưng cơ bản của văn hoá quản lý trong các tổ chức khoa học và công nghệ
2.1.Lịch sử hình thành và đặc điểm của hệ thống tổ chức khoa học và công nghệ của Việt Nam
2.2 Từ triết lý quản lý đến các biểu hiện cụ thể
Chương 3: Nhận dạng văn hoá quản lý của Trường Đại học Khoa học xã hội
và Nhân văn Hà Nội với tư cách là một tổ chức KH&CN
3.1 Những đặc trưng của Văn hoá quản lý
3.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình hình thành văn hoá quản lý của trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội
3.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả của tổ chức KH&CN thông qua phát triển văn hoá quản lý trong quá trình hội nhập quốc tế
Trang 16CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
VÀ VĂN HÓA QUẢN LÝ 1.1.Lý luận về tổ chức KH&CN
1.1.1 Khái niệm tổ chức KH&CN
Khái niệm Tổ chức:
Có nhiều định nghĩa khác nhau về danh từ “Tổ chức” Trước hết, ta phải kể đến một định nghĩa mang tính triết học sâu sắc: “Tổ chức nói rộng là cơ cấu tồn tại của sự vật Sự vật không thể tồn tại mà không có một hình thức liên kết nhất định các yếu tố thuộc nội dung Tổ chức vì vậy là thuộc tính của bản thân các sự vật” [2, tr.24] Định nghĩa này bao quát cả phần tự nhiên và xã hội loài người
Theo ngôn ngữ thông thường, tổ chức thường được định nghĩa như là tập hợp của nhiều người, nhiều nhóm người cùng hoạt động trong những hình thái cơ cấu nhất định nhằm thực hiện những mục tiêu chung mà nếu chỉ một người hay một nhóm người thì không thể thực hiện được Với cách định nghĩa đơn giản như vậy, thì các tổ chức rõ ràng rất đa dạng và khác nhau về mục đích tồn tại và phương thức hoạt động Tuy nhiên, mọi tổ chức là một thực thể xã hội do các cá nhân hoặc các nhóm kết hợp
để thực hiện mục tiêu chung đều có những đặc trưng cơ bản sau:
+ Tổ chức được tạo ra nhằm thực hiện các mục tiêu chung của cộng đồng Nghĩa là các tổ chức phải phục vụ cho các mục tiêu xác định chứ không thể tùy ý hành động Ngay cả các công ty tư nhân, các tập đoàn đa quốc gia, mục tiêu của nó là tổ hợp nhiều mục tiêu hợp thành nhưng vẫn phải chịu sự chi phối của các quy luật xã hội, thống nhất với mục đích chung của toàn thể cộng đồng, chịu trách nhiệm xã hội với hoạt động của mình
+ Có cơ cấu tổ chức, phân công lao động Nghĩa là mọi người tham gia vào tổ chức được phân công vào những vị trí, bộ phận khác nhau đảm nhận các chức năng khác nhau phù hợp với yêu cầu của tổ chức, trình độ và năng lực cá nhân Tổ chức càng phát triển thì phân công lao động càng triệt để
Trang 17+ Có một ban quản lý Ban quản lý có bổn phận đại diện cho công đồng với công việc trong và ngoài tổ chức Ban quản lý chịu trách nhiệm đảm bảo sự điều phối
và thực hiện mục tiêu của tổ chức
+ Môi trường của tổ chức: Tổ chức gắn chặt các hệ thống kinh tế xã hội nơi nó đang tồn tại, mục tiêu của tổ chức có thực hiện được hay không còn tùy thuộc vào hệ thống kinh tế xã hội mà ta gọi là môi trường của tổ chức
Trong xã hội hiện đại, các tổ chức đang tồn tại thật vô cùng đa dạng và phong phú Chúng có thể khác nhau khi trả lời các câu hỏi: Ai nắm quyền sở hữu tổ chức? Tổ chức được tạo nên vì mục đích của tổ chức là gì? Các mối quan hệ trong tổ chức có thể hiện rõ ràng hay không? Dẫn đến việc phân loại các tổ chức có nhiều quan điểm khác,
và dẫn tới sự thành của nhiều tổ chức mới Gabriel (1976) trong tác phẩm Tổ chức và chuyển đổi xã hội đã viết "Tổ chức là một sản phẩm của quá trình chuyển đổi xã hội –
nếu xét về sự mở rộng về số lượng và cơ cấu chất lượng – và có thể được coi là một đại lượng quan trọng của sự chuyển đổi xã hội" Sự tiến hóa và phát triển của tổ chức luôn gắn liền với những biến đổi của trật tự kinh tế xã hội và tác động vào quá trình hình thành của chính trật tự đó Nhìn vào lịch sử, sự tiến triển của tổ chức gắn với quá trình công nghiệp hóa tạo ra những biến đổi sâu sắc của xã hội trên phạm vi toàn cầu Hình thành các tổ chức mới như nhà máy công nghiệp, tập đoàn đa quốc gia, các tổ chức phi chính phủ, Bên cạnh đó, sự phát triển của khoa học và công nghệ, khiến các
tổ chức khoa học và công nghệ ngày càng hiện rõ hơn, thành một loại hình tổ chức được gọi tên chính thức trong hệ thống các tổ chức, thậm chí ở các nước đang phát triển Nghiên cứu và nhận thức về tổ chức khoa học và công nghệ sẽ giúp ta nắm bắt
và phát huy được những điểm mạnh của tổ chức trong lĩnh vực này Vậy tổ chức khoa học và công nghệ là gi? Trước hết, ta cần hiểu về hoạt động Khoa học và công nghệ
Hoạt động Khoa học và công nghệ
Francis Bacon, triết gia lớn người Anh đã từng tiên đoán: "Khoa học là sức mạnh" Lời tiên đoán đó đã được thể nghiệm trong đời sống của khoa học trong xã hội đương đại, nhất là từ khi cuộc cách mạng công nghiệp bắt đầu bùng nổ với những thành tựu của nền cơ học cổ điển Tiếp đó những cuộc cách mạng công nghệ liên tục xuất hiện trong lịch sử Khoa học và công nghệ ngày càng chứng tỏ sức mạnh vượt
Trang 18qua những câu chuyện trong các tiểu thuyết viễn tưởng và ngay cả sức tưởng tượng của những nhà khoa học tài ba nhất Hoạt động nghiên cứu khoa học làm phát triển kho tàng tri thức của nhân loại, đặt nền tảng cho sự phát triển của những nguyên lý công nghệ Đến lượt công nghệ lại đóng vai trò thúc đẩy sản xuất phát triển, đem lại những tác động sâu xa đến những biến đổi trong cơ cấu xã hội, trong truyền thống văn hóa
Trong gần 3 thập niên qua, nhiều cải cách trong lĩnh vực KH&CN bắt nguồn từ thực tế của nền kinh tế và xã hội nước ta, đã được thực hiện Hoạt động KH&CN đã trở thành một sự nghiệp mà mọi công dân và tổ chức, mọi thành phần kinh tế đều có
quyền tham gia Về bản chất, hoạt động này bao gồm "hoạt động khoa học" và "hoạt động công nghệ" Như vậy, xác định được đúng nội dung của "hoạt động khoa học" và
"hoạt động công nghệ" có một ý nghĩa thiết thực rất lớn
Luật Khoa học và công nghệ năm 2000 đã xác định (Điều 2):
Khoa học là hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên,
xã hội và tư duy Như vậy khoa học là sản phẩm của con người trong hoạt động sản
xuất tri thức
Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm Định nghĩa này nhấn
mạnh vào dạng thức cụ thể của công nghệ và/hoặc vật mang kiến thức công nghệ đó
Như vậy, hoạt động KH&CN bao gồm nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ KH&CN, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển KH&CN
Hoạt động KH&CN đề cập trong Luận văn này bao gồm các hoạt động KH&CN nêu trong Điều 2, điểm 3 của Luật KH&CN năm 2000, cụ thể:
- Nghiên cứu khoa học là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự
vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn Nghiên cứu khoa học bao gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng;
Trang 19- Phát triển công nghệ là hoạt động nhằm tạo ra và hoàn thiện công nghệ
mới, sản phẩm mới Phát triển công nghệ bao gồm triển khai thực nghiệm và sản xuất thử nghiệm;
- Triển khai thực nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa
học để làm thực nghiệm nhằm tạo ra công nghệ mới, sản phẩm mới; Mục tiêu của hoạt động khoa học và công nghệ là xây dựng nền khoa học và công nghệ tiên tiến, hiện đại để phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao trình độ quản lý; sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường; đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng
con người mới Việt Nam; góp phần phát triển nhanh, bền vững kinh tế - xã hội, nâng
cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh
Do đó, Hoạt động khoa học và công nghệ có các nhiệm vụ sau đây:
Vận dụng sáng tạo và phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng
Hồ Chí Minh; xây dựng lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam; xây dựng luận cứ khoa học cho việc định ra đường lối, chính sách, pháp luật về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh; góp phần xây dựng nền giáo dục tiên tiến, xây dựng con người mới Việt Nam; kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống của văn hoá dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại và đóng góp vào kho tàng văn hoá, khoa học của thế giới;
Nâng cao năng lực khoa học và công nghệ để làm chủ các công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, các phương pháp quản lý tiên tiến; sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khoẻ của nhân dân; dự báo kịp thời, phòng, chống, hạn chế và khắc phục hậu quả thiên tai;
Tiếp thu các thành tựu khoa học và công nghệ của thế giới để tạo ra, ứng dụng
có hiệu quả các công nghệ mới; tạo ra sản phẩm mới có sức cạnh tranh cao; phát triển nền khoa học và công nghệ Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực, tiếp cận với trình độ thế giới, làm cơ sở vững chắc cho việc phát triển các ngành công nghiệp hiện đại; đẩy mạnh việc phổ biến và ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất và đời sống
Trang 20Tổ chức Khoa học và công nghệ:
Tổ chức khoa học và công nghệ có thể được định nghĩa như sau:
“Tổ chức khoa học và công nghệ là tổ chức được thành lập theo quy định của Luật Khoa học và công nghệ và pháp luật có liên quan để tiến hành hoạt động khoa học và công nghệ” [22, tr 29]
Tổ chức KH&CN là những hình thức tập hợp các nhà khoa học, các nhà công nghệ để tiến hành hoạt động KH&CN Do đó có bao nhiêu loại hoạt động KH&CN thì
có bấy nhiêu loại tổ chức KH&CN
Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, tầm quan trọng của các tổ chức KH&CN đã được thừa nhận rộng rãi Số lượng các tổ chức khoa học và công nghệ lúc ban đầu còn
ít, nhưng giờ đây nó đã tăng mạnh về số lượng và loại hình.Tổ chức khoa học và công nghệ cao, quy mô lớn lần đầu tiên xuất hiện năm 1951.Đó là các công ty hoạt động trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu, đặt tại thung lũng Silicone, bang California, Mỹ, từ
đó hình thành nên một khu nghiên cứu (research park) Sau đó, mô hình này được học
hỏi và phát triển ở nhiều nơi như Thành phố Khoa học Akademgodorok tại Siberia, Liên Xô (1975), Sophia Antipolis tại Nice, Pháp (1970) và công viên khoa học Cambrigde tại Herriot Watt, Anh Ước tính số lượng các khu nghiên cứu và công nghệ như vậy trên thế giới đạt gần 1,000 vào năm 1996 [35, tr.5]
Căn cứ vào nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh
và kế hoạch phát triển khoa học và công nghệ của từng thời kỳ, ở Việt Nam, Chính phủ quy hoạch hệ thống các tổ chức khoa học và công nghệ trong cả nước để bảo đảm phát triển đồng bộ các lĩnh vực khoa học và công nghệ, thực hiện có hiệu quả các hoạt động khoa học và công nghệ
1.1.2 Phân loại và đặc trưng của tổ chức KH&CN
Có nhiều cách phân loại Tổ chức khoa học và công nghệ khác nhau, tuỳ theo mục tiêu đã định Thông thường có một số phân loại sau:
Phân loại theo lĩnh vực khoa học và công nghệ có thể chia các loại hình sau:
Khoa học tự nhiên; Khoa học kỹ thuật (công nghệ); Khoa học xã hội và nhân văn; Khoa học nông nghiệp; Khoa học y dược
Trang 21Phân loại theo các khâu của chu trình "Nghiên cứu - sản xuất": Tổ chức khoa
học và công nghệ nghiên cứu cơ bản; Tổ chức khoa học và công nghệ nghiên cứu ứng dụng (công nghệ); Tổ chức thử nghiệm (lô nhỏ và lô công nghiệp), trạm, trại; Tổ chức dịch vụ KH&CN
Phân loại theo cấp quản lý: Tổ chức khoa học và công nghệ cấp quốc gia: Các
Trung tâm KH-CN quốc gia; Tổ chức khoa học và công nghệ cấp bộ và ngang bộ; Tổ chức khoa học và công nghệ cấp cơ sở
Phân loại theo chủ thể sở hữu: Tổ chức khoa học và công nghệ thuộc khu vực
Nhà nước; Tổ chức khoa học và công nghệ thuộc khu vực tư nhân; Tổ chức khoa học
và công nghệ thuộc khu vực tập thể; Tổ chức khoa học và công nghệ đa quốc gia
Phân loại theo Luật khoa học công nghệ của Việt Nam: Tổ chức nghiên cứu
khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển; Trường đại học, học viện, trường cao đẳng; Các tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ
Về đặc trưng, trước hết các tổ chức khoa học và công nghệ hướng hoạt động việc tìm tòi, khám phá quy luật vận động của các sự vật và hiện tượng xung quanh chúng ta, từ quy luật vận động của tự nhiên cho đến quy luật vận động của xã hội, và sau hết là quy luật vận động của bản thân con người, từ con người sinh học, cho đến con người xã hội; đổi mới, tổ chức, mở rộng và thay thế các phương pháp, quy trình,
kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm
Xét về đặc điểm nhân lực, thì tất cả những người tham gia vào hoạt động khoa học và công nghệ đều thuộc nhóm nhân lực có trình độ cao, thuộc nhóm tinh hoa của
xã hội mà ta gọi là cộng đồng khoa học và các nhà công nghệ Họ nằm rải rác trong các nhóm xã hội, khu vực địa lý và các ngành hoạt động khác nhau trong xã hội
Xét bản chất kinh tế, các quốc gia trên thế giới đều thống nhất quan điểm: các
tổ chức KH&CN, giáo dục, y tế nói chung là các "tổ chức phi vị lợi" Các tổ chức KH&CN hoạt động có mục đích kinh tế thì chúng không chia lãi cho các thành viên,
mà lợi nhuận thu được nhằm để mở rộng phạm vi và quy mô hoạt động của mình Các thành viên chỉ nhận lương Các nhà nước thường không đánh thuế hoặc đánh thuế rất nhẹ hoạt động dịch vụ của các tổ chức này Tuy nhiên, không phải tất cả các tổ chức
Trang 22KH&CN đều được xếp vào loại "phi vị lợi" Nếu là các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực KH&CN thì đó là nó cũng được xếp vào loại hình tổ chức kinh tế và hoạt động theo luật Doanh nghiệp
Tại Việt Nam, các tổ chức KH&CN cần phải đảm bảo các nguyên tắc đặc thù trong các hoạt động của mình, bao gồm:
- Hoạt động khoa học và công nghệ phải phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh
tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh;
- Xây dựng và phát huy năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ kết
hợp với việc tiếp thu có chọn lọc các thành tựu khoa học và công nghệ của thế giới, phù hợp với thực tiễn Việt Nam;
- Kết hợp chặt chẽ khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ với
khoa học xã hội và nhân văn; gắn nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ với giáo dục và đào tạo, với hoạt động sản xuất, kinh doanh
và phát triển thị trường công nghệ;
- Phát huy khả năng lao động sáng tạo của mọi tổ chức, cá nhân;
- Trung thực, khách quan, đề cao đạo đức nghề nghiệp, tự do sáng tạo, dân
chủ, tự chủ, tự chịu trách nhiệm
1.2 Lý luận chung về văn hoá quản lý
1.2.1 Khái niệm văn hoá quản lý
“Văn hoá” là thuật ngữ được mọi người sử dụng khá phổ biến trong đời sống hằng ngày Trước thái độ hay cách ứng xử của ai đó con người thường đánh giá nó là văn hoá hay không văn hoá Nhưng có lẽ để hiểu được rõ ràng thế nào là văn hoá thì không ít người lúng túng trước điều này
Ở phương Đông, thuật ngữ “văn hoá” xuất hiện khá sớm Từ trước Công nguyên, Lưu Hướng (76- 6 TCN) được coi là người đầu tiên dùng thuật ngữ này Ông
đã lấy từ „văn” và từ “hoá” trong quẻ bí sách Chu dịch: “quan hồ nhân văn dĩ hoá thành thiên hạ” có nghĩa là xem dáng vẻ bên ngoài mà giáo hoá thiên hạ Ở đây, “văn hoá = văn trị + giáo hoá” có nghĩa là trong đời sống, tổ chức cần quản lý con người bằng cái đẹp về nhân văn, đối lập với tư tưởng quản lý con người bằng bạo lực Ngày
Trang 23nay, rất nhiều các tổ chức đang cố gắng xây dựng một nền văn hoá cho mình và không
ít trong số đó đã đạt được những thành công lớn nhờ điều này
Ở phương Tây, văn hoá trong tiếng Anh và tiếng Pháp có nghĩa là “culture”, trong tiếng Đức là “kultur”, tiếng Nga là “kultura” Những từ này có nguồn gốc Latin
là “cultus animi” có nghĩa là trồng trọt tinh thần Như vậy chữ này có hai khía cạnh:
một là trồng trọt, thích ứng với tự nhiên, khai thác tự nhiên; hai là giáo dục và đào tạo
cá thể hay cộng đồng để họ không còn là con vật tự nhiên và có những phẩm chất tốt đẹp
Trái hẳn với sự xuất hiện lâu đời ở phương Đông, thuật ngữ “văn hoá” ở phương Tây mới được sử dụng phổ biến từ những năm 20 thế kỷ XIX Người ta mới chấp nhận từ này trong Từ điển tiếng Anh và tiếng Pháp cũng trong cùng thời gian này Khi lần đầu tiên đưa ra khái niệm văn hoá ở phương Tây, E B Taylor cho rằng văn hoá hay nền văn minh là cái toàn thể phức tạp gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, pháp luật, đạo đức, phong tục, tất cả bí quyết và thói quen của con người với tư cách là một thành viên của xã hội Taylor và nhiều học giả khác cho rằng văn hoá hay văn minh thế giới có thể phân loại từ trình độ cao đến thấp và văn hoá của họ chiếm vị trí cao nhất Họ cho rằng bản chất của văn hoá hướng về trí lực và sự vươn lên, sự phát triển tạo thành văn minh Quan niệm này đã phủ nhận toàn bộ những giá trị tinh thần của con người trong quá trình sinh sống
Có lẽ không có thuật ngữ nào có nhiều định nghĩa như thuật ngữ “văn hoá” Ngay từ năm 1952, hai nhà nhân loại Mỹ Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn đã từng thống kê có tới hơn ý đồ 300 định nghĩa khác nhau về văn hoá và phân tích 164 định
nghĩa trong cuốn sách Culture: A Critical Review of Concepts and Definition và đã trở
thành tác phẩm nổi tiếng nghiên cứu về văn hoá Văn hoá được đề cập đến trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu như dân tộc học, nhân loại học, dân gian học, địa văn hoá học, văn hoá học, xã hội học… Đến thời điểm hiện nay chắc chắn rằng số lượng không chỉ dừng lại ở con số trên Mỗi người có một cách nhìn nhận, đánh giá văn hoá dưới một góc độ, khía cạnh riêng
Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về
Trang 24ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức
là văn hoá” [15, tr.431] Cái nhìn về văn hoá của Người thể hiện khá toàn diện Ngôn
ngữ song song với chữ viết, đạo đức nhưng lại có pháp luật đi kèm, không phải vì khoa học mà phủ nhận tôn giáo, văn học phải có nghệ thuật Người đã xác định các tiêu chí để xác định văn hoá, văn hoá là những gì mà con người sáng tạo ra nhưng không phải tất cả những gì con người sáng tạo ra đều là văn hoá, chỉ những gì được sáng tạo ra vì sự tồn tại, phát triển của con người mới được coi là văn hoá Hơn nữa trong cách nhìn của Hồ Chí Minh ta còn thấy thể hiện tinh thần khoan dung văn hoá Văn hoá được hình thành trên cơ sở phương thức sống của cộng đồng người và các cộng đồng khác nhau thì các giá trị cũng khác nhau, không để áp đặt phương thức sống cũng như các giá trị của cộng đồng này lên một cộng đồng khác Thừa nhận sự khác biệt trong văn hoá là một cách nhìn rất tiến bộ Khái niệm về văn hoá được Người đưa
ra từ rất lâu nhưng đến hiện nay nó vẫn được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá rất cao
Tích hợp quan điểm Đông – Tây, UNESCO đã đưa ra định nghĩa: “văn hoá hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội Văn hoá bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng Văn hoá đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân Chính văn hoá làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lí tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lí Chính nhờ văn hoá mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân”.[30]
Như vậy, văn hoá không phải là một lĩnh vực riêng biệt Nó bao gồm những giá trị vật chất và tinh thần: Giá trị vật chất là những di sản vật thể như đình, chùa, đền, miếu, lăng, mộ… Những di sản văn hoá tinh thần là những di sản vô hình được lưu truyền từ đời này qua đời khác, phổ biến trong cộng đồng người Nó bao gồm âm nhạc, những điệu hát, điệu múa, phong tục tập quán lễ hội, các nghề truyền thống… Hai phần này không tách riêng biệt mà gắn bó với nhau, lồng vào nhau, tồn tại cùng nhau
Trang 25Văn hoá là sản phẩm do con người sáng tạo có từ thuở bình minh của xã hội loài người Mọi thứ có thể theo thời gian mà mất đi nhưng những gì còn lại chính là văn hoá Qua hàng ngàn năm sinh tồn và phát triển, loài người đã hình thành vô vàn những giá trị văn hoá Khi nhắc tới văn hoá chúng ta thường ám chỉ tới mô hình phát triển mà hệ thống nhận thức, ý thức hệ, các giá trị, các quy luật về nghi lễ hàng ngày của một xã hội phản ánh trong mô hình đó, các tổ chức đó làm nổi lên sự tinh tế và giá trị của các hệ giá trị, các tập quán, các quan hệ xã hội trong tổ chức này Như vậy, những xã hội khác nhau với trình độ phát triển khác nhau thì văn hoá cũng khác nhau Thậm chí những tổ chức tồn tại trong một xã hội, những con người cùng trong một tổ
chức cũng sẽ có những giá trị, chuẩn mực, niềm tin khác nhau Văn hoá in dấu ấn lên
tổ chức và góp phần tạo nên tính đa dạng của tổ chức và sự đa dạng đó cũng được thể hiện ở cả các thành viên trong tổ chức
Quản lý là một hoạt động thực tiễn đặc biệt của con người, trong đó các chủ thể tác động lên các đối tượng bằng các công cụ và phương pháp khác nhau, thông qua quy trình quản lý nhất định, nhằm thực hiện một cách hiệu quả nhất các mục tiêu của tổ chức trong điều kiện biến động của môi trường
Quản lý và văn hoá là hai lĩnh vực hoạt động rất đặc biệt của nhân loại Cả hai đều xuất hiện ngay từ khi con người có nhu cầu liên kết và phối hợp để cùng tồn tại và phát triển Ra đời vì nhu cầu sinh tồn, và các nhu cầu khác của cuộc sống, quản lý và văn hoá đều phát triển “vị con người”; thích nghi, biến đổi và phát triển cũng theo cùng sự vận động phát triển của loài người Nấc thang phát triển của nhận thức con người đã khám phá ra vai trò của hai yếu tố này trong nhau, hình thành dần dần những
khía cạnh về một chỉnh thể: Văn hoá quản lý
Không phải ngay từ đầu vấn đề văn hoá đã trở thành mối quan tâm của quản lý,
và cũng không phải ngay từ đầu vấn đề văn hoá quản lý đã trở thành một bộ phận quan trọng trong hệ thống văn hoá Sự kết hợp diễn ra như là một quá trình phát triển tất yếu của xã hội loài người nói chung, cũng như của từng lĩnh vực nói riêng Lúc đầu, văn hoá được các nhà quản lý sử dụng như một động lực nâng cao hiệu quả hoạt động Dần dần, trong hoạt động thực tiễn của các tổ chức, đã từng bước hình thành những đặc trưng văn hoá trong quản lý Bên cạnh đó, quản lý là hoạt động lao động chủ yếu của loài người, đặc biệt là ngày càng phát triển trong cuộc sống hiện đại, do đó, văn hoá
Trang 26cũng không thể không bao trùm lên hoạt động này Văn hoá quản lý là một biểu hiện sinh động trong hệ thống đa dạng của đời sống văn hoá
Văn hoá quản lý nhìn chung thể hiện qua những khía cạnh của quản lý sau:
Văn hoá quản lý qua phong cách quản lý: Đó là văn hoá được thể hiện thông
qua cách thức xây dựng văn hoá tổ chức của người quản lý Theo Hồ Chí Minh, văn hoá của người quản lý được thể hiện trong những phẩm chất cơ bản: “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, vừa là lãnh đạo, vừa là công bộc của nhân dân Ngày nay, bên cạnh những yếu tố đó, quá trình hội nhập, sự tồn tại khách quan, tất yếu của nền kinh tế tri thức đòi hỏi người quản lý phải có trình độ thích hợp về kinh tế, xã hội, khoa học kỹ thuật, đủ bản lĩnh để đương đầu với những cám dỗ của xã hội hiện đại và tạo dựng quan hệ tốt đẹp giữa quản lý và nhân viên cấp dưới Văn hoá này được xây dựng dựa trên nhiều yếu tố như: ứng
xử với quyền lực, với các lợi ích, trong các quan hệ cá nhân, tập thể, cộng đồng, trong quan hệ quốc tế, trình độ năng lực của chủ thể quản lý
Văn hoá quản lý trong phương thức quản lý: Cùng một vấn đề nhưng những
nhà quản lý khác nhau có thể thực hiện những phương pháp giải quyết khác nhau cùng nhằm đến mục tiêu chung của quản lý Phương thức quản lý đúng đắn sẽ không chỉ tiết kiệm được chi phí, thời gian và công sức mà còn thể hiện cho một văn hoá quản lý của các chủ thể trong quá trình hoạt động thực tiễn của mình Có ba phương thức quản lý cơ bản: phương thức chuyên quyền, phương thức dân chủ và phương thức tự do Nhà quản lý lựa chọn phương thức hợp lý
để vận dụng ứng xử trong các tình huống cụ thể
Văn hoá quản lý trong các hoạt động cơ bản của quá trình hoạt động quản lý:
dù đề cập đến vấn đề nào của văn hoá cũng không thể không chú trọng đến khía cạnh thực tiễn văn hoá ấy biểu hiện như thế nào Trong quá trình hoạt động quản lý từ bước lập kế hoạch, tổ chức, biên chế, lãnh đạo và kiểm tra, văn hoá như một hệ giá trị được biểu hiện ở khả năng điều hành công việc, xử lý các mối quan hệ trong tổ chức, bao quát môi trường tác động vào tổ chức và cải biến phong cách quản lý Văn hoá thấm sâu trong các lớp của quá trình quản lý,
là đích tới của quản lý, đồng thời là động cơ thúc đẩy cho hoạt động này diễn ra một cách hiệu quả
Trang 27Cũng như định nghĩa văn hoá, khái niệm văn hoá quản lý cho đến nay được hiểu theo nhiều cách khác nhau Dựa trên các tiếp cận văn hoá và quản lý, khát quát
hoạt động thực tiễn, ta có thể hiểu Văn hoá quản lý là hệ thống những ý nghĩa, giá trị,
niềm tin chủ đạo, với những biểu trưng khác nhau, được các chủ thể tham gia quá trình quản lý cùng đồng thuận, có ảnh hưởng ở phạm vi rộng lớn đến cách thức hành động của toàn bộ thành viên trong tổ chức, nhằm đạt được các mục tiêu quản lý đã đặt ra.[23, tr.27]
Bên cạnh khái niệm văn hoá quản lý, ta thấy xuất hiện các thuật ngữ tương tự như văn hoá tổ chức, văn hoá doanh nghiệp, văn hoá kinh doanh,… Văn hoá tổ chức được hiểu theo nghĩa rộng hơn và bao trùm văn hoá quản lý, bởi quản lý là một thuộc tính của tổ chức, một chức năng nhằm duy trì và phát triển của tổ chức Còn văn hoá doanh nghiệp hay văn hoá công ty là biểu hiện cụ thể của văn hoá trong các tổ chức cụ thể Do đó, khi nhắc đến văn hoá quản lý, là phải nhấn mạnh đến những giá trị vật chất
và tinh thần hình thành trong quá trình quản lý, trong quan hệ quản lý giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý Văn hóa quản lý cũng có những đặc trưng, biểu hiện riêng biệt trong các tổ chức cụ thể Do đó, hiểu về nội dung của văn hóa lãnh đạo và quản lý là rất quan trọng, nhưng quan trọng hơn nữa là phát hiện ra những biểu hiện cụ thể, phát hiện ra “văn hóa” của từng tổ chức để có thể đánh giá về tổ chức đó một cách toàn diện, và biết cách ứng xử trong môi trường của tổ chức
1.2.2 Các thành tố cấu thành văn hoá quản lý
Văn hóa xuất hiện khá sớm từ thuở bình minh của xã hội loài người Mỗi xã hội khác nhau lại mang một nền văn hóa khác nhau và thậm chí là những tổ chức trong cùng một xã hội lại có những giá trị văn hóa riêng Bước chân tới mỗi nơi khác nhau chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy sự khác biệt về văn hóa Có những việc ở nơi này là quá đỗi bình thường thì ở nơi khác lại bị cho là điều không hay, trái với những gì mà con người nơi đây cho là bình thường Sự khác biệt về văn hóa đôi khi gây ra cho chúng ta rất nhiều khó khăn nếu như không thực sự hiểu rõ nó
Văn hoá quản lý được cấu thành bởi ba lớp chính:
1 Lớp bề mặt: những quá trình và cấu trúc hữu hình
2 Lớp bên trong: Hệ giá trị, chuẩn mực
Trang 283 Lớp lõi: Triết lý quản lý
Triết lý quản lý: Triết lý quản lý là định hướng cơ bản, có tính sống còn, gắn
liền với sứ mệnh của tổ chức trong hoạt động của con người để đạt đến mục tiêu đã xác định Triết lý quản lý phản ánh thái độ, mong đợi mà tổ chức biểu thị đối với quan
hệ nhóm có liên quan, trở thành cơ sở rộng lớn cho việc giải quyết các vấn đề của tổ chức Triết lý quản lý là phần cốt lõi trong hệ giá trị, nó dẫn đến bộ tiêu chuẩn chung điều chỉnh hành vi của con người trong quá trình quản lý Từ triết lý quản lý, công tác
tổ chức, các chức năng của quản lý phải được triển khai một cách đồng bộ, hướng theo triết lý đã xác định Đó là việc xác định thứ bậc, cơ cấu nhân sự, cơ chế hoạt động của các bộ phận…
Triết lý được hình thành và thực hiện trước hết bởi người lãnh đạo, người quản
lý Phong cách quản lý của người quản lý có ý nghĩa quan trọng trong việc theo đuổi triết lý, xác định hướng đi trong tổ chức và quan tâm thúc đẩy con người trong tổ chức
Triết lý là quan điểm cơ bản có tính chất nguyên tắc xuyên suốt hoạt động quản
lý, lãnh đạo nhằm thực hiện sứ mệnh của tổ chức Và triết lý đó bao giờ cũng được biểu hiện cụ thể thành các chuẩn mực của tổ chức Người ta coi triết lý là giá trị cốt lõi
và xung quanh nó là các giá trị cụ thể khác
Hệ giá trị, chuẩn mực: hệ giá trị liên quan đến chủ thể, đối tượng quản lý trong
quá trình thực hiện mục tiêu quản lý được thừa nhận bởi cả chủ thể quản lý và đối tượng quản lý Tổ chức nào cũng có những quy định, nguyên tắc, chiến lược là kim chỉ nam cho hoạt động của toàn bộ thành viên trong tổ chức mình Những giá trị này có chức năng hướng dẫn cho các thành viên ứng xử với các tình huống trong hiện tại
Giá trị là một trong những dạng biến thể của lợi ích Con người dù muốn hay không muốn, cũng phải phân biệt và lựa chọn những gì thích hợp với mình hơn cả và
đó chính là giá trị (ví dụ như quyền lực hay đức hạnh, sắc đẹp, tình yêu hay là tiền bạc) Quan niệm về giá trị mỗi thời đại khác nhau Trong phạm vi của văn hoá quản lý,
hệ giá trị ở đây là những tiêu chuẩn chung được chấp nhận trong tổ chức, trong quá trình quản lý, lãnh đạo
Những quá trình và cấu trúc hữu hình: Đây là cấp độ văn hoá quản lý mà ta có
thể nhận thấy ngay trong lần tiếp xúc đầu tiên, là những thứ mà ta có thể nhìn, nghe và
Trang 29cảm nhận thấy khi tiếp xúc với quá trình quản lý của một tổ chức như kiến trúc, bài trí, văn bản quản lý, mệnh lệnh quản lý, tác phong quản lý,…
Trên thực tế có nhiều quan điểm khác nhau về văn hóa quản lý, tuy nhiên các quan điểm này mới thể hiện một phần bản chất của văn hóa quản lý Vậy bản chất của Văn hóa quản lý là gì?
Xét về mặt bản chất văn hóa quản lý, ta nhận định:
Thứ nhất, Văn hóa quản lý là tổng hợp các giá trị trong quá trình quản lý được
tập thể người lao động trong tổ chức đề cao, được chia sẻ và tự nguyện tuân theo Do
đó, đặc điểm nhân lực của tổ chức cũng tác động tới sự hình thành văn hóa quản lý trong tổ chức đó việc xây dựng Văn hóa quản lý phải trải qua một quá trình lâu dài và đòi hỏi sự kiên trì của tập thể người lao động
Thứ hai, Các giá trị văn hóa quản lý gồm toàn bộ những giá trị vật chất hữu
hình như: nhà xưởng, trụ sở, không gian, máy móc, phương tiện lao động…và các giá trị tinh thần vô hình như: triết lý, niềm tin, thái độ làm việc, nguyên tắc làm việc, quy định ứng xử trong nội bộ tổ chức và với công chúng, đối tác, đối thủ cạnh tranh, khách hàng…
Thứ ba, nhà quản lý là một bộ phận lao động đặc biệt Văn hóa quản lý của một
tổ chức thể hiện ra bởi bản thân những người lãnh đạo là sự kết hợp hài hòa giữa những niềm tin, giá trị chung của tập thể với đặc điểm nhân khẩu xã hội của cá nhân nhà quản lý
Theo cách xem xét dưới dạng bản chất, văn hóa quản lý được nhìn nhận như là những giá trị được tập thể người lao động trong tổ chức xây dựng và bồi đắp Những giá trị đó được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và trở thành niềm tự hào cho mỗi cá nhân, nó chi phối mọi hành vi ứng xử của họ ra bên ngoài
Cũng theo cách nhìn nhận này thì giá trị văn hóa của mỗi tổ chức là không hoàn toàn giống nhau, do vậy mỗi tổ chức đều có bản sắc văn hóa riêng Chẳng hạn cũng là văn hóa giao tiếp giữa cấp dưới với cấp trên nhưng có sự khác nhau giữa ngân hàng Vietcombank với ngân hàng Techcombank, vì điều này phụ thuộc vào phong cách lãnh đạo của từng doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp có phong cách lãnh đạo dân chủ thì giao tiếp giữa cấp dưới với cấp trên mang tính cởi mở thân thiện, nếu doanh nghiệp
Trang 30có phong cách lãnh đạo chuyên quyền độc đoán thì giao tiếp giữa cấp dưới với cấp trên lại mang tính cứng nhắc và mệnh lệnh
Sự khác biệt đó giúp chúng ta có thể phân biệt được tổ chức này với tổ chức khác, nó còn góp phần tạo ra sự đa dạng văn hóa trong lĩnh vực kinh doanh
Mặt khác, văn hóa của mỗi tổ chức lại là biểu hiện cụ thể văn hóa quốc gia, nó biểu hiện giá trị văn hóa của dân tộc vì vậy đứng trên phương diện quốc tế, chúng lại mang tính chất đại diện và làm tôn vinh bản sắc của mỗi quốc gia, do vậy bên cạnh việc phải tạo dựng bản sắc văn hóa cho tổ chức mình, tập thể người lao động và quản
lý cũng cần góp phần bảo vệ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, nhằm nâng cao hình ảnh và vị thế của quốc gia mình trên trường quốc tế
Văn hóa quản lý được thể hiện dưới hình thức là các giá trị văn hóa hữu hình và các giá trị văn hóa vô hình Trong đó có các giá trị văn hóa vật chất thường được sử dụng để thể hiện các yếu tố dễ dàng nhìn thấy, nghe thấy, và cảm nhận thấy khi tiếp xúc như: kiến trúc, cách bài trí nội thất, công nghệ, sản phẩm, hành vi, màu sắc, trang phục của nhân viên Còn biểu trưng vô hình, ví dụ: giá trị, thái độ, niềm tin, lý tưởng của tổ chức , là những yếu tố thể hiện văn hóa của tổ chức nhưng chúng chỉ có thể cảm nhận được hay nhận thức được thông qua những biểu hiện về hành vi
Các biểu trưng hữu hình của văn hóa quản lý
là niềm tự hào của các thành viên trong tổ chức đó
Những thiết kế nội thất cũng rất được các tổ chức quan tâm Từ những vấn đề như màu sắc kiểu dáng của bao bì sản phẩm, đến những thiết kế nội thất như: bàn, ghế, lối đi, đến các chi tiết nhỏ nhặt như: vị trí công tắc điện, các thiết bị và vị trí của cúng
Trang 31trong phòng vệ sinh…tất cả đều được sử dụng để tạo ấn tượng thân quen, thiện chí với khách hàng, đối tác, đối thủ cạnh tranh…
Như vậy kiến trúc của tổ chức là một trong những biểu trưng quan trọng của văn hóa quản lý, nó ảnh hưởng một phần tới hành vi của con người trong giao tiếp, phản ứng và cách thức giải quyết công việc, ngoài ra, nó còn thể hiện cho phương châm chiến lược của tổ chức, nó chứa đựng những giá trị lịch sử gắn liền với sự ra đời
và trưởng thành của tổ chức
* Nghi lễ, nghi thức
“Một trong số các biểu trưng của văn hóa quản lý là các nghi lễ, nghi thức Nó
là những hoạt động được dự kiến từ trước và chuẩn bị kĩ lưỡng dưới hình thức các hoạt động, sự kiện văn hóa – xã hội chính thức, nghiêm trang, tình cảm được thực hiện định kì hay bất thường” nhằm thắt chặt mối quan hệ bên trong và bên ngoài của tổ
chức Đây cũng là dịp để mọi thành viên cùng chia sẻ các giá trị văn hóa tốt đẹp của tổ chức, để nêu gương khen thưởng những tấm gương điển hình đại biểu cho những niềm tin và cách thức hành động cần được tôn trọng
Nghi lễ thường được tiến hành theo một hình thức nhất định, các nghi thức
thường được thiết kế một cách kĩ lưỡng và sử dụng như một hình thức chính thức để thực hiện nghi lễ của tổ chức
* Biểu tượng
Biểu tượng được hiểu là: một công cụ biểu trưng đặc trưng của văn hóa quản lý,
nó biểu thị niềm tin, giá trị mà nhà quản lý muốn đề cao Hệ thống các biểu trưng của
tổ chức như: hình ảnh logo, quần áo, dày, mũ, áo đi mưa, đồng phục của nhân viên, phong bì, giấy viết thư, phong bao dùng đề phát lương… Trong số đó, logo là biểu trưng đơn giản nhưng lại có nghĩa nhất, nó thể hiện những giá trị chủ đạo mà tổ chức muốn lưu lại hay truyền lại cho người thấy nó, Vì vậy việc thiết kế lo go luôn được các
tổ chức rất chú trọng
* Ngôn ngữ, khẩu hiệu
Trang 32Một dạng biểu trưng khác thường được sử dụng để thể hiện văn hóa quản lý là ngôn ngữ Các tổ chức thường sử dụng những câu chữ đặc biệt để truyển tải một thông điệp đến nhân viên của mình và những người hữu quan Trong quá trình hoạt động các
tổ chức có thể lựa chọn một hay nhiều ngôn ngữ khác nhau, song trong xu hướng hội nhập thì việc sử dụng thành thạo tếng anh là rất cần thiết, nó là một trong những lợi thế cạnh tranh của cá nhân người lao động và của tổ chức
Khẩu hiệu là cách diễn đạt cô đọng nhất các triết lý kinh doanh của tổ chức, ngoài ra chúng thường được sử dụng để phát động các phong sản xuất và kinh doanh nhằm khơi dậy sự nhiệt tình cống hiến của nhân viên và để nâng cao năng suất lao động của tổ chức
* Nội quy, quy định của tổ chức
Văn hóa quản lý còn bao gồm các nội quy, quy định hành vi ứng xử của tổ
chức, ví dụ quy định ứng xử giữa cấp trên với cấp dưới, giữa cấp dưới với cấp trên,
giữa nhân viên với nhân viên, với khách hàng…Nó còn bao gồm hệ thống các nguyên tắc như: quy định bảo mật, quy định về giờ làm việc, nghỉ ngơi, đồng phục, phù hiệu, các hình thức tuyên dương khen thưởng, nội quy sử dun gj, bảo quản máy móc, bảo vệ môi trường, phòng cháy chữa cháy…tất cả những quy định này góp phần phản ánh văn hóa của tổ chức
* Ấn phẩm điển hình
Ấn phẩm điển hình là một số những tư liệu chính thức có thể giúp những người hữu quan có thể nhận thấy được rõ hơn về cấu trúc văn hóa của một tổ chức Chúng có thể là báo cáo thường niên, tài liệu quảng cáo, ấn phẩm định kì của tổ chức … những tài liệu này có tác dụng làm rõ mục tiêu, sứ mệnh, triết lý kinh doanh, phương châm hành động của tổ chức
Các biểu trưng vô hình của văn hóa quản lý
* Giá trị được tuyên bố
Giá trị tuyên bố phản ánh quan điểm hay định hướng phát triển của tổ chức trong tương lai Đây là tư tưởng chiến lược, là nền móng văn hóa quản lý mà từ ban lãnh đạo đến nhân viên đều phải coi là mục tiêu của mình, nó được nhắc đi nhắc lại
Trang 33trong mục tiêu, sứ mệnh, triết lý kinh doanh của tổ chức để cho các nhân viên trong tổ chức tiếp nhận, thấm nhuần và chuyển hóa thành những chuẩn mực hành vi khi giao tiếp ứng xử với đồng nghiệp, khách hàng, đối tác… Những giá trị này chính là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của tổ chức và thường được công bố rộng rãi ra công chúng
* Lịch sử và truyền thống
Lịch sử phát triển và truyền thống của tổ chức là những giá trị tốt đẹp của tổ chức được gìn giữ và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Nó thể hiện quá trình hình thành và phát triển của tổ chức, nó chứa đựng những bài học kinh nghiệm trong quản lý tổ chức và trong kinh doanh, nó tổng kết lại toàn bộ các bước đi của tổ chức từ trong quá khứ đến hiện tại Lịch sử phát triển và truyền thống của tổ chức có vai trò quan trọng trong việc xây dựng, điều chỉnh, phát triển văn hóa quản lý
* Các tập tục không thành văn
Văn hóa quản lý còn bao gồm các tập tục không thành văn, do các nhân viên trong tổ chức tự nguyện lập nên vì lợi ích chung Đó là các tập tục như: tập quán trung thực cởi mở, đấu tranh thẳng thắn, tập quán mừng sinh nhật, mừng năm mới, thăm ốm đau…những tập quán tốt đẹp này sẽ gắn bó mọi người trong tổ chức, và dần dần nó trở thành những giá trị văn hóa tốt đẹp được truyền tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác trong tổ chức
* Thái độ
Thái độ được định nghĩa là một thói quen tư duy theo kinh nghiệm để phản ứng theo một cách thức nhất quán, thể hiện sự mong muốn hay không mong muốn đối với
sự vật hiện tượng Thái độ được hình thành trên cơ sở những triết lý, nhận thức và từ
sự tiếp thu những giá trị văn hóa của công ty Thái độ là chất gắn kết giá trị với niềm tin thông qua tình cảm
* Niềm tin
Niềm tin là khái niệm thể hiện nhận thức của con người về việc mọi người cho rằng thế nào là đúng, thế nào là sai Trong niềm tin luôn chứa đựng những giá trị và triết lý đã nhận thức Niềm tin có thể tạo ra sức mạnh giúp con người hành động, Niềm tin là các giá trị được hình thành một cách vững chắc về một cách thức hành động hay
Trang 34một trạng thái nhất định Vì vậy khi xây dựng văn hóa quản lý người lãnh đạo cần phải
có niềm tin vào những giá trị, triết lý, chiến lược kinh doanh của mình từ đó truyền đạt, định hướng cho nhân viên theo những giá trị này
* Lý tưởng
Lý tưởng là khái niệm thể hiện niềm tin đã được phát triển ở một mức độ rất cao, phát triển ở mức độ này, con người không chỉ là sự tự giác lòng nhiệt tình mà hơn thế nữa nó còn là sự sẵn sàng hi sinh và cống hiến Đối với văn hóa quản lý, lý tưởng được định nghĩa như là sự vận dụng lý thyết vào thực tiễn Cách định nghĩa này nhấn mạnh tới sự chuyển hóa hoàn toàn những giá trị, triết lý, của tổ chức thành những ý nghĩa, giá trị cao cả, giúp cho các thành viên trong tổ chức có thể cảm thông và chia sẻ với nhau trong cuộc sống cũng như trong công việc Các tổ chức Nhật Bản rất quan tâm tới việc củng cố niềm tin, hình thành lý tưởng cho nhân viên của mình, để họ có thể phát huy tối đa năng lực trong công việc, trung thành và sẵn sàng cống hiến cho sự phát triển của tổ chức
* Phong cách lãnh đạo
Nhà lãnh đạo không chỉ là người quyết định cơ cấu tổ chức và công nghệ của tổ chức, mà còn là người sáng tạo ra các biểu tượng, các ý thức hệ, ngôn ngữ, niềm tin, nghi lễ của tổ chức, qua quá trình quản lý tổ chức, hệ tư tưởng và phong cách của
người lãnh đạo sẽ được phản chiếu lên văn hóa quản lý Ví dụ nếu người quản lý trong
tổ chức có phong cách độc quyền, thì văn hóa của tổ chức sẽ mang tính cứng nhắc, nặng nề và thụ động, ngược lại nếu phong cách lãnh đạo dân chủ thì văn hóa quản lý mang tính chất thân thiện cởi mở, đề cao quyết định tập thể, phát huy năng lực của
Trang 35Khi xem xét các biểu hiện văn hóa quản lý của một tổ chức thì bên cạnh việc chỉ ra những biểu hiện vô hình và hữu hình mà tác giả liệt kê ở trên, ta cần phải làm rõ chúng qua các khía cạnh:
- Nội dung của biểu hiện đó là gì?
- Việc ban hành, tổ chức, thực hiện những nội dung đó có đặc điểm gì cần lưu ý?
- Những biểu hiện văn hóa quản lý đó có ý nghĩa như thế nào đối với việc sử dụng và phát triển con người?
1.2.3 Quá trình hình thành và phát triển văn hoá quản lý trong các tổ chức:
Văn hoá quản lý hình thành bằng hai con đường Thứ nhất, đối với nhiều nhóm
chính thức khác, một cá nhân sẽ hình thành nhóm và trở thành người lãnh đạo Ví dụ: khi một doanh nhân mở công ty, một người tu hành thu nạp các tín đồ, một nhà chính trị tạo dựng đảng phái, một thầy giáo mở lớp học, hoặc một nhà quản lý tiếp quản một phòng ban mới trong tổ chức Những cá nhân tạo lập cho dù là một doanh nhân hay chỉ là người tập hợp nhóm - đều có những tầm nhìn, mục tiêu, niềm tin, giá trị và các giả định về các vấn đề sẽ xảy ra Cá nhân ấy ban đầu áp đặt lên các nhóm và/hoặc chọn lựa thành viên dựa trên sự tương đồng trong quan điểm và giá trị
Chúng ta có thể đánh giá sự áp đặt này là hành động cơ bản của người lãnh đạo, nhưng nó không tạo ra văn hoá một cách tự động Tất cả thành quả của nó là sự ưng thuận của những người đi theo làm theo những gì người lãnh đạo yêu cầu Chỉ khi những hành vi ấy đem lại “sự thành công” – nghĩa là tổ chức hoàn thành nhiệm vụ và các thành viên hài lòng với mối quan hệ của mình với người khác – thì niềm tin và giá trị của người tạo dựng mới được xác nhận và củng cố, và quan trọng nhất, sẽ trở thành những niềm tin và giá trị được chia sẻ Quan điểm cá nhân của người tạo dựng về thế giới sẽ dẫn tới những hành động chung, và khi thành công thì sẽ đem lại sự thừa nhận
về sự đúng đắn của người tạo dựng Rồi từ đó, tổ chức sẽ lặp lại những niềm tin và giá trị này, và nếu như nó tiếp tục thành công, thì kết luận rằng đó là cách suy nghĩ, cảm nhận và hành động “đúng”
Mặt khác, nếu niềm tin và giá trị của người tạo dựng không đem lại thành công,
tổ chức sẽ thất bại và mất đi hoặc sẽ tìm kiếm một lãnh đạo khác cho tới khi tìm thấy
Trang 36ai đó có niềm tin và giá trị đem lại thành công Quá trình hình thành văn hoá quản lý
sẽ luôn vận động phát triển đối với người lãnh đạo mới Khi tiếp tục gia cố, tổ chức sẽ nhận thức kém hơn dần về những niềm tin và giá trị này, và rồi những niềm tin và giá trị sẽ trở thành những giả định không thể vượt qua được với họ Khi quá trình này tiếp diễn, các giả định sẽ vượt khỏi tầm hiểu biết và trở thành đúng đắn Khi các giả định trở thành đúng đắn thì chúng sẽ trở thành một phần xác định nên tổ chức; và những người mới sẽ phải học cách suy nghĩ, cảm nhận và hành động; và, nếu bị vi phạm, thì
ta có sự không thoải mái, lo lắng, bị khai trừ và thậm chí là sự rút phép thông công Quan điểm về các giả định này ngược lại với niềm tin và các giá trị - không thể thương
lượng được Do đó, định nghĩa về văn hoá bao hàm các giá trị phải cụ thể rằng văn hoá gồm các giá trị không thể thương lượng được, mà đôi khi được gọi là các giả định Assumption
Tóm lại, chúng ta có thể coi văn hoá quản lý là những học hỏi chung được tích luỹ của một tổ chức cụ thể, bao gồm các thành tố hành vi, cảm xúc và nhận thức của các thành viên tổ chức về mặt chức năng tâm lý khi hoạt động quản lý diễn ra Vì có những học hỏi chung này, nên phải có lịch sử trải nghiệm chung thể hiện sự bền vững của mối quan hệ thành viên tổ chức Lịch sử chung và sự bền vững này và nhu cầu của con người hướng tới sự bền vững, ổn định và ý nghĩa sẽ khiến các thành tố khác nhau hình thành nên các khuôn mẫu mà cuối cùng được gọi là văn hoá
Những yếu tố chi phối nội dung của một nền văn hóa quản lý trong các tổ chức nói chung bao gồm:
- Văn hóa dân tộc: Văn hóa quản lý bắt nguồn từ giá trị truyền thống của văn
hóa dân tộc Suy cho cùng, mỗi dân tộc sản sinh ra toàn bộ giá trị văn hóa dân tộc của mình và tác động lên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có hoạt động quản lý
- Phương thức sản xuất và trình độ phát triển kinh tế - xã hội: Mỗi phương thức
sản xuất đã tạo ra cho mình một cách quản lý nhất định Toàn bộ sự phát triển của phương thức sản xuất sẽ tạo ra cái văn hóa riêng, đặc trưng, và phân biệt với những phương thức sản xuất khác Văn hóa lao động thủ công chắc chắn sẽ dễ phân biệt với văn hóa lao động chủ yếu bằng máy móc Đồng thời, trình độ phát triển kinh tế - xã hội có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển của văn hóa quản lý Bởi, nó đặt
Trang 37ra những yêu cầu mới về phát triển con người với tư cách là chủ thể quản lý cũng như đối tượng quản lý về trình độ và kỹ năng
- Các yếu tố tâm lý – xã hội (cá nhân, nhóm, cộng đồng): Văn hóa nói chung và
văn hóa quản lý nói riêng là những đặc trưng của xã hội loài người, phản ánh mối quan
hệ phức tạp giữa con người với con người, giữa con người với thế giới vật chất và tinh thần Trong mỗi tổ chức, các nhóm quyền lực hình thành những cách thức sử dụng quyền lực khác nhau, cách ứng xử khác nhau với các thành viên của nhóm, phụ thuộc vào đặc điểm cá nhân, phong cách nhà quản lý, cũng như đặc trưng của nhóm, cộng đồng
- Loại hình tổ chức: Sự hình thành các loại hình tổ chức khác nhau với những
đặc trưng khác nhau tất yếu sẽ hình thành các loại văn hóa quản lý khác nhau Nếu doanh nghiệp theo đuổi lợi nhuận, triệt để tuân thủ quy luật của cơ chế thị trường, thì các cơ quan hành chính lại tập trung thực hiện chức năng quản lý xã hội, phục vụ xã hội không vì mục đích lợi nhuận Ngày nay, chúng ta thấy xuất hiện rất nhiều loại hình văn hóa quản lý liên quan đến các loại hình tổ chức khác nhau, các lĩnh vực hoạt động khác nhau
Tổng kết chương 1:
Chương 1 làm rõ hệ thống khái niệm có liên quan làm cơ sở lý luận cho Luận văn, bao gồm khái niệm về tổ chức KH&CN cũng như phân loại và đặc trưng của chúng, và khái niệm về văn hóa quản lý Theo đó tổ chức KH&CN là những hình thức tập hợp các nhà khoa học, các nhà công nghệ để tiến hành hoạt động KH&CN Đồng thời, văn hoá quản lý là hệ thống những ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, với những biểu trưng khác nhau, được các chủ thể tham gia quá trình quản lý cùng đồng thuận, có ảnh hưởng ở phạm vi rộng lớn đến cách thức hành động của toàn bộ thành viên trong
tổ chức, nhằm đạt được các mục tiêu quản lý đã đặt ra Khi nghiên cứu văn hóa quản
lý, người ta sẽ xem xét các thành tố cấu thành bao gồm: hệ triết lý quản lý, hệ giá trị cốt lõi và những biểu hiện hữu hình và vô hình
Văn hóa quản lý hiện hữu trong mọi hoạt động của tổ chức và ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại của tổ chức Văn hóa quản lý hình thành và phát triển trong các tổ chức thông qua hai cách có tác động qua lại với nhau: người lãnh đạo đề ra triết lý,
Trang 38quan điểm, giá trị cho nhóm và tổ chức, những triết lý, giá trị này được lưu truyền và gìn giữ và trở thành văn hóa; mặt khác, các thành viên trong tổ chức cùng nhau xây dựng hệ thống niềm tin và chuẩn mực, quá trình quản lý cũng phải thuận theo hệ thống giá trị mà cả tập thể ghi nhận, để hình thành văn hóa quản lý của mình
Trang 39CHƯƠNG 2 NHỮNG ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA VĂN HÓA QUẢN
LÝ TRONG CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
2.1 Lịch sử hình thành và đặc điểm của hệ thống tổ chức khoa học và công nghệ của Việt Nam
Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, nhân dân Việt Nam đã hiểu biết sâu sắc về đất nước mình, không ngừng chinh chiến thiên nhiên, mở mang bờ cõi, phát triển kinh tế, cải cách xã hội và bảo vệ vẹn toàn non sông đất nước
Trong lao động sáng tạo chinh phục tự nhiên, nhân dân ta sớm thực hiện trị thủy, tiêu biểu là xây dựng hệ thống đê điều hàng ngàn kilomét vững chãi, không ngừng lấn biển để phát triển nông nghiệp, tạo dựng nền văn hóa lúc nước với bản sắc Việt Nam
Có thể nói các lĩnh vực khoa học đã sớm phát triển ở nước ta, mức độ phát triển tương đồng trong khu vực với nhiều lĩnh vực vượt trội Tuy nhiên, việc hình thành các
tổ chức chưa được rõ nét, mãi đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX cùng với việc đẩy mạnh khai thác thuộc địa, người Pháp đã cho thành lập những tổ chức khoa học bắt đầu là những tổ chức phục vụ cho điều tra cơ bản tài nguyên và khí hậu
Năm 1989 thành lập Sở Địa dư Đông Dương và Sở Địa chính Đông Dương Năm 1901 thành lập Học viện Viễn đông Bác Cổ
Năm 1902 thành lập Sở Khí tượng Đông Dương
Năm 1914 thành lập Bảo tàng Địa chất
Năm 1918 thành lập Trạm Nghiên cứu chè và cây ăn quả Phú Hộ
Năm 1922 thành lập Viện Hải Dương học
Năm 1925 thành lập Viện Khảo cổ Nông nghiệp Đông Dương
Năm 1926 thành lập các viện Paster Hà Nội, Sài Gòn, Nha Trang, Đà Lạt [22, tr.30]
Nhưng các tổ chức KH&CN ở nước ta thực sự trở thành hệ thống phải kể từ sau năm 1955, khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội hàng loạt viện được ra đời ngay trong điều kiện hòa bình mới lập lại và phải tiến hành
Trang 40ngay cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Trong khói lửa của chiến tranh vẫn hình thành nên nhiều viện nghiên cứu ở những lĩnh vực khác nhau Căn cứ vào sự hình thành và phát triển của hệ thống, có thể chia thành 03 giai đoạn từ đó đến nay:
Giai đoạn từ 1955 – 1990:
Đặc trưng của giai đoạn 1945 – 1975 là tại miền Bắc, nước ta đồng thời tiến hành 2 cuộc cách mạng: Cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa Đến năm 1975 hoàn thành cách mạng dân tộc, cả nước cũng tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa Cơ chế quản lý theo chế độ kế hoạch hóa tập trung Cơ chế này quyết định chiều hướng phát triển của hệ thống và định ra cơ chế quản lý hệ thống
Giai đoạn này hệ thống bắt đầu phát triển theo khả năng, yêu cầu của nền kinh
tế và đặc biệt tăng trưởng của đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật Những tổ chức ban đầu có sự kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo và nghiên cứu khoa học nên hình thành những học viện như: Học viện Nông Lâm, Học viện Thủy lợi Một số lĩnh vực trong công nghiệp, y dược thì việc nghiên cứu được tiến hành ngay ở Trường Đại học Cuối thập niên 60, đầu những năm 70, bắt đầu có sự tách các viện ra khỏi các trường đại học, hình thành nên hệ thống viện độc lập với đại học Từ Ủy ban Khoa học Nhà nước tách một bộ phận Nghiên cứu thành Viện Liên hợp khoa học tự nhiên, hiện thân của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam sau này Mức độ tăng trưởng số lượng của các viện thời gian này rất nhanh, hình thành nên một hệ thống độc lập, phân bố khá không đồng đều, riêng tại Hà Nội, số lượng viện chiếm tới 79,92% tổng số các viện
Về cơ bản Việt Nam đã xây dựng hệ thống khoa học và đại học theo kinh nghiệm của Liên Xô: các tổ chức NCKH hầu như nằm tách biệt khỏi các trường đại học và xí nghiệp; trong trường đại học hầu như chỉ có phòng thí nghiệm giáo học, không có nghiên cứu cứu và cơ sở thực nghiệm khoa học; xí nghiệp cũng không có các labô và xưởng pilot; ngay cả các viện nghiên cứu công nghệ (vốn đã nằm ngoài các xí nghiệp và trường đại học) cũng không có xưởng pilot
Cho đến cuối những năm 80, hoạt động khoa học ở miền Bắc nhìn chung tồn tại trong khuôn khổ các tổ chức của Đảng CSVN và của Nhà nước Toàn bộ tài trợ cho khoa học dựa trên một nguồn kinh phí duy nhất do Nhà nước cấp