Vì những lý do đó, tôi mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu Yếu tố nước trong đời sống văn hoá của người Tày vùng thung lũng Cao Bằng với hy vọng đóng góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứu vă
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
= =*= =*= =*= =*= =*= =*= =*= =
HOÀNG LÂM GIANG
YẾU TỐ NƯỚC TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA NGƯỜI TÀY VÙNG
THUNG LŨNG CAO BẰNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
= =*= =*= =*= =*= =*= =*= =*= =
HOÀNG LÂM GIANG
YẾU TỐ NƯỚC TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA NGƯỜI TÀY VÙNG
THUNG LŨNG CAO BẰNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Chuyên ngành: Dân tộc học
Mã số: 60 22 70 Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Hoàng Lương
HÀ NỘI - 2012
Trang 3MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Mục đích nghiên cứu 6
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4 Nguồn tài liệu và tư liệu của luận văn 7
5 Đóng góp của luận văn 7
6 Bố cục của luận văn 8
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9
1 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 9
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 9
1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 12
1.2 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu 18
1.2.1 Cơ sở lý thuyết 18
1.2.2 Phương pháp nghiên cứu 19
1.3 Địa bàn và tộc người nghiên cứu 20
1.3.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 20
1.3.2 Dân cư, dân số và sự phân bố 26
1.3.3 Khái quát về người Tày ở Cao Bằng 27
CHƯƠNG 2: NHỮNG KHÍA CẠNH BIỂU HIỆN CỦA YẾU TỐ NƯỚC TRONG VĂN HÓA CỦA NGƯỜI TÀY CAO BẰNG 34
2.1 Quan niệm của người Tày về nước 34
2.2 Yếu tố nước trong hoạt động kinh tế và đời sống vật chất 34
2.3 Yếu tố nước trong đời sống xã hội 38
2.4 Yếu tố nước trong đời sống tinh thần 42
2.4.1 Trong thờ cúng 42
Trang 42.4.2 Trong lễ tết 47
2.4.3 Trong phong tục tập quán 47
2.4.4 Trong truyền thuyết 50
2.4.5 Trong văn học nghệ thuật 54
2.5 Yếu tố nước trong đời sống hiện nay 62
CHƯƠNG 3: BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CỦA YẾU TỐ NƯỚC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG HIỆN NAY 65
3.1 Vai trò, ý nghĩa của nước với đời sống văn hoá của người Tày 65
3.2 Những biện pháp bảo vệ môi trường sinh thái và nguồn nước 79
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHẦN PHỤ LỤC 102
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nước là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, có vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong đời sống của con người Nhu cầu nước cũng không kém phần quan trọng như nguồn thức ăn, bởi không có nước thì con người và muôn vật không thể tồn tại Ngoài thoả mãn nhu cầu trong cuộc sống của con người, nước còn có ý nghĩa xã hội
Người Tày là một trong 53 dân tộc thiểu số ở Việt Nam, cư trú chủ yếu ở vùng thung lũng chân núi, lấy kinh tế nông nghiệp trồng trọt làm nguồn sống chính, trong đó canh tác ruộng nước là chủ đạo Vì thế, đối với người Tày, yếu tố nước luôn có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống của họ Ngoài phục vụ cho sản xuất, chăn nuôi (tưới ruộng, nuôi gia súc, gia cầm, nuôi trồng thuỷ sản) và thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt hàng ngày (ăn uống, tắm rửa, giặt giũ…), vai trò của yếu tố nước còn được phản ánh qua các truyền thuyết, truyện kể, tín ngưỡng cũng như trong văn học dân gian của người Tày
Nghiên cứu nước còn cho ta thấy các giá trị của tri thức dân gian tộc người chứa đựng trong đó Những tri thức này cho phép kết hợp giữa khoa học kỹ thuật hiện đại với các kinh nghiệm dân gian trong việc khai tác, sử dụng hiệu quả nguồn nước trong sản xuất, chăn nuôi
Do diện tích rừng ngày càng cạn kiệt, dẫn đến thiên tai hết sức khốc liệt (lũ quét, hạn hán, lốc xoáy), nhiều địa phương, nhất là vùng Lục khu nhiều năm qua thiếu nước sản xuất và sinh hoạt nghiêm trọng Chính vì thế, tìm hiểu, nghiên cứu tri thức dân gian, vì mục tiêu bảo vệ và khai thác tốt các nguồn tài nguyên thiên nhiên nói chung, tài nguyên nứớc nói riêng, phục vụ cho sự phát triển bền vững ở vùng miền núi, dân tộc hiện nay có ý nghĩa thực tiễn lớn lao
Trang 6Vì những lý do đó, tôi mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu Yếu tố nước
trong đời sống văn hoá của người Tày vùng thung lũng Cao Bằng với hy
vọng đóng góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứu văn hóa của người Tày ở địa phương
2 Mục đích nghiên cứu
Với đề tài “Yếu tố nước trong đời sống văn hoá của người Tày vùng thung lũng Cao Bằng”, mục đích của luận văn là:
Thứ nhất: Nêu lên tầm quan trọng của yếu tố nước trong đời sống của
người Tày ở Cao Bằng, nhất là ở vùng thung lũng Qua đó, làm nổi bật lên đặc trưng văn hóa tộc người
Thứ hai: Thông qua những tri thức dân gian còn được lưu giữ từ bao đời
của người dân nơi đây nhằm góp phần vào khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn nước, góp phần vào sự phát triển kinh tế-xã hội theo hướng bền vững của người Tày ở Cao bằng nói chung, vùng thung lũng nói riêng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng chính của luận văn chính là vai trò của yếu tố nước trong đời sống văn hóa của người Tày, coi nước là một thành tố văn hoá Các nội dung liên quan đén luận văn bao gồm: quan niệm về nước của người Tày, yếu tố nước trong các hoạt động kinh tế và đời sống vật chất, yếu tố nước trong đời sống xã hội, yếu tố nước trong đời sống tinh thần và yếu tố nước trong đời sống hiện nay Nội dung luận văn cũng còn bao gồm tri thức dân gian tộc người lien quan đến khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn nước của người Tày nơi đây
- Phạm vi nghiên cứu
Địa bàn nghiên cứu bao gồm các huyện có người Tày sinh sống ở Cao
Trang 7Bằng Tuy nhiên, do phạm vi địa bàn rất rộng, trong khi thời gian và điều kiện
có hạn, nên tôi chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu ở vùng thung lũng của tỉnh Cao Bằng, đặc biệt tập trung ở huyện Hòa An - vùng thung lũng chính và cũng là vựa lúa chính của toàn tỉnh
4 Nguồn tài liệu và tư liệu của luận văn
- Nguồn tư liệu
Nguồn tư liệu chính để hoàn thành luận văn là tư liệu sưu tầm trong các chuyến điền dã dân tộc học về người Tày tại các vùng thung lũng, nhất là tại huyện Hòa An
Các tài liệu thứ cấp liên quan đến đề tài lưu trữ tại các cơ quan hành chính, Sở Văn hóa-Thể thao và Du lịch ở các huyện và tỉnh Cao Bằng
Luận văn cũng kế thừa nguồn tài liệu gồm các công trình, bài viết về người Tày ở Cao bằng nói chung, về đề tài luận văn nói riêng đã công bố từ trước tới nay Ngoài ra, tôi còn tham khảo các khoá luận tốt nghiệp, luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ và các tài liệu sách báo có liên quan để bổ sung cái nhìn tổng quan về vấn đề nghiên cứu
5 Đóng góp của luận văn
- Thông qua các nội dung trình bày, bước đầu luận văn hệ thống hóa yếu
tố nước, văn hóa nước được phản ánh trong đời sống văn hóa của người Tày ở Cao bằng nói chung (hoạt động kinh tế và văn hóa vật chất, văn hóa xã hội và văn hóa tinh thần cũng như tri thức dân gian)
- Khẳng định vai trò, giá trị và tầm quan trọng của yếu tố nước trong đời sống văn hóa của người Tày nơi đây
- Góp phần vào việc bảo lưu, gìn giữ các giá trị văn hóa truyền thống tộc người, nhằm khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn nước theo hướng bền vững trong xây dựng nông thôn miền núi tại địa phương hiện nay
Trang 86 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu (4 trang), kết luận (3 trang), tài liệu tham khảo (9 trang) và phụ lục, nội dung chính bao gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu (24 trang, từ trang 8 đến trang 32)
Chương 2: Những khía cạnh biểu hiện của yếu tố nước trong văn hóa của người Tày Cao Bằng (30 trang, từ trang 33 đến trang 63)
Chương 3: Bảo tồn và phát huy giá trị của yếu tố nước theo hướng phát triển bền vững hiện nay (24 trang, từ trang 64 đến trang 88)
Trang 9CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Một trong những công trình tiêu biểu nghiên cứu về văn hoá nước là cuốn
Văn hoá nước của tác giả Trịnh Hiểu Vân (Vân Nam, Trung Quốc Trong
phần Lời tựa, tác giả đã nêu quan điểm cũng như phương pháp nghiên cứu
của mình khi viết cuốn sách này là: "Ngoài việc đi sâu vào nghiên cứu văn
hoá nước các tộc người thiểu số Trung Quốc, tôi còn thực hiện nghiên cứu so sánh văn hoá nước tại một số quốc gia, cũng đã triển khai nhiều dự án hợp tác và giao lưu quốc tế, trong đó có nghiên cứu văn hoá nước của một số tộc người ở Việt Nam Cho nên, những kết quả trong cuốn sách này vẫn dựa trên kết quả nghiên cứu nhân học Toàn bộ tác phẩm là tổng hợp nhiều bài viết, bài nghiên cứu của tác giả trong suốt nhiều năm về vấn đề văn hoá nước của tộc người thiểu số" [92, tr 6] Bài viết Văn hoá nước truyền thống của người Thái và sự phát triển bền vững của ông đã được Hội thảo khoa học lịch sử
nước quốc tế lần thứ II tại Na Uy đánh giá cao và được chọn để tham luận Bài viết này đã khái quát văn hoá nước của người Thái (Vân Nam), mối quan
hệ giữa nước với tôn giáo, sản xuất nông nghiệp, đời sống xã hội, lễ tết đến nhận thức của con người với nước và việc sử dụng và bảo vệ nguồn nước Đồng thời, đưa ra mối quan hệ giữa văn hoá nước với sự phát triển bền vững trong sự biến đổi văn hoá nước, môi trường nước hiện nay Cũng trong bài viết này, tác giả đề cập rất rõ đến quan niệm nước của người Thái, nước với
cư trú của người Thái, nước với đời sống xã hội, nước với nông nghiệp truyền
Trang 10thống và bảo vệ nguồn nước Bên cạnh đó, tác giả còn đề cập đến sự biến đổi
xã hội và phát triển kinh tế làm ảnh hưởng đến môi trường nước với những phân tích sâu sắc đã làm nổi bật tầm quan trọng của nước đối với người Thái
ở Vân Nam, Trung Quốc Sau cùng, tác giả nêu lên Giá trị văn hoá nước trong phát triển bền vững với mong muốn văn hoá nước sẽ góp phần vào sự phát triển bền vững của con người
Trong tác phẩm của mình, tác giả có rất nhiều bài nghiên cứu cụ thể về từng địa vực khác nhau như: Văn hoá nước của các tộc người thiểu số Vân Nam với việc bảo vệ môi trường nước; Văn hoá nước các tộc người thiểu số lưu vực Hồng Hà với văn minh nông nghiệp; Văn hoá nước, môi trường nước của người Thái với đời sống sức khoẻ; Phát triển hệ thống tưới tiêu ảnh hưởng đến tiến trình văn minh địa phương (Nghiên cứu trường hợp lưu vực sông Hồng Hà - Trung Quốc và vùng Ooita - Nhật Bản); Thần thoại nước các tộc người Vân Nam, cấu trúc văn hoá và ngụ ý; Luận văn hoá các tộc người lưu vực sông Hồng với văn minh sinh thái Trong từng bài viết, tác giả có cái nhìn sâu sắc về tầm quan trọng của nước đối với sự phát triển xã hội
Đây là nguồn tài liệu tham khảo rất hữu ích với đề tài luận văn của tôi, bởi lẽ dân tộc Tày ở Việt Nam có mối liên hệ mật thiết về lịch sử, văn hóa từ lâu đời với dân tộc Choang ở Trung Quốc
Trong báo cáo Vai trò của nước với cuộc sống - Thập niên hành động
2005 - 2015 của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã nêu ra rất rõ vai trò cũng
như giá trị của nước trong đời sống của toàn bộ nhân loại Bên cạnh đó, báo cáo còn nêu lên những số liệu thực tế về việc thiếu hụt nguồn nước sinh hoạt trong các cộng đồng trên thế giới, nhất là ở các nước châu Á và châu Phi
"Khoảng 42% dân số thế giới (2,6 tỉ người) không có điều kiện vệ sinh đầy đủ 1,1 tỉ người trên thế giới không được uống nước sạch Như vậy tức là trong một ngôi làng điển hình ở châu Phi hoặc châu Á với dân số khoảng 1000
Trang 11người thì có khoảng 400 người không có chỗ đi vệ sinh hẳn hoi hoặc nước sạch để tắm rửa; mỗi ngày có khoảng hơn 20 người mắc bệnh tiêu chảy, 15 trong số đó là trẻ em dưới 5 tuổi" [71] Ở những nơi có nguồn nước khó khăn
thì việc đi lấy nước phục vụ nhu cầu sinh hoạt là một việc làm chiếm quá nhiều thời gian và công sức: "Bản thân việc đi lấy đủ nước để ăn uống, nấu nướng, tắm rửa đã tiêu tốn mất rất nhiều sức lao động (phụ nữ thường phải làm việc này) Thiếu nước ảnh hưởng đến tất cả các mặt của đời sống gia đình" Báo cáo của WHO cũng khẳng định sự thiếu nước ảnh hưởng đến phụ
nữ nhiều hơn nam giới qua một loạt dẫn chứng xác đáng như: Trong các gia đình, mẹ và con gái thường chịu trách nhiệm đi lấy nước; Phụ nữ phải làm các công việc trong gia đình, duy trì các vấn đề vệ sinh, giữ vệ sinh cho mình và cho con nhỏ, không làm bẩn nguồn nước uống và nấu ăn của gia đình; Người
mẹ phải chăm sóc con mình khi bị ốm, mất rất nhiều thời gian; Phụ nữ có thai rất cần nguồn nước sạch để tránh mắc nhiều bệnh nguy hiểm Sinh con ở những trung tâm y tế không có đủ nước sạch, có điều kiện vệ sinh không đảm bảo, chất thải y tế không được xử lý đúng cách làm tăng nguy cơ tử vong của
cả bà mẹ và thai nhi; Trong các gia đình nghèo, người phụ nữ cũng là người chịu trách nhiệm với các công việc như trồng rau, chăn nuôi gia súc để gia tăng kinh tế của gia đình, và các công việc này cũng đòi hỏi một lượng nước nhất định Bằng những cứ liệu thực tế, WHO khẳng định nước chiếm vai trò rất lớn trong đời sống nhân loại và việc cung cấp đủ nước trong đời sống hàng ngày là một việc thiết yếu Thiếu nước dẫn đến rất nhiều hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, thậm chí dẫn đến tử vong Nguồn tài liệu phong phú với những dẫn chứng xác thực đã giúp tôi có cái nhìn rộng hơn về quan niệm của các tổ chức trên thế giới về nước và vai trò của nước trong đời sống Nó cũng là nguồn tư liệu phong phú giúp tôi có cái nhìn phong phú hơn về các hành động cụ thể để bảo vệ tài nguyên nước trong thập
Trang 12niên hành động 2005 - 2015 của WHO
Bên cạnh tài liệu đã công bố về nước của WHO, một số báo cáo nghiên
cứu về văn hóa nước như Văn hóa mới về nước ở Tây Ban Nha: một triết lí
hướng tới sự phát triển bền vững [84] của Hiệp hội nước châu Âu (Official
Publication of the European Water Association - EWA) Ngay trong tên gọi của tài liệu đã nhắc đến hai vấn đề chính là văn hóa nước và sự phát triển bền vững của nước Trong phần nội dung, báo cáo nêu rõ: "Nước không chỉ được con người dùng cho các mục đích sống hàng ngày và phục vụ các hoạt động kinh tế, sản xuất mà còn gắn liền với đời sống tâm linh, thể hiện qua các ngôi
mộ và hình vẽ trên hang động ở gần các con suối, nguồn nước" Đây là một biểu hiện mạnh mẽ và sâu sắc của văn hóa nước tác động đến đời sống văn hóa của người Tây Ban Nha từ bao đời nay Với những khẳng định liên tiếp
về nước và giá trị của nước trong đời sống văn hóa của người Tây Ban Nha như: "Người Tây Ban Nha theo đạo Hồi cũng coi nước là vật thiêng liêng, thường sử dụng hình phản chiếu và tiếng róc rách của nước trong kiến trúc"
và "Nước được coi là biểu tượng của sự thuần khiết và màu mỡ Dòng chảy liên tục của nước được coi là hiện thân của sự sống bất tận" đã giúp tôi có cái nhìn tham chiếu với đề tài luận văn của mình trong quá trình nghiên cứu Cuối cùng, báo cáo đã khẳng định "Nước là một phần của Tự nhiên, là di sản
tự nhiên, xã hội, văn hóa của toàn nhân loại, thuộc về tất cả mọi người và cả các thế hệ sau"
1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, vấn đề văn hoá nước từ lâu đã được quan tâm nghiên cứu Với nhiều cách tiếp cận khác nhau, mỗi tác giả, mỗi bài viết đều góp phần vào việc làm sáng tỏ vai trò của nước trong đời sống văn hoá tộc người Các bài viết thường là các nghiên cứu về nước và văn hóa nước cùng ảnh hưởng và
Trang 13tác động của nó lên đời sống văn hóa của từng tộc người Điển hình nhất là các bài viết về nước và văn hóa nước của người Việt
Trong bài viết "Tục thờ nước của người Việt ven sông Hồng" [39], tác giả
Nguyễn Thị Việt Hương nêu rõ ý nghĩa quan trọng của nước trong đời sống
tâm linh của người Việt ven sông Hồng Theo tác giả, "yêu cầu đặt ra đối với
người Việt khi khai thác châu thổ thấp là phải nghĩ tới việc trị thuỷ và thuỷ lợi Yếu tố nước, với tính chất hai mặt và khó có thể khống chế đã trở thành mối quan tâm hàng đầu trong tâm thức người Việt Các lễ hội phản ánh tục thờ nước của người Việt ven sông Hồng vùng Hà Nội vì vậy mà chủ yếu xoay quanh hai nhóm chính: nhóm lễ hội mang ý nghĩa cầu nước và nhóm lễ hội thể hiện khát vọng trị thuỷ" [39, 102] Như vậy, nước không chỉ là yếu tố rất
gần gũi với đời sống hàng ngày của con người mà con người luôn mong muốn khống chế được nước để phục vụ nhu cầu của mình nên con người đã thờ nước dưới nhiều mối quan hệ khác nhau (Ví dụ: Tục thờ nước trong quan
hệ với các tín ngưỡng dân gian, tục thờ nước trong quan hệ với các tôn giáo ngoại lai) Bài viết này là một nguồn tư liệu quý, giúp tôi có cái nhìn tham chiếu về tầm quan trọng của nước đối với các tộc người khác trong cộng đồng dân tộc Việt Nam
Bài nghiên cứu khoa học của Lưu Văn Din trong cuộc thi "Sinh viên
nghiên cứu khoa học 2007" có tên gọi "Yếu tố nước trong đời sống văn hoá
của người Việt qua ca dao, tục ngữ" [19] Mặc dù chỉ dừng lại ở mức khái
quát, nhưng bài viết đã nêu rõ ý nghĩa của nước trong đời sống văn hoá của người Việt thông qua các câu ca dao, tục ngữ đã tồn tại từ bao đời nay Luận
văn Tiến sĩ của Hoàng Ngọc Hoa về "Yếu tố nước trong tổ chức không gian
kiến trúc Việt Nam hiện đại" [31] là một công trình khoa học nghiên cứu nước
như một yếu tố có tác động không nhỏ vào không gian kiến trúc Việt Nam Tác giả đã khảo sát các không gian kiến trúc mang giá trị văn hóa của yếu tố
Trang 14nước như nhà cửa, làng xóm, hệ thống cầu ao, lăng mộ, đền-nghè-phủ, miếu-am-quán, chùa, đình, đô thị, chợ Theo tác giả, tất cả không gian kiến trúc đó đều gắn liền với yếu tố nước Trong luận án này, tác giả nhấn mạnh
đến nghiên cứu về các vấn đề như "Mặt phi vật thể của yếu tố nước: những
giá trị tinh thần, không nhìn thấy của yếu tố nước đã làm hình thành tâm thức
cư trú, được tích lũy hàng ngàn năm trong nhận thức, tư duy của người Việt
Phát hiện các quy luật của tâm thức cư trú của người Việt: đó là những quy
luật nào và bản chất của những quy luật ấy là gì và chúng đóng vai trò quan
trọng như thế nào trong tổ chức không gian kiến trúc Việt Nam Vận dụng các
quy luật trên làm cơ sở cho tổ chức không gian kiến trúc Việt cho người Việt"
[31, tr 56] Luận án này giúp tôi có cái nhìn bao quát hơn về yếu tố nước và ảnh hưởng của nó đến không gian kiến trúc của người Việt từ xưa cho đến hiện đại Bên cạnh đó là mối quan hệ mang tính quy luật giữa không gian kiến trúc của người Việt và yếu tố nước Không gian kiến trúc dù đã vận động hình thành và phát triển nhưng chưa bao giờ có thể vượt ra ngoài phạm vi khống chế của yếu tố nước Từ đó, có thể khẳng định yếu tố nước có vai trò rất lớn trong đời sống của người Việt từ xa xưa Đây là một tư liệu có ích giúp tôi trong việc xem xét các vấn đề có liên quan đến yếu tố nước trong đời sống văn hóa của người Tày ở Cao Bằng
Bài viết "Yếu tố nước trong tín ngưỡng dân gian Hà Nội" [80] được tác
giả Đỗ Thị Minh Thủy viết và đăng trên Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam,
số 1 năm 2005 Trong bài viết của mình, tác giả chú trọng vào yếu tố "nước là một trong những nhân tố cấu thành thần tích của nhiều vị thần ở Hà Nội" [80,
tr 89] Sau đó, tác giả khảo sát hệ thần của sông Hồng ở bờ hữu ngạn phía Đông thành Thăng Long, và hệ thần hai bên bờ sông Tô, sông Thiên Phù, sông Kim Ngưu với các đền, chùa tiêu biểu Mặc dù tác giả chủ yếu nêu lên vai trò của nước trong tín ngưỡng dân gian Hà Nội thông qua các hệ thống
Trang 15đền, chùa thờ các vị thần, thánh bảo vệ cho nguồn nước, song bài viết này cũng giúp tôi có cái nhìn bao quát hơn về tín ngưỡng dân gian của người Việt
ở Hà Nội
Với tác giả Vi Văn An trong bài viết "Tín ngưỡng dân gian của người
Thái trong việc sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước" [1] thì nước là nguồn tài
nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, có vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong đời sống của con người Trong bài viết của mình, tác giả đã nêu bật được ý nghĩa quan trọng của nước đối với đời sống của người Thái Dân tộc Tày và dân tộc Thái cùng nằm trong hệ ngôn ngữ Tày - Thái nên có nhiều nét tương đồng về văn hóa Trong bài viết của mình, tác giả Vi Văn An đã nêu lên các khía cạnh của nước trong đời sống văn hóa của người Tày Đây là một bài viết chi tiết, sâu sắc về quan niệm của người Thái trong việc sử dụng và bảo
vệ tài nguyên nước Tuy nhiên, đây chỉ là một bài nghiên cứu chuyên đề và tác giả chỉ chú trọng vào việc quan niệm của người Thái về nước và các biện pháp bảo vệ tài nguyên nước của người Thái Bài viết của tác giả là tài liệu quý giá để tôi có cái nhìn tham chiếu với tín ngưỡng dân gian của người Tày trong việc sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước
Trong một loạt bài nghiên cứu của tác giả Phạm Trần Thuỳ Linh về
"Quan niệm của người Khmer trong quá trình sử dụng và bảo vệ tài nguyên môi trường" và "Người Khmer bảo vệ nguồn nước" [43] đã nêu rất rõ quan
niệm của người Khmer về nước cũng như cách bảo vệ nguồn nước của người Khmer Theo tác giả, người Khmer sống phụ thuộc và có quan hệ gắn kết chặt chẽ với môi trường và các nguồn tài nguyên thiên nhiên Họ biết rõ những nguồn lợi mà tự nhiên mang lại và, vì vậy, dựa vào những kiến thức được đúc kết từ trong quá trình lao động, họ không chỉ biết sử dụng nước phục vụ sản xuất mà còn tìm cách bảo vệ nguồn nước, bảo vệ môi trường, cũng chính là bảo vệ sự sống Đây là một hệ thống các bài viết của tác giả nói lên ý nghĩa và
Trang 16tầm quan trọng của nước đối với đồng bào Khmer Mỗi tộc người lại có quan niệm và cách hành xử với nước riêng theo cách của mình nên đây sẽ là tài liệu quý giá giúp người nghiên cứu có cái nhìn tham chiếu với tộc người Tày
Trong cuốn "Tri thức bản địa và văn hóa sinh thái của các dân tộc người
thiểu số ở Việt Nam về môi trường và bảo vệ môi trường" [57] của một loạt
bốn bài viết của bốn tác giả nói về nước và văn hóa nước của các dân tộc
Mường, Thái, Chăm và Khmer Đó là các bài viết: "Văn hóa nước của người
Mường (qua khảo sát ở Tân Vinh, Lương Sơn, Hòa Bình)" của PGS TS Bùi
Quang Thắng; bài viết "Văn hóa nước của người Thái" của tác giả Lương Thanh Thủy; bài viết "Vai trò của tri thức bản địa của người Chăm Ninh
Thuận trong ứng xử với môi trường nước" của TS Phan Quốc Anh và bài viết
"Vai trò của nước trong phong tục tập quán của người Khmer" của Th.s Hứa
Sa Ny Hai bài viết về văn hóa nước của người Mường và người Thái của PGS TS Bùi Quang Thắng và tác giả Lương Thanh Thủy đã nêu rất rõ nét quan niệm về nước và vai trò của nước trong mọi mặt đời sống của hai tộc người này Kết thúc mỗi bài viết, các tác giả đều nêu ra những biến đổi về văn hóa nước trong xã hội đương đại và đưa ra những định hướng, khuyến nghị để bảo vệ môi trường nước Hai dân tộc Mường và Thái có nhiều nét tương đồng với người Tày nên qua hai bài nghiên cứu này tôi hiểu được thêm về văn hóa nước của hai dân tộc, qua đó giúp tôi có cái nhìn bao quát hơn về văn hóa nước Tuy nhiên, hai bài viết này chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu khái quát về văn hóa nước của hai tộc người, chưa đi sâu vào việc phân tích ảnh hưởng của nước đến toàn bộ đời sống văn hóa tộc người Song, chúng thật sự là nguồn tài liệu đáng quý để tôi tham khảo
Bài viết của tác giả Hứa Sa Ny thì chỉ nêu quan niệm về nước và vai trò của nước trong các lễ nghi, phong tục của người Khmer mà thôi Đây chỉ là một phần nhỏ trong đời sống văn hóa nói chung của một tộc người Nhưng
Trang 17bài viết này cũng giúp tôi khẳng định rằng nước là nét văn hóa không thể thiếu trong đời sống văn hóa của bất cứ tộc người nào trên thế giới
Với Tiến sĩ Phan Quốc Anh thì ông lại tìm hiểu tri thức bản địa của người Chăm Ninh Thuận trong ứng xử với môi trường nước Dân tộc nào cũng có những cách ứng xử riêng với môi trường tự nhiên nói chung và môi trường nước nói riêng và người Chăm cũng vậy Vì người Chăm cũng là cư dân nông nghiệp lúa nước nên họ có rất nhiều nghi lễ cầu mùa có liên quan đến nguồn nước như lễ cầu đảo (Palau sah); lễ cầu mùa, tạ hỏa, cầu mưa (Yor Yang); lễ khai mương đắp đập (taleh jamưng tăm); lễ chặn nguồn nước (kap kraung halau) Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả chỉ tập trung vào các lễ hội nông nghiệp thể hiện thái độ ứng xử với môi trường nước của người Chăm
Bên cạnh các bài viết về văn hóa nước của các tộc người khác, tôi cũng tìm thấy trên trang web quảng bá cho du lịch ở Sa Pa có một bài báo của tác
giả Vân Anh với tên gọi "Lễ hội rước đất rước nước của người Tày - Bắc Hà"
[2] nói về lễ rước nước của người Tày ở Bắc Hà, Lào Cai Đây là lễ hội truyền thống của người Tày ở Bắc Hà vào rằm tháng giêng hàng năm với ý nghĩa để cầu xin Mẹ Đất, Mẹ Nước phù hộ cho đất đai luôn màu mỡ, cầu cho nguồn nước không bao giờ cạn, giúp dân bản có cuộc sống no đủ quanh năm Đây tuy chỉ là một bài báo ngắn nhưng cũng giúp tác giả có cái nhìn khái quát về
Trang 18tầm quan trọng của nước trong đời sống của đồng bào Tày ở Bắc Hà Qua đó, giúp cho tác giả có cái nhìn khái quát về ý nghĩa của nước đối với người Tày
ở nhiều vùng miền khác nhau trên đất nước
1.2 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
1.2.1 Cơ sở lý thuyết
Luận văn áp dụng một số lý thuyết trong Nhân học để góp phần làm sáng
tỏ vấn đề nghiên cứu Ví dụ như: Thuyết tiến hoá đa tuyến hay còn gọi là
Thuyết sinh thái văn hoá của Julian Steward Thuyết này quan tâm đến mối
tương quan giữa văn hoá và môi trường sinh thái Lí thuyết thứ hai là Cấu
trúc luận Ý nghĩa của yếu tố nước trong quan hệ đối ngẫu với những yếu tố
khác trong hệ thống Tìm ra yếu tố đối ngẫu với yếu tố nước để qua đó khẳng định vai trò và tầm quan trọng của yếu tố nước trong đời sống văn hoá nói chung của người dân
* Một số khái niệm
- Khái niệm văn hóa: Theo Đại từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý (chủ
biên), Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, Hà Nội năm 1998, trang 1796, thì:
Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử; là những nét độc đáo rất riêng của dân tộc này so với dân tộc khác
Còn F.Mayor - nguyên Tổng giám đốc UNESCO đã đưa ra một định nghĩa khái niệm văn hóa trên cơ sở nhấn mạnh tính đặc thù của bản sắc văn hoá dân
tộc: “Văn hoá bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc
khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động”
Trong Nhân học văn hóa, nói đến văn hoá là nói đến dân tộc, bản sắc dân tộc/tộc người cụ thể Nghĩa là, văn hóa bao giờ cũng gắn với một dân tộc/tộc người cụ thể
Trang 19- Khái niệm nước: Cũng trong Đại từ điển Tiếng Việt, trang 1290, thì:
Nước là chất lỏng không màu, không mùi, tồn tại ở dạng tự nhiên trong ao hồ, sông biển
Theo Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới, "nước là khối vật chất chưa
phân hoá, là hình tượng của số lượng vô cùng lớn của những khả năng diễn biến chứa đựng toàn bộ cái tiềm tàng, cái phi hình, cái mầm mống của mọi mầm mống, tất cả mọi hứa hẹn về sự phát triển nhưng cũng chứa đựng mọi mối đe doạ bị tiêu tan Tại châu Á, nước là dạng thức thực thể của thế giới,
là nguồn gốc sự sống và là yếu tố tái sinh thể xác và tinh thần, là biểu tượng của khả năng sinh sôi nảy nở, của tính thanh khiết, tính hiền minh, tính khoan dung và đức hạnh Nước là nguồn gốc và là phương tiện chuyển tải sự sống Nước là biểu tượng của sự tái sinh Nước là biểu tượng của những năng lượng vô thức, của những sức mạnh không định hình của tâm hồn, của những động cơ thầm kín và không cảm nhận thấy" [15; tr 356]
- Khái niệm thung lũng: Theo Từ điển tiếng Việt thì khái niệm thung lũng là: Dải đất trũng và kéo dài nằm giữa hai sườn dốc [63, tr 1233] Còn theo
Từ điển Bách khoa Việt Nam thì thung lũng là: Dạng địa hình âm kéo dài do
dòng nước chảy tự đào trên bề mặt địa hình Mặt cắt ngang của thung lũng thường có dạng chữ V ở núi dốc, dạng chữ U khi dốc thoải, dạng hẻm vực tức canhon Trên nền đá đồng nhất, mặt cắt dọc là một đường cong phần nguồn tiếp tuyến với phương thẳng đứng, phần cơ sở xâm thực tiếp tuyến với phương nằm ngang Ở đồng bằng, thung lũng thường có dạng uốn khúc quanh co [33, tr 286]
1.2.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ đạo đề thực hiện và hoàn thành luận văn này, là điền dã dân tộc học Các công cụ sử dụng trong nghiên cứu là quan sát,
Trang 20phỏng vấn, ghi chép, thu thập tư liệu tại thực địa
Luận văn áp dụng phương pháp thống kê, phân tích, lý giải và so sánh nhằm nhận diện các yếu tố tương đồng và khác biệt của vấn đề nghiên cứu giữa người Tày với người Thái-tộc người cùng chung nhóm ngôn ngữ với họ Ngoài ra, kết hợp giữa nghiên cứu định tính và định lượng trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
1.3 Địa bàn và tộc người nghiên cứu
1.3.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 1
Cao Bằng là tỉnh miền núi nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam Theo chiều Bắc - Nam là 80 km, từ 23007'12" đến 22021'21" Vĩ Bắc (tính từ xã Trọng Con, huyện Thạch An đến xã Đức Hạnh, huyện Bảo Lâm) Theo chiều Đông - Tây là 170 km, từ 105016'15" đến 106050'25" Kinh Đông (tính từ xã Quảng Lâm, huyện Bảo Lâm đến xã Lí Quốc, huyện Hạ Lang)
Phía bắc và phía đông bắc giáp với tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), với đường biên giới dài 311 km Phía tây giáp tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang Phía nam giáp tỉnh Bắc Kạn và Lạng Sơn
* Địa hình
diện tích tự nhiên cả nước) Cao Bằng là vùng cao nguyên đá vôi xen lẫn núi đất, có độ cao trung bình trên 200 m, vùng sát biên có độ cao từ 600 - 1300 m
so với mặt nước biển Cao Bằng có núi non trùng điệp, rừng núi chiếm hơn 90% diện tích toàn tỉnh Từ đó, hình thành nên 3 vùng rõ rệt: miền đông có nhiều núi đá, miền tây núi đất xen núi đá, miền tây nam phần lớn là núi đất có nhiều rừng rậm
Địa hình của tỉnh Cao Bằng là loại địa hình phức tạp, được thể hiện trên 3
1
Trang 21miền địa hình chủ yếu:
- Miền địa hình Karstơ: Chiếm diện tích ở hầu hết các huyện miền đông của tỉnh: Trà Lĩnh, Trùng Khánh, Quảng Hoà, Hà Quảng, Thông Nông Địa hình miền này rất phức tạp, gồm các hệ thống dãy núi đá vôi phân cách mãnh liệt với các đỉnh nhọn dạng tai mèo, gồ ghề lởm chởm cao thấp khác nhau, hang hốc tự nhiên nhiều Có phương kéo dài chung theo hướng tây bắc - đông nam Xen kẽ các dãy núi là thung lũng hẹp với nhiều hình, nhiều vẻ khác nhau
- Miền địa hình núi cao: Chủ yếu phân bố ở các huyện miền tây tỉnh (Nguyên Bình, Bảo Lạc, Thạch An) và một phần diện tích phía nam Hoà An + Hệ thống núi cao Bảo Lạc - Nguyên Bình:
Bao gồm nhiều dãy núi cao kéo dài từ phía tây nam huyện Bảo Lạc qua phần diện tích phía tây nam huyện Nguyên Bình, với các đỉnh cao tiêu biểu: Phja dạ (Bảo Lạc) 1980 m so với mặt nước biển; Phja đén (Nguyên Bình)
1428 m; Phja Oắc (Nguyên Bình) 1931 m Cấu tạo nên hệ thống núi cao này
là trầm tích của điệp sông Hiến và các đá macma xâm nhập axit - Grannit + Hệ thống núi cao Ngân Sơn - Thạch An:
Bao gồm các hệ thống núi xếp theo dãy, kéo dài từ phía bắc - tây bắc huyện Ngân Sơn (Bắc Cạn) qua thị trấn Ngân Sơn, Bằng Khẩu, qua phần diện tích phía tây - tây bắc huyện Thạch An rồi vượt sang phía tây - tây nam tỉnh Lạng Sơn.Với các đỉnh cao tiêu biểu: Pù Tang Lam 1639 m so với mặt nước biển; Khau Pàu: 1188 m Cấu tạo định hình này chủ yếu là các đá trầm tích điệp sông Hiến và một phần không đáng kể của trần tích Paleozoi sớm giữa (Pt1 và Pt2)
- Miền địa hình núi thấp thung lũng: Xen kẽ các hệ thống núi cao là các thung lũng, núi thấp sông suối với những kích thước lớn, lớn nhỏ hình thái
Trang 22
nhiều vẻ khác nhau Các thung lũng lớn như: Hoà An, Nguyên Bình, Thạch
An, thung lũng sông Bắc Vọng Trong đó, đáng chú ý hơn là thung lũng Hoà
An - vựa lúa của tỉnh, nằm trùng với phần phía bắc của lòng máng Cao Lạng, dài gần 30 km Điểm bắt đầu từ Mỏ Sắt (Dân Chủ - Hoà An) kéo dài hết xã Chu Trinh (Hoà An), chạy dọc theo đường đứt gãy Cao Bằng - Lạng Sơn, bao gồm những cánh đồng phì nhiêu, tương đối bằng phẳng, xen giữa các cánh đồng là đồi núi thấp sắp xếp không liên tục theo kiểu bát úp
* Thổ nhưỡng
Đất đai của Cao Bằng được chia làm 3 nhóm đất chính với 24 loại đất khác nhau Đó là nhóm đất núi phân bố ở độ cao>= 900 m so với mặt nước biển (ký hiệu: H); nhóm đất đồi với màu sắc đặc trưng là đỏ vàng (ký hiệu: F)
và nhóm đất bằng, thung lũng hẹp Sau đây là một số đặc điểm chính của các nhóm đất đó
- Đặc điểm của nhóm đất núi
Do địa hình dốc, rừng bị tàn phá nhiều nên tầng dày cấp III (<50 cm) chiếm 41,83%, diện tích tầng dày cấp I (>120 cm) chiếm 25,5%, diện tích tầng dày, trung bình (50 - 120 cm) chiếm 32,81% Diện tích sử dụng cho nông nghiệp của nhóm đất này chỉ chiếm khoảng 5,95% so với cả nhóm
Nhóm này phân bố ở độ cao >= 900m, đặc trưng cho địa hình núi, có quá trình pheralit yếu, quá trình tích luỹ mùn mạnh hơn Trong nhóm đất này có 5 loại đá mẹ chính
Đặc điểm nổi bật của nhóm đất này là thường ở địa hình dốc, diện tích có
độ dốc cấp VI (>250) chiếm 90,51%, diện tích có độ dốc cấp V chiếm 0,21%, cấp IV chiếm 1,96%, cấp III chiếm 0,31%
- Đặc điểm của nhóm đất đồi (nhóm đất đỏ vàng)
Đặc điểm của loại đất này là phát triển trên vùng đồi, núi thấp hoặc địa hình lượn sóng Đất có quá trình tích luỹ Fe, Al (sắt, nhôm) có màu đỏ hoặc
Trang 23vàng Mức tích luỹ này tuỳ thuộc vào điều kiện khí hậu, địa hình và lớp phủ thực vật Địa hình phần lớn bị chia cắt mạnh, sườn dốc
Đất có độ dốc cấp VI chiếm 80% diện tích cả nhóm; độ dốc cấp V chiếm 11,56%; độ dốc cấp III và cấp II chỉ chiếm 3,88%
Tầng dày cấp I (>120 cm) chiếm 41,2% so với cả nhóm Tầng dày cấp II (50 - 120 cm) chiếm 31,5% so với cả nhóm Tầng dày cấp III (< 50 cm) chiếm 27,3% so với cả nhóm
Đất đỏ vàng Cao Bằng chủ yếu phát triển trên các loại đá mẹ: macma, siêu kiềm, macma kiềm chiếm diện tích lớn: 47,39%; sau đó là nhóm đất phát triển trên đá biến chất (phơrit, gnai, mica) chiếm 31,23%
Vì vậy, xét về mặt tổng thể, đất đai Cao Bằng có nhiều mặt ưu thế: Đa số đất có tầng dày Nhưng do địa hình bị chia cắt mạnh nên đất có sườn dốc lớn Điều đó làm hạn chế đến sử dụng đất trong nông nghiệp
- Đặc điểm của nhóm đất bằng - thung lũng
Đồi núi Cao Bằng thấp dần từ bắc xuống nam và chạy theo hướng tây bắc
- đông nam Địa thế hiểm trở, mức độ chia cắt mạnh, núi đá vôi chạy vòng cung dọc biên giới Việt - Trung, từ Bảo Lạc đến Thạch An
Cao Bằng không có cánh đồng rộng mà chỉ có thung lũng nhỏ nằm xen
kẽ những vùng núi hoặc lòng máng ven các con sông tạo thành những dải phù
sa nhỏ bé
Diện tích nhóm đất này chiếm khoảng 4,67% so với tổng diện tích điều tra Trong đó bao gồm nhóm đất phù sa (phù sa được bồi và phù sa không được bồi, phù sa bị glây, phù sa có sản phẩm pheralit ) Nhóm này nhìn chung có thành phần cơ giới nhẹ
Nhóm đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước (F1) đa số có thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng
Do địa hình dốc, bậc thang, tầng mặt bị rửa trôi sét nên đất có nhẹ đi đôi
Trang 24chút, nhưng tầng sâu thành phần cơ giới thường từ trung bình đến nặng
Đất thung lũng dốc tụ đa số có thành phần cơ giới trung bình, tầng tích tụ thành phần cơ giới nặng hơn
Đất tích cácbonnat ở các thung lũng đá vôi hoặc ở địa hình trũng bị ảnh hưởng mạch nước chứa cacbonnat, đất thường có thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng, càng xuống dưới càng nặng hơn
Đặc điểm thành phần cơ giới có lớp đáy từ trung bình đến nặng là một ưu điểm lớn của quá trình canh tác ở Cao Bằng, đất có nền vững chắc tạo điều kiện cho quá trình giữ nước và phân bón cho cây trồng
* Khí hậu
Cao Bằng có khí hậu nhiệt đới gió mùa, là cửa ngõ đón gió mùa đông bắc
từ Trung Quốc tràn sang vào mùa đông, mùa hè chịu ảnh hưởng của gió mùa đông nam Khí hậu Cao Bằng được chia làm 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa và mùa khô
Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 - tháng 9 hàng năm Khí hậu thường là gió mùa đông nam có chịu ảnh hưởng một phần nhỏ của gió mùa tây nam và gió mùa đông bắc Nhiệt độ trung bình những tháng giữa các mùa dao động khoảng 5 - 6oC
Lượng mưa trung bình mùa mưa: 200 - 250 mm, tháng 7 - 7: 300 - 350
trung bình: 80 - 90%.Tổng lượng bốc hơi trung bình/tháng: 65 - 85 mm Mùa khô bắt đầu từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau Mùa này khí hậu ôn đới mát mẻ, giá lạnh hay có sương mù, có vùng còn xuất hiện sương muối Gió mùa đông bắc thường xuyên thổi đến gây khô và rét Các tháng giá rét từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau, nhiệt độ bình quân nhiều ngày giảm xuống dưới 100oC Biên độ các tháng thường dao động từ 8 - 10oC
Trang 25Lượng mưa trung bình mùa khô: 20 - 40 mm; thấp nhất: 10 - 20 mm Nhiệt độ trung bình mùa khô: 8 - 15oC; thấp nhất 3 - 5oC; độ ẩm trung bình/tháng: 70 - 80%; thấp nhất 20 - 30% Tổng lượng bốc hơi trung bình/tháng: 50 - 65 mm; thấp nhất: 40 - 50 mm.Tổng số giờ nắng/tháng: 70 - 90 giờ
Cao Bằng là tỉnh có lượng mưa tương đối thấp Lượng mưa trung bình/năm ở các nơi dao động từ 1000 - 1900 mm Do ảnh hưởng của địa hình nên lượng mưa phân bố không đồng đều Nhìn chung, lượng mưa có chiều hướng tăng theo độ cao, giảm ở các thung lũng bị chắn gió
Hà Quảng Sông Bằng dài khoảng 108 km, trên đất Việt Nam dài khoảng 90
3 chi lưu lớn là sông Sê Bao, sông Hiếu, sông Bắc Vọng
- Sông Gâm, còn gọi là sông Gầm, là một phụ lưu của sông Lô chảy theo hướng từ bắc xuống nam Sông xuất phát từ tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), chảy vào địa giới tỉnh Quảng Tây rồi vào Việt Nam tại tỉnh Cao Bằng
- Sông Quây Sơn: bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy về hướng biên giới hai nước rồi vào lãnh thổ Việt Nam tại Pò Peo thuộc xã Ngọc Khê, huyện Trùng Khánh
- Sông Bắc Vọng bắt nguồn tại Trung Quốc, chảy qua một số huyện phía đông tỉnh Cao Bằng rồi tạo thành biên giới tự nhiên giữa Việt Nam - Trung Quốc trước khi hợp lưu với sông Bằng tại thị trấn Tà Lùng Cửa khẩu Tà Lùng, cửa khẩu chính của tỉnh Cao Bằng nằm bên bờ sông Bắc Vọng, hai cửa khẩu nối với nhau bằng cầu Tà Lùng bắc qua sông
Trang 26Ngoài ra, Cao Bằng còn có một số hồ Nổi tiếng là hồ Thang Hen nằm trên đỉnh núi cheo leo, cách mặt biển hàng nghìn mét, một thắng cảnh có giá trị du lịch Hồ hình thoi, rộng 300 m, dài 100 m, ẩn giữa rừng trám trắng, trám đen nhô lên nhiều khối đá tai mèo ở huyện Quảng Hòa Cạnh hồ Thang Hen còn có hồ Thang Luông với một hòn núi nhô lên giữa hồ, rất ngoạn mục Nguồn nước ngầm, nước khoáng Cao Bằng khá phong phú Nguồn nước khoáng Tân An có giá trị du lịch Tuy nhiên nước ngầm nằm sâu hơn 100 m,
có nơi tới 1000 m, nên việc khai thác gặp nhiều khó khăn
* Khoáng sản
Cao Bằng là tỉnh có nguồn tài nguyên khoáng sản khá phong phú về chủng loại và đa dạng về loại hình do có lịch sử phát triển địa chất phức tạp Các loại khoáng sản có trữ lượng tương đối lớn, chất lượng khá là quặng sắt trữ lượng khoảng 100 triệu tấn, bôxít 200 triệu tấn, mangan 7 triệu tấn Đặc biệt, Cao Bằng nổi tiếng từ lâu với mỏ thiếc Tĩnh Túc với trữ lượng khoảng 20 triệu tấn Ngoài ra, Cao Bằng còn có nhiều khoáng sản khác như đồng, niken, kẽm, chì, antimoan, vàng … nhưng trữ lượng nhỏ, ít có giá trị về mặt kinh tế
Đá vôi có trữ lượng rất lớn ở Cao Bằng, phân bố tập trung nhất ở khu vực phía bắc và đông bắc Đây là nguồn nguyên liệu quan trọng để sản xuất xi măng và phục vụ cho công nghiệp vật liệu xây dựng
1.3.2 Dân cư, dân số và sự phân bố
Theo số liệu Tổng điều tra dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội tháng 6/2010, trang 151, dân số Cao Bằng là 507.183 người gồm 46 dân tộc, trong đó Tày có 207.805 người/1.626.392 dân
số Tày cả nước (là dân tộc đông nhất trong tỉnh chiếm 41,0 % dân số), Nùng (31,1 %), Hmông (10,1 %), Dao (10,1 %), Việt (5,8 %), Sán Chay (1,4 %)
Trang 27Có 11 dân tộc có dân số trên 50 người
Người Tày đông nhất tập trung chủ yếu ở các huyện Hòa An, Trùng Khánh và rải rác khắp các huyện thị còn lại Phần đông người Tày cư trú ở vùng thấp, khai khẩn các lòng chảo, thung lũng và trên các sườn đồi làm thành ruộng bậc thang Người Nùng đứng thứ hai về số lượng, phân bố nhiều nhất ở huyện Quảng Hòa, sau đó là Hà Quảng, Hòa An Địa bàn của họ là nơi chuyển tiếp vùng núi thấp và vùng núi cao Người Dao cư trú xen kẽ với nhiều dân tộc khác như Lô Lô, Sán Chỉ, Sán Chay…) cùng sinh sống trên vùng núi cao Người Hmông tụ cư trên vùng núi cao, những thung lũng có địa hình hiểm trở với độ cao trung bình 800 - 1000 m và trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt Địa bàn cư trú của người Hmông và Dao phần lớn ở các huyện vùng cao như Bảo Lạc, Nguyên Bình, Thông Nông và một số xã vùng cao thuộc huyện Hòa An, Hà Quảng Người Kinh tập trung ở thị xã Cao Bằng và các huyện Hòa An, Nguyên Bình (Nguyên Bình và Tĩnh Túc) Người Sán Chay và các tộc dân ít người khác (Lô Lô, Sán Chỉ, Sán Dìu, Ngái…), cư trú
ở các huyện vùng cao Bảo Lạc, Nguyên Bình
1.3.3 Khái quát về người Tày ở Cao Bằng
Duy Anh trong cuốn “Đất nước Việt Nam qua các đời” có viết: “Bộ lạc Tây
Vu là bộ lạc căn bản của Thục Phán, nguyên trước kia chỉ là ở miền thượng
Trang 28lưu sông Lô, bao gồm cả miền thượng lưu sông Gâm và sông Chảy, tức miền Cao Bằng, Hà Giang và Bắc Tuyên Quang ngày nay Địa bàn này là nơi cư trú chủ yếu của người Tày ” [72; 13]
Người Tày là cư dân bản địa cư trú lâu đời trên mảnh đất biên cương của
tổ quốc - Cao Bằng Theo căn cứ của công tác khảo cổ học thì đã tìm thấy xương cốt của ông cha của người Tày: những chiếc rìu đá ở Nà Coọn (huyện Nguyên Bình); Tôôm Đeng (huyện Hà Quảng); Kẻ Ngoã (huyện Hoà An); Đàm Thuỷ, Chí Viễn (huyện Trùng Khánh) Qua những bằng chứng trên ta có thể khẳng định, người Tày cổ cư trú rất lâu đời ở Cao Bằng Họ sống chủ yếu trong lòng máng sông Bằng, lòng máng sông Bắc Vọng, Quây Sơn, ở những thung lũng hẹp của vùng Quảng Uyên, đến thung lũng cao trên 800 m so với mặt nước biển như Đồng Mu (huyện Bảo Lạc)
1.3.3.2 Hoạt động kinh tế
- Người Tày từ lâu đời định cư trên cánh đồng màu mỡ nên từ lâu họ có một nền nông nghiệp cổ truyền khá phát triển Đặc biệt là những kĩ thuật làm lúa nước tương đương với trình độ của người Kinh ở đồng bằng Cách thức canh tác chung của họ là: làm đất khá kĩ, đất được cày ải, cày đi bừa lại nhiều lần, đắp bờ giữ nước và bón lót phân Công cụ chủ yếu của họ là cày chìa vôi, bừa, mai, xẻng Để đảm bảo cho việc thâm canh lúa trên địa bàn thung lũng,
từ xa xưa đồng bào đã chú ý làm thuỷ lợi Qua nhiều thế hệ, họ đã tạo ra những công trình thuỷ lợi thích hợp với địa thế ruộng đất Họ là người có nhiều kinh nghiệm trong việc đào mương, đắp phai, bắc ống dẫn nước vào ruộng, cũng như việc sử dụng một cách phổ biến và rất tài tình những chiếc cọn nước
- Bên cạnh làm lúa nước, cư dân còn biết làm lúa nương Nương thường
có hai loại là nương bằng và nương dốc Phần lớn các gia đình đều có vườn bên cạnh nhà hoặc ở ven đường, ven suối, gần bản Vườn chủ yếu để trồng và
Trang 29cung cấp các loại rau, quả cho đời sống hàng ngày
- Gia đình người Tày nào cũng biết chăn nuôi Họ thường nuôi nhiều loại gia súc như lợn, trâu, bò; gia cầm như gà, vịt, ngan ngỗng Nuôi trâu bò để làm sức kéo Ngoài ra, họ còn đào ao thả cá Gần như mỗi hộ gia đình đều có một cái ao con con để cung cấp lương thực cho gia đình Gia đình nào nuôi nhiều thì mang ra chợ bán
- Vùng núi Việt Bắc là nơi rất phong phú về thảm thực vật và các quần thể động vật nên rất thuận tiện cho việc săn bắn, hái lượm Mặc dù sản xuất nông nghiệp đã phát triển ở trình độ cao nhưng những sản phẩm của săn bắn hái lượm vẫn đóng một vai trò khá quan trọng trong đời sống hàng ngày của
cư dân nơi đây Tuỳ theo mùa mà người dân vào rừng kiếm cho mình những sản phẩm của tự nhiên Các loại rau rừng, nấm và mộc nhĩ có nhiều vào mùa xuân Các loại cây củ như củ nâu, củ báng, củ mài được tìm kiếm vào những ngày giáp hạt hay những năm mất mùa đói kém Săn bắn cũng là một trong những thú vui của người dân nơi đây, vừa là để bảo vệ mùa màng và bổ sung thêm khẩu phần thức ăn của họ Có hai hình thức săn là săn rình và săn đuổi
Họ chỉ tiến hành săn bắn trong các khu rừng rậm và xa Ngày nay, việc hái lượm săn bắn không còn được người Tày sử dụng rộng rãi nữa Có chăng họ chỉ vào rừng hái những lá cây thuốc quý, hái rau rừng cũng như săn bắn những con thú hoang để cải thiện bữa ăn hàng ngày mà thôi
- Các nghề thủ công của người Tày chưa tách khỏi nông nghiệp và được coi như nghề phụ trong gia đình Một số nghề thủ công phổ biến ở đây như: đan lát, dệt, rèn, đục đá, làm gạch ngói, làm nhà… Đặc biệt, cư dân ở đây biết làm ra những sản phẩm dệt thổ cẩm rất đẹp Hình ảnh những cô gái Tày duyên dáng bên khung cửi đã làm say lòng biết bao chàng trai Ngày nay, trong các nghề thủ công truyền thống, còn rất ít các giá trị truyền thống được lưu giữ lại Các nghề thủ công truyền thống đã dần mai một đi, thay vào đó là
Trang 30các sản phẩm của máy móc Ngày trước quần áo, chăn màn hầu hết là sản phẩm của nghề dệt thổ cẩm truyền thống, song ngày nay các sản phẩm dệt thổ cẩm chỉ để phục vụ mục đích du lịch, bán cho các du khách, xuất khẩu đi những nơi khác
1.3.3.3 Đời sống vật chất
- Ăn: Tập quán ăn uống của người Tày Cao Bằng vừa mang đậm sắc thái của cư dân nông nghiệp vùng thung lũng, vừa ảnh hưởng yếu tố văn hóa Nam Trung Quốc Trong gia đình truyền thống của người Tày, lương thực là yếu tố đầu tiên đảm bảo cho cuộc sống của đồng bào Khác với người Thái ở Tây Bắc, người Tày lại chủ yếu sử dụng gạo tẻ như người Kinh Gạo nếp chỉ là gạo được sử dụng trong các lễ tết, giỗ, cưới xin mà thôi, còn để phục vụ đời sống hàng ngày người dân thường sử dụng gạo tẻ Với gạo tẻ, người dân ở đây trung thành với món cơm tẻ truyền thống của người Việt Nam
Về thực phẩm: thịt lợn là thực phẩm được người dân sử dụng hàng ngày Các món được chế biến từ thịt lợn của đồng bào: món thịt lạp là món dự trữ lâu ngày của người dân Ngoài ra còn có món thịt thính (rang gạo nếp hay đỗ tương rồi xay thành bột mịn đem trộn với thịt lợn) và món hém thịt Cá chỉ là thức phụ trong cơ cấu bữa ăn hàng ngày của người dân Tuy nhiên, người dân nơi đây vẫn có món hém cá rất ngon
Rau: phong phú, có rất nhiều loại ở rừng, trong vườn nhà, ngoài bờ ruộng Nhìn chung, người dân đã biết tận dụng tối đa những loại rau của tự nhiên và trong vườn nhà
Thức uống chủ yếu hàng ngày của người Tày là nước lã Có những nơi tiến bộ đã biết đun sôi nước để uống Nhưng nhìn chung đồng bào hầu hết là uống nước lã lấy từ mó nước đầu nguồn về Mỗi xóm, mỗi làng đều có một
mó nước chung để sử dụng Mó nước này trong vắt và cũng là nơi cung cấp nước cho hệ thống tưới tiêu của đồng ruộng Một số nơi còn biết đun các loại
Trang 31lá để uống như lá vối, lá chè xanh Trong các buổi tiệc, lễ tết thì thức uống chủ yếu là rượu Rượu là thức uống không thể thiếu của người dân nơi đây, khi có khách vào nhà là mời rượu Vì vậy, hầu như nhà nào cũng nấu rượu và
dự trữ rượu trong nhà
- Mặc: Bộ y phục truyền thống của nam, nữ người Tày Cao Bằng được cắt may bằng vải đen nhuộm chàm Y phục nam giới gồm quần (khóa), áo (slửa) Quần cắt theo kiểu chân què, đũng rộng, thắt băng dây vải Áo xẻ ngực, khuy cài bằng cúc nhựa hay dây vải; áo cổ tròn, ống tay rộng, có 3 túi (1 túi trên, 2 túi dưới) Nhìn chung bộ y phục nữ phức tạp hơn y phục nam bởi gồm nhiều bộ phận, nhiều chi tiết Ngoài áo dài, áo cánh ngắn còn có khăn, giày, thắt lưng, xà cạp Phụ nữ Tày cũng mặc quần đen, cắt may gần giống như quần nam giới Riêng áo thường dài đến đầu gối, cắt may theo kiểu 5 thân, cài khuy bên nách phải
Ngày nay, bộ y phục truyền thống đã mai một đáng kể hoặc có chăng cũng chỉ được lớp trung niên, người già mặc trong các dịp lễ tết Hầu hết nam,
nữ thanh niên, nhất là khu vực huyện thị hiện nay đã ăm mặc âu phục như người Kinh Vì thế, hiện nay hầu như nghề trồng bông, dệt vải của người Tày
ở Cao Bằng cũng dần mất theo
- Ở: Một trong những tiêu chí quan trọng đầu tiên khi chọn đất dựng nhà của người Tày là phải gần nguồn nước Nếu bạn đi dọc khắp các bản làng của người Tày ở Cao Bằng thì không khó để nhận ra rằng bản làng của người Tày thường chạy dọc theo các con sông, con suối dọc theo các sườn đồi Tuy nhiên, hình ảnh những ngôi nhà sàn đơn sơ thoắt ẩn thoắt hiện trong cảnh núi non hùng vĩ của người Tày ở Cao Bằng ngày nay đã không còn, thay thế vào
đó là hình ảnh những ngôi nhà xây kiên cố Ở Cao Bằng ngày nay, trừ một số
xã thuộc vùng sâu vùng xa còn lưu giữ được nhiều nét văn hóa truyền thống thì còn lại hầu như các huyện vùng đồng bằng, thung lũng và thị xã Cao Bằng,
Trang 32người dân đều sử dụng nhà đất như người Kinh Cộng thêm vào đó là khoảng thời gian tiếp xúc với nền văn hóa Kinh từ lâu đời nên người dân nơi đây làm cho mình những ngôi nhà vách đất lợp ngói Trải qua thời gian hội nhập và phát triển vào nền kinh tế thị trường, hầu hết mọi nhà đều xây dựng được cho mình những ngôi nhà mái bằng kiên cố Những hộ nghèo trong làng thì còn tồn tại ngôi nhà vách đất mái ngói
1.3.3.4 Văn hoá - xã hội
Là một tỉnh có nhiều dân tộc sinh sống, Cao Bằng có nền văn hoá truyền thống rất phong phú Người Tày chiếm số lượng khá lớn trong tỉnh, sống hầu hết ở các huyện Họ có truyền thống văn hoá lâu đời, có chữ viết riêng, có điều kiện kinh tế khá hơn các dân tộc khác Nét đặc sắc về văn hoá của người Tày được thể hiện trong các hội làng, ca hát đối đáp, hát ví, hát then Về nhạc
cụ, đàn tính là loại đàn dân tộc đặc trưng của người Tày Dân tộc Nùng sống đan xen với dân tộc Tày nên về mặt văn hoá chịu nhiều ảnh hưởng của dân tộc Tày Dân tộc Dao sống chủ yếu ở vùng núi thấp, văn hoá còn ít nhiều hạn chế, đặc biệt còn lưu lại nhiều tập tục lạc hậu Dân tộc HMông sống trên các vùng núi cao hẻo lánh, có ngôn ngữ thuộc nhóm Hmông - Dao Họ thường sử dụng các loại nhạc cụ như khèn và đàn môi để gọi bạn tình và ca ngợi vẻ đẹp của cuộc sống quê hương
Cao Bằng hàng năm có nhiều lễ hội truyền thống của các dân tộc sinh sống trong vùng như hội mời Mẹ Trăng, hội Lồng Tồng, hội chùa, hội Thanh minh…
Mỗi dân tộc, từng vùng có loại hình dân ca riêng Người Tày có làn điệu Lượn, Hát then, Lượn Slương, Lượn cọi, Lượn ngạn Người Nùng có Lượn phủ, Lượn tại, Lượn Hèo phơn Nùng an, Sli giang, Nàng ới Người Dao có Páo dung
Trang 33TIỂU KẾT
Với những khái quát trên về điều kiện tự nhiên và con người của vùng đất Cao Bằng ta có thể khẳng định rằng người Tày là cư dân bản địa ở nơi đây Dân số Tày chiếm gần một nửa dân số toàn tỉnh, vì thế những ảnh hưởng của văn hóa Tày cũng có sức bao phủ rộng lớn và đậm nét Người Tày thường cư trú ở các vùng thung lũng ven nhiều con sông, con suối vì vậy nền nông nghiệp chính của họ là nền nông nghiệp lúa nước với những kĩ thuật canh tác lâu đời Chính vì vậy, yếu tố nước luôn đóng vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa của người Tày Nước không chỉ cung cấp nguồn nước sinh hoạt phục
vụ đời sống hàng ngày mà nước còn là một yếu tố quan trọng nằm trong hệ thống tâm linh của người Tày Cùng với nền văn hóa đa dạng của các dân tộc khác, văn hóa Tày đã góp phần tô điểm vào bức tranh văn hóa chung của tỉnh Cao Bằng
Trang 34CHƯƠNG 2 NHỮNG KHÍA CẠNH BIỂU HIỆN CỦA YẾU TỐ NƯỚC TRONG VĂN HÓA CỦA NGƯỜI TÀY CAO BẰNG 2.1 Quan niệm của người Tày về nước
Trong quan niệm truyền thống của người Tày, các lực lượng tạo nên vũ
trụ đều có yếu tố nước (nặm) Đó là "Tam phủ" hoặc "Tam miền" bao gồm:
miền Trời, miền Đất, miền Nước Trong "Tứ phủ" thì có thêm miền Rừng (Ngàn phủ) Cho dù là "Tam phủ" hay "Tứ phủ" thì yếu tố nước vẫn luôn có mặt, do đó có thể thấy rằng thế giới Nước hoặc miền Nước luôn chiếm vị trí quan trọng trong ba hoặc bốn miền (phủ) tạo nên thế giới này
Trong quan niệm về thế giới quan và nhân sinh quan của người Tày thì
"vũ trụ có chỗ tận cùng, gọi là "fạ slút nặm tẳng" tức là nơi tận cùng của trời đất, nơi mà nước biển tự dâng lên trời Đây là nơi trời đất giao nhau Những thuyền bè lạc đến nơi này không tránh khỏi bị đắm Ở đây có con chim khổng
lồ chín đầu chín đuôi (nộc cẩu hua cẩu hang) thường hay cứu vớt thuyền bè
và những người bị đắm [78, tr 12]
2.2 Yếu tố nước trong hoạt động kinh tế và đời sống vật chất
Từ xa xưa, người Tày ở Cao Bằng đã chọn cho mình những vị trí định cư gần các con sông, con suối Người Tày là cư dân nông nghiệp trồng lúa nước,
từ lâu họ đã biết thâm canh cây trồng và áp dụng các biện pháp thuỷ lợi như: đào mương, đắp máng, đắp phai, làm cọn lấy nước tưới ruộng Vì vậy, nước là một yếu tố rất quan trọng trọng các hoạt động kinh tế của họ Biểu hiện đầu tiên, mạnh mẽ nhất có lẽ chính là hệ thống thủy lợi của đồng bào Tày Họ coi trọng nguồn nước cung cấp cho đồng ruộng, cũng chính là nguồn cung cấp sự
Trang 35sống Người Tày thường có câu "Mì nặm chính mì nà" có nghĩa là "Có nước
mới có ruộng" Có ruộng thì có lương thực, thực phẩm để lễ gia tiên, để tổ chức lễ hội trong các tín ngưỡng dân gian và để duy trì sự sống
Đi dọc các con đường nhỏ vào làng bản của người Tày ở Cao Bằng, hình ảnh cọn nước là hình ảnh đẹp luôn thu hút mọi ánh nhìn của người dân cũng như khách du lịch Vốn là cư dân nông nghiệp làm ruộng nước, người Tày đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm và tri thức dân gian phong phú trong việc khai thác, bảo vệ và sử dụng có hiệu quả nguồn nước thiên nhiên để phục vụ cho nhu cầu sản xuất và chăn nuôi Chính các kinh nghiệm và tri thức dân gian này đã làm nên một phần các giá trị văn hoá mang đậm bản sắc tộc người của họ
Từ trước tới nay, chúng ta vẫn biết đến hệ thống thủy lợi nổi tiếng là đắp mương phai và làm cọn nước của người Tày Về mặt này, họ đã đạt được những thành tựu đáng kể trong việc khai thác và sử dụng nguồn nước tưới tiêu để “dẫn thủy nhập điền” Trong sản xuất nông nghiệp, biện pháp thủy lợi luôn được người Tày đặt lên hàng đầu Có thể nói, hệ thống thủy lợi của người Tày không những là một trong những thành tố văn hóa vật chất, phản ánh kinh nghiệm dân gian truyền thống đã được đúc kết, mà nó còn thể hiện bản sắc văn hóa đặc trưng của người Tày
Mương là đường khai để dẫn nước từ miệng phai vào ruộng Nguồn nước
ở mương thường bắt nguồn từ việc đắp phai Mặc dù với trình độ lao động thủ công trước đây nhưng người dân đã đạt được những thành tựu đáng kể trong công việc đắp mương phai làm thuỷ lợi Trong kho tàng ca dao, tục ngữ của người Tày còn lưu truyền câu:
Bươn chiêng tò mạy rị Bươn nhỉ tò mạy phai
Trang 36có nghĩa là:
Tháng giêng tìm cây để rào vườn Tháng hai tìm cây để đắp mương phai lấy nước về ruộng
nói về tầm quan trọng của việc làm mương trong sản xuất nông nghiệp
Phai là một loại đập ngăn suối dựng bằng gỗ, nứa, rơm, rạ, để dâng mực nước vào mương dẫn tới ruộng
Lái là một dạng phai phụ thường được đắp trong các con mương để dẫn nước vào triền ruộng, các thửa ruộng lẻ hoặc được đắp tạo dòng chảy, hướng vào guồng quay của cọn nước
Lịn là hệ thống máng dẫn nước vào ruộng, thường được làm bằng tre, luồng, Lịn có tác dụng hứng nước từ guồng cọn nước đưa nước tới ruộng hay nói cách khác lịn giống như một con mương dẫn nước vào ruộng
Cọn nước (pặt nặm) là một sáng tạo văn hoá độc đáo trong hệ thống thuỷ
lợi của các dân tộc Tày, Thái Nó không những thể hiện cách ứng xử của người dân với môi trường canh tác mà còn chứng tỏ rằng con người đã đạt được những thành tựu nhất định trong lĩnh vực thuỷ lợi dân gian: cách tính toán lưu lượng nước, mô đun dòng chảy
Cọn nước là công cụ phục vụ tưới tiêu được làm bằng tre, gỗ áp dụng nguyên tắc lợi dụng dòng nước chảy xiết để tạo ra một lực tác động làm cho guồng quay và đưa nước lên, đổ vào các chân ruộng cao Khi guồng quay, các ống nứa buộc theo hình chéo tự múc đầy nước đưa lên đổ vào mương hay máng hứng rồi theo đó theo mương tới ruộng
Việc sử dụng cọn nước đưa nước từ chỗ suối sâu lên cao rồi chảy vào mương, máng đã khắc phục được việc phải tốn quá nhiều công sức để đắp phai, đào mương nhất là trong điều kiện địa hình không được bằng phẳng Cọn nước đã mang lại hiệu quả cao trong việc cung cấp nước cho đồng ruộng Cọn nước là sáng tạo mang tính kĩ thuật của đồng bào Tày, Thái, bên cạnh đó
Trang 37có còn là một “công trình văn hoá” mang đậm bản sắc của nền văn minh nông nghiệp vùng thung lũng
Đối với bộ phận canh tác nương rẫy là chính, thì nguồn nước mưa tự nhiên là nguồn nước quan trọng nhất cho mùa vụ Vì phải phụ thuộc vào nguồn nước mưa tự nhiên, đồng bào đã biết canh tác các giống cây trồng vào mùa mưa để tận dụng nguồn nước trời Chính vì vậy, thời điểm canh tác của mùa vụ luôn phụ thuộc vào quy luật của thời tiết Điều này có thể nhận thấy rất rõ nhất qua bảng nông lịch của người Tày Nương rẫy bao giờ cũng chỉ làm được một vụ trùng vào mùa mưa để đảm bảo đủ lượng nước trong suốt thời kì sinh trưởng của cây trồng (phát nương từ tháng 3 - 4 âm lịch, đốt và gieo nương tháng 5, làm cỏ tháng 6 - 7 và thu hoạch tháng 9 - 10 âm lịch) Trước đây, diện tích lúa nương ở Cao Bằng rất cao, lên đến hàng chục ngàn ha Nhưng từ năm 1995 trở lại đây, do việc giao đất giao rừng cho các
hộ gia đình quản lí nên tình trạng đốt nương làm rẫy đã hạn chế rất nhiều Từ
đó, các hộ gia đình chăm lo cho mảnh rừng của mình, không đốt nương làm rẫy như trước nữa nên diện tích gieo trồng lúa nương giảm hẳn Hiện nay, diện tích nương rẫy của cả tỉnh chỉ còn khoảng 200 - 300 ha, tập trung ở vùng sâu vùng xa của các huyện Bảo Lạc, Bảo Lâm, Thạch An, Thông Nông Bên cạnh việc phục vụ tưới tiêu, nước còn được sử dụng để phục vụ chăn nuôi gia súc, gia cầm, đào ao thả cá Với đặc thù địa hình, không phải gia đình nào cũng có điều kiện đào ao ngay gần nhà như ở dưới xuôi Thay vào đó, gia đình người Tày thường chọn đào ao ở trên đồng ruộng Các gia đình có diện tích đồng ruộng lớn thì thường dành một khoảnh ruộng gần bờ mương hay gần các con suối để đào ao Chọn vị trí để đào ao như vậy là để đảm bảo lượng nước trong ao cũng như thuận tiện trong việc thay nước ao
Các gia đình người Tày thường chăn nuôi gia cầm để một phần cải thiện bữa ăn khi nhà có việc (ma chay, cưới xin, giỗ chạp ), một phần để mang ra
Trang 38chợ bán góp phần đóng góp thêm cho thu nhập của gia đình Các con vật thường nuôi là: gà, vịt, ngan, lợn Hình ảnh quen thuộc trong đời sống hàng ngày của cư dân Tày là đàn gà, vịt được thả rông ở vườn, xung quanh những chum nước ngoài sân Bên cạnh đó là hình ảnh những người bà, người mẹ tần tảo lam lũ chăm bẵm đàn lợn béo tròn Những hình ảnh thân thương như vậy luôn là kỉ niệm đẹp không bao giờ phai trong tâm trí của những người con, người cháu Tày
Một trong những tiêu chí quan trọng đầu tiên khi chọn đất dựng nhà của người Tày là phải gần nguồn nước Hầu hết làng bản của người Tày đều được
bố trí trong các thung lũng lòng chảo hay trải dài theo các sườn đồi, nhưng bao giờ nơi cư trú của họ cũng đều gắn với khe suối, gần nguồn nước, thuận tiện cho việc đắp mương phai để “dẫn thủy nhập điền” (đưa nước vào ruộng)
và nhu cầu sinh hoạt hàng ngày
2.3 Yếu tố nước trong đời sống xã hội
Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của nhu cầu nước đối với đời sống của con người, nên từ xa xưa, người Tày ở Cao Bằng đã đặt ra những quy định khá cụ thể trong việc bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên nước Những quy định này thể hiện trong phong tục, tập quán, luật tục hay văn bằng quy ước, liên quan đến hai khía cạnh: nước sản xuất và sinh hoạt
Đối với nước phục vụ sản xuất và chăn nuôi, cho dù canh tác ruộng nước hay nương rẫy là chính, song nhu cầu nước cần cho sản xuất và chăn nuôi là hết sức quan trọng Thiếu nước, nghĩa là mùa màng sẽ thất bát, nên trong xã hội cổ truyền của các người Tày, những quy định liên quan đến việc bảo vệ nguồn nước luôn được thể hiện trong văn bản quy ước, phong tục tập, quán nói chung hay các nghi lễ, tín ngưỡng nông nghiệp hàng năm của họ
Người Tày rất coi trọng việc chăm sóc hệ thống thủy lợi nên mỗi gia đình
Trang 39người Tày trong cộng đồng thường phải góp công, góp sức vào việc tu bổ hệ thống mương, phai, lái, lịn Hàng năm, cộng đồng vẫn có những hoạt động chung, huy động cả làng, cả bản ra ruộng để tu bổ hệ thống kênh mương Người có công góp công, người có của góp của Qua đó, cũng hình thành nên
ý thức cố kết cộng đồng rất lớn của người Tày
Để bảo vệ nguồn nước sản xuất, một trong những quy định phổ biến ở người Tày là: cấm tất cả mọi thành viên trong làng phát đốt các khu rừng đầu nguồn (rừng cấm) làm nương rẫy; cấm chặt các loại gỗ quý để sử dụng vào mục đích riêng Rừng cấm phát đốt đôi khi còn bao gồm cả rừng măng, nứa, vầu (dùng để khai thác chung), khu rừng dùng để chôn cất người chết, rừng cúng hay những cánh rừng gỗ quý xung quanh làng… thường được gán theo những câu truyện thần bí, những kiêng kỵ, những lực lượng siêu nhiên… mà người nào vi phạm sẽ bị ma làm hại
Từ xưa, ngoài khoảng rừng chung của cả xóm thì mỗi nhà đều có một khoảng rừng riêng của mình Tuy nhiên, không phải gia đình nào cũng có khoảng rừng riêng Chỉ có những gia đình định cư lâu năm ở trong xóm hay nói một cách khác là những gia đình góp công tạo dựng nên xóm mới có khoảng rừng riêng của mình Việc bảo vệ rừng chung của xóm là việc của cả xóm, không gia đình nào được trồng trọt hay chặt cây trong rừng chung đó Người dân chỉ có thể vào rừng chung để nhặt những cành cây khô mà thôi Còn rừng sở hữu riêng của từng gia đình thì được phân định rất rõ ràng, rừng nào của nhà nào thì chỉ có gia đình ấy được khai thác Những gia đình không
có rừng riêng muốn vào nhặt củi khô trong rừng của nhà nào thì phải xin phép
và có sự đồng ý của chủ rừng Nếu cố tình vi phạm sẽ bị cả làng cười chê và tùy theo mức độ mà xử phạt Tùy từng vùng mà có những quy định xử phạt khác nhau
Trang 40Đối với nước sinh hoạt, trước kia, khi nước chưa được đưa về từng cụm xóm như hiện nay, mỗi gia đình người Tày hàng ngày vẫn phải ra tận mó nước của bản để gánh nước về phục vụ nhu cầu sinh hoạt Mó nước đó là mạch nguồn sinh sống, là yếu tố văn hóa tâm linh đặc biệt của một cộng đồng Mỗi làng, mỗi bản đều có một mó nước thiêng như thế của riêng mình Nước
ở mó nước đó chỉ để phục vụ cho việc ăn uống và các sinh hoạt tín ngưỡng, nghi lễ Còn các việc khác như tắm giặt hay cho gia súc uống nước thì phải ra những dòng suối nhỏ quanh đó, chứ nhất định không được tắm gội hoặc cho gia súc uống nước tại mó nước thiêng của làng Không có tài liệu nào ghi lại
về việc nếu gia đình nào có người vi phạm quy định đó thì sẽ bị xử phạt như thế nào Có lẽ, từ lúc sinh ra cho đến khi lớn lên, bất cứ người dân nào thuộc cộng đồng đều được ông bà, cha mẹ giáo dục về điều đó nên không bao giờ
có người vi phạm quy định ngầm đó cả
Hàng năm, vào đầu xuân năm mới, đồng bào nhiều nơi mở hội "lồng tồng" (giữa cánh đồng) hay "cóc-pò" (trên núi) để tế thần nông, cầu mùa màng Trong lễ hội lồng tồng đầu năm, đêm trước khi diễn ra lễ hội chính người chủ lễ (thường là thày Tào, hoặc thày phù thuỷ), gọi là “pú mo” cùng với đại diện các dòng họ trong làng phải lên mó nước đầu làng lấy nước thiêng về để phục vụ cho việc thờ cúng của ngày hôm sau Đây là một phần nghi lễ rất quan trọng trong lễ hội lồng tồng Ngày hội chính, sau lời khấn tạ
ơn, “pú mo” tiếp tục khấn cầu mưa, một người phụ lễ đội chậu nước thiêng đứng bên cạnh, nhiều người khác cầm tàu lá cọ đi từ nơi cúng tế về cuối bãi đất Khấn xong, “pú mo” vẩy nước ra xung quanh, ngụ ý là trời ban mưa, dân bản xúm lại, ai cũng muốn hứng lấy những giọt nước tượng trưng cho may mắn ấy Lễ hội lồng tồng là lễ hội lớn nhất của đồng bào nơi đây và trong phần nghi lễ thì việc lấy nước thiêng là một việc làm quan trọng cần phải hoàn thành trước khi vào lễ chính Ở đây, nước tượng trưng cho sự may mắn,