1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu văn hóa thương hồ trong phát triển du lịch thành phố Cần Thơ

140 427 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 2,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nghiên cứu khoa học khác về chợ nổi và du lịch chợ nổi của đội ngũ giảng viên trường đại học Cần Thơ như:  Đề tài “Vai trò của chợ nổi đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở Đồng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐÀO THỊ TUYẾT LINH

NGHIÊN CỨU VĂN HÓA THƯƠNG HỒ TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH THÀNH PHỐ CẦN THƠ

LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH

Hà Nội, 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐÀO THỊ TUYẾT LINH

NGHIÊN CỨU VĂN HÓA THƯƠNG HỒ

Trang 3

MỤC LỤC

Mục lục ……… 1

Danh mục bảng biểu ……… 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 6

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Lịch sử nghiên cứu của vấn đề 6

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

6 Phương pháp nghiên cứu 8

7 Cấu trúc của luận văn 10

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản 12

1.1 Các khái niệm cơ bản 12

1.1.1 Sản phẩm du lịch văn hóa 12

1.1.2 Văn hóa sông nước 20

1.1.3 Văn hóa thương hồ 21

1.1.3 Văn hóa chợ nổi 22

1.2 Lịch sử hình thành văn hóa thương hồ và giao thương trên chợ nổi 23

1.2.1 Lịch sử khẩn hoang Nam bộ gắn liền với văn hóa sông nước 23

1.2.2 Sự phát triển giao thông đường thủy 27

1.2.3 Các yếu tố hình thành chợ nổi và văn hóa thương hồ 30

Tiểu kết chương 1 40

Chương 2: Văn hóa thương hồ và hiện trạng khai thác văn hóa thương hồ vào hoạt động du lịch 41

2.1 Vai trò của chợ nổi trong du lịch Đồng bằng sông Cửu Long 41

Trang 4

2.1.1 Hệ thống chợ nổi phục vụ du lịch 41

2.1.2 Sự đóng góp phát triển kinh tế - xã hội của chợ nổi 49

2.2 Tầm quan trọng của chợ nổi trong hoạt động du lịch thành phố Cần Thơ 52

2.3 Hiện trạng khai thác văn hóa thương hồ vào hoạt động du lịch chợ nổi tại thành Cần Thơ 56

2.3.1 Hiện trạng hoạt động du lịch tại thành phố Cần Thơ 56

2.3.2 Phân tích hành vi du khách đến Cần Thơ 58

2.3.3 Hoạt động du lịch tham quan chợ nổi của các công ty du lịch 60

2.3.4 Hoạt động của khách du lịch khi tham quan chợ nổi 62

2.3.5 Mức độ hài lòng của du khách đối với du lịch thành phố Cần Thơ và chợ nổi Cái Răng 64

2.4 Nghiên cứu sức hấp dẫn của một số hoạt động văn hóa thương hồ đối với du khách 67

2.4.1 Sự khác nhau giữa chợ trên bờ và chợ nổi 67

2.4.2 Hoạt động giao thương 70

2.4.3 Chữ “tín” trong hoạt động giao thương tại chợ nổi 72

2.4.4 Cây Bẹo – cách thức rao hàng độc đáo 72

2.4.5 Đời sống thương hồ 74

Tiểu kết chương 2 80

Chương 3: Định hướng phát triển du lịch thành phố Cần Thơ dựa vào văn hóa thương hồ 82

3.1 Phát triển du lịch dựa vào văn hóa thương hồ theo hướng du lịch bền vững 83

3.1.1 Du lịch đại chúng và du lịch bền vững 83

3.1.2 Ba hợp phần chính của du lịch bền vững 85

3.1.3 Các tiêu chuẩn du lịch bền vững 87

3.1.4 Những nguyên tắc của du lịch bền vững 89

3.1.5 Chiến lược và giải pháp phát triển du lịch bền vững 91

3.1.6 Xu hướng lựa chọn du lịch bền vững của du khách trên thế giới 91

Trang 5

3.2 Đa dạng hóa các sản phẩm du lịch đáp ứng nhu cầu du khách dựa vào

văn hóa thương hồ 92

3.2.1 Định hướng đối tượng khách hàng mục tiêu 92

3.2.2 Phát triển sản phẩm du lịch chuyên đề 97

3.2.3 Nghiên cứu phát triển các sản phẩm chuyên đề tại thành phố Cần Thơ dựa vào văn hóa thương hồ 100

3.3 Kiến nghị 105

3.3.1 Đối với chính quyền địa phương 105

3.3.2 Đối với các công ty kinh doanh du lịch 105

3.3.3 Đối với người dân địa phương 106

Tiểu kết chương 3 107

KẾT LUẬN 108

Tài liệu trích dẫn 111

Tài liệu tham khảo 112 Phụ lục

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Doanh thu từ các hoạt động du lịch tại Chợ nổi Ngã Bảy 49

Bảng 2.2 Số lượng rau quả tiêu thụ tại các chợ nổi 51

Bảng 2.3 Số lao động được tạo việc làm trên một nền chợ nổi 52

Bảng 2.4 Tình hình phát triển khách du lịch thời kỳ 2007- 2011 58

Bảng 2.5 Số lần du khách đến Cần Thơ 59

Bảng 2.6 Mục đích du lịch tại Cần Thơ 60

Bảng 2.7 Mức độ hài lòng của du khách sau khi tham quan chợ nổi Cái Răng 65

Bảng 2.8 Sự đánh giá của du khách nội địa về các yếu tố hấp dẫn ở chợ nổi 66

Bảng 2.9 Sự đánh giá của du khách quốc tế về các yếu tố hấp dẫn ở chợ nổi 67

Bảng 3.1 Xu hướng du lịch của du khách Anh 100

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong những năm gần đây, du lịch luôn được nhắc đến như một ngành kinh

tế mũi nhọn góp một phần không nhỏ vào nguồn thu ngân sách của các tỉnh và thành phố Vì vậy, hiện tượng du lịch phát triển ồ ạt nhưng lại kém về chất lượng đang diễn ra chỉ với mục đích thu về lợi ích kinh tế là vấn đề đang được đặt ra thảo luận ngày càng nhiều trong các buổi tọa đàm

Đồng bằng sông Cửu Long là khu vực có thế mạnh về sinh thái sông nước, sinh thái miệt vườn, có hệ thống chợ nổi đặc trưng gắn với văn hóa thương hồ và đặc điểm văn hóa sông nước hấp dẫn Tuy nhiên, đây lại chính là nơi nổi cộm về các vấn đề du lịch cần được định hướng giải quyết Trong đó, hiện trạng sản phẩm

du lịch được sao chép rập khuôn giữa các tỉnh và hoạt động du lịch nhàm là vấn đề diễn ra nhiều nhất ở các tỉnh có điều kiện tự nhiên giống nhau Cần Thơ cũng không phải là ngoại lệ

Du lịch thành phố Cần Thơ với tham quan chợ nổi điểm thu hút chính được nhiều du khách trong và ngoài nước biết đến, tuy nhiên, hoạt động du lịch vẫn không thoát khỏi cái mác “nhàm chán” Nghiên cứu giải pháp phát triển du lịch dựa vào thế mạnh là một điều cần thiết Đây là vấn đề chủ yếu và then chốt của cả du lịch Việt Nam nói chung và du lịch Cần Thơ nói riêng

Chính vì lý do trên mà luận văn “Nghiên cứu văn hóa thương hồ trong phát triển du lịch thành phố Cần Thơ” được tác giả tiến hành thực hiện nhằm đưa ra định hướng giúp hình thành sản phẩm du lịch đặc trưng nhằm phát triển du lịch thành phố Cần Thơ

2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Qua quá trình nghiên cứu vấn đề lý thuyết của đề tài, luận văn đã cung cấp cho người đọc cái nhìn tổng quát về những nét hấp dẫn của một di sản văn hóa đặc

Trang 8

trưng ít được các vùng miền khác biết đến, Văn hóa thương hồ Đây là đóng góp lý thuyết giải thích một thuật ngữ mới trên phương diện một nghiên cứu khoa học

Hoạt động tổng hợp các kết quả khảo sát và khảo sát thực địa cũng là cứ liệu cung cấp cho các nhà quản lý, các công ty điều hành du lịch trong quá trình hoạch định nhằm đưa ra những quyết định giúp phát triển du lịch của địa phương

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm xác định giá trị của văn hóa thương hồ

trong đời sống tinh thần của người dân ĐBSCL và trong hoạt động du lịch Từ đó định hướng xây dựng sản phẩm du lịch đặc trưng phát triển du lịch thành phố Cần Thơ dựa vào văn hóa thương hồ

Có ba nhiệm vụ nghiên cứu chính:

- Đưa ra khái niệm và giá trị tinh thần của văn hóa thương hồ

- Làm rõ thực trạng và mối quan hệ của văn hóa thương hồ đối với hoạt động

du lịch TP Cần Thơ

- Nghiên cứu xây dựng sản phẩm du lịch đặc trưng dựa vào văn hóa thương

hồ

4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Về các nghiên cứu khoa học, hiện nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu

khoa học đề cập đến vấn đề văn hóa thương hồ, tính đến thời điểm này mới có một

đề tài nghiên cứu về văn hóa Chợ nổi – một phần thuộc trong văn hóa thương hồ

Đó là luận văn thạc sĩ chuyên ngành văn hóa của tác giả Đặng Thị Hạnh, báo cáo ngày 07.05.2011 về đề tài “Chợ nổi Đồng bằng sông Cửu Long từ góc nhìn văn hóa học”, thuộc Khóa 7 (2006- 2009) Khoa Văn hóa học Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM Đề tài cung cấp một cái nhìn tổng quát về văn hóa buôn bán, sinh hoạt của người dân trên chợ nổi ở sông nước miền Tây

Trang 9

Các nghiên cứu khoa học khác về chợ nổi và du lịch chợ nổi của đội ngũ giảng viên trường đại học Cần Thơ như:

 Đề tài “Vai trò của chợ nổi đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở Đồng bằng sông Cửu Long” của Đỗ Văn Xê (2005), khoa Kinh tế Quản trị Kinh doanh, trường ĐH Cần Thơ, đã khẳng định tầm quan trọng của hoạt động giao thương trên chợ nổi đối với kinh tế và nhân sinh của người dân Đồng bằng sông Cửu Long Đó là những đóng góp về phát triển kinh tế, thúc đẩy nông nghiệp, góp phần giải quyết việc làm, và đặc biệt là tạo một dấu ấn riêng cho hoạt động du lịch vùng Đồng bằng sông Cửu Long

 Đề tài: “Thực trạng và giải pháp phát triển chợ nổi Cái Răng – Thành phố Cần Thơ” của Nguyễn Trọng Nhân và Đào Ngọc Cảnh (2011), khoa KHXH NV trường ĐH Cần Thơ Nghiên cứu đã giúp làm rõ hiện trạng của hoạt động du lịch trên chợ nổi Cái Răng, đồng thời chỉ ra những yếu

tố nào trên chợ nổi hấp dẫn khách tham quan từ đó đề xuất giải pháp giúp phát triển du lịch tại chợ nổi

 Đề tài: “Một số nhận định về phát triển du lịch chợ nổi ở Đồng bằng sông Cửu Long và Du lịch chợ nổi ở Thái Lan” của Nguyễn Trọng Nhân (2012), khoa KHXH NV, trường ĐH Cần Thơ Nghiên cứu đã so sánh điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, cách thức hoạt động chợ nổi, quy hoạch trong hoạt động du lịch giữa chợ nổi ở ĐBSCL và Thái Lan Từ đó đưa ra những giải pháp phát triển du lịch chợ nổi ở ĐBSCL dựa vào thế mạnh là chiều sâu văn hóa

Ngoài ra còn có đề tài khoa học cấp tỉnh: “Đề xuất giải pháp khôi phục, bảo tồn và phát huy chợ nổi Ngã Bảy gắn với phát triển du lịch sông nước miệt vườn” của tỉnh Hậu Giang vừa được nghiệm thu tháng 01.2013 Đề tài

Trang 10

đã khẳng định sự đóng góp của chợ nổi Ngã Bảy đối với việc phát triển kinh

tế và du lịch của vùng, thời kỳ chợ còn ở nơi giao lưu giữa bảy nhánh sông Đồng thời so sánh với tình trạng thực tế sau khi di dời Từ đó kiến nghị đưa chợ nổi Ngã Bảy phục hồi nguyên trạng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch tại chợ nổi Ngã Bảy gắn với văn hóa đặc sắc lâu đời tại chợ nổi này

Về các ấn phẩm sách được phát hành : phần lớn là các sách của Hội văn

học nghệ thuật gồm có:

 “Văn hóa sông nước Cần Thơ”, NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 2009 Sách do nhóm tác giả yêu thích văn hóa sông nước và văn hóa thương hồ nghiên cứu và xuất bản Nhiều bài viết về hoạt động nhóm chợ trên sông, phương tiện di chuyển đường thủy, đời sống văn hóa tinh thần của người dân sống dựa vào con nước… đã cung cấp một cái nhìn rõ nét hơn về thời

kỳ chợ nổi hình thành, phát triển và đời sống người dân thương hồ

 “Văn hóa văn nghệ dân gian Cần Thơ”, NXB Văn nghệ liên hiệp các hội VHNT Tp Cần Thơ, 2009 Sách cung cấp một cái nhìn khái quát về đời sống văn hóa – tinh thần của người dân Cần Thơ Trong đó bao gồm cả đời sống sông nước của người dân ở đây

 “Khách thương hồ” của Phan Trung Nghĩa, NXB Văn hóa văn nghệ,

2012 Sách đã cung cấp thêm một lý giải về sự hình thành và phát triển của lực lượng thương hồ và tình cảm gắn kết chặt chẽ của người dân thương hồ và người miệt vườn vùng Hậu Giang

 Ấn phẩm sách nghiên cứu du lịch có cuốn “Chợ nổi Đồng bằng sông Cửu Long” của Nhâm Hùng, NXB Trẻ 2010 Đây là cuốn sách tập hợp đầy đủ

và khái quát nhất về hoạt động và văn hóa của hệ thống chợ nổi vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Trang 11

Các ấn phẩm khác:

Năm 2002 ngành Văn hóa Thông Tin – Bảo tàng tỉnh Cần Thơ cũng đã thực hiện dự án chợ nổi Phụng Hiệp – Cần Thơ, với bài nghiên cứu khoa học và bộ phim tài liệu dài 35 phút

Ngoài ra còn có các bài viết trên các báo giấy, báo mạng cũng đề cập nhiều đến đời sống thương hồ và các nét hấp dẫn của chợ nổi nói chung và chợ nổi Cái Răng nói riêng

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu về hai đối tượng chính: văn hóa thương hồ và hiện trạng khai thác du lịch tại thành phố Cần Thơ

Cụ thể, đối tượng thứ nhất gồm có các nội dung: khái niệm văn hóa thương

hồ, lịch sử hình thành và phát triển, giá trị của văn hóa thương hồ với đời sống tinh thần người dân và giá trị khai thác vào du lịch

Đối tượng thứ hai bao gồm: Hiện trạng du lịch thành phố Cần Thơ, Chợ nổi

có phải điểm du lịch chính của hoạt động du lịch hay không Mức độ hài lòng của

du khách đối với hoạt động du lịch tại đây và nguyên nhân của kết quả đó

* Phạm vi nghiên cứu

Về không gian, nghiên cứu diễn ra chủ yếu tại địa điểm chợ nổi Cái Răng, điểm nhấn chính của du lịch thành phố Cần Thơ, nơi tập trung đông du khách nhất

Về thời gian nghiên cứu, số liệu và khảo sát thực địa được thu hoạch trong

03 năm từ năm 2011 đến năm 2013

6 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng trong luận văn bao gồm:

* Phương pháp phân tích tổng hợp và phân tích hệ thống

Trang 12

Nhằm kế thừa những số liệu và những tri thức của những nghiên cứu có liên quan, người viết đã thực hiện phân tích và tổng hợp những kết quả cần cho các phân tích của nghiên cứu

Phương pháp phân tích tổng hợp được tiến hành qua các công đoạn:

+ Thu thập dữ liệu có liên quan đến chợ nổi Cái Răng, lịch sử khẩn hoang Nam bộ, văn hóa thương hồ và quá trình hình thành chợ nổi, các số liệu liên quan đến du lịch thành phố Cần Thơ, các điều tra về mức độ hài lòng của du khách

+ Kiểm tra độ xác thực của dữ liệu dựa vào thực tế quan sát

+ Phân tích dữ liệu nhằm tìm nguyên nhân và đưa ra kết quả đánh giá

+ Kiểm tra kết quả phân tích và tính toán thêm một số chỉ tiêu khác để đánh giá độ tin cậy của kết quả nghiên cứu

* Phương pháp điều tra thực địa

Với lợi thế là hướng dẫn chuyên tour sông nước và là người dân sống tại Cần Thơ nên việc khảo sát thực địa được tác giả thực hiện thường xuyên với quy mô và các hướng tiếp cận và vai trò khác nhau Quy mô cá nhân và nhóm nghiên cứu, hướng tiếp cận đường thủy và đường bộ với các phương tiện khác nhau là tàu du lịch và ghe tam bản

Các chương trình tác giả đã khảo sát:

+ Chương trình Cái Răng - Phong Điền

+ Chương trình Cái Răng – KDL Mỹ Khánh

+ Chương trình Cái Răng - vườn trái cây

+ Chương trình Cái Răng - tour xe đạp

+ Chương trình Cái Răng – tour homestay

+ Cái Răng – rạch nhỏ theo ngã Phú An sông Hậu ra cầu Cần Thơ

Những lần khảo sát được thực hiện phong phú với các nhóm khách khác nhau: khách quốc tế và khách nội địa, khách địa phương; các độ tuổi, ngành nghề và khả năng chi tiêu khác nhau Qua đó có thể thấy được thực trạng phát triển du lịch tại thành phố Cần Thơ, mức độ hài lòng của du khách, và nhu cầu thực tế của du

Trang 13

khách Đồng thời nắm rõ thế mạnh của chợ nổi Cái Răng chính là một thuận lợi để đánh giá phân tích hiện trạng ở chương 2 và đưa ra giải pháp ở chương 3

* Phương pháp khảo sát ý kiến

Đây chính là bước quan trọng trong quá trình nghiên cứu Tác giả khảo sát ý kiến với cả hai đối tượng khách là khách quốc tế và khách Việt Nam trong quá trình thực hiện tour và sau khi du khách quay về nhà Kết quả khảo sát có vai trò hết sức quan trọng, là công cụ kiểm tra tính xác thực của số liệu đã được phân tích, đồng thời có vai trò định hướng trong bước tìm giải pháp giải quyết các vấn đề còn chưa tốt của du lịch Cần Thơ

* Phương pháp phỏng vấn chuyên gia

Bản thân du lịch là một ngành kinh tế - dịch vụ tổng hợp, do vậy muốn đảm bảo cho các đánh giá tổng hợp có cơ sở và mang tính hiệu quả đòi hỏi cần có sự tham qua của các chuyên gia về các lĩnh vực liên quan

Các kết quả đạt được từ các nghiên cứu trên được sử dụng chủ yếu ở chương

1, chương 2 và là định hướng quan trọng của các giải pháp ở chương 3

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo

và trích dẫn, danh mục bảng, phụ lục, phần nội dung nghiên cứu của luận văn chia làm ba chương

Trong đó, chương 1 cung cấp các cơ sở lý luận và cái nhìn sơ bộ về văn hóa thương hồ Chương 2 đi sâu vào phân tích và đánh giá tình trạng hoạt động của du lịch thành phố Cần Thơ nhằm tìm ra nguyên nhân, đồng thời xác định giá trị và tầm quan trọng của chợ nổi và văn hóa trong hoạt động phát triển du lịch Chương 3 là chương đưa ra các kiến nghị và giải pháp thu được sau quá trình nghiên cứu Từ đó tìm ra hướng phát triển du lịch thành phố Cần Thơ, xây dựng sản phẩm đặc trưng phục vụ du lịch

Trang 14

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN

1.1 Các khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm sản phẩm du lịch văn hóa

Du lịch là một ngành kinh doanh dịch vụ tổng hợp, cung cấp sản phẩm dịch

vụ du lịch cho khách hàng Vậy sản phẩm của du lịch chính là dịch vụ du lịch

Theo Luật du lịch: “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch”

“Sản phẩm du lịch là toàn bộ những dịch vụ tạo ra các hàng hóa mang tính đặc thù do các cá nhân và tổ chức kinh doanh du lịch cung cấp để phụ những nhu cầu của các đối tượng du khách khác nhau đồng thời đem lại những lợi ích kinh tế,

văn hóa - xã hội ở nơi đang diễn ra các hoạt động du lịch” [1, tr 112]

Trong giai đoạn toàn cầu hội nhập, du lịch Việt Nam phát triển và được bạn

bè, du khách thế giới biết đến nhiều với nền văn hóa đa dạng và đậm đà bản sắc dân tộc Nối tiếp sự phát triển đó, du lịch Việt Nam đã và đang hướng đến việc khai thác hiệu quả các giá trị văn hóa dân tộc đặc sắc mang dấu ấn riêng của từng vùng đất trên lãnh thổ Việt Nam

Văn hóa là toàn bộ những sáng tạo của con người trên nền của thế giới tự nhiên -xã hội Mỗi sản phẩm do con người tạo ra đều là một sản phẩm văn hóa Trong lịch sử hình thành và phát triển của mỗi dân tộc, sự ra đời và sáng tạo của sản phẩm văn hóa đặc trưng theo từng giai đoạn là điều tất yếu trong tiến trình phát triển của cư dân từng khu vực Đó là sự phát triển những hoạt động văn hóa mang tính tự phát của một nhóm người nhỏ lẻ dần dần thành một hoạt động tự giác của một cộng đồng và được tổ chức hoạt động một cách chặt chẽ có những quy ước nhất định mang tính xã hội hóa cao Mỗi hoạt động văn hóa mang bản sắc riêng biệt, dấu

ấn của một cộng đồng người được ra đời và tồn tại trong một thời gian và không gian nhất định, mang một giá trị nhất định; phản ánh và biểu hiện các yếu tố mang sắc thái dân tộc, địa phương, vùng miền

Trang 15

Văn hóa chính là một nguồn tài nguyên mang điều kiện đặc trưng cho hoạt động du lịch nói chung và sản phầm du lịch văn hóa nói riêng Ngày nay, nhu cầu của du lịch ngày càng cao Sản phẩm du lịch không những cần thỏa mãn nhu cầu sinh học của du khách mà nhu cầu được tìm hiểu về văn hóa ngày càng cao Do đó hoạt động du lịch văn hóa ngày càng chứng tỏ được tầm quan trọng của mình trong ngành du lịch trên toàn thế giới

Theo UNWTO, “Du lịch văn hóa bao gồm hoạt động của những người với động cơ chủ yếu là nghiên cứu, khám phá về văn hóa như các chương trình nghiên cứu, tìm hiểu về nghệ thuật biểu diễn, về các lễ hội và các hoạt động văn hóa khác nhau, thăm các di tích và đền đài, du lịch nghiên cứu thiên nhiên, văn hóa hoặc nghệ thuật dân gian và hành hương”

Theo Luật Du lịch thì: “Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống”

Khi đưa văn hóa vào khai thác du lịch thì sản phẩm của hoạt động này là hoạt động du lịch văn hóa Một sản phẩm du lịch luôn là một sản phẩm văn hóa Vì sản phẩm du lịch là sản phẩm dịch vụ tổng hợp do một cá nhân hay một đơn vị, tổ chức cung ứng du lịch xây dựng nên nhằm thỏa mãn nhu cầu của du khách Nhưng không phải bất kỳ sản phẩm văn hóa nào cũng có thể đưa vào du lịch khai thác như một sản phẩm du lịch văn hóa

“Sản phẩm du lịch văn hóa là một sản phẩm văn hóa, được đưa vào hoạt động kinh doanh du lịch, là một yếu tố kết hợp thành của chương trình du lịch văn hóa để thỏa mãn yêu cầu mà du khách tham gia loại hình du lịch này đòi hỏi” [2, tr.112]

Trong hoạt động du lịch ở thế giới cũng như ở Việt Nam, sản phẩm của du lịch văn hóa ngày càng đa dạng và phong phú, cung cấp nhiều sản phẩm du lịch văn

Trang 16

hóa đặc trưng của từng vùng đất, ngày càng thu hút đông đảo khách du lịch tạo thành điểm nhấn du lịch của quốc gia và khu vực Sản phẩm du lịch văn hóa cũng rất đa dạng, từ những hoạt động đơn thuần như tham quan di tích lịch sử văn hóa đến các dạng du lịch trải nghiệm dài ngày để biết được cách sống, phong tục tập quán hay tham gia vào các lễ hội truyền thống của người dân địa phương Những địa điểm du lịch văn hóa nổi tiếng trên thế giới có Tây Tạng ở Nepal, Himalaya với những tu viện nổi tiếng và các di tích văn hóa, du lịch văn hóa tại Bali của Indonexia, quần thể Angkor ở Campuchia, cố đô Luang Prabang của Lào, ChaingMai Thái Lan Nhà cổ và làng cổ ở Maroc, các lâu đài cổ ở Châu Âu, những ngôi làng thổ dân ở Canada và Australia… chính là những di sản và tài sản du lịch văn hóa quý giá đã được nhà nước của các quốc gia trên bảo tồn và khai thác thành những sản phầm văn hóa đặc trưng, thu hút đông đảo du khách trên toàn thế giới

Ở Việt Nam, chúng ta có một hệ thống các di sản vật thể và phi vật thể được UNESCO công nhận là di sản thế giới, lịch sử dựng nước và giữ nước hào hùng đã

để lại những di tích lịch sử trải dài suốt mọi miền đất nước, nước ta có 54 dân tộc anh em sống ở mọi địa hình tạo nên những nét văn hóa và phong tục tập quán có những nét riêng độc đáo cùng với hệ thống các lễ hội suốt năm Mỗi vùng miền cùng với lịch sử hình thành, vị trí địa lý, tộc người sinh sống mà trong những cái chung còn có nhiều nét văn hóa đặc sắc không thể bị nhầm lẫn Tất cả những điều

đó là tài sản và tiền đề để Việt Nam có thể xây dựng những sản phẩm du lịch văn hóa đặc thù, hấp dẫn trong du lịch

A- Kinh nghiệm phát triển du lịch văn hóa của các nước trên thế giới

Nước Anh từ lâu đã nổi tiếng là đất nước của di sản, bảo tồn và phát triển vừa theo quy chế nghiêm ngặt, nhưng đồng thời lại theo hướng mở

Một ví dụ điển hình cho nghệ thuật quản lý và khai thác di tích vào phục vụ

du lịch là ở di sản thế giới Stonehenge, Avebury và Associated, nằm trong số hàng trăm công trình bằng đá mà người Anh kế thừa từ thời tiền sử đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới năm 1986

Trang 17

Cụm di tích Stonehenge và Avebury chính là nơi thực hành tang lễ và nghi lễ từ thời đại đồ đá mới cho đến thời kỳ đồ đồng Bãi đá cổ Stonehenge là nhóm tượng đài bằng đá hùng vĩ nổi tiếng nhất thế giới, với những khối đá có kích thước khổng

lồ (nặng 45 tấn) mang hình dạng bí hiểm trông như những chiếc nanh lớn, hoặc như chiếc đàn đá Nếu vòng tròn đá Stonehenge được bảo vệ rất nghiêm ngặt, du khách

đi xung quanh chụp ảnh, quay phim, nhưng tuyệt nhiên không được chạm tới gần

hiện vật, thì ở quốc lộ đá ở Avebury, du khách được đi lại tự do, nông dân vẫn chăn

thả gia súc Tiến sĩ Peter Walton, giảng viên Đại học Oxford Brookes cho biết:

“Cùng trong một khu di sản, nhưng cách quản lý Avebury khác với Stonehenge Nếu Stonehenge bảo vệ nghiêm ngặt, thì Avebury quản lý theo hướng mở Bởi nếu không để nhân dân cùng tham gia chăn thả cừu, gia súc để chúng ăn những thứ cây ngoài cỏ, thì ở đây sẽ biến thành những cánh rừng lớn, rậm rạp, chứ không thể trở thành những đồng cỏ cho du khách đến thăm” Những làng cổ trong vùng Avebury được bảo tồn trong dân, trở thành điểm du lịch thân thiện Hệ thống dịch

vụ quà lưu niệm phát triển mạnh, nâng cao mức sống của nhân dân khi đến thăm khu di sản

Nhận thấy di sản có nguy cơ bị biến dạng, ngay lập tức Hội đồng Di sản Anh chỉ đạo địa phương hướng xử lý Trường hợp ở Silbury Hill, gò đất cao nhất thời tiền sử ở châu Âu do con người sáng tạo nên, là một ví dụ Trước đây, du khách tham quan tự do, được đi vòng quanh lên đỉnh gò đất, nhưng khi thấy di sản có nguy cơ bị phá, Hội đồng di sản Anh đã yêu cầu địa phương phải bảo vệ khẩn cấp Nhà nước đề xuất nắn con đường chạy qua xa khu gò để có thể bảo tồn nguyên trạng di sản Hay cách khai thác du lịch tại TP Bath Spa thanh lịch đậm đặc những

di tích cổ mang phong cách kiến trúc La Mã Sau khi thôn tính nước Anh vào những năm đầu tiên sau CN, người La Mã đã xây dựng thành phố này thành một khu nghỉ dưỡng kết hợp spa cho quân lính Năm 1987, Bath được UNESCO công nhận là di sản thế giới Hàng năm, thành phố tổ chức sự kiện World Heritage Day (ngày di sản thế giới) với nhiều lễ hội hấp dẫn, trong đó tái hiện doanh trại, cảnh diễu binh và đánh trận của quân lính La Mã, khung cảnh chuẩn bị các bữa ăn cho quý tộc thời

Trang 18

vua George TK XVIII, XIX Trong thành phố, các nghệ sĩ đường phố biểu diễn nhiều tiết mục nghệ thuật đặc sắc, như: đi dây trên không, chơi vĩ cầm, đánh trống hang, đi xe đạp tung hứng đuốc, song tấu đàn dây, nghệ sĩ opera hát những bài cổ điển… Bảo tàng hiện lưu giữ rất nhiều hiện vật hàng ngàn năm tuổi, như: những pho tượng bằng đá của hoàng đế và tướng lĩnh La Mã, pho tượng người đàn bà và

vò nước bên hông ở nhà thờ tu viện Bath, chiếc đầu nữ thần Silus Minerva bằng đồng, dụng cụ sinh hoạt của người xưa, chiếc hồ cầu nguyện có hơn 12.000 đồng tiền La Mã linh thiêng… Độc đáo nhất vẫn là hồ nước nóng, nơi spa và những video clip diễn lại cảnh spa của lính La Mã ngày xưa, bên bể tắm tái hiện trang phục lính La Mã cổ đại Hiện Roman Baths không dùng để tắm vì hồ đã bị nhiễm hóa chất, nhưng gần đó - Thermae Bath Spa có hơn 50 gói dịch vụ trị liệu, làm đẹp với giá từ 65 - 175 bảng Bảo tàng ở Bath cũng như phần lớn các bảo tàng ở Anh đều có cách hướng dẫn du khách rất hiện đại, lịch sự Khách được hướng dẫn qua thiết bị như điện thoại cầm tay với 8 thứ tiếng

Anh quốc có chính sách gắn kết di sản với du lịch rất hiệu quả đạt đến tính chuyên nghiệp, hài hòa Gắn kết với du lịch với di sản, không quá chạy theo du lịch

để phá bỏ di sản, nhưng cũng không quá giữ khư khư để di sản biến thành thứ đồ

cổ xa lạ với con người Với phương châm di sản sống với cuộc sống hiện tại, bảo

tồn để phát triển bền vững, nước Anh đã có chính sách, kế hoạch đầu tư những điểm

du lịch bao quanh di sản, hoặc vùng để đón du khách theo lối phân tán, chia nhỏ không tập trung số lượng quá lớn tạo ra áp lực đối với cán bộ làm công tác bảo vệ di sản và người dân địa phương Vì thế, hàng năm, nước Anh đón hàng trăm nghàn khách du lịch từ nhiều quốc gia trên thế giới và khi có điều kiện du khách vẫn muốn trở lại

B- Kinh nghiệm phát triển du lịch văn hóa của Việt Nam

Việt Nam có thế mạnh trong du lịch văn hóa so với các nước khác trong khu vực với năm di sản văn hóa thế giới và bảy di sản phi vật thể được UNESCO công nhận

Trang 19

Các di sản văn hóa thế giới là một thế mạnh cho phát triển du lịch văn hóa nói riêng và hoạt động du lịch của Việt Nam nói chung Hầu hết các tỉnh thành của nước ta đều có loại hình du lịch văn hóa, tuy nhiên, do có thế mạnh là các địa bàn tập trung nhiều di sản văn hóa thế giới nên Hà Nội, Quảng Nam và Huế là ba địa phương được ưu tiên đầu tư phát triển du lịch văn hóa nhất trong cả nước

Tuy nhiên, du lịch văn hóa ở Hà Nội và Huế vẫn còn nhiều bất cập, chưa xứng với thế mạnh di sản Như nhận định: “Các doanh nghiệp lữ hành nhìn chung chưa quan tâm đúng mức đến xây dựng và phát triển sản phẩm, thụ động, thiếu chắc chắn về thị trường nên thường phụ thuộc vào nguồn khách chính của các hãng lớn ở TP.Hồ Chí Minh và Hà Nội Sản phẩm du lịch quá đơn điệu, mới dựa chủ yếu vào các yếu tố tự nhiên, khai thác những cái có sẵn, không thể hiện ưu thế trên thị trường Giá trị gia tăng trong sản phẩm thấp so với mức trung bình của thế giới ” Theo ông Phan Tiến Dũng - Giám đốc Sở VHTT&DL tỉnh TT-Huế

Trong ba địa phương kể trên, cách phát triển du lịch văn hóa ở Quảng Nam

có kết quả thu về tốt nhất

Quảng Nam là địa phương sở hữu hơn 300 di tích lớn nhỏ cùng với bề dày

văn hoá phi vật thể, Ngoài ra còn có đô thị cổ Hội An và Khu đền tháp Mỹ Sơn được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới So với Hà Nội và Huế, Quảng Nam có thể nói là một tấm gương của phát triển du lịch văn hóa

Về công tác tu bổ và bảo tồn di sản văn hóa, Quảng Nam đã ban hành nhiều quy chế quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị các di tích và danh thắng trên địa bàn tỉnh Theo đó, hai di sản văn hoá thế giới được giao cho các đơn vị chuyên trách của thành phố Hội An và huyện Duy Xuyên trực tiếp quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị Nguồn thu từ vé tham quan hai di sản trên được giao cho địa phương sử dụng và công tác bảo tồn di và phát huy giá trị di sản Hai di sản văn hoá thế giới được tu bổ hằng năm từ nguồn kinh phí của Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch, ngân sách địa phương, kinh phí do nhân dân đóng góp và tài trợ của nhiều tổ chức quốc tế Công tác tu bổ, trùng tu các di sản trên được tiến hành thận trọng theo những quy định nghiêm ngặt trên cơ sở tham vấn kinh nghiệm của những nhà khoa học, chuyên gia

Trang 20

trong nước và quốc tế Các chương trình, hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch, phát huy di tích được chú tro ̣ng thường xuyên , góp phần nâng cao đáng kể thương hiệu

du li ̣ch văn hóa Hô ̣i An

Quảng Nam xác định công tác bảo tồn phải gắn liền với việc phát huy giá trị của các di sản bởi chỉ có như thế di sản mới có sức sống bền vững Theo đó, tỉnh lựa chọn du lịch văn hoá là sản phẩm cốt lõi, vừa phát huy được thế mạnh địa phương, vừa là công cụ để bảo tồn các giá trị di sản Để phát triển loại hình du lịch đặc thù này, du khách không chỉ tham quan mà còn phải được trải nghiệm cuộc sống trong không gian văn hoá của địa phương Do đó, Quảng Nam định hướng phát triển du lịch cộng đồng để du khách có thể tiếp cận nhiều nhất và có thể chạm đến những nét văn hoá bản địa; trong đó mô hình lưu trú nhà dân, homestay, được khuyến khích phát triển Ngoài ra, các giá trị văn hoá phi vật thể như dân ca, trò chơi dân gian của địa phương đã được đưa vào chương trình giảng dạy cấp học phổ thông, các cuộc thi mỹ thuật thiếu nhi về chủ đề di sản được thực hiện hàng năm

“Chúng tôi cũng tạo điều kiện tối đa để các trường học tổ chức tham quan các di tích, danh thắng trong tỉnh Tóm lại, chúng tôi đang cố gắng xây dựng một cồng đồng hiện tại và tương lai biết trân trọng, biết tự hào, và hết lòng bảo vệ những giá trị di sản cha ông để lại” (Theo ông Đinh Hài- Giám đốc Sở VHTT&DL Quảng Nam, tác giả Mỹ Châu, VCCI, Quảng Nam và hành trình bảo tồn các di sản văn

hóa)

Thông qua kinh nghiệm hoạt động du lịch văn hóa của Hà Nội, Huế, Hội An,

ta có thể rút ra kết luận: Ngoài việc tôn tạo, bảo tồn di tích, di sản muốn tồn tại được phải gắn với cộng đồng Điều quan trọng nhất là việc nỗ lực để các di sản có thể

“sống” trong thời kỳ hiện đại mà không bị biến dạng, bóp méo hay trở nên tách rời, giả tạo Nếu chúng ta thay đổi quá nhiều di sản thì nó không còn là chính nó nữa mà mất đi sự hấp dẫn Để giải quyết tốt bài toán giữa bảo tồn di sản và phát triển du lịch, thì những người dân trong cộng đồng phải nhận thức được rằng họ được hưởng lợi gì từ di sản Chỉ có việc gắn tốt với cộng đồng thì di sản mới được bảo vệ tốt và

từ việc bảo vệ di sản được tốt thì du lịch mới phát triển và khai tốt được các di sản

Trang 21

đó Người dân Hội An giàu lên nhờ biết làm du lịch từ bảo tồn tốt các di sản là một thực tế và họ ngày càng chủ động tham gia vào quá trình gìn giữ và phát huy di sản

Họ xem di sản Hội An là của chính họ, gắn bó với đời sống của chính họ Phát huy sức mạnh của cả cộng đồng để bảo tồn di sản, từ đó phát triển du lịch bền vững là thế mạnh của Hội An nói riêng và Quảng Nam nói chung mà không phải địa phương nào cũng có được

Theo kết quả của buổi hội thảo “Hiện trạng và định hướng phát triển sản

phẩm du lịch văn hóa tại các khu di sản văn hóa thế giới của Việt Nam”, do Tổng

cục Du lịch và Viện nghiên cứu phát triển du lịch tổ chức ngày 15/7/2011 tại Hà Nội thì: Tiềm năng tài nguyên du lịch văn hóa nổi trội và đặc sắc nhưng thực tế khai thác để phát triển thành sản phẩm du lịch tại các di sản văn hóa thế giới của Việt Nam còn nhiều hạn chế và bất cập Hầu hết tại các khu di sản văn hóa thế giới đều

có sản phẩm du lịch đơn điệu, trùng lặp, thiếu bản sắc và chưa đáp ứng được nhu cầu đa dạng của khách du lịch trong và ngoài nước, do đó không đem lại hiệu quả doanh thu cao; ngoài ra, các sản phẩm du lịch tại các điểm di sản văn hóa thế giới chưa góp phần bảo tồn và tôn vinh các giá trị của di sản

Các đại biểu cũng chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế trên tại các điểm di sản văn hóa thế giới là do chưa được đầu tư nghiên cứu phát triển một cách hệ thống trên diện rộng với mục tiêu và chiến lược dài hạn, sự phối hợp liên ngành trong phát triển sản phẩm du lịch tại các di sản văn hóa thế giới còn yếu, phương thức đầu tư xây dựng sản phẩm du lịch chưa thu hút được nguồn vốn đầu tư rộng rãi trong xã hội, nhận thức và trình độ chuyên môn của các đối tượng tham gia vào quá trình phát triển sản phẩm du lịch tại các di sản còn bị hạn chế trên nhiều khía cạnh

Nói một cách ngắn gọn, du lịch của Việt Nam nói chung và hoạt động du lịch văn hóa nói riêng chưa phát triển tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của ngành

Trong buổi chất vấn Bộ trưởng Bộ VHTT&DL Hoàng Tuấn Anh ngày 13/06/2013,

đại biểu đã nhắc lại thực trạng Việt Nam có 9 di tích là di sản thiên nhiên và di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận, Thái Lan chỉ có 3, Malaysia chỉ có 2, Singapore thì không có di sản nào Tuy nhiên, theo bảng xếp hạng của diễn đàn

Trang 22

kinh tế thế giới thì ngành du lịch Việt Nam xếp thứ 80 trên 139 quốc gia được xếp hạng, trong khi Malaysia là thứ 35, Thái Lan là 41 và Singapore là thứ 10 Vấn đề quản lý, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa trong du lịch đi đôi với đầu tư sản phẩm

và nâng cao chất lượng dịch vụ trong hoạt động du lịch vẫn còn nhiều bất cập, cần khắc phục sớm để du lịch Việt Nam có thể phát triển xứng tầm Trong đó, nếu tính riêng về hoạt động du lịch văn hóa, Việt Nam có nhiều tiềm năng to lớn chưa được khai thác Các sản phẩm du lịch văn hóa đặc trưng của mọi miền đất nước cần được tìm hiểu, nghiên cứu và phát triển thành những sản phẩm du lịch gắn kết với cộng đồng địa phương một cách tự nhiên nhất, hướng tới phát triển du lịch đi đôi với bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Trong đó, miền Nam Việt Nam với nguồn tài nguyên du lịch văn hóa gắn liền với sinh thái đặc trưng, độc đáo từ thời khẩn hoang là môi trường du lịch văn hóa cần được quan tâm phát triển

1.1.2 Văn hóa sông nước

Từ xa xưa, yếu tố sông nước, thủy lợi đã trở thành một trong những yếu tố có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống của người dân, nhất là người dân vùng Đông Nam

Á nói chung và Việt Nam nói riêng Không chỉ có ảnh hưởng lớn đến kinh tế, xã hội

mà yếu tố sông nước còn được phản ánh rõ nét cả trong đời sống văn hóa, tinh thần

của người dân

Theo TS Lý Tùng Hiếu trong nghiên cứu Vùng văn hóa Nam bộ: Định vị và

đặc trưng văn hóa nhận định: “Do điều kiện địa lý đặc thù, nên cách thức hoạt

động sản xuất của cư dân trên vùng đất phì nhiêu rộng lớn này mang đặc trưng đồng bằng sông nước rõ nét nhất, đồng thời cũng đa dạng nhất so với tất cả các vùng miền khác Nhờ sông Cửu Long có tốc độ dâng nước và tốc độ dòng chảy thấp, người ta không cần phải đắp đê ngăn lũ như ở đồng bằng sông Hồng, mà ngược lại còn tận dụng nguồn nước này vào mùa lụt để đưa nước ngọt và phù sa vào ruộng, rửa phèn ở vùng trũng, đánh bắt thuỷ sản, v.v Không chỉ thế, sông nước nơi đây còn là tiền đề phát triển các nghề buôn bán trên sông, vận tải đường sông, v.v Cho nên, không ở đâu có nhiều từ ngữ để chỉ các loại hình và hoạt động sông nước như

Trang 23

ở vùng này: sông, lạch, kinh, rạch, xẻo, ngọn, rọc, tắt, mương, rãnh, ao, hồ, đìa, hào, láng, lung, bưng, biền, đầm, đìa, trấp, vũng, trũng, gành, xáng, vịnh, bàu ; nước lớn, nước ròng, nước đứng, nước nhửng, nước rông, nước rặc, nước lên, nước xuống, nước nhảy, nước chụp, nước rút, nước nổi, nước lụt, nước lềnh, nước cạn, nước xiết, nước xoáy, nước ngược, nước xuôi Sông nước đã trở thành một yếu tố cấu thành đặc trưng của văn hoá nơi đây.”

Với điều kiện địa lý đặc thù, sống giữa vùng sông ngòi dày đặc, từ bao đời đời nay con người vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã gắn bó với sông rạch trong các sinh hoạt thường nhật của mình Ảnh hưởng của sông nước được thể hiện trong cách ăn, mặc, ở, phương tiện di chuyển và ngôn ngữ trong giao tiếp Sông nước còn đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành tính cách, lối sống, quan điểm, tập quán của con người Nam bộ nói chung, người Cần Thơ nói riêng Tất cả đã hình thành nên một nền văn hóa sông nước Nam bộ đặc sắc, khác biệt với các vùng miền khác

1.1.3 Văn hóa thương hồ

Nhà văn Sơn Nam đã từng nói “Không có thương hồ- không có Nam bộ!” Phát triển đồng hành và hỗ trợ cho cuộc sống của lưu dân từ thời khẩn hoang, người dân Nam Bộ ví nghiệp thương hồ như những người phục vụ hậu cần hỗ trợ cho cuộc sống thiếu thốn của buổi đầu giao thương trắc trở và phát triển cho đến ngày nay

“Thương hồ” là cách người dân miền Nam gọi những người buôn bán trên những chiếc ghe xuồng theo đường sông nước “Thương” được hiểu như từ tiểu thương, thương lái, lái buôn “Hồ” được hiểu như vùng ngập nước Nghề nghiệp của người thương hồ chính là buôn bán, hàng hóa chủ yếu là trái cây, nông sản được mua đi bán lại theo kiểu mùa nào thức ấy Người ta còn gọi đó là kiếp thương hồ, kiếp người gắn liền với những chiếc ghe xuồng bán buôn nơi chợ nổi đưa sản vật đến mọi nơi, thông thuộc mạng lưới kênh rạch chằng chịt của vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Trang 24

Khái niệm “thương hồ” còn được đưa vào ca dao miền Nam:

- “Đạo nào vui bằng đạo đi buôn

Xuống biển lên nguồn gạo chợ nước sông”

“ Nghề buôn đã được dân gian ta trân trọng gọi là “đạo” – đạo đi buôn trên sông nước tức nghề thương hồ” [3, tr.112]

Câu ca dao cho thấy người dân miền Nam rất thích buôn bán trên đường sông nước Ngoài mục đích buôn bán còn là sự ngao du, cái phóng khoáng miền Nam được thể hiện rõ nét trong những người dân thương hồ này Người dân thương

hồ không chỉ mua bán trao đổi theo kiểu đưa lợi ích kinh tế lên hàng đầu như kiểu dân chợ mà họ còn nổi tiếng khắp miền Nam bởi tình nghĩa mà họ đối đãi với nhau Cùng với lịch sử hình thành xóm làng miền Nam thì một xã hội thương hồ cũng được hình thành và phát triển với những quy luật không thành văn và một đời sống tinh thần phong phú

1.1.4 Văn hóa chợ nổi

Theo từ điển tiếng Việt thì Chợ là nơi gặp mặt, giao lưu, trao đổi giữa bên cung và bên cầu, là nơi mua bán giữa người có hàng hóa muốn bán và người có nhu cầu mua hàng hóa gặp nhau Có thể nói chợ là nơi phản ánh rõ ràng nhất kinh tế, văn hóa của một vùng miền, một đất nước

Các đặc điểm riêng của hình thức họp chợ:

- Thứ nhất chợ là một nơi tụ họp của bất cứ ai có nhu cầu mua bán hoặc trao đổi hàng hóa

- Thứ hai, chợ được hình thành và phát triển theo quy luật cung cầu dưới hình thức tự phát hoặc có quản lý

Các hoạt động mua bán trao đổi hàng hóa, dịch vụ tại chợ thường được diễn

ra theo một quy luật và chu kỳ thời gian nhất định (ngày, giờ, phiên) theo nhu cầu trao đổi hàng hóa và tập quán theo từng vùng, từng địa phương mà họ tự quy định khác nhau

Trang 25

Theo thống kê thì nước ta có trên 8.000 chợ lớn nhỏ, tùy theo điều kiện thiên nhiên, vị trí địa lý và phong tục tập quán mà các chợ ở Việt Nam có những đặc điểm khác nhau Ở Đồng bằng sông Cửu Long với hệ thống sông ngòi chằng chịt,

từ ngày xưa người dân đi lại di chuyển chủ yếu bằng đường thủy đã hình thành một hình thức họp chợ đặc trưng vùng sông nước Đó là chợ nổi

Khái niệm về chợ nổi đã được nhắc đến rất nhiều trong các tài liệu nghiên cứu, văn học, tài liệu biên khảo của các nhà văn, học giả miền Nam

Nhà văn Sơn Nam, người được mệnh danh là nhà Nam bộ học, trong hồi ký tập 1 Từ U Minh đến Cần Thơ của mình đã cung cấp hình ảnh sơ nét về một chợ nổi đầu mối lớn nhất Đồng bằng sông Cửu Long ở thế kỷ XIX, XX : “Ngã Bảy – Phụng Hiệp là trục giao thông lớn của các tỉnh phía Nam vùng sông Hậu, … Khoai lang, lò nấu bếp, củi, bắp, đậu, trái cây chở tới lui trên sông rạch Tại Ngã Bảy này ghe thuyền tàu thủy ngày đêm rộn rịp Có bán đủ thức ăn, thức uống cho ghe thuyền, bán không sợ ế, vì giới tiểu thương dám ăn xài, tương lai đang mở rộng trước mắt, sung sướng hơn người nông dân dãi nắng dầm mưa, trực tiếp sản xuất.” [4, tr.112]

Theo nhà văn Trần Phỏng Diều thì “Chợ nổi chính là nơi hội tụ đủ các loại người tứ xứ đến buôn bán làm ăn Từ những người dân bình thường đến những kẻ

tứ cố vô thân, rời bỏ quê hương tha phương kiếm sống Với một chiếc ghe chất đầy hàng hóa, nay họ ở chỗ này mai ở chỗ khác Có khi len lỏi vào tận những con kinh, con rạch, những đường nước hẹp đem hàng hóa phục vụ đến tận nhà, góp phần làm nên nét đặc trưng của chợ trên sông” [5,tr.112]

Theo nhà nghiên cứu Nhâm Hùng “Chợ nổi là kiểu cách nhóm chợ ngay trên mặt sông Người mua kẻ bán đều giao thương trên ghe, xuồng, tàu, bè trong một khoảng thời gian nhất định Trên chợ nổi có đủ chủng loại hàng hóa và dịch vụ nhưng chủ lực là nông sản” [6,tr.112]

Như vậy, dưới góc độ kinh tế, chợ nổi cũng là một hình thức họp chợ trao đổi mua bán hàng hóa nhằm đáp ứng nhu cầu cung cầu và tăng lợi nhuận kinh tế giống như các loại hình nhóm chợ khác trên đất liền Tuy nhiên, về góc độ văn hóa,

Trang 26

chợ nổi do được hình thành trong hoàn cảnh lịch sử, đặc điểm địa lý đặc biệt, song song với đó là văn hóa sông nước đặc trưng từ thời khẩn hoang của người dân miền Nam; tất cả những yếu tố trên đã hình thành ra một hình thức họp chợ có văn hóa riêng với các mối quan hệ địa văn hóa, kinh tế - văn hóa, du lịch – văn hóa

1.2 Lịch sử hình thành văn hóa thương hồ và giao thương trên chợ nổi

1.2.1 Lịch sử khẩn hoang Nam bộ gắn liền với văn hóa sông nước

1.2.1.1 Lịch sử hình thành

Lịch sử miền Nam Việt Nam gắn liền với công cuộc khẩn hoang của lưu dân,

sự trù phú này không phải tự nhiên mà có mà phải trải qua một quá trình lao động miệt mài không ngừng nghỉ

Từ thế kỷ I đến thế kỷ VIII, đây là phần đất thuộc về vương quốc Phù Nam, một quốc gia ven biển có truyền thống hàng hải và thương mại khá phát triển, một

đế chế rộng lớn bao gồm toàn bộ phần phía nam của bán đảo Đông Dương, một phần Thái Lan và bán đảo Malaca, cường thịnh với nền văn hóa Óc Eo mà trung tâm là Nam Bộ

Vào khoảng năm 550, vương quốc chư hầu Chân Lạp tiêu diệt Phù Nam lập nên Thủy Chân Lạp Vùng Thủy Chân Lạp này là một vùng đồng bằng mới bồi đắp còn ngập nước và sình lầy, do đó với số dân Khmer ít ỏi việc cai quản và khai thác vùng lãnh thổ mới này đối với Chân Lạp là vô cùng khó khăn

Trải qua một thời gian dài vùng đất bị hoang phế, đến đầu thế kỷ XVI, sau khi vương quốc Chân Lạp bị người Xiêm đánh bại phải dời đô đến Phnom Penh năm 1434 thì người Khmer mới rải rác định cư tại vùng đất này Khu vực cư trú tập trung của người Khmer là các vùng đất cao ở Sóc Trăng, Trà Vinh, An Giang và rải rác ở các nơi khác Khoảng cuối thế kỷ XVI đã có những lớp người Việt đầu tiên vượt biển đến khai thác vùng này Nhờ cuộc hôn nhân của công chúa Ngọc Vạn với vua Chân Lạp Chey Chetta II mà từ năm 1620 dân cư hai nước đã có thể tự do qua lại sinh sống Khu vực Đồng Nai bắt đầu xuất hiện người Việt định cư Năm 1623 chúa Nguyễn lập đồn thu thuế tại Prei Nokor (Sài Gòn) và Kas Krobei (Bến Nghé),

Trang 27

tuy vẫn còn là vùng rừng rậm hoang vắng nhưng đây là trục giao thương của người Việt qua Chân Lạp và Xiêm Năm 1679 người Hoa di dân đến Nam Bộ khi được chúa Nguyễn cho các tướng không thần phục nhà Thanh như Dương Ngạn Địch, Trần Thượng Xuyên và 3.000 tùy tùng tới Mỹ Tho, Biên Hòa và Sài Gòn khai khẩn định cư Năm 1680 Mặc Cửu và tùy tùng vượt biển đến Chân Lạp chiêu tập lưu dân lập ra 7 thôn xã từ Vũng Thơm đến Cà Mau đến năm 1708 cũng xin thần phục nhà Nguyễn

Nói tóm lại, từ đầu thế kỷ XVI, đất đai Nam bộ hầu hết đều hoang hóa và chưa được kiểm soát chặt chẽ Thiên nhiên trù phú rộng lớn cùng với đó là các điều kiện kinh tế xã hội và diễn biến chính trị đã tạo điều kiện và thúc đẩy cộng đồng lưu dân người Khmer, người Việt, người Hoa, người Chăm nối tiếp nhau tiến vào Nam

bộ Họ chia nhau khai khẩn đất hoang, đào kinh, canh tác, buôn bán Chính nhờ sự lao động cần cù không mệt mỏi trong suốt tiến trình khẩn hoang, người lưu dân đã biến một vùng đất hoang vu đầm lầy rộng lớn thành những cánh đồng trù phú, những vườn cây ăn quả ngọt lành và những đô thị năng động sầm uất

1.2.1.2 Địa hình

Nam Bộ có khi hậu điều hòa, quanh năm nóng ẩm, ít bão, có hai mùa mưa nắng Diện tích 6.130.000ha, toàn vùng ước tính 4.000 kinh rạch với chiều dài tổng cộng 5.700km, mang độ phì nhiêu cao nhất trong tất cả các đồng bằng nước ta, là một vùng đồng bằng mang tính sông nước đặc trưng Nam bộ gồm có hai tiểu vùng với địa hình và thổ nhưỡng khác nhau là Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ Đông Nam

Bộ có độ cao hơn 100m, là vùng đất đỏ bazan và đất phù sa cổ Tây Nam Bộ có độ cao trung bình chưa đầy 2m, là vùng đất phù sa mới Đồi núi trong vùng không nhiều và tập trung ở miền Đông

Nam bộ có hai hệ thống sông lớn là hệ thống sông Đồng Nai ở khu vực Đông Nam Bộ và hệ thống sông Cửu Long ở miền Tây Nam Bộ Đặc điểm và chức năng của hai hệ thống sông này cũng khác nhau

Sông Đồng Nai có lượng phù sa thấp nhưng nhờ lòng sông sâu nên là nơi tập trung các cảng chính của khu vực là cảng Sài Gòn, cảng Cát Lái, cảng Phú Mỹ

Trang 28

Sông Cửu Long đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình hình thành đồng bằng sông Cửu Long và nuôi sống con người, là môi trường cho văn hóa sông nước đồng bằng sông Cửu Long hình thành và phát triển Với lượng nước trung bình khoảng 4.000 tỷ m3/ năm, lượng phù sa cung cấp khoảng 100 triệu tấn/ năm, sông Cửu Long đã cùng với biển Đông hình thành và phát triển những vạt đất phù sa màu

mỡ, các giồng cát ven biển và đất phèn trên trầm tích đầm mặn trũng thấp như vùng Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên, Tây Nam sông Hậu và bán đảo Cà Mau Với tốc độ dòng chảy và tốc độ dâng nước thấp nên vùng đồng bằng sông Cửu Long không cần phải đắp đê ngăn lũ như đồng bằng sông Hồng Nguồn nước được luân chuyển thường xuyên đưa nước ngọt và phù sa vào đồng ruộng, rửa phèn vùng trũng, và là nguồn đánh bắt thủy sản phong phú nhất là vào mùa nước nổi

Do điều kiện địa lý và địa hình đặc thù nên miền Nam nói chung, nhất là ở miền Tây Nam Bộ cách thức sinh hoạt, lao động của người dân mang đặc trưng đồng bằng sông nước rõ nét và đa dạng nhất so với các vùng miền khác trên cả nước

Truyền thống nông nghiệp lúa nước của người Việt được phát huy tối đa ở Nam bộ Với điều kiện đất màu mỡ và hệ thống tưới tiêu đảm bào nên đồng bằng sông Cửu Long là một trong hai vựa lúa lớn nhất cả nước, đạt sản lượng gạo suất khẩu trên 4.000.000 tấn/năm, Nam bộ cũng là vựa trái cây lớn, nơi cung cấp đến 70% trái cây cho cả nước Các vựa trái cây lớn nhất miền Nam hầu như tập trung ở vùng đồng bằng sông Cửu Long như Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long Những sản vật đã dần hình thành thương hiệu nổi tiếng khắp đồng bằng trong cả nước đã mang lại một nguồn thu lớn cho các nhà vườn ở Đồng bằng sông Cửu Long

Với hệ thống kênh rạch chằng chịt và nằm ở hạ lưu sông Mekong và được biển bao quanh hai phía, Nam bộ nói chung và đồng bằng sông Cửu Long nói riêng

là ngư trường lớn của cả nước Không chỉ cung cấp nguồn nước với lượng phù sa dồi dào, cá tôm phong phú và mạng lưới sông rạch Nam bộ còn là tiền đề phát triển các ngành nghề buôn bán, vận chuyển đường sông

Trang 29

1.2.1.3 Văn hóa sông nước

Mặc dù đặc trưng văn hóa sông nước hầu như hiện diện ở hầu hết các quốc gia có nền văn minh lúa nước nhưng những đặc trưng chủ đạo của văn hóa sông nước lại có sức ảnh hưởng mạnh mẽ và chi phối toàn diện cuộc sống, tạo nên tính cách miền Nam Văn hóa sông nước được phản ánh rõ nét trong đời sống sinh hoạt, cách ăn mặc, nhà để ở và tiếng nói của người dân Nam bộ, nhất là tại đồng bằng sông Cửu Long

Điều kiện địa lý và giao lưu tiếp biến văn hóa nên cơ cấu bữa ăn thông thường của người miền Nam có cơ cấu cơm – canh – rau- tôm cá Ngoài ra, trong bữa cơm còn có sự xuất hiện của các món mắm Với nguồn thủy sản dồi dào nên các loại mắm nơi đây rất phong phú và đa dạng và cách chế biến cũng rất đa dạng đặc sắc như mắm sống, mắm kho, mắm chưng, lẩu mắm, bún mắm…đặc biệt các món mắm này luôn đi kèm với nhiều loại rau vườn tạo nên hương vị độc đáo đặc trưng vùng sông nước miệt vườn

Về ngôn ngữ, có thể nói, Nam bộ là nơi có nhiều từ ngữ chỉ các loại hình sông nước nhất trong cả nước: sông, lạch, rạch, xẻo, ngọn, mương, rãnh, ao hồ, đìa, hào, láng, lung, bưng, điền, đầm, đìa, trấp, vũng, trũng, gành, xáng, bàu… Và các từ chỉ trạng thái của nước cũng nhiều không kém: nước lớn, nước ròng, nước đứng, nước chửng, nước rông, nước rặc, nước lên, nước xuống, nước nhảy, nước chụp, nước rút, nước nổi, nước lềnh, nước cạn, nước ngược, nước xuôi sông nước đã trở thành linh hồn của vùng đất trong cả tiếng nói của người dân

Văn hóa sông nước còn được biểu hiện qua trang phục hàng ngày của người dân Chiếc áo bà ba và khăn rằn là trang phục của nông dân người Việt ở Nam bộ Chiếc áo bà ba gọn nhẹ phù hợp khi chèo ghe xuồng, lội đồng, tát mương, tát đìa, cắm câu giăng lưới Chiếc khăn rằn dùng để che đầu, lau mồ hôi Đặc điểm của chúng đều là mỏng, mau khô, mà cơ động thoải mái

Nhà ở của người Việt ở Nam bộ có ba loại chính là nhà đất ven lộ, nhà sàn dọc theo bờ kênh rạch và nhà nổi ven sông Trong đó, nhà nổi trên sông có nhiều loại như một bè phao nổi dựng nhà lên trên hay một chiếc ghe tùy lớn nhỏ, vừa là

Trang 30

nơi cư trú vừa là phương tiện mưu sinh của những gia đình làm ngư nghiệp nuôi bè

cá, hay là những chiếc ghe vận chuyển đường sông, buôn bán sỉ lẻ trên sông của các gia đình thương hồ

Giao thông của vùng đất này được chia làm hai hướng: đường bộ hoặc đường thủy Tùy vào địa hình mà người dân cư trú lựa chọn những phương tiện phù hợp Tuy nhiên, ở miền Tây sông nước thì xuồng ghe có một tầm quan trọng đặc biệt vừa là phương tiện vận chuyển, vừa là phương tiện mưu sinh, vừa là phương tiện cư trú của một số lượng lớn cư dân làm các nghề đò ngang đò dọc, buôn bán và nuôi cá trên sông Vì vậy dòng sông, con đò đã trở thành một biểu tượng của miền Nam, nhất là đồng bằng sông Cửu Long và xuất hiện trong hầu hết các tác phẩm thi

ca, thơ phú, hội họa khi nói về vùng đất này

1.2.2 Sự phát triển giao thương đường thủy

Sống trong môi trường sông nước bao quanh, mạng lưới kênh rạch dày đặc, lưu dân người Việt có những thay đổi để thích nghi với môi trường sinh thái nơi đây Việc học tập kinh nghiệm sống của người dân bản địa là nhóm cư dân Nam đảo và Môn – Khmer là rất cần thiết

Lưu dân người Việt đến Nam bộ khai hoang lập ấp quần cư và dần hình thành xóm làng dọc theo kinh rạch hoặc trục lộ Không lấy đắp đê ngăn lũ- trị thủy làm trọng, người dân Nam bộ tận dụng và khai thác tối đa ưu thế của hệ thống sông ngòi kênh rạch chằng chịt nơi đây Làng Nam bộ theo không gian mở, cư dân của Nam bộ không cố định và cuộc sống phụ thuộc lớn vào nguồn thủy lợi dồi dào

Ở miền Nam, dòng sông mang nguồn sống và có tầm ảnh hưởng quan trọng nhất chính là sông Mekong hay còn gọi là Cửu Long giang Bắt đầu từ Phnom Penh, sông Mê Kông chia thành 2 nhánh: bên phải là sông Bassac gọi là Hậu Giang hay sông Hậu và bên trái là Mê Kông gọi là Tiền Giang hay sông Tiền Các phân lưu của sông Mê Kông chảy trên lãnh thổ của Việt Nam được gọi là Sông Cửu Long, mỗi phân lưu dài chừng 220-250 km Lưu lượng nước các phân lưu rất lớn, khoảng 6.000 m³/s về mùa khô, lên đến 120.000 m³/s vào mùa mưa, và chuyên

Trang 31

chở rất nhiều phù sa bồi đắp tạo nên đồng bằng châu thổ rộng lớn ở Nam Bộ Việt Nam

Sông Hậu chảy qua Châu Đốc, Long Xuyên (An Giang), Thành phố Cần Thơ, Sóc Trăng (Sóc Trăng) và đổ ra biển trước kia bằng ba cửa: cửa Định An, cửa

Ba Thắc, cửa Tranh Đề, cửa Ba Thắc khoảng thập niên 1970 đã bị bồi lấp nên sông Hậu chỉ còn hai cửa biển ngày nay

Sông Tiền có lòng sông rộng với nhiều cù lao ở giữa dòng, chảy qua Tân Châu (An Giang), Hồng Ngự và Cao Lãnh(Đồng Tháp) đến Cai Lậy (Tiền Giang) thì chia làm bốn sông đổ ra biển bằng sáu cửa: cửa tiểu, cửa Đại, cửa Hàng Luông,

Cổ Chiên, Cung Hầu và cửa Ba Lai

Chính vì điều kiện tự nhiên đã có sẵn mạng lưới sông như vậy lại thêm việc người dân đào kênh dẫn nước phục vụ sinh hoạt và tưới tiêu nên Lê Qu ý Đôn đã miêu tả cảnh ruộng đồng ở đây trở nên trù phú, như sau: nơi đây có “nhiều ngòi lạch, đường nước như mắc cửi, không tiện đi bộ” [7, tr.112]

Nhà văn Sơn Nam trong “Đồng bằng sông Cửu Long, nét sinh hoạt xưa”, đã

mô tả như sau: “Nhà cửa bám vào bờ sông bờ rạch, nếu trước nhà là bãi bùn khá dài với dừa nước và rặng bần thì luôn luôn có đào mương nhỏ, xẻ ngang bãi để xuồng vào đậu sát bên nhà Rửa chén vo gạo ở mương sau hè, bắc sàn để ngồi, gọi sàn nước; mương tù đọng, gọi là hà lảng Dưới bến bắc cầu thang với nhiều bực để buộc ghe xuồng, lên xuống giặt quần áo, tắm rửa tùy nước lớn nước ròng” [8, tr.112]

Do đất thấp, sông rạch nhiều nên khó bồi đất làm đường hay làm cầu để phát triển giao thông đường bộ, do đó giao thông đường thủy là sự lựa chọn tối ưu trong

di chuyển và trao đổi giao thương hàng hóa Một gia đình có thể không có nhà cửa nhưng nhà nào cũng phải có một chiếc xuồng để di chuyển, đi thăm họ hàng, mua

bán, di chuyển đều đi bằng xuồng

Trịnh Hoài Đức trong Gia Định Thành thông chí, trong phần phong tục chí

đã ghi nhận: "Ở Gia Định, chỗ nào cũng có ghe thuyền, hoặc dùng thuyền làm nhà

ở, hoặc để đi chợ, hoặc để đi thăm người thân thích,hoặc chở gạo củi đi buôn bán

Trang 32

rất tiện lợi Ghe thuyền chật sông, ngày đêm đi lại không ngớt, cho nên nhiều khi đụng chạm nhau, bị hư hại rồi sinh ra kiện cáo, nhưng ai phải ai quấy thì thật khó

xử đoán cho đúng lẽ" [9, tr.112]

Sơn Nam trong Văn minh miệt vườn có nói: “Ngày 20-7-1884, người Pháp

đã mở tuyến xe lửa đầu tiên chạy bằng hơi nước từ Sài Gòn xuống Mỹ Tho, nhưng phải đến hết thế chiến thứ I (1918) bến bắc Cần Thơ mới được hình thành Từ đó

những con lộ Cần Thơ đi Long Xuyên, Sóc Trăng mới được đắp từ từ” [10, tr.112]

Trong thời Pháp thuộc, giao thông đường bộ của miền Nam bước đầu được đầu tư phát triển, đã có các chuyến xe khách liên tỉnh, liên vùng Tuy nhiên, hệ thống đường bộ thời kỳ đó còn nhiều yếu kém và giá cả còn quá cao so với mức sống của người dân Do đó, trong giao thương vẫn sử dụng phương tiện vận chuyển đường thủy là chủ yếu Hàng hóa thường được vận tải bằng đường thủy, trên những

chiếc ghe lớn tải trọng chừng 200 hoặc 300 tấn gọi là ghe chài (Theo Vương Hồng

Sển thì chữ ghe chài là do tiếng Triều Châu là Pokchay; tức là ghe tải trọng lớn)

Từng đoàn ghe chài khoảng hơn 20 chiếc thường được một chiếc tàu kéo nhỏ nhưng công suất lớn, đoàn ghe thành một hàng dài là những hình ảnh quen thuộc trên sông cái cho đến những năm 60 thế kỷ trước Ngành vận tải thủy Nam Kỳ thời gian này rất phát triển nhưng đa phần do người Hoa làm chủ

Trong quyển Đồng bằng sông Cửu Long ở trang 126- 127, tác giả Phan Quang đã ghi lại một bài viết của một tạp chí xuất bản tại Sài Gòn năm 1961 như sau: “Riêng về ngành nầy (vận tải đường thủy nội địa), người Việt gốc Hoa có khoảng 170 hãng hoặc công ty vận tải Những nhà chuyên chở hàng hóa hoặc nông phẩm từ Sài Gòn Chợ Lớn đi các tỉnh miền Tây hoặc miền Trung (Nam bộ), từ làng nầy qua làng khác, dọc theo các sông rạch…Ở vùng châu thổ sông Cửu Long, các nhà vận tải dùng ghe có tàu dòng Họ có cả những chiếc tàu trọng tải chừng 500 tấn”

Khi giao thông đường thủy phát triển mạnh mẽ, các phương tiện di chuyển trên sông có nhiều kiểu và nhiều loại phong phú và đa dạng, tùy theo nhu cầu, mục đích sử dụng có tên gọi khác nhau

Trang 33

Ban đầu, khi đến vùng đất miền Nam, lưu dân miền Trung vào khai cơ lập nghiệp bằng ghe bầu nhưng khi đến vùng sông rạch nhỏ chằng chịt thì ghe bầu không còn phù hợp, từ đó nhiều kiểu ghe xuồng mới phù hợp hơn ra đời Tùy vào nhu cầu và địa hình sông rạch mà người dân sử dụng các loại phương tiện đường thủy đa đạng khác nhau như: xuồng ba lá, xuồng năm lá, xuồng máy, ghe tam bản mui ngắn, ghe tam bản mui dài, ghe đục, ghe câu, ghe đáy, tắc ráng, chiếc trẹt, ghe chài, ghe lườn…

Chính mạng lưới sông rạch đã tác động mạnh mẽ đến sự phát triển giao thông đường thủy Từ đơn giản đến phức tạp và cũng diễn ra quá trình đào thải và cải tiến không ngừng tạo ra sự đa dạng về hình dáng, kích thước và mục đích sử dụng như hiện nay Kiểu dáng các loại ghe ở mỗi nơi thường phù hợp với đặc điểm con sóng, dòng chảy của sông và điều kiện sông rạch Ở Cần Thơ phổ biến nhất là loại ghe dài nhưng không quá lớn, vừa tiện cho việc di chuyển trên sông và luồn vào kênh rạch để trao đổi hàng nông sản từ nông thôn ra các ngả và tập trung về chợ nổi

Từ những ghi chép của tiền nhân cho thấy, việc giao thương của vùng dựa vào mạng lưới sông rạch là chính Thương lái dùng ghe nhỏ thu gom lúa về chành xay xát, lưu kho rồi lại xuống ghe đi Sài Gòn, Chợ Lớn, phương tiện vận tải bằng đường sông vừa thuận tiện, chi phí thấp vừa phù hợp với hoạt động của các chành lúa kỳ đầu phát triển của Nam Kỳ Ngoài ra, các trung tâm giao thương lớn của vùng như: Nông Nại đại phố, Mỹ Tho đại phố, Sài Gòn, Cần Thơ đều được hình thành ven bờ sông rạch, thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa Đặc trưng giao thông đường thủy còn góp phần quan trọng trong việc hình thành các chợ nổi ở miền Tây Nam bộ, một loại hình họp chợ đặc trưng vùng sông nước

Trang 34

1.2.3 Các yếu tố hình thành chợ nổi và văn hóa thương hồ

1.2.3.1 Các giả thiết về quá trình hình thành người dân thương hồ và hoạt động nhóm chợ trên sông

Trong điều kiện sống phụ thuộc vào sông nước, việc mua bán đường thủy đã hình thành và phát triển nhanh chóng Ban đầu là loại hình bán ghe hàng, mang hàng bán lẻ đến bán từng bến nước và dần phát triển cao hơn là những chiếc ghe thương hồ mang sản vật đi xa một vài ngày đường, từ địa phương sản xuất đến chợ nổi, nơi có đầu mối tiêu thụ

A- Các giả thiết về quá trình hình thành người dân thương hồ

Nghề thương hồ, chợ nổi là những mô hình thương mại đặc thù của vùng sông nước Nam Bộ, loại hình thương hồ còn góp một phần không nhỏ trong quá trình di dân của người Việt ở miền Nam Từ buổi đầu thời kỳ khẩn hoang đã xuất hiện những chuyến ghe bầu theo gió mùa từ vùng Ngũ Quảng vào Nam Kỳ Lục Tỉnh buôn bán, mến đất mến người, họ lưu lại, lập gia đình rồi sinh con cái, cùng nhau góp sức vào quá trình khẩn hoang Nam bộ Có thể nói hình ảnh những chiếc ghe bầu là một trong những tiền đề đầu tiên cho nghề thương hồ

“Khách thương hồ” theo giải thích của Phan Trung Nghĩa (Khách Thương

hồ, NXB Văn hóa-Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 2012) thì bắt nguồn từ việc người dân

từ miệt Tiền Giang hàng năm vào mùa nước nổi, khi việc mùa màng đã xong thì xuống xuồng chèo ghe xuôi theo con nước về miệt Hậu Giang bán hàng bông và gặt lúa mướn sau đó trở về quê khi gần Tết Họ là những người mua đi bán lại, mang sản vật địa phương nơi mình sinh sống bán lại ở những nơi mình đến làm mướn, ngược lại mua sản vật ở vùng đất đó về bán lại ở quê trong những ngày trở về Khách thương hồ ngày xưa có một mối quan hệ gắn bó chặt chẽ đến vùng đất nơi mình đến, hầu như mỗi ghe xuồng đều có một bến quen, đó là nhà của một người dân địa phương nơi họ tá túc và làm việc trong suốt khoảng thời gian họ lưu lại miệt Hậu Giang

Trang 35

Vậy có thể thấy rằng người thương hồ có thể xuất thân từ những vùng đất khác nhau, đến và đi với những mục đích khác nhau nhưng họ đều sử dụng phương tiện di chuyển là ghe xuồng trên đường thủy, sản phẩm dùng để trao đổi buôn bán giữa vùng đất địa phương nơi họ sinh sống và vùng đất họ đến làm ăn là điều kiện không thể thiếu trên mỗi ghe xuồng của họ

Một hoạt động khác thường đi kèm với hoạt động thương hồ là nhóm chợ trên sông, tiền đề của việc hình thành và phát triển chợ nổi

B- Giả thiết quá trình hình thành hoạt động nhóm chợ trên sông

Trong lịch sử Nam bộ, nền văn minh sông nước đã đạt tới đỉnh cao trong giai đoạn Óc Eo, Phù Nam từ thế kỷ I đến thế kỷ VII với nhiều thương cảng lớn Thương cảng Óc Eo là một quần thể gồm cả cảng sông và cảng biển, cũng là nơi hội

tụ của hơn 30 dòng sông đào nối với các đô thị Cảng sông nằm ở phía Đông ngọn núi Ba Thê là nơi tụ họp của các bến nước tạo thành một dãy chợ nổi Nơi đây các ghe thuyền lui tới trao đổi hàng hóa với cư dân tại chỗ, cũng là nơi cung cấp lương thực cho nội thành mà theo thư tịch cổ thì gồm vua chúa, đạo sĩ, quan lại, binh lính, công nhân và thương nhân bản địa hay đến từ các tàu buôn, dấu tích tìm thấy ở ấp Trung Sơn kéo dài từ dưới chân chùa Linh Sơn đến giồng Cây Trôm, An Giang

Trải qua nhiều biến cố và thời gian, hoạt động nhóm chợ trên sông được tiếp biến với chủ thể mới là lưu dân người Việt trong quá trình khẩn hoang miền Nam

Có thể nói, tiền đề của chợ nổi chính là những nơi “giáp nước”

Theo Nguyễn Hiếu Lê trong ấn phẩm Bảy ngày trong vùng Đồng Tháp Mười nhận định: “Đi trên kênh rạch Nam Việt, gặp chỗ giáp nước thì luôn luôn thấy một cái chợ hoặc lớn hoặc nhỏ, ít nhất cũng là một xóm có vài cái quán bán hàng, vì chỗ giáp nước là chỗ đổi con nước, mười ghe thì chín ghe đợi con nước sau Trong khi nghỉ, người ta lên bờ mua thức ăn, đồ dùng, uống trà, cà phê, thế là tự nhiên nổi lên cái chợ.” [11, tr.112]

“Giáp nước” là nơi hai dòng chảy gặp nhau Theo thủy học, sông ngòi vùng Nam bộ theo chế độ bán nhật triều, trong một ngày 24 giờ sẽ có hai lần con nước

Trang 36

lớn và ròng Khi nước lớn, có nghĩa là nước dâng lên, thì dòng chảy sẽ ngược chiều lại với con nước ròng Hai con kênh cùng đổ nước vào con kênh thứ ba ở hai đầu mỗi lần nước lớn thì nước đứng, không chảy nữa Người dân di chuyển bằng đường thủy khi đi qua đây thường dừng lại chờ khi con nước xuôi, đổi chiều ở cả hai nguồn, từ đó mà họ đi tiếp lộ trình hoặc quay về Ghe xuồng ngược xuôi thường xuyên ghé lại đây nghỉ ngơi chờ con nước sau để di chuyển thuận tiện vì cả hai chiều đi và về đều xuôi theo con nước, đỡ tốn công chèo chống Từ việc nắm bắt được điều kiện tự nhiên mà dần dần những con nước là nơi tập trung trao đổi buôn bán, ăn uống, nghỉ ngơi của các ghe xuồng và phát triển thành những chợ nổi vùng Đồng bằng sông Cửu Long

C- Lịch sử hình thành chợ nổi

Khi các dinh trấn được thành lập với hệ thống huyện, tổng, làng, thôn thì cũng là thời điểm mạng lưới chợ ra đời, là các chợ có sự quản lý Tuy nhiên, khắp Nam bộ có nhiều nơi chưa được đặt mạng lưới hành chính nhưng mạng lưới chợ vẫn phát triển, đây là những chợ tự phát do nhu cầu thực tế Thị có trước thành là đặc điểm của Đồng bằng sông Cửu Long Tiền đề của chợ nổi là hoạt động nhóm chợ trên sông và sự buôn bán tràn từ bờ xuống bến sông

Từ đầu thế kỷ XVII, vùng đất thuộc hai bờ sông tiền cơ bản đã khai phá xong, nhiều nơi thành trấn lỵ, huyện lỵ, dân cư tập trung lập nghiệp ngày càng đông Đặc biệt, hệ thống mạng lưới chợ ra đời nhộn nhịp, sung túc

Sách Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức được công bố vào năm

1820 đã ghi chép được rằng:

“ Chợ Long Hồ ở phía Đông trấn thự cách một dặm, hai mặt trông xuống sông, chợ này lập từ năm Nhâm Tý Túc Tông thứ 8 (1732) phố xá nối liền, bách hóa tụ tập đăng dài năm dặm, thuyền ghe suốt bến…” [12, tr.112]

Điều này cho thấy rằng chợ Nam bộ được hình thành bên bờ sông và việc di chuyển, trao đổi hàng hóa ở bến sông của chợ rất đông đúc, trong đó thuyền ghe là phương tiện vận chuyển chủ yếu

Trang 37

Khi nói về chợ Hưng Lợi, Định Tường thì các đặc điểm về chợ nổi cũng đã bắt đầu hiện ra, hàng hóa liền nhau chợ gần sông cái Người đi lại đỗ thuyền đợi nước thủy triều cho nên trên sông có nhiều thuyền bán thức ăn Đây là chi tiết mô

tả dịch vụ ăn uống xuất hiện trên sông nơi con giáp nước, cũng là một trong các giả thiết từ đó chợ nổi hình thành

Có thể ghi nhận rằng từ đầu thế kỷ XIX đã có dấu hiệu của việc hình thành chợ nổi Lúc này việc buôn bán trên sông vẫn còn sơ khai, nhỏ lẻ, chủ yếu chỉ mới phục vụ vận chuyển và buôn bán thức ăn

Người Pháp chiếm Nam Kỳ, tiến hành công cuộc khai thác lớn phía bờ Tây sông Hậu với chủ trương “đào kinh, lập chợ, mở lộ xe”, trong đó đào kênh được đặc biệt chú trọng, hoạt động thương mại từ đó có điều kiện phát triển vượt bậc Kinh xáng Xà No nối Cần Thơ – Rạch Giá đào xong (1901 – 1903) mở ra thời kỳ tăng tốc về nông nghiệp, công nghiệp và thương nghiệp Sản phẩm lúa gạo, trái cây, rau

củ từ Đồng bằng sông Cửu Long nhanh chóng trở thành hàng hóa có mặt khắp Nam

kỳ lục tỉnh, xuất khẩu sang cả nước ngoài

Khu vực chợ Cái Răng, Cần Thơ với thế mạnh công nghiệp xây xát lúa gạo

đã trở thành một vựa lúa chính của vùng, chỉ đứng sau Chợ Lớn Bên cạnh đó, chợ Cái Răng sung túc cả trên bờ lẫn dưới sông do nằm ở vị trí trục giao thông chính nối liền Sài Gòn – Cần Thơ xuống Cà Mau – Rạch Giá Theo một tài liệu của chính quyền Pháp ở Cần Thơ vào năm 1899 đã ghi chép: “…Người ta đặc biệt thấy có nhiều nhà bè ở hai bên rạch Cái Răng và Cần Thơ Tất cả những ngôi nhà đó được làm bằng trên những mảng bè, là nhà của các nhà buôn Trung Quốc và An Nam…”

(Cần Thơ trước năm 1899, Thư viện Cần Thơ, bản dịch tiếng Pháp)

Theo các vị cao niên ở Cái Răng thì cho tới giữa thế kỷ XX, nhiều nhà bè vẫn tồn tại Chủ yếu là người Hoa mở tiêm bán tạp hóa ngay trên bè Một khu chợ trên sông dần được hình thành và phát triển với hàng trăm tàu ghe ngang dọc ngày đêm mua bán, trao đổi hàng hóa Ghe hàng người Việt bán trái cây, rau củ; nhà bè của người Hoa bán tạp hóa, còn ghe của người Khmer thì bán cà ràng, một dạng bếp

Trang 38

lò của Nam bộ Lúc này người dân trong nội ô Cần Thơ vẫn thường đến chợ Cái Răng mua sắm hoặc thưởng thức món ăn ngon

Ở phía Nam Cái Răng, Cần Thơ khoảng 30 km, cụm kênh Ngã Bảy Phụng Hiệp hoàn thành năm 1915, một năm sau khi quận lỵ Phụng Hiệp dời từ Rạch Gòi

về đây Lộ xe từ Cái Răng đắp dần tới Ngã Bảy, khiến nơi đây nhanh chóng trở thành khu chợ đông đúc, sung túc từ trên lộ lan xuống bảy ngả sông Tàu đò chở khách, ghe hàng nông sản cùng đội quân thương hồ khắp nơi tụ về Chợ Ngã Bảy đã trở thành một chợ nổi với quy mô rộng lớn Chợ sung túc đến nỗi quan chủ tỉnh người Pháp là Outrey dự định biến nơi đây thành một thương cảng quy mô, họ gọi vùng Ngã Bảy là “ngôi sao Phụng Hiệp”,

Công cuộc đào kinh tiếp tục từ Ngã Bảy – kinh Quan Lộ nối Phụng Hiệp qua đất Sóc Trăng, Rạch Giá, Bạc Liêu, Cà Mau Tại huyện Long Mỹ, Sóc Trăng, người Pháp cho xẻ năm con kinh xáng hợp lại, hình thành trung tâm Ngã Năm chỉ cách trung tâm Ngã Bảy hơn 30km Ngay khi con kênh được đào xong, chợ Ngã Năm hình thành và nhanh chóng phát triển

Nhà nghiên cứu Nam bộ , nhà văn Sơn Nam đã nhận xét: “Chợ Ngã Năm sung túc hơn nhiều huyện lỵ, có thể nói là phồn thịnh hơn cả tỉnh lỵ Hà Tiên… Buổi sáng, lúc nhóm chợ, xuồng ghe tấp nập đến nỗi chúng ta có thể đi một vòng tròn qua năm con kinh xáng, bằng cách chuyền từ xuồng này sang ghe kia, đậu sát bên… xuồng câu tôm, ghe lươn, ghe cà vom, ghe chài lớn, ghe tam bản kiểu Cần Thơ… chen nhau trên vùng nước mặn trong khi tàu đò, tàu dòng ghe xúp lê inh ỏi cố vạch một lối thoát” [13, tr.112]

Có thể nói sự ra đời của các chợ nổi Cái Răng, Ngã Bảy, Ngã Năm cho thấy tính hoàn thiện của kiểu cách nhóm chợ trên sông với quy mô rộng lớn, số lượng tàu ghe đến đây buôn bán gấp nhiều lần so với các chợ trước đây

Từ năm 1945 đến 1975 nhiều chợ nổi không còn hoạt động Lý do một phần

do chế độ cũ không còn khuyến khích bởi số lượng tàu ghe đông đúc tập trung về tung tâm nên khó kiểm soát về mặt an ninh Mặt khác, do ruộng vườn bị tàn phá hoặc bỏ qua do chiến tranh nên nguồn cung cấp nông sản không còn dồi dào

Trang 39

Sau giải phóng hòa bình lập lại, đất vườn hồi sinh, sản xuất phát triển, chợ nổi lại được khôi phục với những hình thức mua bán chuyên nghiệp, chuyên ngành hàng hơn Song song với ba trung tâm chợ nổi lớn hình thành từ trước, các chợ nổi nhỏ cũng được hình thành theo nhu cầu địa phương Các chợ nổi nhỏ như Cái Bè ở Tiền Giang, Phong Điền ở Cần Thơ, Trà Ôn ở Vĩnh Long với đặc điểm nổi bật là chợ nổi trái cây vì gần với những nhà vườn lớn ở Đồng bằng sông Cửu Long Chợ nổi Cái Răng, Ngã Bảy, Ngã Năm thì ở dạng buôn bán đa ngành hàng và bán sỉ với những ghe xuồng lớn Các chợ nổi gắn liền với đời sống sinh hoạt của người dân thôn quê với sản vật phong phú theo mùa và luôn đông đúc nhất vào các dịp cúng lớn và cận Tết

Như vậy, thông qua những tư liệu đã được ghi chép và lưu lại thì chợ nổi được hình thành sơ khai khoảng đầu thế kỷ XIX với hình thức là các chợ dọc theo hai bờ sông Tiền Đầu thế kỷ XX thì chợ nổi hình thành và hoàn thiện với ba trung tâm chợ nổi phía bờ Tây sông Hậu là Cái Răng, Ngã Bảy và Ngã Năm

Tóm lại, người thương hồ và hoạt động nhóm chợ trên sông đã được hình thành trên cơ sở của nền văn hóa sông nước với điều kiện tự nhiên đặc thù từ buổi đầu lưu dân đến khẩn hoang Nam bộ Chợ nổi và nghề thương hồ có một sự gắn bó chặt chẽ với nhau trong đời sống sông nước Đồng bằng sông Cửu Long Người buôn bán trên đường sông – người thương hồ phát triển về số lượng là kết quả tất yếu của sự hình thành chợ nổi Chợ nổi là không gian buôn bán tập trung của người dân thương hồ từ khắp mọi nơi, vừa thúc đẩy kinh tế thương hồ phát triển nuôi sống người dân thương hồ, đồng thời cũng góp phần hình thành nét văn hóa thương hồ độc đáo mà không nơi nào khác có được

1.2.3.2 Các nguyên nhân và điều kiện cơ bản hình thành chợ nổi

A- Các nguyên nhân hình thành chợ nổi

Mạng lưới chợ ở Đồng bằng sông Cửu Long hình thành do nhu cầu tất yếu của hoạt động trao đổi, tiêu thụ nông sản, hàng hóa Việc khẩn hoang ngày càng phát triển, nông nghiệp ngày càng phát triển, năng suất cây trồng vật nuôi đều tăng

Trang 40

Khi đó, nông sản dư thừa trở thành hàng hóa cần được tiêu thụ nhanh chóng và đảm bảo về giá Đồng thời, những đô thị đã được hình thành và phát triển với nhu cầu hàng hóa cao và yêu cầu có nơi cung cấp hàng hóa Tuy nhiên, do đường bộ chưa phát triển, giao thông đường thủy thuận tiện hơn nên song song với các chợ họp trên đất liền, các đầu mối cung cấp nông sản trên đường thủy ngày càng phát triển và trở thành các chợ trung tâm của vùng đồng bằng sông Cửu Long

Khi đã thu hoạch được nhiều sản phẩm nông nghiệp nhưng tiêu thụ không thể hết, nông dân có nhu cầu bán lại những sản phẩm của họ Nhưng quanh năm chỉ quanh quẩn ở đồng ruộng, vườn cây không biết bán đi đâu với số lượng lớn và giá

cả như thế nào thì lúc đó nghiệp thương hồ- thương lái đường thủy xuất hiện Những thương lái này thông thuộc mạng lưới kênh rạch do đó biết được những trung tâm thị tứ phát triển có nhu cầu cao, đồng thời cũng biết vùng nào có đặc sản theo từng mùa vụ mà đến đó mua và bán lại Vào thế kỷ XVII, XVIII giao thông đường bộ chưa phát triển, đường xá còn gồ ghề di chuyển xa, khó khăn gây hư hại cho nông sản; đồng thời lại tốn nhân công để vận chuyển nên đường thủy là phương

án tối ưu Nghề thương hồ đường dài cần một điểm tập trung hàng hóa đưa lên đô thị hoặc chở về những vùng sâu vùng xa, do đó, nhu cầu hình thành một nơi tập trung buôn bán trao đổi hàng hóa thuận lợi cho hoạt động thương hồ được hình thành Đó chính là chợ nổi

Trong qua trình hình thành và phát triển, chợ nổi đã biểu lộ những ưu điểm

mà chợ trên bờ không có được Đầu tiên chính là ưu điểm tiết kiệm chi phí do hoạt động mua bán trực tiếp tại nguồn hàng và giá cả mua sỉ luôn có ưu thế cao Thời gian vận chuyển bằng đường thủy được rút ngắn do thuận tiện lưu thông và việc bỏ qua được khâu khuân vác, kiểm kê và lưu kho trung gian sẽ không những tiết kiệm được một khoản phí đáng kể mà còn góp phần giữ gìn chất lượng nông sản

Ưu điểm thứ hai là về không gian buôn bán, trao đổi hàng hóa Nhu cầu trao đổi mua bán hàng hóa ngày càng cao lên trong khi đó điều kiện về cơ sở vật chất chưa kịp đáp ứng, xảy ra tình trạng các chợ trên bờ quá tải, không đủ chỗ cho người bán sỉ lưu hàng tấn trái cây nông sản

Ngày đăng: 20/03/2015, 16:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thúy Anh (chủ biên, 2011), Giáo trình du lịch văn hóa- Những vấn đề lý luận và nghiệp vụ, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình du lịch văn hóa- Những vấn đề lý luận và nghiệp vụ
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
3. Trần Đình Ba (2012), Chợ Việt độc đáo ba miền, NXB Văn Hóa Thông Tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chợ Việt độc đáo ba miền
Tác giả: Trần Đình Ba
Nhà XB: NXB Văn Hóa Thông Tin
Năm: 2012
4. Trần Phỏng Diều (2009), Văn hóa sông nước Cần Thơ, NXB Văn Nghệ, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa sông nước Cần Thơ
Tác giả: Trần Phỏng Diều
Nhà XB: NXB Văn Nghệ
Năm: 2009
5. Lê Quý Đôn (2007), Phủ biên tạp lục, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phủ biên tạp lục
Tác giả: Lê Quý Đôn
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2007
6. Trịnh Hoài Đức (1999), Gia Định Thành thông chí, nguyên tác chữ Hán hoàn tất năm 1820, Đỗ Mộng Khương & Nguyễn Ngọc Tỉnh dịch, Đào Duy Anh hiệu đính và chú thích, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia Định Thành thông chí
Tác giả: Trịnh Hoài Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
7. Đặng Thị Hạnh (2011), Chợ nổi Đồng bằng sông Cửu Long từ góc nhìn văn hóa học, Khoa Văn hóa học Trường ĐH KHXH & NV TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chợ nổi Đồng bằng sông Cửu Long từ góc nhìn văn hóa học
Tác giả: Đặng Thị Hạnh
Năm: 2011
8. Lý Tùng Hiếu (2009), Vùng văn hóa Nam Bộ: định vị và đặc trưng văn hóa, Khoa văn hóa học, Trường ĐH KHXH &NV TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vùng văn hóa Nam Bộ: định vị và đặc trưng văn hóa, Khoa văn hóa học
Tác giả: Lý Tùng Hiếu
Năm: 2009
9. Nguyễn Văn Hiệu, Khai Thác lợi thế văn hóa trong hoạt động du lịch, Tạp chí Đại học Sài Gòn (11/2009) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khai Thác lợi thế văn hóa trong hoạt động du lịch
10. Nguyễn Đình Hòe (2001), Du lịch bền vững, Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch bền vững
Tác giả: Nguyễn Đình Hòe
Năm: 2001
11. Hội Văn hóa nghệ thuật TP. Cần Thơ (2009), Văn hóa văn nghệ dân gian Cần Thơ, NXB Văn nghệ liên hiệp các hội VHNT Tp Cần Thơ, Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa văn nghệ dân gian Cần Thơ
Tác giả: Hội Văn hóa nghệ thuật TP. Cần Thơ
Nhà XB: NXB Văn nghệ liên hiệp các hội VHNT Tp Cần Thơ
Năm: 2009
12. Lê Thị Bích Hồng (2012), Kinh nghiệm quản lý và bảo tồn di sản văn hóa của nước Anh, tạp chí VHNT số 338, tháng 8-2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm quản lý và bảo tồn di sản văn hóa của nước Anh
Tác giả: Lê Thị Bích Hồng
Năm: 2012
13. Nhâm Hùng (2010), Chợ nổi Đồng bằng sông Cửu Long, NXB Trẻ, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chợ nổi Đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Nhâm Hùng
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2010
14. Nhâm Hùng (2007), Cái Răng hình thành và phát triển, NXB Văn nghệ, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cái Răng hình thành và phát triển
Tác giả: Nhâm Hùng
Nhà XB: NXB Văn nghệ
Năm: 2007
15. Nguyễn Hiếu Lê, (2002), Bảy ngày trong vùng Đồng Tháp Mười, NXB VHTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảy ngày trong vùng Đồng Tháp Mười
Tác giả: Nguyễn Hiếu Lê
Nhà XB: NXB VHTT Hà Nội
Năm: 2002
16. Huỳnh Lứa (2000), Góp phấn tìm hiểu vùng đất Nam Bộ các thế kỉ XVII, XVIII, XIX, NXB Khoa học Xã Hội, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phấn tìm hiểu vùng đất Nam Bộ các thế kỉ XVII, XVIII, XIX
Tác giả: Huỳnh Lứa
Nhà XB: NXB Khoa học Xã Hội
Năm: 2000
17. Huỳnh Lứa (chủ biên, 1987), Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, TP. Hồ chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
19. Sơn Nam (1959), Tìm hiểu đất Hậu Giang, NXB Phù Sa, TP. Hồ Chí Minh 20. Sơn Nam (2009), Văn minh miệt vườn, NXB Trẻ, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu đất Hậu Giang", NXB Phù Sa, TP. Hồ Chí Minh 20. Sơn Nam (2009), "Văn minh miệt vườn
Tác giả: Sơn Nam (1959), Tìm hiểu đất Hậu Giang, NXB Phù Sa, TP. Hồ Chí Minh 20. Sơn Nam
Nhà XB: NXB Phù Sa
Năm: 2009
23. Sơn Nam (2009), Biển cỏ miền Tây và hình bóng cũ, NXB Trẻ, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biển cỏ miền Tây và hình bóng cũ
Tác giả: Sơn Nam
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2009
24. Sơn Nam (2009), Hồi ký Sơn Nam, NXB Trẻ, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồi ký Sơn Nam
Tác giả: Sơn Nam
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2009
25. Sơn Nam (2009), Lịch sử khẩn hoang miền Nam, NXB Trẻ, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử khẩn hoang miền Nam
Tác giả: Sơn Nam
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1  Doanh thu từ các hoạt động du lịch tại Chợ nổi Ngã Bảy - Nghiên cứu văn hóa thương hồ trong phát triển du lịch thành phố Cần Thơ
Bảng 2.1 Doanh thu từ các hoạt động du lịch tại Chợ nổi Ngã Bảy (Trang 51)
Bảng 2.2 Số lƣợng rau quả tiêu thụ tại các chợ nổi. - Nghiên cứu văn hóa thương hồ trong phát triển du lịch thành phố Cần Thơ
Bảng 2.2 Số lƣợng rau quả tiêu thụ tại các chợ nổi (Trang 53)
Bảng 2.3  Số lao động đƣợc tạo việc làm trên một nền chợ nổi (mặt bằng ghe đậu) - Nghiên cứu văn hóa thương hồ trong phát triển du lịch thành phố Cần Thơ
Bảng 2.3 Số lao động đƣợc tạo việc làm trên một nền chợ nổi (mặt bằng ghe đậu) (Trang 54)
Bảng 2.5  Số lần du khách đến Cần Thơ - Nghiên cứu văn hóa thương hồ trong phát triển du lịch thành phố Cần Thơ
Bảng 2.5 Số lần du khách đến Cần Thơ (Trang 61)
Bảng 2.7  Mức độ hài lòng của du khách sau khi tham quan chợ nổi Cái Răng - Nghiên cứu văn hóa thương hồ trong phát triển du lịch thành phố Cần Thơ
Bảng 2.7 Mức độ hài lòng của du khách sau khi tham quan chợ nổi Cái Răng (Trang 67)
Bảng 2.8 Sự đánh giá của du khách nội địa về các yếu tố hấp dẫn ở chợ nổi - Nghiên cứu văn hóa thương hồ trong phát triển du lịch thành phố Cần Thơ
Bảng 2.8 Sự đánh giá của du khách nội địa về các yếu tố hấp dẫn ở chợ nổi (Trang 68)
Bảng 2.9 Sự đánh giá của du khách quốc tế về các yếu tố hấp dẫn ở chợ nổi - Nghiên cứu văn hóa thương hồ trong phát triển du lịch thành phố Cần Thơ
Bảng 2.9 Sự đánh giá của du khách quốc tế về các yếu tố hấp dẫn ở chợ nổi (Trang 69)
Bảng 3.1 Xu hướng du lịch của du khách Anh - Nghiên cứu văn hóa thương hồ trong phát triển du lịch thành phố Cần Thơ
Bảng 3.1 Xu hướng du lịch của du khách Anh (Trang 102)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w