1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển du lịch sinh thái ở Hà Nội

124 484 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Phân tích những yêu cầu của hoạt động du lịch sinh thái đối với nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên trong mối quan hệ với các phân hệ còn lại thuộc hệ thống lãnh thổ du lịch Hà Nội và ph

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VÃN

PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI

Ở HÀ NỘI

(Báo cáo tổng kết)

Mã sỏ: QX10-2001 Người chủ trì: Trần Đức Thanh

i ì n ;"i TẦM 78ỎNG HN THƯ VỊN ị

Hà Nội-2004

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI

Ở HÀ NỘI

(Báo cáo tổng kết)

Người chủ trì: Trần Đức Thanh

Phôi hợp nghiên cứu:

TS Trương Sỹ Vinh (Viện Nghiên cứu và Phát triển Du lịch)

ThS Nguyễn Vãn Minh (Viện Nghiên cứu và Phát triển Du lịch)

TS Nguyễn Thị Hải (Khoa Địa lý ĐHKHTN)

ThS Bùi Thi Hải Yến (Khoa Du lịch học, trường ĐHKHXH&NV)

ThS Nguyễn Thị Nguyên Hồng (Khoa Khách sạn Du lịch, Trường ĐHTM)

CN Đào Thanh Mai (HVCH Khoa Du lịch học, trường ĐHKHXH&NV) SVK44 Nguyễn Thu Hằng (Khoa Du lịch học, trường ĐHKHXH&NV) SVK44 Nguyễn Thị Tuyết (Khoa Du lịch học, trường ĐHKHXH&NV) SVK45 Nguyẻn Thị Cúc (Khoa Du lịch học, trường ĐHKHXH&NV)

SVK45 Phạm Vân Nga (Khoa Du lịch học, trường ĐHKHXH&NV)

SVK45 Đặng Văn Thượng (Khoa Du lịch học, trường ĐHKHXH&NV)

Hà Nội 2004

Trang 3

MỞ Đ âu

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỂ TÀI

Để giải quyết cắc vấn đề về phát triển kinh tế, sử dụng hợp lý, bảo vệ và

tái tạo tài nguyên thiên nhiên của đất nước, nghiên cứu địa lý luôn đóng một vai trò quan trọng, trong đó đặc biệt là các công trình đánh giá Bất kỳ một hoạt động kinh tế nào của con người cũng đều phải dựa trên cơ sở đánh giá các tổng thể tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên Cho đến nay, con người đã hiểu rằng nguồn tài nguyên thiên nhiên là hữu hạn trước những tham vọng vô cùng của chính họ về phát triển Chính vì vậy mà con người luôn phải lựa chọn cách

sử dụng các nguồn tài nguyên sao cho có lợi nhất, hợp lý nhất Muốn thế, con người phải tiến hành đánh giá tài nguyên, bởi thiếu nó không thể lựa chọn được giải pháp tối un cho việc sử dụng

Du lịch là một ngành có định hướng tài nguyên rõ rệt Tài nguyên du lịch ảnh hưởng tới việc tổ chức lãnh thổ du lịch, tới quá trình chuyên môn hoá

và hiệu quả kinh tế của ngành Do đó càng cần phải đánh giá, lựa chọn tài nguyên du lịch cho việc phát triển những loại hình du lịch phù hợp Chỉ có như vậy mới giảm được chi phí đầu tư, khai thác tài nguyên một cách hiệu quả và đảm bảo thành công cho việc phát triển du lịch

Do nhu cầu thực tế, hoạt động du lịch ngày càng phát triển và đa dạng hoá Đặc biệt là cùng với quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá, hoạt động

du lịch sinh thái không ngừng gia tăng Đây là xu thế chung trên thế giới cũng như ở Việt Nam hiện nay Dân số thành thị gia tăng, số các thành phố đông dân ngày càng nhiều, số lượng người tham gia du lịch sinh thái cũng theo đótăng lên Ở một số nước phát triển, tỷ lệ người tham gia hoạt động du lịch sinh thái thường xuyên đã lên tới 50-70% số dân của cả nước Nước ta hiện nay mới

Trang 4

đang ở giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá, tỷ lệ này còn chưa cao, nhưng hoạt động du lịch sinh thái cũng đang hình thành và phát triển rõ rệt Đối với các thành phố lớn như Hà Nội và thành phô Hồ Chí Minh, nhu cầu về du lịch sinh thái ở khu vực phụ cận đã trở nên bức bách, nhiều chương trình du lịch sinh thái, nhiều “vườn du lịch sinh thái” đã xuất hiện, tuy nhiên có không ít chương trình du lịch sinh thái, “vườn du lịch sinh thái” ấy lại mang tính phản sinh thái.

Việc phát triển các cơ sở du lịch sinh thái ở phụ cận thành phố, nhằm

thoả mãn ngày càng cao nhu cầu của nhân dân lao động, đòi hỏi phải khai thác

và sử dụng nhiều tài nguyên hơn, dẫn đến sự tranh chấp với các hoạt động kinh

tế khác Việc nghiên cứu, đánh giá nguồn tài nguyên trong khu vực, tiến tới quy hoạch sử dụng chúng một cách hợp lý, hiệu quả cho mục đích phát triển

du lịch sinh thái là nhu cầu cấp thiết

Xuất phát từ thực tế đó, đề tài “Phát triển du lịch sinh thái ở Hà Nội” nhằm góp phần vào việc thực hiện Nghị quyết 45 CP của Chính phủ là:"đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân, góp phần nâng cao dân trí, phục hồi sức khoẻ, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ta"

2 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM v ụ NGHIÊN c ứ u

Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá tổng hợp tài nguyên du lịch tự nhiên, mục tiêu của để tài là xây dựng luận cứ khoa học cho việc sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên du lịch tự nhiên trong khu vực, phục vụ phát triển du lịch sinh thái

Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu, đề tài tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:

lịch sinh thái, làm cơ sở cho việc nghiên cứu, đánh giá tài nguyên du lịch tự nhiên (TNDLTN) phục vụ du lịch sinh thái (DLST)

Trang 5

- Phân tích những yêu cầu của hoạt động du lịch sinh thái đối với nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên trong mối quan hệ với các phân hệ còn lại thuộc hệ thống lãnh thổ du lịch Hà Nội và phụ cận.

- Xây dựng cơ sở lý luận cho việc đánh giá TNDLTN trong khu vực phụ cận Hà Nội, phục vụ phát triển DLST

- Thực hành nghiên cứu, đánh giá TNDLTN tại một số điểm ở phụ cận Hà Nội cho việc phát triển DLST

- Đề xuất định hướng sử dụng hợp lý và bảo vệ TNDLTN phục vụ phát triển DLST ở khu vực phụ cận Hà Nội

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN c ứ u

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là TNDLTN và mối quan hệ giữa TNDLTN với các hoạt động DLST của con người Song, hoạt động DLST bao gồm nhiều loại hình hoạt động như nghỉ dưỡng, thể thao, tham quan, vui chơi giải trí Các loại hoạt động này có đặc điểm khác nhau và có những đòi hỏi khác nhau đối với tài nguyên du lịch Vì vậy, chỉ có thê chọn một dạng hoạt động phổ biến, có xu hướng phát triển nhất trong giai đoạn hiện nay mà thôi

Đó chính là hoạt động DLST nghỉ ngơi giải trí ngắn ngày đặc biệt vào dịp nghỉ cuối tuần Để tài chỉ nghiên cứu, đánh giá TNDLTN cho loại hoạt động này

Để minh hoạ cho cơ sở lý luận đánh giá TNDLTN phục vụ phát triển DLST đã được xây dựng, đề tài chỉ chọn một số điểm ở phụ cận Hà Nội chứ không nghiên cứu toàn bộ tài nguyên du lịch của vùng phụ cận vì địa bàn quá rộng, bao gồm nhiều tinh xung quanh Hà Nội Hơn nữa, nguồn tài nguyên trong khu vực có thê sử dụng cho du lịch lại rất đa dạng và phong phú Việc đánh giá đòi hỏi phải tiến hành nghiên cứu chi tiết và cụ thể Vì vậy không thể thực hiện trong khuôn khổ của đề tài được

Khái niệm phụ cận ở đây là một khái niệm mang tính chất tương đối Giới hạn của nó phụ thuộc vào nhu cầu và vào khá năng khai thác du lịch Do thời

Trang 6

gian và khả năng có hạn, đề tài chỉ giới hạn ở khoảng 150km kể từ trung tâm

Hà Nội Như vậy, khu vực phụ cận chủ yếu bao gồm toàn bộ hoặc một phần lãnh thổ thuộc các tỉnh như: Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Quảng Ninh, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định,

Hà Nam, Ninh Bình, Hà Tây, Hoà Bình và tới Thanh Hoá Như vậy, ngoài các tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng, khu vực nghiên cứu còn bao gồm cả bộ phận rìa đồng bằng ở phía bắc, phía tây và phía nam

4 CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là mối quan hệ đa dạng và phức tạp giữa tài nguyên thiên nhiên và con người Vì vậy, để thực hiện được nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài đã sử dụng kết hợp các phương pháp như: khảo sát thực địa, thu thập và xử lý các số liệu thống kê, phương pháp đánh giá kỹ thuật, phương pháp bản đồ là những phương pháp đã được sử dụng rộng rãi trong địa lý du lịch Đối với việc nghiên cứu nhu cầu, sở thích của con người, đề tài sử dụng phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp chuyên gia và sử dụng phần mềm chuyên dụng SPSS để xử lý, phân tích

5 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỂ TÀI

Du lịch sinh thái là một xu hướng đang phát triển khá nhanh ở nước ta Đã

có nhiều định nghĩa khác nhau về DLST Tuy nhiên cho đến naykhông còn nhiều vấn đề phải tranh luận, v ề mặt lý luận, đề tài này góp phần làm rõ hơn nữa quan điểm của tác giả về DLST đã được trình bày trong một số công trình trước đày Mặt khác để tài tổng hợp và phân tích rõ về khái niệm du lịch sinh thái, chức nãng, vai trò của nó trong đời sống xã hội và ý nghĩa to lớn của việc quan tâm phát triển hoạt động này

Để tài đã đưa ra những chỉ dẫn cụ thể cho việc đánh giá TNDL, phục vụ cho một loại hình du lịch nhất định Dựa trên những nguyên tắc và phương

/ u r v i o o u m (»•>«» V /MTMMM Ttnmih., r u i V I 1 ’i M i r III 1,1 IH r

6

Trang 7

pháp chung về đánh giá kỹ thuật, đề tài đã tiến hành xây dựng cơ sở lý luận

đánh giá các dạng TNDL khác nhau, phục vụ phát triển DLST ở khu vực phụ

cận Hà Nội Nội dung của chỉ dẫn bao gồm: xác định các yếu tô' và chỉ tiêu

đánh giá, trong đó có đánh giá riêng từng dạng tài nguyên và đánh giá tổng

hợp các điều kiện khai thác chúng cho du lịch; xây dựng các thang đánh giá

thành phần và đánh giá tổng hợp

Bằng phương pháp điều tra xã hội học, đề tài đã tiến hành nghiên cứu nhu

cầu và sở thích của người Hà Nội đối với hoạt động DLST và đánh giá

TNDLST cho hoạt động này Từ đó xác định được mối quan hệ giữa hoạt động

DLST của con người và TNDL, đó chính là đối tượng nghiên cứu và đánh giá

Đánh giá tài nguyên du lịch là vấn đề còn gặp khá nhiều khó khăn vì đây

chính là đánh giá mối quan hệ giữa tổng thể tự nhiên và con người Mối quan

hệ này hết sức đa dạng, phức tạp và còn ít được nghiên cứu Như vậy đóng góp

thứ 3 của đề tài là đã chỉ ra được kết quả việc áp dụng các phương pháp đánh

giá mà DLST Hà Nội là một trường hợp nghiên cứu minh hoạ

Dựa vào kết qủa nghiên cứu, đánh giá, đề tài đã đề xuất định hướng sử

dụng hợp lý và bảo vệ TNDLTN phục vụ phát triển DLST trong khu vực một

cách lâu bển

6 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIẺN

- Về mặt lý thuyết, đề tài góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận đánh giá tài

nguyên du lịch, vì đánh giá tài nguyên du lịch phục vụ phát triển du lịch sinh

thái chính là một hướng đánh giá tổng hợp tài nguyên cho một loại hình du

lịch cụ thể

- Cơ sở lý luận đánh giá TNDLTN đã xây dựng không chỉ được áp dụng

đê’ đánh giá toàn bộ các điểm tài nguyên trong khu vực nghiên cứu mà còn có

Trang 8

thể vận dụng để đánh giá cho khu vực phụ cận các thành phô' khác, phục vụ phát triển DLST.

- Kết quả nghiên cứu, đánh giá tài nguyên là cơ sở khoa học cho việc qui hoạch phát triển hệ thống các điểm du lịch sinh thái của Hà Nội

- Một trong những mục tiêu quan trọng của đề tài đã được thực hiện là góp phần làm phong phú thêm bài giảng các chuyên đề về du lịch sinh thái cho sinh viên và học viên cao học Kết quả nghiên cứu có thể được coi là một trong những nguồn tư liệu cần thiết trong học tập, giảng dạy về DLST ở trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

7 C ơ SỞ TÀI LIỆU

Đề tài đã sử dụng các nguồn tài liệu sau:

- Các tài liệu khảo sát thực địa mà tác giả đã thu thập được trong suốt quá trình nghiên cứu từ năm 2001 đến 2003

- Các tài liệu, số liệu thống kê, các báo cáo của các Sở Du lịch, Công ty

Du lịch thuộc các tỉnh trên địa bàn nghiên cứu

- Các tài liệu điều tra xã hội học theo các bảng hỏi

- Các công trình, đề tài nghiên cứu khoa học của các chuyên gia trong và ngoài nước

8 CÂU TRÚC CỦA ĐỂ TÀI

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của đề tài được kết cấu thành bốn chương:

-Khái quát về du lịch sinh thái

-Nhu cầu du lịch sinh thái ở Hà Nội

Trang 9

-Cung du lịch sinh thái cho Hà Nội

-Định hướng và giải pháp phát triển du lịch sinh thái ở Hà Nội

Trang 10

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỄ DU LỊCH SINH THÁI

LỊCH SINH THÁI

1.1.1 Trên thê giới

Du lịch sinh thái được phát triển rất mạnh ơ các nước có nền kinh tế phát triển trên thế giới như khối Cộng đồng Châu Âu, Mỹ, Canada, Australia v.v Trong nhóm các nước đang phát triển, du lịch sinh thái đã được tiến hành ở Nepal, Kenya, một số vùng ở Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia và Trung Mỹ Các nước này đã xây dựng thành công những mô hình du lịch sinh thái như Ecomost của EU, Làng du lịch sinh thái của Áo, mô hình Hoàng Sơn ở Trung Quốc, mô hình du lịch sinh thái trên cơ sở cộng đồng ở Nepal Hiến chương về

du lịch bền vững được Hiệp hội Du lịch quốc tế công bố năm 1995, mười quy tắc môi trường cho du lịch có trách nhiệm do Hiệp hội Du lịch Châu Á - Thái Bình Dương xây dựng và đề xuất, mười nguyên tắc của du lịch bền vững do IUCN (Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên thế giới) đưa ra v.v ; những hướng dẫn chi tiết về khai thác và quy hoạch bền vững các điểm du lịch sinh thái do các chi hội du lịch sinh thái quốc gia như của Anh, Hoa Kỳ v.v xây dựng là những cơ sở khoa học cho hoạt động du lịch sinh thái quốc tế Hoạt động du lịch sinh thái đã góp phần bảo vệ môi trường, phát triển cộng đồng và tăng doanh thu ở hầu khắp các điểm du lịch sinh thái Năm 2002 được Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO) lấy làm năm Du lịch Sinh thái WTO kêu gọi các nước đẩy mạnh nghiên cứu, áp dụng du lịch sinh thái và tổ chức tuyên truyền sâu rộng về du lịch sinh thái, tổ chức các hội nghị, hội thảo, chương trình du lịch sinh thái ở các nước, các khu vực, chuẩn bị tốt nhất, có hiệu quả nhất cho Hội thảo Quốc tế về du lịch sinh thái sẽ tổ chức vào năm 2002 Chú trương này đã thúc đẩy nhiều nước quan tâm phát triển du lịch sinh thái một cách nghiêm túc

Trang 11

hơn, đặc biệt là các nước đang phát triển, muốn dựa vào du lịch để cải thiện nền kinh tế ốm yếu của mình.

mở ra trong vòng mấy năm qua nhằm định hướng lại hoạt động du lịch ở các khu bảo tồn thiên nhiên, đồng thời mở rộng khái niệm du lịch sinh thái sang các hệ sản xuất và nhân văn đặc thù

Đã có nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân quan tâm đến việc nghiên cứu và

áp dụng du lịch sinh thái ở Việt Nam Ví dụ IUCN và Cục Môi trường gần đây dã cho xuất bản các tài liệu có giá trị như “Các nguyên tắc của du lịch bền vững”(1998), “Du lịch sinh thái: hướng dẫn cho các nhà lập kế hoạch và quản lý”(1999) Trong các tài liệu chính thức này, những vấn đề quy hoạch điểm du lịch sinh thái, quy định kiến trúc, kết cấu điểm du lịch sinh thái, đào tạo nguồn nhân lực, tiếp thị du lịch được trình bày rất rõ ràng Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, Viện Địa ỉý, các trường Đại học như Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Kinh tế Quốc dân, Đại học Thương mại, Viện Đại học Mở Hà Nội cũng đã có nhiều đề tài nghiên cứu về du lịch sinh thái cho các địa phương Hầu hết các trường đại học kể trên đều đã đưa môn học du lịch sinh thái, du lịch bền vững vào chương trình đào tạo các cấp

Trang 12

1.2 DU LỊCH THIÊN NHIÊN VÀ DU LỊCH SINH THÁI

Thuật ngữ “khách du lịch” với nghĩa là đi để thưởng ngoạn và thoả mãn trí

tò mò xuất hiện lần đẩu tiên vào năm 1800, và từ “du lịch” lần đầu tiên được đưa vào từ điển “Oxíord English Dictionary” năm 1811 Nhưng nguồn gốc của hoạt động này đã có từ trước đó rất lâu Loài người luôn có ước muốn được đi du lịch,

để thăm thú những nơi xa lạ và để tiếp xúc với các nền văn hoá khác nhau

Nguồn gốc của lữ hành thiên nhiên đã bắt đầu từ rất xa xưa Có thể nói

rằng Herodotus là nhà du lịch thiên nhiên đầu tiên Những chuyến đi của ông bao gồm các chuyến đi thăm biển Đen, Ai Cập, Nam Italia Các nhận xét của ông cho thấy, ông đã rất quan tâm đến không chỉ lịch sử mà cả địa lý, môi trường tự nhiên và các lãng mộ cổ (như các lăng mộ ở Ai Cập) Aristotle cũng đã đi du lịch thiên nhiên Các tiền nhân khác của du lịch sinh thái bao gồm Pytheas, Strabol và Pliny the Elder là những người đã đi du lịch xuất phát từ ước muốn được chiêm ngưỡng, hiểu biết hơn về cảnh quan, môi trường thiên nhiên và văn hoá của thế giới Tuy nhiên, những người tham quan và thám hiểm xuyên lục địa trong quá khứ là những trường hợp ngoại lệ Với nhiệt huyết dồi dào và lòng quyết tâm cao

độ, họ đã thực hiện các hành trình riêng lẻ, và thường phải trải qua nhiều khó khăn thiếu thốn Lữ hành thiên nhiên trong thế XIX chỉ là nhu cầu đến thăm các phong cảnh tuyệt đẹp và độc đáo

Đầu thê kỷ XX, khi kỳ nghỉ hè trở nên phổ biến với những người dân châu

Âu và châu Mỹ, xe hơi đã tạo điều kiện cho sự đi lại dễ dàng hơn, kích thích hơn nữa các hoạt động du lịch Thêm vào đó, sự ra đời của nhiếp ảnh đã cho phép phổ biến rộng rãi hàng loạt những hình ảnh diệu kỳ về các miền tự nhiên trên thế giới, thu hút những người ưa phiêu lưu, mạo hiểm, muốn được xem tận mắt những miền kỳ lạ đó Đặc biệt là ngay sau khi kết thúc đại chiến thế giới thứ n, những chuyến bay thương mại cũng đóng một vai trò quyết định cho việc phát triển du lịch Chẳng mấy chốc, các du khách phương Tây đã tới được những nơi mà trước

Trang 13

đó được cho là quá xa xôi Đến giữa thế kỷ XX, các chuyến du lịch quốc tế trở thành hiện thực đối vói những người không thuộc tầng lớp giàu có Cuộc cải cách

kỹ thuật trong thông tin và giao thông lúc bấy giờ đã cho phép ngày càng nhiều ngưòi từ nhiều noi trên thế giới đi đến những vùng xa xôi mà trước đó họ không đến được Với sự phát triển mạnh mẽ của du lịch quốc tế, du lịch được coi là một phương thức bách bệnh cho những nước đang phát triển, một ngành công nghiệp

“không khói” có thể nâng cao thu nhập ngoại tệ, GDP, thu nhập và tăng việc làm

Sự phát triển nhanh chóng, ồ ạt của du lịch bắt đầu để lại những hậu quả xấu như làm suy thoái môi trường, làm rối loạn các nền kinh tế và văn hoá địa phương

Lúc đầu, du lịch sinh thái chỉ được hiểu là du lịch vê với thiên nhiên Du

lịch thiên nhiên là các hoạt động du lịch trực tiếp phụ thuộc vào việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên bao gồm các thành phần và các tổng thể cảnh quan như khí hậu, địa hình, thuỷ văn, thực vật và động vật Mục đích của các chuyến về với thiên nhiên là tận hưởng giá trị trong lành của miền thiên nhiên hoang sơ hơn nơi

du khách sống, tiếp theo là tìm hiểu các giá trị của thiên nhiên, sự phong phú đa dạng của thiên nhiên

Du lịch thiên nhiên là lĩnh vực đang nhanh chóng trở nên lớn mạnh trong nền kinh tế du lịch Giá trị toàn cầu của du lịch thiên nhiên trong du lịch quốc tế lên đến khoảng 45 nghìn tỷ đô la Mỹ*** Nguồn thu này chứng tỏ du lịch thiên nhiên là một động lực rất lớn cho các khu bảo tồn ở nhiều nơi trên thế giới Tuy nhiên, khi số lượng du khách tăng cao, du lịch không còn là một ngành công nghiệp “không khói” nữa Cùng với sự phát triển của số lượng khách, những ảnh hưởng tiêu cực của hoạt động du lịch đến môi trường ngày càng rõ rệt Du lịch phát triển không được kiểm soát đã và đang tiếp tục gây suy thoái các giá trị về tự nhiên, văn hoá, cũng như làm mất đi các nguồn thu quan trọng Giờ đây cần thiết

Trang 14

phải có một phương thức tiếp cận du lịch có trách nhiệm với môi trường Trước thực tế đó đã xuất hiện quan điểm mới về du lịch sinh thái Đó là việc lồng ghép

các chương trình giáo dục môi trường trong các chuyến du lịch vể với thiên nhiên

Những hướng dẫn viên có thêm trách nhiệm nhắc nhở du khách về ý thức bảo vệ môi trường như không xả rác, không làm ầm ĩ, không bẻ cây, săn thú, không khắc lên đá Khi Hector Ceballos - Lascurain đề xướng thuật ngữ “du lịch sinh thái” năm 1983, thuật ngữ này không phải là cụm từ duy nhất được dùng để mô tả hình thức du lịch mới được hình thành Có gần 40 thuật ngữ có thể có quan hệ với du lịch sinh thái Các thuật ngữ được biết đến nhiều nhất là: du lịch thiên nhiên, du lịch dựa vào thiên nhiên hay du lịch hướng tới thiên nhiên, du lịch hoang dã, du lịch mạo hiểm, du lịch xanh, du lịch thay thế, du lịch có trách nhiệm, du lịch thích hợp, kỳ nghỉ thiên nhiên, du lịch nghiên cứu, du lịch khoa học, du lịch vãn hoá, du lịch ít tác động, du lịch nông nghiệp, du lịch nông thôn, du lịch mềm Các thuật ngữ này có chung một quan điểm là các hình thức du lịch thay thế cho

du lịch thương mại nhưng chúng không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với du lịch sinh thái Ví dụ, mặc dù du khách đi du lịch hoang dã hay mạo hiểm có thể hiểu biết thêm rất nhiều về thiên nhiên noi họ đến thăm nhưng nếu kèm theo nó là những tác động tiêu cực đến thiên nhiên thì hình thức du lịch này không thể được chấp nhận là du lịch sinh thái Có thể lấy ví dụ minh hoạ ở núi Hymalaya Trước năm 1965, mới chi có gần 10 nghìn du khách đến Nêpal mỗi năm Nhung sau đó, con số này đã lên đến 250 nghìn Tại 2 khu bảo tồn quan trọng Annapuran và Sagarmatha, rừng cây của địa phương đã bị thu hẹp, rút lên trên sườn núi vài trãm mét do hậu quả của sự chặt cây làm củi bán cho những người đi leo núi và các dịch vụ ăn ở cho khách Các dải núi trước đây được che phủ bới cây đỗ quyên giờ đây đã trơ trụi Số lượng một số loài động vật hoang dã như chim trĩ, nai nhỏ đã giảm đi, rác thải bừa bãi trên các đường mòn Như vậy, mặc dù du khách tự cho

(*) m o Hìghliglưs 2000

I r v i o - o u m /»0,1 Ịếamầ Vf Ịtorrnmưmii ỉram r+ ĩế « » ế V t n s l n s fy ,v 1.

14

Trang 15

mình là các khách du lịch thiên nhiên, họ không phải là khách du lịch sinh thái, vì

sự đến thăm của họ đã cơ bản dẫn đến sự phá hoại tài nguyên thiên nhiên và phá hoại môi trường Khumbu, Nêpal là một minh hoạ khác về những gì không phải

là du lịch sinh thái Một điều tra thực tiễn ở đây cho thấy nhiều khách phương tây cho rằng du lịch đã cải thiện đời sống vật chất cho nhân dân địa phương, nhưng cũng gây ra sự mất đi nhiều việc làm truyền thống, gây đồng hoá và mất trật tự xã hội Rõ ràng, du lịch sinh thái là một thuật ngữ rộng, có nội dung rất phức tạp Du lịch sinh thái “đã vượt quá một định nghĩa thông thường bởi vì nó có tham vọng

mô tả một hành động, đưa ra một trường phái triết học và phổ biến một mô hình phát triển Du lịch thiên nhiên bị bó chặt trong hành động và động cơ thúc đẩy của cá nhân (du khách) trong khi du lịch sinh thái là một khái niệm rộng lớn dựa trên một phương thức tiếp cận của nước chủ nhà hoặc vùng chủ nhà được thiết lập để phấn đấu đạt được các mục tiêu xa hơn mục đích cá nhân Có một sự thống nhất chung là du lịch sinh thái là một hình thức du lịch đến các khu thiên nhiên,

hỗ trợ cho các hoạt động bảo tồn, đóng góp cho phát triển cộng đồng địa phương

và dẫn tới kết quả là hiểu biết và đánh giá kết quả sâu sắc hơn đối với môi trường văn hoá và tự nhiên Tuy nhiên bảo tồn là mục đích đầu tiên của du lịch sinh thái

Du lịch sinh thái được Chương trình Du lịch Sinh thái của IUCN định nghĩa là loại hình du lịch và tham quan có trách nhiệm với môi trường tại những vùng còn tương đối nguyên sơ, để thưởng thức và hiểu biết thiên nhiên có kèm theo các đặc trưng văn hoá (quá khứ cũng như hiện tại) có hỗ trợ đối với bảo tồn, giảm thiểu tác động từ du khách, đóng góp tích cực cho sự phát triển của nhân dân địa phương Theo Hiệp hội Du lịch Sinh thái Quốc tế, du lịch sinh thái là du lịch có trách nhiệm đối với thiên nhiên, đặc biệt là ở các khu bảo tồn thiên nhiên, nơi môi trường được bảo tồn và lợi ích của nhân dân địa phương được đảm bảo Tại Hội thảo xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển du lịch sinh thái 9/1999, dựa trên hoàn cảnh cụ thể và thực tế của nước ta, một số nhà nghiên cứu đã đề xuất định

Trang 16

nghĩa về du lịch sinh thái là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa, có tính giáo dục môi trường, và đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững vói sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương Trong các định nghĩa này, du lịch sinh thái bao hàm du lịch thiên nhiên có nguyên tắc Du lịch sinh thái phải thoả mãn nhu cầu tiếp cận và thưởng ngoạn thắng cảnh thiên nhiên hiện nay của du khách, song phải đảm bảo quyền lợi đó cho các thế hệ mai sau.

Có thể phân biệt du lịch thiên nhiên và du lịch sinh thái bằng cách mô tả

du lịch sinh thái là “chú trọng vào mục đích và có trách nhiệm cụ thê thiết thực trong việc nâng cấp và duy trì thiên nhiên” Như vậy, có thê phân biệt giữa các công ty du lịch thông thường và các nhà điều hành du lịch sinh thái có nguyên tắc Các công ty điều hành thông thường không gắn mình vào bảo tồn hay quản lý thiên nhiên, họ chỉ đơn thuần chào mời khách hàng các cơ hội thăm thú các địa điểm và con người xa lạ trước khi chúng biến mất Trái lại các Công ty điều hành

du lịch sinh thái tham gia quản lý với ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên và nhân dân địa phương, với ý định đóng góp cho sự bảo vệ lâu dài các vùng đất hoang sơ và sự phát triển địa phương với hy vọng thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau giữa cư dân và khách tham quan

Giai đoạn phát triển tiếp theo của quan niệm du lịch sinh thái đã mang tính

thực tế hơn Đó là việc chia sẻ lợi ích cho cộng đồng địa phương và đóng góp cho

việc bảo vệ, tôn tạo môi trường Các nhà bảo tồn đã phát triển khái niệm du lịch

sinh thái trong một nỗ lực nhằm bảo vệ môi trường thiên nhiên bằng cách giúp các cộng đồng địa phương quản lý sử dụng tài nguyên Du lịch sinh thái ra đời như một công cụ bảo tồn thiên nhiên Cần đền bù cho những thiệt hại (giảm thu nhập) của người dân địa phương khi họ tình nguyện không khai thác tiếp các sản phẩm từ rừng bằng việc thu hút họ vào các hoạt động du lịch Về mặt lý thuyết, quan điểm này được sự ủng hộ rộng rãi của mọi người Song trên thực tế hầu như

/ 1« r*4IOM‘JHt i t u m r ĩkmmế u l K r w « / — l ế —ế \« * //« , >/' '» I IHSĨHS Arao/ M lt n lm to 4H 4H r

16

Trang 17

ít nơi thực hiện được Trong hoàn cảnh của nước ta hiện nay, vấn đề này càng khó thực hiện Tình trạng chung của các doanh nghiệp lữ hành (kể cả nhà nước và tư nhân) đều thi nhau hạ giá sản phẩm đê thu hút khách Do vậy, hầu như không doanh nghiệp nào sẵn sàng chia sẻ bớt phần lợi nhuận nhỏ bé của mình cho cộng đồng địa phương và cho việc bảo tồn Chính điều này đã làm du lịch sinh thái đi vào chỗ bế tắc Hình ảnh khu thiên nhiên, khu bảo tồn quốc gia, vườn quốc gia của Việt Nam dưới tác động của du lịch trong những năm qua là những minh chứng rõ nét Một trong những lý do cơ bản làm cho thắng cảnh Hương Sơn chưa được công nhận là di sản thế giới chính là không có một chính sách và hành động bảo vệ môi trường nghiêm túc Tất cả mọi thành phần kinh tế đến đây kinh doanh chỉ tìm cách tăng doanh thu, giảm chi và thờ ơ hoặc bất lực, đành làm ngơ trước thảm hoạ môi trường Một nguy cơ đang tiềm ẩn có thể cảnh báo trước là vườn Quốc gia và đảo Cát Bà Với con tàu thuỷ cao tốc Thuỷ Bắc - Lim Bang, với nguồn điện quốc gia và sau này khi con đường bộ nối ra đảo được hoàn thành thì rất có thể Cát Bà sẽ trở thành một công viên Thống Nhất hay công viên Tuổi Trẻ như ở Hà Nội hiện nay Vấn đề đặt ra ở đây là phải làm thế nào để không những không giảm mà còn phải tăng lợi nhuận cho các doanh nghiệp lữ hành đồng thời vẫn tạo ra nguồn tài chính cho việc bảo vệ và tôn tạo môi trường.

Song song với việc đóng góp tài chính cho bảo vệ môi trường, du lịch sinh

thái cần tạo ra công ăn việc làm cho chính người dân địa phương Thực tế cũng

chi’ ra rằng, nhận thức vấn đề này tuy đã khó song thực thi nó còn khó hơn nhiều

Lý do người dân địa phương ít được tham gia vào hoạt động du lịch là nhận thức

và trình độ thấp kém của họ Ngoài ra còn có thể kể đến sức ép về việc làm Có thê lấy vườn Quốc gia Cúc Phương làm ví dụ Để biến Cúc Phương thành vườn quốc gia, góp phần bảo tồn một khu rừng nhiệt đới có giá trị nhất của nước ta, từ những năm 60, Chính phủ đã trích một ngân sách khá lớn đế di dân ra ngoài cửa rừng Trong thời gian đầu hầu như nhà nước bao cấp toàn bộ từ vấn đề làm nhà

/ r u ỉ o o * # * Ịtnrmmsms, w ĩram V f r , ếnmế V ầ H Ọ V » ; t t t í ỈH S ĨH S K 4 : 1 ' lit

17

Trang 18

đến lương thực Tuy nhiên do không thể bao cấp mãi được nên nguồn kinh phí này giảm dần Người dân đã dần dần tự lo cuộc sống của mình theo phương thức mới Sang thập kỷ 90, khi du lịch phát triển, Cúc Phương trở thành một điểm du lịch hấp dẫn Tuy nhiên, người được hưởng lợi từ du lịch Cúc Phương này bây giờ

là du khách, doanh nghiệp du lịch và vườn quốc gia Những người dân chỉ được hưởng lợi từ những lợi ích ngoại biên nhỏ bé thông qua việc chuyên chở bàng xe

ôm hoặc một vài việc bán hàng lặt vặt khác Đây cũng chính là lý do để cho những người dân này vẫn còn lén lút vào rừng kiếm sống bằng cách chặt cây, săn bắn Sao không tổ chức tập huấn và hỗ trợ cho vay vốn đê những người này sống bằng việc hướng dẫn du lịch, cho thuê xe đạp, trông giữ ô tô, xe máy, chuyên chở

và phục vụ ăn uống cho du khách? Tất nhiên, nếu làm như vậy thì trước mắt vườn Quốc gia Cúc Phương và các doanh nghiệp du lịch khác sẽ bị giảm thu nhập

Bên cạnh sự thay đổi về phương pháp tiếp cận, đối tượng trong du lịch sinh thái cũng được hiểu rộng hơn Trước đây chỉ có du lịch về với thiên nhiên hoang

sơ mới được coi là du lịch sinh thái Hiện nay nhiều người quan niệm rằng thiên nhiên ở mọi nơi, không nhiều thì ít, đã bị hoạt động sống của con người làm biến đổi Hoạt động này nói lên đặc điểm vãn hoá của cộng đồng Văn hoá cộng vừa chịu ảnh hưởng của thiên nhiên, mang dấu ấn của thiên nhiên,vừa tác động lên thiên nhiên, cải biến thiên nhiên, tạo cho thiên nhiên một sắc thái riêng Do vậy, bên cạnh tài nguyên du lịch sinh thái tự nhiên, khách du lịch sinh thái còn muốn tìm hiểu về tài nguyên du lịch sinh thái nhân vãn

Tóm lại, tiến trình du lịch sinh thái trải qua những giai đoạn sau:

Du lịch sinh thái được hiểu là du lịch về với thiên nhiên trong lành Môi trường này có thể là môi trường tự nhiên hoang sơ hay môi trường tự nhiên do con người tạo ra Có thể nói cách khác là đối tượng tham quan của khách du lịch sinh thái còn mở rộng ra đến các tài nguyên du lịch sinh thái nhân văn Tuy nhiên

Trang 19

chúng tôi chưa đông ý với quan niệm coi toàn bộ văn hoá bản địa cũng là đối tượng của DLST.

Hoạt động du lịch sinh thái phải góp phần giáo dục ý thức bảo vệ môi trường

Việc kinh doanh du lịch sinh thái phải mang lại nguồn lợi cho địa phương

và tạo nguồn tài chính để góp phần bảo vệ môi trường

Đã là hoạt động du lịch sinh thái phải nhất thiết có sự tham gia và ủng hộ của cộng đồng địa phương

Tuy nhiên trong thực tế, do mâu thuẫn về quyền lợi kinh tế giữa các bên tham gia chưa có lợi thoả đáng nên cho đến nay ở nước ta vẫn chưa nơi nào có hoạt động du lịch sinh thái theo nghĩa trọn vẹn của nó

1.4 QUAN NIỆM VỀ DU LỊCH SINH THÁI

Có thể sơ đồ hoá quan niệm về DLST như sau

Theo sơ đồ này có thê thấy DLST là một quan điểm hơn là một loại hình

du lịch (Trần Đức Thanh 1999)

Trang 20

1.5 CÁC NGUYÊN TẮC CHỈ ĐẠO VỀ DU LỊCH SINH THÁI

Để phát triển du lịch sinh thái, nhiều tổ chức có liên quan như Hội du lịchSinh thái Quốc tế, Hiệp hội Du lịch Quốc tế, IUCN, WWF, Hiệp hội Du lịch Châu á - Thái Bình Dương đã đề ra một số nguyên tắc chỉ đạo Các nguyên tắc này được định hướng vào các đối tượng chủ yếu là du khách, nhà cung ứng du lịch và nhà quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên Dưới đây là các nguyên tắc cơ bản đó

1.5.1 Nguyên tắc chỉ đạo cho khách du lịch sinh thái (Nguyên tắc đạo đức)

Không lại quá gần động vật hoang dỡ và không cho chúng ăn Động vật

hoang dã có thể có hai loại phản ứng khi thấy người tiếp cận Hoặc chúng hoảng

sợ, bỏ chạy và rời bỏ nơi ở cũ để đi tìm chỗ mới, điều này có thê dẫn đến những nguy hiểm cho chúng như bị tấn công khi xâm phạm lãnh thổ kẻ khác, bị đói vì không tìm thấy thức ăn v.v Hoặc chúng có thể tấn công bạn theo bản nãng để tự

vệ Mặt khác, có thể do ăn phải những thức ăn lạ mà chúng sẽ bị bệnh, ánh hướng xấu đến sức khoẻ

Không thu thập động, thực vật được bào vệ và bị đe doạ Hiện nay có

nhiều loài động thực vật có nguy cơ bị tuyệt chủng Có thể bạn có ý định rất tốt, muốn cưu mang một con vật hoang dã, tạo cho nó một môi trường sống tốt ở nhà mình Song, nơi ở thoải mái truyền thống của chúng là trong thiên nhiên Chúng rất có thể không thích nghi với cuộc sống ở nhà bạn và do vậy chúng có thể bị chết hay trở nên vô sinh

Khống mua độnạ thực vật được bảo vệ và bị đe doạ hoặc các sản phẩm được làm từ chúng Người dân địa phương có thể chưa nhận thức được đúng đắn

giá trị về mặt khoa học của các loài này Hoặc có thể do mức sống của họ quá thấp nên phải dựa vào các hoạt động khai thác thiên nhiên Nếu bạn mua những thứ này là bạn đang khuyến khích người dân tàn phá môi trường, làm cạn kiệt

20

Trang 21

nguồn gien Bằng việc từ chối mua chúng, bạn đang góp phần vào việc giúp người dân thay đổi phương thức sống theo hướng bảo vệ môi trường.

Không xả rác bừa bãi và tránh làm ô nhiễm môi trường nước và đất Bạn

nên mang theo một vài túi đựng rác khi đi du lịch Khi có rác, nếu không có thùng rác, bạn hãy cho rác của bạn vào túi và mang theo đến nơi quy định Rất nhiều thứ rác lâu phân huỷ trong tự nhiên Có những thứ rác biến thành cái bẫy nguy hiểm đối với động vật hoang dã

Tìm hiểu vê văn hoá và tự nhiên của nơi du lịch trước khi bạn đến thăm

Những hiểu biết của bạn về khu vực sẽ làm cho bạn được trân trọng hơn khi bạn đến thăm, tránh cho bạn lâm vào tình trạng lố bịch, ngờ nghệch v.v Hơn nữa, những hiểu biết ấy sẽ làm cho chuyến du lịch của bạn hứng thú hơn vì lúc đó bạn

có cái để kiểm chứng, đối chiếu và tìm hiểu kỹ như một chuyên gia thực thụ

Tôn trọng vãn hoá địa phương và không đưa nếp sống thành thị vào iưri bạn tới Mục đích của nguyên tắc này là góp phần bảo lưu và gìn giữ sự đa dạng

về văn hoá, thể hiện sự tôn trọng trong tư tưởng bình đẳng Không thể lấy tiêu chí lối sống của xã hội mình đang sống để phán xử, phê phán hay chỉ trích lối sống, phong tục địa phương nơi mình đến tham quan Không vi phạm những điều kiêng

kị của người dân địa phương, của tôn giáo tín ngưỡng địa phương

Quan tâm đến cuộc sống đời thường vờ vấn đê môi trường thông qua chuyến đi Nên có thái độ hoà nhã, gần gũi với người dân Lúc đó bạn sẽ được

mọi người đối xử cởi mở hơn Bạn có thể điều chỉnh được hành vi của minh nếu biết rằng thu nhập cả năm của người dân chưa bằng số tiền bạn chi tiêu để đi du lịch Bạn không nên cho tiền những người ăn xin, song rất nên đóng góp cho quỹ

từ thiện nếu biết chắc chắn rằng quỹ này sẽ được sử dụng đúng mục đích nhân đạo và bảo vệ môi trường

Sống qầìi gũi với thiên nhiên và tiếp thu lối sống thiên nhiên thông qua kinh nghiệm của chuyến đi Sống hoà mình vào thiên nhiên là một trong những

Trang 22

mục tiêu của du lịch sinh thái Có những điều thực hiện rất dễ dàng trong điều kiện bình thường thì lại rất khó khi đi du lịch trong thiên nhiên Vì vậy qua chuyến du lịch bạn sẽ học được nhiều kỹ năng để tự lực và tăng khả năng sáng tạo khi thực hiện công việc thường ngày.

1.5.2 Nguyên tắc chỉ đạo cho các nhà điều hành du lịch sinh thái và các

Chọn những nơi sẵn sàng tiếp nhận du lịch sinh thái Du lịch sinh thái

theo đúng nghĩa của nó hiện nay vẫn còn là một khái niệm khá mới mẻ ở Việt Nam Không phải nơi nào cũng sẵn sàng tiếp nhận loại hình này do chưa có nhận thức đúng đắn về trách nhiệm của mọi người trong việc gìn giữ bảo vệ môi trường Không nên chọn những điểm du lịch chỉ quan tâm dến lợi nhuận mà coi thường những khuyến cáo về baỏ vệ môi trường hoặc thương mại hoá nền văn hoá bản địa của chính minh Hãy chắc chắn rằng hoạt động du lịch sinh thái được

Trang 23

tổ chức sẽ đóng góp vào việc bảo tồn thiên nhiên và mang lại những lợi ích cho cộng đồng địa phương.

Lắng nghe ỷ kiến của các nhà khoa học, tổ chức bảo tồn phi chính phủ cũng như cộng đồng địa phương trong giai đoạn quy hoạch Du lịch sinh thái là

một hiện tượng rất phức tạp và đa lĩnh vực Nó liên quan đến nhiều ngành nghề khác nhau (như môi trường, kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội ) và ảnh hưởng tới nhiều đối tượng như các nhà lữ hành, người dân địa phương, khách du lịch

Vì vậy, việc lắng nghe ý kiến đóng góp của các nhà khoa học , các tổ chức phi chính phủ về môi trường trước khi quy hoạch nhất thiết phải có Đây chính cũng

là gốc rễ của phương pháp đnáh giá nhanh và phương pháp chuyên gia được sử dụng khá phổ biến hiện nay

Không chấp nhận tổ chức cho nhóm du lịch lớn hơn 20 người Sự xuất hiện

ồ ạt và tập trung quá đông du khách vượt quá khả năng tải sẽ huỷ hoại môi trường sinh thái tự nhiên tại các khu du lịch sinh thái một cách nhanh chóng Bởi thê du lịch nhóm nhỏ ( từ 20 người trở xuống ) được coi là “đẹp” trong các tour du lịch sinh thái

T ổ chức định hướng cho khách du lịch trước chuyến du lịch Hiện nay,

phần lớn du khách chưa hiểu rõ về du lịch sinh thái Do đó , công tác định hướng cho du khách trước chuyến đi sẽ giúp khách du lịch nhận rõ yêu cầu, mục đích của chuyến đi, giúp các nhà điều và hướng dản viên thực hiện chương trình một cách nhẹ nhàng hơn, đảm bảo các nguyên tắc du lịch sinh thái

Thu nạp hướng dẫn viên có hiểu biết và thực lĩành về du lịch sinh thái Đối

với du lịch sinh thái, hướng dẫn viên chính là nhà diễn giải môi trường, những người giáo dục và khuyến khích du khách tham gia tích cực vào công tác bảo tồn Bằng kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp của bản thân, mỗi hướng dẫn viên sẽ góp phần không nhỏ vào việc xây dựng chương trình du lịch hay trong công tác quản lý và bảo tồn thiên nhiên

Trang 24

B ố trí các hướng dẫn viên là người địa phương, quen thuộc với tự nhiên và văn hoá của nơi du lịch Chắc chắn không ai có thể hiểu rõ về thiên nhiên cũng

như về văn hoá của một vùng bằng những người dân bản địa Việc tham gia vào hoạt động hướng dẫn của người dân địa phương không chỉ góp phần tạo công ăn việc làm ổn đinh cho người dân mà còn tăng tính hấp dẫn cho chương trình du lịch

Chọn nơi ăn ở do người địa phương quản lý và giới thiệu các loại lưu niệm

có ý nghĩa môi trường cho khách du lịch Khi trực tiếp tham gia và hưởng lợi từ

hoạt động du lịch, người dân địa phương sẽ có cơ hội nâng cao kiến thức và ý thức trách nhiệm đối với môi trường sinh thái (cả tự nhiên và nhân sinh) Từ đó có hành động thực tiện nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị những nguồn tài nguyên

vô giá về thiên nhiên và văn hoá địa phương song song với phát triển du lịch sinh thái Họ cũng có thể đóng góp tích cực cho hoạt động giáo dục môi trường một cách xuất sắc thông qua việc giới thiệu các mặt hàng lưu niệm có ý nghĩa môi trường cho du khách

Khuyến khích du khách tiếp xúc với người dân địa phương Thông thường

khi tham gia các tour du lịch sinh thái, khách du lịch thường quan tâm nhiều tới môi trường tự nhiên Song bên cạnh đó, du khách cũng mong muốn được khám phá, tìm hiểu những nét văn hoá truyền thống đặc sắc của địa phương vì văn hoá địa phương có ảnh hưởng nhất định đến môi trường Nắm bắt được nhu cầu đó, các nhà điều hành du lịch và các hướng dẫn viên nên khuyên khích du khách tiếp xúc với người dân Đây là cách tốt nhất giúp du khách hiểu được về môi trường sinh thái nơi họ đến tham quan Những hoạt động này sẽ giúp du khách nâng cao hiểu biết và hoà nhập với đời sống, văn hoá bản địa, tránh những hiểu lầm không đáng có giữa du khách và người dân địa phương do những khác biệt về vãn hoá, những nhìn nhận khác nhau về vấn đề bảo vệ môi trường tự nhiên

/ X PM/O Ulfl« (tar«w«i w ĩ ra* fh,r T k,«ề w /Mrwv>n ì tam lH 1 r 4.ini V k n lilS I I I '• H raaĩ 4,m h l III 1)4

24

Trang 25

Thu thập các ỷ kiến nhận xét của cộng đồng địa phương cũng như du khách đ ể kịp thời rút kinh nghiệm cho các chuyến du lịch sau Du khách và

những người dân địa phương là những người trực tiếp tham gia, hường lợi từ các tour du lịch, đồng thời cững là những người tác động và chịu tác động tới môi trường tự nhiên và nhân văn Những ý kiến đóng góp của họ là những cơ sở để các nhà điều hành và hướng dẫn du lịch điều chỉnh các chương trình du lịch ngày càng hợp lý hơn

1.5.3 Nguyên tắc chỉ đạo cho chủ nhà trọ

Chọn nơi thích hợp đ ể làm nơi ăn nghỉ cho khách du lịch sinh thái Du

khách thường thích nghỉ tại những địa điểm có khí hậu trong lành, phong cảnh đẹp và tạo cảm giác được gần gũi với thiên nhiên Tuy nhiên đối với du lịch sinh thái, mục tiêu bảo tồn luôn được đặt lên hàng đầu Do đó, những khu vực lưu trú dành cho khách du lịch sinh thái cần phải có cảnh quan tự nhiên đẹp và đặc biệt không gây ra nhũng tác động ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến đời sống của các loài động thực vật hay thẩm mỹ cảnh quan, đảm bảo an toàn cho hệ sinh thái

Làm giảm tới mức thấp nhất những tác động tới thiên nhiên và văn hoá địa phương khi lập k ế hoạch xây diữig khu ăn nghỉ Việc xây dựng cơ sở lưu trú cho

du lịch thường ảnh hưởng trực tiếp tói môi trường tự nhiên và vãn hoá của khu bảo tồn Những công trình xây dựng không hợp lý sẽ có thể gây ra rất nhiều tác hại xấu cho môi trường, cảnh quan, văn hoá bản địa Bởi vậy, cần lập kế hoạch chi tiết và khoa học cho mỗi công trình cụ thể với sự đóng góp ý kiến của các nhà khoa học chuyên môn nhằm hạn chế đến mức tối thiểu những tác động tiêu cực tới môi trường và văn hóa địa phương

Bám sát các thông tin về ảnh hưởng của khu ăn nghỉ với môi trường xung quanh như phong cảnh, tiêu hao năng lượng, ô nhiễm Sự hình thành các khu nghỉ phục vụ mục đích du lịch ít nhiều tác động tới cảnh quan môi trường Nếu những tác động đó vượt quá ngưỡng cho phép sẽ có thể gây ra những hậu quá

Trang 26

khôn lường Do đó, việc theo dõi, giám sát về sự ảnh hưởng của khu ăn nghỉ đôi với môi trường là rất cần thiết để có những biện pháp điều chỉnh cần thiết và thích hợp, đảm bảo công tác bảo tồn song song với phát triển hoạt động du lịch.

Không cung cấp những công cụ hay dịch vụ không cần thiết Du lịch sinh

thái luôn đặt mục tiêu bảo tồn lên hàng đầu Những công cụ phục vụ hoạt động

du lịch và các dịch vụ đáp ứng những yêu cầu của du khách luôn đi kèm với việc tạo ra những tác động nhất định tới môi trường tự nhiên cũng như nhân văn của khu bảo tồn Do đó, việc giảm thiểu những công cụ và dịch vụ không cần thiết là điểu tất yếu Tận dụng những vật dụng, nguyên liệu sẵn có trong tự nhiên và chỉ

sử dụng các công cụ và dịch vụ khi điều đó thật cần thiết và hợp lý

Giải thích về thiên nhiên và văn hoá địa phương cho du khách Khi không

hiểu biết và nắm bắt được giá trị của tự nhiên và văn hoá địa phương, du khách rất

dễ có những hành động xâm hại tới tự nhiên và văn hóa tại những nơi mình đến tham quan Sự giải thích về tự nhiên và văn hóa địa phương cho du khách không chỉ ngăn chặn được những hành vi đó mà còn làm tăng tính hấp dẫn cho chương trình du lịch sinh thái

Trao đổi thông tin với các nhà tự nhiên học địa phương, các nhóm bảo tồn

Du lịch sinh thái luôn chú trọng tới việc hoà hợp và bảo tồn thiên nhiên Điều này cũng có nghĩa là các công trình, cơ sở lưu trú, ãn uống trong phạm vi khu bảo tồn cần phải có kiến trúc và quy mô phù hợp với cảnh quan tự nhiên, không gây ảnh hưởng tới môi trường Để thực hiện tốt yêu cầu này, trước khi quy hoạch, các nhà đầu tư cần trao đổi thông tin với những chuyên gia khoa học địa phương và các nhóm bảo tồn

Cho khách ăn những món ăn và bán cho họ những món quà làm bằng sản phẩm địa phương^ Mỗi vùng đất thường có những sản vật riêng biệt mang đậm

nét văn hoá bản địa mà không trùng lặp với bất kỳ một nơi nào khác Những món

ăn bản địa, những món quà lun niệm làm từ nguyên liệu độc đáo của địa phương

Trang 27

sẽ tạo nên sự mới lạ, có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với du khách Đồng thời, việc

cung cấp cho khách du lịch món ăn và bán cho họ những món quà làm bằng sản phẩm địa phương cũng là một biện pháp tích cực tạo công ăn việc làm cho người dân, đóng góp cho phúc lợi địa phương, đảm bảo nghệ thuật ẩm thực và nghệ thuật thủ công truyền thống của địa phương được duy trì và phát triển

Đem những hiểu biết và thông tin thu lượm được từ du lịch sinh thái phục

vụ trở lại cho cộng đổng địa phương Từ những kiến thức và thông tin tích luỹ

được trong quá trình tham gia hoạt động du lịch, các chủ nhà trọ có thể giúp đỡ cộng đồng địa phương trên các phương diện: trao đổi kinh nghiệm về kỹ năng phục vụ du khách, tổ chức kinh doanh các dịch vụ du lịch, cung cấp thông tin về những đặc trưng thu hút du khách của cộng đồng cư dân bản địa Những hoạt động này giúp người dân địa phương tham gia vào hoạt động du lịch sinh thái dễ dàng và hiệu quả hơn, gián tiếp mang lại nguồn lợi kinh tế cho cộng đồng bản địa

Tham gia vào các sự kiện và hoạt động giáo dục liên quan đến bảo tồn thiên nhiên và giữ gìn văn hoá địa phương Sự đa dạng về sinh học và nền văn hoá

bản địa độc đáo là hai yếu tố cơ bản quyết định sức hấp dẫn của một điểm du lịch sinh thái, là những điều kiện cần thiết để phát triến du lịch sinh thái Tham gia vào các hoạt động giáo dục liên quan đến bảo tồn tự nhiên và giữ gìn văn hoá địa phương, các chủ nhà trọ được cung cấp những kiến thức và kỹ năng nhằm bảo vệ tài nguyên tự nhiên và nhân văn Điều đó cũng có nghĩa là họ được tạo cơ hội để

"bảo vệ" số lượng du khách của nhà trọ, "bảo vệ" nguồn thu nhập của chính bản thân mình

1.5.4 Nguyên tác chỉ đạo cho các nhà quản lý

Nghiên cứu về sức chứa của điểm du lịch đê khống chế số lượng du khách tối đa và kiểm soát lượng khách thăm quan hàng ngày Giới hạn về sức chứa là số lượng du khách cực đại mà điểm du lịch có thế chấp nhận mà không gây suy

Trang 28

thoái hệ sinh thái tự nhiên, không gây xung đột xã hội với cộng đồng địa phương

và không làm suy thoái nền kinh tế bản địa truyền thống Sô lượng du khách và khách thăm quan hàng ngày tại điểm du lịch sinh thái không được phép vượt quá giới hạn đó Việc xác định chính xác khả nãng chịu tải cụ thể của điểm du lịch

sinh thái sẽ là cơ sở quan trọng để quy định các biện pháp quản lý và điều tiết số

lượng du khách một cách phù hợp, đó chính là tạo ra sự phát triển hoạt động du lịch sinh thái một cách tối ưu

Hạn chê các hành vi có tác động xấu đến tự nhiên cho dù nó có tác động được coi là rất nhỏ Môi trường sinh thái rất nhạy cảm, chỉ một tác động nhỏ

cũng có thể là nguyên nhân gây nên sự phá huỷ môi trường nghiêm trọng Không những thế, tác động đó còn có thể sẽ được nhân lên hàng triệu lần bởi các du khách khác và gây nên những hậu quả khôn lường Ví dụ việc vô ý vứt một tàn thuốc là có thể gây nên hậu quả cháy toàn bộ một khu rừng rộng lớn

Lập ra một cơ chế quản lý đ ể lợi nhuận từ du lịch sinh thái được dùng cho việc báo vệ các khu báo tồn thiên nhiên Một số phần trăm nhất định trong nguồn

thu từ các hoạt động du lịch sinh thái phải được dành ra nhằm quay lại đầu tư cho các hoạt động bảo tồn Cần tổ chức quản lý và giám sát chặt chẽ để những khoản ngân sách này được sử dụng hiệu quả và đúng mục đích Lợi nhuận từ du lịch được dùng cho việc bảo vệ các Khu Bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) là một trong những nguyên tắc cơn bản nhất của du lịch sinh thái

Thiết lập các phương tiện giáo dục môi trường như trung tâm du khách, các bảng chỉ dẫn, các nội quy, quy định Đây là một trong những biện pháp hiệu

quả nhằm nâng cao tính giáo dục của du lịch sinh thái tại các khu thiên nhiên như vườn quốc gia, KBT Nhưng trung tâm này có nhiệm vụ cung cấp thông tin toàn diện về hoạt động bảo tồn một cách trực tiếp và sinh động cho khách du lịch Bên cạnh đó còn nhắc nhở du khách tuân thủ các quy định, nội quy của điểm du lịch sinh thái Những vấn đề người quản lý cần quan tâm khi xây dựng các phương

Trang 29

tiện này là: thông tin phải đầy đủ, rõ ràng, chính xác và hình thức của các phương tiện này cần phù hợp với cảnh quan tự nhiên.

Cung cấp thông tin và nội dung giáo dục môi trường liên quan đến tự nhiên và văn hoá địa phương Có rất nhiều hình thức để cung cấp thông tin giáo

dục môi trường hiệu quả như tập gấp, báo chí chuyên đề, sách hướng dẫn Tuy nhiên đối với mỗi đối tượng tham gia hoạt động du lịch sinh thái cần được thông tin khác nhau Các nhà điều hành và hướng dẫn viên cần được cung cấp thông tin chi tiết, phong phú và đầy đủ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho họ trong công tác

tổ chức, thực hiện và điều hành tour; Đối với du khách, tại điểm tiếp nhận, cần đưa ra những thông tin cô đọng và rõ ràng thông qua những tập gấp được trình bày đẹp và hấp dẫn Việc cung cấp thông tin và nội dung giáo dục môi trường về

tự nhiên và vãn hoá bản địa hiệu quả không những góp phần nâng cao ý thức bảo

vệ môi trường cho nhà điều hành, hướng dẫn viên, du khách, chính quyền và người dan sở tại mà còn gián tiếp tạo nên sức hấp dẫn của du lịch sinh thái tại KBT

Thu thập hệ thống thông tin khoa học về việc quản lý hệ sinh thái và giáo dục môi trường Mục đích của nguyên tắc này là giúp cho các nhà quản lý có cái

nhìn tổng quát và có những kiến thức cơ bản trong công tác quản lý hệ sinh thái

và giáo dục môi trường từ đó nâng cao năng lực quản lý Trên cơ sở hệ thống thông tin khoa học này, người quản lý có thể tìm ra những mô hình quản lý hiệu quả, phù hợp với đặc thù của điểm du lịch và những phương pháp giáo dục môi trường mới sinh động, hấp dẫn hơn đối với khách du lịch

Cung cấp các cơ hội nghiên cứu và đào tạo cho những nhà điều hành và hướrĩẹ dẫn viên du lịch Những kiến thức về tự nhiên, giáo dục môi trường và vãn

hoá bản địa của các nhà điều hành, cũng như của hướng dẫn viên đóng vai trò quyết định trong việc lập kế hoạch và tổ chức thực hiện thành công chương trình nói riêng và phát triển du lịch sinh thái nói chung Vì vậy, tạo điều kiện cho các

Trang 30

nhà điều hành và các hướng dẫn viên du lịch nghiên cứu, tìm hiểu KBT cũng chính là cách "đầu tư" hiệu quả của nhà quản lý điểm du lịch sinh thái.

Hỗ trợ các hoạt động giáo dục môi trường do các nhóm tình nguyện và tổ chức tư nhân đảm nhận Có nhiều hình thức khác hỗ trợ cho công tác giáo dục

môi trường: tài trợ kinh phí, chính sách ưu đãi về giá vé vào điểm du lịch, cung cấp thông tin và các chuyên gia về giáo dục môi trường Mục tiêu của công tác này là góp phần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của cộng đồng Tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể ở mội điểm du lịch sinh thái và tính chất của hoạt động giáo dục môi trường mà các nhà quản lý sẽ có những hình thức và mức độ hỗ trợ thích hợp

Gắn du lịch sinh thái vào k ế hoạch quản lý khu bảo tồn thiên nhiên như là một bộ phận quan trọng Có thể nói du lịch sinh thái là một công cụ đắc lực trợ

giúp cho công tác bảo tồn Song nếu không được hoạch định và quản lý tốt thì rất

có thể chính hoạt động du lịch sẽ gây ra những tổn thất to lớn cho môi trường tự nhiên và nhân văn mà khó có thể cứu vãn nổi Vì vậy, cần có những chiến lược và

kế hoạch quản lý cụ thể nhằm đảm bảo phát triển bền vững như: phân vùng, quy hoạch bảo vệ động vật hoang dã, điều chỉnh và giám sát số lượng khách

Giám sát các ảnh hưởng qua lại của du lịch đối với bảo tồn thiên nhiên và cộng đồng địa phương Những thay đổi của môi trường tự nhiên và nhân vãn cần

được theo dõi và ghi lại một cách chính xác và có hệ thống Giám sát và đánh giá những ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến thiên nhiên và người dân địa phương

sẽ chỉ ra những vấn đề còn tồn tại của việc phát triển du lịch Từ đó, người quản

lý có thê đưa ra những điều chỉnh cẩn thiết trong chương trình du lịch, giới hạn số lượng du khách nhằm hạn chế dến mức tối đa những mặt trái của ngành "công nghiệp không khói" này Chính vì vậy, hoạt động giám sát các ảnh hưởng qua lại của du lịch đối với bảo tồn thiên nhiên và cộng đồng địa phương cần được thực hiên liên tục và thực sự nghiêm túc

Trang 31

1.6 SỨC CHỨA

1.6.1 Khái niệm

Trong việc tổ chức và triển khai du lịch sinh thái, việc xác định sức chứa là hết sức quan trọng Nó là cơ sở để đưa ra các giải pháp và các biện pháp cụ thể để đảm bảo cho hoạt động du lịch sinh thái được bền vững

Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO), sức chứa du lịch là khả năng của một điểm du lịch có thể đáp ứng ở mức độ cao cho du khách song chỉ gây tác hại cho nguồn tài nguyên ở mức có thể chấp nhận được

Khái niệm trên chỉ ra rằng có những giới hạn nhất định trong việc tham quan du lịch của du khách, sự không tôn trọng giới hạn đó sẽ làm giảm mức độ hài lòng của khách và/hoặc mang lại những tác động xấu đến môi trường tự nhiên, văn hoá và xã hội của khu vực

Sức chứa du lịch bao gồm nhiều yếu tố thành phần như vật lý, sinh học, tâm lý, xã hội, kinh tế v.v Mức độ quan trọng của các yếu tố này và mối liên hệ giữa chúng đối vói sức chứa du lịch không như nhau Chúng phụ thuộc vào những điều kiện, hoàn cảnh không gian và thời gian cụ thể

Sức chứa sinh học (cũng còn có thê gọi là sức chứa sinh thái) là số lượng khách tối đa có thê có mặt tại địa điểm trong một đơn vị thời gian nhất định song không làm mất đi sự cân bằng sinh thái vốn có của nó Điều đó có nghĩa là sau một thời gian thiên nhiên có thể tự phục hồi được tình trạng ban đầu không cần sự

hỗ trợ của con người

Sức chứa vật lý là ngưỡng về mặt không gian dành cho mỗi du khách tại điểm du lịch Ngưỡng này phụ thuộc vào loại hình du lịch, vào đặc điểm của khu vực, vào tập quán địa phương

Sức chứa tâm lý là mức độ thoải mái của du khách, của người dân địa phương trong chuyến du lịch Những yếu tô' gây sức ép đối với tâm lý của khách

là môi trường văn hoá, xã hội, là chát lượng dịch vụ, thái độ ứng xử

Trang 32

Sức chứa kinh tế của khu du lịch là khả năng đáp ứng các nhu cầu về mặt

kinh tế của du khách tại địa phương.

Một số nhà nghiên cứu, trong đó có Ceballos- Lascurain (1996) cho rằng sức chứa du lịch của một khu vực cụ thể có liên quan đến các yếu tố khác nhau như chính sách du lịch, hiện trạng tham quan, các yếu tố có ảnh hưởng đến tham quan Do vậy, vẫn theo Ceballos- Lascurain, cần phân biệt các loại sức chứa theo tiêu chí sử dụng, khai thác như sức chứa tự nhiên (PCC), sức chứa thực tế (RCC)

và sức chứa hiệu quả hay sức chứa tối ưu (ECC/OCC)

1.6.2 Công thức tính sức chứa

Để tính PCC, các tiêu chí và dữ kiện phải được tính đến là độ lớn của khuvực, tiêu chuẩn cho một đơn vị sử dụng và hệ số quay vòng Sức chứa tự nhiênđược tính theo số khách tối đa mà điểm du lịch có thể đáp ứng dựa trên tiêu chuẩnbình quân cá nhân:

PCC= (S.Rf): a

S: diện tích dành cho du lịch

Diện tích dành cho du lịch phụ thuộc vào những điều kiện cụ thể của điểm tham quan như đặc điểm địa hình (mức độ hiểm trở, khó đi, độ dốc, điều kiện thời tiết, thời điểm tham quan ); vào tính nhạy cảm của tự nhiên (nơi sinh sống của loài động vật quý hiếm hay đặc hưũ ); vào yêu cầu an toàn (khả năng bao quát của một hướng dẫn viên trong điều kiện địa hình cụ thể),

a: mức chuẩn cho một đơn vị sử dụng

Đày là thể tích, diện tích (hay độ dài) của không gian cần thiết dành cho một đơn vị sử dụng Đơn vị sử dụng có thê là một khách du lịch, một đoàn khách hay một phương tiện chuyên chở khách du lịch Không gian cho một khách ngoài bãi biển có thể từ 5-20m2, cho một con tàu phụ thuộc vào kích thước, tải trọng, tốc độ tàu chạy, điều kiện hải vãn khu vực v.v Không gian tối ưu cho một người

Trang 33

trong di chuyển (đối với tuyến du lịch) thông thường trong điều kiện hành trình

có thể là l-2m Đối với các đường mòn tự nhiên, hạn chế không gian được quy định bởi quy mô nhóm tham quan và khoảng cách giữa các nhóm Theo kinh nghiệm của một số nhà hướng dẫn du lịch sinh thái, khoảng cách tối thiểu giữa hai đoàn tham quan phải là 100-200m

Do bị chi phối bởi nhiều nhân tố như điều kiện môi trường (tự nhiên cũngnhư xã hội), hoàn cảnh thực tế trong thời gian có hoạt động du lịch (tình hình chính trị, kinh tế, thời tiết ) nên số khách tối đa có thể sẽ thấp hơn PCC Để phân

biệt người ta dùng một thuật ngữ khác là sức chứa thực tế(RCC):

RCC=PCC- Cf,

Cfj là các biến điều chỉnh Các biến điều chỉnh này liên quan chặt chẽ tới

các đặc điểm và điều kiện cụ thể, không cố định trong không gian và thời gian

Giá trị của sức chứa tối ưu nói lên số lượng khách tối đa được phục vụ mộtcách tốt nhất, đem lại cho họ sự hài lòng về chất lượng phục vụ

ECC=P.RCC

P: hệ số khai thác tối ưu

Hệ số này thê hiện mức độ đảm bảo yêu cầu về quán lý, phục vụ của cơ sở

Trang 34

CHƯƠNG 2 NHU CẦU DU LỊCH SINH THÁI CỦA

NGƯỜI DÂN HÀ NỘI

CỦA KHU V ự c NGHIÊN c ứ u

2.1.1 Đậc điểm tự nhiên

2.1.1.1 Địa hình

Địa hình của Hà Nội và phụ cận tương đối đơn giản so với nhiều khu vực khác ở miền Bắc Phần lớn lãnh thổ Hà Nội và phụ cận là vùng đồng bằng với độ cao trung bình từ 5-20m so với mực nước biển Độ cao của địa hình hạ thấp dần theo hướng tây bắc - đông nam, cùng với hướng dốc của dòng chảy sông Hồng Bao quanh vùng đồng bằng, về phía bắc, tây và tây nam là một dải đất cao nhấp nhô những đồi và thung lũng

Đáng chú ý đối với du lịch là các vùng đồi núi thấp thuộc rìa của đồng

bằng ở phía Bắc và phía Tây, cách Hà Nội khoảng 60-70km như Ba Vì, Tam

Đảo, với một số đỉnh cao trên một nghìn mét Ở đây, do đặc điểm vốn có của

tự nhiên và do sự khai phá của con người còn có giới hạn nên còn tồn tại ít nhiều thảm thực vật rừng tự nhiên ở độ cao lớn do dốc cao hiểm trở và xa khu dàn cư Thêm vào đó, một phần cũng là nhờ bàn tay lao động cần cù của con người đã tu bổ và trồng được hàng chục nghìn ha rừng trồng Những khu rừng trồng này với một số loài phát triển tốt như thông, bạch đàn, keo lá chàm làm đẹp thêm phong cảnh tự nhiên ở đây, đồng thời góp phần cải tạo môi trường trong khu vực

Về phía Nam và Tây Nam của Hà Nội, thuộc địa phận tỉnh Hà Tây, Ninh Bình, Hoà Bình những khối đá vôi sót và dãy núi đá vôi tạo nên nhiều thế

; I t r ư 10-01-041 D a r m m e m tn ề S f» » ỊlỊim Ilm r*«a* , v » ỉ * íấ««* \» « J/(s «/»;>»/ Ik 4m II u i u i _

34

Trang 35

mạnh khác Điểm nổi bật nhất ở đây là các dạng địa hình karst với những hệ thống hố, phễu, máng trũng, tạo nên những khối đá vôi riêng biệt dạng tháp và tháp cụt, cùng với các hang động rất có giá trị đối với du lịch Điển hình như khu vực Chùa Hương, Quan Sơn, Tam Cốc, Bích Động

Nằm sát khu Đông Bắc, trên con đường tràn qua của front cực và khối khí cực đới NPc, trong mùa đông nhiệt độ của khu vực tương đối thấp, lạnh hơn nhiều so với điều kiện trung bình vĩ tuyến Do vị trí địa lý và địa hình đặc biệt, gió tây nam kiểu gió Lào khô nóng ít ảnh hưởng Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, không bị ngắt quãng như ở Trung bộ So với nhiều địa phương khác, khí hậu của khu vực khá ôn hoà, thuận lợi vófi điều kiện sống của con người

Bảng 2.1 Một vài đặc trưng của chế độ nhiệt ở khu vực nghiên cứu

(36m)

Hà Nội (5m)

Phủ Liễn (114m)

Nam Đinh(3mjNhiệt độ năm

23,428,8(VII)16,6(1)12-136-7

23,028,2(VII)16,7(1)11-126-7

23,529,0(VII)16,8(1)12-136,0

Nguồn: Khí hậu Việt Nam

Theo Phạm Ngọc Toàn và Phan Tất Đắc, nhiệt độ không khí trung bình

8500-8600°C Hàng năm có 4 tháng nhiệt độ trung bình dưới 20° c là từ tháng

12 đến tháng 3 Lạnh nhất là tháng 1, có nhiệt độ trung bình khoảng 13°-14°c Trừ 2-3 tháng trong thời kỳ chuyển tiếp, còn lại 5 tháng, từ tháng 5 đến tháng

tháng nóng nhất là tháng 7 và tháng 6 Nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất

Trang 36

trong năm là 29°c (tháng 7) Biên độ dao động ngày đêm của nhiệt độ trung

xuống 5°c Thời kỳ nhiệt độ dao động mạnh nhất là những tháng khô hanh đầu mùa đông Thời kỳ nhiệt độ dao động ít nhất là những tháng ẩm ướt, nửa cuối mùa đông

Điều kiện nhiệt độ thuận lợi đối với con người phần đông nằm trong

tháng 11 đến tháng 4 là có điều kiện tốt về nhiệt độ Sáu tháng còn lại, từ tháng 5 đến tháng 10, có nhiệt độ cao trên 27°c Đặc biệt trong hai tháng 6 và

7 nhiệt độ lên tới 29°c, có ảnh hưởng ít nhiều đến điều kiện sông và hoạt động của con người

Song, chính vì vậy mà trong thời gian này nhu cầu du lịch sinh thái của khách lại càng cao Do điều kiện khí hậu nóng bức, môi trường thành phố trớ nên ngột ngạt, khó chịu, khách có xu hướng tìm đến những nơi có khí hậu mát

mẻ hơn Các khu vực thiên nhiên ở phụ cận Hà Nội hoàn toàn có khả năng đáp ứng nhu cầu du lịch sinh thái: Ba Vì, Tam Đảo và các hồ nước lớn như Đại

Lải, Suối Hai, Quan Sơn, Đồng Mô - Ngải Sơn Nhiệt độ ở các điểm này

thường thấp hơn ở Hà Nội tới vài độ Thí dụ như Tam Đảo có 11 tháng nhiệt

chung, do độ cao so với đồng bằng, do các lưu vực nước và do lớp phủ thực vật

ở các điểm du lịch này làm cho vi khí hậu dễ chịu hơn ở thành phố

Lượng mưa trung bình năm trong khu vực khoảng 1600-1800mm Tuy vậy, phần phía bắc mưa tương đối ít, chỉ khoảng 1400-1600mm, còn vùng rìa đồng bằng, giáp núi lượng mưa thường tăng, tới 1800-2000mm Số ngày mưa trong năm vào khoảng 130-140 ngày Mùa mưa kéo dài 6 tháng (từ tháng 5

/ M r m n o<.OÀ> /V riM M i w irlUKỊt ĩiam Om, ĩk * * t w» IXM mtm i Ir.lK I h ,r rến iĩi \» M rụ X íO llK lt l u s r i l \ h r u III IU _

36

Trang 37

đến tháng 10) Độ ẩm tương đối trung bình năm là 82% và ít thay đổi theo các tháng, thường chỉ dao động trong khoảng 78-87%

Thời gian có lượng mưa lớn thường trùng với các tháng mùa hè, từ tháng

4 đến tháng 10, nhiều nhất là vào 3 tháng 7, 8 và 9 Mưa trong thời gian này thường là mưa rào, mưa dông trong một thời gian ngắn, do đó ít ảnh hưởng đếnhoạt động du lịch Ảnh hưởng nhiều hơn cả tới hoạt động này chính là các hiện tượng thời tiết đặc biệt, như mưa bão hoặc mưa phùn gió bấc kéo dài Trong khu vực, cả năm có khoảng 60-75 ngày có thời tiết xấu như vậy Đối với hoạt động du lịch, mưa là một hiện tượng thời tiết gây trở ngại Vì vậy mà vào thời điểm du lịch, mưa càng ít càng tốt

Bảng 2.2 Chê độ mưa ở khu vực nghiên cứu

1533

121 129(VIII) 16( VIII) 16(1) 4(XII)

1680

142 323( VIII) 16(VIII) 1(1) 6(XI,XII)

1671

134 309(VIII) 15( VIII) 25(11) 7(XII)

Nguồn: Khí hậu Việt Nam

Về mùa đông, gió thường thổi tập trung theo hai hướng: đông bắc hay bắc và đông hay đông nam Mùa hạ, gió thổi theo hướng đông nam và nam Các hướng gió này chiếm tần suất 60-70% Riêng đối với hiện tượng gió tây khô, nóng, có khoảng 6-8 ngày trong một năm, trung du tăng lên, 10-12 ngày

65% Tuy nhiên những ngày như vậy lại càng thúc đẩy mọi người tới nhữngđiểm du lịch có thời tiết dễ chịu hơn Ở vùng núi Ba Vì, từ độ cao 400m trở lên chưa bao giờ xuất hiện kiểu thời tiết này

Trang 38

Vùng đồi núi phía bắc và phía tây có nhiệt độ mát mẻ hơn Khu vực khí

lượng mưa từ 1400 - 2000mm Khu vực này có hồ Đại Lải và rừng chân núi Tam Đảo điều hoà khí hậu, tạo điều kiện thích hợp cho hoạt động du lịch quanh năm Đặc biệt là Tam Đảo, nhờ có cấu tạo của địa hình mà ở đây có khí hậu mát

mẻ vào mùa hè và ấm áp vào mùa đông Khí hậu đồi núi thấp và trung bình Ba

1800-2000mm Từ độ cao trên 400m có khí hậu rất tốt vào mùa hè, thu hút khách du lịch

Tuy nhiên khí hậu ở đây chia thành 2 mùa rõ rệt trong năm: mùa hè và mùa đông Do đó các hoạt động du lịch cũng mang tính mùa Thí dụ như các hoạt động du lịch thể thao nước, bơi lội, tắm mát bị hạn chế vào thời gian mùa đông Vì vậy phải có các hình thức thay thế thì mới khai thác được quanh nãm

Mạng lưới sông ngòi trên địa bàn khu vực phụ cận khá dày đặc, thuộc hai hệ thống sông chính: sông Hồng và sông Thái Bình Mật độ lưới sông tự nhiên khoảng 0,5-1,0 km/km2 Độ dốc chung của sông ngòi rất nhỏ, chỉ 2- 5cm/km, dòng sông uốn khúc quanh co và có nhiều chi lun

Chế độ nước sông của đồng bằng chia làm hai mùa rõ rệt Mùa lũ kéo dài 5 tháng (từ tháng 6 đến tháng 10), chiếm 70-75% tổng lượng nước cả năm, cao điểm là vào các tháng 7,8,9 Mùa cạn kéo dài 7 tháng (từ 11 đến tháng 5) chỉ chiếm 25-30% lượng nước Các tháng 2, 3, 4 là các tháng có lượng nước và mực nước thấp nhất trong nãm

Trong khu vực còn có rất nhiều hồ mà nguồn gốc chính là các dòng sông chết, các hồ nhàn tạo Trong đó có nhiều hồ lớn có thể khai thác phục vụ

du lịch, điển hình như: hồ Tây là hồ tự nhiên ở nội thành Hà Nội rộng 520 ha;

Trang 39

hồ Đại Lải rộng 525 ha, hồ Suối Hai rộng 950 ha, hồ Đồng Mô - Ngải Sơn

rộng 1430 ha, hồ Quan Sơn rộng 850 ha Ở các hồ, lượng nước tương đối điều hoà hơn, sự dao động mực nước không lớn lắm

Trên các vùng đồi núi, đặc biệt là Ba Vì và Tam Đảo, hệ thống suối, thác khá nhiều, tạo nên những phong cảnh đẹp, hấp dẫn khách du lịch Đó chính là cơ sở phát triển các điểm du lịch sinh thái

Vùng Hà Nội và phụ cận có tiềm nãng nước mặt và nước ngầm rất phong phú Ngoài việc khai thác nguồn nước cho sinh hoạt, cần sử dụng diện tích mặt hồ và sông cho mục đích du lịch, đồng thời với việc chông úng, ngập

và ô nhiễm nguồn nước để khỏi ảnh hưởng đến môi trường nói chung và hoạt động du lịch nói riêng

2.1.1.4 Sinh vật

Đối với du lịch sinh thái thảm thực vật và giới động vật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Nó tạo nên môi trường trong sạch, làm tăng vẻ đẹp của thiên nhiên và sức háp dẫn đối với khách du lịch

Tuy nhiên, do đồng bằng bị khai thác từ lâu đời nên thực vật tự nhiên bị tàn phá gần hết Tất cả đều là cây trồng, từ cây nông nghiệp đến cây phòng hộ, cây lấy bóng mát, cày ăn quả Động vật hoang dại cũng không còn mấy, thú lớn vắng mặt hoàn toàn Rừng tự nhiên chỉ còn lại ở các vườn quốc gia như Ba

Vì, Tam Đảo, Cúc Phương, Cát Bà do được quản lý và bảo vệ nghiêm ngặt

Diện tích rừng đã ngày càng được mở rộng với sự đóng góp của hệ thống rừng trồng, thành phần chủ yếu là keo tai tượng, keo lá chàm, bạch đàn và thôngđuôi ngựa Hệ động vật hoang dã chỉ còn lại trong các khu rừng tự nhiên Ở các hồ nước lớn có tới hơn 20 loài cá cùng các động vật sống dưới nước như:

ba ba, tôm, trai, ốc Các loài chim địa phương và chim di cư như: cò, diệc, giang, le le, vịt trời, sâm cầm bổ sung cho hệ sinh thái hồ, làm tăng thêm vẻ

Trang 40

đẹp và tính hoang sơ của cảnh núi rừng, sông nước Hiện nay, một số điểm có các loài cò, vạc sinh sống đang là những điểm hấp dẫn khách du lịch trong khu vực, thí dụ như Đảo Cò ở Thanh Miện Hải Dương, làng cò Ngọc N hị

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

Nơi tập trung đông nhất là Hà Nội, với 2.672.100 người trên diện tích 921km2, mật độ 2.971 người/km2 Đặc biệt là khu vực nội thành, mật độ lên tới 15nghìn người/km2 Với mật độ dân cư đông đúc như vậy, nội thành Hà Nội đã trở thành nơi có cầu du lịch nói chung, cầu du lịch sinh thái nói riêng vào loại lớn nhất cả nước ta

Tỷ lệ tãng dân số trong khu vực cũng khác nhau, ở các tỉnh thuộc trung

du, miền núi là 23,5%0, còn các tỉnh đồng bằng chỉ có 16,9%0

Trình độ dân trí giữa các tỉnh cũng có sự khác biệt lớn, biểu hiện ở tỷ lệ

mù chữ trong độ tuổi lao động (ở các thành phố như Hà Nội, Hải Phòng là 1%,

nông thôn đồng bằng là 5%, còn miền núi tới 30%); tỷ lệ người có trình độ cao đẳng hoặc đại học

/ 1« rv lo o n m iM ra M X i t rmm t e r Tk*m* M< I tam llmt r k:mầ \r I I H XJU:iUI lustn s 4 , III m 114 _

40

Ngày đăng: 19/03/2015, 09:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Một vài đặc trưng của chế độ nhiệt ở khu  vực nghiên cứu - Phát triển du lịch sinh thái ở Hà Nội
Bảng 2.1. Một vài đặc trưng của chế độ nhiệt ở khu vực nghiên cứu (Trang 35)
Bảng 2.2. Chê độ mưa ở khu  vực nghiên cứu - Phát triển du lịch sinh thái ở Hà Nội
Bảng 2.2. Chê độ mưa ở khu vực nghiên cứu (Trang 37)
Bảng 2.4.  Sô trường  và học sinh  các trường dạy nghề, trung học  chuyên nghiệp  và cao đẳng, đại học ở Hà Nội ( năm 2002) - Phát triển du lịch sinh thái ở Hà Nội
Bảng 2.4. Sô trường và học sinh các trường dạy nghề, trung học chuyên nghiệp và cao đẳng, đại học ở Hà Nội ( năm 2002) (Trang 45)
Bảng 2.5.  Sô'lượng khách du lịch sinh thái năm 2002 và năm 2003 - Phát triển du lịch sinh thái ở Hà Nội
Bảng 2.5. Sô'lượng khách du lịch sinh thái năm 2002 và năm 2003 (Trang 50)
Bảng 2.6. Sự lựa chọn các điểm du lịch sinh thái - Phát triển du lịch sinh thái ở Hà Nội
Bảng 2.6. Sự lựa chọn các điểm du lịch sinh thái (Trang 51)
Bảng 2.7. Mục đích của chuyến đi - Phát triển du lịch sinh thái ở Hà Nội
Bảng 2.7. Mục đích của chuyến đi (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w