Trong ấn phẩm “Địa lý hiện tại, tương lai - Hiểu biết về quả đất, hành tinh của chúng ta“, Magnard 1980 đã nêu ra một nội dung khá đầy đủ về khái niệm môi trường: “Môi trường là tổng hợp
Trang 1I MỞ ĐẦU 2
1 Lý do chọn đề tài 2
2 Đối tượng nghiên cứu 6
3 Phạm vi nghiên cứu 6
4 Phương pháp nghiên cứu 6
II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 7
Chương 1: Cơ sở lý luận 7
1 Môi trường du lịch và phân loại môi trường du lịch 10
1.1 Khái niệm môi trường 10
1.2 Lý luận mối quan hệ giữa môi trường và du lịch 11
1.3 Phân loại môi trường du lịch 12
2 Khái niệm và những nguyên tắc du lịch sinh thái 13
2.1 Khái niệm DLST
2.2 Những nguyên tắc và điều kiện trong DLST
3 Khái niệm và mối liên hệ nhà quản lý với môi trường 15
Chương 2: Thực trạng phát triển của DLST Việt Nam và hành động của các nhà quản lý 20
1 Lợi thế của Việt Nam về phát triển du lịch sinh thái 20
2 Thực tế của du lịch sinh thái tại Việt Nam 25
3 Giải pháp của nhà quản lý đã làm
Chương 3: Một số đề xuất nâng cao ý thức cộng đồng về bảo vệ môi trường thông qua du lịch sinh thái 43
1.1 Đối với doanh nghiệp du lịch 43
1.2 Đối với hướng dẫn viên 44
Trang 2I MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết việc bảo vệ môi trường tại bất cứ lĩnh vực nào đều làhoạt động tích cực và có lợi Tuy nhiên chỉ xét riêng trên khía cạnh du lịch, việcbảo vệ môi trường mang lại nhiều lợi ích:
- Lợi ích cho toàn xã hội
- Lợi ích cho khách du lịch
- Lợi ích cho dân cư và chính quyền sở tại
- Lợi ích cho các nhà cung ứng
- Lợi ích trong việc giữ gìn các tài nguyên du lịch và giữ gìn các di sản vănhoá cho các thế hệ sau
Vậy để phát triển du lịch một cách bền vững đem lại nhiều lợi ích cho tất cảcác bên liên quan thì điều đầu tiên cần nhắc đến đó chính là ý thức của cộngđồng về bảo vệ môi trường Hơn nữa, DLST đang là một loại hình du lịch cónhiều điểm tương đồng với du lịch bền vững, nó có những điều kiện mạnh đểphát triển tại Việt Nam và thông qua DLST cộng đồng sẽ nhận thấy rõ ràng vaitrò của chính mình trong việc bảo vệ môi trường Tuy nhiên, thì hiện nay đangcòn tồn tại quá nhiều những hạn chế trong cách nhận thức cũng như chính sáchquản lý về DLST
Chính vì thế, bài viết muốn nhấn mạnh đến vai trò của những người quản lý nhànước trong việc nâng cao nhận thức cộng đồng về môi trường thông qua loạihình DLST
2 Đối tượng nghiên cứu
Môi trường và du lịch sinh thái, nghiên cứu vai trò của các nhà quản lýtrong việc nâng cao ý thức cộng đồng về bảo vệ môi trường thông qua phát triển
du lịch sinh thái
3 Phạm vi nghiên cứu
Trang 3- Giới hạn khu vực địa lý: Khu du lịch sinh thái Cần Giờ
- Giới hạn thời gian nghiên cứu: nghiên cứu tổng hợp dữ liệu trong 10 nămtrở lại đây
- Độ sâu của bài nghiên cứu: mang tính chất tổng hợp và phân tích chung
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tổng hợp tư liệu, thống kê, khái quát hóa về lí luận, tổng hợpthông tin thứ cấp qua sách báo, tạp chí, tài liệu, tham khảo các bài viết vàchuyên đề trên Internet…
II.NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương 1: Cơ sở lý luận
1 Môi trường du lịch và phân loại môi trường du lịch
1.1 Khái niệm môi trường
Theo nghĩa rộng nhất thì môi trường là tập hợp các điều kiện và hiện tượng
bên ngoài có ảnh hưởng tới một vật thể hoặc sự kiện Bất cứ một vật thể, một sựkiện nào cũng tồn tại và diễn biến trong một môi trường
Viện sĩ I.P Gheraximov (1972) đã đưa ra định nghĩa môi trường như sau:
“Môi trường (bao quanh) là khung cảnh của lao động, của cuộc sống riêng tư
và nghỉ ngơi của con người”, trong đó môi trường tự nhiên là cơ sở cần thiết
cho sự sinh tồn của nhân loại
Trong ấn phẩm “Địa lý hiện tại, tương lai - Hiểu biết về quả đất, hành tinh của chúng ta“, Magnard (1980) đã nêu ra một nội dung khá đầy đủ về khái niệm môi trường: “Môi trường là tổng hợp - ở một thời điểm nhất định - các trạng thái vật lý, hoá học, sinh học và các yếu tố xã hội có khả năng gây ra một tác động trực tiếp hay gián tiếp, tức thời hay theo kỳ hạn, đối với các sinh vật hay đối với các hoạt động của con người”.
Trang 4Trong Tuyên ngôn của UNESCO năm 1981, môi trường đối với con người
được hiểu là “Toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo
ra, những cái hữu hình (tập quán, niềm tin ) trong đó con người sống và lao động, khai thác các tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thoả mãn những nhu cầu của mình" Như vậy, môi trường sống đối với con người không chỉ là
nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển cho một thực thể sinh vật và con người màcòn là “khung cảnh của cuộc sống, của lao động và sự vui chơi giải trí của conngười”
R.G Sharme (1988) đã đưa ra một định nghĩa rất ngắn gọn: “Môi trường là tất cả những gì bao quanh con người”.
Joe Whiteney (1993) cho rằng: “Môi trường là tất cả những gì ngoài cơ thể,
có liên quan mật thiết và có ảnh hưởng đến sự tồn tại của con người như: đất, nước, không khí, ánh sáng mặt trời, rừng, biển, tầng ôzon, sự đa dạng sinh học
về các loài” (Nguyễn Thế Chinh và nnk, 2003).
Theo Lê Văn Khoa (1995): Đối với cơ thể sống thì “Môi trường sống” là tổng hợp những điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới đời sống và sự phát triển của cơ thể.
Môi trường bao gồm tất cả những gì bao quanh sinh vật, tất cả các yếu tố
vô sinh và hữu sinh có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên sự sống, phát triển
và sinh sản của sinh vật (Hoàng Đức Nhuận, 2000).
Để thống nhất về mặt nhận thức, chúng ta sử dụng định nghĩa trong Luật
Bảo vệ Môi trường đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khoá IX, kỳ
họp thứ IV thông qua ngày 27/12/1993 như sau:
“Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên”
Trang 5Khái niệm chung về môi trường trên đây đã được cụ thể hoá với từng đốitượng và mục đích nghiên cứu khác nhau
1.2 Lý luận mối quan hệ giữa môi trường và du lịch
Du lịch và môi trường có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau:
- Các hoạt động du lịch có quan hệ mật thiết với môi trường, khai thác tiềmnăng của môi trường tự nhiên như các cảnh đẹp quyến rũ của núi, sông, biển
và các giá trị văn hoá, nhân văn gắn liền với chúng Do vậy, thành phần, tính đadạng và chất lượng của môi trường có vai trò rất quan trọng đối với các hoạtđộng của du lịch
- Sự phát triển của du lịch phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng môi trường vàgiá trị nguyên vẹn của các tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên văn hoá Các bãibiển, núi, sông, rừng, và đa dạng sinh học của môi trường là những tài nguyên
cơ bản mà nhờ vào đó ngành du lịch thịnh vượng và phát triển Sự suy giảm củachất lượng môi trường, cho dù là tự nhiên hay nhân văn, đều có tác động rất lớnđến các hoạt động du lịch và thường dẫn đến sự suy thoái của khu du lịch
- Trên phạm vi toàn cầu cũng như khu vực, du lịch tất yếu có những tácđộng quan trọng đối với môi trường Những tác động này liên quan đến sự tiêuthụ tài nguyên, cũng như sự ô nhiễm do các chất thải phát sinh từ các hoạt động
du lịch như tổ chức tham quan, phục vụ ăn ở, đi lại của du khách
Tuy nhiên, du lịch cũng góp phần bảo vệ và tôn tạo môi trường Về nguyên
lý, tác động tích cực của du lịch đối với môi trường thường gắn với chính sáchbảo tồn, điều đó có thể tạo động lực thúc đẩy thiết lập những khu bảo tồn bởigiá trị của chúng là tài nguyên du lịch, điều này đặc biệt quan trọng ở các nướcđang phát triển Tuy vậy, trong đa số trường hợp, tác động tiêu cực của du lịchđối với môi trường thường vượt quá tác động tích cực Để thấy rõ được điều này
Trang 6phải dựa vào kết quả tổng hợp liên quan đến các tác động về mặt môi trường,kinh tế và xã hội của ngành du lịch
- Môi trường vừa là nơi diễn ra các hoạt động du lịch, đồng thời vừa là đốitượng tham quan du lịch
- Trong nhóm tự nhiên và tổ hợp tự nhiên thì giữa hai khái niệm tài nguyên
du lịch và cấu trúc môi trường có độ tương đồng lớn Trong nhóm nhân văn dân tộc, tài nguyên du lịch là sản phẩm của sự tác động của con người vào môitrường làm cho môi trường biến đổi theo chiều hướng tích cực hơn như “Danhlam thắng cảnh”
-Như vậy, việc đi du lịch trong các môi trường đồng nghĩa với việc khai thác
và thưởng ngoạn tài nguyên du lịch Mối quan hệ giữa cấu trúc môi trường vớitài nguyên, đối tượng của du lịch đã được đề cập ở trên có thể khái quát lại nhưsau:
- Con người: như là một hợp phần của cấu trúc môi trường, là lực lượng tổchức, quản lý, là lực lượng lao động và với nền văn minh, văn hoá cộng đồngtham gia vào hoạt động du lịch
- Tài nguyên du lịch: như là một nhân tố, đối tượng, chất liệu và là công cụtạo ra sản phẩm du lịch
- Không gian môi trường: là điều kiện để tổ chức các hoạt động du lịch vàcũng là sản phẩm của chính sự hoạt động du lịch đó
Kinh tế du lịch như là một công cụ hạch toán đối với vòng quay vật chất năng lượng - tiền tệ của không gian các đối tượng vừa nêu trên
-3.3 Phân loại môi trường du lịch
Tuỳ theo mục đích nghiên cứu và sử dụng, có nhiều cách phân loại môitrường khác nhau Trong du lịch, có thể phân loại môi trường theo chức năng
như sau:
Trang 7- Môi trường tự nhiên (Natural Environment)
Môi trường tự nhiên bao gồm các yếu tố tự nhiên tồn tại khách quan ngoài ýmuốn của con người nhưng ít nhiều cũng chịu tác động của con người nhưkhông khí, đất đai, nguồn nước, ánh sáng mặt trời, động thực vật Môi trường
tự nhiên cung cấp các nguồn tài nguyên thiên nhiên và là nơi chứa đựng, đồnghoá các chất thải, cung cấp các phong cảnh đẹp để tham quan, các nguồn nướckhoáng để chữa bệnh
- Môi trường văn hoá - xã hội (Social cultural Environment)
Môi trường văn hoá - xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người và người tạonên sự thuận lợi hay khó khăn cho sự tồn tại và phát triển của các cá nhân vàcộng đồng loài người Đó là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định,hương ước ở các cấp khác nhau như Liên Hiệp Quốc, hiệp hội các nước, quốcgia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng, xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôngiáo, các tổ chức đoàn thể
Đây là môi trường giáo dục, hoạt động xã hội vì con người được cấu thành,
phát triển trong mối tương tác của con người với con người và con người vớinhững hoạt động sống trong xã hội liên quan với các dân tộc khác
- Môi trường nhân tạo (Artifical Environment)
Môi trường nhân tạo là tất cả các yếu tố tự nhiên, xã hội do con người tạonên và chịu sự chi phối của con người, làm thành những tiện nghi cho cuộcsống của con người như ô tô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu vực đô thị, côngviên nhân tạo, các khu vui chơi giải trí (Nguyễn Thế Chinh, 2003)
2 Khái niệm và những nguyên tắc du lịch sinh thái
2.1 Khái niệm DLST
Trang 8Du lịch sinh thái chỉ mới xuất hiện từ những cuối những năm của thập kỷ 80
và trở thành một loại hình du lịch được ưa chuộng và phát triển nhanh trênphạm vi toàn thế giới những năm cuối của thế kỉ 20
Du lịch sinh thái được định nghĩa như một dạng du lịch dựa vào thiên nhiênđồng thời được định dạng và nghiên cứu như một công cụ phát triển bền vững
do các tổ chức phi chính phủ, các viện nghiên cứu và chuyên gia nghiên cứuphát triển từ những năm 1990 Vì vậy, thuật ngữ du dịch sinh thái một mặt đềcập đến một khái niệm theo một tập hợp các nguyên tắc, mặt khác nó được tiếpcận như một phân khúc thị trường riêng biệt
Công ty du lịch quốc tế (the intrnational ecotourism society- TIES), có trụ
sở đặt tại Washington, (trước đây được biết đến với cái tên công ty du lịch sinh
thái) đã đưa ra một định nghĩa sớm nhất vào năm 1991: “Du lịch sinh thái là một loại hình du lịch có trách nhiệm đối với các vùng tự nhiên là nơi bảo tồn môi trường và duy trì phúc lợi cho người dân địa phương”.
Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên quốc tế - IUCN (hiện nay được gọi là Liênminh bảo tồn thế giới) đã tuyên bố một định nghĩa về du lịch vào năm 1996 như
sau:“Du lịch sinh thái là một loại hình du lịch có trách nhiệm với môi trường, không gây xáo trộn đối với các vùng tự nhiên nhằm mục đích thưởng thức và đánh giá thiên nhiên (và bất kì đặc điểm văn hoá kèm theo nào - ở cả quá khứ
và hiện tại) để thúc đẩy các hoạt động bảo tồn, hạn chế các tác động tiêu cực của khách tham quan và mang lại các lợi ích kinh tế xã hội cho cư dân địa phương”.
Theo tổ chức du lịch thế giới WTO: “ Du lịch sinh thái là loại hình du lịch được thực hiện tại những khu vực tự nhiên còn ít bị can thiệp bởi con người, với mục đích chính là để chiêm ngưỡng, học hỏi về các loại động thực vật cư ngụ trong khu vực mà du khách đến thăm Ngoài ra, du lịch sinh thái phải đóng góp vào công tác bảo tồn những khu vực tự nhiên và phát triển khu vực cộng đồng
Trang 9lân cận một cách bền vững đồng thời phải nâng cao được khả năng nhận thức
về môi trường và công tác bảo tồn đối với người dân bản địa và du khách đến thăm”.
Theo đánh giá du lịch sinh thái không đơn giản là một loại hình du lịch tạo
ra một loại sản phẩm mới của ngành du lịch mà hơn thế nữa nó là một triết lýcủa sự phát triển, là hoạt động mang tính nguyên tắc để phát triển bền vững Dulịch sinh thái một mặt vừa thỏa mãn tốt nhu cầu hiện tại của du khách mặt khác
có trách nhiệm cao trong việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho phát
triển du lịch trong tương lai 2.2 Các nguyên tắc và điều kiện trong phát
triển du lịch sinh thái
Mặc dù chưa có khái niệm chuẩn cho du lịch sinh thái mang tính toàn cầunhưng trong nội dung của các khái niệm này đều hàm chứa bốn nguyên tắc cơbản chỉ ra sự khác biệt của du lịch sinh thái với các loại hình du lịch khác
2.2.1. Các nguyên tắc cơ bản trong DLST
- Thứ nhất: DLST phải được thực hiện tại những nơi có môi trường tự
nhiên, là những nơi có bề dày lịch sử về sự hình thành và phát triển của các hệđộng vật, hệ thực vật và con người Môi trường phải còn tương đối nguyênsơ,chưa hoặc ít bị can thiệp bởi hoạt động của con người, VD các vườn quốcgia, khu dự trữ sinh quyển…
- Thứ 2: DLST phải được hỗ trợ tích cực cho công tác bảo tồn các đặc tính
tự nhiên văn hóa cà xã hội tại điểm tham quan: Hỗ trợ từ chính quyền địaphương trú trọng công tác bảo tồn các đặc tính tự nhiên, giá trị văn hóa; Hỗ trợ
từ phía khách DLST xác định rõ nhu cầu đi du lịch của mình cân nhắc suy nghĩ
kĩ trước các hành động tránh tác động tới môi trường; các nhà kinh doanhDLST đóng góp tài chính cho chính quyền sở tại bằng các khoản thuế và lệ phí;dân cư địa phương tránh khai thác quá mức, lạm dụng để ảnh hưởng xấu tới cácloài động vật, thực vật
Trang 10-Thứ 3:DLST phải bao gồm các hoạt động mang tính giáo dục và giảng
giải : bằng phương pháp hướng dẫn, thuyết minh trực tiếp từ Hướng dẫn viêntới khách Du lịch, qua tời giới thiệu về thông tin địa điểm du lịch, qua phươngtiện nghe nhìn
-Thứ 4: DLST phải mang lại lợi ích cho cộng đồng dân cư bản địa: bằng
việc sử dụng người dân bản địa làm hướng dẫn viên DLST tại những khu sinhthái; khuyến khích người dân gìn giữ những nghề truyền thống của mình nhưdệt thổ cẩm, trồng thảo quả, làm đồ thủ công mĩ nghệ…; gìn giữ các lễ hội,phong tục tập quán; giúp người dân bản địa chủ động tham gia kinh tế bằng việccung ứng dịch vụ lưu trú (homestay) trong hành trình của khách; khai thác tối
đa sản phẩm, nguyên liệu để tạo ra hàng hóa phục vụ du khách…
2.2.2 Đặc điểm của một điểm đến du lịch sinh thái tốt
Bảo tồn tính năng tự nhiên trong khu cảnh quan
Giảm thiểu mật độ phát triển, những khu vực tự nhiên phong phú và việcxây dựng cảnh quan không chiếm ưu thế
Dấu hiệu của DL không gây hại đến hệ thống tự nhiên là đường thủy, khuvực ven biển, vùng đất ngập nước và khu vực có động vật hoang dã
Phát triển mạnh các doanh nghiệp cộng đồng nhỏ, bao gồm thực phẩmhay các loại hình kinh doanh mặt hàng thủ công do dân cư địa phương sở hữu
Nhiều khu vui chơi giải trí ngoài trời đc thiết kế phải bảo vệ nguồn tàinguyên, bao gồm đường đi xe đạp, đường mòn hay boardwalks phải đc chia sẻđều cho dân cư và khách thăm quan
Phát triển mạnh các khu cư trú, khách sạn, nhà hàng hay doanh nghiệp cóchủ sở hữu là cư dân địa phương nhằm mang đến sự hiếu khách với nhân viênthân thiện và năng động
Tổ chức các sự kiện và lễ hội địa phương nhằm chứng minh niềm tự hào
về môi trường tự nhiên và di sản văn hóa của cộng đồng địa phương
Trang 11Các thiết bị công cộng cơ bản và sạch sẽ cho khách du lịch và dân cư địaphương cùng chia sẻ, ví dụ như nhà tắm công cộng, nhà vệ sinh công cộng.
Có sự tương tác thân thiện giữa dân bản địa và khách thăm quan tại cácđiểm gặp gỡ tự nhiên, ví dụ như cửa hàng bản xứ hay băng ghế ở biển …
2.2.3 Nhận thức về môi trường và du lịch sinh thái
Trong bài viết “HOW TOURISM CAN CONTRIBUTE TO
http://www.gdrc.org/uem/eco-tour/envi/index.html, tác giả cũng nhấn mạnh
vai trò của nhận thức của cộng đồng vế vấn đề môi trường với chuyên mục
“Environmental awareness raising” và xu hướng phát triển của các nước trên
thế giới khi mà du lịch đang hướng tới phát triển bền vững thì môi trường đangđược đánh giá rất cao, nếu việc nhận thức rõ về môi trường được lây lan rộngrãi thì con người sẽ có những tiếp xúc gần gũi hơn với thiên nhiên và môitrường Việc nâng cao được nhận thức về môi trường trong cộng đồng có thểlàm nâng cao nhận thức về giá trị của thiên nhiên và dẫn đến hành vi có ý thứchơn về môi trường và các hoạt động bảo vệ môi trường Một ví dụ thật đáng tựhào đó là một học sinh đến từ thủ đô Tegucigalpa Honduras đã dùng số tiềnmình có để tham gia tour du lịch sinh thái chỉ với mục đích là tìm hiểu sự phứctạp của khu rừng nhiệt đới La Tigra
Có thể nói để du lịch có thể phát triển bền vững trong dài hạn thì du lịch cầnkết hợp với các nguyên tắc bền vững hơn đối với môi trường ví dụ sử dụng các
kĩ thuật sản xuất, dịch vụ giảm thiểu tác động đối với môi trường Ngành du lịch có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin về môi trường và nâng cao nhận thức của khách du lịch thông qua điều chỉnh hành động của họ tác động đến môi trường
2.2.4. Điều kiện về hướng dẫn viên DLST
Trang 12Như đã biết, DLST là loại hình du lịch có trách nhiệm, hướng tới phát triển
du lịch bền vững Chính vì vậy, để làm tốt loại hình du lịch này, cần thực hiệnđồng bộ không chỉ từ phía các nhà quản lý, chính quyền mà còn cần cả từ phíahướng dẫn viên - những người tiếp xúc trực tiếp với khách du lịch Vậy hướngdẫn viên DLST khác với HDV bình thường ở chỗ nào? Ngoài những kĩ năng xử
lý tình huống, cũng như kỹ năng tốt về nghiệp vụ, bản thân HDV cho DLST còncần có những điểm khác biệt sau:
- Phải am hiểu về vùng, điểm du lịch sinh thái tại nơi làm việc
- Biết cách hướng dẫn, thu hút khách du lịch tham gia việc bảo vệ môitrường, không gây tổn hại đến tự nhiên: không vứt rác bừa bãi…
- Nếu có thể cần hiểu biết về ngôn ngữ người địa phương
- Khuyến khích khách du lịch hạn chế sử dụng phương tiện giao thông gây
ô nhiễm môi trường: xe máy, oto…vận động họ đi bộ nhiều hơn
- Cần thân thiện với khách du lịch, tạo cơ hội cho việc giao lưu giữa khách
và người dân địa phương
2.2.5. Điều kiện về khách đi DLST
Khách du lịch sinh thái là người tiêu dùng du lịch với mục đích chính làtham quan nghiên cứu tài nguyên du lịch, có ý thức và trách nhiệm về bảo tồn
và phát triển thiên nhiên, có trách nhiệm đối với cộng đồng dân cư bản địa.Hành vi tiêu dùng của của khách DLST có thể khái quát là không giết gì ngoàithời gian, không lấy gì ngoài những bức ảnh, không để lại gì ngoài những dấuchân
Khách du lịch sinh thái có các đặc trưng cơ bản :
• Thứ nhất, yêu thiên nhiên, tình cảm thẩm mỹ phát triển, thích tìm hiểu hệsinh thái đa dạng và khám phá những điều bí ẩn của tự nhiên và văn hoá bản địa
Trang 13nơi đến, thích quan sát động vật hoang dã taị các vườn quốc gia, các khu bảotồn thiên nhiên.
• Thứ hai, thích lưu trú trong điều kiện tự nhiên, thích di chuyển bằng cácphương tiện không gây ô nhiễm môi trường
• Thứ ba, đặc biệt ưa thích các món ăn được coi là đặc sản có giá trị vănhoá ẩm thực cao ở nơi đến du lịch
• Thứ tư, thích tham gia vào các sinh hoạt đời thường, văn hoá dân giancủa cư dân bản địa
• Thứ năm , sở thích 3F cốt lõi của sản phẩm nơi đến du lịch Sản phẩmDLST có tính hấp dẫn cao, quyến rũ được khách DLST bởi tính hấp dẫn của bathành phần cốt lõi tạo ra thương hiệu của điểm du lịch sinh thái: Hệ động vật đadạng quý hiếm (FAUNA), hệ thực thực vật phong phú quý hiếm (FLORA) vàvăn hoá dân gian độc đáo (FOLKLORE) hay còn gọi là mô hình sản phẩm du
lịch 3Fs.
3. Khái niệm và mối liên hệ nhà quản lý nhà nước với DLST
Quản lý Nhà nước về du lịch là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằngquyền lực pháp luật nhà nước đối với các quá trình, các hoạt động du lịch của conngười để duy trì và phát triển ngày càng cao các hoạt động du lịch trong nước và
du lịch quốc tế nhằm đạt được các hiệu quả kinh tế xã hội do nhà nước đặt ra.Chính vì vậy những nhà quản lý nhà nước ở đây chính là những người làm việctrong các ban ngành du lịch: Tổng cục du lịch, Sở văn hóa thể thao và du lịch, banquản lý các vườn quốc gia, khu bảo tồn…
Trong những năm qua, cộng đồng và các cấp quản lý du lịch tại địa phương
đã biết phát huy những thế mạnh tự nhiên, văn hóa của mình để đẩy mạnh pháttriển kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao đời
Trang 14sống vật chất, tinh thần cho nhân dân Quản lý nhà nước về du lịch đã từngbước khẳng định tầm quan trọng của mình trong sự phát triển một nền du lịchcộng đồng thực sự bền vững Điều đó được thể hiện trong vai trò, nhiệm vụquản lý của các cấp ngành quản lý du lịch tại địa phương như sau:
- Định hướng phát triển du lịch cộng đồng theo hướng bền vững, từngbước giúp bà con nhân dân địa phương xóa đói giảm nghèo, nâng cao nhận thức
xã hội của cộng đồng và sự đóng góp của các đơn vị kinh doanh du lịch dịch vụtrong tiến trình phát triển một nền du lịch bền vững
- Tham gia vào việc phân phối và sử dụng tài nguyên một cách hợp lý,đưa ra các quy định về việc duy trì, bảo tồn tài nguyên du lịch
- Bảo vệ lợi ích của chính mình
- Điều hoà mối quan hệ giữa du lịch và các ngành liên quan
Với những vai trò trên đây có thể tóm tắt lại những nội dung của quản lýnhà nước về du lịch sinh thái như sau:
- Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch vàchính sách phát triển du lịch sinh thái
Trang 15- Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm phápluật, tiêu chuẩn định mức kinh tế - kỹ thuật trong hoạt động du lịch.
- Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và thông tin về du lịchsinh thái, môi trường tự nhiên
- Tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực;nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật phục vụ du lịch
- Tổ chức điều tra, đánh giá tài nguyên du lịch để xây dựng quy hoạchphát triển du lịch, xác định khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch
- Tổ chức thực hiện hợp tác quốc tế về du lịch; hoạt động xúc tiến dulịch ở trong và ngoài nước
- Quy định tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về du lịch, sự phối hợpcủa các cơ quan nhà nước trong việc quản lý nhà nước về du lịch
- Cấp, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận về hoạt động du lịch
- Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạmpháp luật về du lịch
Chính từ những vai trò cũng như nhiệm vụ của bản thân mà các nhà quản lý
có những trách nhiệm rất lớn trong việc phát triển du lịch nói chung và pháttriển DLST nói riêng Họ có những vai trò những điều kiện và quyền hạn cao để
có thể nâng cao ý thức cộng đồng về bảo vệ môi trường thông qua DLST
Trang 16Chương 2: Du lịch sinh thái và thực trạng tình hình ô nhiễm môi trường tại các điểm du lịch sinh thái của Việt Nam hiện nay.
1 Lợi thế của Việt Nam về phát triển du lịch sinh thái
Tại Việt Nam, du lịch sinh thái là một loại hình du lịch khá mới mẻ, tuychưa có nhiều thành tựu cũng như kinh nghiệm trong việc phát triển du lịch sinhthái nhưng Việt Nam có một tiềm năng du lịch sinh thái vô cùng to lớn Vớinhững ưu thế của thiên nhiên nhiệt đới ẩm, địa hình, cảnh quan đa dạng vớinhiều hệ sinh thái điển hình khác nhau từ vùng núi cao nguyên đến vùng đồngbằng ven biển và hải đảo, đường bờ biển dài, rừng núi hoang sơ với nhiều khubảo tồn, vườn quốc gia và nhiều rừng cấm, đó là những di sản thiên nhiên củaquốc gia, chứa đầy tiềm năng cho phát triển du lịch sinh thái Trên những khuvực cảnh quan này là địa bàn cư trú của hàng chục các dân tộc thiểu số trongcộng đồng các dân tộc Việt Nam với những phong tục tập quán, nền văn hóadân gian đặc sắc, là nền tảng cơ sở cho phát triển du lịch sinh thái
Tài nguyên tự nhiên giàu có
Về các tiềm năng tự nhiên cho phát triển du lịch sinh thái, thể hiện rõ nhất
là Việt Nam có sự đa dạng sinh học khá cao, cũng như nhiều hệ sinh thái đặctrưng, với một lượng lớn các vườn quốc gia và khu bảo tồn Với vị trí nằm ởvành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa, lãnh thổ Việt Nam trải dài trên 15 độ vĩtuyến với 3/4 là địa hình đồi núi và cao nguyên, có hơn 3200 km đường bờ biển,hàng ngàn hòn đảo, địa hình đa dạng với nhiều loại hình địa chất địa mạo và khíhậu phân hóa Đây là cơ sở chính hình thành nên sự đa dạng sinh học đầy tiềmnăng cho phát triển du lịch sinh thái
Theo đánh giá của quốc tế, Việt Nam đứng thứ 16 về sự phong phú đadạng sinh học, là đại diện cho khu vực Đông Nam Á về sự độc đáo và giàu có
Trang 17về thành phần loài Việt Nam là cả hai "cái nôi" của các loài bản địa và một khuvực chuyển tiếp của sinh vật từ các sinh vật phía Bắc (Himalaya phía namTrung Quốc), phía Nam (Malaysia, Indonesia) và phía tây (Ấn Độ-Myanmar).Hơn nữa, do sự đa dạng của địa hình và điều kiện khí hậu Việt Nam, các loàithực vật và động vật bản địa cũng khá phong phú Ba loài động vật lớn đã đượcphát hiện gần đây tại Việt Nam là "Sao la (Pseudoryx nghetinhensis) vào năm
1992, "Mang lớn" (Megamuntiacus vuquangensis) vào năm 1993, và "MangTrường Sơn” (Muntiacus truongsonensis) vào năm 1996 Việt Nam được coi làmột trong mười sáu quốc gia với đa dạng sinh học cao nhất trong một loạt các
hệ sinh thái (WCMC 1962) - một điều kiện rất thuận lợi cho phát triển du lịchsinh thái
Sự đa dạng sinh học thể hiện trước nhất ở thành phần và số loài
Về thành phần các loài động thực vật, Việt Nam có sự đa dạng sinh họckhá cao, với 14.624 loài thực vật thuộc gần 300 họ, trong đó có nhiều loài cổxưa và hiếm có, ví dụ như Tuế phát triển từ Đại Trung Sinh, các loài có giá trịkinh tế gồm hơn 1000 loài lấy gỗ, 100 loài có dầu, hơn 1000 loài cây thuốc, 100loài quả rừng ăn được Về động vật có tới 11.217 loài và phân loài, trong đó có1.009 loài và phân loài chim, 265 loài thú, 349 loài bò sát lưỡng cư, 2000 loài
cá biển, hơn 500 loài cá nước ngọt và hàng ngàn loài tôm, cua, nhuyễn thể vàthủy sinh vật khác Về các loài thú, Việt Nam có tới 10 loài đặc trưng của vùngnhiệt đới: Cheo, Đồi, Chồn bay, Cầy mực, Cu li, Vượn, Tê tê, Voi, Heo vòi, Têgiác và đặc biệt, trong thế kỷ 20 có 5 loài thú lớn mới được phát hiện thì đều ởViệt Nam Điều này chứng tỏ tính đa dạng sinh học của nước ta còn khá cao và
có thể còn có nhiều loài sinh vật mới có mặt tại Việt Nam
Cùng với các loài động thực vật tự nhiên, Việt Nam còn là một trung tâmcủa cây trồng nhân tạo Trên thế giới có 8 trung tâm cây trồng thì 3 trung tâmtập trung ở Đông Nam Á (Nam Trung Hoa - Hymalaya; Ấn Độ - Miến Điện;
Trang 18Đông Dương - Indonexia) với khoảng 270 loài cây nông nghiệp, riêng ở ViệtNam đã có hơn 200 loài cây trồng, trong đó có tới 90% cây trồng thuộc Trungtâm Nam Trung Hoa, 70% cây trồng thuộc trung tâm Ấn, Miến Đây là tiền đềcho tổ chức du lịch sinh thái canh nông.
Các hệ sinh thái: Việt Nam có một số hệ sinh thái đặc trưng như hệ sinh
thái san hô, hệ sinh thái đất ngập nước; hệ sinh thái vùng cát ven biển và hệ sinhthái rừng nhiệt đới…
Hệ sinh thái ven biển: với 3.260 km bờ biển, Việt Nam xuất hiện một loạtcác hệ sinh thái ven biển Số lượng các loài cỏ biển ở Việt Nam đứng thứ haichỉ sau Philippin trong ASEAN Thảm cỏ biển đang ngày càng phong phú từBắc vào Nam và có đến 125 loài sinh vật đáy và 158 loài rong biển Đặc biệtloài Bò biển (Dugong - bò biển hoặc lợn biển), một loài động vật có nguy cơtuyệt chủng có thể được tìm thấy trong thảm cỏ biển Côn Đảo của Việt Nam
Hệ sinh thái rạn san hô của Việt Nam khá giàu về thành phần loài, tươngđương với các khu vực giàu san hô khác ở Tây Thái Bình Dương, trong đó ởkhu vực ven bờ phía Bắc có 95 loài thuộc 35 chi, ở khu vực ven bờ phía Nam có
255 loài của 69 chi Trong các rạn san hô quần tụ nhiều loài sinh vật khác nhau,nhiều loài có màu sặc sỡ và có giá trị kinh tế cao Chúng bao gồm 180 loài thựcvật phù du, 97 loài động vật phù du, 70 loài rong biển, 208 loài động vật thânmềm, 76 loài giáp xác, và 157 loài cá Đây là tiềm năng hấp dẫn để phát triểnecotourism, với khu du lịch được thành lập tại đảo Cát Bà, Cô Tô, Bạch Long
Vĩ, Cồn Cỏ, Hòn Sơn Trà - Hải Vân, Côn Đảo, Phú Quốc, và hải đảo trên địabàn tỉnh Khánh Hòa Các thợ lặn có thể quan sát các rạn san hô đầy màu sắcvới một loạt các hệ động thực vật Mẫu rạn san hô được khai thác quà lưu niệm
du lịch tại các tỉnh Quảng Ninh, Nha Trang, Côn Đảo
Về hệ sinh thái đất ngập nước: Hệ sinh thái đất ngập nước ở các vùng cónhững đặc thù riêng, trong đó nổi bật là các hệ sinh thái ngập mặn ven biển trải
Trang 19dài dọc bờ biển từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Mũi Nai (Kiên Giang) Cơ quanMôi trường Quốc gia của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (2000) đưa radanh sách 79 khu vực đất ngập nước có tầm quan trọng quốc gia Trong số đó
có hệ sinh thái đầm phá, chỉ tìm thấy ở miền Trung Việt Nam (phá Tam Giang Cầu Hai, Trà O, Trường Giang, Ô Loan, Thủy Triều, Thị Nại, và Nước Ngọt).Tiêu biểu nhất là ở đồng bằng sông Cửu Long phân bố một diện tích lớn các hệsinh thái đất ngập nước, chủ yếu là các hệ sinh thái ngập mặn và các hệ sinh tháiđất ngập phèn Trong các hệ sinh thái ngập mặn thì các hệ sinh thái rừng ngậpmặn châu thổ sông Cửu Long nuôi dưỡng một số lớn diệc, cò, cò lớn, còquăm… Tại đây có các sân chim lớn Rừng ngập mặn là nơi sinh sản, cư trú củanhiều hải sản, chim nước, chim di cư và các loài động vật có ý nghĩa kinh tế lớnnhư khỉ, lợn rừng, kỳ đà, chồn, trăn Một dạng hệ sinh thái đất ngập nước điểnhình khác là các đầm lầy nội địa hoặc đầm phá ven bờ, trong đó có các hệ sinhthái rừng tràm U Minh, tứ giác Long Xuyên là nổi tiếng Các hệ sinh thái đầmlầy nội địa kết hợp với các vùng sình lầy cửa sông tạo nên các vùng đất ngậpnước lớn ở hai châu thổ, nơi có số lượng lớn chim cư trú và chim di cư hàngnăm cùng với nguồn lợi quý là mật ong rừng Đầm phá của Việt Nam là nơi lưutrữ cao đa dạng sinh học Ví dụ phá Tam Giang - Cầu Hai (diện tích 21.000 ha,
-là một trong những đầm phá lớn nhất trên thế giới) có tới 55 loài rong biển, cá,tôm, cua… có giá trị kinh tế và hàng trăm tấn nhuyễn thể được thu hoạch hàngnăm Đầm phá ở Việt Nam cũng có chứa các tài nguyên khoáng sản có giá trịcao, giúp điều hoà khí hậu địa phương, và có thể trở thành điểm đến du lịch lýtưởng Rừng ngập mặn của Việt Nam phải chịu rất nhiều tàn dư trong hai cuộcchiến tranh Đông Dương Trong những năm gần đây, các nỗ lực tái trồng rừngngập mặn đã được thực hiện bởi nhiều nhóm khác nhau, từ chính quyền trungương và địa phương đến các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức quốc tế khác.Một ví dụ điển hình như Rừng ngập mặn Cần Giờ, được UNESCO công nhận là
Trang 20khu dự trữ sinh quyển đầu tiên tại Việt Nam vào ngày 21 tháng 1 năm 2000.Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Thủy có các hoạt động hỗ trợ một loạt các loàiđộng vật và thực vật, trong đó có chín loài chim bị đe dọa và uy hiếp gần Đángchú ý nhất, 26% cá thể một loại chim mặt đen của thế giới có thể tìm thấy tạiđây.
Hệ sinh thái cát ven biển: Tổng diện tích của bãi biển cát tại Việt Nam là
170 km2, tập trung chủ yếu ở ven biển miền Trung (30% tổng diện tích) Cácnhóm hệ sinh thái cát hình thành trên các loại cát khác nhau: hệ sinh thái vùngcồn cát trắng vàng; hệ sinh thái vùng đất cát biển; hệ sinh thái vùng đất cát đỏ.Đặc biệt lớn là khối cát đỏ ở Tây Bắc Phan Thiết với các cồn di động (do giótạo nên) vừa có sức hấp dẫn lớn với du khách, vừa có thể phục vụ sản xuất nôngnghiệp (trồng hoa màu, dưa hấu, đào lộn hột ) Các loài sinh vật biển thườngđược tìm thấy là động vật thân mềm, động vật lưỡng cư, bò sát và chim Đángchú ý nhất, hệ sinh thái này cung cấp một nơi sinh sản cho một số loài rùa cónguy cơ tuyệt chủng Trong số các bãi biển đẹp nhiều cát tại Việt Nam là đảoCát Bà, Trà Cổ, Bãi Cháy (Quảng Ninh), Đồ Sơn (Hải Phòng), Đồng Châu(Thái Bình), Hải Thịnh (Nam Định), Sầm Sơn (tỉnh Thanh Hóa), Cửa Lò (NghệAn), Thiên Cầm (Hà Tĩnh), Lăng Cô (Thừa Thiên Huế), Ngũ Hành Sơn (ĐàNẵng), Nha Trang (Khánh Hòa), Phan Thiết (Ninh Thuận), và Vũng Tàu
Hệ sinh thái đá vôi: núi đá vôi phân phối chủ yếu từ phía bắc Quảng Bình.Những ngọn núi rừng thường xanh có động vật, thực vật sống động và thực vậthoang dã Đây cũng là nơi để các nền văn hóa khác biệt đại diện của một số dântộc thiểu số Việt Nam Du khách có thể đi lang thang trong núi đá vôi ở Cát Bà,
Ba Bể, vườn quốc gia Cúc Phương và Phong Nha - Kẻ Bàng…
Các hệ sinh thái rừng, vườn quốc gia, khu bảo tồn: với nét đặc trưng là hệthống các khu rừng đặc dụng là nơi lưu trữ các nguồn gen quý, các hệ sinh tháirừng của nước ta phân bố ở khắp từ Nam ra Bắc, từ đất liền tới các hải đảo
Trang 21Tính đến năm 2004, cả nước đã có 107 khu rừng đặc dụng trong đó có 28 vườnquốc gia, 43 khu bảo tồn thiên nhiên và 34 khu rừng văn hóa - lịch sử - môitrường với tổng diện tích là 2.092.466 ha Theo Viện Nghiên cứu Phát triển Dulịch, hệ thống rừng đặc biệt bao gồm 11 công viên quốc gia rộng 259.797 ha, 61khu dự trữ tự nhiên với tổng diện tích 1.692.351 ha Tổng diện tích rừng đặcdụng ở Việt Nam là 3.100.034 ha, chiếm 28,4% tổng số đất lâm nghiệp(10.915.592 ha) Vườn quốc gia thường được thành lập ở những khu vực có địamạo độc đáo có giá trị khoa học hoặc những khu vực có hệ sinh thái phong phú,
có nhiều loài động thực vật có nguy cơ tuyệt chủng cao cần được bảo vệ nghiêmngặt trước sự khai thác của con người, do đó nơi đây chính là điểm đến lý tưởngcho những khách du lịch sinh thái thực thụ
Danh sách vườn quốc gia tại Việt Nam:
Nămthànhlập
Diệntích
Tam Đảo 1986 36.883 Vĩnh Phúc, Thái
Nguyên, Tuyên Quang Xuân Sơn 2002 15.048 Phú Thọ
Hoàng Liên 1996 38.724 Lai Châu, Lào Cai
Pù Mát 2001 91.113 Nghệ An
Trang 22Phước Bình 2006 19.814 Ninh Thuận
Núi Chúa 2003 29.865 Ninh Thuận
Tây
Nguyên
Chư Mom Ray 2002 56.621 Kon Tum
Kon Ka Kinh 2002 41.780 Gia Lai
Yok Đôn 1991 115.545 Đăk Nông, Đăk Lăk
Chư Yang Sin 2002 58.947 Đăk Lăk
Bidoup Núi Bà 2004 64.800 Lâm Đồng
U Minh Hạ 2006 8.286 Cà Mau
U Minh Thượng 2002 8.053 Kiên Giang Phú Quốc 2001 31.422 Kiên Giang
Ngoài một số vườn quốc gia nằm ở vùng sâu, vùng xa, chẳng hạn như PùMát, Bến En, các vườn quốc gia lớn nằm dọc theo đường quốc lộ, các thành phốlớn gần với giao thông thuận tiện phù hợp cho phát triển du lịch sinh thái nhưvườn quốc gia Ba Vì (Hà Tây), công viên quốc gia Cúc Phương (Ninh Bình),vườn quốc gia Cát Bà (Hải Phòng), Tam Đảo, vườn quốc gia Bạch Mã (ThừaThiên Huế)…
Trang 23Trong những năm gần đây, chính phủ Việt Nam đã đầu tư trong việc cảithiện cơ sở hạ tầng và điều tra những đặc điểm thực vật, động vật, địa chất, địamạo của công viên quốc gia Các khu vực này đã trở thành địa điểm nghiên cứucho việc duy trì các mẫu đa dạng sinh học Do đó, nhiều trường đại học và việnnghiên cứu đã tổ chức các chuyến thăm cho sinh viên, cán bộ, và người nướcngoài Kể từ năm 1987, việc thành lập các khu rừng đặc dụng tăng nhanh nhờ
sự quan tâm từ Trung ương đến cấp địa phương, sự hợp tác của các nhà khoahọc và các nhà nghiên cứu, và sự phối hợp và hỗ trợ của các tổ chức quốc tế vàcác tổ chức phi chính phủ Đó là trong các khu rừng du lịch sinh thái nên tiếptục được phát triển cho cả hai tự nhiên và giá trị văn hóa
Bảng danh sách các khu bảo tồn loài:
Khu bảo tồn loài và sinh cảnh voọc
Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Chế
Bắc Trung
Bộ
Khu bảo tồn Hương Nguyên 10.311 Thừa
Thiên-Huế Khu bảo tồn Sao La Thừa Thiên-
Huế
Thừa Huế
Thiên-Nam Trung
Trang 24Nguyên Khu bảo tồn sinh cảnh Ea Ral 49 Đắk Lắk
Tây Nam
Bộ
Khu bảo tồn thiên nhiên Lung Ngọc
Khu bảo tồn thiên nhiên vườn Chim
Căn cứ vào sự phân bố về mặt không gian của các vùng sinh thái đặc thùvới sự có mặt của các loài sinh vật đặc hữu, cũng như căn cứ vào các điều kiện
về kinh tế - xã hội, cơ sở hạ tầng , định hướng tổ chức không gian cho hoạtđộng du lịch sinh thái ở Việt Nam theo định hướng chiến lược phát triển du lịch
đã được Chính Phủ phê duyệt được thể hiện qua bảng sau:
vườn quốc gia Ba Bể - Bắc Kạn; hồNúi Cốc - Thái Nguyên; vườn quốcgia Bái Tử Long - Quảng Ninh; vườnquốc gia Cát Bà - Hải Phòng; hệ sinhthái san hô ở khu vực Hạ Long và CátBà
Thamquannghiên cứucác hệ sinhthái đặcthù, du lịchmạo hiểm,
du lịch lặnbiển
Vùng
núi Tây
Phía Tây của 2
tỉnh Lào Cai và
Vùng sinh thái núi cao Sapa - Fan
Xi Păng với nhiều loài sinh vật ôn đới
Thamquan
Trang 25Bắc
-Hoàng
Liên
Sơn
tới 38 loài động vật thuộc loài quýhiếm cần được bảo vệ
nghiên cứucác hệ sinhthái vùngnúi cao, dulịch mạohiểm
Thamquannghiên cứucác hệ sinhthái đặcthù kết hợpvới thắngcảnh và dulịch vănhóa
đã phát hiện 3 loài thú mới là Sao la,Mang lớn và Voọc Hà Tĩnh Vườnquốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng vớiđộng Phong Nha được công nhận là disản thế giới
Thamquannghiên cứucác hệ sinhthái, dulịch mạohiểm, dulịch lặnbiển
Trang 26Yok Đon, hệ sinh thái đất ngập nước
ở Hồ Lắc, hệ sinh thái vùng núi cao ởNgọc Linh, Bidoup - Núi Bà, hệ sinhthái san hô ở Nha Trang, hệ sinh tháicát ở Mũi Né Đây là vùng tập trungnhiều hệ sinh thái điển hình và cũng
là nơi được thế giới công nhận có tính
đa dạng sinh học cao, là nơi duy nhất
ở Việt Nam và các nước Đông Nam Á
có đủ 4 loài bò xám và bò sừng xoắn,
có nhiều loài chim, thú, bò sát, cá, cácloài thực vật thuộc diện quý hiếm, đặchữu ở Việt Nam và trên thế giới
quannghiên cứucác hệ sinhthái, dulịch mạohiểm, dulịch lặnbiển
Đa dạng sinh học khá cao với nhiều
hệ sinh thái điển hình, trong đó đángchú ý là các hệ sinh thái ở Cát Tiênvới loài tê giác Giava
Thamquannghiên cứucác hệ sinhthái điểnhình, dulịch mạohiểm
Thamquan, dulịch sông
Trang 27ra, các miệt vườn, đặc biệt trên các cùlao dọc sông Tiền, sông Hậu lànhững điểm du lịch sinh thái hấp dẫncủa vùng
nước, miệtvườn
Tiềm năng văn hóa toàn vẹn
Các tiềm năng nhân văn cho phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam cũngrất đa dạng và phong phú Việt Nam là một quốc gia đã có hàng nghìn năm lịch
sử Cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới, Việt Nam có một nền văn hóamang bản sắc riêng Chính những nét đó làm nên cốt cách, hình hài và bản sắccủa dân tộc Việt Nam
Dân tộc Việt Nam có hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước vớinền văn hóa đa dạng bản sắc của 54 dân tộc anh em, trong đó có nhiều tàinguyên đặc biệt có giá trị Chỉ tính riêng về các di tích, trong số khoảng 40.000
di tích hiện có thì hơn 2.500 di tích được Nhà nước chính thức xếp hạng Tiêubiểu nhất Cố Đô Huế; đô thị cổ Hội An, thánh địa Mỹ Sơn, Nhã nhạc Cung đìnhHuế đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới
Ngoài các di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng, nhiều nghề thủ công truyềnthống với kỹ năng độc đáo, nhiều lễ hội gắn liền với các sinh hoạt văn hóa, vănnghệ dân gian đặc sắc của cộng đồng 54 dân tộc cùng với những nét riêng, tinh
tế của nghệ thuật ẩm thực được hòa quyện, đan xen trên nền kiến trúc phongcảnh có giá trị triết học phương Đông đã tạo cho Việt Nam sức hấp dẫn về dulịch
Trang 28Một trong các nguyên tắc của du lịch sinh thái là bảo tồn tính toàn vẹn vănhóa bởi vì giá trị của con người không thể tách rời khỏi các giá trị tự nhiên.Dường như các nơi du lịch sinh thái tiềm năng nhất chính là nơi sinh sống củađồng bào dân tộc thiểu số, những cộng đồng này có một sự phong phú và đặcsắc về lễ hội truyền thống, trồng trọt và canh tác, về văn hóa ẩm thực, lối sốngtruyền thống và thủ công mỹ nghệ Các vùng đất hứa hiện đang được đầu tưkhai thác thu hút bước chân của khách du lịch trong hành trình du lịch sinh thái
là các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, để khám phá và hòa mình vào những lễhội độc đáo (lễ hội Hoa Ban của dân tộc Thái các tỉnh Tây Bắc, lễ hội Đón cơmmới của người Thái, người H’mông, lễ hội Lồng Tồng của dân tộc Tày, Nùng,Dao…), thưởng thức ẩm thực có một không hai, đậm đà bản sắc dân tộc và vôcùng khác biệt (đặc sản Thắng cố, mèn mén của dân tộc H’mông Lào Cai, Nậmpịa của các dân tộc Tây Bắc, đồng bào dân tộc Tày có các món bánh trứng kiến,xôi ngũ sắc, thịt mắm cơm đỏ, khâu nhục, bánh ngải… đồng bào dân tộc Thái,Khơ Mú, Mông,… có những món ăn: cơm lam, mọc cá bống, mọc rêu, thịtnướng, lám nhọc, ruột cá ăn với lá sung, thịt trâu luộc, măng đắng, nòng nọcnấu sả, rượu cần, cơm lam… )… Đi du lịch sinh thái, du khách cũng có cơ hộitìm hiểu, khám phá các lối kiến trúc độc đáo thân thiện với môi trường như nhàsàn của các dân tộc Tây Bắc, nhà rông Tây Nguyên, các loại hình chòi, lán, nhà
bè, guồng nước, cầu khỉ,… hay hòa mình vào các hoạt động canh tác nôngnghiệp vốn vô cùng phong phú của người nông dân Việt Nam, tìm hiểu và tựtay học làm những sản phẩm thủ công như dệt vải, dệt thổ cẩm, làm gốm, rènsắt…Dường như, đi đến bất kỳ vùng miền nào trên dải đất hình chữ S, du kháchđều có cơ hội trải nghiệm, khám phá và thưởng thức những giá trị văn hóa đậm
đà bản sắc và hoàn toàn khác biệt, tạo nên sự mê luyến quyến rũ không thể chối
từ Đây không chỉ là yếu tố tạo nên sự thi vị, động lực cho các cuộc hành trình