Việt Nam là một phần của thế giới, dân số chiếm một phần đáng kể và vẫn là một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới thì việc tích cực áp dụng những tiến bộ mới của khoa học, công ngh
Trang 1Đại học Quốc gia Hà nội - Khoa kinh tế
Đinh Thị Hồng Duyên
Phát triển Công nghệ thông tin trong điều kiện kinh
tế thị trường ở Việt nam
Luận văn thạc sỹ kinh tế
Trang 2Đại học quốc gia hà nội - Khoa kinh tế
Luận văn thạc sỹ kinh tế
Phát triển Công nghệ thông tin trong điều kiện kinh
tế thị trường ở Việt nam
Trang 3Chương 1 Công nghệ thông tin và vai trò của nó trong nền kinh
tế hiện đại
4
1.1.2.1 CNTT hình thành nên một nền kinh tế mới và là nền tảng của
1.1.2.2 CNTT tạo nên một nền tảng văn hóa xã hội mới, nền văn hóa tri
1.1.2.3 CNTT giúp nền kinh tế phát triển mạnh mẽ trong tiến trình toàn
1.2 Đặc điểm phát triển CNTT thông qua các kinh nghiệm quốc tế: 24
1.2.2.2 Hình thành đông đảo đội ngũ cán bộ chuyên môn có chất lượng 38
1.2.2.3 Xây dựng được một cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia đủ mạnh 42
1.2.2.5 Xây dựng các khu công nghiệp phần mềm tập trung với các chính
Trang 42.1 Môi trường phát triển CNTT ở Việt nam 48 2.1.1 Môi trường kinh tế, chính trị, xã hội ổn định 48 2.1.2 Thị trường nội địa rộng lớn, giàu tiềm năng 51 2.1.3 Chính sách và phương hướng đúng đắn của Đảng và nhà nước 52 2.1.4 Cơ sở hạ tầng ban đầu trong lĩnh vực viễn thông của Việt nam tiên
2.2.2.3 Internet và Thương mại điện tử tại Việt nam 83
2.2.2.4 Tình hình ứng dụng tổng thể CNTT trong các ngành tại Việt nam 84
2.2.4 Tình hình nghiên cứu, triển khai và phát triển nguồn nhân lực
cho CNTT
91
2.2.4.2 Tình hình phát triển nguồn nhân lực cho CNTT 92
2.3 Những đánh giá chung về tình hình phát triển CNTT ở VN 95
2.3.2 Những hạn chế còn tồn tại và vấn đề đặt ra 99
Chương 3 Những quan điểm định hướng và một số giải pháp
chiến lược cho phát triển CNTT Việt nam
104
3.1 Những khó khăn, thuận lợi cho CNTT Việt nam trong thời gian
Trang 5gian tới.
3.2.1 Giải pháp phát triển sản phẩm CNTT Việt nam 124
3.2.4 Các giải pháp về đầu tư và thu hút đầu tư: 131 3.2.5 Giải pháp chuyển giao công nghệ và tri thức 134 3.2.6 Giải pháp nhằm đẩy mạnh nghiên cứu và triển khai 135
3.2.8 Giải pháp về quan hệ và phối hợp hành động 138
Trang 6Phần mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nền văn minh nhân loại đang bước vào một giai đoạn mới, một xã hội văn minh, hiện đại với sự phát triển khoa học kỹ thuật cao nhất, một xã hội văn minh hay mọi người vẫn gọi là nền văn minh thứ 3 hoặc nền văn minh thông tin Trải qua hàng trăm năm phát triển từ thủ công nhỏ và đến nền đại công nghiệp, thế giới đang chứng kiến một cuộc cách mạng khoa học công nghệ mạnh mẽ, sâu sắc, làm thay đổi hình thức và nội dung mọi hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội của loài người Việt Nam là một phần của thế giới, dân số chiếm một phần đáng kể và vẫn là một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới thì việc tích cực áp dụng những tiến bộ mới của khoa học, công nghệ và đặc biệt là CNTT nhằm tạo cơ hội đi tắt, đón đầu, phát huy lợi thế cạnh tranh, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá, quá trình hội nhập là một việc cần được đặc biệt coi trọng
Trong những năm vừa qua, chính phủ cũng đã thấy rõ ý nghĩa chiến lược
và vai trò của CNTT đối với sự phát triển kinh tế đất nước Từ năm 1975, ngay sau khi thống nhất đất nước, Chính phủ đã hai lần ra các nghị quyết về tăng cường ứng dụng toán học và máy tính điện tử trong quản lý Nhà nước (Nghị quyết số 173-CP/1975) và tăng cường quản lý và sử dụng máy tính điện tử trong cả nước (Nghị quyết số 245-CP/1976) Rồi Nghị quyết số 37-NQ/TW năm 1981, Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 30/3/1991 ,Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VIII , Nghị quyết 49/CP và Kế hoạch Tổng thể về phát triển CNTT ở nước ta đến năm 2000, đều nhấn mạnh đến việc xây dựng và phát triển ngành CNTT Việt nam
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã thông qua phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2001 -
2005, trong đó nhấn mạnh đến ứng dụng CNTT nhằm hiện đại hoá các ngành
và phát triển CNpCNTT Bên cạnh đó Chính phủ cũng đã ra Nghị quyết số 07/2000/NQ-CP về xây dựng và phát triển CNpPM giai đoạn 2001-2005 và Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 81/2001/QĐ-TTg phê duyệt
Trang 7Chương trình hành động triển khai Chỉ thị số 58-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh và phát triển CNTT trong sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá giai đoạn 2001 - 2005
Có thể nói hơn 15 năm đổi mới kinh tế, CNTT Việt nam đã có những bước phát triển vượt bậc và đến nay đã phần nào thể hiện được vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên, để góp phần nghiên cứu, đề xuất những chiến lược thích hợp cho sự phát triển của ngành CNTT VN phù hợp với tình hình phát triển CNTT của thế giới cũng như tình hình phát triển kinh
tế xã hội của Việt Nam, em đã lựa chọn đề tài: “ Phát triển Công nghệ thông tin trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt nam”
2 Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay, ngoài Kế hoạch Tổng thể về ứng dụng và Phát triển CNTT ở Việt Nam giai đoạn 2002-2005 của Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường có rất ít các công trình nghiên cứu một cách tổng thể về CNTT VIệT NAM Chỉ có một số các đề án ứng dụng và phát triển CNTT trong hoạt động quản lý Bộ Bưu chính viễn thông cũng đang có kế hoạch đưa ra dự thảo Chiến lược phát triển CNTT của Việt nam trong năm 2004
Ngoài ra, trong thời gian qua cũng có nhiều bài báo, bài viết đăng trên các tạp chí và hội thảo khoa học bàn về vấn đề này
Chính vì vậy, sau những nghiên cứu về kinh nghiệm quốc tế, những đánh giá về hiện trạng CNTT Việt nam, cũng như sau khi đã khai thác, kế thừa có chọn lọc những đóng góp của các nghiên cứu lý luận trước đó, luận văn sẽ cố gắng đưa ra một số giải pháp chiến lược nhằm phát triển CNTT Việt nam trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đang phát triển không ngừng dưới sức ép của tốc độ phát triển khoa học, công nghệ và thông tin
3 Mục đích nghiên cứu
- Xác định vai trò, vị trí của CNTT trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Trang 8- Đánh giá thực trạng phát triển CNTT tại Việt nam, những thành công và những bất cập còn tồn tại
- Đề xuất những quan điểm định hướng và một số giải pháp lớn để phát triển CNTT Việt nam giai đoạn tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Dưới góc độ kinh tế chính trị, luận văn nghiên cứu CNTT Việt nam như là một ngành quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội Việt nam đặc biệt từ khi nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu tiến trình phát triển CNTT trong 10 năm qua và trong mối liên hệ với CNTT thế giới để đề
ra các giải pháp thích hợp nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển của ngành nói riêng và toàn bộ nền kinh tế Việt nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, luận văn đã sử dụng những phương pháp chung trong nghiên cứu kinh tế chính trị: lấy phương pháp của chủ nghĩa biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm phương pháp luận cơ bản Luận văn đặc biệt chú ý tới phương pháp lôgic kết hợp với lịch sử, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích kết hợp với tổng hợp…
6 Dự kiến những đóng góp mới của luận văn
- Phân tích và làm rõ một số kinh nghiệm quốc tế, khả năng ứng dụng các kinh nghiệm đó tại Việt nam
- Đánh giá thực trạng phát triển CNTT của Việt nam, chỉ ra những bất cập còn tồn tại và nguyên nhân của nó
- Đề xuất một số định hướng để phát triển CNTT của Việt Nam và các giải pháp chiến lược để thực hiện
7 Bố cục của luận văn: Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba
chương:
Trang 9Chương 1 CNTT và vai trò của nó trong nền kinh tế hiện đại
Chương 2 Thực trạng phát triển CNTT ở Việt Nam
Chương 3 Những quan điểm định hướng và một số giải pháp chiến lược
cho phát triển CNTT Việt nam
Trang 10Chương 1 Công nghệ thông tin và vai trò của nó
trong nền kinh tế hiện đại
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm
1.1.1.1 Một vài khái niệm
Thông tin và các quá trình thông tin
Theo nghĩa thông thường, thông tin là điều hiểu biết về một sự kiện, một hiện tượng, một quan hệ nào đó, thu nhận được qua giao tiếp, khảo sát,
đo lường, lý giải, nghiên cứu v.v Trong đời sống con người nhu cầu thông tin không ngừng tăng lên theo sự phát triển của xã hội và kinh tế
Tuy khái niệm thông tin rất phổ biến trong đời sống con người nhưng những nội dung khoa học chung nhất về thông tin và các quá trình thông tin chỉ mới được bắt đầu được nghiên cứu từ giữa thế kỷ 20, khi nhu cầu truyền tin của con người tăng rất nhanh Một trong những thành tựu đặc sắc của lý thuyết truyền tin là việc đưa ra khái niệm lượng thông tin Theo đó lượng thông tin thu được về một sự kiện nào đó được xác định bằng độ bất định của
sự kiện đó trước khi biết nó xảy ra Lý thuyết về lượng thông tin ra đời đã tạo nền móng cho con người phát hiện ra thêm nhiều quy luật của thông tin và quá trình truyền tin; cũng như quá trình phát triển thông tin trong các hệ thống truyền tin nhân tạo và trong hệ thống phức tạp khác Về mặt định tính,
lý thuyết thông tin cũng cho ta hiểu một thuộc tính căn bản của thông tin là đối lập với bất định và ngẫu nhiên, nó phản ánh tính xác định, có trật tự trong các mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng Nội dung "phản ánh tính trật tự
và tổ chức trong các hệ thống" của khái niệm thông tin ngày càng được củng
cố thêm khi ngành điều khiển học khẳng định rằng vận động thông tin là nội dung cơ bản nhất, chung nhất, phổ biến nhất của mọi quá trình điều khiển, dù
nó xảy ra trong kỹ thuật, trong các hệ thống sinh học, trong kinh tế hay xã hội loài người Hoạt động chủ yếu của điều khiển (hay còn gọi cách khác là quản
Trang 11lý) là tạo ra các thông tin điều khiển và tác động của nó sẽ đem lại trật tự mong muốn cho các đối tượng bị điều khiển
Để tạo ra được thông tin điều khiển, các cơ quan điều khiển phải thu nhận thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, rồi tiến hành quá trình xử lý tuân theo những quy luật vận hành của đối tượng và các mục tiêu điều khiển Tổng quát hoá có thể nói hoạt động quản lý hay điều khiển bao gồm các khâu sau: thu thập, sắp xếp, lưu trữ, xử lý và phản hồi lại thông tin, gọi chung là quá trình xử lý thông tin Ngày nay khi mà xã hội và kinh tế đang phát triển rất mạnh thì nhu cầu xử lý thông tin trong quản lý và điều khiển cũng tăng mạnh, và nhu cầu đó đã tăng lên với tốc độ bùng nổ cả về mặt số lượng lẫn nội dung
Thông tin có nhiều loại khác nhau khác nhau có thông tin là các số liệu, dữ liệu thu thập, điều tra, khảo sát được gọi là các thông tin nguyên liệu
Từ đó qua phân tích, tổng hợp sẽ thu được những thông tin có giá trị cao hơn được gọi thông tin quyết định dùng trong quản lý và điều khiển Kết quả của những qúa trình xử lý đòi hỏi nhiều năng lực và kinh nghiệm thông tin chứa đựng trong các quy luật khoa học - kết quả của nhiều công phu tìm kiếm, sáng tạo, suy luận, thử nghiệm
Internet và thương mại điện tử
Internet là một danh từ riêng dùng để chỉ hệ thống các mạng máy tính
toàn cầu - mạng của các mạng - giúp cho người sử dụng ở bất kỳ máy tính nào cũng có thể truy cập tới thông tin tại các máy tính khác và có thể đối thoại trực tiếp với người sử dụng trên đó Tên gọi Internet được Cơ quan nghiên cứu dựa án cao cấp ARPA của Mỹ đưa ra năm 1960 Ban đầu, người
ta biết đến nó qua ARPANet - mạng cơ quan nghiên cứu dự án cao cấp Mục tiêu ban đầu là thiết lập mạng cho phép các chuyên gia nghiên cứu ở một trường đại học có thể kết nối với máy tính ở các trường đại học khác bằng cách trao đổi thông điệp, rồi nó được mở rộng dần và ngày càng có nhiều người sử dụng do những lợi ích mà nó mang lại rất lớn
Trang 12Ngày nay, Internet là một phương tiện phổ biến giúp cho hàng trăm triệu người trên toàn thế giới có thể kết nối với nhau Về cơ sở vật chất, Internet sử dụng một phần hệ thống mạng thông tin viễn thông công cộng Về mặt công nghệ, Internet sử dụng giao thức có tên là TCP/IP (Giao thức điều khiển truyền thông) Để tương thích, các mạng nội bộ và mạng bên ngoài cũng sử dụng giao thức này
Đối với người sử dụng Internet, thư điện tử (email) đã thực sự thay thế dịch vụ thư tín truyền thống Đó là ứng dụng rất phổ biến trên mạng hiện nay Người dùng có thể đối thoại với người sử dụng khách trên mạng bằng cách dùng phần mền Chat hoặc đối thoại có âm thanh và hình ảnh thông qua những thiết bị ngoại vi tân tiến
Dịch vụ được sử dụng phổ biến và rộng rãi nhất trên Internet là Word Wide Web viết tắt là WWW Đây là kỹ thuật truyền tin siêu văn bản và là một phương thức tham khảo chéo được sử dụng rộng rãi để truyền tin trên mạng Khi sử dụng Web ta có thể truy cập vào hàng triệu trang thông tin, giống như xem một tờ báo hay một chương trình thời sự với rất nhiều thông tin khác nhau được sắp xếp và bố trí đẹp mắt trên màn hình máy tính Đến nay lượng thông tin có trên mạng rất lớn và bao gồm tất cả các thể loại từ tin tức xã hội, kinh tế đến trò chơi giải trí và phim ảnh, âm nhạc Một trong những lợi ích mà Internet đem lại là khả năng kinh doanh trực tuyến thông qua thương mại điện tử
Thương mại điện tử là thuật ngữ dùng để chỉ việc mua bán hàng hoá và
các dịch vụ trên mạng Internet đặc biệt là qua Web Nó thừa hưởng rất nhiều thành tựu của Internet và phát triển rất đa dạng Bán lẻ điện tử (E-tailing) hay
“cửa hàng ảo” trên các trang Web với các danh mục hàng hoá được tập hợp thành “dãy cửa hàng ảo” Các số liệu về nhân khẩu học trên mạng thông qua chương trình trao đổi dữ liệu điện tử, trao đổi dữ liệu kinh doanh qua thư điện
tử và fax được dùng làm môi trường để tiếp cận và thiết lập quan hệ các khách hàng Là nơi bán hàng trực tuyến 24/24 giờ trên quy mô toàn cầu với khả năng trao đổi thông tin và đặt hàng trực tiếp, trang Web đã trở thành nơi kinh doanh có doanh thu hàng tỉ đô la của các doanh nghiệp trên thế giới
Trang 13Ngoài ra việc sử dụng Internet còn có thể nghiên cứu được thị trường Đầu năm 1999, nhờ khả năng kết nối rộng rãi của mạng Internet các công ty
đã tập hợp được rất nhiều số liệu khách hàng bằng cách đăng ký, đặt câu hỏi
và đặt hàng qua mạng Tuy nhiên cách nghiên cứu này đang được làm rõ về mặt pháp luật vì nó xâm phạm đến các thông tin cá nhân của người sử dụng Lợi ích to lớn nhất mà thương mại điện tử mang lại là thời gian giao dịch rất nhanh với chi phí thấp Thương mại điện tử được thực hiện qua các hình thức kết nối điện tử như thư điện tử, Fax và điện thoại Internet Trong các giao dịch trực tiếp, các công ty thường sử dụng thư điện tử và Fax để quảng cáo về công ty và sản phẩm của mình tới khách hàng và các doanh nghiệp khác Ngày càng xuất hiện nhiều trang Web kinh doanh chuyển các bức thư quảng cáo điện tử tới những người nối mạng Một xu hướng mới là dịch vụ thư điện tử opt-in, người sử dụng mạng có thể tự nguyện đăng ký để nhận thư điện tử có nội dung quảng cáo về những danh mục sản phẩm hay những tiêu chí khác mà họ quan tâm
Với những tiến bộ nhanh chóng của kỹ thuật điện tử, tin học và viễn thông trong những thập niên vừa qua máy tính đang được sử dụng khắp mọi nơi và được liên kết lại với nhau thành mạng quốc gia, khu vực và Internet Trong tương lai các siêu xa lộ thông tin sẽ phủ khắp mọi nơi trong nước và trên thế giới Nhờ vậy, CNTT ngày càng được ứng dụng sâu rộng trong mọi ngành kinh tế và hoạt động xã hội Yếu tố thông tin ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế và hoạt động xã hội Dưới những ảnh hưởng đó, kinh tế công nghiệp đang chuyển dần thành kinh tế thông tin và xã hội cũng phát triển theo xu hướng hình thành một xã hội thông tin
Máy tính điện tử và CNTT
CNTT khởi đầu từ lúc con người chế tạo ra các loại máy móc tự động thực hiện một số chức năng xử lý thông tin, trước hết là các máy tính điện tử (MTĐT) để chế tạo ra MTĐT người ta phải tìm được cách biểu diễn thông tin bằng các tín hiệu kỹ thuật và cách thực hiện các hoạt động lưu trữ, xử lý thông tin bằng các biện pháp xử lý kỹ thuật trên các tín hiệu tương ứng
Trang 14Trong hoạt động của con người, thông tin thường được thể hiện qua các hình thức như chữ số, chữ viết, tiếng nói, âm thanh, hình ảnh, màu sắc nghĩa là được thể hiện bằng nhiều hệ thống tín hiệu rất đa dạng và phong phú Tuy nhiên trong MTĐT và các thiết bị thông tin để biểu diễn thông tin người ta dựa vào trạng thái vật lý của các vật liệu Đầu tiên là các bóng bán dẫn rồi đến các tinh thể con người mới tạo được hai trạng thái khác nhau của vật chất
là “đóng” và “mở” Do đó việc mã hoá thông tin chỉ dùng hai trạng thái trên
và để thuận tiện người ta dùng hai con số toán học là 0 và 1 để biểu diễn sự
mã hoá này Cùng với sự phát triển của toán học, bằng nhiều phương pháp
mã hoá kết hợp các phương pháp xấp xỉ bằng cách làm gián đoạn, rời rạc, các tín hiệu liên tục, người ta có thể mã hoá mọi dạng biểu diễn thông tin bất kỳ bằng các dãy ký hiệu chỉ gồm hai số 0 và 1
Do có thể biểu diễn mọi dạng thông tin bất kỳ qua một hệ thống tín hiệu đơn giản và thống nhất dựa trên các ký tự nhị phân, MTĐT đã trở thành thiết bị xử lý thông tin thống nhất và đa năng Trên nguyên tắc mọi quá trình
xử lý thông tin đều có thể quy về một trình tự thực hiện liên tiếp của các phép toán sơ cấp đơn giản nên cấu trúc một MTĐT gồm: bộ lôgic-số học thực hiện các phép toán sơ cấp theo trình tự quy định; bộ nhớ để ghi các chương trình tính toán và dữ liệu; các thiết bị đưa dữ liệu vào và đưa kết quả ra Kết cấu đó được gọi phần cứng của máy tính, nó là bộ khung vật chất cơ bản cho quá trình xử lý thông tin nhân tạo Còn phần logic của quá trình xử lý thông tin được người dùng đưa vào để điều khiển cỗ máy đó thông qua các lệnh Tập hợp các lệnh đó tạo nên một chương trình xử lý thông tin và đó gọi là phần mềm của máy tính Đây là phần linh hoạt nhất của máy tính, nó tuỳ biến theo mục đich của người dùng và là phần mang nhiều dấu ấn đặc trưng nhất của con người Tuỳ nhu cầu xử lý khác nhau người ta chia phần mềm ra làm nhiều loại như phần mềm hệ thống, phần mền tiện ích và phần mềm ứng dụng
Có thể thấy MTĐT và việc xử lý thông tin bằng MTĐT là thành phần
cốt lõi của CNTT Tuy nhiên theo nghĩa rộng CNTT là một thuật ngữ dùng
để chỉ ngành khoa học và công nghệ liên quan đến thông tin và các quá
Trang 15trình xử lý thông tin Theo cách nhìn đó, CNTT bao gồm các luận cứ
khoa học, các phương tiện và giải pháp kỹ thuật để xử lý thông tin Công nghệ này đòi hỏi phải có phương tiện là máy tính và mạng truyền thông; nguyên liệu là nội dung thông tin để tổ chức, lưu trữ, xử lý và khai thác
1.1.1.2 Những đặc điểm chính
CNTT là một công nghệ mũi nhọn:
Mũi nhọn ở đây có nghĩa là chóp của một kim tự tháp, được xây dựng trên thành quả của nhiều khoa học và công nghệ khác Ví dụ như việc tự sản xuất các bản mạch bìa in (printed board) hay “Bản in mặt hậu” (Back panel)
là một bước tiến rất lớn trong công nghệ vì nó giúp việc sản xuất các thiết bị điện tử được thuận lợi hơn, giá rẻ hơn và đặc biệt độ là ổn định cao hơn hẳn các loại mạch cũ Nhưng hiện nay để có thể gắn các mạch tổng hợp vào bản
in, người ta phải in được trên bìa những đường dây rộng khoảng 0,10 mm, cách nhau cũng cỡ đó, đục lỗ xuyên bìa và hàn cũng với đường kính đó với
độ chính xác tương ứng Phải nắm vững kỹ thuật tráng nhựa Epoxy nhiều lớp trong một nhà máy rất sạch mới có thể thực hiện được Mặc khác việc vẽ những mạch in trên bìa cũng cần những chương trình “tìm đường” (routing)
có độ chính xác cao, sử dụng những phương pháp gần tối ưu của vận trù học (operational research) Tóm lại công nghệ đó là kết quả tổng hợp của ngành toán học, hoá học, quang học, cơ khí chính xác cũng như công nghệ làm mạch tổng hợp, nhưng ở mức độ tinh vi hơn nhiều
Dĩ nhiên công nghệ mũi nhọn luôn luôn nặng về tri thức, và đó cũng
là đặc điểm của CNTT Công nghệ hay người ta còn gọi là “cách làm” (know how) là thành quả của nhiều nghiên cứu, thử nghiệm Đây là yếu tố then chốt
để phát triển một ngành công nghiệp và để nắm bắt nó cần có một cơ sở lý thiết vững vàng về khoa học Chính điều này đã giải thích tại sao để phát triển CNTT chúng ta cần đặc biệt quan tâm tới vấn đề phát triển nguồn nhân lực
Trang 16 Một công nghệ được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực
Hiện nay CNTT được sử dụng trong mọi lĩnh vực từ khoa học tới kinh
tế và xã hội Khởi đầu CNTT được sử dụng chủ yếu trong nghiên cứu khoa học rồi cùng với sự lớn mạnh của công nghiệp nó là con át chủ bào cho quá trình tự động hoá công nghiệp Đến nay CNTT đã trở thành công cụ hữu hiệu nhất trong quản lý và truyền thông Hơn thế nữa nó đang thay dổi cuộc sống của chúng ta bởi những vi mạch tinh khôn trong các đồ dùng sinh hoạt Một
ví dụ cụ thể chỉ một nửa doanh số của công nghiệp điện tử được bán ra để sản xuất máy tính (Mỹ 60% và Nhật 40%), tức là để phục vụ hai lĩnh khoa học, quản lý Còn lại 20% cho lĩnh vực công nghiệp và 30% cho khu vực sản xuất hàng tiêu dùng
Một công nghệ có nhiều tầng lớp
Chữ 'tầng lớp' để nói một cách tổng quát nhất về các khâu đoạn sản xuất trong CNTT, cả phần cứng lẫn phần mềm, và về sự liên hệ giữa chúng với nhau, cũng như các chuẩn mực trong sự liên hệ ấy Nó bao gồm chữ 'tầng' (layers) thường được dùng trong phân tích hệ thống, và chữ 'tầng giao thức' (protocol layers) có ý nghĩa hẹp và chính xác hơn
Có thể phân chia thành những tầng lớp sau trong CNTT, mỗi tầng lớp được xây dựng trên các tầng lớp phía dưới :
Các chương trình ứng dụng riêng cho từng cơ quan, xí nghiệp, đó có thể là thành lập từ một ngôn ngữ lập trình ít hay nhiều cao cấp, dựa trên những hệ quản trị cơ sở dữ liệu Tầng lớp trên cùng này thường được viết tại chỗ hoặc thiết kế tại chỗ và đặt gia công bên ngoài
Phần ở giữa các chương trình ứng dụng và hệ mềm cơ bản Phần này là chỗ phức tạp nhất và giàu có nhất Nói chung ở đây là sản phẩm của các công ty chuyên sản xuất phần mềm, trong đó kỹ nghệ phần mềm của Mỹ chiếm ưu thế tuyệt đối, trừ một vài ngoại lệ ở châu Âu có kết quả tốt, như robotics trong lĩnh vực công nghiệp, ngôn ngữ lập trình Ada, Prolog Nhật gần như không bán ra bên ngoài những chương
Trang 17trình gì đáng kể, có lẽ vì hàng rào ngôn ngữ Có thể tạm chia làm bốn lĩnh vực khác nhau :
- Các chương trình ứng dụng tổng quát, chuyên cho quản lý, xử lý văn bản, tính toán công nghiệp hay tính toán khoa học (ngôn ngữ lập trình cao cấp như Mathematica, các hệ quản trị cơ sở dữ liệu .) Người dùng cuối cùng có thể viết những ứng dụng dễ dàng hay cũng có thể sử dụng thẳng mà không cần viết chương trình gì thêm
- Các chương trình gọi là "middleware", cho phép các chương trình ứng dụng phân tán (có thể tổng quát hay không) sử dụng tới mạng thông tin
ở mức dễ dàng và trừu tượng, thông qua hệ điều hành mạng Về mặt ứng dụng trong quản lý đây là lĩnh vực quan trọng nhất hiện nay
- Các chương trình gắn liền với một sản phẩm đặc biệt nào đó (embedded systems), với những giao diện sử dụng đặc biệt thẳng với người dùng, như ở trong máy giặt, máy hát, máy bay, trò chơi Thật ra loại chương trình này có thể thấy ở khắp các lĩnh vực, chỗ nào có bộ vi
xử lý mà không phải là một máy tính đều có nó Nhưng đặc điểm của chúng là tự giấu kín Các chương trình này thường do những hãng làm sản phẩm tự viết ra hoặc đặt gia công tại các công ty chuyên phát triển
hệ mềm
- Và sau cùng là một mảng cũng khá đồ sộ những chương trình được làm ra để phục vụ chính bản thân việc nghiên cứu và phát triển ngành CNTT và ứng dụng trong quản lý, tính toán và điều khiển Ngoài các ngôn ngữ lập trình ra, phải kể đến các chương trình phụ giúp việc phát triển và quản lý phát triển phần mềm ; cũng như các chương trình để làm mạch tổng hợp ASIC hay để sử dụng các FPGA (ASIC: (Application Specific Integrated Circuit) là các mạch tổng hợp có chức năng nhất định Còn lại là bộ nhớ, và các linh kiện có thể được biến đổi để làm các mạch điện tử khác nhau, trong đó đặc biệt có FPGA (Field Programmable Gate Array) là các linh kiện có thể được thay đổi chức năng ngay trước khi hoạt động, khi linh kiện đã nằm trong bìa
Trang 18điện tử Một FPGA hiện nay có thể tương đương 1 triệu transistors)
Những chương trình loại sau này thường rất đắt, hàng chục hoặc hàng trăm ngàn đôla, và thường chạy trên các trạm làm việc mạnh
Tầng lớp thứ ba gồm những 'khả dụng” (facilities) về phần mềm khiến cho các chương trình ứng dụng tổng quát hay đặc biệt hoạt động được Đó chủ yếu là hệ điều hành và hệ điều hành mạng Sự phân cấp của hai loại khả dụng này tương đối phức tạp vì chúng chồng chéo lên nhau và tuỳ thuộc các nhà sản xuất, cũng như tuỳ thuộc các loại mạng Có thể gộp vào trong tầng này tất cả các chương trình rất lớn nằm trong các “trạm tiếp chuyển” (router), và các trạm đảo mạch (switch) thuộc nhiều loại khác nhau Đặc biệt ở đây, trừ phần mềm viễn thông ngoài Internet, kỹ nghệ phần mềm của Mỹ từ trước tới nay là nắm độc quyền
Tầng lớp thứ tư có thể coi như bao gồm tất cả các hệ máy và mạng đang hoạt động trên thế giới Việc sản xuất các máy này bắt đầu từ: làm ra các bìa in trong đó có gắn các linh kiện điện tử; rồi lắp ráp với phần điện, cơ khí, các thiết bị ngoại vi để trở thành một máy tính hoàn hảo, hay một
bộ phận của một thiết bị công nghiệp hay một sản phẩm tiêu dùng Khâu đoạn này chủ yếu là dùng nhân công rẻ nên đó là thế mạnh của Châu á ngoài Nhật, đặc biệt Hồng Kông, Hàn Quốc, Đài Loan và Singapoe Đài Loan sản xuất được các 'bìa mẹ' (mother board) cho PC và các máy PC hoàn chỉnh, hiện 80% bìa mẹ dùng cho PC trên thế giới được sản xuất tại Đài Loan Singapoe rất mạnh về các thiết bị ngoại vi
Tầng lớp cuối cùng là việc sản xuất các linh kiện điện tử Hiện nay chỉ có
Mỹ, Nhật và châu Âu là có công nghệ hoàn chỉnh làm các mạch tổng hợp Sau giai đoạn sản xuất wafers và in mạch tổng hợp trên wafers, cần các nhà máy siêu sạch và siêu chính xác rất tối tân, công việc còn lại là đặt và hàn những mạch in trần đó vào hộp thành linh kiện, cần nhiều nhân công
rẻ, thường được các công ty quốc tế làm tại các chi nhánh ở châu á như Malaysia, Singapore Nhưng những linh kiện sản xuất đại trà (bộ nhớ là chủ yếu) đã được sản xuất tại Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore, kể cả giai đoạn làm wafers trong các nhà máy mua của Mỹ hay Nhật
Trang 19Có một điều rất quan trọng là một nền công nghệ có nhiều tầng lớp như trên, và lại trải ra khắp hoàn cầu, vẫn luôn luôn tiến bộ được nhịp nhàng ? vì không phải mỗi lúc, mỗi tháng hay mỗi năm mà có thể thay đổi tất cả các công đoạn để thành một bước nhảy vọt mới trong công nghệ, phần cứng cũng
như phần mềm Đó chính là khía cạnh chuẩn trong giao diện của những
tầng lớp nói trên (thương lượng trong các tổ chức nghề nghiệp, hay do một
công ty áp đặt qua vị trí thượng phong của họ) Những giao diện này được nghiên cứu rất kỹ để tồn tại lâu hơn các sản phẩm trong mỗi công đoạn, và khi thay đổi nhanh và mạnh hơn trước thì vẫn giữ được tương thích với quá khứ gần, tuy phải trả cái giá là có thể không khai thác được 100% công xuất
mà kỹ thuật mới có thể đem lại Tuy nhiên sự tương thích này vẫn cần những sửa chữa nhất định, và những sửa chữa chất chồng làm cho sản phẩm về lâu dài có thể trở thành xấu đi về mặt chất lượng, và đến một lúc nào đó cũng phải thay đổi toàn bộ Cho đến nay khía cạnh xấu này được che lấp do sức tiến luỹ thừa của công nghệ cơ bản đã không chỉ bù vào mà còn cho phép tăng khá cao chức năng và hiệu xuất các hệ mềm nhìn từ phía người sử dụng
Một công nghệ biến chuyển rất nhanh
Những quan sát thị trường hàng ngày cho thấy sự biến chuyển thường trực của các sản phẩm máy tính PC và ngoại vi Những biến chuyển này chạy theo kịp đà tiến của công nghiệp điện tử cơ bản theo quy luật Moore, với giá
cố định thì khả năng các linh kiện mỗi 18 tháng lại tăng gấp đôi Và quy luật thực nghiệm này còn có điều kiện kéo dài trên mười năm nữa trước khi gặp phải hàng rào của những quy luật vật lý cơ bản
Thiết kế hệ thống biến chuyển chậm hơn, và phần mềm ứng dụng tổng quát còn biến chuyển chậm hơn nữa Đứng về mặt chất lượng phải nói hàng thập kỷ mới nảy sinh những thiết kế hệ thống độc đáo hay những chương trình ứng dụng tổng quát mới, các thế hệ mạng cơ quan (LAN) cũng vậy Và trong một thiết kế hệ thống nhất định, nếu không thay đổi cơ bản các giao diện mà có những sự nâng cấp tương ứng (thí dụ tăng vận tốc của 'Bus' ), thì
Trang 20hiệu năng của sản phẩm có thể tiến triển theo kịp với hiệu năng của kỹ nghệ
cơ bản (trường hợp PC) Đứng về mặt viễn thông đường dài thì những dịch
vụ (services) được sáng tạo, cài đặt và chấp nhận còn chậm hơn nữa
Tuy nhiên, chúng ta đang chứng kiến trên thế giới sự nảy sinh khá đồng bộ của một loạt những tiến bộ mới về mạng, về phần mềm cơ bản và về thiết kế hệ thống Đó là :
- Ngôn ngữ Java, cho phép chỉ viết chương trình một lần để nó hoạt động được ở bất cứ nơi nào
- Phong trào phần mềm tự do (free software), mà điển hình là hệ điều hành Linux
- Các mạng cục bộ cực nhanh (100 - 1000 megabít/g) dùng trong các cơ quan, mạng đường dài bằng cáp quang, kỹ thuật ADSL cho phép tăng vận tốc thông tin đến từng nhà riêng vài chục lần mà không cần thay giây đồng hiện có
- Chuẩn CORBA, cho phép các chương trình tin học phân tán cộng tác được với nhau
- Chuẩn XML, xác định ngôn ngữ giao diện (interface) cho mạng Internet, tổng quát hơn ngôn ngữ HTML
- Thiết kế xử lý song song ở mạng tầm rộng (WAN), vừa (LAN) và hẹp (cụm máy tính, cluster) dựa trên các linh kiện hay/và thành phẩm đã có sẵn và được sản xuất đại trà
- Công nghệ tác tử (agent), công nghệ để thực hiện trong tương lai những ứng dụng di động và thông minh Đó là những chương trình có thể tự động di chuyển trong mạng viễn thông đến các nơi để hoạt động với một mục đích nào đó
Có thể tiên đoán trong vòng vài năm nữa những công nghệ này sẽ lần lượt chín muồi và kết hợp được với nhau để hình thành một bước phát triển mới của CNTT, rẻ hơn, chất lượng tốt hơn, và khả năng phục vụ cao hơn hiện nay Khi đó sẽ cần rất nhiều chuyên gia trong các ngành nghề và chuyên gia
Trang 21CNTT cộng tác với nhau để thực hiện những phần mềm ứng dụng dựa trên các thành quả nghiên cứu này
Một công nghệ mà sở hữu trí tuệ đóng vai trò tối quan trọng trong việc
phát triển
Là một công nghệ mũi nhọn có hàm lượng tri thức cao nên vấn đền
bảo vệ tri thức đóng vai trò rất quan trọng trong chính sách phát triển CNTT
của các quốc gia Các sản phẩm CNTT đặc biệt là các sản phẩm phần mềm
và các dịch vụ gia tăng giá trị, việc sao chép hết sức đơn giản và nhanh chóng Để ra đời một sản phẩm phải đầu tư tiền bạc, công sức, thời gian rất lớn lại có thể sẽ dễ dàng bị sao chép, bày bán công khai chỉ trong vòng một hai tuần sau khi được tung ra thị trường Hơn nữa cách chuyển giao cũng hết sức đơn giản, có thể chỉ là một vài đoạn mật mã, một vài công thức nằm gói gọn trong không đến 1/4 trang A4 Chính vì vậy việc bảo hộ sở hữu trí tuệ là điều then chốt để phát triển được CNTT
1.1.2 Vai trò của CNTT
1.1.2.1 CNTT hình thành nên một nền kinh tế mới và và là nền tảng của
một phương thức sản xuấ kinh doanh mới
Xét về mặt phương thức hoạt động, CNTT đang làm thay đổi về cơ bản về phương thức hoạt động sản xuất - kinh doanh nói riêng và các hoạt động kinh
tế nói chung Năm 1997 nhà kinh tế học Wunul cho rằng “Số hoá, tin hoá và mạng hoá đã đặt cơ sở kỹ thuật cho sự xuất hiện và phát triển của xã hội tri thức” và đến lượt nó sự xuất hiện của xã hội tri thức lại làm biến đổi tính chất của nền sản xuất Điều này được thể hiện ở “ba hoá” sau đây:
- Từ lao động chân tay sang lao động trí óc, sự xuất hiện của tầng lớp công nhân “cổ cồn” và vượt số công nhân “cổ xanh‟ ở Mỹ được Nightsbitt coi
là dấu hiệu của sự biến đổi xã hội Mỹ từ xã hội công nghiệp sang “xã hội thông tin tri thức”
Trang 22- Từ sản xuất vật chất sang sản xuất phi vật chất Vật chất (được cấu tạo bởi những nguyên tử (Atom) đơn vị cơ bản của mọi vật chất) sang những thứ phi vật chất (đơn vị truyền tin cơ bản (Bit) )
- Từ tính khép kín, tính khu vực sang tính mở, tính toàn cầu
Năm 1998, nhà kinh tế học Reich đã cộng thêm ba hoá nối trên một hoá nữa
là chuyển từ sản xuất khối lượng lớn sang sản xuất có giá trị cao Các loại hình kinh doanh mới như truyền thông, dịch vụ ngân hàng, tài chính, sản xuất các loại sản phẩm có hàm lương tri thức cao phục vụ từng nhu cầu khó tính của mọi khách hàng đang phát triển rộng rãi và thu được nhiều lợi nhuận hơn hẳn so với sản xuất khối lượng lớn Bởi vì đây là một loại hình sản xuất kinh doanh mà sản xuất kinh doanh mà sản phẩm của nó khó bắt trước và cũng không cần số lượng thật lớn
Như vậy có thể thấy CNTT là một cơ sở quan trọng làm biến đổi tính chất
và phương thức sản xuất - kinh doanh Quan trọng hơn là nó đem đến những cái lợi thu được không phải là từ đất đai, sức lao động hay tư bản mà chính là
từ tri thức loài người, nói cách khác tri thức đã trở thành một yếu tố sản xuất trực tiếp và là “tiêu chuẩn vàng” của thời đại hiện nay
Nếu như trong nền kinh tế cũ, mục tiêu quan trọng nhất là tối ưu hoá tiến trình sản xuất đại quy mô; do đó đòi hỏi phải có một tổ chức có đẳng cấp và
kỷ luật công nghiệp, thì nay trong nền kinh tế mới, điều quan trọng là phát minh khoa học, kỹ thuật và khả năng phát hiện các công nghệ mới Tổ chức doanh nghiệp vì thế phải mỏng, nhẹ nhằm khuyến khích sự sáng tạo và thích nghi với điều kiện kinh doanh thay đổi nhanh chóng Thử thánh lớn nhất hiện nay cho giới lãnh đạo doanh nghiệp là quản lý kiến thức (knowledge management), chứ không phải là quản lý sản xuất hay quản lý tài chính nữa Trong nền kinh tế mới, đại đa số người lao động làm việc bằng trí óc để
xử lý thông tin, chứ không phải làm việc bằng chân tay để chế biến hàng hoá vật chất Hiện nay ở Mỹ, hơn 75% lực lượng lao động làm công việc xử lý thông tin, chứ không phải xử lý vật chất Thông tin có thể được số thức hóa
dễ dàng, vì vậy càng thích hợp với nền kinh tế Internet
Trang 23Quá trình hình thành nền kinh tế mới cũng thay đổi cung cách lao động Trong trường hợp của Mỹ, mô hình lao động đã biến dạng rất nhiều so với
mô hình cổ điển Khi đó công nhân viên làm việc từ 9 giờ sáng đến 5 giờ chiều tại các xí nghiệp, văn phòng Nhân viên trong các doanh nghiệp được
tổ chức thành đẳng cấp, ngạch thật rõ ràng Nhưng hiện nay, khoảng 10% lực lượng lao động là người hành nghề độc lập, chứ không phải là nhân viên của một công ty, khoảng 20 triệu người làm việc từ xa (telecommuting), ở nhà không cần đến cơ quan trong giờ làm việc ít nhất một ngày trong một tháng (tăng gấp đôi so với năm 1993) Khuynh hướng làm việc với giờ giấc linh động, qua mạng Intranet hay Internet ngày càng tăng, con số tăng từ 15% lực lượng lao động năm 1991 tới 30% hiện nay Năm 1999, có 17 triệu người chủ động đổi việc, so với 6 triệu người trong năm 1994 Bây giờ chỉ có 1 trong 5 công nhân còn được xếp vào loại không cần hoặc không có tay nghề chuyên môn, so với tỷ lệ 3 trên 5 trong năm 1950 Các doanh nghiệp có cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, ít cấp quản lý, phần lớn công việc được thực hiện bởi cộng đồng chuyên gia cùng với khách hàng, được tổ chức một cách linh động, nhanh chóng thích nghi với nhu cầu và nội dung công tác Chiến lược đầu tư bây giờ là mua khái niệm mới và mua khả năng tạo ra chúng, chứ không phải mua máy móc thiết bị mới Sở hữu trí tuệ và bảo vệ sở hữu trí tuệ trở thành vấn đề quan trọng hàng đầu trong quan hệ kinh doanh quốc tế, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển
Trong nền kinh tế mới, giá trị tăng thêm ngày càng được tạo ra bởi những yếu tố vô hình như sáng chế, phát minh, thiết kế mẫu mã, tiếp thị, thương hiệu, dịch vụ tài chính, quản lý kinh doanh v.v Giá trị tăng thêm của các yếu tố đầu vào là vật chất và vật chế biến ngày càng giảm đi Hiện giá của các tài sản vật chất của các công ty ở châu Mỹ và châu Âu nói chung chỉ bằng 25% giá trị các công ty này trên thị trường chứng khoán Phần lớn giá trị của các công ty này phản ánh các yếu tố vô hình kể trên
Trong nền kinh tế cũ, cạnh tranh diễn ra chủ yếu trong phạm vi địa phương hay quốc gia Trong nền kinh tế mới, cạnh tranh diễn ra trên phạm vi
Trang 24trong thị trường đầu vào, đầu ra và tài sản doanh nghiệp) đã chiếm một nửa toàn bộ hoạt động kinh tế của nhân loại Tỷ lệ toàn cầu hóa này sẽ tăng lên nhanh chóng và đã ảnh hưởng đến phần thế giới còn lại
Mạng lưới viễn thông cũ và mới cũng rất khác nhau Mạng cũ chủ yếu dùng tính tương tự (analog) và chuyển mạch (circuit-switched); mạng mới dùng số thức, IP (Internet Protocol; Giao thức Internet) và chuyển gói (packet-switched) Chi phí trong hệ thống cũ tính trên phút, dựa trên thời gian
và khoảng cách gọi Trong hệ thống mới, phí tính trên megabyte truyền, vì thế không phụ thuộc vào thời gian và khoảng cách nối mạng; làng toàn địa cầu đã trở thành hiện thực Sau cùng, trong mạng cũ, hệ thống viễn thông do nhà nước sở hữu và điều hành, nhưng trong mạng mới, hệ thống viễn thông được tư nhân hóa và tự do hóa rất nhiều Đặc biệt mạng Internet toàn cầu chịu rất ít luật lệ trói buộc và hiện nay các hoạt động thương mại điện tử không bị đánh thuế
Rõ ràng CNTT là một lực lượng quan trọng bởi vì nó trở thành một công cụ “khuếch đại sức mạnh của não giống như các công nghệ của cuộc cách mạng công nghiệp khuếch đại sức mạnh của cơ bắp”
1.1.2.2 CNTT tạo nên một nền tảng văn hoá xã hội mới, nền văn hoá tri
thức với xu hướng đổi mới không ngừng
Với sự phát triển CNTT người ta đã thấy tồn tại một nền văn hoá tri thức mới với tinh thần chịu mạo hiểm sáng tạo tri thức mới, của cái mới Chính phủ nhận thức được vai trò của mình trong giáo dục, trong việc khuyến khích sáng tạo và chấp nhận rủi ro mà hoạt động kinh doanh, văn hoá đòi hỏi, trong việc định ra những thể chế tạo thuận lợi cho việc biến những ý tưởng thành hiện thực Bên cạnh đó tri thức trở thành vốn quý nhất trong nền kinh tế Trước đây, nhiều nhà nghiên cứu thường coi lao động và vốn là hai yếu tố chủ chốt của sản xuất, còn tri thức, giáo dục, công nghệ là các yếu tố bên ngoài của sản xuất tuy có ảnh hưởng nhất định tới sản xuất Tri thức khác
Trang 25với vốn hay lao động ở chỗ người có kiến thức nếu trao kiến thức cho người khác thì kiến thức sẽ không mất đi mà lại được sử dụng tốt hơn, càng trao cho nhiều người thì khả năng sử dụng nó tạo ra của cải, lợi ích càng nhiều Mặt khác, chi phí để phổ biến tri thức ra công chúng để làm tăng số người sử dụng bằng không
Quyền sở hữu đối với tri thức trở thành quan trọng nhất, hơn cả vốn, tài nguyên, đất đai, ai chiếm hữu được nhiều tài sản tri thức và giữ gìn được
nó sẽ có những lợi thế vô cùng to lớn
Nói đến nền văn hoá mới người ta không chỉ nghĩ đến CNTT mà thực
ra là nói đến nền văn hoá cho cả một nền kinh tế mới, nền kinh tế tri thức với CNTT là hạt nhân Tuy nhiên có thể nói rằng chính CNTT là khởi nguồn của một nền văn hoá mới đó, CNTT còn là đối tượng trực tiếp của lực lượng sản xuất
Bên cạnh đó sự dân chủ trong xã hội CNTT cũng được phát huy mạnh
mẽ Thông tin đến được với mọi người, mọi người đều dễ dàng truy cập các thông tin cần thiết Do đó đặt ra vần đề là phải dân chủ hoá các hoạt động và
tổ chức điều hành trong xã hội Người dân nào cũng có thể được thông tin kịp thời về các quyết định của nhà nước, cơ quan, các tổ chức có liên quan Họ
có thể có ý kiến ngay nếu thấy không phù hợp Vì thế phải tạo được không khí dân chủ, cách làm việc dân chủ Khi chuẩn bị các quyết định, các chính sách, luật pháp cơ quan nhà nước rất dễ dàng đưa ra lấy ý kiến nhân dân Việc tập hợp ý kiến, nguyện vọng của nhân dân cũng rất dễ dàng, thuận tiện
CNTT cũng làm thay đổi cách tổ chức quản lý Mô hình chỉ huy tập trung có đẳng cấp bị thay thế bằng mô hình phi đẳng cấp, phi tập trung, mô hình mạng trong đó tận dụng các quan hệ ngang vì thông tin đến được một cách thuận lợi, nhanh chóng tất cả mọi nơi, không đi qua các nút xử lý trung gian Đó là mô hình tổ chức dân chủ, nó linh hoạt trong điều hành, dễ thích nghi với đổi mới, khơi dậy sự năng động và sáng tạo của mọi người
Hơn thế nữa giáo dục và đào tạo từ xa có sự hỗ trợ của CNTT cũng đang giúp nâng cao chất lượng các chương trình giảng dạy và học tập Người
Trang 26đi học ở khắp mọi nơi có thể thông qua mạng Internet và các công cụ hỗ trợ khác để đăng ký và tham gia học tập CNTT tạo nên một xã hội học tập Mọi người đều học tập, học thường xuyên, học ở nhà, học ở trường và học trên mạng để không ngừng trau dồi kỹ năng, phát triển trí sáng tạo và cũng để chủ động theo kịp sự đổi mới nhưng cũng có khả năng thúc đẩy sự đổi mới Phát triển con người trở thành nhiệm vụ trung tâm của xã hội Tri thức trở thành
sự đeo đuổi của người dân, những người muốn hoà nhập vào nền kinh tế mới, muốn làm giầu trong xã hội hiện đại
1.1.2.3 CNTT giúp nền kinh tế phát triển mạnh mẽ trong tiến trình toàn cầi hóa
Đây là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt để thấy mối quan hệ hữu cơ của sự phát triển CNTT như là một điều kiện tiên quyết cho việc phát triển kinh tế trong khung cảnh toàn cầu hoá Theo cơ quan thống kê về kinh tế thương mại của chính phủ Mỹ thì từ 1995 tới 1998 sản lượng của CNTT Mỹ chiếm 8% sản lượng quốc dân (GDP), nhưng lại tạo ra 35 % sự tăng trưởng kinh tế trong thời gian này Các nước phát triển có tỷ lệ đầu tư vào CNTT rất cao, đều trên dưới 7% của GDP trong năm 1997 Có thể thêm là cũng trong năm này, giá trị gia tăng do CNTT đem lại là 4,4% GDP tại Mỹ và từ 3,5 % tới 4 % tại các nước châu Âu
Thêm vào đó CNTT cung đem lại nhiều ích lợi cho khách hàng và doanh nghiệp khi tiến hành giao dịch điện tử như cho phép thực hiện nhiều dịch vụ mới và làm giảm đáng kể giá thành của nhiều dịch vụ đã có sẵn, đồng thời lại tăng chất lượng của dịch vụ Thí dụ một dịch vụ ngân hàng trung bình tốn 1,14 USD nếu thực hiện tại chi nhánh và tốn có 1 xu nếu thực hiện bằng Internet, mà lại chỉ cần ngồi nhà
CNTT với thông tin mau lẹ và tự động cho phép tối ưu hoá dây chuyền cung ứng vật liệu cho mọi ngành nghề, thí dụ hãng viễn thông BT đã giảm được 1 tỷ USD trên 9 tỷ trong ngân sách mua vật liệu hàng năm
Trang 27Cuối cùng CNTT cho phép tối ưu hoá sự chọn lựa của khách hàng và tối thiểu hoá lượng sản phẩm tồn kho và dư thừa Thí dụ công ty máy tính DELL chuyên bán trực tiếp qua Internet chỉ thực hiện sản xuất sau khi khách hàng đã chọn lựa mẫu máy (trong 50% sản lượng) và vì thế đã đem lại lợi nhuận cao
Tóm lại, CNTT ảnh hưởng trực tiếp đến việc thay đổi cách thức làm việc và tổ chức kinh doanh trong toàn xã hội
Trong nền kinh tế mới, có sự hội tụ (convergence) của nhiều ngành công nghiệp, không những để hình thành những công nghiệp mới, mà còn thay đổi cách tổ chức, hoạt động của cả nền kinh tế, cũng như cách sinh hoạt, giải trí của cả xã hội Rõ ràng nhất là sự hội tụ giữa công nghiệp tính toán (máy tính điện tử, máy vi tính, bộ vi xử lý), công nghiệp điện thoại và viễn thông (hệ thống và dịch vụ điện thoại viễn thông hữu tuyến và vô tuyến) và công nghiệp thông tin, phát hành (sách, báo, âm nhạc, truyền thanh và truyền hình) Về mặt kỹ thuật, có ba loại hội tụ: hội tụ giữa chuyển tải và nội dung, hội tụ giữa chuyển tải tiếng nói và dữ liệu, và hội tụ giữa điện thoại hữu tuyến và vô tuyến Biểu hiện cho quá trình hội tụ này là việc các công ty thuộc các ngành công nghiệp nói trên đã hợp nhất với nhau để hình thành những doanh nghiệp lớn, có thể cung cấp một cách tối ưu vừa khả năng chuyển tải và xử lý dữ liệu, vừa nội dung của thông tin, chủ yếu dựa trên mạng Internet toàn cầu (điển hình là việc AOL mua TimeWarner, hay Vodafone mua Mannesmann)
Sự hội tụ này tạo ra nhiều hướng, cơ hội và điều kiện nghiên cứu, phát minh trong nhiều ngành KHKT khác nhau, hứa hẹn sẽ tiếp tục thay đổi đời sống của nhân loại Nó cũng tăng tốc độ phổ biến và khả năng truyền bá các phát minh KHKT lên các mặt hoạt động của xã hội
Nền kinh tế mới toàn cầu hoá cũng là nền kinh tế nối mạng toàn cầu (globally networked economy) Việc tăng hiệu năng kinh doanh trong sản xuất và phân phối phần lớn, nếu không muốn nói là hoàn toàn, tùy thuộc vào việc kết nối mạng giữa các nhà sản xuất, cung ứng bán thành phẩm và linh
Trang 28kiện, phân phối sỉ và lẻ với người tiêu thụ Hệ thống cung ứng, trao đổi qua Internet tạo điều kiện để có sự gặp gỡ giữa rất nhiều người cung và người cầu Việc trao đổi thông tin về khả năng cung cấp, nhu cầu, yêu cầu về mẫu
mã, phẩm chất, giá cả v.v xảy ra trong thời gian thực (real time), vì vậy quá trình khám phá giá rất nhanh chóng và hữu hiệu; phí tổn hành chính giảm rất nhiều cho mọi bên đối tác
Hệ thống nối mạng này càng mở, càng có nhiều thành viên trên khắp thế giới, thì nó càng hữu ích và có giá trị cho mỗi thành viên Phía cầu được hưởng giá rẻ, hàng phẩm chất tốt; phía cung có khả năng sản xuất với khối lượng lớn, để có thể tận dung tính kinh tế của quy mô lớn (economy of scale) Mô hình kinh tế nối mạng vì thế tạo ra lợi ích cho cả hai bên cung và cầu, khác với tình trạng bên được - bên thua (trong trò chơi mà kết quả cộng lại bằng không [zero-sum game]) thường thấy trong nền kinh tế cũ Việc hợp tác giữa các thành viên trong mạng vì vậy trở thành nhu cầu khách quan, mang lại lợi ích cho mọi người
Mặt trái của mô hình này là không phải ai cũng có thể tham gia các hệ thống cung ứng, trao đổi này được Chỉ những doanh nghiệp và ở các nước hội đủ tiêu chuẩn tối thiểu về khả năng kỹ thuật, chất lượng, tổ chức, quản lý
và định chế mới được mời tham gia Sau khi được kết mạng, các doanh nghiệp phải luôn luôn tìm cách cung cấp hàng hóa hay dịch vụ có thể tạo ra giá trị tăng thêm lớn nhất cho các đối tác của mình mới được sử dụng Nếu không được kết mạng; hoặc đã ở trong mạng nhưng không còn khả năng tạo giá trị tăng thêm, doanh nghiệp sẽ nhanh chóng bị biên tế hoá hay bị đào thải
Nền kinh tế nối mạng toàn cầu vì vậy vừa mở ra nhiều cơ hội kinh doanh có hiệu năng kinh tế cao, nhưng cũng làm cho sự cạnh tranh càng sâu sắc thêm Vừa cạnh tranh, vừa hợp tác đã trở thành một nét tiêu biểu cho nền kinh tế kết mạng toàn cầu Tuy nhiên, nếu cạnh tranh trong nền kinh tế TCH
là khó khăn, thì hợp tác trong nền kinh tế TCH còn khó khăn hơn nữa, vì cạnh tranh thành công rồi mới được mời hợp tác
Trang 29Trong nền kinh tế kết mạng, việc phân tán thông tin nhanh, rộng và hữu hiệu (đưa thông tin cần thiết đúng lúc đến đúng người cần sử dụng) cũng trở thành một đòi hỏi, đồng thời cũng là một lợi thế; nó nâng cao hiệu năng kinh tế của mỗi thành viên trong mạng và của toàn mạng
Mô hình hoạt động này tăng tính dân chủ của thông tin, việc sử dụng thông tin và quá trình quyết định Mọi thành viên của doanh nghiệp hay trong mạng lưới khi được cung cấp đầy đủ thông tin đều có thể phản ánh thông tin trở lại, bồi bổ cho vốn thông tin chung, làm cho nó nhạy bén, toàn diện và hữu ích hơn Cách hoạt động này ngược hẳn với mô hình cũ, trong đó độc quyền lưu giữ thông tin và bí mật thông tin là cơ sở tạo nên quyền lực
Nền kinh tế mới TCH vừa triển khai kỹ thuật, công nghệ mới, tạo ra sản phẩm, dịch vụ mới và lại vừa lan ra trên phạm vi toàn cầu còn rất nhiều chỗ thiếu đầu tư, nên đang ở gian đoạn tăng tốc kết quả khi tăng quy mô (increasing return to scale) Trong mô hình này, chi phí biên tế (marginal cost) rất thấp, hiệu ứng mạng lưới cao, nên giá thành trung bình giảm xuống trong dài hạn Trái lại, nền kinh tế cũ đã trưởng thành, bắt đầu thừa ở đầu vào (dư thừa khả năng sản xuất) và gặp giới hạn ở đầu ra (tình trạng bão hòa mức cầu trên thị trường), nên đã đi vào giai đoạn giảm tốc đó là kết quả khi tăng quy mô (decreasing return to scale) Điều này có nghĩa nếu sản lượng tăng quá một mức nào đó, thì giá thành trung bình cũng tăng theo Có nhiều thí dụ
cụ thể biểu hiện tình trạng tăng tốc kết quả Phần lớn các loại hàng trong nền kinh tế Internet như thông tin, chương trình phần mềm, âm nhạc hay giải trí không có tính loại trừ nhau (non rivalry) - một người dùng không triệt tiêu hay cản trở sự thụ hưởng của người khác
Khi được phân phối qua Internet, chi phí biên của các loại hàng này gần như là số không Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ và mạng Internet, nếu càng thu hút được nhiều khách thuê bao, nhiều công ty quảng cáo và bán hàng, dịch vụ trên mạng, thì nội dung của mạng càng thêm phong phú và càng có giá trị cho người sử dụng Khi mạng bắt đầu có ích lợi, thì lại càng
dễ thu hút khách hàng thuê bao, công ty quảng cáo và như vậy càng tăng
Trang 30Càng có nhiều người sử dụng Windows thì càng có nhiều công ty sản xuất chương trình phần mềm, máy vi tính, dụng cụ điện tử cầm tay dựa trên Windows; như vậy càng làm cho nó gần như trở thành tiêu chuẩn cho công nghệ PC và càng có giá trị hơn cho người sử dụng lẫn cho công ty Trong lĩnh vực tính toán, xử lý, chuyển tải dữ liệu cũng như viễn thông, tiến bộ KHKT đã làm khả năng ngày càng tăng và giá thành giảm gấp bội phần Điều này làm cho tình trạng tăng tốc kết quả khi tăng quy mô có khả năng hiện thực Nhiều khi tiến bộ KHKT đã thay đổi một hệ thống cũ trong tình trạng giảm tốc kết quả thành một hệ thống mới có khả năng tăng tốc kết quả; như trong trường hợp công nghệ ADSL làm tăng rất lớn tốc độ chuyển tải số liệu qua hệ thống dây điện thoại bằng đồng dẫn tới nhà Các công ty điện thoại truyền thống, những tưởng phải chi đầu tư rất lớn để xây dựng hệ thống cáp quang, thì nay có thể cung cấp dịch vụ Internet, ngay cả qua băng rộng, qua
hệ thống dây đồng có sẵn; biến một nhược điểm thành một lợi thế cạnh tranh
Hậu quả của tình trạng tăng tốc kết quả khi tăng quy mô là những doanh nghiệp đi đầu trong các lĩnh vực KHKT thường được hưởng lợi thế rất lớn so với các doanh nghiệp đi sau Lợi thế này đã giúp các doanh nghiệp tiên phong thành công, phát triển nhanh và rộng lớn; giá trị thị trường chứng khoán tăng gấp bội phần và lớn hơn GDP của nhiều quốc gia Điều này cũng giải thích tại sao phần lớn các công ty CNTH khổng lồ này là của Mỹ, vốn đã
đi đầu trong việc đầu tư và phát triển CNTH và Internet Đại bộ phận (hơn 95%) việc chuyển tải thông tin, dữ liệu qua hệ thống viễn thông và Internet trên thế giới trung chuyển qua Mỹ, cũng như 96 trên 100 máy chủ Internet thông dụng nhất trên thế giới là của Mỹ Công suất chuyển tải giữa Mỹ với các châu lục là cao nhất, trong khi đó công suất chuyển tải giữa các châu lục với nhau còn rất thấp [18] Vì thế năm 1998 có tới 50% luồng giao thông Internet giữa các nước châu Âu phải trung chuyển qua Mỹ Đến cuối năm
1999, thì lượng trung chuyển này giảm xuống còn 1/3 (nguồn: Financial Times.)
Sự tập trung này, chủ yếu phản ánh mô hình giá tài sản cố định cao, giá thành biên tế rất thấp, gần như không, cũng dễ dẫn đến tình trạng độc
Trang 31quyền, dựng hàng rào cản các doanh nghiệp đi sau Đây là nội dung sự kết án của Bộ Tư Pháp Mỹ đối với công ty Microsoft và hệ điều hành Windows Nhưng trong thời đại cách mạng KHKT, đe dọa lớn hơn cho Microsoft chưa hẳn là chính phủ Mỹ, mà có thể là sự cạnh tranh của hệ thống điều hành Linux, hiện đang được phổ biến miễn phí với cả chương trình gốc trên Internet, cho nên ngày càng được nhiều người sử dụng và cải tiến Nói một cách khác, trong nền kinh tế mới, ngay cả các doanh nghiệp tiên phong đã thành công cũng bị đe dọa biến thành lạc hậu nếu không chịu luôn luôn đổi mới
1.2 Đặc điểm phát triển CNTT thông qua các kinh nghiệm quốc tế
1.2.1 Tình hình phát triển CNTT của thế giới
Trải qua quãng thời gian dài với sự phát triển của hệ thống viễn thông,
sự phát triển của các ngành khoa học chính xác CNTT ngày càng trở thành một ngành kinh tế quan trọng, mang lại những thành tựu lớn lao cho xã hội loài người Vào những năm 50, 60 máy tính chủ yếu được dùng chỉ để tính toán thì ngày nay còn được dùng để xử lý mọi loại thông tin và là phương tiện cho hầu hết các loại hình hoạt động của con người
Chiếc máy tính đầu tiên xuất hiện vào năm 1946 chỉ đạt tốc độ 607 nghìn phép tính/giây nhưng chiếm diện tích tới 1800m2 với giá 450 nghìn USD lúc bấy giờ Ngày nay một máy tính thông thường đạt tới tốc độ hàng tỷ phép tính/giây với giá chỉ còn 300-400 USD Xã hội ngày càng phát triển và vai trò của công nghệ tin học và viễn thông ngày càng tăng Mức đầu tư vào công nghệ tin học và viễn thông tăng nhanh trong những năm qua, chiếm tỷ trọng trung bình 7% trong GDP của các nước OECD Đồng thời nó cũng kích thích tăng đầu tư đổi mới công nghệ, thiết bị nói chung trong các ngành kinh
tế khác, đến nay ngành CNTT thế giới đã có những phát triển vượt bậc, có thể kể đến như sau:
- Công nghệ chip điện tử phát triển rất mạnh, làm cho khả năng tính toán và
Trang 32định luật của Gordon Moore, cứ sau mỗi 18 tháng, khả năng xử lý của chip vi tính tăng gấp đôi; còn giá thành thì cứ mỗi năm giảm 25% Các chip và bộ vi xử lý ngày càng được thu nhỏ kích thước, chuyên môn hoá
và dùng rất ít năng lượng Chúng được ghép vào máy tính, các dụng cụ cầm tay và các máy móc, đồ dùng khác, đẻ ra các thế hệ dụng cụ mới, tinh khôn hơn, không những chỉ để phục vụ sinh hoạt mà còn tạo điều kiện thúc đẩy nghiên cứu trong nhiều ngành KHKT
- Công nghệ phần mềm phát triển nhanh không kém gì sự tiến bộ của phần cứng và đã đóng phần quan trọng trong việc đưa CNTH vào phục vụ đời sống và kinh doanh Các hệ thống Hoạch Định Tài Nguyên Doanh Nghiệp (Enterprise Resource Planning: ERP) hay Quản Lý Kiến Thức (Knowledge Management) đã giúp các công ty đa quốc gia cải tiến rất nhiều khả năng quản lý toàn cầu, bằng cách làm hữu hiệu hơn quá trình báo cáo, xử lý, ra quyết định và kiểm soát các dữ kiện kinh tế, tài chính,
sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp và tình hình cạnh tranh trên thị trường Các công ty cung cấp dịch vụ áp dụng (Application Service Provider) đang xuất hiện, nhằm mục đích cung cấp các dịch vụ phần mềm hay cho thuê các chương trình phần mềm qua Internet; người dùng không cần phải mua và cài đặt vào PC của mình nhiều chương trình như trước đây, mà có thể thuê chương trình mình cần Dịch vụ này giúp cho các doanh nghiệp nhỏ cũng có thể dùng hệ thống ERP hay KM; và người dùng có cơ hội sử dụng nhiều chương trình khác nhau
- Kỹ thuật số thức hoá (digitalisation) ngày càng được áp dụng phổ biến Số liệu, chữ viết, tiếng nói, âm nhạc, hình ảnh v.v đều được số thức hoá dễ dàng, rất thuận tiện cho việc xử lý bằng máy tính và trao đổi qua các hệ thống viễn thông và Internet Tiến bộ này đã sản sinh ra các hệ thống và dụng cụ đa phương tiện (multimedia), hình thành một thế hệ sản phẩm và dịch vụ mới Đặc biệt trong trường hợp Ti vi các nước công nghiệp đang chuyển từ hệ thống phát hình tương tự (analog) sang hệ thống số thức (chính phủ Mỹ đã quyết định đến năm 2006 thì hoàn tất việc chuyển đổi này; Liên Hiệp Châu Âu sẽ đổi xong sớm hơn.) Phát hình số thức (digital)
Trang 33vừa tiết kiệm việc sử dụng tần số phát sóng, vừa tăng chất lượng phát hình, lại vừa mở ra sản phẩm và dịch vụ TV ứng đáp (interactive TV), nhất là khi khả năng chuyển tải (bandwidth) sắp được tăng cao Dịch vụ này có khả năng tối ưu hoá sự lựa chọn của người xem (đúng chương trình và vào lúc mình muốn: video on demand) cũng như việc phát sóng (chỉ phát một chương trình ở một thời điểm đến một máy TV, thay vì phát nhiều chương trình cùng một lúc cho tất cả mọi người thuê bao.) TV ứng đáp cũng trở thành một công cụ truy nhập Internet, và qua đó sẽ nhận các dịch vụ Thương Mại Điện Tử
- Công nghệ Internet/Web sau khi ra đời đã được phổ biến nhanh chóng Theo thống kê để đạt mức 50 triệu người sử dụng, điện thoại phải mất 74 năm; radio mất 38 năm; PC mất 16 năm; máy truyền hình mất 13 năm; còn WWW chỉ mất có 4 năm Cũng theo International Telecommunication Union, số máy chủ Internet (Internet hosts) và các nước được nối mạng tăng rất nhanh
Bảng 1: Số lượng máy chủ và nước nối mạng theo các năm
Năm Máy chủ (triệu chiếc) Số nước nối mạng
Trang 34triệu ở Mỹ và 500 triệu ở các nước khác Theo đà tăng trưởng này, trong 2
- 3 năm nữa số địa chỉ điện tử sẽ lớn hơn số điện thoại; và trở thành một phương tiện thông tin đại chúng rất quan trọng
- Tiếng Anh được sử dụng rộng rãi trên Internet, nhưng các ngôn ngữ khác cũng bắt đầu xuất hiện
Bảng 2: Tỷ lệ các ngôn ngữ được sử dụng trên Internet
Nguồn: www.glreach.com (Global Reach)
- Công nghệ viễn thông cũng đã tiến bộ vượt bậc trong hai lĩnh vực công nghệ băng rộng (broadband) và viễn thông di động vô tuyến (wireless mobiles) Băng rộng tăng khả năng chuyển tải dữ liệu với khối lượng rất lớn và rất nhanh, tính theo Megabit/giây chứ không còn tính theo Kilobit/giây nữa Băng rộng sẽ phát huy hết khả năng của nó khi hệ thống cáp quang (fiber optic cable) được rải đặt khắp nơi Hiện nay, hệ thống điện thoại cáp và dây đồng rất phổ biến, gần như ở đâu cũng đã có đặt Thay thế toàn bộ hệ thống dây đồng cho dặm cuối cùng (last mile) đi vào từng hộ gia đình bằng cáp quang rất tốn kém Tuy nhiên trong tương lai không xa lắm, nhiều công ty dịch vụ điện thoại viễn thông sẽ đưa hệ thống cáp quang vào sử dụng thương mại, sau khi hoàn tất các công trình rải đặt trong mấy năm vừa qua Trong lúc chờ đợi, nhiều công nghệ đã ra đời nhằm tăng khả năng chuyển tải qua hệ thống cáp đồng Công nghệ đang được sử dụng rộng rãi hiện nay là ISDN (Integrated Services Digitalized
Trang 35Network), công suất 64 - 128 kilobCNTT một giây, có thể dể dàng nối mạng với các hệ thống ISDN hay POTS (Plain Old Telephone System) khác Mới nhất là công nghệ TDSL(có công suất lý thuyết là 6 Megabit/giây; mới được Deutsche Telekom triển khai ở Đức) hay ADSL (Asymmetric Digital Subscribers Lines; Singapore là nước đầu tiên đã triển khai mạng ADSL ra khắp lãnh thổ) Công nghệ ADSL có công suất
2 Megabit/giây cho phần lấy xuống (download) và 512 Kilobit/giây cho phần gởi lên (upload), vì thông thường người thuê bao lấy xuống nhiều hơn là gởi lên Công suất này lớn hơn 10 lần so với ISDN, và hơn 50 lần
so với kỹ thuật nối mạng dùng hộp số (modem) qua băng hẹp (narrow band); tuy nhiên nó mới chỉ áp dụng được cho các mạng địa phương (local loop) ở Đức, công ty RWE và Veba cũng đang triển khai công nghệ dây điện (powerline technology), dùng những tần số khác với tần số tải điện 50 Herzt để chuyển tải tín hiệu thông tin đến tận mỗi nhà, với vận tốc cao gấp 4 lần so với hệ thống điện thoại và hộp số Công suất chuyển tải dữ liệu lớn như thế đã bắt đầu cho phép thực hiện các sản phẩm và dịch vụ đa phương tiện một cách nhanh chóng với chất lượng cao Đến khi hệ thống cáp quang được sử dụng một cách đại trà thì các sản phẩm và dịch vụ đa phương tiện sẽ phong phú, tiện dụng và phổ biến hơn nữa Điều này thể hiện qua mức tăng trưởng nhu cầu khả năng chuyển tải ngày càng cao
Bảng 3: Mức tăng trưởng nhu cầu truyền tải qua các năm
Năm Nhu cầu khả năng chuyển tải (ngàn Gbps)
Trang 36- Công nghệ viễn thông di động vô tuyến đã trải qua thế hệ 1 (tương tự,analog); thế hệ 2 (số thức digital, với nhiều tiêu chuẩn khác nhau: GSM: Global Standards for Mobiles ở Âu Châu và á Châu; PDC: Personal Digital Cellular ở Nhật; CDMA: Code Division Multiple Access hay TDMA: Time Division Multiple Access ở Mỹ, nên không thể chuyển mạng [roaming: khả năng di chuyển từ mạng điện thoại vô tuyến này sang mạng khác mà không bị cắt] trên toàn thế giới được); và hiện nay đang bắt đầu tiến sang thế hệ 3 (3G Mobiles)
Thế hệ 3G dùng băng rộng và dựa trên tiêu chuẩn chung IMT2000 (International Mobile Telecommunication 2000 do ITU phối hợp việc chuẩn hoá) để dung nạp các tiêu chuẩn 3G khác nhau, nên có thể chuyển mạng giữa các hệ thống hữu tuyến, vô tuyến, vệ tinh và giao thức Internet (IP) để chuyển tải tín hiệu tiếng nói, dữ liệu và đa phương tiện trên khắp thế giới Hiện nay, chính phủ Anh đang đi đầu trong việc tổ chức đấu thầu môn bài điện thoại cơ động vô tuyến 3G, sử dụng công nghệ UMTS (Universal Mobile Telecommunication System.) Trong tháng 4/2000, năm công ty điện thoại vô tuyến đã trúng thầu được cấp môn bài 3G, và phải trả lệ phí tổng cộng 22 tỷ bảng Anh cho chính phủ Anh Chính phủ các nước châu Âu khác cũng sẽ tổ chức đấu thầu cấp môn bài 3G trong thời gian tới Có khả năng là chính phủ các nước châu Âu sẽ thu được khoảng US$100-150 tỷ lệ phí môn bài 3G: đây là khoản thu không nhỏ cho ngân sách nhà nước, nhưng đồng thời cũng là gánh nặng cho các công ty điện thoại di động vô tuyến; khiến nhiều nhà phân tích lo ngại về khả năng phát triển của công nghệ 3G ở châu
Âu
- Trong thời gian vừa qua, trên thế giới cũng đang bắt đầu triển khai là công nghệ WAP (Wireless Applications Protocol: Giao thức áp dụng không dây) để giúp máy điện thoại di động vô tuyến có thể truy nhập mạng Internet Tuy nhiên, tốc độ chuyển tải dữ liệu qua giao thức WAP còn thấp (9.6 Kbit/ giây), và phải dùng ngôn ngữ WML (Wireless Mark up Language) nên giới hạn các địa điểm Web và các dịch vụ có thể cung cấp
Sự hạn chế này sẽ được khắc phục một phần lớn khi công nghệ GPRS
Trang 37(General Packet Radio Service) được áp dụng kết hợp với WAP để tăng tốc độ chuyển tải và có khả năng thường xuyên truy nhập Internet (always on) Công nghệ Bluetooth đến nay cũng đã được thương mại hoá; công nghệ này cho phép các dụng cụ điện tử, hoặc có gắn chip điện tử, có thể nói chuyện với nhau qua vô tuyến trong cự ly ngắn (như ở trong nhà hay văn phòng) Điều này cho phép trao đổi các mệnh lệnh và dữ liệu một cách dễ dàng giữa các dụng cụ điện tử, tạo thành những môi trường làm việc hay sinh hoạt vô tuyến
- Vì số máy điện thoại di động vô tuyến được sử dụng rất lớn, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng nó sẽ trở thành dụng cụ quan trọng nhất để truy nhập Internet và thực hiện các dịch vụ thương mại điện tử cho người tiêu thụ (B2C E-Commerce) Đến nay điện thoại di động vô tuyến đã trở thành một phương tiện truy cập Internet phổ biến trên toàn thế giới Theo Dataquest, trong năm 2002, mặc dù có giảm sút về doanh số, trên toàn thế giới điện thoại di động vẫn được bán và tiêu thụ nhiều hơn TV, PC, Stereo, VCR Hiện nay mức thâm nhập của điện thoại di động số thức lên tới 90% ở châu Âu, trên 80% ở Nhật, nhưng chỉ mới có 57% ở Mỹ (khoảng 70% số điện thoại tương tự [analog] trên thế giới còn đang được dùng ở Mỹ) Như thế, Mỹ đang đi sau châu Âu và Nhật trong lĩnh vực điện thoại di động vô tuyến (chủ yếu vì không sử dụng một tiêu chuẩn chung như GSM, và vì địa lý quá rộng nên hệ thống điện thoại tương tự hữu tuyến có sẵn vẫn còn tiện dụng); tuy nhiên đến thế hệ 3G thì khoảng cách này sẽ được san bằng
Bảng 4: Số lượng người sử dụng điện thoại vô tuyến di động theo các khu
Trang 38Châu Mỹ La Tinh 35
Nguồn: Analysys, Nua Internet Survey 2000
- Kết hợp những thành tựu của công nghệ tin học và viễn thông, các Hệ Thống Hoa Tiêu Vệ Tinh Toàn Cầu (GNSS: Global Navigation Satellite Systems) và Hệ Thống Định Vị Trí Toàn Cầu (Global Positioning System) đã phát triển mạnh; doanh số tăng trưởng 50% một năm trong thập kỷ qua Các hệ thống này cung cấp những dịch vụ cần xác định vị trí không thời gian trên toàn thế giới, như định vị trí, dẫn đường, hoa tiêu trong vận tải đường không, thủy và bộ Kết hợp khả năng di động và khả năng xác định vị trí không thời gian trên toàn thế giới sẽ mở ra nhiều cơ hội mới mà hiện nay chưa thấy hết được
Điều quan trọng hơn cả là những tiến bộ mới trong công nghệ viễn thông đã thay đổi mô hình kinh doanh vì giảm giá rất nhiều Thí dụ như trong hệ thống cáp viễn thông xuyên Đại Tây Dương, theo ITU trong gần 2 thập kỷ qua, khả năng chuyển tải tăng trung bình 64% một năm, nhưng giá thành giảm 41% một năm Cụ thể hơn, chuyển tải bộ Tự Điển Bách Khoa Britanica 32 quyển
từ New York đến San Francisco qua Internet mất 97 phút, và tốn 187 USD, trong năm 1970 Hiện nay có thể gởi 8 bộ Britanica như thế trong 1 giây, chỉ tốn mấy chục xu; hay gởi toàn bộ Thư Viện Quốc Hội xuyên nước Mỹ qua hệ thống cáp quang chỉ tốn 40 USD Phí sử dụng điện thoại và viễn thông dần
dà được tính trên khối lượng thông tin chuyển tải, tính theo gói (packet), chứ không còn tính theo thời gian hay khoảng cách như trước đây nữa Điều này thu nhỏ quả đất lại: liên lạc với nhau trong cùng một thành phố hay giữa các châu lục không khác gì nhau Ngoài ra, việc thường trực truy nhập mạng Internet cũng trở thành phổ thông, mở cửa cho những thế hệ sản phẩm và dịch vụ mới
Theo dự đoán của ITU, đến năm 2005 trên thế giới sẽ có:
• 1.4 tỷ đường dây điện thoại
Trang 39• 1.1 tỷ người thuê bao điện thoại di động vô tuyến
• 400 - 500 triệu người dùng Internet
• 2.5 ngàn tỷ phút vận tải tiếng nói và số liệu
• 1 triệu GigabCNTT (1 Petabit)/giây chuyển tải trên mạng Internet
• Thị trường dịch vụ Tin Học (TH) lên tới 1.1 ngàn tỷ USD
• Thị trường dụng cụ TH lên 400 tỷ USD
1.2.2 Một số kinh nghiệm quốc tế về phát triển CNTT
Trong khoảng 3 thập kỷ qua, sự phát triển CNTT đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn Việc ứng dụng CNTT đã góp phần làm cho các nước phát triển nhanh hơn về kinh tế, làm biến chuyển mạnh mẽ về xã hội Đối với các nước đang phát triển nó có tác động vô cùng lớn lao vào tiến trình công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế
Các nước công nghiệp đang tích cực chuẩn bị nền móng của nền kinh tế tri thức, trong đó CNTT là một trong những hạ tầng cơ sở đóng vai trò quan trọng Trong 15 năm qua CNTT ở các nước phát triển tăng trưởng liên tục Năm 1985 phần đóng góp của CNTT chiếm là 4,9% GDP của các nước này thì tói năm 1990 là 6,1%, năm 1993 là 6,4%, từ 1993 đến 1998 là 8,2% và đến năm 2002 đã là 17%
Một số quốc gia mới công nghiệp hóa như Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore, Malaysia và một số quốc gia đang phát triển như ấn Độ, Trung Quốc, Philippines đã xây dựng rất thành công CNTT cả về phần cứng và phần mềm với tổng doanh số rất lớn, lên đến nhiều chục tỷ USD Sự đóng góp của CNTT ngày càng lớn trong nền kinh tế của nhiều quốc gia và trong việc tạo ra các khả năng rượt đuổi cho các quốc gia đang phát triển đã thôi thúc nhiều nước nỗ lực xây dựng và thực hiện các chiến lược, chương trình,
kế hoạch quốc gia trong lĩnh vực CNTT, nhằm tạo cho mình vị trí đi đầu
Trang 40Hiện nay trên thị trường CNTT thế giới đang được phân thành những đoạn thị trường riêng do một hoặc một vài quốc gia nắm giữ Những đoạn thị trường được phân thành:
Thị trường linh kiện điện tử do Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Malaysia, Singapore
và Đài Loan nắm giữ tới 80% thị trường thế giới
Thị trường thiết bị ngoại vị có độ chính xác cao như ổ cứng, màn hình, máy in do Singapore nắm giữ So với số 3 triệu dân thì Singapore có doanh số về thiết bị tin học lên tới 25 tỷ USD chủ yếu là do làm gia công cho các hãng quốc tế lớn như IBM, SUN, Seagate và nhiều hãng nổi tiếng khác
Thị trường lắp ráp thành phẩm ở giai đoạn cuối Malaysia giữ thị phần lớn nhất (chủ yếu cần nhân công khéo tay) với giá trị là 7,54 tỷ USD cao hơn Pháp (7,27 tỷ) một chút, với dân số chỉ khoảng hơn một phần ba
Thị trường làm bìa mẹ cho PC của Đài Loan hiện đang lớn nhất thế giới (năm 1994 lên tới 80% doanh số thế giới) Mặc dù không có doanh số bằng Singapore, tuy dân số nhiều hơn 7 lần nhưng doanh số (17,89 tỷ) của Đài Loan cũng đã rất cao, hơn gấp 6 lần Pháp, nếu tính theo đầu người
Và Đài Loan hơn gấp đôi Malaysia với dân số tương đương Những điều này phản ảnh cơ chế giá trong máy tính hiện nay, giá các thiết bị ngoại vi
là cao hơn nhiều lần giá bìa mẹ, và giá phần cơ khí điện từ là rẻ nhất
Thị trường màn ảnh mỏng gần như sở trường riêng của Nhật (Nhật sản xuất 80% màn ảnh mỏng cho cả thế giới ) trong khi đó thị trường của bộ
vi xử lý gần như được độc quyền bởi Mỹ, bên cạnh đó Mỹ cũng sản xuất
và xuất khẩu phần mềm hàng đầu thế giới
Một trường hợp cũng rất đáng để ý là Ireland, chỉ có 4 triệu dân, mà có doanh
số về thiết bị tin học cao hơn cả Pháp, 59 triệu dân, và ý , 57 triệu dân Nếu ta
để ý là mức sống ở đây tương đối thấp so với châu Âu thì thấy ngay đây cũng
là nơi lắp ráp thiết bị tin học cho châu Âu Ireland cũng là nơi xuất khẩu phần mềm nổi tiếng