1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển các loại hình doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam

95 504 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của luận văn là khẳng định tầm quan trọng của các loại hình doanh nghiệp tư nhân đối với nền kinh tế quốc dân, phân tích những điểm thành công và chưa thành công của Việt Nam t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ HỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

Lê thị vân liêm

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

PHÁT TRIỂN CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP KHU VỰC KINH TẾ

TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM

(CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ)

MÃ SỐ: 60.31.01

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: PGS TS: TRỊNH THỊ HOA MAI

Hà nội - 2007

Trang 2

6 Phương Hữu Việt (2002) “Phát triển các thành phần kinh tế ngoài kinh

tế Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” Luận án tiến sỹ Kinh tế

7 Viện thông tin khoa học- xã hội (2003) “Kinh tế tư nhân trong giai đoạn toàn cầu hoá hiện nay” Nhà xuất bản khoa học- xã hội

8 “Việt Nam hướng tới 2010” (2001) (tập 1- 2) Tuyển tập báo cáo phối hợp nghiên cứu chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của các chuyên gia quốc tế

và Việt Nam Nhà xuất bản Chính trị quốc gia

9 Kinh tế xã hội Việt Nam 3 năm 2001- 2003 (2003) Nhà xuất bản thống kê

10 Niên giám thống kê năm 2004, 2005, 2006 Nhà xuất bản thống kê 11.Văn kiện Đại hội Đảng VI đến Đại hội Đảng X Nhà xuất bản Chính trị quốc gia

11 Tạp chí Kinh tế và phát triển các số năm 2004 đến năm 2007

12 Tạp chí Cộng sản các số năm 2004 đến năm 2007

13 Con số và sự kiện các số năm 2004 đến năm 2007

14 Tạp chí Lý luận Chính trị các số năm 2004 đến năm 2007

Trang 3

Bảng 2.3 Số doanh nghiệp tư nhân đang hoạt động sản xuất kinh doanh tại

thời điểm 31/12 hàng năm phân theo loại hình doanh nghiệp

Bảng 2.6 Quy mô về vốn của doanh nghiệp trong khu vực kinh tế tư nhân

Bảng 2.7: Thực trạng lãi, lỗ của các loại hình doanh nghiệp khu vực kinh tế

tư nhân (2003 - 2005)

38

40

Bảng 2.8 Số doanh nghiệp tại thời điểm 31/12/2005 phân theo quy mô lao

động và phân theo loại hình doanh nghiệp

42

Bảng 2.9 Phát triển của doanh nghiệp tư nhân tại Hà Nội qua các con số

Bảng 2.10: Thuế và các khoản nộp ngân sách của các doanh nghiệp trong

khu vực kinh tế tư nhân

Bảng 2.11: Trình độ của đội ngũ chủ doanh nghiệp tư nhân

Chương 1: Một số vấn đề chung về các loại hình doanh nghiệp tƣ

nhân ở Việt Nam.

6

1.1Vị trí của các loại hình doanh nghiệp tư nhân trong nền kinh tế thị trường 6

1.1.2 Vai trò của các loại hình doanh nghiệp tư nhân trong nền kinh tế thị trường

1.2 Thực trạng phát triển các loại hình doanh nghiệp tư nhân ở một số quốc gia và bài học cho Việt Nam

7

17

Trang 4

1.2.2 Một số bài học cho Việt Nam 25

Chương 2: Thực trạng phát triển các loại hình doanh nghiệp tư

nhân ở Việt Nam

28

2.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của các loại hình doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam

Chương 3: Định hướng và một số giải pháp phát triển các loại hình doanh

nghiệp tư nhân ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập

Trang 5

3.2.3 Gia tăng số lượng gắn với nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 79

3.3 Một số giải pháp chủ yếu để phát triển các loại hình doanh nghiệp tư nhân

ở Việt Nam

79

3.3.5 Tạo điều kiện, đưa ra giải pháp phù hợp để các loại hình doanh nghiệp trong khu vực kinh tế tư nhân phân bổ đồng đều

84

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết nghiên cứu của đề tài

Công cuộc đổi mới ở Việt Nam được tiến hành từ Đại hội Đảng VI (Tháng 12/1986) bằng việc chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước Đây là sự chuyển biến có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của đất nước, phù hợp với quy luật phát triển khách quan, đáp ứng yêu cầu của xã hội và thời đại Từ đó vấn đề phát triển nền kinh tế nhiều thành phần được đặt ra như một yêu cầu tất yếu đối với Việt Nam Kinh tế tư nhân với các loại hình doanh nghiệp khác nhau ngày càng trở thành bộ phận quan trọng quyết định sự lớn mạnh của nền kinh tế

Hiện nay, hội nhập kinh tế thế giới là xu thế tất yếu của thời đại Việt Nam đã và đang tiến hành hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu sắc và toàn diện, cho đến nay Việt Nam đã gia nhập Tổ chức hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN); Khu vực mậu dịch tự do AFTA của ASEAN; Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu á Thái Bình Dương (APEC); Đã ký hiệp định với EU; Hiệp định thương mại với Hoa Kỳ, Tổ chức thương mại thế giới WTO

Hội nhập mang lại cả những cơ hội và thách thức cho mọi nền kinh tế Để vận dụng các cơ hội do hội nhập mang lại thì bản thân quốc gia tham gia phải có

được một nền kinh tế phát triển năng động và bền vững Các doanh nghiệp

chính là lực lượng chủ đạo làm ra của cải vật chất, quyết định sự tăng trưởng nhanh và bền vững của nền kinh tế

đầu tư nước ngoài thì các loại hình doanh nghiệp tư nhân góp phần không nhỏ vào sự tăng trưởng của đất nước

Đại hội Đảng lần thứ VI là một bước ngoặt lịch sử trong quá trình phát

Trang 7

triển kinh tế ở nước ta Đại hội Đảng VI đã xác định nền kinh tế nhiều thành phần, giải phóng mọi lực lượng sản xuất, cải thiện cơ chế quản lý kinh tế và những chiến lược phát triển kinh tế lâu dài Việc phát triển khu vực kinh tế tư nhân là tất yếu để thực hiện nhiệm vụ chiến lược là giải phóng mọi lực lượng sản xuất nhằm phát triển sản xuất kinh doanh, đảm bảo dân giàu, nước mạnh

Thực tế đã chứng minh, sự phát triển của các loại hình doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam thời gian qua đã góp phần không nhỏ tới sự tăng trưởng kinh

tế của đất nước, giải quyết việc làm, tăng nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước

Nghị quyết Đại hội X của Đảng đã xác định "trên cơ sở ba chế độ sở hữu (toàn dân, tập thể, tư nhân), hình thành nhiều hình thức sở hữu và thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày

càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân Kinh tế tư nhân có

vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế"

Tuy nhiên, các loại hình doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn và hạn chế, chưa phát triển tương xứng với tiềm năng của nó Các loại hình doanh nghiệp tư nhân thường là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ về vốn, trình độ công nghệ quản lý còn hạn chế, khả năng cạnh tranh của các loại hình doanh nghiệp tư nhân còn ở mức thấp, nhiều doanh nghiệp tư nhân còn kém hiểu biết về pháp luật, chính sách

Nhận thấy tầm quan trọng của các loại hình doanh nghiệp tư nhân đối với

Trang 8

công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, tác giả đã nghiên cứu đề tài:

"Phát triển các loại hình doanh nghiệp khu vực kinh tế tƣ nhân ở Việt Nam” Mục tiêu của luận văn là khẳng định tầm quan trọng của các loại hình

doanh nghiệp tư nhân đối với nền kinh tế quốc dân, phân tích những điểm thành công và chưa thành công của Việt Nam trong việc phát triển loại hình doanh nghiệp này qua đó nêu ra một vài giải pháp cho thời gian tới

tế nhiều thành phần; vấn đề quản lý Nhà nước đối với kinh tế tư nhân; thực trạng kinh tế tư nhân ở nước ta; phương hướng, giải pháp và chiến lược phát triển kinh tế tư nhân trong tình hình hiện nay

- PGS.TS Trịnh Thị Hoa Mai - Kinh tế tư nhân trong tiến trình hội nhập, Nhà xuất bản thế giới, Hà Nội năm 2005 Tác giả đưa ra một cách nhìn khách

quan về kinh tế tư nhân với cả những ưu thế và hạn chế vốn có của nó; phân tích

đánh giá vai trò của khu vực kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

- Lê Khắc Triết - Đổi mới và phát triển kinh tế tư nhân Việt Nam Thực trạng và giải pháp Nhà xuất bản Lao động - Hà Nội 2005 Nội dung đưa ra thực trạng của kinh tế tư nhân Việt Nam từ năm 1986 đến nay

nghiệp tư nhân ở Việt Nam, để từ đó có đánh giá so sánh và chỉ ra xu hướng phát triển của mọi loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập ngày nay thì chưa có nghiên cứu cụ thể nào

Trang 9

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích: góp phần làm rõ cơ sở lý luận chung và thực tiễn đối với sự

phát triển của khu vực kinh tế tư nhân nói chung và phát triển các loại hình

doanh nghiệp tư nhân nói riêng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: các loại hình doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân

Việt Nam: Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần, Công ty hợp danh và

Doanh nghiệp tư nhân

- Phạm vi nghiên cứu: Thực trạng phát triển của các loại hình doanh

nghiệp tư nhân ở Việt Nam từ năm 1990 đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn này, việc nghiên cứu áp dụng theo phương pháp duy vật

biện chứng và duy vật lịch sử dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn, thông qua

thống kê, phân tích, đối chiếu và so sánh để tổng hợp và dự báo từ đó rút ra

những giải pháp tối ưu

6 Dự kiến những đóng góp mới của luận văn

- Làm rõ thực trạng hoạt động của các loại hình doanh nghiệp thuộc khu

vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

- Đề xuất những khuyến nghị nhằm phát triển các loại hình doanh

nghiệp tư nhân ở Việt Nam trong giai đoạn Việt Nam đã gia nhập WTO

Trang 11

CHƯƠNG 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC LOẠI HÌNH

DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM

1.1 Vị trí của các loại hình doanh nghiệp tư nhân trong nền kinh tế thị

trường

1.1.1 Khái niệm các loại hính doanh nghiệp tư nhân

Hiện nay, ở nước ta đối với thuật ngữ “khu vực tư nhân” hay nền kinh tế tư nhân còn có rất nhiều quan điểm khác nhau Sự phân loại kinh tế tư nhân theo các tiêu chí khác nhau, dưới nhiều góc độ khác nhau và theo nhiều cách tiếp cận, cách nhìn nhận theo thành phần kinh tế, theo hình thức tổ chức doanh nghiệp, theo khu vực kinh tế và đặc biệt là hình thức sở hữu Mỗi cách nhìn đều

có mục đích của nó và đều có những ưu điểm, hạn chế nhất định

Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, các loại hình doanh nghiệp tư nhân bao gồm các loại hình doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân, theo quy định của Luật Doanh nghiệp có hiệu lực từ ngày 1/1/2000, các loại hình doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam bao gồm:

1 Công ty trách nhiệm hữu hạn là loại hình công ty được thành lập trên cơ

sở góp vốn của các thành viên và thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ

và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp Số lượng thành viên không quá 50 người, không được quyền phát hành cổ phiếu

2 Công ty cổ phần là loại hình công ty được thành lập trên cơ sở góp vốn của các cổ đông và các cổ đông chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi vốn đã góp vào doanh nghiệp Vốn đựơc huy động bằng cách phát hành chứng khoán

3 Công ty hợp danh là loại hình công ty được thành lập trên cơ sở tham gia

Trang 12

ít nhất của hai thành viên hợp danh và có thể có các thành viên góp vốn ở đó Không được phép phát hành chứng khoán

4 Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp

1.1.2 Vai trò của các loại hính doanh nghiệp tư nhân trong nền kinh tế thị trường

Hiện nay, các doanh nghiệp của Việt Nam được sắp xếp thành ba khu vực chủ yếu là doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

và doanh nghiệp của khu vực kinh tế tư nhân Sau khi sắp xếp loại hình doanh nghiệp nhà nước chỉ còn khoảng gần 6.000 doanh nghiệp nắm giữ những ngành, lĩnh vực kinh tế trọng yếu của đất nước, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có khoảng 2.500 doanh nghiệp và đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế của đất nước nhưng sự phát triển của khu vực này sẽ bị giới hạn

vì nó phụ thuộc vào chiến lược của các nhà đầu tư trong nền kinh tế Chỉ có các loại hình doanh nghiệp trong khu vực kinh tế tư nhân có tiềm năng phát triển mạnh nhất và trong tương lai sẽ có tỷ trọng đóng góp ngày càng tăng trong tổng GDP của nền kinh tế, quyết định sự phát triển nhanh, ổn định của nền kinh tế Như vậy, sự tồn tại và phát triển của các loại hình doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân đã khơi dậy một bộ phận tiềm năng của đất nước cho phát triển kinh tế- xã hội Nguồn tiềm năng này là trí tuệ, kinh nghiệm, khả năng kinh doanh, quan hệ xã hội, tiền vốn, sức lao động của con người, tài nguyên, thông tin và các nguồn lực kinh tế khác

Không thể phủ nhận vai trò to lớn của khu vực kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường, trong đó các loại hình doanh nghiệp tư nhân có đóng góp không nhỏ Từ khi Luật Doanh nghiệp được thi hành (1/1/2000), các loại hình doanh nghiệp tư nhân ở nước ta đã phát triển mạnh mẽ, chỉ trong mấy năm gần đây khu vực tư nhân nói chung, các loại hình doanh nghiệp tư nhân nói riêng

Trang 13

phát triển mạnh lên, đóng góp ngày càng lớn vào sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước và dần khẳng định vai trò động lực của mình

Có thể nhận thấy rõ sự phát triển của các loại hình doanh nghiệp tư nhân qua các giai đoạn sau:

* Giai đoạn 1986 - 1990: đây là giai đoạn khởi đầu công cuộc đổi mới, các quan điểm đổi mới kinh tế do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đề ra dần dần được

cụ thể hoá thêm một bước, ví dụ về nông nghiệp, sau khi chỉ thị 100 về khoán đến nhóm và người lao động (năm 1981), ngày 05/04/1988, Bộ Chính trị Trung ương Đảng khoá VI ra nghị quyết 10 về “đổi mới kinh tế nông nghiệp” hộ nông dân được khẳng định là đơn vị kinh tế độc lập, tự chủ, được giao quyền sử dụng ruộng đất ổn định và lâu dài

Tháng 3/1989, Hội nghị lần thứ 6 của Ban chấp hành Trung ương (khoá VI) ra Nghị quyết về chủ trương thực hiện nhất quán chính sách cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, giải phóng mọi nguồn lực sản xuất Trên cơ sở những quan điểm của Đảng, Nhà nước ta cũng bắt đầu soạn thảo và ban hành một số đạo luật cho sở hữu tư nhân, kinh tế tư nhân và các loại hình doanh nghiệp tư nhân phát triển Tuy nhiên, trong giai đoạn này do hậu quả của những sai lầm cũ chưa được khắc phục, chúng ta đã gặp phải những khó khăn mới do những khuyết điểm mới nảy sinh trong những năm đầu đổi mới như: giá, tiền lương,

vỡ tín dụng, tranh chấp đất đai trong nông nghiệp… Mặt khác, tình hình quốc tế lại có những biến động lớn, tác động trực tiếp đến công cuộc phát triển kinh tế, bảo vệ đất nước xã hội chủ nghĩa của nước ta Trong bối cảnh như vậy, sở hữu

tư nhân, kinh tế tư nhân nước ta trong giai đoạn này chỉ mới bắt đầu được tái lập, còn phát triển chưa mạnh, chưa rõ nét, vì thế số lượng các loại hình doanh nghiệp tư nhân chưa nhiều

* Từ năm 1991-1999: đây là khoảng thời gian 10 năm Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân phát huy tác dụng, vì thế sở hữu tư nhân, kinh tế tư-

Trang 14

nhân trong giai đoạn này phát triển khá mạnh, số lượng doanh nghiệp tăng nhanh Tính chung thời kỳ 1991-2000, số lượng các loại hình doanh nghiệp tư nhân đăng ký kinh doanh tăng bình quân hàng năm là 96,24% từ 132 doanh nghiệp tư nhân năm 1991 đến hết năm 1996 có 30.897 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh Trong 9 năm 1991-1999 có 45.000 doanh nghiệp đăng ký, sự gia tăng về số lượng các loại hình doanh nghiệp tư nhân trong giai đoạn 1991- 1999 thể hiện ở bảng dưới đây:

Bảng 1.1: Số lƣợng các loại hình doanh nghiệp tƣ nhân đăng ký kinh

doanh (từ 1991-1999)

Đơn vị: Doanh nghiệp

Qua bảng trên ta thấy, số lượng các loại hình doanh nghiệp tư nhân đăng

ký tăng lên trong những năm đầu (1991-1994) sau khi Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân có hiệu lực, những năm sau lại giảm đi đến hết năm

1999 Điều đặc biệt chú ý là khi Luật Doanh nghiệp ra đời thay cho Luật Công

ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân thì số lượng doanh nghiệp tư nhân đăng ký

Trang 15

kinh doanh tăng mạnh, đây là dấu hiệu đáng mừng và các loại hình doanh

nghiệp tư nhân ngày càng thể hiện tầm quan trọng của nó trong nền kinh tế

Các loại hình doanh nghiệp tư nhân giải quyết công ăn việc làm cho một

lượng lớn lao động trong xã hội và tạo ra mức thu nhập cao, như vậy cũng là

nhân tố thúc đẩy các loại hình doanh nghiệp tư nhân phát triển mạnh hơn Điều

này được minh họa qua số liệu bảng sau:

Bảng1.2: Lao động và thu nhập của người lao động trong doanh

nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân

Lương bình quân (người/

tháng)

Lao động bình quân

Lương bình quân (người/

tháng)

Lao động bình quân

Lương bình quân (ngườ/

tháng) Doanh

Trong các loại hình doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân ở Việt

Nam thì loại hình Công ty hợp danh ở Việt Nam hoạt động rất ít, đến năm 2000

mới có 03 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh vì vậy sự đóng góp của nó không

đáng kể cho sự phát triển kinh tế xã hội trong nền kinh tế nước ta Còn lại 3 loại

hình doanh nghiệp là Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần và Doanh

Trang 16

nghiệp tư nhân cũng có vai trò quan trọng trong đội ngũ doanh nghiệp Việt Nam

và đóng góp nhiều đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước

Sự đóng góp của các loại hình doanh nghiệp này được nhìn nhận trên nhiều phương diện:

* Tăng vốn đầu tư xã hội: đây là đóng góp đầu tiên phải kể đến khi phân tích vai trò của các loại hình doanh nghiệp trong khu vực kinh tế tư nhân, mỗi loại hình có vai trò đóng góp riêng Vốn luôn đóng vai trò quan trọng, đặc biệt là trong hoạt động của doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân Vốn như là chiếc van điều tiết mọi hoạt động của doanh nghiệp Muốn mở rộng công ty hay đổi mới trang thiết bị, mua nguyên liệu, thuê công nhân… đều cần đến vốn

Trong những năm qua vốn đăng ký kinh doanh trong các loại hình doanh nghiệp tư nhân ngày càng tăng không chỉ về vốn đầu tư kinh doanh, vốn đăng

ký mà còn tăng cả về vốn sử dụng của doanh nghiệp Vốn đầu tư của các loại hình doanh nghiệp tư nhân chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đâu tư của khu vực kinh tế tư nhân và làm cho khu vực kinh tế tư nhân chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng vốn đầu tư phát triển xã hội

Từ năm 1991-1993 riêng các loại hình Doanh nghiệp tư nhân, Công ty trách nhiệm hữu hạn và Công ty cổ phần đã đầu tư 4.835 tỷ đồng vốn đăng ký Đến năm 1996, các loại hình doanh nghiệp tư nhân đã huy động được lượng vốn là 20.665 tỷ đồng Bình quân từ năm 1991-1996 mỗi năm tăng thêm 3.940

tỷ đồng, chiếm khoảng 5% tổng vốn đầu tư toàn xã hội Đến hết năm 1999 tổng vốn đăng ký của các loại hình doanh nghiệp tư nhân là 27.445 tỷ đồng, trong đó Doanh nghiệp tư nhân đăng ký 6.715 tỷ đồng, chiếm 24,47%, Công ty trách nhiệm hữu hạn đăng ký 15.422 tỷ đồng, chiếm 56,16%; Công ty cổ phần đăng

ký 5.315 tỷ đồng, chiếm 19,37%

Lượng vốn sản xuất kinh doanh bình quân của các loại hình doanh nghiệp tư nhân còn được thể hiện cụ thể ở bảng sau:

Trang 17

Bảng1.3: Vốn sản xuất kinh doanh bình quân hàng năm của các doanh nghiệp phân theo loại hình doanh nghiệp

đà cho nền kinh tế xã hội phát triển Trong 4 loại hình doanh nghiệp tư nhân thì lượng vốn của Công ty trách nhiệm hữu hạn chiếm tỷ trọng cao nhất, kỷ lục đến năm 2004 vốn của Công ty trách nhiệm hữu hạn là 204.534 tỷ đồng, tiếp theo là Công ty cổ phần 85.249 tỷ đồng Sự gia tăng không ngừng về lượng vốn sản xuất kinh doanh trong các loại hình doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế này ngày càng khẳng định vị thế và sự lớn mạnh của mình

* Giải quyết việc làm cho người lao động

Trang 18

Giải quyết việc làm ở mọi quốc gia là vấn đề quan trọng, đặc biệt đối với Việt Nam một quốc gia có lực lượng lao động đông đảo Hiện nay ở nước ta có khoảng 1,2-1,4 triệu người đến tuổi lao động, ngoài ra số lao động nông nghiệp

có nhu cầu chuyển sang làm việc trong các ngành phi nông nghiệp cũng không nhỏ Vì thế, yêu cầu mỗi năm phải tạo thêm được hàng triệu việc làm đang là một áp lực mạnh đối với Chính phủ và các cấp chính quyền địa phương Việc tạo thêm nhiều công ăn việc làm mới không chỉ giải quyết vấn đề xã hội, vấn đề

ổn định và phát triển kinh của nước ta hiện nay

Thế nhưng, trên thực tế hệ thống các doanh nghiệp nước ta đang trong quá trình cải cách không tạo được nhiều việc làm mới, khả năng thu hút lao động từ nước ngoài đang có xu hướng chững lại Nếu chỉ thông qua các doanh nghiệp nhà nước thì không bao giờ tạo đủ công ăn việc làm cho người lao động đặc biệt trong giai đoạn hiện nay Chỉ có khu vực kinh tế tư nhân và đặc biệt các loại hình doanh nghiệp trong khu vực kinh tế tư nhân mới có khả năng thu hút

và sử dụng nhiều lao động

Qua sự phân tích trên cho thấy vai trò rất to lớn của các loại hình doanh nghiệp trong khu vực kinh tế tư nhân đối với việc thu hút lao động và giải quyết việc làm cho người lao động trong xã hội Việt Nam ta hiện nay, cụ thể từng loại hình sẽ cho thấy đóng góp của nó đối với vấn đề giải quyết việc làm này Trong giai đoạn 1991-1996 bình quân mỗi năm kinh tế tư nhân giải quyết thêm khoảng 72.000 việc làm Năm 1996 có khoảng 336.145 người trực tiếp làm việc trong các Doanh nghiệp tư nhân, Công ty trách nhiệm hữu hạn và Công ty cổ phần Tương tự năm 1997 là 428.009 người, năm 1998 là 497.488 người (tăng 16,2% so với năm 1997) chiếm 1,3% lực lượng lao động xã hội Trong năm 1996-2000 lao động của khu vực kinh tế tư nhân tăng thêm 778.681 người (tăng 20,4%), trong đó lao động trong các loại hình doanh nghiệp tư nhân tăng thêm 487,459 người (tăng 137,57%)

Trang 19

Từ khi thực hiện Luật Doanh nghiệp thì lao động trong khu vực kinh tế tư nhân tăng là 21.017.326 người chiếm 56,3% lao động có việc làm thường xuyên của cả nước, trong đó lao động của hộ kinh doanh cá thể chiếm tỷ trọng lớn, lao động của doanh nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng đang tăng rất nhanh Nếu xét dưới góc độ lao động trong các loại hình doanh nghiệp thì đến hết năm

2002, lao động ở các doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân là 1.257.147, chiếm 32,6% tổng số lao động làm việc trong các loại hình doanh nghiệp

Bảng 1.4: Tổng số lao động trong các doanh nghiệp tại thời điểm 31/12 hàng năm phân theo loại hình doanh nghiệp

ty trách nhiệm hữu hạn 1.393.713 lao động; Công ty cổ phần 307.497 lao động;

kể cả Công ty hợp danh với số lượng rất ít cũng giải quyết được 445 lao động

Như vậy, các loại hình doanh nghiệp trong khu vực kinh tế tư nhân

Trang 20

không những tạo việc làm cho nhữmg người mới tham gia vào lực lượng lao động mà còn giải quyết việc làm cho những người lao động dôi dư từ cải cách doanh nghiệp nhà nước

* Đóng góp vào Ngân sách Nhà nước

Việc mở rộng khu vực kinh tế tư nhân đem lại một nguồn thu Ngân sách đáng kể Tuy đóng góp cho Ngân sách Nhà nước của các loại hình doanh nghiệp trong khu vực kinh tế tư nhân vẫn là con số nhỏ bé, nhưng đang có xu hướng tăng nhanh

Xét về lượng tuyệt đối và lượng tương đối, số nộp Ngân sách trong các loại hình doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân không nhiều như doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp của tư nhân không được bổ sung các nguồn lực để phát triển nhiều như doanh nghiệp nhà nước vì vậy sự đóng góp của các loại hình doanh nghiệp tư nhân là rất đáng khích lệ

Theo số liệu của Bộ Tài chính năm 2001 các loại hình doanh nghiệp trong khu vực kinh tế tư nhân nộp Ngân sách trên 11,075 tỷ đồng (bằng 14,8% tổng thu Ngân sách quốc gia) Nhìn chung, đóng góp trực tiếp vào nguồn thu Ngân sách Nhà nước của các loại hình doanh nghiệp tư nhân theo Luật Doanh nghiệp trong mấy năm qua tuy liên tục tăng lên nhưng vẫn chưa tương xứng với tốc độ phát triển của nó Nhưng ngoài đóng góp trực tiếp vào Ngân sách Nhà nước một phần không nhỏ các loại hình doanh nghiệp tư nhân còn tích cực tham gia

và có đóng góp đáng kể vào xây dựng các công trình văn hoá, trường học, đường giao thông nông thôn, các hoạt động xoá đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa… Cụ thể những đóng góp của các loại hình doanh nghiệp tư nhân như sau: từ khoảng 6,4% năm 2001 lên đến hơn 7% năm 2002 thu từ thuế công thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh năm 2002 đạt 103,6% kế hoạch, tăng 13% năm 2001

* Tạo môi trường cạnh tranh

Trang 21

Cạnh tranh là đặc tính nội tại trong nền kinh tế thị trường, đồng thời nó cũng là yếu tố chi phối, trực tiếp điều khiển hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Cạnh tranh vừa là động lực, vừa là nhân tố quyết định sự tồn tại

và phát triển của các loại hình doanh nghiệp tư nhân, các loại hình doanh nghiệp tư nhân luôn chiếm một vị trí quan trọng trong số các loại hình doanh nghiệp, nó tạo môi trường cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế khác, đòi hỏi mỗi thành phần kinh tế muốn tồn tại phải liên tục đổi mới cả về công nghệ, lĩnh vực kinh doanh, năng lực quản lý

Trước thời kỳ đổi mới, nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung, thị trường rất đơn điệu và chỉ mang tính hình thức, yếu tố cạnh tranh không phải là quan trọng do các doanh nghiệp không phải cạnh tranh với nhau để mua các yếu tố sản xuất và bán sản phẩm, mọi hoạt động đều do Nhà nước chi phối Quan hệ cung cầu, giá cả cũng mang tính mệnh lệnh chỉ huy, các thị trường không được thừa nhận

Từ khi thực hiện đổi mới, quan hệ hợp tác tiền tệ mới thực sự phát triển, các doanh nghiệp được tự do cạnh tranh với nhau trên thị trường nên các loại thị trường dần dần được thừa nhận và mở rộng cạnh tranh thương mại với các nước trong khu vực và thế giới

Sau quá trình phân tích về vai trò của các loại hình doanh nghiệp trong khu vực kinh tế tư nhân, có thể thấy các loại hình doanh nghiệp này đóng góp lớn trong sự phát triển kinh tế của đất nước:

- Tăng khả năng huy động vốn trong dân cư để phát triển kinh tế

- Tạo công ăn việc làm và góp phần xoá đói giảm nghèo

- Góp phần đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của người tiêu dùng

- Huy động được nhiều nguồn lực

- Tạo điều kiện thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hợp lý,

Trang 22

tạo ra sự phát triển đồng bộ giữa các ngành, các vùng lãnh thổ cũng như các thành phần kinh tế

- Tạo môi trường cạnh tranh và tăng nguồn thu thuế cho Nhà nước

- Góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế của quốc gia

- Tạo động lực cho quá trình hội nhập kinh tế thế giới

- Nâng cao năng lực quản lý của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường

1.2 Thực trạng phát triển các loại hình doanh nghiệp tƣ nhân ở một số quốc gia và bài học cho Việt Nam

1.2.1 Phát triển các loại hính doanh nghiệp tư nhân ở một số quốc gia

1.2.1.1 Trung quốc

Sau 20 năm thực hiện chính sách đổi mới và 10 năm phát triển kinh tế tư nhân, ngày nay các loại hình doanh nghiệp tư nhân Trung Quốc đã được đối xử công bằng một cách thực sự như đối với các doanh nghiệp quốc doanh Hiến pháp Trung Quốc sửa đổi năm 1999 đã “chính thức thừa nhận tầm quan trọng như nhau của khu vực tư nhân và khu vực nhà nước, thừa nhận đầy đủ vai trò của khu vực tư nhân không hạn chế quy mô, bình đẳng với các thành phần kinh

tế khác”

Doanh nghiệp tư nhân Trung Quốc bao gồm các đối tượng không thuộc

sở hữu Nhà nước nhưng loại trừ các hộ cá thể doanh nghiệp với 8 nhân công hay còn gọi là hộ công thương cá thể Theo các nhà kinh tế Trung Quốc, sự phát triển của các hộ cá thể đầu những năm 80 đã đặt nền móng cho sự phát triển vững chắc của các doanh nghiệp tư nhân đầu tiên của Trung Quốc Nếu như năm 1988 Trung Quốc có khoảng 500 doanh nghiệp mang biệt danh là các doanh nghiệp “mũ đỏ” thực chất đó là các doanh nghiệp tư nhân núp bóng tập thể để lách những chính sách từ phía Chính phủ cũng như phân biệt về hệ tư tư-ởng, song đến năm 1992, sau khi ông Đặng Tiểu Bình quyết định thực hiện lại chính sách mở cửa từ bước đi này đã làm cho các doanh nghiệp tư nhân Trung

Trang 23

Quốc thực sự phát triển

Theo số liệu thống kê của tổng cục hành chính thống kê Trung Quốc thì đến tháng 9 năm 2001 Trung Quốc có tổng số 1.880.000 doanh nghiệp tư nhân, với vốn đăng ký là 1.500 tỷ nhân dân tệ thu hút trên 20 triệu lao động và đóng góp một tỷ trọng đáng kể trong tổng sản phẩm quốc nội nói chung và tổng giá trị sản lượng công nghiệp nói riêng

lượng công nghiệp làm giảm liên tục qua các năm, doanh nghiệp tập thể lúc đầu tăng nhưng sau đó giảm dần còn ở doanh nghiệp tư nhân thì tỷ trọng lại tăng và tăng lên nhanh chóng cụ thể từ 9,8 % năm 1990 lên 29,4% năm 1998, nguyên nhân là do trong những năm của thập kỷ 90 Chính phủ Trung Quốc đã có những chính sách phát triển hợp lý cho khu vực kinh tế tư nhân Những năm sau đó tỷ trọng của doanh nghiệp tư nhân vẫn không ngừng tăng lên, đến năm 2001 con

số đó đã đạt 40,1% cao vượt hơn hẳn so với doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tập thể, điều này đã chứng tỏ tầm quan trọng của doanh nghiệp tư nhân trong nền kinh tế Trung Quốc

tăng trưởng kinh tế mà lực lượng chính là các doanh nghiệp tư nhân Đạt được những thành tựu như vậy là do Chính phủ Trung Quốc đã có những thay đổi trong tư duy, nhận thức trong hoạch định các chính sách

Mới đây Đảng và Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra một số định hướng, chính sách cụ thể nh sau:

- Đề cao hơn nữa vai trò của doanh nghiệp tư nhân: đây được xem là định hướng quan trọng hàng đầu trong phát triển kinh tế tư nhân nói chung và thúc đẩy sự lớn mạnh của các doanh nghiệp tư nhân nói riêng Đảng và Chính phủ Trung Quốc xác định: trong giai đoạn đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc, kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế trọng yếu của nền

Trang 24

kinh tế quốc dân Cùng với kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân cũng phải đảm bảo trách nhiệm mang tính lịch sử là hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong giai đoạn đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội Chủ của các doanh nghiệp tư nhân chính là những công nhân, nông dân và thành phần tri thức được phân hoá trong quá trình phát triển theo hướng kinh tế thị trường, do đó họ cũng

là lực lượng tích cực trong quá trình xây dựng đất nước và góp phần ổn định xã hội, hỗ trợ và phát triển các doanh nghiệp tư nhân sẽ góp phần quan trọng trong xây dựng nền kinh tế thị trường thúc đẩy lực lượng sản xuất

- Tăng cường hướng nghiệp khu vực kinh tế tư nhân:

+ Tăng cường các doanh nghiệp tư nhân phát triển trong những ngành nghề lĩnh vực, có lợi cho nền kinh tế quốc dân Cần đưa kinh tế tư nhân vào quy hoạch phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân Căn cứ vào chính sách kinh

tế và chính sách ngành nghề của Nhà nước để hướng các doanh nghiệp tư nhân đầu tư đúng hướng, khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân thông qua các chính sách như: cho thuê, bao thầu, liên doanh, liên kết, mua lại… để tham gia vào quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước Đồng thời hướng các doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào các ngành nghề thích ứng với chiến lược điều chỉnh kinh tế của Nhà nước Đặc biệt khuyến khích họ đầu tư vào những lĩnh vực mà kinh tế nhà nước sẽ rút ra trong thời gian tới Khuyến khích các doanh nghiệp t-

ư nhân đầu tư vào miền Tây, vào nông nghiệp, nông thôn và xây dựng các thị trấn nhỏ, tạo điều kiện để các doanh nghiệp tư nhân có thể tham gia tích cực vào cạnh tranh quốc tế và đầu tư ra nước ngoài

+ Tăng cường bồi dưỡng về tư tưởng và chính trị cho các chủ doanh nghiệp tư nhân cũng như những người làm trong các doanh nghiệp tư nhân để

họ trở thành lực lượng tích cực trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc, tăng cường các công tác xây dựng đảng trong các doanh nghiệp tư nhân + Tăng cường bồi dưỡng cho những người làm trong khu vực kinh tế t-

Trang 25

ư nhân về trình độ văn hoá, trình độ khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý thông qua phát triển kỹ thuật

+ Phát triển kinh tế tư nhân gắn liền với tiến trình đô thị hoá, coi phát triển kinh tế tư nhân là động lực thúc đẩy tiến trình đô thị hoá và ngược lại nhằm tạo lập thị trường cho các doanh nghiệp tư nhân, giải quyết lao động dôi

dư trong doanh nghiệp

- Tạo lập môi trường cạnh tranh công bằng

+ Thực hiện nguyên tắc đối xử công bằng với tất cả các thành phần kinh

tế, để tiến tới thống nhất chế độ chính sách hiện hành xoá bỏ những quy định không phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường, cũng như những quy định tạo ra những đối xử không phù hợp với khu vực kinh tế tư nhân

+ Nhanh chóng giải quyết vấn đề thâm nhập thị trường của các doanh nghiệp

+ Kiện toàn hơn nữa về mặt pháp luật đối xử với quyền tài sản hợp pháp của doanh nghiệp tư nhân

+ Từng bước giảm bớt gánh nặng cho các doanh nghiệp tư nhân, kiên quyết xoá bỏ các loại phí do các điạ phuơng, ban ngành tự ý đặt ra

- Hoàn thiện chức năng của Chính phủ:

+ Nhanh chóng giải quyết vấn đề nổi cộm và huy động vốn của các doanh nghiệp tư nhân thông qua việc mở rộng hơn nữa các kênh huy động vốn, cho phép các tổ chức tiền tệ được phân bổ vốn theo nguyên tắc lợi ích, nới lỏng điều kiện bảo lãnh, thế chấp, từng bước nâng cao tỷ lệ tín dụng cho các doanh nghiệp tư nhân, thực hiện tự do hoá lãi suất

+ Giải quyết những khó khăn trong việc sử dụng đất cho phát triển của các doanh nghiệp tư nhân Xây dựng quy hoạch thành thị và nông thôn trong đó tính đến nhà xưởng kinh doanh cần thiết của khu vực kinh tế tư nhân nói chung

Trang 26

và các doanh nghiệp tư nhân nói riêng, áp dụng chính sách đất đai thống nhất với tất cả các thành phần kinh tế

nhân: thúc đẩy các doanh nghiệp tư nhân tăng cường công tác bảo hộ lao động, xây dựng những quy định về an toàn sản xuất…

Quyết định thực hiện cải cách cơ chế kinh tế ở Hungari được thông qua năm 1966 Từ 1968 những nguyên tắc mới về quản lý kinh tế bắt đầu được thực hiện trong cuộc sống Cải cách ở Hungari không được tiến hành cùng một lúc bằng “một đòn mạnh” mà được thực hiện trong thời gian tương đối dài, thực tế không phải bao giờ nó cũng đi theo một con đường thẳng tắp, mà có lúc phát triển, khi suy thoái, có lúc quá trình cải cách bị chậm lại thậm chí có lúc hầu như bị đảo ngược

Thời kỳ đầu của cải cách (mặc dù có mâu thuẫn rõ ràng có những nhân tố riêng của nó) nói chung đã có một vai trò nhất định đặt nền cho những nguyên tắc thay đổi cơ bản trong hệ thống hoàn thiện cơ chế kinh tế Bãi bỏ mô hình quản lý kinh tế theo kiểu truyền thống và chuyển sang việc quản lý mới (trung gian) là thắng lợi của việc chọn lựa giải pháp đối nghịch nhau đối với cơ chế cũ Các chỉ số thống kê phát triển của nền kinh tế quốc dân đạt được đã chứng minh tính đúng đắn của đường lối đã lựa chọn, tính tự chủ và sáng tạo của tập thể các

Trang 27

xí nghiệp được phát huy và được cải tiến trên công tác kế hoạch hoá làm từ ưới lên

Vào đầu những năm 70 quá trình cải cách bắt đầu mất tính năng động và sau đó bị kìm hãm Năm 1973 giá dầu mỏ đã tăng đột ngột tạo nên những điều kiện hết sức bất lợi cho nền kinh tế Hungari vốn có mối liên hệ chặt chẽ với thị trường thế giới

Hungari là nước đầu tiên ở Đông Âu thực hiện cải cách kinh tế và chính trị, tiên phong trong số các nước xã hội chủ nghĩa thực hiện công cuộc cải cách sang nền kinh tế thị trường Hungari đã thực hiện những bước đi đầu tiên trong việc thực hiện tự do hoá chính sách kinh tế của mình bằng việc đưa ra một “cơ chế kinh tế mới” với nhiều lần thử nghiệm cải cách vào năm 1953, 1956 và

1968 Hungari cũng là một nước đầu tiên trong khối Đông Âu thực hiện tư nhân hoá trên cơ sở thị trường

Hai thành quả quan trọng trong thời kỳ chuyển đổi luôn được nhắc tới ở Hungari là: tư nhân hoá và thu hút vốn đầu tư nước ngoài Chiến lược tư nhân hoá ở Hungari là bán tài sản của Nhà nước theo nguyên tắc thị trường Trong giai đoạn 1990-1991 chỉ có 10% tổng số tài sản Nhà nước được tư nhân hoá, trong giai đoạn 1992-1994 là hơn 40% Năm 1989 thị phần của khu vực tư nhân tính theo GDP chỉ chiếm 18% nhưng tốc độ tư nhân hoá tăng dần lên, đến cuối năm 1993 khu vực kinh tế tư nhân đóng góp 50% GDP và đến cuối năm 1997 là 80% Cuối những năm 90 quá trình tư nhân hoá coi như đã hoàn thành, tài sản của Nhà nước chỉ còn chưa đến 20%, chủ yếu là trong ngành công nghiệp mang tính chiến lược

Chuyển đổi thể chế ở Hungari đã phải trả một giá khá đắt, nhưng đổi lại

cơ chế kinh tế đã có sự chuyển dịch quan trọng, 62% là dịch vụ, 28% là công nghiệp, 5% là nông nghiệp và phần còn lại là công nghiệp xây dựng Các ngành mới hình thành như sản xuất ô tô, điện tử…, còn các ngành truyền thống như

Trang 28

chế biến thực phẩm thì tiếp tục phát triển

Tư nhân hoá doanh nghiệp nhà nước là yếu tố quan trọng nhất trong chuyển đổi thể chế do nó tạo ra cơ sở vật chất cho kinh tế thị trường, đồng thời tạo ra những sự thay đổi tư duy về sở hữu (chuyển từ sở hữu nhà nước sang sở hữu cá nhân) Nhờ có sự thống nhất giữa Nhà nước và dân chúng nên quá trình

tư nhân hoá ở Hungari diễn ra thuận lợi không có xung đột gay gắt và kéo theo các chuyển đổi hoà bình trong xã hội Trong số các nước Đông Âu, Hungari là nước thực hiện quá trình chuyển đổi sở hữu nhanh và toàn diện hơn cả Trước năm 1990 hầu hết các phương tiện sản xuất đều nằm trong tay Chính phủ: có 1.850 doanh nghiệp nhà nước với tổng giá trị ghi trên sổ sách vào khoảng 20-25

tỷ USD Năm 1989-1990 lĩnh vực kinh tế tư nhân của Hungari chỉ đóng góp 10%-15% GDP hiện nay lĩnh vực này đóng góp 70%-75% GDP Tỷ lệ này t-ương đương với các nước trong liên minh châu Âu

Quá trình tư nhân hoá ở Hungari không diễn ra đều đặn đầu thập kỷ 90, Hungari đã tiến hành tư nhân hoá những cơ sở kinh doanh nhỏ, sau đó mới tiến hành tư nhân hoá các doanh nghiệp lớn của Nhà nước Kinh nghiệm tư nhân hoá những doanh nghiệp nhỏ đã giúp cho việc tư nhân hoá những doanh nghiệp luôn suôn sẻ Quá trình chuẩn bị tư nhân hoá những doanh nghiệp lớn được thực hiện tốt do đã lựa chọn được đối tượng có đủ khả năng vật chất để tiếp tục duy trì hoạt động có hiệu quả trên cơ sở đổi mới công việc tư nhân hoá các doanh nghiệp nhà nước lớn được thực hiện từ năm 1993-1996

Tư nhân hoá ở Hungari được thực hiện đại trà từ năm 1993 đến năm

1997 Năm 1994 do có bầu cử và một số thay đổi cơ cấu chính trị nên quá trình

tư nhân hoá chậm lại Đỉnh cao của quá trình tư nhân hoá là năm 1995, 1/3 số doanh nghiệp được tư nhân hoá trong năm 1995, kể cả các ngành chiến lược như: điện, năng lượng…

Chính phủ Hungari đã xây dựng cơ sở pháp lý cho việc đầu tư hoá bằng

Trang 29

việc ban hành một số luật Luật Công ty bảo đảm cơ sở cho các Công ty cổ phần

và các loại hình công ty khác hoạt động Năm 1995, Hungari ban hành Luật nhân hoá, luật tổ chức lại doanh nghiệp nhà nước thành Công ty cổ phần và Công ty trách nhiệm hữu hạn, toàn bộ doanh nghiệp nhà nước của Hungari được chuyển sang hoạt động theo luật công ty trước khi tư nhân hoá

Từ năm 1992 đến năm 1995 các quy định của Nhà nước đã thay đổi nhiều lần Nội dung điều chỉnh chủ yếu là những doanh nghiệp nhà nước cần duy trì mức sở hữu 50%, 60% hay 100% Đến năm 1995 đã định nghĩa chính xác các doanh nghiệp không tư nhân bao gồm một số công ty dịch vụ công cộng, chiến lược hoặc quốc phòng

Các hình thức tư nhân hoá ở Hungari được quy định rõ ràng trong luật nhân hoá

+ Đầu tư công khai là hình thức chủ yếu được áp dụng Hơn 90% tài sản Nhà nước được tư nhân hoá thông qua đấu thầu công khai

+ Thông báo bán công khai: các điều kiện bán được thông báo để người mua quan tâm biết

+ Bán cổ phiếu trên thị trường chứng khoán

tầm quan trọng về quốc phòng hoặc chính trị đặc biệt hoặc có nguy cơ sẽ có đối thủ cạnh tranh mua lại nhằm mục đích thôn tính, chiếm lĩnh thị trường

Trong luật tư nhân hoá quy định các đối tượng không được phép tham gia mua cổ phiếu, nhưng về cơ bản không hạn chế đối tượng mua cổ phần Do quá khứ thời kỳ xã hội chủ nghĩa trước đây nên không có tư sản tư nhân nội địa

để tham gia mua tài sản này

Trong quá trình tư nhân hoá ở Hungari nổi lên một vấn đề quan trọng là

nợ lẫn nhau giữa các doanh nghiệp nhà nước và nợ ngân hàng rất lớn Nhờ quá trình tư nhân hoá trên cơ sở thị trường công cuộc cải cách kinh tế ở Hungari đã

Trang 30

thành công và hiệu quả

Trong số 1580 doanh nghiệp nhà nước trước đây thì 17% đã phá sản, 5%

đã giải thể, 78% tư nhân hoá Do sự thay đổi cơ cấu kinh tế nên 25% doanh nghiệp không có khả năng tồn tại, 64% tư nhân hoá cho các chủ sở hữu nước ngoài bằng thu ngoaị tệ, 19% tư nhân hoá cho tư sản nội địa bằng tiền mặt và 5% bằng phiếu đền bù, còn lại là tín dụng ngân hàng

+ Xét về tài sản thì tổng cộng có 46% tài sản đã tư nhân hoá, 43% tài sản không có ý định tư nhân hoá, 9% diện tích đất đai trong sở hữu Nhà nước hiện nay chưa thể tư nhân hoá, 2% thiết bị phương tiện chưa tư nhân hoá + Xét theo ngành thì gần 100% doanh nghiệp nhà nước trong ngành công nghiệp và thương mại, 80% trong ngành cung cấp năng lượng và 80% trong ngành ngân hàng đã được tư nhân hoá

+ Tư nhân hoá có tác động mạnh mẽ là nhiều nguồn đầu tư xuất hiện sau tư nhân hoá cụ thể là có 26 tỷ USD đã đầu tư vào sản xuất trực tiếp, trong đó

405 đầu tư qua tư nhân hoá

+ Thu nhập từ tư nhân hoá là 14 tỷ USD, trong đó 70% được đưa vào Ngân sách Nhà nước góp phần giải quyết vấn đề thâm hụt ngân sách, 8-10% đền bù chính trị, 8-10% để bù đắp chi phí cho quá trình tư nhân hoá

1.2.2 Một số bài học cho Việt Nam

a, Nhận thức đúng về vai trò của khu vực kinh tế tư nhân trong phát triển kinh tế

Từ kinh nghiệm phát triển doanh nghiệp tư nhân của Trung Quốc, Hungari ta có thể thấy rằng các loại hình doanh nghiệp tư nhân hoàn toàn có thể phát triển năng động trong khu vực kinh tế tư nhân và trong môi trường kinh tế thị trường, Chính phủ hoàn toàn có khả năng quản lý, giám sát, định hướng và phát triển của các loại hình doanh nghiệp tư nhân

Do vậy đối với Việt Nam chúng ta cần thống nhất nhận thức rằng các loại

Trang 31

hình doanh nghiệp tư nhân trong khu vực kinh tế tư nhân là động lực tăng ởng kinh tế quan trọng, là khu vực chủ yếu để giải quyết việc làm, phát huy mọi tiềm lực của người dân

b, Tạo điều kiện cho các loại hính doanh nghiệp tư nhân tham gia vào nền kinh tế thị trường

Mặc dù Việt Nam đã thừa nhận cơ chế cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường nhưng do ảnh hưởng của cơ chế kinh tế cũ nên nhiều cơ quan Nhà nước vẫn có thái độ phân biệt đối xử với các doanh nghiệp, ưu đãi đối với các doanh nghiệp nhà nước, gây khó dễ đối với các loại hình doanh nghiệp tư nhân Vì vậy theo ý kiến của các chuyên gia cho rằng cần phải mở cửa tất cả các lĩnh vực đặc biệt là khu vực tài chính cho các loại hình doanh nghiệp tư nhân, tạo điều kiện cho các loại hình doanh nghiệp tư nhân được vay vốn một cách bình đẳng như các doanh nghiệp khác ở các ngân hàng trong nước

c, Sửa đổi bổ sung cơ chế, chình sách phù hợp

- Chính sách đất đai: cần đơn giản hoá các thủ tục đầu tư nhằm khuyến khích tư nhân đầu tư vào các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế mở…và tiếp tục hoàn chỉnh quy hoạch sử dụng đất

- Chính sách tài chính tín dụng: thúc đẩy hoạt động của các quỹ hỗ trợ và

hệ thống ngân hàng theo hướng đa dạng hoá hình thức ưu đãi, đơn giản hoá thủ tục xin vay tín dụng ưu đãi nhanh chóng xây dựng và triển khai các chương trình trợ giúp doanh nghiệp về khởi sự kinh doanh, đào tạo nghề và đào tạo doanh nhân

d, Thực hiện cải cách doanh nghiệp nhà nước

Kinh nghiệm Trung Quốc cho thấy khi chuyển đổi nền kinh tế thị trường, một trong những nội dung quan trọng mà các nước chuyển đổi phải thực hiện là xây dựng khu vực kinh tế tư nhân lớn mạnh, trong đó là sự lớn mạnh của các loại hình doanh nghiệp tư nhân rất quan trọng và là nhu cầu của sự phát triển

Trang 32

kinh tế đất nước Do đó vấn đề cải cách doanh nghiệp nhà nước là mục tiêu hàng đầu Kinh nghiệm phát triển kinh tế thị trường của các nước mới công nghiệp hoá cho thấy phải xây dựng khu kinh tế tư nhân lớn mạnh trong đó là sự lớn mạnh của các loại hình doanh nghiệp tư nhân Vì vậy, đối với các ngành kinh tế kế hoạch hoá tập trung (nền kinh tế mà hầu hết các doanh nghiệp đều là doanh nghiệp nhà nước) khi chuyển sang nền kinh tế thị trường thì việc cải cách doanh nghiệp này là hết sức cần thiết

Việc kết hợp cải cách doanh nghiệp nhà nước và phát triển doanh nghiệp

tư nhân trước hết phụ thuộc vào định hướng chiến lược của quốc gia về mối quan hệ giữa phát triển kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân

Định hướng chiến lược hoặc sự điều chỉnh có tính chiến lược đối với hai khu vực kinh tế của Trung Quốc được thực hiện theo hướng “Nắm lớn, thả nhỏ”, kinh tế nhà nước phải chiếm giữ vị trí chi phối đối với những ngành quan trọng trong các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế quốc dân, giảm tỷ trọng của kinh tế nhà nước nhưng vẫn ảnh hưởng đến vai trò điều chỉnh của Nhà nước Định hướng này phù hợp với đường lối đổi mới của Việt Nam

Để hỗ trợ cải cách doanh nghiệp nhà nước, điều quan trọng là phải tiến hành đồng thời các chính sách phát triển các loại hình doanh nghiệp tư nhân ngay từ khi bắt đầu chương trình cải cách doanh nghiệp nhà nước Các chính sách phát triển các loại hình doanh nghiệp tư nhân tập trung vào khuyến khích,

hỗ trợ đối với các doanh nghiệp mà Nhà nước tiến hành “thả nhỏ” khuyến khích nhiều lao động dôi dư

Ngoài ra, việc cải cách doanh nghiệp nhà nước tất yếu dẫn đến chuyển dịch lao động giữa khu vực doanh nghiệp nhà nước và khu vực doanh nghiệp t-

ư nhân Để hỗ trợ cải cách doanh nghiệp nhà nước cần đặc biệt quan tâm đến hỗ trợ người lao động tìm việc làm mới ở khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, thiết lập các trung tâm dịch vụ thuê lại lao động để cung cấp các dịch vụ về chuyển

Trang 33

chỗ làm việc, tư vấn đào tạo việc làm, tăng cường phát triển thị trường lao động

Trang 34

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC LOẠI HÌNH DOANH

NGHIỆP TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM

2.1 Sự phát triển của các loại hình doanh nghiệp tư nhân

2.1.1 Sự gia tăng về số lượng các loại hính doanh nghiệp tư nhân

Trong thời gian qua, cùng với những chính sách hỗ trợ của Đảng và Nhà nước khu vực kinh tế tư nhân có sự gia tăng lớn mạnh về số lượng, đặc biệt là các loại hình doanh nghiệp tư nhân ở khu vực này Lượng doanh nghiệp tư nhân tăng rất nhanh

Sự tăng trưởng và phát triển của khu vực kinh tế tư nhân so với các khu vực kinh tế khác có thể thấy rõ qua các con số, mặc dù sự lớn mạnh của một thực thể không chỉ là sự gia tăng về số lượng, nhưng chúng ta đều thấy rằng từ một khu vực không được chấp nhận đến nay khu vực kinh tế tư nhân, mà điển hình là các loại hình doanh nghiệp tư nhân Kinh tế tư nhân đã có mức gia tăng lớn trong khi các khu vực kinh tế khác gia tăng không đáng kể (như khu vực có vốn đầu tư nước ngoài), thậm chí còn giảm (khu vực doanh nghiệp nhà nước)

Bảng 2.1: Tổng quan về tình hình doanh nghiệp phân theo năm thành lập

Số lượng ( DN )

Vốn ( Tỷ đồng )

Số lượng ( DN )

Vốn ( Tỷ đồng )

Số lượng ( DN )

Vốn ( Tỷ đồng )

Trang 35

Năm DN tư nhân Công ty cổ phần Công ty TNHH Công ty hợp

Số lượng ( DN )

Vốn ( Tỷ đồng )

Số lượng ( DN )

Vốn ( Tỷ đồng )

Số lượng ( DN )

Vốn ( Tỷ đồng )

số vốn 269 tỷ đồng, 430 Công ty Cổ phần với số vốn 11,089 tỷ đồng, có 2,150

Trang 36

Công ty trách nhiệm hữu hạn với số vốn 3,071 tỷ đồng và trong năm 2007 đến hết tháng 4/2007 chưa có thêm Công ty hợp danh nào đăng ký mới

Bảng 2.2: Cơ cấu các loại hình doanh nghiệp tƣ nhân đăng ký kinh doanh

Đơn vị: Doanh nghiệp

TNHH

Công ty cổ phần

Công ty Hợp danh

Trang 37

nghiệp trong khu vực kinh tế tư nhân, Công ty hợp danh chiếm tỷ trọng nhỏ nhất, trong số các loại hình doanh nghiệp tư nhân từ 1991 - 1999 không có Công ty hợp danh nào đăng ký thành lập, mãi đến năm 2000 mới có 03 Công ty hợp danh thành lập, chiếm 0,02%, Công ty cổ phần những năm đầu chiếm tỷ trọng thấp, những năm gần đây có xu hướng tăng lên, còn hai loại hình doanh nghiệp là Doanh nghiệp tư nhân và Công ty trách nhiệm hữu hạn, tỷ trọng Doanh nghiệp tư nhân có xu hướng giảm xuống, còn Công ty trách nhiệm hữu hạn có xu hướng tăng lên Tốc độ tăng của các loại hình doanh nghiệp tư nhân không như nhau là vì mỗi loại hình có hình thức hoạt động khác nhau, trong từng thời điểm thì mỗi loại hình có sự phù hợp riêng, loại hình nào thuận lợi thì phát triển mạnh hơn Xu hướng Công ty trách nhiệm hữu hạn phát triển nhanh hơn Doanh nghiệp tư nhân là do Công ty trách nhiệm hữu hạn có những ưu điểm vợt trội so với Doanh nghiệp tư nhân Công ty trách nhiệm hữu hạn trước pháp luật chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi số vốn góp

Từ năm 2000 đến nay, đây là giai đoạn Luật Doanh nghiệp ra đời và có hiệu lực thay thế cho Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân, đồng thời Ban chấp hành Trung ương (Khoá IX) ban hành Nghị quyết TW 5 “Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân” Như vậy, số lượng các loại hình doanh nghiệp tư nhân phát triển mạnh hơn nhiều so với giai đoạn 1991-1999

Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính từ 01/01/2000 đến tháng

09/2003, cả nước có khoảng 72.601 doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân thành lập thêm, đưa số lượng các loại hình doanh nghiệp tư nhân lên đến 120.000 cơ sở và gấp 3 lần số doanh nghiệp có đến cuối năm 1999 Số doanh nghiệp đăng ký trung bình hàng năm của giai đoạn này bằng 3,75 lần so với trung bình hàng năm giai đoạn 1991-1999 Số lượng các loại hình doanh nghiệp tư nhân tiếp tục tăng đều qua các năm Năm 2005, có khoảng 38.000

Trang 38

doanh nghiệp tư nhân mới đăng ký hoạt động tăng 37,18% so với năm 2003 và 8,58% so với năm 2004 Chỉ tính riêng Quý I năm 2006 đã có khoảng 7.775 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp Như vậy, bình quân giai đoạn 2001-2005 mỗi năm có khoảng 28.655 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp, tăng gần gấp 6 lần so với giai đoạn 1991-1999, đưa tổng số các loại hình doanh nghiệp tư nhân đến cuối năm 2005 lên gần 200.000 doanh nghiệp

Bảng 2.3: Số doanh nghiệp tƣ nhân đang hoạt động sản xuất kinh doanh tại thời điểm 31/12 hàng năm phân theo loại hình doanh nghiệp

Đơn vị: Doanh nghiệp

doanh nghiệp

Tăng so với năm trước(%)

tế hoạt động phân bổ không đều, tập trung chủ yếu ở Hà Nội và thành phố Hồ

Trang 39

Chí Minh, các tỉnh và thành phố khác có số lượng rất ít

Nhưng hiện nay, số doanh nghiệp hoạt động so với số doanh nghiệp đăng

ký có xu hướng tăng lên Theo báo cáo của Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cho thấy, số doanh nghiệp hoạt động đang chiếm từ 80% đến 85% số doanh nghiệp đăng ký Theo báo cáo của Tổng cục Thuế, đến hết tháng 7/2003 trên cả nước có khoảng 1.650 doanh nghiệp đã đăng ký nhưng không còn hiện diện tại nơi đăng ký (chiếm khoảng 2.3% trong tổng số doanh nghiệp đã đăng ký) Từ năm 2002 đến nay, số doanh nghiệp đăng ký kinh doanh xấp xỉ băng số doanh nghiệp đăng ký mã số thuế Như vậy, từ khi có Luật Doanh nghiệp thay thế cho Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân, các loại hình doanh nghiệp tư nhân có điều kiện thuận lợi hơn để phát triển và

mở rộng sản xuất kinh doanh, số lượng các loại hình doanh nghiệp tư nhân tăng nhanh, đó là dấu hiệu mừng cho khu vực kinh tế tư nhân nói riêng và cho nền kinh tế Việt Nam nói chung

Sự tăng trưởng của các loại hình doanh nghiệp tư nhân đạt được như vậy

là do Chính phủ Việt Nam đã có những chủ trương, chính sách và những biện pháp phù hợp khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển đặc biệt là với các loại hình doanh nghiệp, khẳng định rõ vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước không ngừng hoàn thiện môi trường kinh doanh theo định hướng ngày càng thông thoáng hơn, cơ chế, chính sách có chuyển biến rõ rệt, không phân biệt đối xử giữa các loại hình doanh nghiệp

Cụ thể từ năm 2000 đến nay số lượng doanh nghiệp trong khu vực kinh tế

tư nhân tăng mạnh, từ 31.461 doanh nghiệp (năm 2000) lên 88.646 doanh nghiệp (năm 2005), đây là một dấu hiệu đáng mừng nhưng con số doanh nghiệp hoạt động thực tế thì chưa được như vậy vì thế yêu cầu Nhà nước cần có chính sách quản lý tốt hơn nữa để số lượng doanh nghiệp “ma” ít hơn

Trang 40

Phân tích một số chỉ tiêu tài chính bình quân của kinh tế tư nhân theo loại hình doanh nghiệp cũng cho thấy loại hình Doanh nghiệp tư nhân có tổng giá trị tài sản nhỏ nhất, cao hơn là Công ty trách nhiệm hữu hạn và cao nhất là Công ty

cổ phần vì đây là loại hình có ưu thế trong huy động vốn

2.1.2.Cơ cấu, quy mô các loại hính doanh nghiệp tư nhân:

a/ Cơ cấu các loại hình doanh nghiệp tư nhân

* Theo ngành nghề kinh doanh:

Có thể nói, số lượng các loại hình doanh nghiệp tư nhân đã gia tăng khá nhanh trong suốt thập kỷ 90 đến nay Nhưng các loại hình doanh nghiệp tư nhân đăng ký hoạt động chỉ tập trung ở một số ngành nghề chủ yếu như thương mại, dịch vụ, giao thông vận tải, công nghiệp, xây dựng

Bảng 2.4: Số doanh nghiệp trong khu vực kinh tế tƣ nhân phân theo ngành:

Đơn vị: Doanh nghiệp

Ngày đăng: 18/03/2015, 08:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. TS. Trần Ngọc Bút (2002) “Phát triển kinh tế tư nhân định hướng xã hội chủ nghĩa”. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế tư nhân định hướng xã hội chủ nghĩa
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
2. GS.TS KH. Lương Xuân Quỳ (2002) “Xây dựng quan hệ sản xuất định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện tiến bộ công bằng xã hội ở Việt Nam”.Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng quan hệ sản xuất định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện tiến bộ công bằng xã hội ở Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
3. PGS.TS Trịnh Thị Hoa Mai (2005) “Kinh tế tư nhân Việt Nam trong tiến trình hội nhập”. Nhà xuất bản Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế tư nhân Việt Nam trong tiến trình hội nhập
Nhà XB: Nhà xuất bản Thế giới
4. PGS Mai Tết - Nguyễn Văn Tuất và Th.s Đặng Danh Lợi (2006) “Sự vận động, phát triển của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta”. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự vận động, phát triển của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
5. GS.TS Hồ Văn Vĩnh (2003) “Kinh tế tư nhân và quản lý Nhà nước đối với kinh tế tư nhân ở nước ta hiện nay”. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế tư nhân và quản lý Nhà nước đối với kinh tế tư nhân ở nước ta hiện nay
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  1.1:  Số  lƣợng  các  loại  hình  doanh  nghiệp  tƣ  nhân  đăng  ký  kinh  doanh (từ 1991-1999) - Phát triển các loại hình doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam
ng 1.1: Số lƣợng các loại hình doanh nghiệp tƣ nhân đăng ký kinh doanh (từ 1991-1999) (Trang 14)
Hình doanh nghiệp là Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần và Doanh - Phát triển các loại hình doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam
Hình doanh nghiệp là Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần và Doanh (Trang 15)
Hình DN - Phát triển các loại hình doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam
nh DN (Trang 17)
Bảng 1.4: Tổng số lao động trong các doanh nghiệp tại thời điểm 31/12  hàng năm phân theo loại hình doanh nghiệp - Phát triển các loại hình doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam
Bảng 1.4 Tổng số lao động trong các doanh nghiệp tại thời điểm 31/12 hàng năm phân theo loại hình doanh nghiệp (Trang 19)
Bảng 2.1: Tổng quan về tình hình doanh nghiệp phân theo năm thành lập - Phát triển các loại hình doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam
Bảng 2.1 Tổng quan về tình hình doanh nghiệp phân theo năm thành lập (Trang 34)
Bảng 2.2: Cơ cấu các loại hình doanh nghiệp tƣ nhân đăng ký kinh doanh - Phát triển các loại hình doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam
Bảng 2.2 Cơ cấu các loại hình doanh nghiệp tƣ nhân đăng ký kinh doanh (Trang 36)
Bảng 2.3: Số doanh nghiệp tƣ nhân đang hoạt động sản xuất kinh doanh  tại thời điểm 31/12 hàng năm phân theo loại hình doanh nghiệp - Phát triển các loại hình doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam
Bảng 2.3 Số doanh nghiệp tƣ nhân đang hoạt động sản xuất kinh doanh tại thời điểm 31/12 hàng năm phân theo loại hình doanh nghiệp (Trang 38)
Bảng  2.4:  Số  doanh  nghiệp  trong  khu  vực  kinh  tế  tƣ  nhân  phân  theo  ngành: - Phát triển các loại hình doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam
ng 2.4: Số doanh nghiệp trong khu vực kinh tế tƣ nhân phân theo ngành: (Trang 40)
Bảng 2.5: Nguồn vốn bình quân của một doanh nghiệp trong khu vực kinh - Phát triển các loại hình doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam
Bảng 2.5 Nguồn vốn bình quân của một doanh nghiệp trong khu vực kinh (Trang 44)
Bảng 2.6: Quy mô về vốn của doanh nghiệp trong khu vực kinh tế tƣ nhân. - Phát triển các loại hình doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam
Bảng 2.6 Quy mô về vốn của doanh nghiệp trong khu vực kinh tế tƣ nhân (Trang 45)
Bảng 2.9: Phát triển của doanh nghiệp tƣ nhân tại Hà Nội qua các con số - Phát triển các loại hình doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam
Bảng 2.9 Phát triển của doanh nghiệp tƣ nhân tại Hà Nội qua các con số (Trang 51)
Bảng 2.10: Thuế và các khoản nộp ngân sách của các doanh nghiệp trong  khu vực kinh tế tƣ nhân - Phát triển các loại hình doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam
Bảng 2.10 Thuế và các khoản nộp ngân sách của các doanh nghiệp trong khu vực kinh tế tƣ nhân (Trang 71)
Bảng 2.11: Trình độ của đội ngũ chủ doanh nghiệp tƣ nhân - Phát triển các loại hình doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam
Bảng 2.11 Trình độ của đội ngũ chủ doanh nghiệp tƣ nhân (Trang 74)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w