1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở trong điều kiện kinh tế thị trường ở tỉnh Hải Dương hiện nay

111 795 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 860,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- NGUYỄN THỊ THU HƯỜNG XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ THU HƯỜNG

XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở TỈNH HẢI DƯƠNG HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Triết học

HÀ NỘI, 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ THU HƯỜNG

XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở TỈNH HẢI DƯƠNG HIỆN NAY

Chuyên ngành: Triết học

Mã số: 60 22 03 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thanh Bình

Hội đồng chấm luận văn: PGS.TS Dương Văn Thịnh, Chủ tịch

GS.TS Nguyễn Trọng Chuẩn, Phản biện 1 PGS.TS Nguyễn Thế Kiệt, Phản biện 2

TS Trần Thị Hạnh, Thư ký

TS Dương Văn Duyên, Ủy viên

HÀ NỘI, 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thanh Bình Các số liệu và nguồn tài liệu được dẫn trích trong luận văn là trung thực, chính xác và có nguồn gốc xuất sứ rõ ràng Tôi xin chịu mọi trách nhiệm trước Nhà trường và pháp luật về lời cam đoan này của tôi

Hà Nội, ngày 05 tháng 07 năm 2014

Tác giả

Nguyễn Thị Thu Hường

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn trân trọng và biết ơn sâu sắc tới PG.TS Nguyễn Thanh Bình – Người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn Thạc sỹ này Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Triết – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội đã giảng dạy, cung cấp cho tôi những kiến thức cơ bản về triết học để tôi hoàn thành luận văn Thạc sỹ này trong điều kiện tốt nhất

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 2

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 4

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

6 Đóng góp của luận văn 5

7 Ý nghĩa của luận văn 5

8 Kết cấu của luận văn 5

NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1: VẤN ĐỀ XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 6

1.1 Một số vấn đề lý luận chung về đạo đức và sự biến đổi của nó trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay 6

1.1.1 Một số vấn đề lý luận chung về đạo đức và đạo đức cách mạng 6

1.1.2 Sự biến đổi của đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay 15

1.2 Nội dung, yêu cầu và vai trò của việc xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay 21

1.2.1 Khái niệm về đội ngũ cán bộ chủ chốt 21

1.2.2 Nội dung và yêu cầu của việc xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở Việt Nam hiện nay 24

1.2.3 Vai trò của việc xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở Việt Nam hiện nay 42

Trang 6

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ Ở TỈNH HẢI DƯƠNG TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG HIỆN NAY 50 2.1 Thực trạng việc xây dựng đạo đức của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ

sở tỉnh Hải Dương hiện nay và nguyên nhân 50

2.1.1 Thực trạng việc xây dựng đạo đức của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ

sở tỉnh Hải Dương hiện nay 50 2.1.2 Nguyên nhân của thực trạng việc xây dựng đạo đức đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở tỉnh Hải Dương hiện nay 64

2.2 Yêu cầu của việc xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở trong điều kiện kinh tế thị trường ở tỉnh Hải Dương hiện nay 70 2.3 Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả việc xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở tỉnh Hải Dương hiện nay 73

2.3.1 Đổi mới nội dung và hình thức giáo dục đạo đức cách mạng đối với đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở 74 2.3.2 Phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở cơ sở 79 2.3.3 Nâng cao chất lượng công tác tổ chức, kiểm tra, giám sát của các cấp, các ngành, các đoàn thể và nhân dân 86 2.3.4 Nâng cao tính tự giác, tự rèn luyện đạo đức cách mạng của đội ngũ cán

bộ chủ chốt cấp cơ sở 90

KẾT LUẬN 94 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96 PHỤ LỤC

Trang 8

Ở Việt Nam hiện nay, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, đặc biệt là thời

kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) đất nước, hội nhập kinh

tế quốc tế đòi hỏi đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở phải không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cũng như trình độ tư duy lý luận để thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng trong thực tiễn Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, cán bộ là gốc của công việc, muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém Chính đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở là người giữ vai trò quan trọng, là cấp trực tiếp đưa chủ trương, đường lối của Đảng vào cuộc sống, biến nó thành hiện thực Có thể nói, cán bộ chủ chốt cấp cơ sở hàng ngày, hàng giờ phải đối mặt và giải quyết những vấn đề mới nảy sinh trong hoạt động chỉ đạo, lãnh đạo, quản lý tại cơ sở

Để lãnh đạo và quản lý nhà nước, thúc đẩy đất nước phát triển theo mục tiêu của Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn, người cán bộ cách mạng phải có cả đức lẫn tài, trong đó đạo đức là gốc Như Hồ Chí Minh đã dạy: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải

Trang 9

phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không

có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?” [46, tr.253]

Thực tế cho thấy, sau gần 30 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, đất nước đang chuyển mình và tiếp tục đạt được những thành tựu to lớn Góp phần vào những thắng lợi ấy, phải kể đến vai trò và ý nghĩa của việc xây dựng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ cách mạng nói chung và đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở nói riêng Bởi lẽ, họ là những người cán bộ trực tiếp tiếp xúc, lãnh đạo và phục vụ nhân dân

và trong việc vận dụng, thực hiện những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ở cơ sở Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực thì với ảnh hưởng của mặt trái của nền kinh tế thị trường (KTTT) cùng với sự chống phá của các thế lực thù địch và sự yếu kém trong công tác giáo dục tư tưởng, lý luận, rèn luyện đạo đức cách mạng trong những năm vừa qua ở nước ta đã dẫn tới “Tình trạng tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là rất nghiêm trọng” [18, tr.16] Đáng chú ý là sự suy thoái về phẩm chất này trong cán bộ vẫn đang có chiều hướng gia tăng và đang dần làm xói mòn bản chất cách mạng của đội ngũ cán bộ, cản trở việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, làm giảm uy tín của Đảng, gây bất bình và làm giảm lòng tin trong nhân dân, ảnh hưởng xấu đến sự nghiệp cách mạng của toàn dân tộc, tạo thành nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ ta

Tình hình tư tưởng, đạo đức cán bộ, đảng viên, cán bộ chủ chốt cấp cơ sở của tỉnh Hải Dương cũng không nằm ngoài cái chung đó Vì vậy, việc tiếp tục khẳng định vai trò và xây dựng đạo đức cách mạng ở đội ngũ cán bộ nói chung và đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở nói riêng lại càng nổi lên đặc biệt quan trọng trong giai đoạn hiện nay

Với những lý do trên, việc nghiên cứu vấn đề Xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở trong điều kiện kinh tế thị trường ở tỉnh Hải Dương hiện nay là việc làm hết sức quan trọng và cần thiết

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Vấn đề xây dựng đạo đức cách mạng nói chung và xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo nói riêng trong điều kiện KTTT ở nước ta đã thu

Trang 10

hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học ở những khía cạnh khác nhau, với những cách tiếp cận khác nhau

Trước hết phải kể đến những nghiên cứu về đạo đức cách mạng: Vũ Khiêu:

“Mấy vấn đề đạo đức cách mạng”, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh,1978; Trần Thành: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức”, Nxb Chính trị Quốc gia, 1996; “Hồ

Chí Minh về đạo đức cách mạng”, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1976; Nguyễn Ngọc Long:

“Quán triệt mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và đạo đức trong việc đổi mới tư

duy”, Tạp chí Nghiên cứu Lý luận, số 1 – 2/1987; Thang Văn Phúc: “Đạo đức, phong cách, lề lối làm việc của công chức theo tư tưởng Hồ Chí Minh”, Nxb Khoa

học xã hội, Hà Nội, 1998; v.v

Nội dung nổi bật nhất của những công trình nghiên cứu về đạo đức cách mạng nói chung chính là trình bày những phẩm chất đạo đức cần có của người Đảng viên, cán bộ Ngoài ra, các tác giả đã trình bày một cách có hệ thống những nguyên tắc rèn luyện đạo đức cách mạng và tầm quan trọng của đạo đức cách mạng

Về đạo đức cách mạng của người cán bộ trong điều KTTT hiện nay, có những

công trình nghiên cứu như: Nguyễn Trọng Chuẩn và Nguyễn Văn Phúc:“Mấy vấn

đề về đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay”, Nxb Chính trị

Quốc gia, Hà Nội, 2003; “Chủ động và tích cực xây dựng đạo đức mới”, (Nxb Sự thật, Hà Nội, 1983); Nguyễn Ngọc Long: “Sự hình thành đạo đức xã hội chủ nghĩa

trong điều kiện quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”, Luận án tiến sĩ triết học, Hà Nội, 1982; Phạm Quốc Thành: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về rèn luyện đạo đức cán bộ đảng viên”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,

2004; …

Các tác giả của những công trình trên khẳng định, KTTT đang có những tác động tích cực và tiêu cực tới đời sống đạo đức xã hội Việt Nam nói chung và đạo đức của người cán bộ nói riêng Tác động tích cực của KTTT là làm cho con người chủ động, tích cực, ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân không ngừng được nâng lên Những tác động tiêu cực của KTTT đến đời sống đạo đức xã hội Việt Nam như: lối sống thực dụng, tệ nạn xã hội gia tăng, v.v

Trang 11

Ngoài những công trình chuyên biệt đề cập đến vấn đề đạo đức và xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ ở Việt Nam cũng được nhiều tác giả đề cập

trong các tạp chí: Nguyễn Văn Lý “Vấn đề nâng cao đạo đức cách mạng cho đội

ngũ cán bộ đảng viên ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Triết học số 157, tháng 6 năm

2004 Trong bài viết này tác giả nêu lên sự cần thiết, những biện pháp để nâng cao đạo đức cho cán bộ các cấp các ngành nhằm đáp ứng được những yêu cầu của cách mạng trong giai đoạn hiện nay

Tạp chí Triết học số 160 tháng 9 năm 2004 có bài “Giáo dục, rèn luyện đạo

đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh” của

tác giả Hữu Cát và Mạc Văn Nam Trong bài viết của mình, các tác giả đã nêu lên những yêu cầu khách quan đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải không ngừng rèn luyện đạo đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Vấn đề đạo đức cách mạng và vai trò của nó trong sự nghiệp đổi mới ở nước

ta hiện nay là vấn đề rộng lớn và phức tạp cần được tiếp tục đi sâu nghiên cứu Đặc biệt là vấn đề đạo đức của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở Hải Dương cũng chưa có công trình nào đề cập một cách có hệ thống dưới góc độ triết học, vì thế

chúng tôi chọn đề tài “Xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở trong điều kiện kinh tế thị trường ở tỉnh Hải Dương hiện nay” để

nghiên cứu trong luận văn thạc sĩ triết học của mình

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích của luận văn:

Trên cơ sở phân tích thực trạng đạo đức của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở trong điều kiện KTTT hiện nay, tác giả luận văn đề xuất và luận giải một số giải

pháp chủ yếu nhằm xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ này

3.2 Nhiệm vụ của luận văn:

- Phân tích thực trạng đạo đức của đội ngũ cán bộ chủ chốt cơ sở trong điều kiện KTTT hiện nay ở tỉnh Hải Dương và nguyên nhân của nó

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Hải Dương hiện nay

Trang 12

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận: Dựa trên những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin

và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về xã hội và con người, về vai trò của

cá nhân và quần chúng nhân dân trong lịch sử

- Phương pháp luận: Đề tài sử dụng các phương pháp chủ yếu của phép biện chứng duy vật Mácxít và kết hợp với một số phương pháp nghiên cứu khoa học khác như khái quát hóa, trừu tượng hóa, …

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Thực tiễn xây dựng đạo đức của đội ngũ cán bộ chủ

chốt cấp cơ sở ở tỉnh Hải Dương trong những năm gần đây

Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu thực trạng đạo đức và việc xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Hải Dương hiện nay Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở có nhiều chức danh, nhưng đề tài chỉ tập trung vào các chức danh: Bí thư, Phó Bí thư; Chủ tịch Ủy ban nhân dân(UBND), Phó Chủ tịch UBND; Chủ tịch Hội đồng nhân dân (HĐND), Phó Chủ tịch HĐND qua khảo sát thực tế tại tỉnh Hải Dương

6 Đóng góp của luận văn

- Góp phần làm rõ thực trạng đạo đức của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở trong điều kiện KTTT ở Hải Dương hiện nay

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở của tỉnh Hải Dương hiện nay

7 Ý nghĩa của luận văn

- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc xây dựng, hoạch định chiến lược, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở tỉnh Hải Dương

- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo để giảng dạy các môn khoa học Mác – Lênin và Đạo đức học

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận văn gồm 2 chương, 5 tiết

Trang 13

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 VẤN ĐỀ XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO ĐỘI NGŨ

CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ

TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1.1 Một số vấn đề lý luận chung về đạo đức và sự biến đổi của nó trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay

1.1.1 Một số vấn đề lý luận chung về đạo đức và đạo đức cách mạng

Khái niệm đạo đức

Lịch sử phát triển của xã hội loài người cho thấy, đạo đức luôn luôn là một động lực tinh thần to lớn đối với sự phát triển tiến bộ của xã hội Trong xã hội có giai cấp, các giai cấp khác nhau đều đặc biệt quan tâm đến vấn đề đạo đức nhằm điều chỉnh các hành vi và cách ứng xử của con người phù hợp với các chuẩn mực đạo đức xã hội

Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội

Danh từ “đạo đức” bắt nguồn từ tiếng Latinh là Mos – lề thói (morolia) – nghĩa là có liên quan đến lề thói, đạo nghĩa Còn danh từ “luân lý” được xem như đồng nghĩa với đạo đức có gốc từ tiếng Hy Lạp là ethicos – lề thói, tập tục Khi nói đến đạo đức là nói đến lề thói và tập tục, biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người với người trong sự giao tiếp với nhau hàng ngày Sau này, người ta thường phân biệt hai khái niệm: Mozal là đạo đức, còn ethicos là đạo đức học

Trong lịch sử tư tưởng của nhân loại, tuy có nhiều quan niệm đạo đức khác nhau, thậm chí là đối lập nhau nhưng đã để lại không ít những giá trị to lớn

Quan điểm duy tâm tôn giáo coi đạo đức là những nguyên tắc, những quy tắc, chuẩn mực rút ra từ những lực lượng siêu nhiên, chẳng hạn như thượng đế, ý niệm

Trang 14

tuyệt đối, tự ý thức hoặc một bản tính người trừu tượng nào đó, … rồi đem áp đặt vào đời sống hiện thực của con người

Trên cơ sở của những tiến bộ trong đời sống vật chất, phương thức sản xuất và những thành quả của sự phát triển khoa học, đồng thời kế thừa một cách có chọn lọc những giá trị đạo đức trước đó, quan điểm Mác xít cho rằng: Đạo đức nảy sinh do nhu cầu của đời sống xã hội, là sản phẩm của lịch sử xã hội, do cơ sở kinh tế - xã hội sinh ra và quyết định; quan hệ đạo đức là biểu hiện của quan hệ vật chất xã hội

và biến đổi theo đời sống vật chất xã hội

Đạo đức thường được xét ở ba góc độ: Nhận thức luận, chức năng, hệ giá trị

- Dưới góc độ nhận thức luận: Đạo đức là một hiện tượng tinh thần, một hình thái đặc biệt của ý thức xã hội, là tính thứ hai so với tồn tại xã hội Tính đặc biệt

của đạo đức ở đây thể hiện trong quá trình hình thành các quy tắc đạo đức, là do sự thừa nhận của số đông trong xã hội hay sự thừa nhận của một giai cấp nhất định

- Dưới góc độ chức năng: Chức năng cơ bản nhất của đạo đức là điều chỉnh hành vi của con người bằng chuẩn mực và quy tắc theo yêu cầu của xã hội Với

chức năng nhận thức và chức năng giáo dục, đạo đức giúp cho con người hình thành những quan điểm, nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực cơ bản để đánh giá hành vi đạo đức xã hội và những hành vi đạo đức của bản thân

- Cách tiếp cận từ hai góc độ trên đây còn được bổ sung bằng cách thứ ba, đó

là xem xét đạo đức với tính cách là một hệ giá trị Đạo đức là một trong những hình

thái ý thức xã hội, thường được khẳng định hay phủ định một lợi ích, một quan niệm đương thời xác định Vì vậy đạo đức là một hệ giá trị Như vậy, nội hàm của khái niệm đạo đức không chỉ hạn định ở đặc trưng là một hình thái ý thức xã hội, là phương thức cơ bản điều chỉnh hành vi con người mà đạo đức còn là một hệ giá trị bao gồm những giá trị chung và những giá trị riêng

Theo cuốn “Từ điển tiếng Việt” thì: “Đạo đức là những tiêu chuẩn, quy tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội” [58, tr.2311]

Đạo đức với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội, phản ánh hiện thực đời sống đạo đức xã hội

Trang 15

Cấu trúc của đạo đức bao gồm: Ý thức đạo đức, quan hệ đạo đức và thực tiễn

đạo đức

- Ý thức đạo đức là ý thức của con người về hệ thống những quy tắc, chuẩn

mực, hành vi phù hợp với những quan hệ đạo đức đã và đang tồn tại Ý thức đạo đức bao hàm cả các yếu tố tạo thành là tri thức, tình cảm và ý chí đạo đức

- Quan hệ đạo đức là hệ thống những quan hệ xác định gữa con người và con

người, giữa cá nhân và xã hội về mặt đạo đức Nó là một bộ phận hợp thành của quan hệ xã hội

- Thực tiễn đạo đức là hoạt động của con người do ảnh hưởng của niềm tin,

của ý thức đạo đức, là quá trình hiện thực hóa ý thức đạo đức trong đời sống của con người

Đạo đức là vấn đề thường xuyên được đặt ra và giải quyết nhằm đảm bảo cho các cá nhân, cộng đồng tồn tại và phát triển Là một thành viên của xã hội, mỗi con người cần phải có suy nghĩ và tìm ra những con đường cách thức và phương tiện về chuẩn mực, giá trị đạo đức nhất định nhằm kết hợp chặt chẽ giữa lợi ích cá nhân với lợi ích cộng đồng, từ đó đảm bảo cho sự tồn tại, phát triển của chính mình và của cộng đồng Bởi vậy mà, đạo đức trở thành mục tiêu đồng thời là động lực để phát triển xã hội

Đạo đức có các chức năng cơ bản sau:

- Chức năng điều chỉnh hành vi: Loài người tạo ra nhiều phương thức điều

chỉnh hành vi trong đó có đạo đức, pháp luật và chính trị

Đạo đức đòi hỏi từ tối thiểu đến tối đa các hành vi của đạo đức bằng dư luận

xã hội và lương tâm

Pháp luật và đạo đức điều chỉnh hành vi trong quan hệ giữa các cá nhân với cộng đồng bằng biện pháp đặc trưng là pháp luật và dư luận xã hội, lương tâm Sự điều chỉnh này có thể thuận chiều, có thể ngược chiều

Chính trị điều chỉnh hành vi giữa các giai cấp các dân tộc, các quốc gia bằng các biện pháp đặc trưng như: Ngoại giao, hành chính, kinh tế, bạo lực

Trang 16

Như vậy, chức năng điều chỉnh hành vi của đạo đức bằng dư luận xã hội và lương tâm đòi hỏi từ tối thiểu tới tối đa hành vi con người đã trở thành đặc trưng riêng để phân biệt đạo đức với các hình thái ý thức khác, các hiện tượng xã hội khác

- Chức năng nhận thức: Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức có

chức năng nhận thức thông qua sự phản ánh nhận thức xã hội Đạo đức là phương thức đặc biệt của sự chiếm lĩnh thế giới con người; là hiện tượng xã hội vừa mang tính tinh thần vừa mang tính hành động hiện thực

Sự nhận thức của đạo đức có đặc điểm: Nhận thức của đạo đức vừa là quá trình hướng ngoại và vừa mang tính hướng nội Nhận thức hướng ngoại lấy những chuẩn mực, giá trị đời sống đạo đức của xã hội làm đối tượng Đó là hệ thống giá trị thiện và ác, trách nhiệm, nghĩa vụ và hạnh phúc … Nhờ nhận thức này mà chủ thể nhận thức đã chuyển hóa được những chuẩn mực đạo đức của xã hội như là cái chung thành ý thức đạo đức của cá nhân như là cái riêng

Nhận thức hướng nội (tự nhận thức), lấy bản thân mình – chủ thể đạo đức – làm đối tượng nhận thức Đây là quá trình tự đánh giá, tự thẩm định, tự đối chiếu những nhận thức, hành vi, đạo đức của mình với những chuẩn mực giá trị chung của cộng đồng Từ đó mà chủ thể hình thành, phát triển thành các quan điểm và nguyên tắc sống: thụ động hay sáng tạo, hy sinh hay hưởng thụ, vị tha hay ích kỷ, thiện hay ác… Tự nhận thức giúp chủ thể ý thức được trách nhiệm của mình và sẵn sàng hoàn thành trách nhiệm đó

Đạo đức là yếu tố cốt lõi của nhân cách con người, nó có vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội, nó là phương thức cơ bản để điều chỉnh hành vi con người, làm cho cá nhân và xã hội cùng tồn tại và phát triển

Đạo đức cách mạng

Đạo đức cách mạng của giai cấp vô sản là thành quả phát triển cao trong lịch

sử tiến hóa lâu dài của đạo đức Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH), đạo đức cách mạng của giai cấp vô sản ngày càng trở thành đạo đức chung của nhân loại

Theo quan niệm Mác xít, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách

Trang 17

ứng xử con người trong quan hệ với nhau, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội

Đạo đức cộng sản là giai đoạn cao trên con đường tiến lên đạo đức loài người

Nó chứa đựng những đặc điểm tốt đẹp của nền đạo đức trong các thời đại trước, đạo đức của quần chúng nhân dân

Đạo đức cộng sản biểu hiện sự sáng tạo mang tính quần chúng rộng rãi Các giá trị đạo đức cộng sản chủ nghĩa mang đầy ý nghĩa cao cả và vì con người Nền đạo đức ấy vừa là sản phẩm của nền sản xuất xã hội đầy sáng tạo và nhân văn, vừa

là động lực thúc đẩy xã hội phát triển

Tóm lại, đạo đức là yếu tố cốt lõi của nhân cách con người, nó có vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội, nó là một phương thức cơ bản điều chỉnh hành vi của con người, làm cho cá nhân và xã hội cùng tồn tại và phát triển Chính vì thế mà các giai cấp, các tập đoàn xã hội tiến bộ bao giờ cũng sử dụng đạo đức như là một trong những công cụ động lực để thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển

Trên cơ sở tiếp thu quan niệm đạo đức cộng sản chủ nghĩa, kế thừa tinh hoa văn hóa nhân loại, đạo đức truyền thống dân tộc; Hồ Chí Minh xây dựng lý luận đạo đức cách mạng Đồng thời Người cũng là một tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng

Đạo đức cách mạng do Hồ Chí Minh đề xướng, xây dựng và vun đắp là đạo

đức mang bản chất của giai cấp công nhân kết hợp với truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam và tinh hoa đạo đức nhân loại “Đạo đức cách mạng” trong tư tưởng Hồ Chí Minh là đạo đức mới, đạo đức cộng sản

Nhằm nhấn mạnh vai trò nhân tố của đạo đức mới – đạo đức cách mạng – đạo đức cộng sản chủ nghĩa trong việc góp phần vào thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa, và để phù hợp với thực tiễn cách mạng XHCN trong giai đoạn hiện nay, trong luận văn này chủ yếu sử dụng khái niệm “Đạo đức cách mạng” theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Theo Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng là: “Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng Đó là điều chủ chốt nhất Ra sức làm việc cho Đảng giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối chính sách của Đảng Đặt lợi ích của

Trang 18

Đảng và nhân dân lao động lên trên, lên lợi ích riêng của cá nhân mình Hết lòng phục vụ nhân dân Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc Ra sức học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ” [49, tr.285]

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, những phẩm chất chung nhất của đạo đức cách mạng Việt Nam gồm những điểm sau:

- Trung với nước, hiếu với dân: Đây là phẩm chất quan trọng nhất, bao trùm nhất và chi phối các phẩm chất khác Từ khái niệm cũ “trung với vua, hiếu với cha mẹ” trong đạo đức truyền thống, Hồ Chí Minh đưa vào đó một nội dung mới, phản ánh đạo đức ngày nay cao rộng hơn, đó là “trung với nước, hiếu với dân” Đó là một cuộc cách mạng trong quan niệm đạo đức

“Trung” và “hiếu” là hai khái niệm cơ bản, đứng đầu trong “tam cương” và

“ngũ luân” của đạo đức Nho giáo Với Hồ Chí Minh, “Trung” là trung với nước, là trung thành với sự nghiệp dựng nước, giữ nước của nhân dân, của Đảng; “Hiếu” là hiếu với dân, là đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân, thương dân, gần dân, gắn bó với dân, kính trọng và lễ phép với dân, học tập dân, dựa vào dân, lấy dân làm gốc Đối với cán bộ, đảng viên, Hồ Chí Minh đặt ra yêu cầu cao hơn là “tận trung với nước, tận hiếu với dân”, vì theo Người, cán bộ đảng viên vừa

là người lãnh đạo, người “dẫn dắt”, vừa là “người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” Trung với nước, hiếu với dân có quan hệ chặt chẽ với nhau, càng “trung với nước” bao nhiêu thì càng “hiếu với dân” bấy nhiêu và ngược lại, càng “hiếu với dân” bao nhiêu thì càng “trung với nước” bấy nhiêu

“Trung với nước, hiếu với dân, suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” Câu nói đó của Người vừa là lời kêu gọi hành động, vừa là định hướng chính trị - đạo đức cho mỗi người Việt Nam không phải chỉ trong cuộc đấu tranh cách mạng trước mắt, mà còn lâu dài về sau

- Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư

Trang 19

Theo Hồ Chí Minh, “Cần” tức là lao động cần cù, siêng năng; mọi người cần phải có đức tính cần cù, chủ động, tích cực và sáng tạo để mang lại hiệu quả cao trong công việc mà mình đảm nhận Cán bộ, đảng viên phải chuyên cần, phải say

mê công việc của Đảng, của nhân dân giao phó như chính công việc của gia đình mình; phải tìm tòi, sáng tạo, vận dụng vào thực tiễn có hiệu quả; phải thấy rõ “lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta”

“Kiệm” tức là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền của của dân, của nước, của bản thân mình; không xa xỉ, hoang phí Mục đích của tiết kiệm

là nâng cao hiệu quả của lao động sản xuất, vì vậy mọi người phải thực hành tiết kiệm, phải biết tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ, nhiều cái nhỏ cộng lại thành cái to, không phô trương hình thức, không liên hoan, chè chén lu bù

“Liêm” tức là “luôn luôn tôn trọng giữ gìn của công và của dân”; “không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của Nhà nước, của nhân dân”; không tham lam tiền của, địa vị, danh lợi, không tham ăn ngon, mặc đẹp, v.v Do vậy, theo Hồ Chí Minh, cán bộ, đảng viên phải giữ lấy chữ “Liêm” làm đầu, phải thường xuyên rèn luyện phẩm chất liêm khiết trước nhân dân, trước Đảng Cán bộ, đảng viên phải thực hành chữ “Liêm” trước để làm kiểu mẫu cho nhân dân

Chính “nghĩa là không tà, thẳng thắn, đứng đắn” Đối với mình: không tự cao, tự đại, luôn chịu khó học tập cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân mình Đối với người: không nịnh hót người trên, không xem khinh người dưới, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết thật thà, không dối trá, lừa lọc Đối với việc: để việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà

Người cán bộ, đảng viên không chỉ nỗ lực rèn luyện mình theo chính nghĩa cách mạng mà phải đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực, không chân chính; không chỉ tích cực xây dựng đức “chính” cho người khác mà phải thực sự phê bình

và tự phê bình một cách thẳng thắn để chiến thắng sự cám dỗ của các thế lực đen tối

Trang 20

Về chí công vô tư, như Người nói: “Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, với việc” và “khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”; “phải lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”

Chí công vô tư là chăm lo việc nước như chăm lo việc nhà, chăm lo việc tập thể như việc gia đình Như vậy, chí công vô tư không phải là không chăm lo đến lợi ích riêng, Người chỉ yêu cầu là trong quan hệ giữa lợi ích chung và lợi ích riêng phải hài hòa, khi nghĩ đến lợi ích riêng phải tính đến và ưu tiên đến lợi ích chung

Chí công vô tư là phải chống tham nhũng, chống chủ nghĩa cá nhân Chủ tịch

Hồ Chí Minh lưu ý, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là giày xéo lên lợi ích cá nhân Vì theo Hồ Chí Minh, mỗi người đều có tính cách, sở trường riêng, đời sống riêng, nếu lợi ích cá nhân mà không trái với lợi ích tập thể thì không phải

là xấu

Cần, kiệm liêm, chính, chí công vô tư là những phẩm chất căn bản của người cán bộ, đảng viên

- Tinh thần quốc tế trong sáng Đó là tinh thần đoàn kết quốc tế vô sản mà

Hồ Chí Minh đã nêu lên bằng mệnh đề: “Bốn phương vô sản đều là anh em”; là tinh thần đoàn kết với các dân tộc bị áp bức, với nhân dân lao động các nước trong cuộc đấu tranh cho tiến bộ, hòa bình, độc lập dân tộc, hữu nghị, vì CNXH và chủ nghĩa cộng sản, mà Hồ Chí Minh đã dày công vun đắp bằng hoạt động cách mạng thực tiễn của bản thân mình và bằng sự nghiệp cách mạng của cả dân tộc

- Thương yêu, quý trọng con người

Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người rất toàn diện và độc đáo Người

đã xác định; tình yêu thương con người là một trong những phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất Người cách mạng, người có lý tưởng XHCN không thể là người không có tình yêu thương con người Rộng lượng, khoan dung với người, biết cách nâng đỡ con người, thái độ tôn trọng con người luôn gắn liền với yêu thương, quý trọng con người và đồng thời nghiêm khắc với bản thân mình

Đặc biệt, Hồ Chí Minh luôn dành tình yêu thương rộng lớn cho những người cùng khổ, những người lao động bị áp bức bóc lột; Người viết: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta

Trang 21

được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” [49, tr.267]

Cũng theo Hồ Chí Minh, yêu thương con người là không phân biệt họ ở miền xuôi hay miền ngược, là trẻ hay già, trai hay gái … không phân biệt một ai, không trừ một ai hễ là người Việt Nam yêu nước

Đạo đức cách mạng “là gốc, là nền tảng của người cách mạng”, là nguồn nước làm cho tinh thần cách mạng không bao giờ cạn Cần phải nhấn mạnh rằng, đạo đức cách mạng mà Hồ Chí Minh đã chỉ ra như: Trung với nước hiếu với dân; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; tinh thần quốc tế trong sáng … là một động lực giúp cho con người vượt qua cạm bẫy của chủ nghĩa cá nhân, vượt qua những khó khăn thử thách, gian khổ để phấn đấu cho lợi ích của Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc và của loài người Vì đạo đức cách mạng luôn gắn liền với việc thực hiện mục tiêu của Đảng nên một người cách mạng vừa phải có đức, vừa phải

có tài Có đức mà không có tài không thể phục vụ tốt nhiệm vụ cách mạng Cán bộ đảng viên nếu không được học tập, nâng cao trình độ lý luận Mác – Lênin, không hiểu biết về khoa học kỹ thuật, không có trình độ văn hóa … thì không thể nói tới việc xây dựng thành công CNXH Ngược lại, người có tài lại phải có đức, có tài năng, trí tuệ, sự hiểu biết về khoa học kỹ thuật nhưng phải có đức để phục vụ đúng mục đích, cống hiến cho nhân dân, cho Đảng Có như vậy mới đem lại được hiệu quả Tài và đức là hai mặt cấu thành nhân cách người đảng viên nói chung, người đảng viên là cán bộ nói riêng, chúng phải thống nhất gắn bó với nhau Nếu tách rời, bản thân mỗi thành tố sẽ tự làm suy yếu nó Nói về sự thống nhất này, Hồ Chí Minh viết: “Có tài mà không có đức ví như một anh làm kinh tế rất tài giỏi nhưng lại đi đến thụt kết thì chẳng những không được gì lợi ích cho xã hội, mà còn làm hại cho

xã hội nữa Nếu có đức mà không có tài, ví như ông Bụt không làm hại gì, nhưng cũng không lợi cho loài người” [50, tr.126]

Đạo đức cách mạng không ngừng được củng cố và phát triển cùng với sự thắng lợi ngày càng to lớn của cách mạng XHCN, của phương thức sản xuất XHCN, trở thành nền đạo đức chung của loài người Tuy nhiên nó cũng không phải

là nền đạo đức tuyệt đối, chân chính, cuối cùng, nhưng hiện nay nó đang tiêu biểu

Trang 22

cho sự lật đổ hiện tại, biểu hiện cho lợi ích của tương lai … là hình thái đạo đức có một số lượng nhiều nhất những nhân tố hứa hẹn một sự tồn tại lâu dài

Tóm lại, đạo đức cách mạng là đạo đức đáp ứng yêu cầu thực tiễn cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, là sự thống nhất hữu cơ giữa phẩm chất chính trị và phẩm chất đạo đức tạo nên nền tảng nhân cách của người cán

bộ, đảng viên; là động lực thúc đẩy người cán bộ - đảng viên trong quá trình hoạt động cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới nhằm thực hiện mục tiêu cơ bản của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc và CNXH; là dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh

1.1.2 Sự biến đổi của đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay

KTTT là nền kinh tế hàng hóa phát triển ở trình độ cao, là một hình thức tổ chức xã hội hiệu quả nhất phù hợp với trình độ phát triển của xã hội hiện nay

Sự nghiệp đổi mới toàn diện, triệt để và sâu sắc dưới sự lãnh đạo của Đảng đã đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội hết sức nặng nề và kéo dài trong nhiều năm trước đổi mới “Sự hoài nghi về khả năng dung hợp giữa KTTT và XHCN, có thể nói, về cơ bản đã kết thúc với việc những kết quả to lớn do KTTT mang lại thực tế đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước” [9, tr.10] Đại hội lần thứ IX của Đảng một lần nữa khẳng định mạnh mẽ rằng: “Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, đó chính là nền KTTT định hướng XHCN” [18, tr.86]

Tuy nhiên, trong bất cứ nền KTTT nào, tính hai mặt của nó là một đặc điểm vốn có Cơ chế thị trường kích thích sự phát triển kinh tế, nâng cao tổng sản phẩm

xã hội, tạo điều kiện cho sự phát triển con người về mọi mặt, trong đó có đạo đức Con người tham gia vào hoạt động kinh tế thị trường về nhân cách được độc lập, tự

do có quyền bình đẳng trong cạnh tranh, giữ chữ tín trong trao đổi và tăng cường quan tâm phát triển lợi ích chung của toàn xã hội

Trang 23

Tham gia vào KTTT, con người có điều kiện phát triển nhân cách cá nhân: Tính quyết đoán, tự chủ, tự chịu trách nhiệm, tính năng động sáng tạo trong lập thân, lập nghiệp được khẳng định

Bên cạnh những mặt tích cực nói trên, cơ chế thị trường cũng gây ra hàng loạt những hiện tượng tiêu cực đối với đạo đức và tiến bộ xã hội Đó là, sự phân hoá giàu nghèo một cách sâu sắc, từ đó làm sâu sắc thêm những mâu thuẫn xã hội Kinh tế thị trường dễ nảy sinh những tệ nạn xã hội: tham nhũng, tội phạm, bạo lực Nó kích thích lòng tham lợi, dẫn đến khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như sức lực của người lao động KTTT còn kích thích chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa cá nhân cực đoan, lối sống chạy theo đồng tiền bất chấp đạo lý Đặc biệt, đối với những nước mới bước vào kinh tế thị trường, sự đụng độ giữa KTTT và các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc cũng trở thành một vấn đề nan giải

Như vây, KTTT vừa có ảnh hưởng tích cực, vừa có ảnh hưởng tiêu cực đối với đạo đức Là một phương diện của nhân tính, đạo đức rất nhạy cảm trước tác động của KTTT, nó trở thành vấn đề cấp bách gây ra mối quan tâm không chỉ trên bình diện lý luận mà cả trên bình diện thực tiễn Vì thế, việc lựa chọn nội dung và hình thức giáo dục thích hợp có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa

Đạo đức là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, của ý thức xã hội, một mặt

bị quy định bởi cơ sở hạ tầng và tồn tại xã hội; mặt khác nó cũng có tính độc lập tương đối và tác động tích cực trở lại đối với cơ sở hạ tầng, tồn tại xã hội Vì vậy trong điều kiện phát triển KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa, đạo đức có vai trò rất

to lớn

Ý nghĩa của quá trình chuyển sang KTTT định hướng XHCN ở nước ta là ở chỗ nó đã góp phần to lớn trong việc giải phóng sức sản xuất của xã hội, tăng năng suất lao động, tạo tiền đề vật chất để nâng cao đời sống của nhân dân KTTT kích thích tính tích cực và tiềm năng sáng tạo của con người, hình thành một cách phổ biến các nhân cách độc lập, phát triển tính tự chủ của cá nhân Thế nhưng, nền KTTT dù là thị trường định hướng XHCN, bên cạnh việc tạo ra những điều kiện tối

Trang 24

ưu cho sự phát triển, vẫn thể hiện sự tác động tiêu cực nhất định tới tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là lĩnh vực đạo đức Tuy KTTT vừa mới bắt đầu hình thành, nhưng trong xã hội Việt Nam hiện nay đã xảy ra những biến động về mặt đạo đức, lối sống rất đáng lo ngại Cụ thể như:

Thứ nhất, sự phát triển KTTT ở nước ta hiện nay đã dẫn đến những biến đổi

tương ứng trong thang giá trị đạo đức

Hiện nay nước ta đang thực hiện quá trình đổi mới toàn diện đất nước Từ đổi mới kinh tế, đến đổi mới chính trị, đổi mới văn hóa xã hội, đổi mới quan hệ quốc tế

Do đó, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đang có sự chuyển đổi sâu sắc và tác động đến đời sống tinh thần, trong đó các nhân tố tác động chủ yếu đến đạo đức là:

Nước ta chuyển từ cơ chế kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Quá trình chuyển sang nền KTTT định hướng

xã hội chủ nghĩa ở nước ta đang từng bước làm thay đổi các điều kiện kinh tế theo các hướng:

Chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp hiện vật sang kinh tế hàng hóa, trao đổi lao động cho nhau qua thước đo giá trị là tiền

Chuyển từ kinh tế khép kín sang nền kinh tế mở, gắn với phân công lao động trong nước và quốc tế, chuyển từ nền kinh tế trên phạm vi hộ gia đình, làng xóm, ít tính cạnh tranh sang kinh tế hàng hóa cạnh tranh quyết liệt trên phạm vi trong nước

và thế giới Tác động của môi trường kinh tế vào giá trị đạo đức truyền thống, đặc biệt lối sống là rất đáng kể Chuyển sang cơ chế kinh tế mới, sự phân hóa xã hội là không tránh khỏi Cạnh tranh tạo ra sáng kiến và nâng cao năng suất lao động, đồng thời cũng làm cho sự rủi ro ngày càng cao, sự phân hóa thu nhập có chiều hướng gia tăng

Do tác động của lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền, “có cầu sẽ cung”, trong xã hội xuất hiện những tệ nạn xã hội mới, ảnh hưởng nghiêm trọng đến những chuẩn mực giá trị đạo đức truyền thống Đó là những điều kiện khách quan không thể tránh khỏi đang tác động trực tiếp vào những giá trị đạo đức truyền thống, nhất

là vào tính cộng đồng, tình làng, nghĩa xóm

Nước ta đang mở cửa giao lưu với thế giới, tham gia vào quá trình hợp tác phân công lao động quốc tế trong bối cảnh quốc tế và trong nước có nhiều diễn biến

Trang 25

phức tạp, tuy có nhiều thời cơ và thuận lợi, nhưng cũng rất nhiều khó khăn và thử thách tác động đến nền tảng đạo đức dân tộc Những tư tưởng tư sản như chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa tự do mới, chủ nghĩa đa nguyên chính trị và các thứ văn hóa phẩm đồi trụy cũng xâm nhập vào nước ta Mặt khác, lợi dụng nước ta mở cửa nền kinh tế, các thế lực phản động quốc tế đang thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, tập trung vào lĩnh vực tư tưởng, văn hóa và đạo đức nhằm xóa bỏ chủ nghĩa

xã hội ở Việt Nam

Sự biến động mạnh mẽ của các điều kiện kinh tế - xã hội, tất yếu không thể không có sự chuyển đổi thang giá trị đạo đức Vấn đề là chuyển đổi theo hướng nào, tiến bộ hay thoái hóa, thăng hoa hay sa đọa Phải chăng kinh tế phát triển thì trình

độ đạo đức xã hội tự nhiên sẽ được nâng cao ? Phải chăng quan niệm hiệu quả kinh

tế đồng nghĩa với chủ nghĩa sùng bái đồng tiền? Thực tế ở Việt Nam cho thấy, thang giá trị đạo đức xã hội đang thay đổi cực kỳ nhanh chóng, phức tạp, có cả tích cực và tiêu cực, thậm chí có cả đảo lộn, sự biến động diễn ra nhiều chiều chưa ổn định Trong điều kiện mới, các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc đang có những chuyển biến phức tạp, có đấu tranh giữa cái tiến bộ và cái lạc hậu, giữa thiện

và ác, giữa lối sống lành mạnh, trung thực, thủy chung với lối sống thực dụng, dối trá, ích kỷ, ăn bám, chạy theo đồng tiền Đạo đức mới vừa phải đấu tranh với các hệ thống đạo đức khác, vừa phải đấu tranh để tự đổi mới, tự khẳng định mình trong điều kiện mới, trên cơ sở kế thừa và đổi mới cho thích ứng với tình hình mới

Sự du nhập các giá trị phương Tây do mở cửa, hội nhập kinh tế trong quá trình phát triển KTTT đã khiến một số người có cách nghĩ và lối sống không thích hợp với cả hiện trạng kinh tế lẫn truyền thống văn hóa của con người Việt Nam Những

tư tưởng vọng ngoại, sùng ngoại ấy đang làm suy giảm các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, của gia đình Việt Nam truyền thống

Với sự phát triển của KTTT, tư tưởng và lối sống chạy theo lợi ích là cái được

đề cao, đã hình thành và nảy sinh lối sống hám lợi Với lối sống này, từng cá nhân, mỗi gia đình hay sự liên kết giữa chúng thành êkíp làm giàu bằng mọi cách, thậm chí còn bất chấp luật pháp, đạo lý, tình nghĩa Vì lợi nhuận, mà đã có gia đình trong

đó cha mẹ, con cái, anh chị em cùng làm ăn bất chính hay lừa đảo lẫn nhau, đẩy cả

Trang 26

gia đình vào bi kịch Sự cám dỗ của đồng tiền và nhu cầu kiếm tiền bằng mọi cách

đã làm không ít người choáng ngợp, sẵn sàng chà đạp lên luân thường đạo lý Trong gia đình và xã hội xuất hiện ngày càng nhiều nghịch cảnh Quan niệm có tiền là có tất cả đã khiến người ta quên mất rằng tiền bạc đâu có làm nên hạnh phúc Quan niệm “tiền trao cháo múc”, mối quan hệ “trả tiền ngay không tình không nghĩa” đã

có ảnh hưởng không nhỏ đến việc giáo dục các giá trị nhân văn chân chính, giáo dục đạo lý truyền thống trong gia đình Ngoài xã hội xuất hiện lối sống và cách sống xa lạ trái với thuần phong, mỹ tục của dân tộc Nạn tham nhũng, buôn lậu, làm giàu bất chính và các tệ nạn xã hội khác đang phát triển

Thực trạng và những vấn đề trên đã phần nào cảnh báo cho chúng ta biết được

sự biến đổi của đạo đức trong điều kiện KTTT ở Việt Nam hiện nay đang diễn ra hết sức phức tạp Các bậc thang giá trị có phần bị đảo lộn Bên cạnh cái tiến bộ được du nhập vào Việt Nam thì đồng thời, những cái tiêu cực, cái xấu, cái đáng lên

án cũng đang xâm nhập vào mọi lĩnh vực

Đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên do sống và làm việc tương đối lâu trong môi trường của cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, nay chuyển sang sống và làm việc trong một môi trường mới của KTTT, là một sự thay đổi về chất Điều đó đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải có những kiến thức mới, nhất là kiến thức kinh tế, mà còn phải có đạo đức cách mạng vững vàng để làm chủ được KTTT, biết phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của nó

Số đông cán bộ, đảng viên giữ được đạo đức, phẩm chất cách mạng, có lối sống lành mạnh, giản dị gắn bó với nhân dân Phần lớn cán bộ, đảng viên nhất trí, tin tưởng vào công cuộc đổi mới của Đảng và nhà nước, tham gia và đóng góp nhiều cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tuy nhiên, bên cạnh đó hiện nay

đã có sự suy thoái về đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ có chức, có quyền Hiện tượng quan liêu, cửa quyền, sách nhiễu nhân dân, ăn chơi sa đọa, tham nhũng, bè phái gây mất đoàn kết ở bộ phận này không được ngăn chặn có hiệu quả Đã có không ít trường hợp cán bộ, đảng viên vì

sự cám dỗ của đồng tiền mà làm băng hoại đạo đức cách mạng, ảnh hưởng đến thanh danh của Đảng, của dân tộc

Trang 27

Trong điều kiện KTTT, nhiều phẩm chất tốt đẹp của cán bộ, đảng viên được hình thành, rèn luyện trong kháng chiến, trong cách mạng giải phóng dân tộc như lòng yêu nước, lòng nhân ái, căm thù giặc, vị tha, dũng cảm … nay bị cám dỗ bởi quyền lực, tiền tài, danh vọng làm cho mai một Từ đó dẫn đến tư tưởng bi quan, dao động trước những khó khăn, trước lối sống thực dụng … Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa IX nhấn mạnh: “Điều làm cho nhân dân còn bất bình, bức xúc nhất hiện nay là tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí, suy thoái về tư tưởng chính trị và phẩm chất đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên vẫn còn rất nghiêm trọng; kỷ cương phép nước trong nhiều việc, nhiều lúc chưa nghiêm” [21, tr.188]

Thứ hai, KTTT tạo điều kiện cho việc tìm kiếm lợi nhuận Do đó, chủ nghĩa cá

nhân, chủ nghĩa cơ hội và thực dụng có môi trường phát triển

Đặc tính cơ bản của thị trường là cạnh tranh và tự do Trên cơ sở tự do mua bán, thị trường mang lại lợi ích cho cả hai bên vì người bán thấy có lợi mớ i bán và người mua nếu không thấy lợi ích của việc trao đổi thì không mua Lợi ích đó lớn hay nhỏ tùy thuộc vào mức độ hoàn hảo của thông tin về thị trường Thông tin về thị thường là phi đối xứng với ý nghĩa là người bán và người mua không có cùng độ chính xác về thông tin liên quan đến hàng hóa hay dịch vụ; thông thường thì người bán biết rõ về chất lượng hàng hóa hơn người mua

Nguyên tắc của thị trường là cạnh tranh Cạnh tranh đem lại hiệu quả cao trong việc sử dụng các nguồn lực và cung cấp ra thị trường những hàng hóa và dịch

vụ với chất lượng ngày càng tốt và giá cả hợp lý Đó là giá cả ở trạng thái bình thường trong đó người bán được bảo đảm một tỉ lệ tiền lãi nhất định và người mua thỏa mãn với giá đó Để xác lập được trạng thái thị trường như vậy, cạnh tranh phải

ở trong khuôn khổ luật pháp, theo những "luật chơi" đã được quy định Nhà nước bảo đảm những điều kiện để có cạnh tranh bình đẳng, chính đáng Sự công bằng trong cạnh tranh là một trong những điều kiện để KTTT có chất lượng tốt Nạn độc quyền, đấu thầu không công khai hoặc có sự móc ngoặc giữa cán bộ nhà nước với một bên tham gia đấu thầu dĩ nhiên là xa lạ với KTTT

Trang 28

Khi những lợi ích cá nhân che lấp lương tâm và trách nhiệm đạo đức thì sự khoan dung, tính năng động, những nỗ lực ý chí không còn là biểu hiện cho sức mạnh bản chất của con người Vì coi trọng lợi ích cá nhân, do đó con người ta dễ nảy sinh chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa vị kỷ cực đoan Tâm lý cá nhân chủ nghĩa đã nâng lợi ích riêng thành lợi ích vị kỷ và đối lập với lợi ích xã hội Do đó, nó mâu thuẫn với chủ nghĩa tập thể, với chuẩn mực giá trị đạo đức của con người

Bởi vậy, xây dựng đạo đức cách mạng và lối sống trong sạch cho cán bộ, đảng viên trong điều kiện KTTT và mở rộng giao lưu quốc tế, chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng, lối sống sa hoa là một nhiệm vụ cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay

1.2 Nội dung, yêu cầu và vai trò của việc xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay

1.2.1 Khái niệm về đội ngũ cán bộ chủ chốt

Hiện nay đang có nhiều quan niệm khác nhau về cán bộ chủ chốt Để nhận thức đầy đủ và đúng đắn vấn đề này, chúng ta cần làm rõ một số khái niệm sau đây:

Thứ nhất, khái niệm “cán bộ”: “Cán bộ: 1 Người làm việc trong cơ quan

nhà nước – cán bộ nhà nước 2 Người giữ chức vụ, phân biệt với người bình thường, không giữ chức vụ trong các cơ quan, tổ chức nhà nước” [61, tr.249] Theo Điều 1 Pháp lệnh của Ủy ban thường vụ quốc hội số 2 – L/CTN ngày 26 tháng 2 năm 1998 nói về cán bộ, công chức: “Cán bộ, công chức quy định tại Pháp lệnh này

là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”

Hồ Chí Minh đã đưa ra định nghĩa về cán bộ hết sức khái quát, giản dị và dễ hiểu Theo Người: “Cán bộ là người đem chính sách của Đảng, Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành, đồng thời đem tình hình dân chúng báo cáo cho Đảng, Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng” [53, tr.33]

Từ những định nghĩa nêu trên, có thể hiểu “cán bộ” là khái niệm dùng để chỉ những người ở trong cơ cấu của một tổ chức nhất định, có trọng trách hoàn thành nhiệm vụ theo chức năng được tổ chức đó phân công Như vậy, dù có nhiều quan niệm khác nhau về cán bộ, nhưng có thể khái quát lại thành hai cách hiểu cơ bản:

Trang 29

Một là, cán bộ là những người giữ chức vụ trong một cơ quan hay một tổ

chức để phân biệt với người không có chức vụ

Hai là, cán bộ bao gồm những người trong biên chế nhà nước, làm việc trong

các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể chính trị xã hội, các doanh nghiệp nhà nước

và các lực lượng vũ trang nhân dân từ Trung ương đến địa phương và cơ sở

Từ những quan niệm về cán bộ nêu trên cho thấy, người cán bộ có những đặc trưng cơ bản sau: Cán bộ giữ một chức vụ, một trọng trách nào đó trong một tổ chức của hệ thống chính trị; cán bộ được sự ủy nhiệm của Đảng, Nhà nước và các tổ chức khác trong hệ thống chính trị… lấy danh nghĩa của các tổ chức đó để hoạt động; cán bộ được hưởng lương và chính sách đăi ngộ căn cứ vào nội dung, chất lượng hoạt động và thời gian công tác của họ; cán bộ phải thông qua tuyển chọn hay phân công công tác sau khi hoàn thành chương trình đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, cán bộ được bổ nhiệm, đề bạt hoặc bầu cử

Thứ hai, khái niệm “chủ chốt” là “quan trọng nhất, có tác dụng làm nòng

cốt Cán bộ chủ chốt của phong trào” [76, tr.174]

Thứ ba, khái niệm “cán bộ chủ chốt”: Từ những nội dung trình bày nêu trên,

có thể hiểu “cán bộ chủ chốt” là người có chức vụ, nắm giữ các vị trí quan trọng, có tác dụng làm nòng cốt trong các tổ chức thuộc hệ thống bộ máy của một cấp nhất định; người được giao đảm đương các nhiệm vụ quan trọng để lãnh đạo, quản lý, điều hành bộ máy thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao; chịu trách nhiệm trước cấp trên và cấp mình về lĩnh vực công tác được giao

Đội ngũ cán bộ chủ chốt có những đặc trưng cơ bản như sau: là những người đại diện một tổ chức, một tập thể… chủ yếu do bổ nhiệm hoặc bầu cử, giữ một chức vụ trọng yếu trong cơ quan Đảng, chính quyền (cấp trưởng, cấp phó); trưởng các đoàn thể và là những người chịu trách nhiệm trước cấp trên và cấp mình

về mọi hoạt động của địa phương, đơn vị hoặc lĩnh vực công tác được đảm nhận

Là người có vị trí quan trọng, giữ vai trò quyết định trong việc xác định phương hướng, mục tiêu, phương pháp công tác; đề ra các quyết định và tổ chức thực hiện tốt các quyết định của cấp mình hoặc cấp trên giao Kiểm tra, giám sát, kịp

Trang 30

thời chấn chỉnh, uốn nắn những biểu hiện lệch lạc; bổ sung, điều chỉnh kịp thời những giải pháp mới khi cần thiết; đúc rút kinh nghiệm, tổng kết thực tiễn để bổ sung, hoàn chỉnh lý luận Đồng thời, cán bộ chủ chốt còn là người giữ vai trò đoàn kết, tập hợp, phát huy sức mạnh của quần chúng thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị và xây dựng nội bộ tổ chức vững mạnh

Từ nhận thức đó, đặc biệt theo Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn; Nghị định 114/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn; Quyết định 04/2004/QĐ-BNV ngày 16/1/2004 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ về tiêu chuẩn đối với cán bộ công chức xã, phường, thị trấn; tác giả luận văn đề cập đến đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở của

xã, phường, thị trấn ở tỉnh Hải Dương bao gồm các chức danh: Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ; Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND; Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND

Cấp cơ sở là địa bàn có vị trí hết sức quan trọng, là nơi trực tiếp tổ chức mọi hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội ở địa phương, bảo đảm an ninh quốc phòng, trật

tự an toàn xã hội; là nơi kiểm nghiệm, phản ánh cung cấp một cách khách quan những căn cứ cho việc bổ sung, hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở, luôn tăng cường xây dựng, củng cố, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ này Về lý luận cũng như về mặt thực tiễn, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở vững mạnh sẽ là một trong những nguồn cán bộ quan trọng cung cấp cho Đảng và Nhà nước Đề cập đến vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Cấp cơ sở không những là cái khâu liên hệ mà là cái kho dồi dào cho Đảng lấy thêm lực lượng mới Cấp cơ sở lại là môi trường quan trọng tạo điều kiện cho cán bộ rèn luyện và trưởng thành

Hiện nay, một số địa phương trong đó có tỉnh Hải Dương chưa thấy được hết

vị trí chiến lược của cấp cơ sở, nên không ít người đã coi cấp cơ sở là thấp kém, là không có tiền đồ trong tương lai Vì thế, họ không tâm huyết, phấn khởi nhiệt tình khi được thuyên chuyển, luân chuyển đi công tác ở cấp cơ sở, thậm chí họ còn né tránh, thoái thác khi được tổ chức phân công đến công tác tại cơ sở xã, phường, thị trấn

Trang 31

1.2.2 Nội dung và yêu cầu của việc xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở Việt Nam hiện nay

Xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở, trước hết phải làm rõ nội dung và yêu cầu của đạo đức cách mạng đối với đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở hiện nay

Nội dung đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở Việt Nam hiện nay

Trong nội dung của đạo đức cách mạng, các phạm trù đạo đức cơ bản, các

nguyên tắc đạo đức được nâng lên một tầm cao mới Cụ thể là: Lẽ sống, Hạnh phúc,

Nghĩa vụ đạo đức, Lương tâm, Cái thiện

Lẽ sống: hay ý nghĩa cuộc sống của con người là vấn đề vừa có ý nghĩa triết

học, vừa có ý nghĩa đạo đức

Quan niệm về lẽ sống trong đạo đức học Mác - Lênin: Đạo đức học Mác xít khẳng định ý nghĩa cuộc sống của con người trong đời sống hiện thực và xem đó như nền tảng tinh thần của đời sống con người

Để có thể giải quyết một cách khoa học nội dung của ý nghĩa cuộc sống con người cần phải xuất phát từ những tiền đề hiện thực, khách quan gắn liền với những hoạt động cơ bản, hoạt động sinh sống của con người

Để có thể tồn tại và phát triển, con người và xã hội loài người phải dựa vào lao động sản xuất, lao động là phương thức tồn tại và phát triển xã hội Lao động sản xuất còn là động lực, là phương thức hình thành, phát triển và hoàn thiện con người

cả về mặt thể chất lẫn tinh thần Lao động sản xuất của con người không chỉ bó hẹp trong một mục đích duy nhất là duy trì sự tồn tại thể xác của họ, mà còn biến bản thân hoạt động ấy thành đối tượng của ý thức và ý chí khiến cho hoạt động ấy trở nên chủ động, sáng tạo và theo quy luật của cái đẹp

Quá trình lao động sản xuất không chỉ là sản xuất các giá trị vật chất, mà còn sản xuất ra các giá trị tinh thần thấm đượm vào các sản phẩm vật chất khiến cho bản thân chúng cũng được thể hiện ra như những giá trị tinh thần xã hội

Vì vậy, trong quá trình lao động sản xuất và hưởng thụ, để duy trì và phát triển đời sống, con người tìm đối tượng không chỉ là vật chất mà còn là tinh thần,

Trang 32

văn hóa Cùng với sự phát triển của hoạt động lao động sản xuất với tính xã hội hóa ngày càng cao, chứa đựng lượng trí tuệ ngày càng lớn thì đời sống tinh thần, văn hóa càng có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với lao động sản xuất xã hội Chính vì vậy, lao động sản xuất của con người không chỉ dừng lại ở trình độ kỹ thuật, công

cụ mà trên một bình diện cao hơn, nó còn đòi hỏi tìm cho mình một ý nghĩa cho toàn bộ hoạt động đó

Những hoạt động lao động sản xuất là cốt lõi của toàn bộ hoạt động của con người, là bản chất sâu xa nhất của con người, cho nên ý nghĩa của lao động sản xuất cũng là ý nghĩa cuộc sống của con người

Như vậy, vấn đề ý nghĩa cuộc sống con người là một quá trình phát triển không ngừng bắt nguồn từ hoạt động sống của con người, xét đến cùng là từ lao động sản xuất xã hội

Lao động sản xuất của con người bao giờ cũng mang tính chất xã hội Quá trình đó cũng là quá trình phát triển và hoàn thiện con người thông qua sự phát triển các quan hệ xã hội Vì thế khi xem xét ý nghĩa cuộc sống của con người không thể xem xét nó với ý nghĩa là một con người đơn độc mà phải đặt con người trong xã hội và chỉ có như vậy, ý nghĩa cuộc sống con người mới có tính chất hiện thực

Đạo đức mácxít cho rằng, quá trình hoạt động sống mà cốt lõi là lao động sản xuất bao giờ cũng mang tính xã hội Các chủ thể tham gia vào lao động sản xuất

xã hội đã tạo nên những giá trị vật chất hoặc tinh thần đóng góp vào thành quả chung của xã hội Chính những thành quả đó làm cho cuộc sống của các chủ thể hoạt động mang một ý nghĩa xã hội

Việc các chủ thể lao động sản xuất đóng góp vào xã hội như vậy cũng là sự đòi hỏi của xã hội đối với mỗi cá nhân thành viên trong quá trình lao động sống của mình Quá trình lao động cho xã hội của mỗi cá nhân, mỗi chủ thể hoạt động như vậy chính là thực hiện nghĩa vụ của mình

Mặt khác, trong quá trình hoạt động sống, các chủ thể không chỉ thực hiện với ý nghĩa cống hiến, đóng góp cho xã hội mà còn làm cho các hoạt động sống trở nên có ý nghĩa với bản thân chủ thể Đó là sự hoàn thiện năng lực hoạt động, kỹ năng, kỹ xảo nâng cao phẩm chất trí tuệ, làm sâu sắc và phong phú nhận thức, bồi

Trang 33

dưỡng tình cảm tốt đẹp, cao thượng, tạo ra những nguồn thu nhập nhằm bồi dưỡng,

bù đắp phát triển thể chất, tinh thần và cả những phương thức hưởng thụ những thành quả do mình và xã hội sáng tạo ra Toàn bộ những ý nghĩa đó đối với chủ thể hoạt động chính là hạnh phúc con người

Lẽ sống chi phối lý tưởng, niềm tin, thái độ sống, các quan niệm về hạnh phúc, thiện và ác Ý nghĩa cuộc sống của người cán bộ cách mạng là thực hiện sự thống nhất giữa nghĩa vụ và hạnh phúc trong mọi hoạt động của mình Trong đó, lẽ sống của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở là nền tảng tinh thần của đời sống người cán bộ, đảng viên Nhờ có lẽ sống đúng đắn, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở giữ được sự thống nhất hữu cơ giữa nghĩa vụ và hạnh phúc, giữa cống hiến và hưởng thụ, tránh tâm lý bi quan , với lẽ sống đúng, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở sẽ sống, chiến đấu, lao động và học tập với tinh thần lạc quan, tin tưởng vào sự nghiệp phát triển của địa phương và đất nước Lẽ sống của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ

sở là phải gần gũi với nhân dân, lắng nghe được tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, phục vụ nhân dân

Như vậy, ý nghĩa cuộc sống hay lẽ sống của con người là sự thống nhất nghĩa vụ và hạnh phúc thông qua hoạt động thực tiễn, hoạt động xã hội của con người, cho nên lẽ sống đạo đức đó là sống đúng đắn, biết kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân và xã hội

Hạnh phúc: Là cảm xúc vui sướng, hài lòng của con người trong cuộc sống khi

được đáp ứng, thỏa mãn các nhu cầu chân chính, lành mạnh về vật chất và tinh thần

Quan niệm về hạnh phúc của con người có ý nghĩa hết sức quan trọng trong đời sống tinh thần nói chung và đời sống đạo đức nói riêng Nó là một trong những nền tảng tinh thần giúp con người xây dựng những lý tưởng, mục tiêu, thái độ sống

Nó cũng là hạt nhân, là thước đo, định hướng để con người thiết lập các khái niệm thiện, ác, phẩm giá và hàng loạt các khái niệm nhân bản khác Hạnh phúc đúng nghĩa không phải chỉ có cái do con người cảm nhận được mà bao hàm cả sự đánh giá, thừa nhận của xã hội Do đó, nhiều lúc con người thỏa mãn các nhu cầu của mình mà không được coi là hạnh phúc thậm chí có khi đó là sự cắn rứt của lương tâm, có khi là bất hạnh nếu bị xã hội lên án

Trang 34

Hạnh phúc theo nghĩa hẹp là cảm xúc vui sướng khi thỏa mãn các nhu cầu đạo đức cao cả Do đó, hạnh phúc bao gồm hai yếu tố: Mặt khách quan của hạnh phúc chính là nhu cầu phát triển của xã hội mà chủ thể nhận thức biến thành tình cảm, trách nhiệm Mặt chủ quan là nỗ lực, hăng say hoạt động của con người vươn tới những thành quả phù hợp nhu cầu xã hội Thỏa mãn nhu cầu đạo đức cao cả nghĩa

là khi nhu cầu thỏa mãn mang lại cho chủ thể sự thanh thản của lương tâm, tự hào

về cuộc sống, nâng cao ý thức về nghĩa vụ Loại nhu cầu này được thỏa mãn sẽ mang lại hạnh phúc cho con người

Tuy nhiên trong cuộc sống, không phải bất cứ nhu cầu nào thỏa mãn cũng là hạnh phúc, có khi nhu cầu thỏa mãn mang lại sự cắn rứt lương tâm Hơn nữa nhu cầu luôn lớn lên, tức là nhu cầu này thỏa mãn thì xuất hiện nhu cầu khác, cảm giác

về sự thỏa mãn nhu cầu luôn có sự biến động, phát triển

Với quan niệm cách mạng về hạnh phúc, thông qua hoạt động thực tiễn, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở nâng cao được năng lực công tác, phát triển tài năng, tình cảm cách mạng cũng như tư chất đạo đức, giữ vững và phát triển các mối quan

hệ xã hội Khi đó đội ngũ này có được niềm vui, niềm tự hào, nâng cao ý thức phẩm giá của mình, tin tưởng vào xã hội, vào sự nghiệp xây dựng CNXH của đất nước, tin vào sức mạnh quần chúng nhân dân, gắn bó với tập thể

Hạnh phúc của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở chỉ có thể có được khi nó được đặt trong sự giàu có và bình an của nhân dân, trong sự công bằng, dân chủ và văn minh của xã hội ở địa bàn mình phụ trách Thực hiện tốt các chính sách của Đảng và Nhà nước, tích cực xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế -xã hội ở cơ sở, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân làm hạnh phúc của chính mình

Nghĩa vụ đạo đức: Chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống đạo

đức xã hội Việc thực hiện nghĩa vụ đạo đức tốt hay xấu là thước đo đặc thù nói lên tình trạng tiến bộ hay thoái hóa của đời sống đạo đức trong một xã hội nhất định

Ý thức về nghĩa vụ đạo đức thường được nuôi dưỡng, củng cố phát triển trong môi trường của một nền giáo dục tốt, môi trường gia đình đầm ấm, xã hội lành mạnh Trong những điều kiện đó, mỗi thành viên của cộng đồng chẳng những được

Trang 35

hưởng thụ một bầu không khí đạo đức trong sáng, cao quí và chứa chan tình người

mà bản thân họ cũng đồng thời là những cá nhân trưởng thành về đạo đức, yêu lao động, có lý tưởng và hoài bão, kính người, yêu đời, lạc quan tin tưởng vào xã hội Mất đi ý thức về nghĩa vụ đạo đức cũng chính là đánh mất ý thức về chính bản thân mình, mất đi ý nghĩa làm người của mình

Ý thức về nghĩa vụ đạo đức là quá trình phát triển lâu dài từ hàng ngàn, hàng vạn năm Thông qua hoạt động lao động sản xuất và hoạt động xã hội, bảo vệ cái thiện, chống cái ác, xã hội đã hình thành nên những quan hệ giữa người và người ngày càng đa dạng phong phú, sâu sắc nếu thiếu nó thì lợi ích xã hội, lợi ích cá nhân, lợi ích của mọi cộng đồng, mọi xã hội sẽ bị đe dọa Các quan hệ đó có thể là quan hệ chính trị, quan hệ kinh tế, quan hệ xã hội, nhưng bao trùm lên tất cả, thấm sâu vào mọi mối quan hệ xã hội là quan hệ đạo đức mà đặc trưng là nghĩa vụ đạo đức của con người

Vì thế ý thức về nghĩa vụ đạo đức được tất cả mọi người trong xã hội vun đắp, giữ gìn, phát triển để trở thành niềm tin, thành tình cảm thiêng liêng mà mỗi thế hệ người kế tiếp giữ gìn, kế thừa, bổ sung và hoàn thiện như một di sản quí báu thể hiện lòng biết ơn, sự quí trọng đối với thế hệ đi trước và trách nhiệm cao quí với thế

hệ đi sau

Mỗi cá nhân con người, khi sinh ra đã bắt đầu được giáo dục ý thức nghĩa vụ đạo đức, trước hết bằng con đường giáo dục gia đình Bằng tình thương yêu, sự chăm sóc của gia đình, con người đã cảm thụ và hình thành tình thương yêu đối với cha mẹ, ông bà, anh chị em và những người thân Những cảm thụ ban đầu ấy dần dần sâu sắc thêm, lớn thêm và được củng cố để làm thành những yếu tố tạo nên hạt nhân ban đầu của ý thức về nghĩa vụ đạo đức sau này

Cùng với quá trình trưởng thành, mỗi con người còn được hưởng một nền giáo dục của nhà trường, của cộng đồng, đoàn thể xã hội và những nhân tố văn hóa truyền thống, văn hóa xã hội Qua đó mỗi cá nhân, tùy thuộc vào đặc điểm và mức

độ hoạt động tích cực mà dần dần hoàn thiện ý thức về nghĩa vụ đạo đức của mình như niềm tin bên trong, như tình cảm thiêng liêng, như ý thức về đạo đức làm người

Trang 36

Ý thức về nghĩa vụ đạo đức không thể được hình thành thật sự chỉ bằng con đường giáo dục lý thuyết Ý thức về nghĩa vụ bao giờ cũng được củng cố, phát triển bền vững bằng hoạt động thực tiễn Thông qua hoạt động lao động sản xuất, hoạt động xã hội với tất cả những khó khăn trở ngại cũng như thách thức, con người ngày càng nhận thức, kiểm nghiệm trong thực tiễn những giá trị mà nghĩa vụ đạo đức mang lại

Đối với đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở, nghĩa vụ đạo đức của họ là lòng quyết tâm sắt đá phục vụ những yêu cầu của xã hội, những lợi ích của nhân dân một cách tự nguyện như là sự thực hiện những lẽ phải thông thường, những công lý của

xã hội, không quản khó khăn, gian khổ, hy sinh những quyền lợi riêng vì lợi ích chung của địa phương và đất nước

Lương tâm: Xu hướng tiêu biểu của con người là hành động hướng thiện,

mong muốn làm điều thiện và tự đánh giá, phán xử hành vi của mình Có được những điều đó là nhờ có lương tâm lương tâm là thế giới nội tâm sâu kín bên trong,

nó có tác dụng điều chỉnh ý thức, hành vi của con người Nhờ có lương tâm mà đạo đức xã hội mới bảo tồn và phát triển lương tâm giúp con người hối cải và điều chỉnh lỗi lầm Người có lương tâm dù bất kỳ ở đâu và trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng giữ được nhân cách tốt đẹp của mình Do đó, lương tâm hướng con người đến những điều tốt đẹp và đấu tranh chống lại cái ác Nếu người không có lương tâm thì

họ không thể thực hiện tốt nghĩa vụ đạo đức, ngược lại họ sẳn sàng làm điều ác, tàn bạo

Lương tâm là đặc trưng của cá nhân nên nó có tính chủ quan nghĩa là lương tâm phụ thuộc bởi năng lực, khả năng, tình cảm và trí tuệ của mỗi con người Nhưng lương tâm còn có tính chất giai cấp tức là do lập trường quan điểm giai cấp chi phối ý thức đạo đức và tình cảm đạo đức đồng thời lương tâm còn có tính nhân loại phổ biến đó là sự công bằng và các giá trị phổ quát Do đó, có những kẻ thuộc giai cấp thống trị vẫn tỏ ra có lương tâm

Vai trò của lương tâm: Lương tâm trong sạch khi hành vi phù hợp với chuẩn mực đạo đức được xã hội công nhận, tức ý thức được sự lương thiện của mình và tạo ra cảm giác vững tâm về nhân phẩm, danh dự, tạo ra sự thanh thản cho tâm hồn

Trang 37

Nếu lương tâm không trong sạch khi chủ thể hành động không đúng chuẩn mực đã được công nhận, dẫn đến cảm giác lương tâm không trong sạch chính là sự cắn rứt lương tâm Tình cảm lương tâm là sự hài hòa giữa khát vọng hạnh phúc và tận tâm với nghĩa vụ Thực hiện nghĩa vụ một cách trung thực là ngọn nguồn cơ bản của niềm vui, hạnh phúc của con người Nếu lương tâm cắn rứt, dằn vặt thì bất hạnh

sẽ lớn hơn nhiều

Trong cuộc đấu tranh với thiên nhiên khắc nghiệt để tồn tại và phát triển, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước, nhân dân ta đã chịu nhiều mất mát và đau thương cả về vật chất lẫn tinh thần; mặc dù có rất nhiều khó khăn, gian khổ nhưng nhân dân vẫn một lòng tin theo Đảng đấu tranh giành thắng lợi vẻ vang, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam

Lương tâm đạo đức cách mạng ở đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở hiện nay ở chỗ phải biết quan tâm đến dân, không để dân phải đói, phải khổ, phải để dân biết, dân làm, dân kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh tế, chính trị -xã hội ở địa phương mình phụ trách

Sự hình thành lương tâm phải là một quá trình phấn đấu, rèn luyện bền bỉ, lâu dài Lương tâm hết sức nhạy cảm, tinh tế và thường trực giúp con người cảm nhận nên gọi là giác quan thứ sáu Người ta cho rằng, lương tâm thường không mắc sai lầm, nhưng tiếng nói của nó nhiều khi lại hết sức yếu ớt đến nỗi con người có thể dập tắt nó không khó khăn Vì vậy, vấn đề rèn luyện, giáo dục lương tâm phải là công việc thường xuyên cho suốt cả cuộc đời

Cái thiện: Là cái tốt đẹp, là lợi ích của con người phù hợp với những tiêu

chuẩn của sự tiến bộ xã hội Cái thiện trong đạo đức cách mạng là tất cả những tư tưởng và hành động thực hiện sự thống nhất lợi ích vật chất cũng như lợi ích tinh thần giữa các thành viên trong xã hội, giữa cá nhân với tập thể, giữa các cộng đồng người Nó tạo ra động lực cách mạng, sáng tạo ra một xã hội mới giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh

Đạo đức cách mạng “là gốc, là nền tảng của người cách mạng”, là nguồn nước làm cho tinh thần cách mạng không bao giờ cạn Đạo đức cách mạng phản ánh những lợi ích căn bản của giai cấp công nhân, nó là vũ khí tinh thần mạnh mẽ của

Trang 38

giai cấp công nhân và nhân dân lao động sử dụng để xóa bỏ xã hội cũ, xây dựng xã hội mới XHCN

Đạo đức cách mạng có những nguyên tắc cơ bản sau:

Thứ nhất, chủ nghĩa tập thể là cơ sở của đạo đức cách mạng

Tính tập thể, tính cộng đồng của con người được hình thành từ rất sớm do nhu cầu lao động sản xuất và tồn tại của con người Tính tập thể một khi được nhận thức

và thừa nhận là một giá trị cao đẹp, một nguyên tắc sống thì phát triển thành chủ nghĩa, tư tưởng

Chủ nghĩa tập thể (collectivism) là thuật ngữ dùng để mô tả bất cứ một cách

nhìn nhận nào về mặt đạo đức, chính trị hay xã hội nếu như cách nhìn nhận đó nhấn mạnh đến sự phụ thuộc qua lại giữa con người với nhau và tầm quan trọng của tập thể chứ không phải là của từng cá nhân riêng rẽ Chủ nghĩa tập thể là nguyên tắc cơ bản của đạo đức xã hội chủ nghĩa Tiêu chuẩn cao nhất của nó là mọi lời nói và việc làm đều phải phù hợp với lợi ích cơ bản của quần chúng nhân dân Khi quyền lợi cá nhân mâu thuẫn với lợi ích của tập thể thì quyền lợi cá nhân phải phục tùng vô điều kiện lợi ích của tập thể, phải cố gắng kết hợp lợi ích của tập thể với lợi ích của cá nhân Chủ nghĩa tập thể đối lập với chủ nghĩa cá nhân, nhưng không hề thủ tiêu, phủ nhận lợi ích cá nhân Ngược lại, chủ nghĩa tập thể đòi hỏi tập thể phải có nghĩa vụ đối với mỗi cá nhân, quan tâm về mọi mặt của đời sống cá nhân như sức khỏe, lợi ích và cả tài năng; đồng thời các cá nhân cũng phải biết kết hợp hài hòa giữa nhu cầu lợi ích của mình với lợi ích của tập thể và của xã hội; như vậy thì tập thể không thủ tiêu, không vi phạm đến nhân cách cá nhân Nếu tuyệt đối hóa lợi ích cá nhân, thì sẽ rơi vào chủ nghĩa cá nhân, ngược lại, xem nhẹ lợi ích cá nhân, chà đạp lên lợi ích cá nhân thì sẽ làm triệt tiêu động lực và trái với nguyên tắc đạo đức của chủ nghĩa tập thể chân chính, là cản trở con đường giải phóng cá nhân, giải phóng nhân loại Chủ nghĩa tập thể vừa là nguyên tắc cơ bản, vừa là cơ sở khoa học của đạo đức cách mạng Xây dựng chủ nghĩa tập thể trong hệ thống chính trị và cho nhân dân là trách nhiệm của toàn thể nhân dân, các tổ chức mà trước hết là đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở nhằm khắc phục chủ nghĩa cá nhân Chính vì vậy, phải luôn luôn coi trọng việc tuyên truyền, giác ngộ và xây dựng chủ nghĩa tập thể, phải kỷ luật thích

Trang 39

đáng đối với cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở có tư tưởng chủ nghĩa cá nhân, cục bộ, bệnh quan liêu; cần có sự kết hợp hài hòa giữa lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể Để khắc phục được bệnh quan liêu, tư tưởng cục bộ,

bè phái, Hồ Chí Minh đã đưa ra cách chữa bệnh ấy gồm có một nguyên tắc là:

“Theo đúng đường lối nhân dân và sáu điều là: Đặt lợi ích nhân dân lên trên hết; liên hệ chặt chẽ với nhân dân; việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân

dân rõ; có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân, và hoan nghênh nhân dân phê bình mình; sẵn sàng học hỏi nhân dân; tự mình phải làm gương mẫu

cần kiệm liêm chính, để nhân dân noi theo” [48, tr.293] Đây cũng là bản chất tốt

đẹp của chế độ xã hội mới mà Đảng và Nhà nước ta đang xây dựng

Thứ hai, chủ nghĩa yêu nước kết hợp với chủ nghĩa quốc tế

Bất cứ một dân tộc nào đều có lòng yêu nước của họ Lòng yêu nước tuy một phần là tình cảm tự nhiên của con người với đất nước mình, nhưng mặt khác quan trọng hơn, nó chính là sản phẩm của lịch sử, được hun đúc bởi chính lịch sử dân tộc Cùng với sự tiến triển của lịch sử Việt Nam, tinh thần yêu nước trở thành chủ nghĩa yêu nước, trở thành một giá trị, một động lực tinh thần vô cùng mạnh mẽ thúc đẩy biết bao thế hệ kiên cường hy sinh để giành lại và bảo vệ độc lập Tổ quốc, bảo vệ những phẩm giá của chính con người

Khi lòng yêu nước phát triển thành một triết lý nhân sinh, một trình độ nhận thức sâu sắc và có hệ thống, chi phối một cách ý thức mọi hành vi ứng xử của con người thì nó trở thành chủ nghĩa yêu nước: “Chủ nghĩa yêu nước là tình yêu đối với đất nước, lòng trung thành với Tổ quốc và khát vọng phục vụ những lợi ích của Tổ quốc và nhân dân” [25, tr.159]

Ngày nay, lòng yêu nước đã có thêm những nội dung phong phú hơn khi đất nước đang hội nhập với thế giới Chủ nghĩa yêu nước trong đạo đức cách mạng đã được mở rộng và nâng lên về chất: Yêu nước chính là yêu nhân dân, yêu lao động, yêu chế độ XHCN và quyết tâm đem hết khả năng và sức lực xây dựng thành công CNXH, yêu nước trên lập trường chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân

Lòng yêu nước được dân tộc Việt Nam nuôi dưỡng từ đời này qua đời khác, dù

có biến đổi nhưng không bao giờ mất đi Trong điều kiện KTTT, hội nhập quốc tế,

Trang 40

chống nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế, vượt qua những xấu xa, cám dỗ …, đạo đức cách mạng cần bổ sung thêm, đó là lòng tự trọng dân tộc Từ đó, mọi công dân, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở phải thường xuyên trau dồi kiến thức và lao động hết mình để đưa quê hương, đất nước ra khỏi nghèo nàn, lạc hậu

Có thể khẳng định rằng, tinh thần quốc tế trong sáng trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh bắt nguồn từ tình thương yêu đối với con người; vì mục tiêu giải phóng các dân tộc bị áp bức, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, mang lại tự do và bình đẳng thật sự cho con người Từ chủ nghĩa quốc tế trong sáng đó, Hồ Chí Minh

đã đặt nền móng và xây dựng nên tình đoàn kết quốc tế rộng lớn của nhân dân Việt Nam với các dân tộc trên thế giới, góp phần vào những thắng lợi to lớn của nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới

Đối với đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở, chủ nghĩa yêu nước và tinh thần quốc tế được cụ thể hóa thiết thực là tình yêu sâu đậm con người, quê hương nơi mình phụ trách, tự hào với truyền thống, đoàn kết, vượt khó, giữ gìn và xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc của các dân tộc anh em; có những đóng góp tích cực cho quá trình dân chủ hóa hệ thống chính trị ở địa phương, chỉ đạo thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước vào sự nghiệp phát triển văn hóa, xã hội tại cơ sở

Sự kết hợp chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế đòi hỏi đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở trong khi bảo vệ chủ quyền của đất nước về mặt lãnh thổ, kinh

tế, chính trị và văn hóa thì cũng phải trân trọng dân tộc khác, trân trọng nền độc lập, chủ quyền của họ, tạo nên sự bình đẳng dân tộc, mà thực chất là sự bình đẳng giữa người lao động sống ở những quốc gia khác nhau Yêu Tổ quốc, nhân dân mình đồng thời cũng phải yêu nhân dân lao động các dân tộc khác, trân trọng những tinh hoa văn hóa của địa phương, dân tộc mình, chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn chia rẽ,

kỳ thị và phân biệt chủng tộc Lao động, chiến đấu, xây dựng quê hương mình, tích cực đoàn kết ủng hộ và giúp đỡ đối với phong trào cộng sản, phong trào công nhân

và phong trào giải phóng dân tộc cũng như các phong trào tiến bộ khác trên toàn thế giới

Trong thời kỳ mới của cách mạng, nguồn lực quan trọng để xây dựng và phát triển đất nước chính là mở rộng tình đoàn kết quốc tế, quan hệ hợp tác cùng có lợi,

Ngày đăng: 24/03/2015, 09:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. G.Bandxelaze (1985), Đạo đức học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức học
Tác giả: G.Bandxelaze
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1985
2. Hoàng Chí Bảo (Chủ biên) (2004), Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn nước ta hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn nước ta hiện nay
Tác giả: Hoàng Chí Bảo (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
3. Bộ Giáo dục và đào tạo (2006), Giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học
Tác giả: Bộ Giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
4. Bộ Nội vụ (2004), Hệ thống chính trị cơ sở - thực trạng và một số giải pháp đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống chính trị cơ sở - thực trạng và một số giải pháp đổi mới
Tác giả: Bộ Nội vụ
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
6. Nguyễn Hữu Cát (2004), “Giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, Tạp chí Triết học (số 9), tr11 – 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh”," Tạp chí Triết học
Tác giả: Nguyễn Hữu Cát
Năm: 2004
7. Nguyễn Trọng Chuẩn và Nguyễn Văn Phúc (Đồng chủ biên) (2004), Mấy vấn đề đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn và Nguyễn Văn Phúc (Đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
8. Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề đạo đức cách mạng (1986), Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề đạo đức cách mạng
Tác giả: Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề đạo đức cách mạng
Nhà XB: Nxb Thông tin lý luận
Năm: 1986
9. Thành Duy (2000), “Vấn đề nâng cao đạo đức cách mạng trong xây dựng chỉnh đốn Đảng”, Tạp chí Cộng sản (số 26), tr. 13 – 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề nâng cao đạo đức cách mạng trong xây dựng chỉnh đốn Đảng”," Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Thành Duy
Năm: 2000
10. Vũ Trọng Dung (2004), “Tác động của kinh tế thị trường đến đạo đức người cán bộ quản lý”, Tạp chí Triết học (số 5), tr. 5 – 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của kinh tế thị trường đến đạo đức người cán bộ quản lý”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Vũ Trọng Dung
Năm: 2004
11. Đại học Sao Đỏ (2011), Kỷ yếu hội thảo khoa học đổi mới phương pháp giảng dạy đại học, cao đẳng, Hải Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội thảo khoa học đổi mới phương pháp giảng dạy đại học, cao đẳng
Tác giả: Đại học Sao Đỏ
Năm: 2011
12. Đảng bộ tỉnh Hải Dương (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Hải Dương lần thứ XIV, Văn phòng Tỉnh ủy Hải Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Hải Dương lần thứ XIV
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Hải Dương
Năm: 2006
13. Đảng bộ tỉnh Hải Dương (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu tỉnh lần thứ XV, Văn phòng Tỉnh ủy Hải Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu tỉnh lần thứ XV
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Hải Dương
Năm: 2011
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ ba
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm, Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm, Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (1999), Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu (lần 2), Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu (lần 2), Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1999
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Hội nghị lần thứ bẩy, Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ bẩy
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm, Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm, Ban Chấp hành Trung ương khóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Văn kiện Hội nghị lần thứ chín, Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ chín, Ban Chấp hành Trung ương khóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức kỷ luật  Đình - Xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở trong điều kiện kinh tế thị trường ở tỉnh Hải Dương hiện nay
Hình th ức kỷ luật Đình (Trang 109)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w