1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của ngân hàng thế giới đối với các nước đang phát triển và một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam

47 3,4K 12

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những công trình chủ yếu là: “Các thiết chế tài chính quốc tế và sự tác động đối với các nước đang phát triển” do Nguyễn Văn Thanh chủ biên đã đề cập đến những thành công và thất bại c

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh tế chính trị

Mã số: 5.02.01

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Văn Dũng

HÀ NỘI - 2005

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Lực lượng sản xuất ngày càng phát triển đạt đến trình độ xã hội hoá cao, các quá trình kinh tế không còn tồn tại một cách biệt lập mà có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau làm hình thành nên nền kinh tế toàn cầu Sự gia tăng tính phụ thuộc của các quá trình kinh tế tất yếu dẫn đến sự ra đời các tổ chức kinh

tế quốc tế Trong các tổ chức kinh tế quốc tế nổi lên một định chế tài chính toàn cầu là Ngân hàng thế giới Từ khi ra đời, hoạt động của Ngân hàng thế giới ngày càng mở rộng ra nhiều quốc gia và trong nhiều lĩnh vực khác nhau Vậy vai trò của Ngân hàng thế giới trong nền kinh tế thế giới như thế nào? Mục đích, nguyên tắc hoạt động của tổ chức đó ra sao? Nó có tác động đối với các quốc gia đặc biệt

là những quốc gia đang phát triển như thế nào? đó là những câu hỏi cần có câu trả lời

Việt Nam hiện nay đang trong quá trình đổi mới, chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới Trong quá trình mở cửa hội nhập, việc thiết lập quan hệ với các tổ chức tài chính quốc tế đa phương là rất cần thiết, trong đó có Ngân hàng thế giới Ngân hàng thế giới hiện nay là nhà tài trợ ODA lớn thứ hai ở Việt Nam Nếu Việt Nam thiết lập quan hệ tốt với tổ chức này thì sẽ góp phần khai thác có hiệu quả các nguồn lực từ bên ngoài đáp ứng nhu cầu tăng trưởng và phát triển kinh tế

Xuất phát từ suy nghĩ đó, em chọn đề tài “Vai trò Ngân hàng thế giới đối với các nước đang phát triển và một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam ” nhằm đánh giá tác

động của Ngân hàng thế giới đối với các nước đang phát triển và đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam để mở rộng quan hệ với tổ chức này

2 Tình hình nghiên cứu

Ở Việt Nam trong những năm gần đây đã có một số công trình nghiên cứu về

Ngân hàng thế giới Những công trình chủ yếu là: “Các thiết chế tài chính quốc tế

và sự tác động đối với các nước đang phát triển” do Nguyễn Văn Thanh chủ biên

đã đề cập đến những thành công và thất bại của Ngân hàng thế giới và Quỹ tiền tệ

Trang 3

quốc tế trong 50 năm tồn tại và phát triển Tuy nhiên, tác phẩm đó chỉ tập hợp những bài viết của những tác giả khác nhau ở trong và ngoài nước về các khía

cạnh khác nhau của hai tổ chức này “Các tổ chức tài chính quốc tế và quan hệ

của Việt Nam” do Bộ Tài chính chủ biên giới thiệu sơ lược về lịch sử hình thành,

cơ cấu tổ chức của Ngân hàng thế giới và quan hệ với Việt Nam “Các định chế

tài chính, tổ chức thương mại và thị trường ngoại hối” do Lê Văn Tư chủ biên

giới thiệu khái quát về Ngân hàng thế giới

Nhìn chung, những công trình trên đây đã đề cập đến một số khía cạnh khác nhau của tổ chức này Cho đến nay chưa có tác giả nào nghiên cứu một cách hệ thống về Ngân hàng thế giới

3 Mục đích nghiên cứu

Dưới góc độ kinh tế chính trị, mục đích nghiên cứu đề tài này là làm rõ tác động hai mặt của Ngân hàng thế giới đối với các nước đang phát triển và Việt Nam từ đó đưa ra những giải pháp cần thiết để Việt Nam tranh thủ những tác động tích cực, hạn chế tác động tiêu cực của Ngân hàng thế giới

4 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu về lịch sử hình thành, cơ cấu tổ chức và nhất là các chương trình, dự án hoạt động của Ngân hàng thế giới ở các nước đang phát triển và Việt Nam (lượng vốn phân bổ, điều kiện vay vốn, kết quả những chương trình dự án và tác động đối với nước nhận viện trợ)

5 Phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi của luận văn, tác giả nghiên cứu tác động của Ngân hàng thế giới đối với một số nước đang phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ, Braxin, Ácmennia, Tháilan, Inđônêsia, Bănglađét, Zimbabuê, Zambia và Việt Nam và đánh giá những tác động chủ yếu từ những năm 1980 trở lại đây

6 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng những phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng

và chủ nghĩa duy vật lịch sử Những phương pháp cụ thể là: trừu tượng hoá khoa học, phân tích và tổng hợp, lôgic và lịch sử…

Trang 4

7 Những đóng góp mới của luận văn:

Luận văn có những đóng góp mới sau:

- Làm rõ tác động hai mặt của các chương trình hỗ trợ của Ngân hàng thế giới đối với các nước đang phát triển

- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp để phát triển quan hệ giữa Ngân hàng thế giới và Việt Nam

8 Bố cục của luận văn

Ngoài lời mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Tổng quan về Ngân hàng thế giới

Chương 2: Tác động của Ngân hàng thế giới đối với các nước đang phát triển Chương 3: Quan điểm định hướng và những giải pháp nhằm phát triển quan hệ giữa Ngân hàng thế giới và Việt Nam

Trang 5

1.2 Cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của Ngân hàng thế giới

1.2.1 Các tổ chức của Nhóm Ngân hàng thế giới

1.2.1.1 Ngân hàng quốc tế cho tái thiết và phát triển (IBRD)

1.2.1.2 Công ty tài chính quốc tế (IFC)

1.2.1.3 Hiệp hội phát triển quốc tế (IDA)

1.2.1.4 Cơ quan bảo lãnh đầu tư đa phương (MIGA)

1.2.1.5 Trung tâm quốc tế giải quyết các tranh chấp đầu tư (ICSID)

1.2.2 Cơ cấu tổ chức của nhóm Ngân hàng thế giới

1.2.3 Quyền bầu cử và cơ chế ra quyết định của Ngân hàng thế giới

1.3 Mục tiêu hoạt động của Ngân hàng thế giới

1.4 Hoạt động của Ngân hàng thế giới tại các quốc gia đang phát triển

1.4.1 Hoạt động cho vay

1.4.2 Đồng tài trợ và quỹ uỷ thác

1.4.3 Viện trợ không hoàn lại

Chương 2 Tác động của Ngân hàng thế giới đối với

các nước đang phát triển

Trang 6

đang phát triển

2.1.1.2 Cải thiện cơ sở hạ tầng vật chất cho nền kinh tế ở các nước đang phát triển

2.1.1.3 Phát triển nông nghiệp, nông thôn ở những nước đang phát triển

2.1.1.4 Giúp các nước tạo lập và duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô

2.1.1.5 Khuyến khích sự phát triển mạnh mẽ của đầu tư tư nhân và đẩy mạnh cải

cách doanh nghiệp nhà nước

2.1.1.6 Khuyến khích các nước đang phát triển đẩy mạnh cải cách kinh tế theo hướng

tự do, mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế mạnh mẽ hơn

2.1.1.7 Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo

Chương 3 Quan điểm định hướng và những giải pháp

nhằm phát triển quan hệ giữa Ngân hàng thế giới và Việt Nam

3.1 Hoạt động của Ngân hàng thế giới tại Việt Nam

3.1.1 Khái quát về mối quan hệ giữa Việt Nam và Ngân hàng thế giới

3.1.2 Tác động của Ngân hàng thế giới đối với Việt Nam

3.1.2.1 Những tác động tích cực 3.1.2.2 Những hạn chế trong việc thực hiện dự án

3.2 Những quan điểm định hướng trong việc phát triển quan hệ giữa

Trang 7

Việt Nam với Ngân hàng thế giới

3.2.1 Phát triển quan hệ với Ngân hàng thế giới là một vấn đề tất yếu, có tính

chiến lược và lâu dài

3.2.2 Phát triển quan hệ với Ngân hàng thế giới cần luôn tính đến tác

động hai mặt của nó

3.2.3 Chủ động thực hiện cải cách và tạo lập những điều kiện cần thiết

để hợp tác có hiệu quả với Ngân hàng thế giới

3.3 Các giải pháp nhằm mở rộng quan hệ với Ngân hàng thế giới

3.3.1 Tham gia hợp tác toàn diện với Ngân hàng thế giới trên tất cả các

mặt hoạt động khác nhau

3.3.2 Thực hiện cải cách một số lĩnh vực trọng yếu trong nền kinh tế hiện nay

3.3.3 Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong quản lý và thực hiện

dự án với Ngân hàng thế giới

3.3.4 Đào tạo và nâng cao trình độ đối với những cán bộ làm trong lĩnh

vực có liên quan đến Ngân hàng thế giới

Trang 8

NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

IBRD Ngân hàng quốc tế cho tái thiết và phát triển

ICSID Trung tâm quốc tế giải quyết các tranh chấp đầu tư IDA Hiệp hội phát triển quốc tế

IFC Công ty tài chính quốc tế

IMF Quỹ tiền tệ quốc tế

MIGA Cơ quan bảo lãnh đầu tư đa phương

OED Ban đánh giá hoạt động

WB Ngân hàng thế giới

Trang 9

CHƯƠNG 3:

QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN QUAN HỆ GIỮA NGÂN HÀNG THẾ GIỚI

VÀ VIỆT NAM

3.1 HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THẾ GIỚI TẠI VIỆT NAM

3.1.1 Khái quát về mối quan hệ giữa Việt Nam và Ngân hàng thế giới

Ngày 18 tháng 8 năm 1956, Việt Nam dưới danh nghĩa của Chính quyền Sài gòn Nam Việt Nam đã gia nhập Ngân hàng thế giới Việt Nam đã đóng góp vào các tổ chức của WB như sau: góp vào Ngân hàng quốc tế cho tái thiết và phát triển IBRD 54,3 triệu đôla, trong đó góp bằng đô la là 552.942 đô la; góp vào hiệp hội phát triển quốc tế IDA 1,616 triệu đô la trong đó góp bằng đô la là 151.000 đô la

và góp vào công ty tài chính quốc tế IFC 166.000 đô la Do đó, ở trong IBRD, Việt Nam có 968 cổ phần, tương ứng 1218 phiếu bầu, chiếm 0,08% tổng số phiếu bầu

Ở IDA, Việt Nam có 14.778 cổ phần, tương ứng với 19.203 phiếu bầu, chiếm 0,14% tổng số phiếu bầu Trước năm 1975, Việt Nam không có quan hệ tín dụng với tổ chức này [2,156]

Ngày 21 tháng 9 năm 1975, nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã tiếp quản tư cách hội viên tại WB của chính quyền Sài gòn cũ Năm 1978, WB cho Việt Nam vay một khoản tín dụng trị giá 60 triệu đô la để thực hiện dự án thuỷ lợi Dầu Tiếng Tháng 1 năm 1985, quan hệ tín dụng giữa Việt Nam và WB bị đình chỉ

do phía Việt Nam mắc nợ quá hạn [2,156]

Sau khi Việt Nam trả các khoản nợ quá hạn, đến tháng 10 năm 1993, WB đã chính thức nối lại quan hệ tín dụng với Việt Nam Song Việt Nam là một quốc gia nghèo đang phát triển, có mức thu nhập bình quân đầu người thấp, cho nên đến nay Việt Nam chưa có quan hệ vay vốn với Ngân hàng quốc tế cho tái thiết và phát triển mà chỉ có quan hệ tín dụng ưu đãi và một số khoản hỗ trợ kỹ thuật với Hiệp hội phát triển quốc tế

Từ khi nối lại quan hệ tín dụng với Việt Nam, hoạt động của WB tại Việt Nam bao gồm những nội dung sau:

Trang 10

+ Về vốn cho vay: Tính đến năm 2005, WB đã cam kết tài trợ cho Việt Nam tổng cộng 51 dự án, chương trình với tổng số vốn cam kết gần 5,6 tỷ đô la trong

đó số tiền đã được giải ngân là 2,9 tỷ đô la (chiếm 51% tổng số vốn đã cam kết) Các dự án tập trung vào nông nghiệp, cơ sở hạ tầng, giáo dục, y tế và một số lĩnh vực khác Tỉ lệ vốn vay của Việt Nam theo ngành từ năm 1993-2003 như sau: Năng lượng 23%; Giao thông 19%; Phát triển nông thôn 22%; Tín dụng hỗ trợ giảm nghèo 13%; Giáo dục 8%; Phát triển đô thị 8%; Y tế và dân số 5%; Tài chính ngân hàng 3% Ngoài ra, WB còn cung cấp viện trợ không hoàn lại trị giá 2,7 triệu

đô la của Quỹ phát triển thể chế và 15 khoản viện trợ không hoàn lại trị giá 18,9 triệu đô la theo các quỹ uỷ thác tại WB [12,19] Kết thúc năm tài chính 2005, Việt Nam nhận được 700 triệu đô la vốn cam kết của IDA và trở thành một trong số 3 nước nhận được tín dụng IDA lớn nhất

+ Về hoạt động hỗ trợ kỹ thuật: Ngoài việc cho các dự án vay, WB còn cung cấp cho Việt Nam một số khoản hỗ trợ kỹ thuật của chính WB và một số khoản hỗ trợ kỹ thuật do một số nước uỷ thác Tính đến tháng 1 năm 2000, tổng số

hỗ trợ kỹ thuật của WB dành cho Việt Nam là 71 khoản với giá trị là 86 triệu đô la [13,374] Sự hỗ trợ kỹ thuật của WB tập trung vào lĩnh vực chuẩn bị dự án, phát triển thể chế nhằm xây dựng, nâng cao năng lực một số ngành, cơ quan có liên quan đến dự án; xây dựng và phát triển chính sách nhằm nâng cao khuôn khổ pháp

lý cho các dự án cơ sở hạ tầng thuộc ngành điện và vệ sinh môi trường

WB đã xây dựng chiến lược hỗ trợ cho Việt Nam giai đoạn 2001 – 2003 với mục tiêu hỗ trợ Việt Nam thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo và tăng trưởng công bằng thông qua các chương trình, dự án và hỗ trợ kỹ thuật trong 7 lĩnh vực ưu tiên:

- Tăng cường sự ổn định vĩ mô và tính cạnh tranh

- Tăng cường khu vực tài chính

- Đổi mới hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước

- Tăng năng suất lao động thông qua cơ sở hạ tầng

- Thúc đẩy phát triển nông nghiệp và nông thôn

- Phát triển nguồn nhân lực và công bằng xã hội

Trang 11

- Cải cách hành chính, tăng cường tính công khai và sự tham gia của cộng đồng

Hiện nay, trên cơ sở Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo của Chính phủ Việt Nam, WB xây dựng chương trình cho Việt Nam vay giai đoạn 2003-2006, WB đưa ra 3 phương án cho Việt Nam vay: phương án thấp (khoảng 300 triệu đô la mỗi năm), phương án cơ bản (khoảng 600 triệu đô la mỗi năm) và phương án cao (khoảng 800 triệu đô la mỗi năm) tuỳ thuộc vào tiến độ thực hiện chiến lược toàn diện về xoá đói giảm nghèo của Chính phủ và tiến độ chuẩn bị và thực hiện các dự án của WB Trong giai đoạn này, các hoạt động của

WB tập trung hỗ trợ cho Việt Nam 3 chủ đề sau đây:

- Hỗ trợ cho quá trình chuyển nền kinh tế việt Nam sang kinh tế thị trường: theo đó, các hoạt động WB tại Việt Nam sẽ chuyển đổi từ việc lập kế hoạch sang thực hiện chương trình cải cách chính sách trong các lĩnh vực:phát triển lĩnh vực tài chính, cải cách doanh nghiệp nhà nước, hỗ trợ khơi dậy khu vực kinh tế tư nhân năng động trong nước, quản trị doanh nghiệp và sự tham gia của khu vực tư nhân vào cơ sở hạ tầng Tất cả các hoạt động của tín dụng IDA sẽ hỗ trợ về chính sách, thể chế và cơ sở hạ tầng cho quá trình chuyển đổi đang diễn ra ở Việt Nam

- Tăng cường phát triển công bằng, bền vững và có sự tham gia của mọi người dân trong xã hội Theo đó, WB sẽ hỗ trợ những lĩnh vực ưu tiên sau đây: (i) thu hẹp khoảng cách lạc hâu về phát triển ở những lĩnh vực không có lợi thế hoặc

bị tụt hậu; (ii) nâng cao mức sống cho người dân tộc thiểu số; (iii) thực hiện bình đẳng về giới và nâng cao vai trò của phụ nữ; (iv) làm cho các dịch vụ cơ bản của

xã hội trở nên dễ tiếp cận và phục vụ được cả người nghèo; (v) giảm bớt ảnh hưởng của thiên tai và các đột biến khác; và (vi) tăng cường sự bền vững môi trường

- Tăng cường quản trị nhà nước có hiệu quả: trong khuôn khổ rộng lớn này,

WB sẽ tập trung vào các hoạt động quản lý tài chính công, thông tin, tính minh bạch và phát triển pháp lý Từng lĩnh vực sẽ nhận được hỗ trợ kỹ thuật và các dự

án của IDA cho chương trình quản lý tài chính công, Chính phủ điện tử…

3.1.2 Tác động của Ngân hàng thế giới đối với Việt Nam

Trang 12

Là một nước đang phát triển, Việt Nam nằm trong chính sách chung của WB

với các nước này Tuy nhiên, những đặc điểm riêng của Việt Nam làm cho quan hệ

giữa WB và Việt Nam còn có những sắc thái riêng

3.1.2.1 Những tác động tích cực

Một cách tổng quát, những hoạt động của WB tại Việt Nam trong thời gian vừa

qua được cả phía Việt Nam và WB đánh giá cao Theo đánh giá của WB, Việt

Nam được xếp vào những quốc gia thực hiện tốt và đem lại kết quả tích cực: tốc độ

tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người tăng; ổn định kinh tế vĩ mô được duy trì;

tỉ lệ nghèo đói giảm xuống; hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học; tỉ lệ mù chữ

giảm xuống, tỉ lệ trẻ em đến độ tuổi đi học nhập trường cao; sức khoẻ và đời sống

của người dân được cải thiện, tuổi thọ bình quân tăng, tỉ lệ trẻ em bị suy dinh

dưõng giảm, sức khoẻ của bà mẹ và trẻ em có sự cải thiện rõ rệt… Khi đánh giá

kết quả các dự án đã hoàn thành ở Việt Nam, OED đánh giá hiệu quả phát triển của

các dự án của WB tiếp tục coi là tốt, tỉ lệ các dự án hoàn thành đạt yêu cầu cao

Trong 8 dự án đã hoàn thành mà OED đánh giá, 100% đạt yêu cầu cả về mục tiêu

phát triển và tiến độ thực hiện Trong 25 dự án hiện tại, 100% các dự án thiết kế

đều đạt được mục tiêu phát triển, xét về tiến độ thực hiện: 19/25 dự án được xếp

hạng đạt yêu cầu, chỉ có 6/25 dự án được xếp hạng không thoả đáng Số dự án có

nguy cơ là 6, chiếm 24% tổng số dự án nhưng lại chỉ chiếm 19% tổng vốn cam

kết, cao hơn mức trung bình trong danh mục vốn cho vay của WB [8; tr 1 phụ lục

B1]

Việt Nam đánh giá cao sự hỗ trợ của WB trong thời gian vừa qua Các dự án đã

góp phần hỗ trợ Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường vững chắc và có hiệu

quả hơn Những tác động tích cực của WB tại Việt Nam được thể hiện ở những

khía cạnh sau:

3.1.2.1.1 Hỗ trợ cho Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường

Việt Nam đang trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa Sự cam kết ngày càng mạnh mẽ của Chính phủ thực hiện cải

cách nền kinh tế hướng về thị trường mở cửa và điều này phù hợp với quan điểm

hỗ trợ của WB đối với các nước đang phát triển Chính vì có sự thống nhất về quan

Trang 13

điểm cho nên những hỗ trợ của WB đối với Việt Nam đã đáp ứng được nhu cầu

cải cách của nền kinh tế Việt Nam và đem lại những kết quả tích cực

Trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường, cải cách về chính sách và thể chế là một điều rất quan trọng để tạo điều kiện cho sự ra đời của kinh tế thị trường và đảm bảo nó hoạt động có hiệu quả Nhận thức được điều đó, trong thời gian qua, WB đã hỗ trợ tập trung vào chủ đề này thông qua các hoạt động sau đây:

* Cải thiện môi trường đầu tư cho khu vực tư nhân, từ đó tạo nhiều việc làm và

đem lại thu nhập bình quân đầu người cao hơn WB hỗ trợ Chương trình Phát triển

dự án MêKông (MPDF) Ngoài việc cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ vay (các

doanh nghiệp vừa và nhỏ là nòng cốt của khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam), Chương trình đã tiến hành nhiều nghiên cứu về môi trường đầu tư để chỉ ra những trở ngại đối với đầu tư của khu vực tư nhân trong nước WB vừa hoàn tất một nghiên cứu đánh giá tác động của Luật doanh nghiệp mới Công ty tài chính quốc

tế IFC đã nghiên cứu toàn diện sự phát triển của khu vực tư nhân và những trở ngại đối với sự tăng trưởng tiếp theo của khu vực tư nhân để thông báo cho các nhà hoạch định chính sách về các bước tiếp theo có thể tiến hành để hỗ trợ sự phát triển của khu vực tư nhân, hướng tới một khuôn khổ pháp lý thống nhất cho sự tham gia của các doanh nghiệp thuộc bất kỳ hình thức sở hữu nào WB thảo luận với các quan chức Chính phủ về chương trình phát triển kinh tế tư nhân trong khuôn khổ

Chương trình tín dụng hỗ trợ giảm nghèo bao gồm các vấn đề chính sách đối với

khu vực kinh tế tư nhân theo hướng tăng cường sự tham gia của tư nhân vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng, những lĩnh vực then chốt của nền kinh tế và cả vấn đề cho tư nhân tiếp cận với đất đai thông qua việc tăng cường cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Đồng thời, trong các dự án đầu tư của mình, WB khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân trong việc thực hiện các hợp đồng của dự án (dự án Tài chính nông thôn khuyến khích sự tham gia của các ngân hàng cổ phần vào việc cấp tín dụng cho nông dân nghèo, dự án Giao thông nông thôn thúc đẩy sự tham gia của các nhà thầu tư nhân, dự án điện Phú Mỹ với sự khuyến khích của các nhà đầu

tư tư nhân cùng hùn vốn đầu tư với WB)

Trang 14

Những tác động trên đã góp phần cải thiện chung cho môi trường đầu tư của khu vực tư nhân Quốc hội đã thông qua những sửa đổi trong Hiến pháp, biến khu vực tư nhân trở thành một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế, thừa nhận quyền của doanh nghiệp và doanh nhân trong việc quyết định hình thức kinh doanh và hoạt động trong những lĩnh vực không bị cấm Hội nghị Trung ương 5 khoá IX tháng 3-2002 đã thừa nhận khu vực tư nhân là một yếu tố đóng góp quan trọng vào tạo việc làm, thu nhập và ngân sách Hội nghị kêu gọi các nhà lãnh đạo đất nước khuyến khích khu vực tư nhân và ra quyết định đề xuất những chính sách tạo điều kiện cho việc phát triển khu vực tư nhân 50 loại giấy phép liên quan đến việc thành lập và các hoạt động của doanh nghiệp tư nhân bị bãi bỏ hoặc sửa đổi Một Nghị định về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ đã được ban hành, tiến dần tới xoá bỏ chế độ hai giá đối với các tổ chức trong và ngoài nước Luật doanh nghiệp ra đời khuyến khích tư nhân đầu tư, biểu hiện từ khi Luật Doanh nghiệp ra đời, cứ mỗi tháng có 1600 doanh nghiệp mới đăng ký Thực hiện

áp dụng mức thuế thu nhập thống nhất 28% đối với mọi loại hình sở hữu

* Cải cách doanh nghiệp nhà nước Để nâng cao tính hiệu quả và tăng cường

nguồn tài chính cho giảm nghèo, WB đã hỗ trợ kỹ thuật đối với lĩnh vực cải cách doanh nghiệp nhà nước trong một loạt các hoạt động đi kèm với Tín dụng hỗ trợ giảm nghèo bao gồm tăng cường cổ phần hoá, giải thể và bán đứt doanh nghiệp nhà nước; điều chỉnh khuôn khổ pháp lý để nâng cao hiệu quả và tính minh bạch của việc cổ phần hoá; Tiến hành kiểm toán chẩn bệnh và kế hoạch cơ cấu lại các doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn (kế hoạch cơ cấu lại 3 tổng công ty Cà phê (Vinacafe), Dệt may (Vinatex), Xuất nhập khẩu thuỷ sản (Seaprodex)); đưa ra các thông tin đáng tin cậy về hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước hàng năm; mở rộng hệ thống an sinh cho công nhân thuộc doanh nghiệp nhà nước phải thôi việc

do cải cách Với sự tài trợ của DFID, một chuyên gia chuyên trách về doanh nghiệp nhà nước đã làm việc tại văn phòng ở Hà Nội Một dự án do ASEM tài trợ

và chính phủ thực hiện nhằm theo dõi việc thực hiện kế hoạch chuyển đổi các doanh nghiệp nhà nước Các tổ công tác của Chính phủ và các nhà tài trợ về lĩnh vực doanh nghiệp nhà nước được thành lập và kèm theo đó là các chương trình đối

Trang 15

thoại giữa Chính phủ và các nhà tài trợ nhằm chia sẻ thông tin, những hiểu biết và kiến thức liên quan đến lĩnh vực này

Các hoạt động trên đây đã góp phần đẩy nhanh được tiến độ cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam Tính đến hết tháng 10 năn 2004, Việt Nam đã cổ phần hoá được 2242 doanh nghiệp nhà nước và bộ phận doanh nghiệp nhà nước trong đó một bộ phận lớn doanh nghiệp được cổ phần hoá sau năm 2000 Kết quả thực hiện cổ phần hoá đáng khích lệ, một bộ phận lớn doanh nghiệp sau khi cổ phần hoá làm ăn hiệu quả, có tính chủ động cao trong giải quyết những vấn đề tài chính, năng động trong kinh doanh, đảm bảo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động Kết quả tái cơ cấu lại 3 tổng công ty là Vinatex, Vinacafe và Seaprodex

đã đem lại những kết quả tích cực Sau quá trình tái cơ cấu, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Vinatex và Vinacafe đều khả quan hơn trước Kim ngạch xuất khẩu của Vinatex đã tăng trưởng 30%/năm từ năm 2003 Xuất khẩu của Vinacafe tăng gần 41,6% về lượng và gần 41% về giá trị so với cùng kỳ năm trước và hầu hết các đơn vị xuất khẩu cà phê đều có lãi [17,1]

* Cơ cấu lại hệ thống ngân hàng và phát triển khu vực tài chính:

Trong lĩnh vực cải cách hệ thống ngân hàng, WB tiến hành hỗ trợ kỹ thuật thông qua: một đánh giá toàn diện về hệ thống ngân hàng, tiến hành kiểm toán chẩn bệnh các ngân hàng thương mại nhà nước, đánh giá chẩn đoán đầy đủ về hệ thống báo cáo của ngân hàng; tái cơ cấu lại 2 ngân hàng thương mại quốc doanh lớn; đào tạo đội ngũ nhân viên ngân hàng; xây dựng và nâng cao năng lực quản lý cho Ngân hàng nhà nước Việt Nam Đối với hoạt động cho vay, WB đã đầu tư dự

án Hiện đại hoá hệ thống ngân hàng và hệ thống thanh toán có giá trị là 49,9 triệu

đô la và dự án này hoàn thành đạt kết quả tốt nhất trong số các dự án đã hoàn thành của WB tại Việt Nam Kết quả dự án này rất tốt, các ngân hàng được hiện đại theo

mô hình tập trung hoá tài khoản và kết nối trực tuyến Hệ thống thanh toán liên ngân hàng đã kết nối 55 tổ chức tín dụng và 217 chi nhánh trong 5 tỉnh thành phố

và mỗi ngày thực hiện từ 10 đến 14 ngàn giao dịch Có 4 ngân hàng thương mại kết nối hệ thống trong 5 tỉnh thành phố lớn (Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ) với hàng trăm chi nhánh (riêng VCB và ngân hàng

Trang 16

thương mại cổ phần Hàng hải đã kết nối với tất cả các chi nhánh) Tổng số có 70 môđun nghiệp vụ đã triển khai cho 6 ngân hàng Các hệ thống của các ngân hàng thương mại thực hiện từ 6 đến 7 triệu giao dịch mỗi ngày Đồng thời, dự án này còn huy động vốn đóng góp của chính các ngân hàng thương mại 41,3 triệu đô la

Dự án này không chỉ đem lại việc tiết kiệm tiền mà các ngân hàng thương mại giảm thời gian thanh toán từ 30 ngày tính theo thời điểm giữa năm 1995 xuống còn không đầy 24 giờ hiện nay và thúc đẩy lưu thông chu chuyển vốn nhanh, tạo điều kiện thúc đẩy các hoạt động kinh doanh và nâng cao chất lượng dịch vụ của các ngân hàng thương mại [53, 23]

Trong lĩnh vực tài chính, dự án tài chính nông thôn 1 cũng đem lại kết quả thành công khá nổi bật Mục tiêu của dự án này là làm lành mạnh hoá tài chính nông thôn thông qua sự tài trợ hướng vào nông nghiệp và các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn cùng với những hỗ trợ kỹ thuật… từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh

tế nhanh, tạo điều kiện cho người nghèo có cơ hội để cải thiện cuộc sống của họ

Để đạt được những mục tiêu đó, dự án đã cung cấp luồng vốn tín dụng cho các hộ gia đình và các doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư vào nông nghiệp và các lĩnh vực khác trong nông thôn thông qua các tổ chức tín dụng tham gia Dự án làm lành mạnh hoá tài chính nông thôn thông qua các chương trình hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo nhân viên Ngân hàng nhà nước Việt Nam trong việc quản lý và giám sát hoạt động tổng thể đặc biệt tập trung vào việc nâng cao năng lực đánh giá và sự uỷ quyền cho các tổ chức tín dụng tham gia; nâng cao năng lực của các tổ chức tín dụng tham gia thông qua các chương trình đào tạo, các cuộc hội thảo và thảo luận nhằm đem kỹ năng mới nhất của hệ thống ngân hàng quốc tế đến với Việt Nam đồng thời nâng cao năng lực đánh giá vốn vay, kế toán, kiểm toán, quản lý hồ sơ, huy động nguồn lực… Dự án còn mở rộng cách tiếp cận của người nghèo nông thôn đối với dịch vụ tài chính thông qua cung cấp tín dụng cho Ngân hàng người nghèo để cho người nghèo ở nông thôn vay, mở rộng sự hoạt động của các ngân hàng lưu động tới những vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, hẻo lánh… Sau sáu năm thực hiện, từ 1996 đến 2002, dự án đã đạt được tất cả các mục tiêu của nó Thông qua Quỹ phát triển nông thôn và Quỹ cho người nghèo nông thôn đã

Trang 17

khuyến khích đầu tư tư nhân với 600.000 khoản cho vay nhỏ đối với 260.000 người vay mượn nhỏ; 375.000 hộ gia đình nghèo tiếp cận với dịch vụ tài chính chính thức trong đó 60.000 hộ gia đình được vay trực tiếp từ quỹ người nghèo nông thôn và 315.000 hộ gia đình nhận được dịch vụ tài chính từ 159 xe ngân hàng lưu động của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; tạo điều kiện cho

sự lành mạnh hoá của tất cả các tổ chức tín dụng tham gia thông qua việc thực hiện Tổng giá trị của các khoản tín dụng mà dự án đã cung cấp là 445 triệu đô la, lớn hơn gấp 3 lần so với dự tính ban đầu của dự án, tính trung bình cứ 1đô la của quỹ IDA đã tạo ra đầu tư 3,97 đô la tính đến 31/12/2001 Hiệu quả sử dụng các khoản tín dụng trên tốt biểu hiện tỉ lệ hoàn trả các khoản cho vay khi tới hạn là 98%, 99% người vay vốn tăng thu nhập của họ một cách đáng kể, 15% tổng số tiền của dự án dùng để hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tạo điều kiện cho họ mở rộng hoạt động và tạo ra gần 2950 chỗ làm việc mới cho người dân [54,18]

* Tăng cường hội nhập kinh tế thế giới

Thông qua Tín dụng hỗ trợ giảm nghèo, WB đã hỗ trợ cho quá trình hội nhập kinh tế thế giới để mở rộng mặt hàng xuất khẩu sử dụng nhiều lao động bằng cách:

đề nghị chính phủ xoá bỏ các hạn chế định lượng về nhập khẩu đối với một số nhóm sản phẩm sữa; giảm thuế cho các mặt hàng nhập khẩu trong khối ASEAN cùng với lộ trình AFTA hàng năm; mở rộng sự tham gia của tư nhân vào xuất khẩu bằng cách đề nghị tăng lỉ tệ hạn ngạch xuất khẩu may mặc được đấu giá và thông qua tự do xuất khẩu gạo WB tiến hành phân tích về xuất khẩu Việt Nam, thách thức và cơ hội, phân tích này đánh giá những chính sách đưa ra để nâng cao sự cạnh tranh của Việt Nam WB còn hỗ trợ toàn diện về nghiên cứu phân tích cho Chính phủ, thiết lập và thực hiện một lộ trình hội nhập WTO với danh mục những biện pháp chính sách cụ thể kèm theo những đánh giá hậu quả của việc lựa chọn những chính sách và biện pháp khác nhau, hỗ trợ về thể chế cho các cơ quan của Việt Nam đang chuẩn bị cho lộ trình cải cách chính sách, dọn đường cho việc gia nhập WTO

Những hoạt động trên góp phần khuyến khích sự cải cách của Việt Nam theo xu hướng đó: phạm vi hạn chế định lượng đối với hàng hoá nhập khẩu đã giảm từ

Trang 18

20% lượng nhập và 22% sản lượng vào đầu năm 2003 xuống còn 13% và 4% cuối năm 2003, thuế bình quân đối với mặt hàng xuất nhâp khẩu từ các nước ASEAN giảm xuống còn 11%, hạn ngạch xuất khẩu đối với hàng may mặc sang châu Âu đã được đấu giá một phần đã tăng cường sự tham gia của tư nhân vào xuất khẩu hàng may mặc [8, tr1, phụ lục A6]

* Việc thiết kế các dự án dựa trên phương thức thị trường: Các dự án hầu hết

được thiết kế nhằm tăng cường phát triển thể chế và chính sách hỗ trợ theo các phương thức thị trường Các dự án đô thị của WB tại Việt Nam đã cung cấp dịch

vụ đô thị và đề xuất các loại phí đánh vào người sử dụng Các dự án năng lượng hỗ trợ cho hình thức đấu thầu cạnh tranh trong sản xuất điện, dịch vụ cung cấp tư nhân cấp xã và đề xuất cách tính giá theo cận biên dài hạn (LRMC) Các dự án nông thôn hỗ trợ việc phân bổ và đăng ký sử dụng đất, đề xuất ngân hàng hiện đại

về tín dụng nông thôn Các dự án giáo dục đã chuyển trợ cấp từ người sản xuất sang người sử dụng, đề xuất hình thức phân bổ cạnh tranh nguồn vốn cho giáo dục đại học

Ngoài các chương trình, hoạt động hỗ trợ thể chế, WB còn hỗ trợ cải tạo cơ sở

hạ tầng cho nền kinh tế Việt Nam, tạo điều kiện vật chất cần thiết cho sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị truờng Các dự án mà WB hỗ trợ đã đem điện đến 2 triệu người ở 32 tỉnh nghèo và cộng đồng nông thôn, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhỏ tăng trưởng và cải thiện các thiết bị y tế và giáo dục WB đã giúp Chính phủ sửa chữa 1000 km đường giao thông huyết mạch của đất nước, Quốc lộ 1 Và hiện nay, 600 km đường nữa đang được sửa chữa và 300 km đường sẽ được hoàn thành trong các dự án sắp tới [12,7] WB đã làm việc với các đối tác để cải thiện hệ thống cấp nước để đến được 16 triệu người dân nghèo Các dự án của WB đã giúp xây dựng 7000 phòng học, cung cấp 82 triệu sách toán và tiếng Việt đến các trường ở Việt Nam, 350.000 học sinh ở các xã nghèo nhất mượn sách giáo khoa miễn phí, cung cấp sách giáo khoa và thiết bị dạy học cho 320 phòng học dành cho trẻ em dân tộc thiểu số Đồng thời, các dự án của WB còn xây dựng và nâng cấp 15 trung tâm y tế và kế hoach hoá gia đình, 137 phòng phẫu thuật và sinh sản ở các bệnh

Trang 19

viện huyện, xây dựng và nâng cấp 2606 trung tâm y tế cấp xã và 60 trạm y tế miền núi [12,7]

3.1.2.1.2 Hỗ trợ phát triển hoà nhập và bền vững

Trong thời gian vừa qua, tăng trưởng kinh tế đã góp phần cải thiện nâng cao đời sống của người dân, thu nhập của họ tăng lên và nhiều hộ gia đình đã thoát nghèo, tỉ lệ hộ gia đình nghèo đói đã giảm mạnh Nhưng việc giảm nghèo được thực hiện khác nhau giữa các vùng của Việt Nam Khu vực Tây Nguyên là khu vực nghèo nhất cả nước đồng thời cũng là khu vực giảm nghèo rất chậm trong những năm qua, tiếp đến là vùng núi phía Bắc và duyên hải Bắc Trung bộ Các chương trình, dự án hỗ trợ của WB đối với Việt Nam tiếp tục hướng vào trọng tâm giảm nghèo bền vững theo những nội dung sau:

* Giảm khoảng cách về trình độ phát triển của các vùng bị tụt hậu thông qua

tăng cường dịch vụ cho những vùng đó Các dự án của WB trong thời gian qua tập trung vào 3 vùng: miền núi phía Bắc, đồng bằng sông Cửu Long, và duyên hải Bắc Trung bộ bao gồm: Dự án Hạ tầng cơ sở ở nông thôn có sự tham gia của cộng đồng (vốn cho vay có giá trị 103 triệu đô la Mỹ) cấp tài trợ cho các xã nghèo để xây dựng cơ sở hạ tầng có quy mô nhỏ ở 540 xã trong 13 tỉnh nghèo nhất ở miền Bắc và duyên hải miền Trung; Dự án giảm nghèo các tỉnh miền núi phái Bắc (trị giá 110 triệu đô la Mỹ) dự kiến sẽ mang lại lợi ích cho khoảng 1 triệu người dân nghèo nông thôn trong 368 xã nghèo nhất với dự tính 85% số người hưởng lợi từ

dự án là đồng bào dân tộc thiểu số; Dự án cải thiện mạng lưới đường bộ sẽ cải tạo

hệ thống đường quốc lộ ở miền Bắc, xây dựng 6800 km đường liên xã và liên huyện ở 49 tỉnh; Dự án năng lượng nông thôn 1 đã giúp tăng cường khả năng sử dụng điện cho các hộ gia đình nông thôn từ 50% lên 82% trong nửa thập kỷ qua;

Dự án Quản lý nguồn nước sông Cửu Long, dự án Phòng chống lũ lụt và giao thông sông Cửu Long, dự án phát triển cơ sở hạ tầng giao thông Đồng bằng sông Cửu Long; Các hoạt động phân tích và tư vấn đã bắt đầu cập nhật chiến lược nông thôn 1998 và đánh giá tác động của đầu tư vào thuỷ lợi lên giảm nghèo [8, tr1, phụ lục C3]

Trang 20

* Dự án cơ sở hạ tầng và đời sống dựa vào cộng đồng: Dựa vào những kinh

nghiệm thành công trước đây về việc sử dụng các biện pháp dựa vào cộng đồng trong dự án giảm nghèo các tỉnh miền núi phía Bắc, trong các dự án cơ sở hạ tầng nông thôn dựa vào cộng đồng, WB tiếp tục phân cấp và đẩy mạnh sự tham gia của người dân trong các dự án tiếp theo Đồng thời, một nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá kinh nghiệm của những dự án phân cấp, các dự án có sự tham gia của cộng đồng để tìm ra các nguyên tắc chính cho việc thiết kế các chương trình tương lai chẳng hạn đảm bảo sự tham gia của cộng đồng và cơ chế quản lý, hướng đối tượng nghèo một cách hiệu quả hơn thông qua lập bản đồ nghèo, các cơ chế tài trợ, xây dựng năng lực thể chế và cải cách chiến lược nhằm thúc đẩy phân cấp hiệu quả ở Việt Nam

* Đáp ứng nhu cầu cho những người nghèo ở đô thị: Mặc dù bất bình đẳng diễn

ra trầm trọng nhất là sự bất bình đẳng giữa thành thị và nông thôn, song ngay trong các thành phố vẫn có những bộ phận nghèo trầm trọng, đặc biệt những người này nằm trong số những người nhập cư Như là một phần trong chương trình tín dụng

hỗ trợ giảm nghèo, WB hợp tác chặt chẽ với chính phủ để thiết kế và thực hiện những chương trình để tăng khả năng tiếp cận dịch vụ công tới người dân đô thị bao gồm cả những người nhập cư, đề nghị sửa đổi những quy định của chính phủ

để cung ứng dịch vụ công cơ bản theo khu vực không tính đến tình trạng di cư của người dân (đăng ký giấy khai sinh, hộ khẩu cho người nhập cư, mở rộng sự tiếp cận của người nhập cư đến thị trường đất đai và nhà ở chính thức) Trong những năm tới, WB cho vay đối với dự án sau: Dự án nâng cấp đô thị sẽ cung cấp cơ sở

hạ tầng cơ bản và cải thiện đời sống cho khoảng 865.000 dân cư nghèo và nâng cao chất lượng dịch vụ cơ sở hạ tầng cho 1.135.000 cư dân nữa thuộc 4 thành phố [8,tr3, phụ lục C3]; Dự án phát triển cấp nước đô thị sẽ cải thiện tình trạng thiếu nước sinh hoạt hiện nay ở những thành phố lớn; Dự án vệ sinh môi trường của các thành phố ven biển sẽ mở rộng cung cấp nước và dịch vụ vệ sinh cho những thị trấn nhỏ và những vùng nông thôn chưa được hưởng; Dự án phát triển giao thông

đô thị mới cho Hà Nội nhằm cải thiện các phương tiện giao thông công cộng (xe

Trang 21

buýt), an toàn cho người đi xe đạp và người đi bộ, trực tiếp đáp ứng nhu cầu đi lại của người nghèo đô thị

* Nâng cao đời sống cho các dân tộc thiểu số: Các nghiên cứu và phân tích của

WB đã chỉ ra rằng các dân tộc thiểu số nghèo hơn rất nhiều so với bộ phận còn lại trong dân cư, hơn thế nữa tình trạng nghèo của dân tộc thiểu số lại có xu hướng xấu đi Do đó, trọng tâm trong lĩnh vực nghiên cứu và phân tích nghèo đói của WB tại Việt Nam là tình trạng nghèo của các dân tộc thiểu số nhằm tìm ra những nguyên nhân và giải pháp khắc phục Về hoạt động cho vay, dự án giáo dục cho trẻ

em thiệt thòi đã và đang hỗ trợ trên 1 triệu trẻ em dân tộc thiểu số ở những vùng kém phát triển Trong thời gian tới, WB sẽ có những nỗ lực nhằm khắc phục những vấn đề về dân tộc thiểu số trong thiết kế chương trình cho vayđầu tư Dự án Phát triển lâm nghiệp dự định sẽ giúp cải thiện đời sống cho các dân tộc thiểu số và Dự

án Giáo dục cho mọi người cũng sẽ hỗ trợ cho giáo dục mầm non cho dân tộc thiểu

số Dự án Cơ sở hạ tầng và đời sống cho các xã nghèo và dự án Đa dạng hoá nông nghiệp 2 sẽ chú trọng đặc biệt đến tăng cường tham gia của dân tộc thiểu số

* Các hoạt động bình đẳng giới đã được lồng ghép và trong các chương trình hỗ

trợ của WB đối với Việt Nam Trong những khuyến nghị về thể chế và chính sách,

WB đã đề nghị sự bình đẳng giới thông qua việc đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cần phải ghi cả tên vợ và tên chồng, tạo điều kiện cho người phụ nữ bình đẳng với nam giới trong việc quyết định đất đai được sử dụng như thế nào Và điều này đã dẫn đến việc đưa thêm một quy định mới vào Luật Đất đai mới được thông qua Trong dự án Giáo dục tiểu học, WB đã mở rộng quy mô giáo dục tiểu học, tạo điều kiện cho trẻ em gái đến độ tuổi đến trường nhập học, tỉ lệ học sinh đến độ tuổi đến trường nhập học là gái tăng lên Dự án tài chính nông thôn đã tạo điều kiện cho những người phụ nữ có điều kiện tiếp cận với dịch vụ tín dụng chính thức, nâng cao quyền quyết định của họ trong việc sử dụng tín dụng như thế nào để có hiệu quả Theo trường Đại học Kinh tế Quốc dân, trong dự án này, 30% số người vay mượn nhỏ là phụ nữ, họ đã tham gia một cách chủ động trong quyết định vay mượn và số tiền đã vay mượn được sử dụng như thế nào

* Cung cấp dịch vụ xã hội cơ bản với chi phí hợp lý cho người nghèo

Trang 22

Đối với dịch vụ giáo dục: Trong thời gian vừa qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong lĩnh vực giáo dục như tỉ lệ đi học tăng lên ở mọi cấp (đạt 90% đối với hầu hết những nhóm dân), chất lượng giáo dục tăng lên, và cải thiện hiệu quả và công bằng trong chi tiêu công đối với lĩnh vực giáo dục và đào tạo Đóng góp vào thành quả này có một phần không nhỏ của WB Thông qua các hoạt động nghiên cứu và phân tích, WB đã chỉ ra những vấn đề trong hệ thống giáo dục

ở Việt Nam hiện nay như có sự chênh lệch lớn về số lượng và chất lượng giáo dục giữa các vùng; đầu tư giáo dục cho đồng bào các dân tộc thiểu số còn thấp và giáo dục cho những trẻ em thiệt thòi còn hạn chế, giáo dục đại học chưa đáp ứng được nhu cầu về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Về hoạt động cho vay, WB cho vay 70 triệu đô la đối với dự án Giáo dục tiểu học và dự án này đã hoàn thành năm

1996 với kết quả là: cung cấp 82 triệu bộ sách giáo khoa môn Toán và Tiếng Việt đến tất cả các trường ở Việt Nam; 350.000 học sinh ở những xã nghèo nhất được mượn sách giáo khoa miễn phí; gần 7000 phòng học được xây dựng ở 35 tỉnh; 320 lớp học của trẻ em dân tộc thiểu số được trang bị sách giáo khoa và những đồ dùng dạy và học; tạo điều kiện cho các em học tập bằng chính ngôn ngữ của dân tộc mình; sáng kiến lớp song ngữ, lớp ghép cũng được ra đời từ dự án này [51,12] Dự

án Giáo dục đại học, Dự án Đào tạo giáo viên tiểu học, dự án Giáo dục cho trẻ em

bị thiệt thòi và Giáo dục cho mọi người… đều đã và đang tiến hành và bước đầu đem lại kết quả tích cực như: tạo môi trường cạnh tranh cho đào tạo đại học, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên tiểu học từ đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học, trẻ em thiệt thòi (trẻ em nghèo, mồ côi, lang thang…) có điều kiện được đi học

Đối với dịch vụ y tế: Các chỉ tiêu về sức khỏe của Việt Nam nhìn chung được cải thiện và đạt ở mức cao hơn so với những nước có cùng thu nhập bình quân đầu người Nhưng vẫn còn những vấn đề còn tồn tại đặc biệt là sự chênh lệch lớn về chỉ tiêu sức khoẻ giữa thành thị và nông thôn, giữa các nhóm thu nhập khác nhau và có sự khác biệt rất lớn về khả năng tiếp cận dịch vụ y tế và khả năng trang trải các chi phí giữa các nhóm khác nhau Trước tình hình này, các hoạt động phân tích và đánh giá của WB đã đánh giá ngành y tế, đánh giá quản lý và chi tiêu công

Trang 23

trong lĩnh vực y tế để tập trung giải quyết bất bình đẳng đang ngày càng gia tăng

WB đã đề nghị cải thiện cơ chế tài chính cho y tế, cải thiện việc phân bổ nguồn lực theo đó hướng vào đối tượng nghèo nhiều hơn cũng như giải quyết tình trạng HIV/AIDS ngày càng tăng Dự án cho vay trong lĩnh vực y tế bao gồm: dự án Sức khoẻ gia đình và dân số trị giá 50 triệu đô la và dự án Sức khoẻ quốc gia trị giá 101,2 triệu đô la Dự án sức khoẻ quốc gia đã cải thiện chất lượng dịch vụ y tế ở 18 tỉnh và hỗ trợ chương trình quốc gia về bệnh sốt rét, bệnh lao và bệnh nhiếm khuẩn

hô hấp cấp tính; cung cấp thuốc cần thiết cho các trung tâm y tế và đào tạo nhân viên y tế ở hơn 2800 xã ở 18 tỉnh nghèo nhất, tạo điều kiện cho người nghèo tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng cao Dự án Sức khoẻ gia đình và dân số đã xây dựng và nâng cấp 15 trung tâm kế hoạch hoá gia đình, 137 phòng phẫu thuật và sản khoa ở các bệnh viện huyện, 2606 trung tâm y tế xã và 60 trạm y tế miền núi Dự án cũng

tổ chức các khoá đào tạo cho 22.000 nhân viên y tế, đặc biệt là những nhân viên y

tế ở cấp xã [12,7] Trong thời gian tới, một số dư án trong lĩnh vực y tế tiếp tục được triển khai nhằm hướng vào vấn đề này như dự án Hiện đại hoá hệ thống chăm sóc sức khoẻ tốt, dự án an toàn máu…

* Nâng cao tính bền vững của môi trường: Đảm bảo bền vững về môi trường là

một trong những hoạt động nổi bật của WB ở các nước đang phát triển Ở Việt Nam cũng vậy, công tác môi trường của WB tập trung hỗ trợ 3 mục tiêu chiến lược của chính phủ là: (i) ngăn chặn và kiểm soát ô nhiễm; (ii) bảo vệ giữ gìn, sử dụng bền vững các nguồn lực tự nhiên và đa dạng sinh học; (iii) tăng cường chất lượng môi trường ở những khu đô thị Về hoạt động phân tích và tư vấn: các hoạt động này đang nỗ lực nâng cao tính bền vững của môi trường thông qua chương trình giáo dục và tuyên truyền nhằm tăng cường thông tin và ý thức bảo vệ môi trường;

hỗ trợ loại bỏ sử dụng xăng pha chì chuyển sang sử dụng xăng không pha chì; chuẩn bị một loạt các Quan trắc về môi trường với ấn bản năm 2003 tập trung vào vấn đề nước; tư vấn xây dựng năng lực để đưa vấn đề môi trường vào trong các chương trình phát triển của chính phủ

Về hoạt động cho vay: WB đã phối hợp với Quỹ môi trường toàn cầu (GEF) tiến hành viện trợ không hoàn lại một loạt các hoạt động nhằm bảo tồn và sử dụng

Ngày đăng: 18/03/2015, 08:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ thương mại, Viện nghiên cứu thương mại, Trung tâm tư vấn và đào tạo kinh tế thương mại (1998), Khủng hoảng tài chính tiền tệ ở châu Á: nguyên nhân và bài học, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khủng hoảng tài chính tiền tệ ở châu Á: nguyên nhân và bài học
Tác giả: Bộ thương mại, Viện nghiên cứu thương mại, Trung tâm tư vấn và đào tạo kinh tế thương mại
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
2. Bộ tài chính, Trung tâm bồi dưỡng cán bộ Bộ tài chính (2000), Các tổ chức tài chính quốc tế và quan hệ của Việt Nam, Nhà xuất bản tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tổ chức tài chính quốc tế và quan hệ của Việt Nam
Tác giả: Bộ tài chính, Trung tâm bồi dưỡng cán bộ Bộ tài chính
Nhà XB: Nhà xuất bản tài chính
Năm: 2000
3. Nicola Bullard, Walden Bello và Kamal Malhotra (1998), Thuần dưỡng những con hổ: IMF và cuộc khủng hoảng châu Á, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuần dưỡng những con hổ: IMF và cuộc khủng hoảng châu Á
Tác giả: Nicola Bullard, Walden Bello và Kamal Malhotra
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
4. Dương Đăng Chinh (2003), Giáo trình: Lý thuyết tài chính, Nhà xuất bản tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình: Lý thuyết tài chính
Tác giả: Dương Đăng Chinh
Nhà XB: Nhà xuất bản tài chính
Năm: 2003
6. Nguyễn Thị Mùi (2001), Giáo trình: Lý thuyết tiền tệ và ngân hàng, Nhà xuất bản xây dựng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình: Lý thuyết tiền tệ và ngân hàng
Tác giả: Nguyễn Thị Mùi
Nhà XB: Nhà xuất bản xây dựng
Năm: 2001
7. Ngân hàng thế giới (2002), Việt Nam: chiến lược hỗ trợ quốc gia của nhóm Ngân hàng thế giới 2003-2006, Công ty in và Văn hoá phẩm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam: chiến lược hỗ trợ quốc gia của nhóm Ngân hàng thế giới 2003-2006
Tác giả: Ngân hàng thế giới
Năm: 2002
9. Ngân hàng thế giới (2004), Đến với Ngân hàng thế giới, Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đến với Ngân hàng thế giới
Tác giả: Ngân hàng thế giới
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin
Năm: 2004
10. Ngân hàng thế giới (1999), Đông Á con đường dẫn đến phục hồi, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đông Á con đường dẫn đến phục hồi
Tác giả: Ngân hàng thế giới
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 1999
11. Ngân hàng thế giới (2000), Đông Á phục hồi và phát triển, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đông Á phục hồi và phát triển
Tác giả: Ngân hàng thế giới
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
12. Ngân hàng thế giới (2004), Việt Nam và Ngân hàng thế giới cùng hành động vì một thế giới không có đói nghèo, Nhà xuất bản Lao động Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam và Ngân hàng thế giới cùng hành động vì một thế giới không có đói nghèo
Tác giả: Ngân hàng thế giới
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động Xã hội
Năm: 2004
13. Hồ Xuân Phương, Phan Duy Minh (2002), Giáo trình: Tài chính quốc tế, Nhà xuất bản tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình: Tài chính quốc tế
Tác giả: Hồ Xuân Phương, Phan Duy Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản tài chính
Năm: 2002
14. Lê Văn Tư, Lê Tùng Vân, Lê Nam Hải (2001), Các định chế tài chính, các tổ chức thương mại quốc tế và thị trường hối đoái, Nhà xuất bản thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các định chế tài chính, các tổ chức thương mại quốc tế và thị trường hối đoái
Tác giả: Lê Văn Tư, Lê Tùng Vân, Lê Nam Hải
Nhà XB: Nhà xuất bản thống kê
Năm: 2001
15. Nguyễn Văn Thanh (1997), Các thiết chế tài chính quốc tế và các nước đang phát triển- Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các thiết chế tài chính quốc tế và các nước đang phát triển
Tác giả: Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
16. Trần Ngọc Thơ (2004), “Tại sao IMF và chính phủ Việt Nam chấm dứt chương trình cho vay theo thể thức PRGF”, Tạp chí Phát triển kinh tế, tr14-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tại sao IMF và chính phủ Việt Nam chấm dứt chương trình cho vay theo thể thức PRGF”
Tác giả: Trần Ngọc Thơ
Năm: 2004
17. Vũ Trọng (2005), Tái cơ cấu 3 tổng công ty, Vietnam Economy on line Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tái cơ cấu 3 tổng công ty
Tác giả: Vũ Trọng
Năm: 2005
18. Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Tổ chức hợp tác quốc tế Nhật Bản (2003), Nghiên cứu về thông lệ tài trợ ở Việt Nam: Viện trợ không hoàn lại và chi phí giao dịch-Lắng nghe tiếng nói của nước nhận tài trợII. Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về thông lệ tài trợ ở Việt Nam: Viện trợ không hoàn lại và chi phí giao dịch-Lắng nghe tiếng nói của nước nhận tài trợ
Tác giả: Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Tổ chức hợp tác quốc tế Nhật Bản
Năm: 2003
19. Camille Chalmers (2005), Haiti: the Priority of Debt Payment, http://www.cadtm.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: Haiti: the Priority of Debt Payment
Tác giả: Camille Chalmers
Năm: 2005
20. Shalmali Guttal (2003), Poverty Reduction? or PRSP, http://www.cadtm.org 21. Kathy Hoang (2004), World Bank Brings Market Fundamentalism to Iraq,http://www.cadtm.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: Poverty Reduction? or PRSP, " http://www.cadtm.org 21. Kathy Hoang (2004), "World Bank Brings Market Fundamentalism to Iraq
Tác giả: Shalmali Guttal (2003), Poverty Reduction? or PRSP, http://www.cadtm.org 21. Kathy Hoang
Năm: 2004
22. Ajit Muricken (2005), India and the Bretton Wood Institutions, http://www.cadtm.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: India and the Bretton Wood Institutions
Tác giả: Ajit Muricken
Năm: 2005
23. Dennis Leech, Robert Leech, Birkbeck, Voting Power in the Bretton Woods Institutions, http://www.warwick.ac.uk/~ecrac Sách, tạp chí
Tiêu đề: Voting Power in the Bretton Woods Institutions

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm