1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển con người Một số vấn đề đặt ra cho Việt Nam

76 2,4K 14

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 32,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2 N hữ ng nội dung cơ bản về' quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển con người 1.2.1 K hái quát về tăng trưởng kinh tế 1.2.2 Các xu thê khác nhau trong tương quan giữa tàng trưở

Trang 1

OẠI HỌC QUOC GIA HA NỌI TRƯỞNG ĐẠI HỌC KINH TÉ

QUAN HỆ GIỮA ĨÃNG TRƯỞNG KINH TỂ VÀ PHÁT TRIỂN CON NGƯ0I:

MỘT SÔ VẤN ĐÊ ĐẶT RA CHO VIỆT NAM■ ■ ■

Trang 2

MỤC LỤC

LỎI MỞ ĐẨU

C H U O N G 1:

LÝ LUẬN C O BẢ N v i Q U AN HỆ T Ă N G TRƯỞNG KINH TẾ V À PHÁT TRIEN c o n NGƯÒI

1.1 Q uan niệm vê' p h át triển con người

1.1.1 Khái niệm

1.1.2 M ột số đặc điểm chính của quá trình phát triển con người

1.1.3 M ột số chỉ số cơ bản phản ánh trình độ phát triển con người

1 2 N hữ ng nội dung cơ bản về' quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát

triển con người

1.2.1 K hái quát về tăng trưởng kinh tế

1.2.2 Các xu thê khác nhau trong tương quan giữa tàng trưởng kinh tế và

phát triển con ngư ờ i

1.2.3 N hận diện mối tương quan giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển con

người

1.2.4 Một số nhân tô' tăng cường liên kết giữa tăng trưởng kinh tế và phát

triển con người

2.1.1 Q uan niệm phát triển con người ở V iệt Nam

2.2.2 Chiến lược hành động vì sự nghiệp phát triển con người ở Việt Nam

2.2 Thành tựu p h át triển con người ở Việt N am dưới tác động của quá trình

tăng trưởng kin h tế

2.2.1 Q uá trình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam thời gian qua

2.2.2 Thành tựu phát triển con người dưới tác động của quá trình tăng

trưởng kinh tế trong thời gian gần đây

2 3 M ộ t số thách thức trong quá trình thực hiện mục tiêu phát triển con

5

8

8 8 12 15

41

41

49

59

Trang 3

người ở V iệt N a m hiện nay

2.4 M ộ t sô' đ ịn h hướng chính sách và g iả i pháp táng trưởng kin h tế vì mục

tiêu p h át triển con người ở Việt N a m trong thời gian tới

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

VDGs M ục tiêu phát triển xã hội Việt Nam đến 2010

Trang 5

LỜI MỞ DẦU

T ro n g n h iề u th ế k ỷ q u a , tă n g trư ở ng k in h tê đ ư ợ c x e m là m ụ c tiêu ch ín h

c ủ a m ọ i q u á trìn h p h á t triển T ă n g trư ở ng k in h t ế đ ã tạ o ra các p h ư ơ n g tiện cơ bản c ầ n th iế t ch o v iệ c cải th iệ n đời số n g c o n n gư ờ i, đ ư a c o n ngư ờ i th o á t kh ỏi

n g u y c ơ c ủ a sự n g h è o đ ó i T ư d u y ph át triển n h ư vậy đư ợ c d u y trì tro n g m ộ t thời

g ia n d à i, là m c h o lợi íc h c ủ a co n người thự c sự bị ràn g b u ộ c trự c tiếp vào lợi ích

c ủ a tă n g trư ở n g T ro n g n h iề u trư ờ ng hợ p, lợi ích c ủ a co n ngư ời p h ả i n hư ờ ng chỗ

ch o lợi íc h c ủ a tă n g trư ở n g Q u á trìn h tái p h ân ph ối lợi íc h từ tă n g trư ở n g k in h tế

th ư ờ n g đ ư ợ c sử d ụ n g đ ể lý g iải ch o sự hy sin h n ày c ủ a c o n ngư ời N h ư n g sự thự c, c o n ng ư ờ i n h iề u k h i p hải ch ấp n h ận là m ộ t p h ư ơ n g tiệ n tă n g trư ở n g đon

th u ầ n , p h ả i c h ấ p n h ậ n sự b ấ t b ìn h đ ẳ n g h ay sự n g h èo k h ổ vẫn đ e o b á m v à tồ n tại

d ai d ẳ n g ở n h iề u b ộ p h ậ n d ân cư k h ác n h au X u ất p h át từ đ â y , m ụ c tiêu củ a m ọ i

q u á trìn h p h á t triể n c ầ n p hải được n h ìn n h ận lại th e o tư d u y h ư ớ ng tới c o n người

m ộ t c á c h trự c d iệ n h ơ n ch o dù tă n g trư ởng k in h tế là n h ữ n g th à n h tự u c ơ bản

k h ô n g th ể th iếu V ậ y p h á t triển c o n người là gì? G iữ a tă n g trư ở ng k in h tế và p h át triể n c o n ng ư ờ i c ó m ố i q u a n h ệ với n h au n h ư th ế n ào ? Đ â u là n h â n tố có k h ả

n ă n g th ú c đ ẩ y tă n g trư ở n g k in h tế đ ồ n g thời h ư ớ ng tới m ụ c tiêu p h át triển con

n g ư ờ i? Đ â y là n h ữ n g vấn đ ề cần được lý giải m ộ t c á c h th ấ u đ áo

ở V iệ t N a m , c o n ng ư ờ i từ lâu đ ã được đ ặ t vào vị trí tru n g tâ m củ a sự phát triể n N h ữ n g th à n h tự u tă n g trư ở ng k in h tế c ủ a V iệ t N a m tro n g su ố t g ầ n hai th ập

k ỷ q u a đ ã g iú p V iệ t N a m có nh ữ n g tiế n b ộ vượt b ậc v à liên tụ c tro n g việc n ân g cao th à n h tự u p h á t triể n c o n ngư ời T u y n h iê n , vẫn p h ải tự th ừ a n h ậ n rằ n g , m ặc

d ù có n h ữ n g nỗ lự c n h ư v ậy , n h ư n g V iệ t N a m v ẫn là m ộ t tro n g s ố nh ữ n g nước

n g h è o n h ấ t trê n th ế g iớ i, trìn h độ p hát triển co n n gư ờ i vẫn ch ỉ ở n h ó m các nước

p h á t triển tru n g b ìn h R õ rà n g , V iệ t N am cần ph ải tiế p tụ c đ ẩ y m ạ n h tă n g trư ở ng

k in h t ế vì m ụ c tiêu p h á t triể n c o n người V ậy tro n g thời g ia n tới, V iệ t N a m phải

tậ p tru n g g iải q u y ế t v ấn đ ề g ì và b ằn g cá c h thứ c n ào đ ể đ ả m b ảo các lợi ích từ

tă n g trư ở n g k in h t ế có th ể c h u y ể n h ó a th à n h các th à n h tựu p h á t triển co n ngư ời?

T rư ớ c n h ữ n g th á c h th ứ c h ội n h ậ p q u ố c t ế v à m ộ t s ố d ấu h iệ u b ấ t ổ n v ĩ m ô h iện

n a y v ấn đ ề đ ặt ra trên đ â y c ủ a V iệt N am trở lên bức th iế t h ơ n b ao g iờ hết

1 Sự cần thiết của đề tài:

Trang 6

Xuất phát tờ phương diện lý luận và thực tiễn ở V iệt Nam như vậy, đề tài

“ Q u a n h ệ g iữ a tă n g trư ở n g k in h t ế và p h á t triể n con n g ư ờ i: M ộ t s ố vân đê đ ặ t

ra cho V iệ t N a m” đã được lựa chọn làm nội dung nghiên cứu.

2 T ìn h h ìn h n g h iê n cứu:

Tãng trưởng kinh tế và phát triển con người là hai vấn đề trung tâm của sự phát triển vì vậy hai vấn đề này đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu từ rất lâu của nhiều nhà khoa học trên thế giới Tuy nhiên, mối tương quan giữa tăng trưởng kinh tê' và phát triển con người lại là một mảng vấn đề chưa có nhiều người khai phá Trên thực tế, khoảng hai thập kỷ gần đây, khi các nhà nghiên cứu nhận thấy có dấu hiệu xung đột giữa tãng trưởng kinh tê' và phát triển con người thì mối quan hệ giữa chúng mới được quan tâm nhiều hơn và thường thì sự quan tâm này cũng chỉ đi kèm với những nghiên cứu về phát triển con người Điển hình là những công trình nghiên cứu của nhóm các chuyên gia U N D P được thể hiện trong các báo cáo thường niên về phát triển con người Báo cáo này năm

1990 của U N D P lần đầu tiên đã mô phỏng một số nét chính về bản chất mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển con người Trong các báo cáo cũng của U N D P sau đó, nhất là báo cáo năm 1996, mối quan hệ giữa tâng trưởng kinh

tế và phát triển con người đã được khảo cứu sâu hơn M ột số nhân tố thúc đẩy mối quan hệ đổng thuận giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển con người đã được phát hiện, trong đó nhân tô' việc làm được phân tích khá chi tiết Đây được coi là những khuôn khổ lý luận ban đầu quan trọng cho các hoạt động nghiên cứu về sau, nhất là các nghiên cứu thực nghiệm Nhưng đến nay, chưa có công trình nào khảo cứu kỹ lưỡng bản chất mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển con người, trên cơ sở đó chỉ ra các cách thức nhận diện và hệ thống các nhân tố tăng cường liên kết giữa hai quá trình này.

Ở V iệt Nam, mối tương quan giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển con người là đề tài nhận được sự quan tâm của khá nhiều nhà nghiên cứu Năm 2001, Báo cáo phát triển con người Việt Nam lần đầu tiên đã khảo cứu thực tiễn trình

độ phát triển con người V iệt Nam và khảng định quá trình “đổi mới” ở Việt Nam

là nền tảng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hướng tới sự nghiệp phát triển con người của V iệt Nam trong một thập kỷ trước đấy Báo cáo phát triển V iệt Nam năm

2004 với chủ đề Nghèo cũng đã nhấn mạnh nhân tô' chính sách công như là một

Trang 7

trong những nhân tố giúp giảm nghèo và phát triển con người ở V iệt Nam Năm

2006, trong “Báo cáo phát triển con người V iệt Nam 1999 - 2004: Những thay đổi và xu hướng chủ yếu” đã chỉ ra một số thách thức mà quá trình tăng trưởng kinh tế ở V iệ t Nam phải đối diện vì mục tiêu con người Giảm nghèo, xóa bỏ bất bình đẳng là những nhân tố được đề cập nhiều nhất M ột số khía cạnh khác như vãn hóa, nguồn nhân lực và con người cũng được nghiên cứu trong mối liên hệ với tãng trưởng kinh tế thông qua Chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước K X - 05 Ngoài ra, thông qua các công trình khác nhau, một số khía cạnh khác của mối tương quan này cũng được nhiều nhà kinh tế quan tâm nghiên cứu như PGS.TS Hổ Sỹ Quý, TS Đỗ Hoài Nam, TS V ũ Quốc Huy, TS Võ T rí Thành GS.TS Trần Ngọc Thơ, TS Nguyễn Trung, TS Jonathan Pincuss, TS David Dapice, TS V ũ M inh Khương Tuy vậy, các công trình này không chủ trương đi sâu phân tích trực diện và toàn diện mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh

tế và phát triển con người ở Việt Nam thời gian qua Các nhân tố tâng cường liên kết giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển con người ở Việt Nam cũng chưa được tiếp cận một cách có hệ thống.

• Phân tích làm rõ mối tương quan giữa tâng trưởng kinh tế và phát triển con người ở Việt Nam trong thời gian qua, chỉ ra những vấn đề

mà V iệt Nam gặp phải trong quá trình tăng trưởng vì mục tiêu phát triển con người Trên cơ sở đó, đề xuất các chính sách và giải pháp tăng trưởng kinh tế hướng tới mục tiêu phát triển con người ở Việt Nam trong thời gian tới.

4 Đ ô i tư ợ n g và p h ạ m vi n g h iên cứ u c ủ a đ ề tài:

Trang 8

Đ ối tượng nghiên cứu của đề tài là quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển con người M ố i quan hệ này được tiếp cận dưới góc độ kinh tế chính trị học.

Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn ở việc xác định bản chất và một số nhân tố chính tác động đến mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển con người Trên cơ sở đó, đề tài khảo sát mối quan hệ này trong khuôn khổ thực tiễn ở V iệt Nam thời gian gần đây.

5 P h ư ơ n g p h á p n g h iê n cứ u đ ề tài:

Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng chủ yếu trong quá trình thực hiện đề tài là các phương pháp nghiên cứu khoa học cơ bản như phương pháp trừu tượng hóa khoa học, phương pháp biện chứng duy vật, thống kê và so sánh; phân tích và tổng hợp

Ngoài các phương pháp nghiên cứu trên, đề tài còn áp dụng mô hình kinh

tế lượng vào việc xác định các mô hình hồi quy, tương quan và dự báo kinh tế.

6 Đ ó n g g ó p m ới củ a đ ề tài:

• Bước đầu định hình các nhân tố chi phối quan hệ giữa tăng trưởng kinh

tế và phát triển con người.

• M ô tả khái quát thực trạng quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển con người ở Việt Nam trong thời gian qua Chỉ ra những vấn đề

mà V iệt Nam gặp phải trong tiến trình tãng trưởng kinh tế vì mục tiêu phát triển con người.

Đề xuất một số định hướng giải pháp tăng trưởng kinh tế hướng tới mục tiêu phát triển con người ở Việt Nam trong thời gian tới.

Trang 9

độ tăng trưởng kinh tế chỉ ở mức khiêm tốn Ngay cả đối với những quốc gia có

sự đồng thuận giữa tăng trưởng và chất lượng cuộc sống thì đấy cũng chỉ là hệ quả dẻ thấy từ việc chi tiêu cao hơn cho giáo dục, y tế và giảm đói nghèo Cách thức tăng trưởng vì chính cuộc sống con người chưa được coi trọng Trước tình hình này, các chuyên gia U N D P đã kế thừa, tổng hợp những quan niệm phát triển con người trước đó và mở rộng chúng thành một quan niệm mang tính hộ thống Quan niệm này dần có ảnh hưởng sâu sắc đến toàn thế giới sau khi được trình bày và hoàn thiện trong các Báo cáo phát triển con người từ năm 1990.

Theo U N D P , p h á t triể n con ngư ời là m ộ t q u á trìn h m ở rộ n g n h ữ n g lự a

ch ọ n c ủ a con người, v ề nguyên tắc, những lựa chọn này là vô hạn và thay đổi theo thời gian Nhưng ở tất cả các nấc thang phát triển, lựa chọn then chốt nhất đối với con người là hướng tới một cuộc sống khỏe mạnh, trường thọ; có kiến thức và có cơ hội tiếp cận các nguồn lực cần thiết để đạt được mức sống tử tế Nếu những lựa chọn cần thiết này không thể có được thì nhiều cơ hội khác không thể đạt được Nhưng phát triển con người khồng dừng ở đây Dải lựa chọn cần được mở rộng và được đánh giá cao đối với con người còn là một tập hợp từ

sự tự do về chính trị, kinh tế và xã hội đến những sự lựa chọn để có quyền con

Trang 10

người được đảm bảo và sự tự trọng là một con người K h á i n iệ m p h á t triể n con ngư ờ i ở đ â y b ao h à m h a i k h ía c ạ n h : i) q u á trìn h h ìn h th à n h n ă n g lực con ngư ờ i n h ư c ả i th iệ n sức k h ỏ e , k iế n thức và k ỹ n ă n g và tì) cách thức m à con

n gư ờ i sử d ụ n g n ă n g lực đ ạ t được cho m ụ c đ íc h là m việc, n g h ỉ n g o i h a y đ ể trỏ

lê n ch ủ đ ộ n g tro n g các h o ạ t đ ộ n g văn h ó a, x ã h ộ i và c h ín h trị. Quá trình phát triển con người sẽ bị phá vỡ nếu hai khía cạnh này không được phát triển hài hòa với nhau Theo quan niệm này, thu nhập rõ ràng chỉ là một trong những lựa chọn

mà con người thích có mặc dù là một lựa chọn quan trọng Nhưng thu nhập không phải là tất cả Thu nhập được xem như một phương tiện chính để gia tăng lựa chọn Con người mới là mục tiêu của sự phát triển[10,16].

Phát triển con người là một quan niệm mở, nhưng cho đến nay, nội dung cốt lõi trong quan niệm phát triển của U N D P đã làm thỏa mãn được thái độ của nhiều cộng đổng người có nền văn hóa, tôn giáo hay chính trị khác nhau.

Quan niệm này, trên những nét chủ yếu, là phù hợp với thái độ tôn vinh con người của tư tưởng truyền thống của V iệt Nam và cũng phù hợp với quan điểm phát triển của V iệt Nam kể từ cuối thập kỷ 1980 - đã coi con người là động lực và là mục tiêu của sự phát triển kinh tế - xã hội Quan niệm như vậy, một lần nữa được khẳng định trong Báo cáo phát triển con người của V iệt Nam (do Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia chủ trì thực hiện) được xuất bản nãm 2001 với chủ đề "Đổi mới vì sự nghiệp phát triển con người"[92,20] Dưới sự điều phối của U N D P , Việt Nam đã hoàn thành bản Báo cáo của riêng mình và được đánh giá là “ cớ bước p h á t triể n k h u ô n k h ổ lý lu ậ n c h u n g củ a

q u a n đ iểm p h á t triể n con n gư ờ i củ a U N D P ” [xi,03].

Theo nhóm các chuyên gia xây dựng Báo cáo thì p h á t triể n con người là

sự m ở rộ n g p h ạ m vi lự a ch ọ n củ a con ngư ờ i đ ể đ ạ t đ ến m ộ t cuộc sống trư ờ ng

th ọ , k h ỏ e m ạ n h , có ý n g h ĩa và x ứ n g đ á n g với con ngư ờ i Q u a n đ iể m n à y bao

h à m h a i k h ía c ạ n h c h ín h là : i) M ở rộ n g các cơ h ộ i lự a c h ọ n và ii) N â n g cao

n ă n g lực lự a ch ọ n c ủ a con ngư ờ i n h ằ m h ư ở n g th ụ m ộ t cuộc số n g h ạ n h p h ú c , bền vững. Cũng trong Báo cáo, hai khía cạnh này đã được phân tích và thể hiện

là một sự tiến triển quan trọng trong quan niệm về phát triển con người.

Trang 11

P h á t triể n con n g ư ờ i là m ậ t q u á trìn h m ở rộ n g cơ h ộ i lự a c h ọ n: C ơ hội lựa c h ọ n là đ iề u k iộ n h à n g đ ầ u q u y ế t đ ịn h q u á trìn h p h á t triể n c o n ngư ời R õ

rà n g , k h i n à o h a y ở đ âu c o n n gư ờ i có n h iề u c ơ h ộ i h ơ n đ ể lựa c h ọ n , th ì k h i đó, ở

c h ín h nơi đ ó đ iề u k iệ n p h á t triể n co n người sẽ tố t hơn Đ á n g lưu ý là, th u n h ậ p là

m ộ t tro n g n h ữ n g lự a c h ọ n q u a n trọ n g b ậ c n h ấ t c ủ a c o n n gư ờ i T h ô n g q u a tiêu

có đư ợc m ộ t m ứ c th u n h ậ p cao , ng ư ờ i d ân c ò n co i trọ n g n h iề u lự a c h ọ n k h á c nữ a

b ao g ồ m v iệc c ó đ ủ d in h dư ỡ ng , nước u ố n g vệ sin h , c á c d ịc h vụ y t ế tố t hơn, có trư ờ ng h ọ c đ ủ v à tố t h ơ n c h o c o n em họ, có c h ỗ ở th o ả đ á n g , đ ả m b ả o sin h kế, và

có n h iề u v iệc là m m a n g tín h sản xuất V iệ c tạ o ra n g u ồ n th u n h ậ p tự th ân có thể

g iú p người d ân th o ả m ã n m ộ t s ố tro n g n h iề u n h u c ầ u n à y , n h ư n g rõ rà n g k h ô n g

p h ả i là tấ t cả. N g o à i n h ữ n g n h u cầu n ày , d â n c h ú n g c ò n coi trọ n g n h ữ ng lợi ích

m a n g tín h phi vật c h ấ t h ơ n n h ư q u y ề n tự do đi c h u y ể n v à p h á t n g ồ n , sự th o á t

k h ỏ i tìn h trạ n g á p bứ c, b ạo lực và b ó c lột D ân c h ú n g c ò n m u ố n có đư ợc cảm

n h ận về m ụ c đ íc h c u ộ c số n g , c ù n g với cả m n h ậ n về sự tra o q u y ề n D ân ch ú n g

c ũ n g coi trọ n g sự g ắ n k ế t x ã h ộ i và q u y ền k h ẳ n g đ ịn h n h ữ n g g iá trị văn h o á của riê n g họ Sự c o i trọ n g n à y ở n h ữ n g cá n h â n k h á c n h a u là k h ô n g g iố n g n h au th eo

m ộ t thư ớc đ o đ ổ n g n h ấ t n à o cả N h ư v ậy , p h át triể n c o n ngư ờ i p h ải n h ấ n m ạ n h tới việc m ở rộ n g k h ô n g g ia n lự a c h ọ n ch o c o n n gư ờ i đ ể m ỗ i n gư ờ i có th ể đ ạt được c u ộ c số n g c ó ý n g h ĩa n h ất V iệc m ở rộ n g c á c q u y ề n lự a c h ọ n c ủ a các cá

n h ấ n tro n g m ọ i lĩn h vực c h ín h là đ iề u k iệ n th iế t y ế u c ủ a q u á trìn h n à y [14,03],

P h á t triể n con n g ư ờ i là m ộ t q u á trìn h tă n g cư ờng n ă n g lực lự a ch ọ n

củ a con n g ư ờ i: N ă n g lực lự a c h ọ n được h iể u là k h ả n ă n g đ ạ t đ ến cá c m ụ c tiêu

được lự a c h ọ n v à th ự c h iệ n các ch ứ c n ă n g có liê n q u a n m ộ t c á c h đ ầ y đ ủ , hiệu

q u ả và làu d ài N â n g c a o n ă n g lực lự a c h ọ n c ủ a c o n ng ư ờ i b a o g ồ m v iệc g ia tăn g

q u y ề n đư ợ c tự d o lự a c h ọ n c ủ a c o n n gư ờ i N h ư n g c o n n g ư ờ i k h ồ n g th ể sử dụ n g

đư ợc b a o n h iê u q u y ề n tự d o lự a c h ọ n n ếu họ k h ô n g th o á t k h ỏ i đ ó i k h át, tú n g

Trang 12

th iế u v à c ù n g k h ổ C h ẳ n g h ạn , về n g u y ê n tắ c tấ t c ả m ọ i ng ư ờ i đ ề u đư ợc tự do

m u a th ự c p h ẩ m ở ch ợ , n h ư n g sự tự đ o n ày là vồ n g h ĩa n ế u n h u h ọ k h ô n g có n ăn g lực d o q u á n g h è o đ ể c ó th ể làm đư ợc đ iều đ ó M ọ i n gư ờ i có th ể tự d o đ ọ c m ộ t tờ báo , n h ư n g th ự c h iệ n lự a c h ọ n n ày c ò n phụ th u ộ c vào n ă n g lực b iế t c h ữ c ủ a m ỗ i

n g ư ờ i [8,14] R õ rà n g , n ă n g lực là đ iề u k iệ n cần th iế t đ ể b iế n c á c c ơ hội lựa

ch ọ n sẵn có th à n h h iệ n thự c T ro n g n h iều trư ờ n g hợp, n ă n g lực m ớ i cò n có th ể tạo ra n h ữ n g c ơ h ộ i lự a c h ọ n m ớ i và d o vậy, c à n g có ý n g h ĩa đ ố i với p h á t triển

co n người T ă n g cư ờ n g n â n g lực c ủ a co n n gư ờ i trư ớc h ế t là trau d ồ i kỹ n ăn g ,

k iế n th ứ c, k in h n g h iệ m c ủ a họ T u y n h iê n , k ỹ n ăn g , k iế n th ứ c n à y c ũ n g có th ể bị

x ó i m ò n n ếu c h ú n g k h ô n g đư ợ c sử d ụ n g h o ặc đ ư ợ c sử d ụ n g m ộ t c á c h k h ô n g h iệu

q u ả V ì th ế , tă n g cư ờ n g n ă n g lực b ền vữ ng h à m ý c ả v iệc sử d ụ n g n ă n g lực m ộ t

c á c h h iệ u q u ả T ro n g c u ộ c số n g , co n người cần đ ế n n h iề u lo ại n ă n g lực: n ă n g lực

th a m g ia, n ă n g lực tổ ch ứ c, th ự c h iện các c ô n g v iệc và n ă n g lực h ư ở ng th ụ các kết q u ả tro n g c á c lĩn h vực k h ác n h au c ủ a đời sốn g T u y n h iê n , c ó n h ữ n g n ăn g lực

cơ b ản m à th iế u c h ú n g , các n ãn g lực k h ác k h ó có k h ả n ă n g p h á t triển Đ ể p hát triể n đư ợ c, c o n n gư ờ i cần có th ể lực, trí lực ở m ộ t m ứ c tố i th iểu , cần th iết C ác

h o ạ t đ ộ n g c h ă m só c sứ c k h o ẻ c ơ bản , g iá o d ụ c c ơ sở ở c ả p h ạm vi g ia đ ìn h và x ã

hộ i có vai trò q u a n trọ n g tro n g việc h ìn h th à n h các n ă n g lực này[14,03]

Hộp 1 Q uan niệm phát triển con người

Phát triển con người là quá trình mở rộng phạm vi lựa chọn của con người để đạt đến một cuộc sống trường thọ, khỏe mạnh, giầu tri thức, có ý nghĩa và xứng đáng với con người Quá trình này chính là quá trình (i) mở rộng các cơ hội lựa chọn và (ii) nâng cao nãng lưc lưa chon của con người nhằm hưởng thu một cuộc sống hanh phúc, bền vững

Cơ hội lựa chọn là điều kiện hàng đầu quyết định quá trình phát triển con người Khi nào hay ở đâu con người có nhiều cơ hội hơn để lựa chọn, thì khi đó, ở chính nơi đó con người sẽ có điều kiện phát triển tốt hơn Thu nhập là một trong những lựa chọn quan trọng của con người Tuy nhiên, thu nhập không phải là lựa chọn duy nhất của con người Thu nhập là phương tiện để gia tãng sự lựa chọn Năng lực lựa chọn là điều kiện cần thiết để biến các cơ hội lựa chọn sẩn có thành hiện thực Tăng cường nãng lực lựa chọn của con người bao gồm việc gia tăng quyền được tự do iựa chọn của con người Đáng lưu ý là, trong nhiểu trường hợp, năng lực mới còn có thể tạo ra những cơ hội lựa chọn mới và đo vậy, càng có ý nghĩa đối với phát triển con người

Trang 13

1 1 2 M ộ t s ố đ ặ c đ iể m c h ín h củ a q u á tr ìn h p h á t tr iể n co n n gư ời

Phát triển con người là một quá trình bao hàm một số đặc điểm quan trọng như là các hệ quả tất yếu Cũng có thể coi đây là các yếu t ố c ấ u th à n h vốn có

của quá trình phát triển con người V ì vậy, không chỉ trở thành các đặc điểm nhận diện, các đặc điểm này còn có chức năng dẫn dắt, ràng buộc các quá trình tăng trưởng theo hướng phát triển vì con người [14-16,03].

T rư ớ c h ết, phát triển con người không phải chỉ đơn thuần là tăng trưởng kinh tế hay gia tãng của cải vật chất Mục tiêu của phát triển được nhấn mạnh là

vì con người, vì việc cải thiện chất lượng sống của con người một cách bền vững Tăng trưởng kinh tế là một điều kiện cần, là một phương tiện tối quan trọng của

sự phát triển con người, song đó không phải là mục tiêu của chính sự phát triển Kinh nghiệm cho thấy tăng trưởng kinh tế không nhất thiết và tự động thúc đẩy phát triển con người Cách thức và chất lượng tăng trưởng khác nhau có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển vì con người và bền vững Vấn đề ở đây là việc lựa chọn cách thức tăng trưởng kinh tế phục vụ tốt nhất cho hạnh phúc của con người M ộ t chiến lược tăng trưởng kinh tế được coi là phù hợp với quan niệm này nếu cách thức hay các chính sách tăng trưởng tác động một cách có hiệu quả đến việc mở rộng cơ hội và năng lực lựa chọn của tất cả mọi người đảm bảo được mục tiêu tạo dựng cho mọi người có cuộc sống tốt đẹp hơn Rõ ràng, quan niệm này về phát triển con người còn có nội dung bao quát hơn cả quan niệm coi con người là đối tượng trực tiếp của sự phát triển (Trong khi quan niệm đầu quan tâm đến sự phát triển trong mọi lĩnh vực đời sống đem lại lợi ích cho con người, thì quan niệm sau hẹp hơn, chỉ quan tâm trực tiếp đến những năng lực phẩm chất của con người mà xã hội cần phát triển.)

T h ứ h a i, phát triển con người phải do c h ín h con n gư ờ i th ự c h iệ n hay nói một cách khác, n g ư ờ i d â n p h ả i được tra o q u yền lự a ch ọ n Người dân cần có quyền lựa chọn để tham gia tích cực và sáng tạo vào quá trình phát triển Quyền này phụ thuộc vào năng lực lựa chọn của con người vì thế con người khồng thể

sử đụng các quyền lựa chọn này nếu thiếu đi các năng lực cần thiết Trong cuộc sống thường ngày, người dân có thể tham gia hoặc nhất trí với việc ra các quyết định mà sẽ ảnh hưởng tới cuộc sống của họ Người dân không nên là những

Trang 14

người thụ hưởng thụ động của một quá trình do những người khác phát động Họ phải là những đại diện tích cực trong chính sự phát triển của họ.

Để tạo điểu kiện cho dân chúng tham gia đầy đủ, tích cực vào quá trình phát triển, việc hình thành các thể chế thích hợp cho phép và khuyến khích sự tham gia của mọi người dân có ý nghĩa quan trọng Trong số các thể chế xã hội tạo môi trường cho các cá nhân chủ động hoạt động, cơ chế thị trường thể hiện là một thể chế phù hợp v ề nguyên tắc, cơ chế thị trường dựa trên sự tự đo lựa chọn các cơ hội kinh doanh, tiêu dùng và giao dịch tự nguyện của các cá nhân nhằm tối đa hoá lợi ích của mình Chính sự tự do này, trên cơ sở cạnh tranh, làm cho thị trưòng trở thành một cơ chế kinh tế hiệu quả Trước tác động của quá trình tự

do hóa thương mại, những tiến bộ của khoa học công nghệ, toàn cầu hóa đã tạo

ra những thể chế mới, một nền kinh tế thị trường toàn cầu, một thế giới phảng Với những nguyên tắc mới, giá trị mới, công cụ mới, thể chế thị trường toàn cầu này đã đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng năng lực hay quyền lựa chọn của người dân Tuy nhiên, thị trường nói chung khống phải là một cơ chế hoàn hảo Thị trường có thể "thất bại" do thông tin không hoàn hảo, tình trạng độc quyền kinh doanh Điều đó có thể tác động tiêu cực đến sự phát triển con người

Do vậy, can thiệp, điều chỉnh hay tìm kiếm một thể chế mới phù hợp hơn là một đòi hỏi vì nhu cầu phát triển con người.

T h ứ b a, phát triển con người phải được tiếp c ận trê n q u a n đ iểm to àn thể

Cách tiếp cận này đề cập đến sự mở rộng không gian lựa chọn của con người trên tất cả các khía cạnh của đòfi sống xã hội bao gồm các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục, y tế, môi trường trong mối liên hệ và tác động qua lại, chứ không chỉ giới hạn trong phạm vi kinh tế Khi người dân được hưởng thụ các dịch vụ giáo dục và y tế tốt hơn, tham gia tích cực hơn vào các quá trình chính trị, thì ngoài giá trị tự thân, người dân còn nâng cao được chính năng lực lựa chọn của mình góp phần nâng cao mức sống cho bản thân và phúc lợi chung cho

cả xã hội và cộng đổng.

Quan niệm phát triển con người còn tính đến chất lượng cuộc sống của tất

cả mọi người một cách b ìn h đ ẳ n g, không phân biệt chủng tộc, tầng lớp, tôn giáo,

Trang 15

giới tính, quốc tịch và được áp dụng cho các thế hệ khác nhau Bình đẳng thường được xét trên phương diện của cải hoặc thu nhập Nhưng phát triển con người có một cái nhìn rộng hom nhiều Nó tìm kiếm sự bình đẳng trong các nãng lực cơ bản và các cơ hội lựa chọn Theo quan điểm này, phát triển phải hướng tới việc tạo ra sự bình đẳng về cơ hội cho tất cả mọi người, đồng thòi quan tâm đến việc phân bổ năng lực công bằng hơn trong toàn bộ dân cư Thúc đẩy bình đẳng trong một số trường hợp, có thể cần đến một sự chia sẻ không bình đẳng các nguồn lực Người nghèo có thể đòi hỏi sự giúp đỡ của Nhà nước nhiều hơn người giàu M ột số người chẳng hạn như những người đau ốm hay tàn tật, có thể đòi hỏi nhiều nguồn lực hơn những người khác để có được một trình độ năng lực tương tự Chính vì vậy, sự chú ý của xã hội trước hết cần được hướng đến những nhóm người yếu thế, dễ bị tổn thương như người nghèo, người tàn tật, người dân tộc thiểu số, cư dân ở vùng sâu, vùng xa hay phụ nữ nhằm đảm bảo các nhu cầu thiết yếu như ăn, mặc, nhà ở, chăm sóc sức khoẻ ban đầu, giáo dục cơ sở và nâng cao năng lực cơ bản cho họ.

Cũng theo quan điểm toàn thể, phát triển phải là q u á trìn h bền vững từ thế hệ này sang thế hệ khác Phát triển con người sẽ là bền vững khi những nhu cầu của thế hệ hiện tại được đáp ứng nhưng không làm mai một khả năng đáp ứng được những nhu cầu của các thế hệ tương lai V ì vậy, cần có những cân nhắc

về sự bình đẳng giữa các thế hệ Sự quan tâm đến lợi ích của thế hệ hiện tại không được bỏ qua lợi ích của các thế hệ tương lai và nhất là việc xây đắp các năng lực phát triển cho các thế hệ sau Theo ý nghĩa này, tăng trưởng kinh tế nhanh dựa trên sự xói mòn và ô nhiễm môi trường và sự cạn kiệt tài nguyên là trái ngược với quan niệm phát triển con người Quan điểm bền vững đòi hỏi mọi

cá nhân phải bảo tổn môi trường phát triển cho thế hệ tương lai Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, khi mong muốn bảo vệ thế hệ tương lai, khi cố gắng ngãn ngừa

sự khốn khó trong tương lai, không thể bỏ qua những người hiện nay đang bị khốn khó “Không hành động để đảm bảo các nãng lực cơ bản cho thế hệ tương lai có thể coi là điều đáng xấu hổ, còn không hành động để đem các năng lực cơ bản đó cho những người bị bần cùng trong thế hộ hiện nay có thể coi là vô nhân

Trang 16

đạo” Kết hợp hai mục tiêu này là tư tưởng cơ bản khi tiếp cận phát triển con người một cách toàn thể[19,08].

1.1 3 M ộ t s ố c h ỉ s ố c ơ b ả n p h ả n á n h tr ìn h đ ộ p h á t tr iể n c o n n gư ời

Phát triển con người là quá trình mở rộng sự lựa chọn của con người nhằm hướng tới một cuộc sống mà họ coi trọng Cùng với thời gian, các giá trị được con người đánh giá cao chắc chắn sẽ thay đổi và mở rộng không ngừng Để đánh giá những nỗ lực phát triển này, ngoài các chỉ tiêu thành phần phản ánh các giá trị trên, một loạt các chỉ số tổng hợp đã được xây đựng mà phổ biến nhất từ những năm 1990 là Chỉ số phát triển con người Có thể thấy, việc đo lường các tiến bộ trong lĩnh vực phát triển con người đã nhận được một sự quan tâm hết sức đặt biệt Khồng ngừng hoàn thiện các chỉ số đã có về mặt kỹ thuật, nhiều chỉ số mới đã ra đời nhằm phản ánh đa chiều và sâu sác hơn những khía cạnh khác nhau của tiến trình phát triển:

1 C h ỉ s ố p h á t tr iể n c o n ngư ời (H D I) [16-17,03]

H D I là thước đo tổng hợp vé sự phát triển con người trên ba phương diện sức khỏe, tri thức và thu nhập:

o Cuộc sống trường tổn và khỏe mạnh được đo bằng tuổi thọ trung bình từ lúc sinh - (Chỉ số tuổi thọ),

o Kiến thức được đo bằng tỷ lệ người lớn biết chữ (với quyền số 2/3)

và tỷ lệ nhập học của các cấp giáo dục tiểu học, trung học và đại học (với quyền số 1/3) - (Chỉ số giáo dục).

o Mức sống được đo bằng GDP thực tế đầu người theo sức mua tương đương tính bằng đôla M ỹ (PPP USD) - (Chỉ số thu nhập)

Quy tắc chung để tính các chỉ số này là sử dụng các giá trị tối thiểu và tối đa (các giá trị biên) cho từng chỉ số theo công thức:

Giá trị thực - giá trị tối thiểu Chỉ số thành phần = - - — -

Giá trị tối đa - giá trị tối thiểu

Trang 17

Khi xác định được các chỉ số thành phần, chỉ số phát triển con người -

H D I sẽ được tính như sau (minh họa cụ thể về cách tính chỉ số H D I được giới thiệu phụ lục 1):

Chỉ số tuổi thọ + Chỉ số giáo đục + Chỉ số thu nhập

ra khỏi khía cạnh kinh tế thuần tuý về sự phát triển, bổ sung cho thước đo GDP

Có thể nói, với H D I, việc đánh giá về thành tựu phát triển trở nên toàn diện hơn

và phản ánh chân thực hơn tính mục tiêu của nó Theo thời gian, H D I không chỉ phản ánh trạng thái và những tiến bộ về phát triển con người, mà còn là một căn

cứ để xác định và lựa chọn các mục tiêu và chính sách phát triển Tuy nhiên H D I

là một chỉ số còn tương đối giản đơn, không bao quát hết tính phong phú, nhiều mặt của sự phát triển con người Nó chỉ phản ánh gián tiếp, do đó chưa đầy đủ và còn bỏ qua một số khía cạnh có liên quan đến chất lượng sống của con người như chính trị, văn hoá, mồi trường hay mức độ tham gia của người dân H D I của một quốc gia chỉ là một chỉ số trung bình, do đó cũng như GDP, nó có thể che lấp các quá trình phân phối, tình trạng bất bình đẳng, hay sự khác biệt về phát triển con người giữa các vùng và các nhóm dân cư Nó có thể không làm nổi bật được những thách thức cần được ưu tiên giải quyết của một quốc gia trong tiến trình phát triển Các k h ía c ạ n h c h ấ t lư ợng của các yếu tố cấu thành H D I cũng khó có thể phản ánh đầy đủ: trình độ giáo dục thật ra không chỉ thể hiện bằng tỉ

lệ biết chữ hay số năm đi học mà phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác mà như chất lượng giáo dục, khả năng và cơ hội lựa chọn của người học, đạc biệt với giáo dục bậc cao Nhận xét này cũng có thể áp dụng cho các yếu tố khác của H D I.

2 C h ỉ số Nghèo khổ tổng hợp (H P I) [167,08]

ĐAI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TẨM THỐNG TIN THU VIỆN

17

Trang 18

Nếu phát triển con người là nhằm mở rộng khả năng lựa chọn của con người thì nghèo khổ là sự thiếu thốn các cơ hội và sự lựa chọn cơ bản nhất để phát triển Sự thiếu thốn này vượt qua ý nghĩa của sự nghèo khổ về thu nhập bởi

nó phản ánh nguyên nhân của nghèo khổ và ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lựa chọn cũng như các hành động khác nhầm cải thiện các cơ hội cho mọi người V ì vậy, cải thiện vấn đề nghèo khổ phải tiến hành trên tất cả các khía cạnh chứ không chỉ dừng lại ở việc cải thiện thu nhập Trên cơ sở đó, U N D P trong Báo cáo phát triển con người năm 1997 đã đưa ra Chỉ số Nghèo khổ tổng hợp (Human Poverty Index- H P I) trong đó có dạng thức dành riêng cho các nước đang phát triển là H P I-1 và cho các nước O EC D là H P I - 2.

H P I -1 phản ánh mức độ nghèo đói của các nước đang phát triển Phù hợp với quan niệm chung về phát triển con người, chỉ số HPI-1 phản ánh sự thiếu thốn hay không có khả năng đảm bảo được 3 giá trị cơ bản như trong chỉ số H D I Thay vì đo lường sự nghèo khổ chỉ dựa trên thu nhập, chỉ số HPI-1 được xây dựng dựa trên ba yếu tố cơ bản hình thành H D I song theo hướng phản ánh mức

độ thiếu thốn về phương diện năng lực Đó là:

o Không có khả năng đảm bảo một cuộc sống trường tổn, khỏe mạnh thể hiện chủ yếu ở tính dễ bị tổn thương dẫn đến chết ở độ tuổi tương đối trẻ - tuổi thọ thấp và được đo bằng tỉ lệ số người có khả năng chết trước 40 tuổi;

o Thiếu thốn về kiến thức thể hiện ở sự bị loại trừ ra khỏi cộng đồng của những người biết chữ và có khả năng giao tiếp Chỉ số bộ phận này được đo bằng tỉ lệ số người trưởng thành mù chữ (tỉ lệ mù chữ trong số người từ 15 tuổi trở lên);

o Thiếu thốn về vật chất - mức sống thấp do không được tiếp cận các điều kiện sinh hoạt tối thiểu như y tế, nước sạch và vệ sinh Chỉ tiêu này được đo bằng cách tổng hợp quân bình 3 yếu tố: tỉ lệ số người không có khả nãng tiếp cận dịch vụ y tế cơ bản, không được sử dụng các nguồn nước sạch và tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng

Trang 19

Phương pháp tính chỉ số HPT-1 (minh họa cụ thể vể cách tính HPI-1 được giới thiệu ở phụ lục 2):

H P I -1 = [l/3 (P ,a + p2“+ p3“) ] 1/a

(P là g iá trị của 3 c h ỉ sô'thành p h ầ n , a = 3 )

Trước đây, để chỉ rõ mức độ nghèo khổ, người ta thường sử dụng các thước đo căn cứ theo thu nhập Hiện tại, H P I sẽ là một sự bổ sung hữu ích cho thước đo nghèo khổ này Tuy nhiên, H PI cũng có những giới hạn nhất định HPI

đo lường mức độ nghèo khổ hay thiếu thốn mang tính nhân văn của một nhóm người yếu thế nhất trong xã hội, vì vậy, không thể gắn mức nghèo khổ của xã hội nói chung với sự bần cùng của một nhóm người yếu thế này được.

3 Chỉ số phát triển Giới (GDI)[18,03]

Liên quan đến khía cạnh công bằng trong phát triển, sự bất bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới là điều rất đáng được quan tâm Tại hầu hết các quốc gia, phụ nữ thường bị thiệt thòi so với nam giới trong việc tiếp cận các cơ hội và nâng cao năng lực phát triển Họ thường có ít quyền lực hom, được hưởng thụ ít hơn các lợi ích phát triển so với những cống hiến của họ Nhiều hoạt động lao động của phụ nữ có vai trò to lớn trong phát triển con người, trong quá trình tái sản xuất xã hội như việc nuôi dạy con cái, chăm sóc người già và những người ốm đau, làm các công việc nội trợ trong gia đình Tuy nhiên các hoạt động này thường không được đánh giá, đo lường đúng đắn và không được trả cồng V ì vậy, thúc đẩy bình đẳng đòi hỏi trước hết phải quan tâm đến sự bình đẳng về cơ hội phát triển giữa phụ nữ và nam giới Để đánh giá thành tựu về vấn đề này, U N D P năm 1995 đã đưa ra C h ỉ s ố p h á t triể n g iớ i tín h (G e n d e r D e v e lo p m e n t - G D I)

G D I cũng phản ánh các yếu tố cơ bản của phát triển con người như sức khoẻ, giáo dục, thu nhập, nhưng gắn chúng với sự bất bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới Nói khác đi, G D I chính là H D I bị chiết khấu theo mức độ bất bình đẳng về giới tính Mức độ bất bình đẳng giới tính càng cao thì mức chênh lệch giữa G D I

và H D I càng lớn.

Chỉ số G D I điều chỉnh thành tựu H D I để phản ánh sự bất bình đẳng giới theo các thước đo sau:

Trang 20

o M ộ t cuộc sống trường thọ và khỏe mạnh được đo bằng tuổi thọ trung bình từ lúc sinh (tính riêng cho nam và nữ).

o Cuộc sống giầu tri thức được đo bằng tỷ lệ người lớn biết chữ và tỷ

lệ nhập học của các cấp giáo dục tiểu học, trung học và đại học (tính riêng cho nam và nữ),

o M ộ t cuộc sống vật chất đầy đủ đượcđo bằng thu nhập (PPP USD) (tính riêng cho nam và nữ),

o Tỷ lệ phụ nữ trong tổng số dân.

Cách tính chỉ số G D I như sau (minh họa cụ thể về cách tính chỉ sô' G D I được giới thiệu ở phụ lục 3):

G D I = 1/3(P, + p2 + p3) Trong đó: Pi là chỉ số phân bổ công bằng theo các thành phần về tuổi thọ, giáo đục và thu nhập Cách tính các chỉ số thành phần Pi này như sau:

Pi ={ [Tỷ lệ dân số nữ x(chỉ số nữ)1 e]+[Tỷ lệ dân số nam x(chỉ số nam)|€J} l/(| €) (€ là mức độ thiệt hại mà xã hội phải gánh chịu do bất bình đẳng)

1 2 N H Ữ N G N Ộ I D U N G c ơ B Ả N V Ể Q U A N HỆ G IỮ A T Ă N G T R Ư Ỏ N G KINH TẾ V À PHÁT TRIỂN C O N N G Ư Ò I

1.2.1 K h á i q u át về tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế là một khái niệm cơ bản phản ánh sự gia tăng về quy

mô sản lượng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ trong một thời kỳ nhất định thường

là một năm Tăng trưởng kinh tế tạo ra tiền đẻ cần thiết cho sự phát triển kinh tế (thường được hiểu là một quá trình tăng tiến về mọi mặt bao gồm những tiến bộ

về tăng trưởng và cơ cấu kinh tế xã hội) V ì vậy, tăng trưởng kinh tế là quá trình kinh tế được chú trọng từ rất sớm, ngay từ khi khoa học kinh tế manh nha hình thành Trong nhiều thập kỷ gần đây, tãng trưởng kinh tế trở thành trọng tâm nghiên cứu của nhiều nhà kinh tế Hàng loạt các lý thuyết, các mô hình tăng trưởng kinh tế xây dựng nhằm tìm kiếm các cách thức không ngừng gia tăng của cải vật chất Tất cả các quốc gia trên thế giới ở các chế độ chính trị khác nhau,

Trang 21

dù đã giầu hay còn nghèo đều hướng tói mục tiêu tăng trưởng “Tăng trưởng kinh tế trở thành một lối sống” [151,12].

Để đánh giá sự tăng trưởng kinh tế, người ta thường tính toán sự gia tăng (tuyệt đối và tương đối) của các chỉ tiêu tổng hợp là Tổng sản phẩm quốc dân (G NP), Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và Thu nhập bình quân đầu người.

Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là giá trị tổng sản phẩm hàng hóa và dịch

vụ cuối cùng được sản xuất ra trên một phạm vi lãnh thổ quốc gia trong một thời gian nhất định (thường là một năm).

Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) là giá trị tổng sản phẩm hàng hóa dịch vụ cuối cùng được tạo ra bởi công dân của một nước trong một thời gian nhất định (thường là một năm).

Thu nhập bình quân đầu người (PCI) là giá trị tổng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ tính bình quân theo đầu người của một quốc gia trong một thời gian nhất định Chỉ tiêu này cho thấy bản chất mức sống của người dân vì vậy là chỉ tiêu được sử dụng bổ sung hữu hiệu cho hai chỉ tiêu tổng hợp GDP và GNP ở trên Tãng trưởng kinh tế phản ánh thành tựu mà nền kinh tế đạt được trong việc khai thác các nhân tố sản xuất, các nguồn lực trong nước và nước ngoài V ì vậy, tăng trưởng kinh tế trước hết phụ thuộc sâu sắc vào các nhân tố đầu vào như lao động, đất đai, vốn hay công nghệ sản xuất Bên cạnh đó, tăng trưởng kinh tế còn phụ thuộc và chịu tác động mạnh mẽ của môi trường tăng trưởng trong đó các yếu chính trị hay văn hóa có một vị trí quyết định.

1.2.2 Các xu th ế khác nhau trong tương quan giữa tăng trưởng kinh tẽ và phát triển con người

Theo quan niệm phát triển con người, tăng trưởng kinh tế là phương tiện

cơ bản nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống Với cách tiếp cận như vậy thì đương nhiên tăng trưởng kinh tế sẽ là biến số quyết định tiến trình phát triển con người(?) Giả thuyết này liệu có nhận được sự hậu thuẫn từ thực tiễn (?).

Quá trình khảo sát tình hình tăng trưởng kinh tế và phát triển con người của 177 nước theo số liệu báo cáo của U N D P năm 2007 đã được thực hiện Bằng

mô hình hồi quy tương quan đơn trong đó chỉ số H D I là biến phụ thuộc và thu nhập bình quân đầu người (U SD PPP) là biến độc lập, hàm xu thế phi tuyến tính

Trang 22

đã được thiết lập với hệ số tương quan đủ chặt chẽ (xem phụ lục 6) cho thấy, ở mức thu nhập càng cao thì chỉ số H D I càng tiến gần trị giá bàng 1 (xem hình 1) Tức là, tâng trưởng kinh tế có quan hệ đồng thuận với chất lượng phát triển con người X u thế này khiến mục tiêu tăng trưởng kinh tế hết sức được coi trọng Nhưng xu thế này liệu có đủ để kết luận rằng, đư ơng n h iê n cứ tâng trưởng kinh

tế sẽ nâng cao chất lượng cuộc sống người dân Hoài nghi này xuất phát trên cơ sở: phát triển con người là một quá trình toàn điện, tính đến sự phát triển của tất

cả mọi người dân chứ không chỉ tính trung bình V ì vậy, rất có thể mức độ bất bình đẳng có thể xẩy ra ở nhiều nước khác nhau, thậm trí ở cả ngay những nước

có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong nhiều nãm (?) Tính xu thế cũng có thể sẽ san bằng một thực tế là nhiều nước có thể tăng trưởng kinh tế nhưng chất lượng phát triển con người không được cải thiện tương ứng và ngược lại (?) Xu thế này cũng có thể cho thấy tăng trưởng kinh tế là một phương tiện phát triển con người hữu hiệu nhưng không đương nhiên như vậy mà phải chăng sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố trung gian khác nhau, vì vậy các nhân tố này mới là các nhân tố

quyết định xu thế nêu trên (?).

H D I

TNBQ Hình 1 Dồ IhỊ phản ãnh tương quan giữa HDI và TNBQ đẩu người {Sử dụng sử liệu tống hợp từ HDR năm 2007)

Trang 23

Khi hoài nghi như vậy, nhiều nhà kinh tế tìm hiểu, nghiên cứu và cho rằng tương quan giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển con người ở các quốc gia khác nhau chỉ có thể tiến triển theo một trong các xu thế sau:

o Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế cao nhưng chất lượng cuộc sống không được cải thiện - phát triển con người thấp,

o Thứ hai, tăng trưởng kinh tế thấp nhưng phát triển con người không

vì thế mà thấp — phát triển con người cao.

o Thứ ba, tăng trưởng cao, tương ứng phát triển con người cao

o Thứ tư, không có tăng trưởng hay tăng trưởng thấp, (vì vậy) thành tựu phát triển con người thấp.

Trong các xu thế này, hai xu thế sau dường như là hợp lý, là tất yếu vì đó

là những quan hệ mang tính hệ quả - một sự cân xứng theo như đồ thị xu hướng

đã chỉ ra Trong trường hợp không có tăng trưởng hay tăng trưởng thấp, rõ ràng khi này xã hội không có gì hay không có gì nhiều để phân phối hay phân phối lại Ngược lại, một nền kinh tế tăng trưởng cao là tiền đề vật chất quan trọng để nâng cao chất lượng cuộc sống người dân nhất là xét trong đài hạn Điều này thật

dễ chấp nhận đi liền với một sự tò mò về cách thức để tiền đề vật chất ấy trở thành các cơ hội hiện thực đối với người dân Sự tương phản đáng lưu ý giữa tâng trưởng và phát triển con người nằm ở xu thế thứ nhất và thứ hai Liệu đây có phải

là các xu thế hiện thực và quả vậy thì điều gì chi phối sự tương phản này (?) Sự tổn tại của hai xu hướng này nếu được minh chứng sẽ đưa ra những gợi mở quan trọng cho các nhà nhiên cứu cách thức xây dựng và nhận diện mối tương quan giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển con người.

Bắt đầu từ những suy luận đơn giản nhất, nếu các xu thế trái ngược như vậy là hiện hữu, thì có thể nhận định, tăng trưởng kinh tế và phát triển con người không phải bao giờ cũng ăn khớp với nhau (?).

Sự thực, số liệu thực tế về tăng trưởng kinh tế và phát triển con người thông qua các chỉ số cơ bản trong nhiều năm qua đã minh chứng cho tính sát thực của suy luận trên Theo Báo cáo Phát triển con người của U N D P năm 1993, thế giới có 50 nước có thứ tự xếp hạng thu nhập bình quân đầu người cao hơn

Trang 24

h o ặ c thấp hơn thứ tự xếp hạng theo chỉ số H D I hơn 20 bậc Mặc dù giảm theo thời gian, năm 2001 thế giới vẫn ghi nhận 29 quốc gia có mức chênh lệch tương

tự Sau đó 6 năm - năm 2007, con số này là 24 quốc gia (xem bảng 1).

S ô nư ớc có h iệ u sô c h ê n h lệch d ư ơ n g (tă n g trư ở n g x ế p

trên p h á t triển co n n g ư ờ i từ 20 bậc trở lên) 2 6 10 10 1 3

S ố nước có h iệ u sô' c h ê n h lệch â m (tă n g trư ở n g x ế p

dưới p h á t triển c o n n g ư ờ i từ 2 0 bậc trở lẻn) 2 4 1 7 1 9 11

Với độ chênh lệch được tính đến 20 bậc trở lên, rõ ràng sự tương thích giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển con người là không đễ xẩy ra Nhiều quốc gia với độ lệch rất cao như Albania, Myanma hay Angola cho thấy sự tương thích hoàn toàn là một thách thức thực sự lớn Thách thức này không chỉ đặt ra đối với các nhóm nước có chỉ số phát triển con người thấp mà ở ngay cả những nước được đánh giá cao hơn (xem bảng 2) Nếu muốn nâng độ lệch lên đến 30 bậc hay thậm trí cao hơn nữa, thế giới cũng không khó tìm ra một loạt các nước

để đưa vào danh sách Như vậy, bước đầu có thể nói, tăng trưởng kinh tế và phát triển con người sẽ có sự vân động trái chiều nhau Điều này cho thấy xu thế thứ nhất và thứ hai là có cơ sở để cùng xuất hiện hoặc thay nhau xuất hiện M ột lần nữa, số liệu thực tế từ bảng 3 chỉ ra rằng, ở cùng một thời điểm, cả hai xu thế này

đã cùng tồn tại song song với nhau Năm 1993 có 26 quốc gia có thứ hạng tăng trưởng xếp trên thì cũng có 24 quốc gia có thứ hạng tăng trưởng xếp dưới Thực

tế này tiếp tục duy trì đến năm 2007 với các con số tương ứng là 13 và 11.

Như vậy, sự tư ơ ng p h ả n g iữ a tă n g trư ở n g k in h t ế và p h á t triể n con ngư ờ i th eo h a i x u t h ế tr á i ngược n h a u là m ộ t h iệ n th ự c k h á c h q u a n

B ả n g 2 M ộ t s ô n ư ớ c đ iể n h ìn h v ề c h ê n h lệ c h th ứ h ạ n g t h u n h ậ p b ìn h q u ả n đ ầ u ngư ờ i

v à th ứ h ạ n g H Đ I t h e o b á o c á o n ă m 2 0 0 7

Trang 25

X ế p h ạ n g

G D P / n g ư ờ i (1)

X ế p h ạ n g

H D I (2)

C h ê n h

lệ c h (l)-(2 )

tả cụ thể hơn ở hình 2 Chẳng hạn, Marocco được biết đến với mức thu nhập bình quân đẩu người là 4555ƯSD tương đương với mức thu nhập của SriLanca là 4595ƯSD, nhưng chỉ số phát triển con người của SriLanca lại cao hơn 0.097 điểm, tương đương 15% so với mức chỉ số này của Marocco Tuy nhiên, nếu đem so sánh với Swaziland (quốc gia có mức thu nhập bình quân cao hơn một chút là 4824U SD ), Marocco lại vươn lên, vượt trội với mức điểm cao hơn là 0.099 điểm, tương đương 18% Như vậy là, mặc dù cùng đạt một kết quả tăng trưởng như nhau, nhưng không phải các lợi ích từ tăng trưởng đương nhiên sẽ chảy tràn làm gia tãng chất lượng cuộc sống như nhau Có tăng trưởng kinh tê hay tăng trưởng kinh tế ở mức cao đi nữa thì không vì thế trình độ phát triên con người sẽ cao lên tương ứng.

Trang 26

Tương tự như vậy với xu thế thứ hai, khi khảo sát các quốc gia có chỉ số phát triển tương đương nhau (khoảng 0.750 được chọn để khảo sát), thế giới cũng ghi nhận một sự khác biệt nữa giữa mức thu nhập bình quân đầu người của các quốc gia này Thu nhập bình quân đầu người là một đường hình sin lên xuống với nhiều biên độ khác nhau (xem hình 3) Từ đây có thể kết luận rằng, không phải chất lượng cuộc sống như nhau đều là hệ quả tất yếu của các thành tựu như nhau

về kinh tế.

Trang 27

Những kết luận như trên khá đơn giản nhưng dường như lại có một ý nghĩa lớn lao trước một thực tế là trong suốt một thời gian nhiều thập kỷ vừa qua, nhiều nước trên thế giới đã đeo đuổi mục tiêu tăng trưởng và tin tưởng mãnh liệt rằng đó là cách tốt nhất để chất lượng cuộc sống được cải thiện tương ứng.

Như vậy, quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển con người trên thực tiễn thời gian qua đã xuất hiện trong cả hai hình mẫu tương phản nhau Sự thật này có thể giải tỏa được mối hoài nghi ban đầu Rõ ràng là p h á t triể n con người x u ấ t

p h á t từ các th à n h tự u tâ n g trư ở n g k in h t ế k h ô n g p h ả i là m ộ t hệ q u ả tấ t yếu

m à thực c h ấ t các n ề n k in h t ế đ ã là m tố t hơ n việc ch u yển các th à n h tựu tăn g trư ở ng k in h t ế th à n h c h ấ t lư ợng p h á t triể n con người T ă n g trư ở ng k in h tê là

đ iều k iệ n c ầ n n h ư n g chư a p h ả i là đ iều k iệ n đ ủ đ ể q u á trìn h p h á t triể n con ngư ời đ ư ơ ng n h iê n được c ả i th iện

1.2.3 N hận diện mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tê và phát triển con người

Trong mối tương quan với quá trình phát triển con người, tãng trường kinh

tế có thể thúc đẩy quá trình phát triển con người mặc dù tăng trưởng có trở thành

Trang 28

phương tiện phát triển con người hay không còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau Để đo lường tác động của quá trình tăng trưởng kinh tế đối với thành tựu phát triển con người, trong những trường hợp như thế này, các nhà khoa học thường tính toán giá trị biên của quá trình tăng trưởng (hay độ co giãn của thành tựu phát triển con người đối với tăng trưởng) mà không vội tính đến việc thành tựu phát triển con người còn là hệ quả của hàng loạt các yếu tố khác nhau Hai biến có thể được lấy làm đại diện cho hai quá trinh này chính là tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người (Ay) và tốc độ gia tăng chỉ sô' phát triển con người (A H D I) Khi này, hệ số giữa A H D I và Ày sẽ cho thấy một đơn vị gia tăng thu nhập bình quân đầu người sẽ cải thiện được bao nhiêu điểm phần trăm thành tựu phát triển con người Nếu gọi hệ số này là H ệ s ố tă n g trư ở ng vì con người (Ghd), thì Ghd sẽ được tính toán như sau:

Ghd = A HD Ư A y

Hệ số này càng cao thì hiệu quả tăng trưởng vì mục tiêu phát triển con người càng được đánh giá là cao Hệ số Ghd khi nhận giá trị dương sẽ cho thấy phát triển con người đang được cải thiện Đương nhiên hệ số này cũng nhận giá trị âm và khi đó tăng trưởng kinh tế không thể hiện là động cơ chính giúp nâng cao chất lượng cuộc sống người dân Với ý nghĩa như vậy, mặc dù có những giới hạn nhất định vốn có, hệ số này sẽ cho phép các nhà nghiên cứu khảo sát chính xác hơn mối liên hệ giữa tăng trưởng và phát triển con người, những thành tựu cũng như tốc độ cải thiện chất lượng cuộc sống người dân theo một cách ít cảm tính hơn.

Bổ sung cho hệ số tãng trưởng Ghd (vốn chủ yếu đo lường tốc độ chuyển

đ ổ i lợi ích tăng trưởng cho phát triển con người), tỷ phần đóng góp của tăng trưởng đối với tiến bộ phát triển con người là một chỉ số quan trọng Tỷ phần này phản ánh độ lớ n của tăng trưởng trong vai trò là một yếu tố cấu thành tạo nên chất lượng cuộc sống Khi kết hợp với hệ số tăng trưởng Ghd, người ta sẽ nhận biết thêm được tốc độ chuyển hóa của tăng trưởng kinh tế chủ yếu qua kênh nào trong số các kênh về tuổi thọ, thu nhập và giáo dục v ề cách tính, tương tự như tính hệ số Ghd, tỷ phần đóng góp của tăng trưởng với phát triển con người có thể

Trang 29

một phân là do ảnh hưởng của những biến thiên từ chỉ số thu nhập với tỷ phần đóng góp được tính toán như sau:

r ỷ p h â n đ ó n g g ó p c ủ a t ă n g t r ư ở n g

t h u n h ậ p v à o p h á t t r i ể n c o n n g ư ờ i ( % ) =

( P 1+ P 2+ P 3) X A H D I

&HDI là tốc độ thay đôi chỉ sô phát triển con người năm nghiên cứu so với năm so sánh (%)

T ỷ phần này trên lý thuyết là không có giới hạn và có thể mang giá trị âm

Tỷ phần này được coi là tốt nếu nó manh giá trị dương và tương đương với tỷ phần của các yếu tố khác (tuổi thọ và giáo đục).

Để chắc chắn ràng, các chỉ số trên, nhất là hệ số tăng trưởng vì con người

có khả năng phản ánh chiều sâu tác động của tăng trưởng đối với thực trạng phát triển con người, cách tốt nhất là đưa những chỉ số này vào phân tích tình huống Bảng 3 dưới đây là số liệu tổng hợp được của một số quốc gia Đông Nam Á (Để

so sánh hệ số tăng trưởng v ì con người giữa các quốc gia, như thường lệ, phương

pháp ngang giá sức m u a được sử dụng để xác định mức thu nhập bình quân đầu

Trang 30

P h ilip p i n e s 4 6 1 4 5 1 3 7 1 1 3 3 0 7 6 3 0 7 7 1 1 0 4 0 0 9

I n d o n e s i a 3609 3843 6.48 0.711 0.728 2.39 0 3 6

L a o s 1 9 5 4 2039 4 3 5 0 5 5 3 0.601 8.67 1 9 9

Từ các số liệu trên đây có thể đưa ra một số nhận định như sau:

- Mặc dù Thái Lan có tốc độ tăng trưởng thu nhập theo sức mua tương đương là 7.25% , nhưng mức tăng trưởng này không bù đắp hoặc không đủ

bù đắp để làm gia tăng chất lượng cuộc sống so với trước đó H D I của người Thái năm 2007 đã giảm so với năm 2006 là 0.38% Sự sụt giảm này

đã gắn cho hệ số Gdh của Thái một giá trị âm (- 0.05).

- M ộ t số quốc gia khác có tốc độ tăng trưởng thu nhập cao, nhưng hệ số Ghd lại thấp tương đối so với nhiều quốc gia khác Điển hình như Philippines và Cambodia có tốc độ tăng thu nhập là 11.33% và 12.54%, nhưng chất lượng tăng trưởng vì con người lại rất thấp, tương ứng chỉ là 0.09 và 0.2 điểm.

- Ngược lại, có một số quốc gia có tốc độ tãng trưởng thu nhập thấp nhưng lại khá thành công trong việc chuyển các thành tựu kinh tế ít ỏi đó vào phát triển con người như Lào hay Indonesia Hệ số tăng trưởng vì con người của các quốc gia này rất cao là 1.99 và 0.36 trong khi đó thu nhập tăng chậm là 4.35% và 6.48% Với thành tích này, Lào từ vị trí 133 đã vươn lên vị trí 130 trong bảng xếp hạng H D I năm 2007 Tương tự, Indonesia cũng tăng một bậc từ vị trí thứ 108 lên vị trí thứ 107.

- Sử dụng rộng rãi hon, hệ số Ghd cũng cho biêt lợi ích chảy tràn do tăng trưởng kinh tế đem lại đối với chất lượng cuộc sống theo biến số thời gian

X u thê biến thiên của hệ sô Ghd là cơ sở để điều chỉnh các quá trình tăng trưởng vì con người có hiệu quả hơn Chẳng hạn, năm 2007, Indonesia đã nâng cao được chất lượng chuyển đổi tăng trưởng kinh tế cho phát triển con người với hệ số Ghd là 0.36 tăng 0.09 điểm tương đương 25% so với

Trang 31

năm 2006 (chỉ đạt hệ số Ghd là 0.27) Quốc gia này rõ ràng đã có những thay đổi đáng kể nào đó trong cách thức tãng trưởng(?).

Sử dụng chỉ số tỷ trọng đóng góp của tăng trưởng thu nhập vào phát triển con người để tính toán cho trường hợp của quốc gia có hệ số Ghd cao nhất là quốc gia Lào chẳng hạn T ỷ phần đóng góp của tãng trưởng thu nhập vào phát triển con người là 2.18% Tỷ phần này của Lào mang giá trị dương chứng tỏ thu nhập là một nhân tố góp phần ỉàm gia tăng chỉ số H D I Nhưng rõ ràng sự gia tăng chỉ số H D I của Lào chủ yếu không phải do thu nhập đem lại vì đóng góp vào sự gia tăng H D I từ mức 0.553 năm 2006 ỉên 0.601 năm 2007, tỷ phần của tăng trưởng thu nhập trong đó chỉ ỉà 2.18% Nguyên nhân thực sự khiến chỉ số

H D I của Lào được cải thiện chính là do Lào đã có những tiến bộ vượt bậc về chăm sóc y tế, sức khỏe chứ không phải tăng trưởng kinh tế Tính toán tương tự, người ta thấy đóng góp của chỉ số tuổi thọ vào sự gia tăng H D I của Lào lên đến 95.63% (xem bảng 4) Ở đây cần nhấn mạnh lại là, dù tãng trưởng thấp, nhưng Lào đã chuyển đổi khá tốt kết quả tăng trưởng ít ỏi vào gia tăng H D I với hệ số Ghd nêu trên là 1.99.

Từ những tình huống trên đây nhìn sơ bộ cho thấy những nhận định có cơ

sở và cũng phản ánh được các xu thế hiện thực, trái chiều của quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển con người (xem thêm hình 4) V ì vậy, hệ số tăng trưởng vì con người Ghd có thể là hệ số công cụ giúp nhận diện sâu sắc hơn mối quan hệ vốn khổng có sự một sự liên hệ tự thân này Tỷ phần đóng góp của tãng trưởng thu nhập vào phát triển con người là một sự bổ sung cần thiết.

Trang 32

Hỉnh 4 Hệ s ố tàng trưởng vì con người của một số quốc gia theo HDR năm 2007

1.2.4 M ộ t s ô n h â n tô tă n g cư ờ n g liên k ết g iữ a ta n g trư ở n g k in h tê và phát

tr iể n c o n n gư ời

Như một kết luận quan trọng đã nêu ở trên, giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển con người không nhất thiết sẽ xung đột với nhau, vận động trái ngược nhau Hai quá trình này hoàn toàn có thể thúc đẩy nhau phát triển thông qua các nhân tố trung gian nói riêng hay các chính sách và các cam kết chính trị nói chung U N D P trong Báo cáo phát triển con người năm 1996 đã đưa ra một nghiên cứu và nhận định: “Những tiến bộ trong ngắn hạn về phát triển con người

là có thể đạt được, song chúng sẽ không có khả năng duy trì nếu tăng trưởng không tiếp tục Ngược lại, tăng trưởng kinh tế sẽ không bền vững nếu không có phát triển con người”[10,14] V ì vậy, việc xác định các nhân tố để tăng cường liên kết giữa tăng trưởng với phát triển con người, để quá trình và kết quả tăng trưởng có thể chuyển hóa thành những tiến bộ về chất lượng cuộc sống, là một đòi hỏi thiết thực Quan trọng hơn, các nhân tố này sẽ là cơ sở tạo ra sự đồng thuận của cả xã hội trong việc xây dựng và thực thi một chiến lược tăng trưởng vì con người V ậy, những nhân tố này là gì (?)

Trang 33

1 Tạo các cơ hội việc làm:

Thu nhập là một trong những lựa chọn then chốt để người dân có phương tiện nâng cao năng lực lựa chọn của mình V ì vậy, các cơ hội việc làm mang lại thu nhập cho người dân là một trong những ràng buộc quan trọng mà các quá trình tăng trưởng phải tính đến Theo quan điểm toàn diện, cơ hội việc làm ở đây phải được mở ra cho tất cả mọi người dân khống phân biệt tầng lớp, tôn giáo, vẫn hóa hay giới tính Nhưng áp lực việc làm như vậy, trên thực tế, không phải là nhỏ Nhiều nước không có sự tãng trưởng nên đương nhiên không có cơ hội mở rộng việc làm Nhưng ngay cả những nước có tăng trưởng nhanh hơn thì cũng không có gì đảm bảo rằng, đấy là một quá trình tăng trưởng tạo nhiều việc làm

V ì vậy, tạo ra các cơ hội việc làm trong các chiến lược tăng trưởng trước hết phải được đảm bảo bằng các cam kết chính trị được kiểm soát chặt chẽ Cũng có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, không nhất thiết phải có một cam kết nào cả bởi

vì khi có thu nhập do có việc làm, thu nhập sẽ tạo điều kiện giúp con người cải thiện được các năng lực cá nhân Đồng nghĩa với đó là vốn con người của xã hội đang được gia tăng Vốn con người lớn hơn có thể tạo ra một vòng tác động nhân quả mà theo đó vốn con người cao hơn sẽ tạo ra một năng suất lao động cao hơn, nền kinh tế sẽ tăng trưởng nhanh hơn v ề phía người lao động, họ sẽ có thu nhập cao hơn và đến đây, họ lại có điều kiện để tiếp tục đầu tư cho con người với cả hai tư cách: đầu tư cho phát triển con người và cũng là đầu tư cho một nguồn đầu vào quan trọng - vốn con người Nói tóm lại, dù thế nào, các chính sách tăng trưởng cũng cần phải được hoạch định theo hướng khuyến khích mở rộng các cơ hội việc làm cho đồng đảo người dân M ô hình tăng trưởng tạo nhiều việc ỉàm cần được xem như là một ưu tiên hàng đầu.

2 Đ ảm bảo A n toàn sinh kế:

M ột yếu tố cấu thành quan trọng của phát triển con người là sinh kế được đảm bảo Đ ối với đa số dân chúng, sự đảm bảo này đồng nghĩa với việc có một việc làm đem lại thu nhập ổn định Các cơ hội việc làm vì thế một lần nữa được nhắc đến với vai trò là cầu nối tăng trưởng với phát triển con người Nhưng hơn thế, việc làm với tư cách là phương tiện sinh kê nếu bị mất đi còn tước đoạt luôn

cả cơ hội nâng cao năng lực, thậm trí cả nhân phẩm và lòng tự trọng của một con

Trang 34

người Việc làm không được đảm bảo thì xã hội không thể duy trì ổn định lâu dài

và rất dễ lâm vào tình trạng thiếu an toàn với nhiều mối đe dọa thường trực hon

An toàn xã hội rơi vào trạng thái lung lay Trong tình trạng này, kiếm được kế sinh nhai cho tử tế sẽ là một thách thức thực sự đối với người dân V ì vậy, để chặt đứt vòng xoáy này, chính sách tạo việc làm ổn định sẽ ỉà một chính sách mang nặng tính xã hội hơn là về kinh tế Ngoài nguy cơ thất nghiệp, người dân còn phải đối phó với sự bất an đến từ nhiều nguồn khác nhau như dịch bệnh, chiến tranh, ô nhiễm môi trường v.v Những nhân tố này có thể tác động trực tiếp đến năng lực và môi trường làm việc của người dân, trực tiếp đến cơ hội việc làm và chất lượng cuộc sống của họ, đồng thòi có thể làm cho nền sản xuất bị ngừng trệ, thậm trí bị khủng hoảng nghiêm trọng Ngược lại, an toàn xã hội được duy trì sẽ là môi trường cần thiết của tăng trưởng bền vững V ì vậy, các quá trình tăng trưởng phải chú ý đến việc giảm thiểu thất nghiệp, giảm thiểu những tác hại xấu đến sự an toàn của môi trường sinh kế.

3 M ở rộng dân chủ:

Phát triển con người là quá trình trao quyền lựa chọn ngày một rộng rãi hơn cho người dân, đồng thời cũng là quá trình do chính người dân thực hiện vì vậy người dân phải được chủ động tham gia vào các quá trình phát triển cả về chính trị lẫn kinh tế để quyết định quá trình phát triển của chính mình Mặt khác, phát triển con người không phải không có giới hạn Quyền của mỗi người phải được đảm bảo trên cơ sở không xâm hại quyền của người khác, vì vậy, sự trao quyền ở đây được xét trên bình diện chung của xã hội Nhưng thực tế cho thấy, quá trình tăng trưởng kinh tế không phải lúc nào cũng được vận hành dưới sự kiểm soát chặt chẽ của dân chúng Quá trình tãng trưởng như vậy thường được xem là thiếu dân chủ và cần phải được loại bỏ M ô hình tăng trưởng hiện đại phải kết hợp được với một xã hội dân chủ Điều này không phải là không có cơ

sở Nhiều chuyên gia U N D P cho rằng, một nền dân chủ năng động có thể hỗ trợ tăng trưởng theo rất nhiều cách khác nhau Chẳng hạn, một nền kinh tế được điều hành một cách công khai, minh bạch sẽ làm giảm bớt nạn tham nhũng và những quy định độc đoán Khi này, xã hội sẽ giảm thiểu sự méo mó và thế

Trang 35

đien hình khi cho răng, nạn đói hiếm khi xảy ở nhưng nước có nền dân chủ, có

sự tự do báo chí Bởi vì, nếu khồng có các cuộc bầu cử dân chủ, không có các diên đan phê phán công khai thì những người cầm quyền sẽ không phải lo lắng

về hậu quả chính trị do việc họ đã không ngăn chặn được nạn đói Do vậy, nạn đói do vậy rất dễ xảy ra Nhưng thật may là, chính sự dân chủ đã buộc các nhà chưc trách (vì lợi ích chính trị của mình) phải quan tâm đến tăng trưởng kinh tê ngăn chặn không để nạn đói hoành hành cho dù họ chắc chắn khổng bị chết đói khi nạn đói xảy ra Nhìn chung, mở rộng dân chủ trên tất cả các lĩnh vực là một nhu cầu thiết yếu cho phát triển con người M ở rộng dân chủ là một mắt xích then chốt kết nối tăng trưởng với phát triển con người Mặc đù có thể đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng kinh tế, nhưng cũng phải thấy rằng đây vẫn là một yếu

tố khó dung hòa trong các chính sách tăng trưởng.

4 Bình đẳng trong phân phối cơ hội:

Theo quan điểm toàn diện, phát triển con người phải hướng tới việc tạo ra

sự bình đẳng về cơ hội cho tất cả mọi người Quyền tiếp cận các nguồn lực phải được trao cho rộng rãi mọi người dân Trên cơ sở đó, người dân mới có khả năng trong việc duy trì và cải thiện chất lượng cuộc sống Từ bình diện xã hội, sự bình đẳng hay công bằng trong việc phần bổ các cơ hội còn là nền tảng hình hành một

xã hội phát triển mang tính nhân văn Nhấn mạnh đến quyền lợi (thường là yếu thế hơn) của người phụ nữ, sự bình đẳng ở đây bao hàm cả khía cạnh bình đẳng

về giới Phụ nữ cũng có quyền được hưởng các cơ hội phát triển như nam giới Trên thực tế, nhiều quá trình tăng trưởng thường đi đôi với sư bất bình đẳng Thông thường, sự bất bình đẳng về cơ hội sẽ được chuyển hóa và biểu hiện rõ nét nhất ở sự bất bình đẳng về thu nhập Nhưng khi nhìn bức tranh tổng thể về vấn

đề này, người ta thấy một mảng lớn sự phân cách giầu nghèo Nhiều quá trình tãng trưởng chủ yếu đem lại lợi ích cho nhóm những người vốn đã giầu có vì người giầu vẫn được coi là những người có xu hướng tiết kiệm và đầu tư nhiều hơn, vì vậy, quá trình tãng trưởng sẽ tiếp tục vòng xoáy đi lên Sự thực, quá trình tăng trưởng sai lầm này được nhiều nhà phân tích gọi là quá trình tăng trưởng không có lương tâm (,Ruthless G ro w th )[60,14] Thực chất, sự phân bổ công bằng

về cơ hội nói chung, nhất là cơ hội tiếp cận các nguồn lực như đất đai, tín dụng,

Trang 36

hạ tâng cơ sơ khi được đảm bảo sẽ có xu hướng thúc đẩy tãng trưởng nhờ có những tác động kích thích dân chúng làm giầu một cách sâu sắc và rộng lớn hơn

Nó thai thác sự đóng góp của tất cả mọi người vào sự phát triển chung và làm giảm thiểu các chi phí dành cho việc ổn định xã hội M ặt khác, khi được phân phoi một cách công băng, các cơ hội kinh doanh sẽ được tân dụng một cách tối

ưu hơn, hiệu quả hơn và hệ quả tất yếu là lợi ích tăng trưởng sẽ cao hơn Ở khía cạnh bình đẳng giới, những cơ hội công bằng hơn cho phụ nữ, nhất là cơ hội tiếp cận đầy đủ các dịch vụ giáo dục, châm sóc trẻ em hay việc làm, đểu đóng góp vào sự phát triển con người của họ và liên đới trực tiếp là sự phát triển đối với gia đình của họ Bên cạnh đó, với chất lượng phát triển cao hơn, phụ nữ sẽ có vai trò tích cực hom trong việc gia tăng lợi ích tăng trưởng.

5 T h iế t lập X ã hội hợp tác:

Phát triển con người là một quá trình tôn trọng các giá trị sông cũng như cách thức mà dân chúng lựa chọn để cùng chung sống Trong số đó, sự tham gia vào các hoạt động cộng đồng của các cá thể xã hội được đặc biệt coi trọng Nếu dân chúng cảm nhận được giá trị thực sự của sự gắn kết xã hội không phải theo cách cổ truyền (là thông qua các cam kết xã hội) mà là dựa trên cơ sở của niềm tin và các giá trị văn hóa chung khác thì xã hội sẽ trở lên đồng thuận hơn trong việc hợp tác với nhau để tạo nên một nguồn vốn mới vô hình - nguồn vốn xã hội Nguồn vốn này sẽ động lực tăng trưởng chủ yếu, bổ sung hữu hiệu cho nguồn vốn vật chất và vốn con người từng bước đang mất đi vai trò động lực bởi quy luật nâng suất biên giảm đần X u hướng gắn kết, hợp tác chặt chẽ hơn cũng sẽ đẩy lùi các xung đột xã hội V ì vậy, việc xây dựng một xã hội hợp tác là tiền đễ của sự phát triển Các thể chế dân chủ và tự nguyện là môi trường hợp tác quan trọng, liên kết chặt chẽ mọi người với nhau Trong các thể chế như vậy, các cá nhân sẽ có một sức mạnh mới để tăng cường năng lực hành động, lựa chọn và kiểm soát, tăng cường sự ảnh hưởng đến các vấn đề liên quan đến chất lượng cuộc sống Sức mạnh đó là sức mạnh cộng đồng Mặc dù xã hội hợp tác là mắt xích liên kết quan trọng như vậy, nhưng đáng lưu ý là dường như chính phủ lại không thể có những ảnh hưởng đáng kể nào ngoại trừ việc mở ra không gian tự

do cho quá trình hình thành một xã hội hợp tác.

Trang 37

6 B ả o tồ n c á c g iá tr ị v ă n h óa k h á c nhau:

Phát triển con người là quá trình dung dưỡng sự khác biệt về văn hóa Các giá trị sống mà mỗi người dân coi trọng đều tồn tại bình đẳng với nhau trong sự

đa dạng về văn hóa V I vậy, bảo tổn các giá trị văn hóa khác nhau, nhất là các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp là một đòi hỏi khách quan của sự phát triển Tuy nhiên trên thực tế, sự thống nhất về chính trị hay sức nặng của nền văn hóa

có tiềm lực kinh tế nhiều khi đã nhấn chìm sự đa dạng về văn hóa Trong xu thế toàn cầu hóa, sự đa dạng về văn hóa còn bị mờ nhạt bởi các hình mẫu có tính chất toàn cầu N ó làm hao mòn chất lượng cuộc sống của mọi người V ì vậy, trong quá trình tăng trưởng kinh tế, các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp khác nhau cần phải được bảo tồn Khi này, xã hội sẽ không phải gánh chịu các xung đột văn hóa, môi trường tăng trưởng sẽ được đảm bảo.

7 C h ú tr ọ n g P h á t triể n b ền vững:

Phát triển con người phải là quá trình phát triển bền vững theo quan điểm toàn diện Các thế hệ tương lai cũng cần được đảm bảo một có một môi trường sống ít nhất được như hiện tại V ì vậy việc tăng trưởng kinh tế nhằm phục vụ lợi ích của thế hệ hiện tại không được làm xói mòn các cơ hội tăng trưởng và phát triển của thế hệ tương lai Theo ý nghĩa này, tăng trưởng kinh tế nhanh đi kèm với sự gia tăng ô nhiễm môi trường, sự cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên là một quá trình tăng trưởng không có tương lai Trong khi đó, tích lũy cho tương lai là tiền đề để tăng trưởng bền vững, Vượt ra ngoài khuôn khổ của vấn đề môi trường, các thế hệ hiện tại còn phải lường trước được những thách thức khác mà thê hệ tương lai phải gánh chịu do những hành động thiếu cân nhắc của mình Những căn bệnh xã hội kinh niên hay những món nợ tài chính khổng lồ (nhất là

nợ nước ngoài) không phải là những tài sản mà thê hệ tương lai muốn thừa kế V ì vậy, chú trọng phát triển bền vững là nhân tô phù hợp với cả quan điêm phát triển con người và tăng trưởng kinh tế.

8 P h á t tr iể n c á c d ịc h v ụ y tế , g iá o d ụ c v à k h o a h ọ c c ô n g n gh ệ:

Nhìn trực diện nhất thì phát triển con người là quá trình nâng cao năng lực lựa chọn cho người dân Các năng lực cơ bản này không chỉ là phương tiện đê

Trang 38

người dân đạt được một cuộc sống khỏe mạnh, trường tồn, giầu tri thức và hạnh phúc bền vững mà xét cho cùng, bản thân chúng cũng chính là các nhân tố cấu thành hạnh phúc con người V ì vậy, những nỗ lực nâng cao năng lực con người thông qua việc phát triển các dịch vụ y tế, giáo dục và khoa học công nghệ là những hành xử mang tính nhân văn sâu sắc Ở khía cạnh vật chất, nó là quá trình đầu tư vốn con người như cải thiện sức khỏe, tăng cường đào tạo kỹ năng nghề nghiệp, tận dụng các lợi ích chẩy tràn của giáo dục hay tăng cường khả năng nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ vào thực tiễn cuộc sống Những

nỗ lực cải thiện vốn con người như vậy sẽ tác động làm thay đổi triển vọng về tăng trưởng kinh tế bởi vì nguồn vốn con người là nền tảng để nâng cao năng suất lao động Cũng vì thế mà vốn con người ngày càng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến cấu thành của cải quốc gia (xem hình 5).

Hình 5 Đóng góp của các yếu tố vào tàng trường kinh tế {theo WB năm 1995)[13,14]

Đóng góp của vốn vặt chít (16%)

Đóng góp của vổn tự nhiên (20%)

Đóng góp cúa vổn xl hội

và con ngưòi (64%)

Ngày đăng: 18/03/2015, 14:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Thành Tự Anh, Tăng trưởng của Việt Nam có thực sự nhanh và bền vững?, Tạp chí Tia sáng - 6/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng trưởng "của "Việt Nam có thực sự nhanh và bền vững
2. Báo cáo chung của các nhà tài trợ tại Hội nghị Tư vấn các nhà tài trợ Việt Nam (2003), Báo cáo phát triển Việt Nam 2004: Nghèo, Trung tâm Thông tin Phát triển Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phát triển Việt Nam 2004: Nghèo
Tác giả: Báo cáo chung của các nhà tài trợ tại Hội nghị Tư vấn các nhà tài trợ Việt Nam
Năm: 2003
3. Báo cáo nghiên cứu chính sách của Ngân hàng thế giới (2001), Đưa vấn đề giới vào phát triển thông qua sự bình đẳng Giới về Quyền, Nguồn lực và Tiếng nói, Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đưa vấn đề giới vào phát triển thông qua sự bình đẳng Giới về Quyền, Nguồn lực và Tiếng nói
Tác giả: Báo cáo nghiên cứu chính sách của Ngân hàng thế giới
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin
Năm: 2001
4. Lê Xuân Bá, Nguyễn Thị Tuệ Anh (2006), Tăng trưởng kinh tếV iệt Nam - 15 năm ị 1991 - 2005) từ gốc độ phân tích đóng góp của các nhân tô' sân xuất, NXB Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng trưởng kinh tế Việt Nam - 15 năm từ 1991 - 2005 từ gốc độ phân tích đóng góp của các nhân tố sản xuất
Tác giả: Lê Xuân Bá, Nguyễn Thị Tuệ Anh
Nhà XB: NXB Khoa học Kỹ thuật
Năm: 2006
5. Báo cáo chung của các nhà tài trợ tại Hội nghị nhóm tư vấn Các nhà tài trợ Việt Nam (2007), Báo cáo phát triển Việt Nam 2007: Hướng dến tầm cao mới, Trung tâm Thông tin Phát triển Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phát triển Việt Nam 2007: Hướng dến tầm cao mới
Tác giả: Báo cáo chung của các nhà tài trợ tại Hội nghị nhóm tư vấn Các nhà tài trợ Việt Nam
Năm: 2007
6. Chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước KX-05 (2003), Nghiên cứu văn hóa, con người, nguồn nhân lực đâu thề kỷ XXI, Kỷ yếu Hội thảo quốc tê - 11/2003, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn hóa, con người, nguồn nhân lực đâu thề kỷ XXI
Tác giả: Chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước KX-05
Năm: 2003
7. PGS.TS Trần Thọ Đạt (2005), Các mô hình táng trưởng kinh tế, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các mô hình táng trưởng kinh tế
Tác giả: PGS.TS Trần Thọ Đạt
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2005
8. David Dapice, Lựa chọn thành công - Bài học từ Đông Á và Đông Nam Á cho tương lai Việt Nam, Chương trình Châu á - ĐH Harvard, WWW.Minhbien.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lựa chọn thành công - Bài học từ Đông Á và Đông Nam Á cho tương lai Việt Nam
9. Trần Hữu Dũng (2006), vốn xã hội và phát triển kinh tế, Hội thảo về Vốn xã hôi và phát triển kinh tế, Tạp chí Tia sáng và Thời báo kinh tê Sai gon, TP Ho Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: vốn xã hội và phát triển kinh tế
Tác giả: Trần Hữu Dũng
Năm: 2006
10. TS. Đoàn Vãn Khái (2005), Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hoá hiên đũi hoá ỞViêt bỉ am, Nhà xuất ban Lý luận Chinh tn, Ha Nọi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hoá hiên đũi hoá ỞViêt bỉ am
Tác giả: TS. Đoàn Vãn Khái
Năm: 2005
11. Kinh t ế 2007 - 2008: Việt Nam và T h ế giới, Thời báo kinh tế Việt Nam 2008 Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh t ế 2007 - 2008: Việt Nam và T h ế giới
12. David C.Korten (1996), Bước vào th ế kỷ XXI: Hành động tự nguyện và chương trình nghị sự toàn cẩu, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước vào th ế kỷ XXI: Hành động tự nguyện và chương trình nghị sự toàn cẩu
Tác giả: David C.Korten
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
13. Brian Van Arkadie & Raymond Mallon (2004), Việt Nam - Con hổ đang chuyển mtnh?, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam - Con hổ đang chuyển mtnh
Tác giả: Brian Van Arkadie & Raymond Mallon
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2004
14. Hafiz A. Pasha, T. Palanivel (2004), Chính sách tăng trưởng vì người nghèo Chương trình khu vực Châu Á - Thái Bình Dương về kinh tế vĩ mô của giảm nghèo, UNDP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách tăng trưởng vì người nghèo
Tác giả: Hafiz A. Pasha, T. Palanivel
Năm: 2004
15. Hồ Sĩ Quý (2003), Con người và phát triển con người trong quan niệm của C.Mác và Ph.Ángghen, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người và phát triển con người trong quan niệm của C.Mác và Ph.Ángghen
Tác giả: Hồ Sĩ Quý
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
16. Hồ Sỹ Quý, Phát triển con người và phát triển con người Việt Nam qua báo cáo thường niên về phát triển con người của UNDP, Niên giám Thông tin Kinh tế Xã hội, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển con người và phát triển con người Việt Nam qua báo cáo thường niên về phát triển con người của UNDP
17. Tatyana P.Soubbotina (2005), Không chỉ là tăng trưởng kinh tê, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không chỉ là tăng trưởng kinh tê
Tác giả: Tatyana P.Soubbotina
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin
Năm: 2005
18. TS. Trần Đình Thiên (2002), Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam: Phác thảo lộ trình, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam: Phác thảo lộ trình
Tác giả: TS. Trần Đình Thiên
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
19. Tình trạng bất ổn vĩ mô: Nguyên nhân và phản ứng chính sách, Chương trình Châu á - ĐH Harvard, W W W .Minhbien.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng bất ổn vĩ mô: Nguyên nhân và phản ứng chính sách
20. Michael P.Todaro (1998), Kinh tế học cho thế giới thứ ba, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học cho thế giới thứ ba
Tác giả: Michael P.Todaro
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1998

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Dồ IhỊ phản ãnh tương quan giữa HDI và TNBQ đẩu người {Sử dụng sử liệu tống hợp từ HDR năm 2007) - Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển con người  Một số vấn đề đặt ra cho Việt Nam
Hình 1. Dồ IhỊ phản ãnh tương quan giữa HDI và TNBQ đẩu người {Sử dụng sử liệu tống hợp từ HDR năm 2007) (Trang 22)
Bảng  3  dưới  đây  là số liệu  tổng hợp được của một số quốc  gia Đông  Nam  Á.  (Để  so sánh  hệ số tăng trưởng v ì con  người giữa các  quốc  gia,  như thường lệ,  phương  pháp ngang  giá sức m u a được sử dụng để  xác  định mức thu  nhập bình quân  đầ - Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển con người  Một số vấn đề đặt ra cho Việt Nam
ng 3 dưới đây là số liệu tổng hợp được của một số quốc gia Đông Nam Á. (Để so sánh hệ số tăng trưởng v ì con người giữa các quốc gia, như thường lệ, phương pháp ngang giá sức m u a được sử dụng để xác định mức thu nhập bình quân đầ (Trang 29)
Hình  16. So sánh  chi số  phát triển  con  người của Việt Nam và thế giới theo HDR năm 2007 - Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển con người  Một số vấn đề đặt ra cho Việt Nam
nh 16. So sánh chi số phát triển con người của Việt Nam và thế giới theo HDR năm 2007 (Trang 53)
Hình 17. Hệ số tăng trường vì con người của Việt Nam giai đoạn 1998 - 2007 - Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển con người  Một số vấn đề đặt ra cho Việt Nam
Hình 17. Hệ số tăng trường vì con người của Việt Nam giai đoạn 1998 - 2007 (Trang 57)
BẢNG  12. ĐểNG GểP CỦA CÁC CHÍ SỐ CẤU THÀNH VÀO TỐC ĐỘ TĂNG HOI - Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển con người  Một số vấn đề đặt ra cho Việt Nam
12. ĐểNG GểP CỦA CÁC CHÍ SỐ CẤU THÀNH VÀO TỐC ĐỘ TĂNG HOI (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w