1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tự do hóa thương mại trong khuôn khổ WTO và một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam

136 652 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 2,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong vòng đàm phán này Mỹ nhằm 3 mục tiêu chiến lược: đối phó với những thế lực làm Mỹ thâm hụt thương mại như: Nhật Bản, Tây Âu và một số nước và nền kinh tế công nghiệp hóa mới; áp đặ

Trang 1

TỰ DO HOÁ THƯƠNG MẠI TRONG KHUÔN KHỔ WTO

VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

HÀ NỘI - 2006

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA KINH TẾ

-**** -

Lª h÷u hiÖp

TỰ DO HOÁ THƯƠNG MẠI TRONG KHUÔN KHỔ WTO

VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN XUÂN THẮNG

HÀ NỘI - 2006

Trang 3

Danh mục chữ viết tắt

Chữ

AoA Agreement on Agriculture Hiệp định nông nghiệp

ADP Anti-Dumping Practices Chống bán phá giá

ATC Agreement on Textiles and

Clothing

Hiệp định dệt may

DDA Doha Development Agenda Nghị trình phát triển Đôha

DSP Dispute Settlement Panel Đoàn bồi thẩm xử lý tranh chấp DSU Dispute Settlement Understaniding Thoả thuận xử lý tranh chấp

FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài GAT

GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội

GNP Gross National Product Tổng sản phẩm quốc dân

GSP Generalized System of Preferences Hệ thống ưu đãi phổ cập

G-8 Group of Eight Nhóm 8 nước công nghiệp phát

triển nhất G-20 Group of Twenty Nhóm 20 nước đang phát triển G-77 Group of Seventy Seven Nhóm 77 nước đang phát triển ILP Import Licensing Procedures Thủ tục cấp phép nhập khẩu IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tệ

LDC Least Developed Countries Các nước kém phát triển nhất MFN Most Favoured Nation Tối huệ quốc

MFA Multi-Fiber Agreement Hiệp định đa sợi

Trang 4

NIEs Newly Industrialized Economies Các nền kinh tế mới công nghiệp hoá

NT National Treatment Đối xử quốc gia

NTBs Non- Tariff Barriers Measures Các rào cản phi thuế quan

OECD Organization for Economic

Cooperation and Development

Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế

SCM Subsidies and Countervailing

Measures Agreement

Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng

SDT Special and Differential Treatment Đối xử đặc biệt và có phân biệt SPM Sanitary and Phytosanitory

Measures

Các biện pháp kiểm dịch và vệ sinh thực vật

SSG Special Safe Guards Các biện pháp tự vệ đặc biệt

TBT Technical Barriers to Trade Các rào cản kỹ thuật đối với

thương mại TPRB Trade Policy Review Body Cơ quan kiểm điểm chính sách

TRIPs Agreement on Trade-Related

Aspects of Intellectual Property

Rights

Hiệp định về quyền tài sản trí tuệ liên quan đến thương mại

TPO Trade Promtion Organization Tổ chức xúc tiến thương mại

UNCTA

D

United Nations Conference on

Trade and Development

Hội nghị liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển

UNDP United Nations Development

Programe

Chương trình Phát triển của LHQ

Trang 5

WB World Bank Ngân hàng Thế giới

WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế giới

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Như chúng ta đã biết, bước chuyển từ GATT sang WTO là một trong những biểu hiện rõ nét về mặt thể chế của bước chuyển trạng thái chất - lượng phát triển trong xu thế toàn cầu hoá, là một đặc trưng phổ biến, tất yếu trong sự phát triển của nền kinh tế thế giới Những mối quan hệ kinh tế này đã vượt ra khỏi phạm vi quốc gia, không chỉ ở một hay một số hàng hoá thuần tuý mà là hầu hết các sản phẩm và xâm nhập vào nhiều lĩnh vực như: đầu tư, quyền sở hữu trí tuệ, môi trường,… Tuy nhiên, việc thay đổi “luật chơi” trong hệ thống thương mại toàn cầu không chỉ gây tác động tới cơ chế và mô thức vận động mà còn tác động tới các chủ thể tham gia thương mại quốc tế

Hiện nay, trên 95% kim ngạch thương mại trên thế giới là do các thành viên của WTO thực hiện và cho tới nay, số thành viên đã lên tới con số 149 Đó

là các quốc gia, vùng lãnh thổ có chính sách thuế quan độc lập trong đó đa phần

là các nước ĐPT và các nước chuyển đổi Điều đó chứng minh rằng WTO là một biểu hiện nổi bật của quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới

Thực tế những diễn biến của tự do hoá thương mại trong khuôn khổ WTO cho thấy tiến trình đàm phán đã bắt đầu thương thảo trên nhiều vấn đề mới, phần lớn là gói đàm phán thống nhất nằm trong phạm vi của Nghị trình phát triển Đô

ha, trong đó bao gồm các cuộc đàm phán về nông nghiệp, thương mại dịch vụ,

tự do hoá hơn nữa về các vấn đề liên quan tới thực thi nguyên tắc đối xử đặc biệt

và có phân biệt, tiếp cận thị trường các sản phẩm phi nông nghiệp, phi thương mại và môi trường Vòng đàm phán mới cũng bắt đầu các cuộc thương thảo về những thoả thuận trong việc xử lý các tranh chấp và thực thi sáng kiến Singapore

Bên cạnh những vấn đề đã được thoả thuận, tiến trình tự do hoá thương mại của WTO còn gặp nhiều khó khăn, tập trung chủ yếu vào những lĩnh vực

Trang 6

nhạy cảm như: thực thi sáng kiến Singapore về đầu tư, chính sách cạnh tranh, minh bạch hơn trong mua sắm của chính phủ, tạo thuận lợi cho thương mại và

hỗ trợ kỹ thuật cho các nước ĐPT cũng như những vấn đề liên quan đến mở cửa thị trường nông sản và quyền tài sản trí tuệ liên quan đến thương mại (TRIPs)

Sau nhiều khó khăn, các nỗ lực đàm phán tự do hoá thương mại cũng được nối lại vào tháng 7 năm 2003 bằng Hiệp định khung Giơnevơ; Hội nghị Hồng Kông (13-18/12/2005) Các nước OECD đã cam kết cắt giảm đáng kể các trợ cấp nông nghiệp, mở của thị trường phi nông sản, ngành dịch vụ và đưa ra phương án phát triển cho các nước ĐPT Song kế hoạch cắt giảm này vẫn còn bỏ ngỏ với những sản phẩm mà họ cho là “nhạy cảm”, có vai trò quyết định đối với nền nông nghiệp trong nước Các nước OECD cũng đã mềm mỏng hơn trong việc từ bỏ các yêu cầu đàm phán về đầu tư và các quy định cạnh tranh cũng như cải thiện tính minh bạch trong các thủ tục đấu thầu của chính phủ

Như vậy, tự do hoá thương mại trong khuôn khổ WTO trong giai đoạn gần đây vẫn còn gặp nhiều khó khăn, những diễn tiến trong đàm phán đang đặt

ra nhiều cơ hội và thách thức cho các nước, nhất là các nước ĐPT trong tự do hoá thương mại Việt nam là một nước nông nghiệp điển hình đang thực hiện những vòng đàm phán cuối cùng để gia nhập WTO vào 2006 cho nên việc nghiên cứu những vấn đề tự do hoá thương mại trong khuôn khổ WTO sẽ rất hữu ích và có ý nghĩa thiết thực đối với Việt nam, nhất là sau khi Việt Nam trở thành thành viên WTO Xuất phát từ tầm quan trọng, ý nghĩa thực tiễn của những vấn đề tự do hoá thương mại của WTO đối với Việt nam, tác giả quyết

định chọn chủ đề “Tự do hoá thương mại trong khuôn khổ WTO và một số

vấn đề đặt ra đối với Việt nam” là đề tài luận văn thạc sỹ kinh tế chính trị

2 Tình hình nghiên cứu

Cho đến nay, có rất nhiều hoc giả trong và ngoài nước đã nghiên cứu về WTO Có thể chỉ ra một số công trình chủ yếu sau đây:

WTO và triển vọng gia nhập của Việt Nam do Trung tâm tư vấn và đào tạo

kinh tế thương mại và Nhà xuất bản Chính trị quốc gia phối hợp xuất bản năm

1997 Hội thảo về WTO và các nước ĐPT – Do Bộ ngoại giao phối hơp với OXFAM (Anh) tổ chức tháng 3 năm1999 Tự do hoá thương mại: kinh nghiệm

từ các nước ĐPT, Tạp chí những vấn đề kinh tế thế giới số 51 tháng 1 năm

Trang 7

1998 Agriculture, trade and WTO, WB, 2002 Từ Xiatơn đến Đôha – toàn cầu

hoá và WTO, WB, 2002 Vòng đàm phán thiên niên kỷ, UNDP, 2004 Vai trò, địa vị của G-8 và WTO trong nền kinh tế thế giới, Tạp chí kinh tế và dự báo số

5 ngày 11tháng 2 năm 2004 Mong muốn một thoả thuận nông nghiệp, Tạp chí

Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương, số 9 ngày 29 tháng 4 năm 2004

Deconstructing – the WTO melt- Down at Cancun, Would trade, December

2003 The Dual tracks of Global Trade Policy, Would trade, Sepember 2004

Các công trình nghiên cứu chủ yếu phân tích vai trò của WTO, mối quan hệ giữa các chủ thể về các nguyên tắc, quy định và giải quyết tranh chấp giữa các chủ thể đó trong hệ thống thương mại toàn cầu

Hiện nay, một số các vấn đề tự do hoá thương mại trong khuôn khổ WTO

vẫn chưa được nghiên cứu trên góc độ kinh tế- chính trị học một cách toàn diện,

cụ thể nhất là tác động tự do hoá thương mại của WTO trong chiều hướng mới, trong điều kiện nền kinh tế thế giới có nhiều biến động Do đó, trong đề tài này tác giả tập trung nghiên cứu tiến trình tự do hoá thương mại trong khuôn khổ WTO và tác động của nó đối với nền kinh tế của các thành viên WTO nhằm làm

rõ cơ hội và thách thức cho Việt nam là một nước nông nghiệp đi sau, trên cơ sở

đó đưa ra một số phương hướng giải pháp phù hợp cho Việt nam khi tham gia vào hệ thống thương mại toàn cầu

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Từ góc nhìn kinh tế- chính trị học, luận văn sẽ tập trung nghiên cứu sự hình thành, phát triển và những thay đổi cơ bản trong WTO Tiến trình tự do hoá thương mại trong khuôn khổ WTO, để từ đó đi sâu phân tích những cơ hội, thách thức và điều kiện đặt ra cho Việt nam khi tham gia đàm phán thương mại, cũng như thực thi các nguyên tắc tự do hoá thương mại của WTO

Với mục đích nghiên cứu trên, luận văn tập trung thực hiện các nhiệm vụ

Trang 8

+ Rút ra một số phương hướng và giải pháp cơ bản cho Việt nam mở của thị trường sau khi tham gia vào hệ thống thương mại toàn cầu

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

+ Đối tượng nghiên cứu: Tiến trình tự do hoá thương mại trong các vòng đàm phán của WTO và những tác động của nó; sự tham gia của các thành viên WTO (bao gồm cả Việt nam) trong tiến trình này

+ Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu những nội dung chính, đi sâu phân tích tiến trình tự do hoá thương mại sau khi WTO được thành lập (1995 đến nay)

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn, tác giả sử dụng một số phương pháp cơ bản sau: Phương pháp duy vật biện chứng và logic lịch sử, phương pháp đánh giá tổng quan, phương pháp phân tích và so sánh, phương pháp thống kê và tổng hợp

Tất cả các phương pháp trên được sử dụng để thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh và đánh giá tổng quan nhằm tìm ra những căn cứ, cơ sở minh hoạ cho các luận điểm đồng thời góp phần đưa ra những phương hướng, giải pháp phù hợp với tình đặc điểm của Việt Nam trong tiến trình gia nhập và thực hiện các nguyên tắc của WTO

6 Những đóng góp mới của luận văn

Trong luận văn tác giả hy vọng sẽ có những đóng góp mới, cơ bản sau:

+ Làm rõ được nội dung, thuận lợi và những khó khăn của tiến trình tự do hoá thương mại trong khuôn khổ WTO

+ Trên cơ sở phân tích những nội dung chủ yếu của vòng đàm phán mới

về tự do hoá thương mại, tác giả làm rõ được tác động của quá trình tự do hoá thương mại đến các thành viên WTO và đưa ra những dự báo triển vọng của tiến trình tự do hoá thương mại trong khuôn khổ WTO

+ Làm rõ những vấn đề đặt ra cho Việt nam trước những tiến triển của quá trình tự do hoá thương mại trong khuôn khổ WTO Trên cơ sở đó gợi ý một

số phương hướng và giải pháp cho Việt nam mở cửa thị trường và thực thi hiệu quả các cam kết của WTO

7 Kết cấu của luận văn

Trang 9

Ngoài các phần, mục lục, mở đầu, bảng ký hiệu viết tắt, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo cũng như kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề chung về tổ chức thương mại thế giới

Chương 2: Tiến trình tự do hoá thương mại trong khuôn khổ WTO

Chương 3: Định hướng và những giải pháp thúc đẩy tiến trình TDHTM của Việt nam sau khi gia nhập WTO

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI

1.1 Quá trình hình thành và phát triển của WTO

1.1.1 Lịch sử ra đời của GATT

WTO (Tổ chức Thương mại Thế giới) có tiền thân là Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (GATT) GATT là một tổ chức được thành lập tạm thời sau chiến tranh thế giới thứ hai theo gương các tổ chức đa phương khác tham gia vào hợp tác kinh tế quốc tế - đáng chú ý là các tổ chức của "Bretton Woods", ngân hàng thế giới (WB) và quỹ tiền tệ quốc tế (IMF)

GATT không phải là tổ chức kinh tế có tôn chỉ mục đích, chương trình hành động buộc các nước phải chấp hành Nó không nhằm mục đích hiệu lực hoá các hiệp định thương mại Nói các khác, GATT là một hiệp định đa phương giữa các quốc gia có nền kinh tế thị trường về thương mại và thuế quan GATT ra đời là một nỗ lực vượt bậc nhằm cứu nền thương mại thế giới khỏi khủng hoảng trì trệ nghiêm trọng mà lịch sử đã chứng kiến từ đầu thập kỷ

30 và người ta đã kịp nhận thấy rằng, một trong những nguyên nhân đẩy đến tình trạng trên chính là chính sách bảo hộ thái quá mà mỗi quốc gia, vì những lợi ích riêng đã cố thi hành, bất chấp ảnh hưởng tiêu cực đến thương mại chung Những chính sách này làm méo mó cạnh tranh lành mạnh trong các nền kinh tế thị trường, làm cho buôn bán quốc tế phải tiến hành trong không khí kém an toàn và việc dự đoán xu hướng phát triển cũng như dung lượng trao đổi hàng hoá và dịch vụ rất khó khăn Điều này tác động xấu đến nền kinh tế toàn cầu và do đó, kìm hãm sự phát triển kinh tế của từng quốc gia

Trang 10

Do Hiến chương La Havana không bao giờ được phê chuẩn, nên Hiệp định GATT với 38 điều đã được các nước áp dụng trong gần 50 năm như là hiệp định đa phương duy nhất điều chỉnh quan hệ thương mại quốc tế Sau gần nửa thế kỷ tồn tại và phát triển, GATT đã trở thành một hệ thống thể chế và pháp lý của nền thương mại quốc tế Mặc dù có những khiếm khuyết nhất định, GATT

đã đóng vai trò là người bảo vệ các nguyên tắc thương mại tự do và mở cửa thị trường

Một trong những khiếm khuyết lớn nhất của GATT (1947) là tính chất

“tạm thời” của hiệp định này với tư cách là một điều ước quốc tế Nghị định thư áp dụng tạm thời GATT (1947) quy định: “các bên ký kết sẽ áp dụng các

điều khoản tại phần I và phần III cũng như tại phần II trong chừng mực những điều khoản tại phần II không trái với luật pháp hiện hành của các bên ký kết”

Quy định áp dụng phần II của GATT (1947) đã cho phép một số bên ký kết GATT duy trì một số luật ban hành trước ngày 1-1-1948 có những điều khoản trái với những nghĩa vụ quy định tại phần I và phần III của GATT Một số nước như Mỹ và Canađa đã sử dụng quyền đặc miễn này, trong khi đó Cộng đồng Châu Âu, Nhật Bản lại không thể sử dụng quyền đặc miễn này vì họ không phải là các bên ký kết ban đầu của GATT

Cũng do về mặt pháp lý, GATT (1947) không phải là một tổ chức quốc tế nên đã gây ra một số tranh cãi liên quan đến khái niệm “tư cách thành viên” của GATT Trường hợp xin khôi phục lại tư cách thành viên GATT của Trung Quốc là một thí dụ điển hình Trung Quốc là một “Bên ký kết ban đầu” nhưng đến năm 1950, Đài Loan đã quyết định rút khỏi GATT sau khi thấy chính quyền Mỹ từ bỏ việc đệ trình Thượng viện Mỹ xin phê chuẩn “Hiến chương La Havana” Từ năm 1980, Mỹ bắt đầu cho Trung Quốc hưởng quy chế “Tối hệ quốc” được gia hạn hàng năm, trên cơ sở luật thương mại Hoa Kỳ năm 1974 Tháng 7-1986, Trung Quốc chính thức nộp đơn xin khôi phục lại tư cách “Bên

ký kết ban đầu” của GATT Tuy nhiên, đề nghị này của Trung Quốc đã không được các chuyên gia pháp lý của GATT chấp thuận với lý do GATT không phải là một tổ chức quốc tế, do đó không có vấn đề kế thừa hoặc khôi phục lại

tư cách thành viên, do vậy Trung Quốc phải đàm phán để “quay lại” GATT

Trang 11

Hiệp định GATT quy định hai loại thủ tục gia nhập: gia nhập thông qua đàm phán và gia nhập thông qua giới thiệu Gia nhập thông qua đàm phán là việc ứng cử viên đàm phán với tất cả các bên ký kết GATT về điều kiện gia nhập bao gồm việc cắt giảm thuế quan, các biện pháp bảo hộ phi thuế quan và những biện pháp kinh tế vĩ mô như: chính sách giá, thuế, chính sách cạnh tranh

và có thể mở rộng sang cả những vấn đề chính trị- pháp lý như hệ thống hành chính ở trung ương và địa phương, hệ thống tài phán tư pháp – hành chính, vấn

đề độc quyền thương mại nhà nước… Thủ tục gia nhập thông qua giới thiệu là việc một bên ký kết của GATT giới thiệu việc xin gia nhập của ứng cử viên mà bên ký kết chịu trách nhiệm về mặt pháp lý trong quan hệ quốc tế Thủ tục này được sử dụng trong trường hợp xin gia nhập của các nước cựu thuộc địa Đông Dương thuộc Pháp thuộc những trường hợp này, khi ký kết GATT vào năm

1947 Pháp ký với danh nghĩa Liên hiệp Pháp (French Union) điều này đồng

nghĩa là Hiệp định này cũng được áp dụng đối với tất cả các quốc gia thành viên của Liên hiệp Pháp trong đó có ba nước Đông Dương

Sau gần 50 năm, số lượng các bên ký kết GATT đã tăng từ 23 quốc gia và lãnh thổ vào năm 1947 lên đến 103 nước vào năm 1990 là lúc kết thúc giai đoạn giữa kỳ của Vòng đàm phán Urugoay GATT từ chỗ chỉ là một hiệp định tổng quát về thuế quan và thương mại đã thực sự trở thành tổ chức thương mại

đa phương, quản lý và điều chỉnh hơn 80% các trao đổi thương mại hàng hóa

và dịch vụ trên toàn thế giới

Tuy có những khiếm khuyết như đã trình bày ở phần trên, GATT đã đóng một vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và tiến hành các vòng đàm phán thương mại đa phương về cắt giảm thuế quan và phi thuế quan

Từ năm 1947 đến năm 1994, đã có 8 vòng đàm phán thương mại đa phương được tiến hành trong khuôn khổ GATT Nội dung của các vòng đàm phán đã được mở rộng dần từ cắt giảm thuế quan và biện pháp phi thuế quan đến cải cách hệ thống pháp lý, cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT

Nói tóm lại, với những mục tiêu cao cả là tạo ra một môi trường thương mại quốc tế an toàn và rộng khắp, hiệp định chung về thuế quan và thương mại

là một nỗ lực lớn nhằm đạt được sự tăng trưởng kinh tế và sự phát triển kinh tế

- xã hội trên phạm vi toàn cầu

Trang 12

Những quy định căn bản của GATT

GATT có những nguyên tắc và qui định căn bản mà mỗi nước thành viên phải có nghĩa vụ tôn trọng như sau:

a Không phân biệt đối xử trong buôn bán quốc tế

b Bảo hộ bằng thuế quan và không được phép thông qua hình thức nào khác như trợ cấp đầu vào, lãi suất thấp, thuế quan ưu đãi

c Khống chế các mức trần thuế để hạn chế các nước thành viên tự ý nâng mức thuế quan lên cao hơn

d Thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh: Bắt buộc các thành viên phải đưa ra những ứng xử công bằng, giảm bớt bảo hộ mâu dịch

đ Thủ tục trì hoãn: Các nước có thể trì hoãn việc thực hiện nghĩa vụ đối với GATT trong thời gian nhất định thông qua các biện pháp tạm thời bảo hộ các ngành trong nước nhưng phải chứng minh được rằng nếu không thi hành bảo hộ các nhà sản xuất trong nước thực sự tổn thất lớn, được áp dụng với những nước tạm thời bảo hộ các ngành công nghiệp yếu kém để tạo cơ hội phát triển

e Cấm các hạn chế về số lượng đặc biệt đối với nông sản, hàng dệt và sắt thép

g Cho phép ký kết các thoả thuận thương mại khu vực

h Những điều kiện ưu đãi đặc biệt dành cho các nước ĐPT: Các nước ĐPT thành viên của GATT dành cho các nước ĐPT những quyền lợi đặc biệt

và khác nhau mà không đòi hỏi phải thi hành những nguyên tắc có đi có lại

i Giải quyết bất đồng thương mại: Nguyên tắc này nhằm bảo đảm an toàn

và công bằng trong quan hệ thương mại Các nước thành viên của GATT nếu cảm thấy quyền lợi của họ theo quy định của GATT đang bị vi phạm thì bước đầu tiên để giải quyết tranh chấp là tiến hành thương lượng Nếu thương lượng không có kết quả thì có thể khiếu nại lên GATT Nếu trên phạm vi do GATT xác định không chịu thực thi ý kiến giải quyết thì bên thiệt hại có quyền tiến hành các biện pháp trả đũa

Trên đây là những quy định cơ bản của GATT thể hiện mục tiêu cao cả của nó là tạo ra môi trường thuận lợi cho tự do hoá thương mại vì sự tăng trưởng kinh tế tốt hơn cho tất cả các nền kinh tế Với tư cách là cơ quan chịu

Trang 13

trách nhiệm về nền thương mại toàn cầu, các bên tham gia ký kết GATT đã dành những nỗ lực đáng kể trên nhiều phương diện, để đạt được những nguyên tắc cơ bản và hoàn thiện như hiện nay

1949 Annecy- Pháp Cắt giảm thuế không đáng kể 29 1950-51 Torguay- Anh 8700 thoả thuận về thuế quan 32 1955-56 Gơnevơ- Thụy

sỹ

1960-61 Vòng Dillon Giảm thuế quan theo cơ cấu của EEC 4400

thoả thuận về thuế

39

1963-67 Vòng Kennedy Thuế quan trung bình giảm 35% đối với các

nước phát triển Khoảng 30.000 loại thuế được giới hạn Hiệp định chống bán phá giá và định giá hải quan

Hình thành một số biện pháp ưu dãi cho các nước ĐPT

74

1973 -79 Vòng Tokyo Thuế quan trung bình giảm 1/3 đối với các

nước phát triển Các biện pháp phi thuế quan, các hiệp định Khung được hình thành

99

Trang 14

1986 -94 Vòng Urugoay Thuế quan trung bình giảm 1/3 đối với các

nước phát triển Nông nghiệp, dệt may và vải được đưa vào danh mục GATT

Thành lập WTO GATs, TRIPs, TRIMs được đưa vào đàm phán

103-128

Nguồn: http://www.wto.org Các vòng đàm phán song phương: Gơnevơ (Thụy Sỹ, tháng 10-1947, 23

nước); Annecy (Pháp, 1949, 29 nước); Torquay (Anh, 1950-1951, 32 nước); Gơnevơ (Thụy Sĩ, 1955-1956, 33 nước) và Dillon (1960-1961, 39 nước)

Năm vòng đàm phán song phương đầu tiên trong khuôn khổ GATT có nội dung về cắt giảm thuế quan đối với các sản phẩm chế biến (các sản phẩm nông nghiệp chưa được các nước đưa vào đàm phán) và sử dụng phương pháp cắt giảm song phương Theo phương pháp này, các bên ký kết có liên quan sẽ đàm phán song phương với nhau để cắt giảm thuế quan đối với từng sản phẩm cụ thể Tổng cộng 5 vòng đàm phán đã có gần 60.000 sản phẩm được cắt giảm thuế quan Mọi cam kết giảm thuế quan phải được đưa vào Biểu cam kết về thuế quan và về nguyên tắc ràng buộc các bên ký kết Tuy nhiên, GATT cho phép các bên ký kết có liên quan có thể đàm phán để sửa đổi hoặc bãi bỏ cam kết giảm thuế quan mà các nước này đã đưa ra trong vòng đàm phán trước đó, nhưng với điều kiện phải có cam kết về cắt giảm thuế quan đối với sản phẩm khác có giá trị tương đương hoặc phải đền bù cho bên ký kết bị thiệt hại Phương pháp cắt giảm thuế quan song phương được tiến hành giữa một bên là nước nhập khẩu chính và một bên và nước xuất khẩu chính sản phẩm có liên quan Nếu hai nước này đạt được thỏa thuận về cắt giảm thuế quan thì mức thuế quan mới sẽ được áp dụng

tự động đối với tất cả các bên ký kết khác theo nguyên tắc tối huệ quốc Phương pháp cắt giảm song phương tuy đơn giản nhưng kết quả rất hạn chế vì các bên phải đàm phán về từng sản phẩm riêng rẽ mất nhiều thời gian và không thích ứng với nhu cầu tăng trưởng nhanh chóng của thương mại quốc tế

Các vòng đàm phán đa phương về cắt giảm thuế quan và các biện pháp phi thuế quan: Vòng Kennedy (từ tháng 11-1963 đến tháng 5-1967, 74 nước), Vòng

Tokyo (từ tháng 9-1973 đến tháng 11-1979, 99 nước)

Trang 15

Các vòng đàm phán nói trên đã sử dụng phương pháp cắt giảm thuế quan mới là cắt giảm theo dòng thuế hay còn gọi là phương pháp cắt giảm thuế quan

đa phương

Phương pháp cắt giảm thuế quan theo dòng thuế được Mỹ đề nghị trên cơ sở

“Luật về mở rộng thương mại” năm 1962 Luật này cho phép Tổng thống Kennedy được đàm phán để cắt giảm thuế theo dòng tối đa là 50% đối với những sản phẩm chiếm đến 80% tổng kim ngạch thương mại giữa Mỹ và 6 nước Cộng đồng Châu Âu Sở dĩ Mỹ đưa ra phương pháp này vì mức thuế quan trung bình của Mỹ cao hơn mức thuế quan thống nhất của EC Nên nếu cắt giảm theo dòng thuế thì thuế quan ở Mỹ vẫn cao hơn mức thuế quan trung bình của EC Đáp lại, EC đã đề nghị một phương pháp phối hợp, theo đó bên nào có mức thuế quan bình quân cao hơn thì phải giảm nhiều hơn so với bên có mức thuế quan bình quân thấp hơn

Vòng Kennedy đã đưa đến việc cắt giảm trung bình 35% đối với hơn 30.000 hạng mục thuế, đồng thời cũng đạt được thành công đầu tiên trong lĩnh vực giảm thiểu các hàng rào phi thuế quan với việc thông qua những quy định đầu tiên về chống phá giá và trị giá hải quan Tuy nhiên, Vòng Kennedy đã không đem lại kết quả đáng kể nào đối với các sản phẩm nông nghiệp do EC dưới sức

ép của Pháp và Hà Lan đã kiên quyết từ chối đề nghị của Mỹ đàm phán cắt giảm thuế quan trong lĩnh vực này

Vòng Tokyo bắt đầu từ ngày 14-9-1973 với sự tham gia của 99 nước tại Gơnevơ và kết thúc tại Tokyo vào tháng 11-1979 Vòng Tokyo đã đạt được những kết quả quan trọng trên 3 vấn đề: cắt giảm thuế quan; hàng rào phi thuế quan và cải cách cơ chế giải quyết tranh chấp

Về thuế quan, Vòng Tokyo đã đạt được những kết quả rất lớn: mức thuế quan của các nước phát triển đối với các sản phẩm công nghiệp giảm trung bình 30%, dẫn đến mức thuế quan trung bình của các nước này chỉ còn 6% Một số sản phẩm “nhạy cảm” như hàng dệt may, da, thực phẩm, thép cũng được giảm nhiều Một số hạn ngạch nhập khẩu nông sản cũng được nới rộng hơn

Trong lĩnh vực phi thuế quan, Vòng Tokyo đã thông qua được năm vấn đề

về các biện pháp phi thuế quan: trợ cấp; trị giá hải quan; mua sắm chính phủ; tiêu chuẩn kỹ thuật và thủ tục cấp phép nhập khẩu và hai thỏa thuận về nông nghiệp và một thỏa thuận về công nghiệp hàng không Tuy nhiên, việc tham gia

Trang 16

những thỏa thuận này chỉ mang tính chất tự nguyện; các bên ký kết GATT không có nghĩa vụ phải ký kết hoặc gia nhập các thỏa thuận này

Về cơ chế giả quyết tranh chấp, Vòng Tokyo cũng đã thông qua được Thỏa thuận nhằm hệ thống hóa thực tiễn giải quyết tranh chấp trên cơ sở những tiền lệ của GATT

1.1.2 Vòng đàm phán Urugoay - sự ra đời của WTO

Vòng đàm phán thương mại lần thứ 8 được bắt đầu tại thủ đô Urugoay vào tháng 9-1986 với những quyết tâm mạnh mẽ hơn của các bên nhằm đi xa hơn các vòng đàm phán trước với những mục tiêu chủ yếu:

- Giảm nhẹ áp dụng các hàng rào phi thuế quan đối với mậu dịch

- Đảm bảo để các nước ĐPT tham gia nhiều hơn nữa vào các cuộc đàm phán của GATT và đảm nhận các nghĩa vụ của GATT nhiều hơn trước đây

- Mở rộng phạm vi áp dụng của GATT sang cả mậu dịch nông sản, dịch vụ

và quyền sở hữu trí tuệ

Trong vòng đàm phán này Mỹ nhằm 3 mục tiêu chiến lược: đối phó với những thế lực làm Mỹ thâm hụt thương mại như: Nhật Bản, Tây Âu và một số nước và nền kinh tế công nghiệp hóa mới; áp đặt những tư tưởng của chủ nghĩa

tự do kinh tế của Reagan đối với Tây Âu, Nhật Bản và các nước đang phát triển; giải quyết dứt điểm các hồ sơ tranh chấp về nông nghiệp, dịch vụ và văn hóa với Tây Âu và các nước khác

Hội nghị Bộ trưởng GATT tại Punta del Este (Urugoay, tháng 9/1986) đã đạt được những thoả thuận thông qua “Tuyên bố Punta del Este” bao gồm hai phần Phần thứ nhất liên quan đến thương mại hàng hóa, bao gồm cả sản phẩm nông nghiệp, vấn đề tiếp cận thị trường, các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ Phần thứ hai của Tuyên bố lần đầu tiên

đã đưa thương mại dịch vụ vào đàm phán Các cuộc đàm phán đã diễn ra tại Gơnevơ ở cấp đại sứ và chuyên viên trong khuôn khổ Ủy ban về đàm phán thương mại đa phương và rất nhiều Nhóm Công tác chuyên ngành Đây là vòng đàm phán bị bế tắc nhiều lần nhất, chủ yếu là do những bất đồng về nông nghiệp giữa Mỹ và châu Âu và dưới áp lực rất lớn của các phương tiện thông tin và dư luận xã hội phương Tây Hội nghị kiểm điểm giữa kỳ họp tại Montreal (Canađa)

từ ngày 4 đến ngày 8-12-1988 đã không đem lại một kết quả gì cụ thể do bất đồng sâu sắc giữa Mỹ và Châu Âu về vấn đề cắt giảm trợ giá trong xuất khẩu

Trang 17

nông sản Vòng đàm phán Urugoay đã được khởi động trở lại vào tháng 4-1989 Tuy nhiên, cho đến tháng 12-1990 tại Heysel, gần Bruselles, Mỹ và EC cũng vẫn không đạt được thỏa thuận về những vấn đề nguyên tắc như trợ giá xuất khẩu nông sản và dịch vụ tài chính Tháng 12-1991, Tổng giám đốc GATT khi

đó là A.Dunkel đã đưa ra một dự thảo thỏa thuận chung cuộc để các bên ký kết xem xét, nhưng dự thảo này đã bị EC bác bỏ vì cho rằng về toàn cục nó không cân bằng và đặc biệt là không thể chấp nhận được trong lĩnh vực nông nghiệp Ngày 23-11-1992, Mỹ và EC đã đạt được Thỏa thuận về nông nghiệp (Thỏa thuận Blair House), theo đó Mỹ đã đạt được mục tiêu mở cửa thị trường nông nghiệp của EC và EC chấp nhận giảm 21% trợ giá xuất khẩu nông sản trong 6 năm và cắt giảm 36% trợ cấp của Nhà nước đối với các nhà sản xuất nông nghiệp ở châu Âu Thỏa thuận Blair House đã bị Pháp, nước chiếm 50% tổng giá trị xuất khẩu nông sản của EC phản đối kịch liệt Chính phủ Pháp cho rằng Thỏa thuận Blair House đã phá vỡ nền tảng của chính sách nông nghiệp chung của EC và thủ tiêu khả năng phát triển thị trường của hàng nông sản Châu Âu Dưới sức ép của Pháp, Ủy ban Châu Âu đã buộc phải yêu cầu Mỹ thương lượng lại hồ sơ nông nghiệp Cuộc thương lượng Mỹ - EC về nông nghiệp đã đưa đến thỏa hiệp ngày 15-12-1993 có lợi hơn cho EC về nông nghiệp EC tuy chấp nhận

mở cửa thị trường thịt bò và thịt lợn cho Mỹ nhưng có quyền hạn chế số lượng nhập khẩu tối đa là 76.500 tấn/ năm Những nền tảng cơ bản của chính sách nông nghiệp chung của EC đã được duy trì Trong trường hợp có sự nhập khẩu ồ

ạt nông sản vào EC dẫn đến những sự biến động lớn về tiền tệ trên thị trường quốc tế, EC có quyền áp dụng điều khoản “bảo vệ” và nâng mức thuế quan lên quá 15% Chính sách trợ cấp sản xuất nông nghiệp của EC cũng được Mỹ thừa nhận và sẽ phải được cắt giảm dần trong vòng 9 năm thay vì 6 năm như thỏa thuận Blair House Thỏa thuận ngày 15-12-1993 đã cho phép khai thông bế tắc lớn nhất để đi đến việc ký kết tại Marrakesh (Marốc) vào tháng 4-1994 Hiệp định thành lập WTO và các hiệp định thương mại kèm theo

Một vấn đề gây bất đồng lớn thứ hai giữa Mỹ, EC và các nước đang phát triển là vấn đề tự do hóa lĩnh vực dịch vụ Cũng như trong lĩnh vực nông nghiệp, dịch vụ là lĩnh vực bất đồng chủ yếu giữa Mỹ và EC với tư cách là hai cường quốc xuất khẩu dịch vụ lớn nhất thế giới Việc đàm phán về tự do hóa dịch vụ

vấp phải những trở ngại: Thứ nhất là, một số ngành dịch vụ có tính chiến lược

Trang 18

như viễn thông, hàng không vẫn còn thuộc độc quyền của các công ty do Nhà

nước kiểm soát ở các nước EC Thứ hai là, một số ngành dịch vụ chịu sự điều

tiết rất chặt chẽ từ phía Nhà nước do liên quan đến việc bảo đảm an toàn cho khách hàng hay phúc lợi xã hội như: dịch vụ tài chính, ngân hàng, xây dựng, ý

tế, pháp lý,… Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATs) đạt được tại

Vòng đàm phán Urugoay thực chất chỉ mới là một hiệp định khung về các vấn

đề nguyên tắc, danh mục cam kết về dịch vụ kèm theo, rất nghèo nàn và kèm theo rất nhiều ngoại lệ Một số ngành dịch vụ then chốt như dịch vụ tài chính, vận tải hàng hải, viễn thông, nghe – nhìn … sẽ được các nước tiếp tục đàm phán sau khi thành lập WTO Tuy nhiên, lần đầu tiên các nước đã công nhận áp dụng quy chế “tối huệ quốc” đối với thương mại dịch vụ (có ngoại lệ đối với các tổ chức hội nhập kinh tế khu vực) và cam kết sẽ không thay đổi luật pháp của mình nhằm áp đặt thêm các biện pháp có tính chất phân biệt đối xử đối với các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài Hiệp định GATs đã đem lại nhiều lợi ích cho các nước EC, đặc biệt là Pháp, nước xuất khẩu dịch vụ lớn thứ hai trên thế giới, sau

Mỹ, với 10% thị trường dịch vụ toàn cầu và doanh số lên đến 500 tỷ USD vào năm 1994 Thực tế cho thấy sau khi Hiệp định GATs được ký kết, xu hướng tự

do hóa ở cả Mỹ và EC đã diễn ra với tốc độ chóng mặt với những vụ sáp nhập xuyên Đại Tây Dương để tạo nên những nhà cung cấp dịch vụ siêu khổng lồ lớn nhất thế giới, đặc biệt là trong lĩnh vực ngân hàng, viễn thông (vụ sáp nhập Công ty viễn thông Anh BT và Công ty Điện thoại viễn thông Mỹ - MCI), hàng không (Liên minh toàn cầu giữa Hãng hàng không Pháp – AIRFRANCE và Hãng hàng không Mỹ - DELTA AIRLINE)… Xu hướng này đang và sẽ có chiều hướng ngày càng phát triển, vượt ra khỏi sự kiểm soát của các quốc gia và các tổ chức quốc tế

Ngoài nông nghiệp và dịch vụ, lĩnh vực văn hóa cũng là một trong những vấn đề gây bất đồng lớn giữa Mỹ và EC, đặc biệt là với Pháp Các nước châu Âu

đã nhận thức được sự nguy hiểm về sự lan tràn khắp thế giới các sản phẩm nghe-nhìn của Mỹ (80% thu nhập của các rạp chiếu phim Châu Âu là từ phim

Mỹ, trong khi phim châu Âu chỉ chiếm có 1% trên thị trường Mỹ) Bất đồng giữa Mỹ và EC trên vấn đề văn hóa không chỉ đơn thuần về khía cạnh thương mại mà thực chất đây là một cuộc đấu tranh vì sự tồn tại của các nền văn hóa và một thế giới đa văn hóa Để duy trì và phát triển công nghiệp nghe - nhìn Châu

Trang 19

Âu, EC đã thi hành một chính sách trợ cấp cho các nhà sản xuất Châu Âu Với quyết định “Truyền hình không biên giới”, Ủy ban châu Âu đã định ra hạn mức đối với thời lượng phát hình và phát sóng các sản phẩm nghe – nhìn có nguồn gốc xuất xứ không phải Châu Âu Lẽ dĩ nhiên những chính sách “bảo hộ văn hóa” như vậy đã không được Mỹ chấp nhận Mỹ yêu cầu EC phải áp dụng các nguyên tắc của GATT đối với các sản phẩm văn hóa, hủy bỏ các yêu cầu về hạn ngạch áp dụng đối với sản phẩm của Mỹ EC đã đáp lại bằng chiến thuật rất khôn khéo, đồng ý đưa lĩnh vực nghe – nhìn vào đàm phán nhưng là để đi đến việc công nhận một quy chế đặc biệt cho lĩnh vực này dưới tên gọi “ngoại lệ văn hóa” Đồng thời EC cũng viện dẫn Hiệp định Mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA)

mà Mỹ ký với Canađa và Mêhicô, trong đó công nghiệp nghe – nhìn cũng đã bị Canađa (cả các tỉnh nói tiếng Anh và Pháp) loại bỏ khỏi phạm vi áp dụng của Hiệp định Các nước thuộc Cộng đồng Pháp ngữ đóng một vai trò quyết định trong cuộc đấu giữa một bên là “chủ nghĩa bảo hộ văn hóa” và một bên là “chủ nghĩa đế quốc văn hóa” Hội nghị thượng đỉnh các nước sử dụng tiếng Pháp họp tại Môrixơ từ 18 đến 19-10-1994 đã thông qua Nghị quyết yêu cầu loại bỏ lĩnh vực văn hóa ra khỏi các quy định của GATT, “sự sáng tạo về tinh thần không thể đồng nghĩa với sự sản xuất hàng hóa”

Các nước ĐPT theo đuổi những mục tiêu khác nhau khi tham gia vào Vòng đàm phán Urugoay Nhìn chung các nước này cho rằng xét về toàn cục họ sẽ có lợi nhiều hơn nếu Vòng đàm phán Urugoay kết thúc thắng lợi, với một lý do rất đơn giản là nếu thất bại thì các nước phát triển sẽ từ bỏ chủ nghĩa đa phương để chuyển sang chủ nghĩa đơn phương với những hạn chế nhập khẩu độc đoán và hàng rào bảo hộ phi thuế quan như tiêu chuẩn chất lượng và kỹ thuật Các nước này (trừ một số NICs) tham gia vào các “hiệp đấu” không cân sức này chủ yếu

là vì những lý do chính trị chứ không phải kinh tế Khó khăn lớn nhất đối với những nước này khi đàm phán cắt giảm thuế quan là xử lý trong nội bộ, điều hòa

sự xung đột quyền lợi giữa một bên là các nhóm đại diện cho quyền lợi của các ngành xuất khẩu và một bên là các nhóm chủ trương bảo hộ các ngành sản xuất trong nước, điều chỉnh quyền lợi giữa người tiêu dùng và người sản xuất trong nước Mức độ cắt giảm thuế quan và phi thuế quan phản ánh “tương quan lực lượng” giữa các nhóm chính trị “đối lập” nhau ở trong nước Trên thực tế, các cuộc đàm phán về thương mại được tiến hành giữa các nước phát triển với nhau

Trang 20

và với một số NICs Đối với những nước này, việc đưa ra cam kết giảm thuế quan nói chung không gặp nhiều khó khăn vì mức thuế quan hiện hành của họ

đã rất thấp Ngoài ra, khả năng cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ của các nước này chịu ảnh hưởng rất ít của thuế quan vì ba yếu tố quan trọng nhất quyết định tính cạnh tranh của một sản phẩm trên thị trường quốc tế là giá thành, thị trường tiêu thụ và tỷ giá hối suất nằm dưới sự kiểm soát của các chính phủ và công ty xuyên quốc gia phương Tây

Nhìn chung, các nước ĐPT chấp nhận thỏa hiệp cuối cùng giữa Mỹ và EC

Thứ nhất, các nước ĐPT từ nay đã có trong tay một phương tiện để tăng cường

sự an toàn về mặt pháp lý trong các quan hệ thương mại quốc tế và giảm thiểu nguy cơ lạm dụng sức mạnh từ phía các cường quốc phát triển thông qua Cơ chế

giải quyết tranh chấp mới của WTO, hiệu quả và công bằng hơn Thứ hai, các

nước ĐPT đã đạt được yêu cầu bãi bỏ Hiệp định Đa sợi có tính chất bảo hộ thị

trường hàng dệt – may của các nước phát triển Thứ ba, các nước này cũng đạt

được những thời hạn chuyển tiếp dài hơn trong việc thực hiện một số hiệp định

và thỏa thuận của WTO

Tại vòng đàm phán mà tính gay gắt của các cuộc thương lượng kéo dài đến phút cuối cùng, 7 năm sau đó các nhà lãnh đạo quốc gia đã sáng suốt bỏ phiếu tán thành những nội dung mới gồm 7 vấn đề lớn:

+ Một là, mở cửa hơn nữa thị trường của các nước thành viên, các bên cam

kết giảm dần thuế quan đối với sản phẩm nông nghiệp và công nghiệp thời hạn giảm từ 5 năm đến 10 năm kể từ tháng 7 - 1995 Thuế suất trung bình đối với sản phẩm công nghiệp mà các nước phát triển nhập khẩu từ các nước ĐPT sẽ giảm 37%, thuế suất đối với hàng nhập khẩu từ các nước công nghiệp sẽ giảm 38% Các nước công nghiệp sẽ giảm thuế nhập khẩu hàng công nghiệp nói chung từ LDCs từ 25% đến 59% trừ hàng dệt và cá

Kể từ năm 2000 tất cả thuế nhập công nghệ phẩm ở các nước công nghiệp

sẽ giảm trung bình từ 6,3% xuống 3,9% Phần hàng nhập miễn thuế trong toàn

bộ nhập khẩu công nghệ phẩm của các nước phát triển sẽ tăng từ 20% lên 43%, đồng thời chỉ đánh thuế một thuế suất rất thấp đối với 5% hàng nhập (so với 7% trước kia)

+ Thứ hai, tự do hoá thương mại nông phẩm Tất cả các hàng rào phi thuế

quan đối với thương mại phải được chuyển đổi thành thuế quan trước 2001, đối

Trang 21

với các nước phát triển thì điều này phải được thực hiện trước năm 2005 LDCs nhất được miễn thi hành quyết định này Những thuế quan này trung bình giảm 36% đối với các nước phát triển và 24% đối với các nước ĐPT Bên cạnh đó các nước công nghiệp phải giảm khoảng 20% tổng quy mô trợ cấp Mức giảm này đối với các nước ĐPT là 13,3%

+ Thứ ba, tự do hoá thương mại dịch vụ Lần đầu tiên trong lịch sử GATT,

những ngành dịch vụ gồm dịch vụ du lịch, ngân hàng, bảo hiểm, xây dựng, vận tải, liên lạc viễn thông được đưa ra xem xét rồi sau đó đề ra những bước tự do hoá thị trường dịch vụ

+ Thứ tư, những thay đổi trong thương mại hàng dệt

- Từ ngày 1-1-1995, có ít nhất 16% khối lượng nhập khẩu các sản phẩm trong khuôn khổ MFA phải nằm dưới quy định của GATT và tốc độ áp dụng đối với các quota chưa được tự do hoá phải tăng lên 16%

- Từ đầu năm 1998, nhập khẩu phải được tự do hoá thêm 17%, từ đầu năm

2002, chỉ tiêu này sẽ phải tăng thêm 18% nữa Tốc độ tăng tự do hoá đối với quota còn lại sẽ tiếp tục tuần tự thêm là 25% và 27%

- Từ ngày 1-1-2005 các hạng mục sản phẩm còn lại tức là 49% khối lượng nhập khẩu, sẽ được hoà nhập vào GATT

+ Thứ năm, về chống bán phá giá Hiệp định chống bán phá giá được

thương lượng còn bao gồm nhiều luật lệ chi tiết hơn quy tắc chống bán phá giá trước kia, chẳng hạn như xác định phương pháp cần sử dụng để quyết định phá giá; những chuẩn mực nào cần được tính để khẳng định bằng chứng của tổn thất; những quy định có tính thủ tục bắt buộc đối với việc đề ra và thực hiện điều tra việc chống bán phá giá Một nhân tố mới quan trọng là cấm tiếp tục những biện pháp chống bán phá giá thêm 5 năm nữa, trừ những trường hợp ngoại lệ

+ Thứ sáu, quyền sở hữu trí tuệ Hiệp định về khía cạnh có liên quan đến

thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs) đã được thông qua Về cơ bản TRIPs dựa trên những công ước đa biên sẵn có nhưng được hoàn thiện hơn nhiều Việc thực hiện đầy đủ những quy định trong TRIPs cần có thời gian dài khác nhau giữa các nhóm nước có trình độ phát triển khác nhau Các nước phát triển được phép hưởng thời kỳ quá độ từ tháng 1/1995 đến 12/1996 Sau đó đưa hẳn những luật lệ của nước họ vào hệ thống các qui định của hiệp định Đối với các nước ĐPT thời hạn cuối cùng là năm 2000 Đối với LDCs thời hạn này là

Trang 22

đến 2006 thậm chí trong một số điều kiện cụ thể có thể được gia hạn thêm Và cuối cùng trong trường hợp xảy ra xung đột bên bị tổn thất sẽ được phép áp dụng biện pháp trừng phạt "trả đũa chéo"

+Thứ bẩy, chuyển GATT thành Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Vấn

đề sau cùng trong thoả ước chung giữa các bên đàm phán tại Urugoay là chuyển GATT, một diễn đàn thương mại thành WTO - một tổ chức chịu trách nhiệm về tất cả các vấn đề có liên quan đến thương mại thế giới, một tổ chức tương tự như ngân hàng thế giới hay quỹ tiền tệ quốc tế

Từ ngày 01/01/1995, WTO khởi đầu hoạt động của mình với tư cách là cơ quan giám sát luật chơi trong mậu dịch đa phương Khi đó WTO gồm 128 nước, khu vực

và vùng lãnh thổ, chiếm 90% kim ngạch buôn bán thế giới Đến nay, 07/2006 WTO

đã có 149 nước thành viên và chiếm 95% kim ngạch buôn bán thế giới

1.2 Bản chất, các nguyên tắc và cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO

mà WTO đã thay thế hoàn toàn GATT với những đặc điểm, chức năng và vai trò cũng như phạm vi hoạt động trong thương mại quốc tế Điều này được thể hiện

ở một số điểm nổi bật sau:

Thứ nhất, cơ cấu tổ chức và cơ sở pháp luật của WTO kiện toàn Thể chế

WTO không những đưa GATT vào áp dụng chính thức mà còn thành lập một cơ cấu tổ chức tổng thể chặt chẽ, có số lượng lớn nhân viên và là một tổ chức mang tính thể chế với các quy tắc chặt chẽ Như vậy, WTO sẽ có địa vị ngang bằng với các tổ chức quốc tế khác về pháp luật WTO là một pháp thể quốc tế về thương mại, được hưởng quyền đặc miễn và miễn trừ Trong khi GATT là một loạt các quy định của hiệp định đa phương mang tính chất hợp đồng giữa các

Trang 23

quốc gia, không có nền tảng thể chế, chỉ có một ban thư ký nhỏ với mục đích ban đầu là thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO)

Thứ hai, WTO là một thể chế thống nhất WTO tạo ra sự cân bằng hơn về

nghĩa vụ và quyền lợi của các bên ký kết, mặt khác tổ chức này còn tạo lập các quy tắc trò chơi mang tính khoa học và hạn chế được những mâu thuẫn trong các hiệp định đã ký kết WTO là một tổ chức không chỉ có tính thể chế mà còn

là môt tổ chức có những cam kết đầy đủ, minh bạch và ổn định lâu dài Trong khi GATT hoạt động trên cơ sở những cam kết mang tính tạm thời và không có tính bắt buộc, sao hơn 40 năm hoạt động mới chon phương án sửa đổi thành cam kết vĩnh viễn

Thứ ba, phạm vi áp dụng rộng rãi, phạm vi áp dụng của GATT nhỏ hẹp

đơn nhất, quy tắc của nó chỉ đề cập đến thương mại hàng hoá hữu hình Thể chế WTO được phát triển trên cơ sở GATT, đã tăng thêm những quy tắc mà vòng đàm phán Urugoay đã thông qua những sửa đổi và quy định mới Do vậy, WTO

đã mở rộng phạm vi điều chỉnh ra cả các Hiệp định về thương mại dịch vụ (GATs), Hiệp định về đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMs), Hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại (TRIPs), Hiệp định về môi trường….và nhiều lĩnh vực khác mà GATT không thể có

Thứ tư, các Hiệp định của WTO phần lớn là Hiệp định đa phương bao gồm

các cam kết của các nước để trở thành thành viên đầy đủ Trong khi đó, kể từ khi thành lập GATT (1947) cho đến những năm 80 phần lớn là những cam kết

có tính song phương và lấy kết quả đàm phán của nước xuất khẩu lớn nhất và nước nhập khẩu lớn nhất của một mặt hàng nào đó làm đại diện cho các thành viên thực hiện Mãi sau những năm 80 các hiệp định đa phương mới đươc thực hiện

Thứ năm, WTO đã hoàn thiện về cơ chế giải quyết tranh chấp Cơ chế giải

quyết tranh chấp tổng hợp mà WTO thiết lập đã kiện toàn tất cả các thủ tục, đặc biệt đã tăng cường giám sát hiệu quả đối với việc thực thi tài quyết Cơ chế giải quyết tranh chấp tổng hợp áp dụng mọi quyết định và hiệp định của thể chế này

Hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO có tính chất bắt buộc, khả năng thực thi cao, giải quyết nhanh chóng và năng động hơn, giảm nguy cơ cố tình không thực hiện hoặc kéo dài thời gian thực thi Mặt khác, trong cơ chế giải quyết

Trang 24

tranh chấp của WTO tiếng nói của các nước ĐPT có trọng lượng hơn và mang tính công bằng hơn

WTO đã thiết lập được một cơ chế thẩm nghị chính sách thương mại hợp

lý Cơ chế thẩm nghị chính sách một mặt tăng cường giám sát việc thực thi các cam kết của các thành viên và tăng tính minh bạch của chính sách các nước, mặt khác nó còn giúp cho việc cải thiện quan hệ thương mại giữa các bên ký kết WTO tăng cường hợp tác điều phối các chính sách kinh tế toàn cầu WTO tăng cường quan hệ và hợp tác với các tổ chức quốc tế khác IMF, WB… Điều này giúp tăng cường, điều chỉnh các chính sách kinh tế, thương mại toàn cầu khiến cho WTO phát huy được vai trò to lớn của mình Bên cạnh đó, WTO đã tăng cường quyền chủ động của các bên ký kết và có chính sách ưu đãi cho LDCs

Tuy nhiên, bên cạnh những khác biệt của WTO và GATT (1947), chúng ta

đều biết GATT (1994) là sự kế thừa và phát triển GATT (1947) và là một bộ phận cấu thành của WTO Do đó, WTO vẫn tiếp tục phát huy chức năng, tác dụng về thương mại hàng hoá quốc tế trong tổ chức này

Quy trình ra quyết định của WTO là tiếp tục truyền thống của GATT theo nguyên tắc đồng thuận chứ không theo tỉ lệ đóng góp phí trong khi phí đóng góp dựa vào khối lượng thương mại của các thành viên Trong trường hợp nếu không đạt được sự đồng thuận thì thoả thuận WTO cho phép đầu phiếu theo nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số và mỗi nước một phiếu Và như vậy, có thể coi, ít ra về hình thức, WTO mang tính chất dân chủ hơn IMF và WB, nơi mà số phiếu tỉ lệ thuận với tổng số tiền đóng góp của mỗi nước

Chức năng chủ yếu của WTO là: điều hành và thực thi các Hiệp định

thương mại – dịch vụ đa biên và Hiệp định giữa các bên cấu thành WTO nhằm thúc đẩy tự do hoá thương mại – dịch vụ toàn cầu; hoạt động với tính chất như một diễn đàn cho các cuộc thương lượng mậu dịch đa biên; tìm kiếm các giải pháp xử lý các tranh chấp thương mại; xem xét và tư vấn cho việc cải cách các chính sách kinh tế nói riêng ở các quốc gia thành viên; hợp tác với các thiết chế quốc tế khác liên quan đến việc hoạch định chính sách kinh tế toàn cầu

1.2.2 Các nguyên tắc của WTO

Định ước cuối cùng của Vòng đàm phán Urugoay và các phụ lục kèm theo

là một văn kiện có phạm vi điều chỉnh rộng lớn nhất và có tính chất kỹ thuật

Trang 25

pháp lý phức tạp nhất trong lịch sử các văn kiện quốc tế Về dung lượng, các hiệp định được ký tại Marrakesh và các phụ lục kèm theo bao gồm 50.000 trang, trong đó riêng 500 trang quy định về các nguyên tắc và nghĩa vụ chung của các nước thành viên như sau:

 Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới

 20 hiệp định đa phương về thương mại hàng hóa

 4 hiệp định đa phương về thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ, giải quyết tranh chấp, kiểm điểm chính sách thương mại;

 4 hiệp định nhiều bên về Hàng không dân dụng, mua sắm của chính phủ, sản phẩm sữa và sản phẩm thịt bò;

 23 tuyên bố và quyết định liên quan đến một số vấn đề chưa đạt được thỏa thuận trong Vòng đàm phán Urugoay

Tổ chức Thương mại Thế giới được xây dựng trên các nguyên tắc nền tảng:

Nguyên tắc tối huệ quốc (MFN)

Tối huệ quốc là nguyên tắc quan trọng nhất của WTO Tầm quan trọng đặc biệt của MFN được thể hiện ngay tại Hiệp định GATT (mặc dù bản thân thuật ngữ “tối huệ quốc” không được sử dụng trong điều này) Nguyên tắc MFN được hiểu là nếu một nước dành cho một nước thành viên một sự đối xử ưu đãi nào đó thì nước này cũng sẽ phải dành sự ưu đãi đó cho tất cả các nước thành viên khác Thông thường nguyên tắc MFN được quy định trong các hiệp định thương mại song phương Khi nguyên tắc MFN được áp dụng đa phương đối với tất cả các nước thành viên WTO thì cũng đồng nghĩa với nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử vì tất cả các nước sẽ dành cho nhau sự “đối xử ưu đãi nhất” Nguyên tắc MFN trong WTO không có tính chất áp dụng tuyệt đối Hiệp định GATT (1947) quy định mỗi nước có quyền tuyên bố không áp dụng tất cả các điều khoản trong Hiệp định đối với một nước thành viên khác (Trường hợp

Mỹ không áp dụng MFN đối với Cuba, mặc dù Cuba là thành viên sáng lập GATT và WTO)

Nếu như nguyên tắc MFN trong GATT (1947) chỉ áp dụng đối với “hàng hóa” thì trong WTO, nguyên tắc này đã được mở rộng sang thương mại dịch vụ

và sở hữu trí tuệ

Mặc dù được coi là “hòn đá tảng” trong hệ thống thương mại đa phương, Hiệp định GATT (1947) và WTO vẫn quy định một số ngoại lệ và miễn trừ

Trang 26

quan trọng đối với nguyên tắc MFN Chẳng hạn như GATT quy định các nước thành viên trong các hiệp định thương mại khu vực có thể dành cho nhau sự đối

xử ưu đãi hơn mang tính chất phân biệt đối xử với các nước thứ ba, trái với nguyên tắc MFN GATT (1947) cũng có hai miễn trừ về đối xử đặc biệt và ưu

đãi hơn với các nước đang phát triển Miễn trừ thứ nhất là việc thiết lập “Hệ

thống ưu đãi phổ cập” (GSP) chỉ áp dụng cho hàng hóa xuất xứ từ những nước đang phát triển và chậm phát triển Trong khuôn khổ GSP, các nước phát triển

có thể thiết lập một số mức thuế ưu đãi hoặc miễn thuế quan cho một số nhóm mặt hàng có xuất xứ từ các nước đang phát triển và chậm phát triển và không có nghĩa vụ phải áp dụng những mức thuế quan ưu đãi đó cho các nước phát triển

khác theo nguyên tắc MFN Miễn trừ thứ hai là “Đàm phán thương mại giữa các

nước đang phát triển”, cho phép các nước này có quyền đàm phán ký kết những hiệp định thương mại dành cho nhau những ưu đãi hơn về thuế quan và không

có nghĩa vụ phải áp dụng cho hàng hóa đến từ các nước phát triển

Mặc dù được tất cả các nước trong GATT/ WTO công nhận là nguyên tắc nền tảng, nhưng thực tế cho thấy các nước phát triển cũng như đang phát triển, không phải lúc nào cũng tuân thủ nghiêm túc nguyên tắc MFN và đã có rất nhiều tranh chấp trong lịch sử của GATT liên quan đến việc áp dụng nguyên tắc này Thông thường thì vi phạm của các nước đang phát triển dễ bị phát hiện và

bị kiện nhiều hơn vi phạm của các nước phát triển

Năm 1981, Braxin đã kiện Tây Ban Nha ra trước GATT về thuế suất đặc biệt với cà phê chưa rang Braxin cho rằng Nghị định 1764/ 79 của Tây Ban Nha quy định các nước thuế quan khác nhau đối với năm loại cà phê chưa rang khác nhau (cà phê Arập chưa rang, cà phê Robusta, cà phê Côlômbia, cà phê nhẹ và

cà phê khác) Hai loại cà phê đầu được nhập khẩu miễn thuế, ba loại cà phê còn lại chịu mức thuế giá trị gia tăng là 7% Sau khi xem xét Nghị định nói trên, Nhóm chuyên gia của GATT đã đi đến kết luận như sau: Hiệp định GATT không quy định nghĩa vụ cho các bên ký kết phải tuân thủ một hệ thống phân loại hàng hóa đặc biệt nào Tuy nhiên, GATT quy định nghĩa vụ của các Bên ký kết phải dành một sự đối xử như nhau cho những sản phẩm tương tự… Lập luận của Tây Ban Nha biện minh cho sự cần thiết phải có sự đối xử khác nhau đối với từng loại cà phê khác nhau chủ yếu dựa trên những yếu tố địa lý, phương pháp trồng trọt, quá trình thu hoạch hạt và giống Những yếu tố này tuy có khác nhau

Trang 27

nhưng không đủ để Tây Ban Nha có thể áp dụng những thuế suất khác nhau đối với từng loại cà phê khác nhau Đối với tất cả những người tiêu thụ cà phê trên thế giới thì cà phê chưa rang được bán dưới dạng hạt cho dù thuộc nhiều loại khác nhau cũng chỉ là một sản phẩm cùng loại, có tính năng sử dụng duy nhất là

để uống mà không phân biệt độ caphêin mạnh hay nhẹ Năm loại cà phê chưa rang nhập khẩu có tên trong danh mục thuế quan của Tây Ban Nha đều là những sản phẩm cùng loại Việc Tây Ban Nha áp dụng một mức thuế quan cao hơn đối với hai loại cà phê là Arập và Robusta, được nhập khẩu từ Braxin mang tính chất phân biệt đối xử đối với những sản phẩm cùng loại và như vậy trái với quy định của GATT

Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (NT)

Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia được hiểu là hàng hóa nhập khẩu, dịch vụ và

quyền sở hữu trí tuệ nước ngoài phải được đối xử không kém thuận lợi hơn so với các hàng hoá cùng loại trong nước Trong khuôn khổ WTO, nguyên tắc NT chỉ áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ , các quyền sở hữu trí tuệ, chưa áp dụng đối với các cá nhân và các pháp nhân Phạm vi áp dụng của nguyên tắc NT đối với hàng hóa, dịch vụ và sở hữu trí tuệ có khác nhau Đối với hàng hóa và sở hữu trí tuệ, việc áp dụng nguyên tắc NT là một nghĩa vụ chung, có nghĩa là hàng hóa và quyền sở hữu trí tuệ nước ngoài sau khi đã đóng thuế hoặc được đăng ký bảo vệ hợp pháp phải được đối xử bình đẳng như hàng hóa và quyền sở hữu trí tuệ trong nước đối với thuế và lệ phí nội địa, các quy định về mua, bán, phân phối, vận chuyển Đối với dịch vụ, nguyên tắc này chỉ áp dụng đối với những lĩnh vực, ngành nghề đã được mỗi nước đưa vào trong danh mục cam kết cụ thể của mình và mỗi nước có quyền đàm phán đưa ra những ngoại lệ

Các nước, về nguyên tắc, không được áp dụng những hạn chế số lượng nhập khẩu và xuất khẩu, trừ những ngoại lệ được quy định rõ ràng trong các hiệp định của WTO Cụ thể, đó là các trường hợp: mất cân đối cán cân thanh toán; nhằm mục đích bảo vệ ngành công nghiệp non trẻ trong nước; bảo vệ ngành sản xuất trong nước chống lại sự gia tăng đột ngột về nhập khẩu hoặc để đối phó với sự khan hiếm một mặt hàng trên thị trường quốc gia do xuất khẩu quá nhiều; vì lý

do sức khỏe, vệ sinh và vì lý do an ninh quốc gia

Một trong những ngoại lệ quan trọng đối với nguyên tắc đãi ngộ quốc gia là vấn đề trợ giá cho sản xuất hoặc xuất hay nhập khẩu Vấn đề này được quy định

Trang 28

lần đầu tại GATT (1947) và sau này được điều chỉnh trong Thỏa thuận Vòng Tokyo 1979 và hiện nay trong Thỏa thuận Vòng đàm phán Urugoay về trợ cấp

và thuế đối kháng (SCM) Thỏa thuận SCM có một điểm khác biệt lớn so với GATT (1947) và Thỏa thuận Tokyo ở chỗ nó được áp dụng cho cả các nước phát triển và đang phát triển Hiệp định mới về trợ giá phân chia các loại trợ giá làm 3 loại hộp: Hộp hổ phách “Amber Box”; Hộp lam “Blue Box”; Hộp lục

“Green Box”

Riêng về vấn đề hạn chế số lượng đối với hàng dệt may được quy định trong Hiệp định Đa sợi (MFA) và hiện nay được thay thế bởi Hiệp định về hàng dệt may của Vòng đàm phán Urugoay (ATC) Hiệp định ATC đã chấm dứt 30 năm các nước phát triển phân biệt đối xử đối với hàng dệt may của các nước đang phát triển Các nước phát triển sẽ có một thời gian chuyển tiếp là 10 năm (tức bỏ hoàn toàn vào 01/01/2005) để bãi bỏ chế độ hạn ngạch về số lượng hiện hành Hiệp định ATC cũng quy định điều khoản cứu xét đặc biệt đối với một số nhóm nước; ví dụ như các nước cung cấp nhỏ, các nước mới bước vào thị trường, các nước chậm phát triển nhất, các nước đã ký hiệp định MFA từ 1986 cũng như các nước xuất khẩu bông

Việc áp dụng quy chế đãi ngộ quốc gia trên thực tế đã gây ra rất nhiều tranh chấp giữa các bên ký kết GATT/ WTO bởi một lý do dễ hiểu là nếu các nước dễ chấp nhận nguyên tắc đối xử bình đẳng đối với các nước thứ ba thì nước nào cũng muốn dành một sự bảo hộ nhất định đối với sản phẩm nội địa Mục tiêu chính của nguyên tắc đãi ngộ quốc gia là tạo ra những điều kiện cạnh tranh bình đẳng giữa hàng hóa nhập khẩu và hàng hóa nội địa cùng loại Trong vụ Vênêxuêla kiện Mỹ về thuế môi trường đối với xăng dầu, bồi thẩm đoàn của GATT đã khẳng định lại Điều III 2 Hiệp định GATT quy định nghĩa vụ của các bên ký kết tạo những điều kiện cạnh tranh bình đẳng cho cả hàng hóa nhập khẩu

và hàng hóa sản xuất trong nước Trong vụ kiện khác mà Mỹ liên quan đến thuế tiêu thụ đặc biệt đối với rượu và bia, bồi thẩm đoàn của GATT đã khẳng định lại nguyên tắc việc áp dụng thuế nội địa, luật và quy định về mua bán vận chuyển phân phối và sử dụng hàng hóa không được mang tính chất bảo hộ hàng hóa sản xuất trong nước

Về vấn đề “doanh nghiệp nhà nước độc quyền thương mại”, Hiệp định không cấm các bên ký kết thành lập hoặc duy trì những doanh nghiệp nhà nước

Trang 29

kiểu như vậy nhưng phải đảm bảo nguyên tắc đãi ngộ quốc gia vẫn được áp dụng đối với những doanh nghiệp này Trong vụ Mỹ kiện Thái Lan về những hạn chế số lượng và tăng thuế tiêu thụ đánh vào thuốc lá điếu nhập khẩu, Nhóm chuyên gia của GATT đã quyết định rằng Chính phủ Thái Lan có quyền thành lập công ty của Nhà nước độc quyền trong lĩnh vực nhập khẩu và phân phối thuốc lá ở Thái Lan và có quyền sử dụng công ty này để điều chỉnh giá cả và hệ thống bán lẻ thuốc lá Tuy nhiên, ngược lại, Thái Lan cũng có nghĩa vụ theo đãi ngộ quốc gia không được đối xử với thuốc lá nhập khẩu kém ưu đãi hơn so với thuốc lá sản xuất trong nước Vì vậy, việc Thái Lan hạn chế nhập khẩu nguyên liệu sản xuất thuốc lá ngoại và tăng thuế tiêu thụ nội địa căn cứ vào tỷ lệ “nội địa hóa” trong thuốc lá là vi phạm Điều III của GATT về đãi ngộ quốc gia Bồi thẩm đoàn của GATT đồng thời cũng bác bỏ lập luận của Thái Lan viện dẫn

điều khoản cho phép hạn chế số lượng vì lý do sức khỏe vì cho rằng mục tiêu

thực sự của Chính phủ Thái Lan không phải là để hạn chế việc tiêu thụ thuốc lá

nói chung mà thực chất là nhằm bảo hộ ngành sản xuất thuốc lá của Thái Lan

Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia cùng với MFN là hai nguyên tắc nền tảng quan trọng nhất của hệ thương mại đa phương mà ý nghĩa thực sự là bảo đảm việc tuân thủ một cách nghiêm túc những cam kết về mở cửa thị trường mà tất cả các nước thành viên đã chấp nhận khi chính thức trở thành thành viên của WTO

Nguyên tắc mở cửa thị trường

Nguyên tắc mở cửa thị trường hay còn gọi là “tiếp cận thị trường” thực chất

là mở cửa thị trường cho hàng hóa, dịch vụ và đầu tư nước ngoài Trong một hệ thống thương mại đa phương, khi tất cả các bên tham gia đều chấp nhận mở cửa thị trường của mình thì điều đó đồng nghĩa với việc tạo ra một hệ thống thương mại toàn cầu mở cửa

Về mặt kinh tế và chính trị, “tiếp cận thị trường” thể hiện nguyên tắc tự do hóa thương mại của WTO Về mặt pháp lý, “tiếp cận thị trường” thể hiện nghĩa

vụ có tính chất ràng buộc thực hiện những cam kết về mở cửa thị trường mà nước này đã chấp thuận khi đàm phán gia nhập WTO

Nguyên tắc cạnh tranh công bằng

Cạnh tranh công bằng thể hiện nguyên tắc “tự do cạnh tranh trong những điều kiện bình đẳng như nhau” và được công nhận trong án lệ của vụ Urugoay kiện 15 nước phát triển (1962) về việc áp dụng các mức thuế nhập khẩu khác

Trang 30

nhau đối với cùng một mặt hàng nhập khẩu Do tính chất nghiêm trọng của vụ kiện, Đại hội đồng GATT đã phải thành lập một Nhóm Công tác để xem xét vụ này Nhóm Công tác đã cho kết luận rằng, về mặt pháp lý việc áp dụng các mức thuế nhập khẩu khác nhau đối với cùng một mặt hàng không trái với các quy định của GATT, nhưng việc áp đặt các mức thuế khác nhau này đã làm đảo lộn những “điều kiện cạnh tranh công bằng” mà Urugoay có quyền “mong đợi” từ phía những nước phát triển và đã gây thiệt hại cho lợi ích thương mại của Urugoay Trên cơ sở kết luận của Nhóm công tác, Đại hội đồng GATT đã thông qua khuyến nghị các nước phát triển có liên quan đàm phán với Urugoay để thay đổi các cam kết và nhân nhượng thuế quan trước đó Vụ kiện của Urugoay đã tạo ra một tiền lệ mới, nhìn chung có lợi cho các nước đang phát triển Từ nay các nước phát triển có thể bị kiện ngay cả khi về mặt pháp lý không vi phạm bất

kỳ điều khoản nào trong hiệp định GATT nếu những nước này có những hành vi trái với nguyên tắc “cạnh tranh công bằng”

Bảo hộ sản xuất bằng thuế quan

WTO thừa nhận rằng các nước thành viên vẫn cần phải bảo hộ sản xuất trong nước, coi đó là yêu cầu chính đáng khi các ngành công nghiệp của họ bị các hàng nhập khẩu tràn vào làm ảnh hưởng đến ngành công nghiệp non trẻ, nhưng không chấp nhận những biện pháp hạn chế số lượng hoặc những biện pháp cản trở, cấm đoán mang tính chất hành chính, phi thuế quan như: hạn ngạch, cấm nhập khẩu, giấy phép nhập khẩu, … mà chỉ chấp nhận các nước thành viên thuế hoá các biện pháp phi thuế và áp dụng thuế quan làm biện pháp chính đáng để bảo hộ sản xuất trong nước Đồng thời các nước thành viên phải thiết lập cơ chế để đàm phán thường xuyên nhằm giảm dần các mức thuế quan trên cơ sở có đi có lại

Minh bạch và ổn định trong chính sách thương mại

WTO chủ trương thương mại quốc tế phải được thực hiện trên cơ sở minh bạch, ổn đinh và có thể dự đoán được Để thực hiện nguyên tắc này, WTO quy định các nước thành viên phải thông qua đàm phán đưa ra các mức thuế trần với lịch trình cắt giảm, chỉ có giảm liên tục chứ không được tăng quá mức trần WTO cũng quy định mọi chế độ và chính sách thương mại của các thành viên đều phải công khai, minh bạch và ổn định trong một thời gian dài Để phục vụ

Trang 31

cho mục đích này WTO đã hình thành một cơ chế nhằm đánh giá và kiểm điểm chính sách thương mại của các thành viên 4 năm một lần

Khuyến khích phát triển và cải cách kinh tế

Hơn 3/4 số thành viên của WTO là các nước ĐPT và các nước đang trong quá trình cải cách nền kinh tế theo hướng thị trường Một số nước đã thực hiện chương trình này như một phần của quá trình đàm phán gia nhập WTO Thêm nữa, các biện pháp hỗ trợ đã giúp họ thực thi các hiệp định một cách linh hoạt hơn, kêu gọi các nước phát triển có nhân nhượng nhiều hơn về mở cửa thị trường vì lợi ích xuất khẩu hàng hoá của LDCs Do vậy, sự theo đuổi chính sách

mở cửa thị trường cùng với yêu cầu có những chính sách linh hoạt đã đáp ứng được tốc độ phát triển kinh tế

1.2.3 Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO

Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO được sử dụng trên 4 nguyên tắc: công bằng, nhanh chóng, hiệu quả và chấp nhận được đối với các bên tranh chấp, phù hợp với các hiệp định thương mại có liên quan trên cơ sở tuân thủ các quy phạm của luật và tập quán quốc tế về giải thích điều ước quốc tế

Ngoài ra, WTO cũng sẽ tiếp tục áp dụng cách giải quyết tranh chấp của GATT (1947) như: tái lập sự cân bằng giữa quyền và nghĩa vụ; giải quyết tích cực các tranh chấp; cấm đơn phương áp dụng các biện pháp trả đũa khi chưa được phép của WTO Nguyên tắc cấm đơn phương áp dụng các biện pháp trừng phạt có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại của hệ thống thương mại toàn cầu Tuy nhiên, nguyên tắc này không bao hàm rõ ràng ý có cấm các nước thành viên không được đơn phương xác định các hành vi của nước thành viên khác có vi phạm các hiệp định của WTO hay không Lợi dụng sự không rõ ràng này nên một số nước thành viên phát triển như Mỹ, EU vẫn tiếp tục đơn phương áp dụng các đạo luật của riêng mình để trừng phạt các nước thành viên WTO khác

1.2.3.1 Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO, quy chế Nhóm chuyên gia

và Cơ quan phúc thẩm thường trực

Cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB): có quyền quyết định thành lập và

thông qua báo cáo của nhóm chuyên gia và nhóm phúc thẩm, giám sát việc thực hiện các quyết định về giải quyết tranh chấp, cho phép tạm đình chỉ việc áp dụng các hiệp định thương mại với một nước thành viên, cho phép áp dụng các biện pháp trừng phạt

Trang 32

Nhóm chuyên gia: công việc chính về giải quyết tranh chấp do các Nhóm

chuyên gia thực hiện Các Nhóm chuyên gia này do DSB thành lập để giải quyết một vụ tranh chấp cụ thể và giải thể sau khi kết thúc nhiệm vụ Khác với cơ cấu nhóm chuyên gia thời kỳ GATT (1947) chủ yếu được ưu tiên lựa chọn trong các quan chức chính phủ các nước thành viên, Nhóm chuyên gia thời WTO được ưu tiên lựa chọn trong những chuyên gia độc lập, không làm việc cho chính phủ, có

uy tín quốc tế về chính sách hoặc luật thương mại quốc tế Thành phần của mỗi Nhóm chuyên gia từ 3-5 người Nhiệm vụ của Nhóm chuyên gia là giúp Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO làm sáng tỏ nội dung tranh chấp và khuyến nghị một giải pháp để các bên hữu quan giải quyết tranh chấp của họ, phù hợp với các hiệp định thương mại có liên quan Trong quá trình xem xét sự việc, Nhóm chuyên gia có quyền tìm kiếm thông tin từ mọi nguồn và trưng cầu ý kiến giám định của các chuyên gia bên ngoài về những vấn đề kỹ thuật Toàn bộ quá trình giải quyết tranh chấp từ thời điểm các bên tranh chấp tự thương lượng với nhau cho đến khi Nhóm chuyên gia đệ trình báo cáo lên DSB tối đa không quá một năm, trong đó thời gian kể từ thời điểm thành lập Nhóm chuyên gia cho đến khi đệ trình báo cáo tối đa không quá 6 tháng Báo cáo của Nhóm chuyên gia sẽ được gửi đến cho các bên tranh chấp trong vòng 6 tháng, trong trường hợp tranh chấp liên quan đến những hàng hóa dễ hư hỏng trong vòng 3 tháng và gửi đến tất cả các thành viên của WTO sau đó 3 tuần Sau 60 ngày, báo cáo của Nhóm

chuyên gia sẽ tự động trở thành quyết định của DSB nếu không có sự đồng

thuận của tất cả các nước thành viên WTO, kể cả hai bên tranh chấp bác bỏ nội dung của báo cáo

Cơ quan phúc thẩm thường trực: một trong những nét mới của bộ máy giải

quyết tranh chấp của WTO là việc thành lập Cơ quan phúc thẩm thường trực Cơ quan này có 7 thành viên, do Cơ quan giải quyết tranh chấp bổ nhiệm với nhiệm

kỳ 4 năm, là những chuyên gia pháp lý và thương mại quốc tế có kinh nghiệm lâu năm Cơ quan này có chức năng xem xét theo thủ tục “phúc thẩm” báo cáo của Nhóm chuyên gia, theo đề nghị của một trong các bên tranh chấp Tuy

nhiên, phạm vi “phúc thẩm” chỉ áp dụng đối với những kết luận và giải thích

pháp lý được đưa ra trong báo cáo của Nhóm chuyên gia Khi có đề nghị xem xét phúc thẩm, Cơ quan phúc thẩm thường trực sẽ lập ra một Nhóm phúc thẩm riêng biệt cho mỗi một vụ tranh chấp, bao gồm 3 thành viên Nhóm phúc thẩm

Trang 33

có thẩm quyền hoặc giữ nguyên, thay đổi hoặc hủy bỏ những giải thích và kết luận pháp lý nêu trong báo cáo của Nhóm chuyên gia Báo cáo của Nhóm phúc thẩm sẽ được đệ trình lên DSB để thông qua Việc thông qua báo cáo phúc thẩm được thực hiện theo nguyên tắc đồng thuận và gần như mang tính chất tự động Các bên tranh chấp có nghĩa vụ thực hiện vô điều kiện quyết định cuối cùng của DSB trên cơ sở báo cáo phúc thẩm Thời hạn xem xét phúc thẩm là 60 ngày, có thể được gia hạn nhưng không quá 90 ngày

1.2.3.2 Thực hiện quyết định của Cơ quan giải quyết tranh chấp và áp dụng biện pháp trả đũa

Quyết định về giải quyết tranh chấp được DSB thông qua theo nguyên tắc đồng thuận, có giá trị pháp lý và có tính cưỡng chế thi hành đối với các bên tranh chấp Thông thường thì bên thua kiện có nghĩa vụ bãi bỏ các quy định hoặc chấm dứt áp dụng các biện pháp mà nhóm chuyên gia kết luận là vi phạm điều khoản trong các hiệp định có liên quan của WTO Để đảm bảo là bên thua kiện sẽ thực hiện nghiêm túc quyết định của DSB và để tránh tình trạng “rơi vào

im lặng”, WTO đề ra một cơ chế theo dõi và giám sát việc thực hiện quyết định Trong vòng 30 ngày kể từ ngày thông qua báo cáo của Nhóm chuyên gia, bên thua kiện phải thông báo cho DSB về những biện pháp mà nước này dự định áp dụng để thực hiện khuyến nghị của nhóm chuyên gia Nếu nước này vì lý do nào

đó không thể thực hiện ngay khuyến nghị của nhóm chuyên gia thì DSB có thể cho phép nước này được thực hiện trong một thời hạn hợp lý Và nếu trong thời hạn đó bên thua kiện vẫn không thể thực hiện được khuyến nghị của nhóm chuyên gia thì nước này có nghĩa vụ thương lượng với bên thắng kiện về mức độ bồi thường thiệt hại, ví dụ như giảm thuế quan đối với một sản phẩm nào đó có lợi cho bên thắng kiện Nếu trong vòng 20 ngày kể từ ngày chấm dứt thời hạn hợp lý, các bên tranh chấp không đạt được thỏa thuận về mức độ bồi thường thì bên thắng kiện có quyền yêu cầu DSB cho phép áp dụng các biện pháp trả đũa,

cụ thể là tạm ngưng việc cho bên thua kiện hưởng những nhân nhượng thuế quan hoặc tạm ngưng thực hiện những nghĩa vụ đối với bên thua kiện theo hiệp định có liên quan

Biện pháp trả đũa phải tương ứng với mức độ thiệt hại và phải được thực hiện trong lĩnh vực thương mại mà bên thua kiện bị thiệt hại Để bảo đảm tính hiệu quả của các biện pháp trả đũa và rút kinh nghiệm, WTO quy định trong

Trang 34

trường hợp việc áp dụng biện pháp trả đũa mà lĩnh vực bị thiệt hại là không thực

tế hoặc không có hiệu quả, thì bên thắng kiện có quyền yêu cầu DSB cho phép

trả đũa trong một lĩnh vực khác (trả đũa chéo) Chẳng hạn một nước đang phát

triển sẽ khó có thể áp dụng mộ cách hiệu quả biện pháp trả đũa trong lĩnh vực

thương mại hàng hóa đối với một nước phát triển nhưng nếu trả đũa trong lĩnh

vực thương mại dịch vụ hoặc sở hữu trí tuệ thì có thể sẽ hiệu quả hơn Hơn thế nữa, trong một số trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, bên thắng kiện còn có thể yêu cầu DSB cho phép trả đũa trong những lĩnh vực thuộc các hiệp định thương mại khác với hiệp định thương mại mà bên thua kiện vi phạm Tuy nhiên, để đảm bảo sự công bằng và trong trường hợp có tranh chấp về mức độ trả đũa, WTO cũng dành cho bên thua kiện quyền đưa tranh chấp nói trên ra giải quyết theo phương thức trọng tài Quyết định trọng tài về vấn đề này là quyết định cuối cùng và có giá trị thi hành đối với tất cả các bên

1.2.3.3 Các phương thức giải quyết tranh chấp khác

Ngoài cơ chế của DSB, các nước thành viên WTO còn có thể sử dụng những phương thức giải quyết tranh chấp khác trong Công pháp quốc tế như trọng tài liên quốc gia, trung gian và hòa giải Thỏa thuận DSU quy định các nước thành viên có thể giải quyết tranh chấp nếu các nước này thỏa thuận nhất trí sử dụng

cơ chế này và chấp nhận tuân thủ quyết định của trọng tài

Các nước cũng có thể sử dụng cơ chế trung gian hoặc hòa giải của một bên thứ ba Riêng đối với những tranh chấp mà một bên là nước kém phát triển nhất thì Tổng giám đốc WTO có thể đứng ra làm trung gian hoặc hòa giải

Ngoài cơ chế giải quyết tranh chấp chung ra, một số hiệp định thương mại

đa biên của WTO cũng quy định những cơ chế giải quyết tranh chấp đặc biệt Ví

dụ như Hiệp định về trợ cấp có quy định thủ tục riêng về giải quyết tranh chấp liên quan đến hàng dệt trước Cơ quan giám sát hàng dệt Trong trường hợp các quy định về cơ chế giải quyết tranh chấp đặc biệt khác với những quy định về cơ chế giải quyết tranh chấp chung thì những quy định trong cơ chế đặc biệt được lựa chọn

1.2.3.4 Các nước ĐPT và Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO

Mặc dù luôn chiếm đa số tại GATT, nhưng vì những lý do lịch sử nên các nước ĐPT thường có thái độ “nghi ngờ” và “e dè” đối với cơ chế do các nước

Trang 35

phương Tây đặt ra Trong một nghiên cứu được công bố vào năm 1985, ủy ban thương mại quốc tế của Mỹ (USIC) đã chỉ ra một số nguyên nhân làm cho các nước ĐPT ít sử dụng đến Cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT:

Thứ nhất, các nước ĐPT không có đội ngũ chuyên gia pháp lý có chuyên

môn và kinh nghiệm trong việc tham gia xử lý các tranh chấp thương mại quốc

tế và cũng không có khả năng tài chính để đi thuê các chuyên gia phương Tây;

Thứ hai, tâm lý lo sợ rằng nếu đi kiện cáo các nước phát triển thì có khi họ

phải chịu thiệt nhiều hơn là được lợi Sự phụ thuộc vào thị trường và các nguồn giúp đỡ về tài chính của phương Tây là một trong những lý do khiến các nước ĐPT rất ngại va chạm với các nước phát triển và nếu có tranh chấp thì các nước

này chủ trương xử lý song phương, kín đáo và thường là sẵn sàng nhượng bộ;

Thứ ba, các nước ĐPT nhận thức được rằng cho dù họ có thắng kiện và dám

dũng cảm áp đặt các biện pháp trả đũa hợp pháp chăng nữa thì cũng không đem

lại hiệu quả và có thể có một ảnh hưởng đến cách cư xử của các nước phát triển;

Thứ tư, tuy tham gia GATT ngay từ khi mới thành lập, nhưng các nước ĐPT

vẫn còn giữ thái độ lưỡng lự trong tiến trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới

Đa số các nước này cho rằng Cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT cũng chỉ

là một trong những công cụ của các nước phương Tây sử dụng để ép buộc họ

mở cửa thị trường

Vì những lý do nói trên, quan điểm chung của các nước ĐPT đối với Cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT trong khoảng 30 năm (1948-1979) là hạn chế sử dụng cơ chế này Trong khoảng thời gian này, số vụ kiện của các nước ĐPT chỉ chiếm có 12% tổng số các vụ kiện tại GATT và đa số là kết thúc thông qua thương lượng trước khi nhóm chuyên gia của GATT thông qua báo cáo cuối cùng

Chỉ đến thời kỳ sau Vòng Tokyo, các nước ĐPT, đặc biệt là một số nước NIC như Braxin, Mêhicô, Ấn Độ, Achentina mới thực sự quan tâm và sử dụng thường xuyên hơn Cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT Sự thay đổi này xuất

phát từ những lý do sau: Thứ nhất, sự giảm sút của thương mại thế giới những

năm 1970 do tác động của hai cuộc khủng hoảng dầu lửa đã dẫn đến việc trỗi

dậy của chủ nghĩa bảo hộ ở hầu hết các nước phát triển Thứ hai, quá trình công

nghiệp hóa tại một số nước đang phát triển đã đem lại những thành quả đầu tiên,

Trang 36

nổi bật nhất là trong một số ngành sản xuất công nghiệp và chế biến, các nước NIC đã đạt được ưu thế cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại của phương Tây

và đã bắt đầu dư thừa năng lực sản xuất trong một số lĩnh vực như may mặc, điện tử dân dụng, thép Các nước này bắt đầu nhận thức được cần phải sử dụng nhiều công cụ để tiếp cận thị trường tiêu thụ của các nước phương Tây và khi cần thiết sử dụng cả Cơ chế giải quyết tranh chấp Ngoài ra, việc thành lập một

bộ phận pháp lý trực thuộc Ban Thư ký GATT đã giúp cung cấp những trợ giúp

kỹ thuật có hiệu quả cho các nước ĐPT trong việc nghiên cứu về cơ cấu thể chế pháp lý của GATT và tư vấn pháp lý cho các nước này trong quá trình chuẩn bị các tài liệu và thủ tục khiếu kiện

Trong vòng 15 năm (1979-1994), số lượng các vụ kiện của các nước ĐPT chống lại các nước phát triển đã tăng lên đến 25% tổng số các vụ kiện tại GATT (25/117 vụ)

Ở Vòng đàm phán Urugoay, Braxin đã đưa ra đề nghị cần thiết phải áp dụng nguyên tắc đối xử đặc biệt đối với các nước ĐPT khi áp dụng Cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT Đề nghị này đã được chấp nhận và thể hiện trong thỏa thuận về cơ chế giải quyết tranh chấp WTO Cụ thể như sau:

+ Các nước ĐPT có thể yêu cầu Tổng giám đốc WTO đứng ra làm trung gian, hòa giải trong trường hợp có tranh chấp với các nước phát triển;

+ Trong thành phần của nhóm chuyên gia nhất thiết phải có một thành viên

là công dân của một nước đang phát triển, trừ khi nước đang phát triển có liên quan không yêu cầu như vậy;

+ Thời gian để giải quyết tranh chấp với các nước ĐPT có thể được kéo dài hơn so với quy định chung;

+ Các nước phát triển cần có thái độ kiềm chế khi áp dụng các biện pháp trả đũa đối với bên thua kiện là nước đang phát triển;

+ Các nước ĐPT có thể được phép áp dụng các biện pháp trả đũa chéo đối với bên thua kiện là nước phát triển;

+ Các nước ĐPT có thể yêu cầu Ban Thư ký WTO trợ giúp pháp lý khi có tranh chấp;

+ Các nước ĐPT có thể áp dụng các thủ tục giải quyết tranh chấp được Đại hội đồng GATT thông qua theo Quyết định ngày 5-4-1966

Trang 37

Các nước ĐPT đã nhanh chóng nhận thức được lợi ích từ việc sử dụng Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO và chỉ sau gần 5 năm, các nước ĐPT đã trở thành nhóm các nước sử dụng nhiều nhất cơ chế giải quyết tranh chấp mới của WTO Tính đến ngày 31-12-1998, các nước ĐPT dẫn đầu số lượng các vụ kiện (37%) nhiều hơn Mỹ (34%) và EU (21%) và 80% trong số đó kết thúc thắng lợi

Có thể nói Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO được các nước ĐPT sử dụng như một công cụ có hiệu quả để giải quyết tranh chấp thương mại với các nước phát triển Và xét về toàn cục thì Cơ chế này là một bước phát triển tiến bộ theo hướng công bằng hơn trong quan hệ thương mại quốc tế

1.3 Vai trò, ý nghĩa của tự do hoá thương mại trong WTO

Tự do hoá thương mại trong WTO là một xu hướng tất yếu của sự phát triển kinh tế thế giới, trong đó các hoạt động kinh tế và sản xuất của mỗi thành viên, dưới tác động của TDHTM đã gia tăng mạnh mẽ và phụ thuộc lẫn nhau Tuy nhiên, do sự phát triển không đồng đều giữa các nước tham gia ký kết, mặt khác tiến trình TDHTM trong WTO lại được dẫn dắt bởi các nước phát triển Do vậy, vai trò và ý nghĩa của TDHTM trong khuôn khổ WTO cũng có những khác biệt giữa các nhóm nước, song nhìn chung nó có một số vai trò chủ yếu sau:

Thứ nhất, tự do hoá thương mại thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của lực

lượng sản xuất, đưa lại sự tăng trưởng cao cho nền kinh tế Theo đó, cơ cấu

kinh tế có bước dịch chuyển mạnh mẽ về chất, tỷ trọng các ngành ngành công nghiệp chế tạo và dịch vụ dựa trên công nghệ cao và tri thức cao tăng mạnh Đây là cơ hội và tiền đề hết sức quan trọng cho sự phát triển và hiện đại hoá xã hội Các nước ĐPT, tuy không có những ưu thế về vốn, công nghệ, kinh nghiệm… nhưng TDHTM đã cho họ có điều kiện để tiếp cận các nguồn lực bên ngoài phục vu cho công cuộc phát triển kinh tế trong nước

Thứ hai, vai trò của TDHTM là mở rộng và phát triển thị trường toàn cầu

và do vậy, nó thúc đẩy mọi thành viên, kể cả các nước có nền kinh tế phát triển nhất, phải cải tổ và bắt nhịp vào quá trình hình thành một thị trường thống nhất trong khuôn khổ WTO như một chỉnh thể Do đó, việc thâm nhập vào thị trường này có ý nghĩa:

1 Quy mô thị trường được mở rộng nhờ mở cửa và TDHTM có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng Đấy là mục tiêu hàng đầu quyết định mục tiêu sản xuất kinh doanh trong kinh tế thị trường

Trang 38

2 Một thị trường lớn hơn cho phép tiếp cận nhiều ý tưởng hơn, cho phép đầu tư tăng quy mô lớn và tạo điều kiện cho sự phân công lao động tốt hơn

3 Mở rộng khả năng lựa chọn các yếu tố đầu vào hiệu quả hơn cho quá trình sản xuất

4 Thị trường lớn làm tăng khả năng cạnh tranh và khuyến khích đổi mới Hiểu theo nghĩa khác, sự phát triển của thị trường WTO dưới tác động của TDHTM đã cho phép các nước thành viên phát huy nội lực và tận dụng ngoại lực để phát huy những lợi thế so sánh của mình một cách hiệu quả

Thứ ba, TDHTM đã và đang truyền bá và chuyển giao trên quy mô lớn

những thành quả mới mẻ, những đột phá sáng tạo khoa học công nghệ, về tổ chức và quản lý, về sản xuất và kinh doanh, đưa kinh nghiệm quốc tế đến mọi quốc gia thành viên, đến từng thành viên trong xã hội và đặc biệt, tạo tiền đề và điều kiện cho các quốc gia đi sau thực hiện các bước phát triển rút ngắn Điều này có nghĩa là, các quốc gia có điều kiện để phát huy nhũng lợi thế của mình và hạn chế những bất lợi dựa trên sự phân bổ nguồn lực mang tính quốc tế Dưới tác động của TDHTM và bước chuyển sang kinh tế tri thức, lợi thế so sánh và theo đó là lợi thế cạnh tranh cũng thay đổi căn bản, lợi thế canh tranh đã thuộc

về những ngành có hàn lượng công nghệ và tri thức cao Do đó, và đặc biệt đối với các nước ĐPT với lợi thế về lao động cần phải hiện đại hoá ngành này bằng công nghệ và tri thức mới nhằm tiếp tục duy trì lợi thế canh tranh của chúng

Thứ tư, TDHTM của WTO thúc đẩy sự cải cách sâu rộng các nền kinh tế

thành viên để các chủ thể này có thể nâng cao thế thương lượng cạnh tranh và phát triển được trong bối cảnh hiện nay của nền kinh tế thế giới Những cải cách này phải được tiến hành đồng bộ cả về mô thức phát triển và cơ cấu, về khả năng cạnh tranh, về thể chế… Những cải cách này phải lấy thị trường quốc tế làm phạm vi hoạt động, lấy tiêu chí TDHTM làm căn cứ và lấy những điều kiện của WTO làm mục tiêu để hướng tới Do vậy, cải cách bên trong theo yêu cầu của WTO về thực chất là những nổ lực nhằm tạo ra tiếng nói chung của các thành viên nhằm tạo ra vai trò và vị trí của các yếu tố chất lượng, thời gian, giá trị gia tăng thông qua việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước

Trang 39

nhằm tạo ra lợi thế so sánh và sức canh tranh hiệu quả của các nền kinh tế mỗi thành viên

Thứ năm, TDHTM mang lại lợi ích cho tầng lớp dân cư: mọi người sẽ

được sử dụng các sản phẩm mới, rẻ, những đội ngũ lao đông có trình độ chuyên môn cao được hưởng chế độ lương thích đáng, những người lao đông thủ công ở LDCs sẽ có cơ hội tiếp cận thị trường lao động quốc tế

Thứ sáu, xét theo nghĩa tích cực TDHTM có vai trò tạo ra một bầu không

khí canh tranh bình đẳng Hợp tác được coi là xu thế chính trong TDHTM song

điều đó không có nghĩa là loại trừ cạnh tranh Trái lại, trong giới hạn không gian kinh tế của WTO nơi có đến 95% khối lượng thương mại toàn cầu, sự hiện diện đồng thời đầy đủ của mọi đối thủ cạnh tranh sẽ làm cho mức độ cạnh tranh quyết liệt hơn, và điều đó cũng có nghĩa là có sự đào thải đối với những chủ thể không có khả năng cạnh tranh Do vậy, xét theo nghĩa tích cực thì TDHTM mang lại những hiệu quả trong cạnh tranh của các chủ thể có khả năng cạnh tranh Với mặt tiêu cực thì mang lại sự tổn thương ghê gớm cho các chủ thể không có khả năng canh tranh

Thứ bảy, TDHTM trong khuôn khổ WTO yêu cầu các nước tham gia ký kết phải phá bỏ hàng rào bảo hộ, giảm dần các biện pháp thuế quan và xoá bỏ

các biện pháp phi thuế quan Một mặt, nó sẽ làm tăng hiệu quả của việc sử dụng

các nguồn lực cho sản xuất trong phạm vi toàn cầu, song mặt trái của nó và đặc

biệt là đối với các nước ĐPT đi sau sẽ phải chịu sức ép nặng nề của các dòng hàng hoá, dịch vụ,…cạnh tranh ngay trên thị trường nội địa, trong đó nguy cơ lớn nhất là sự mất tự chủ của nền kinh tế và sự lệ thuộc vào các nền kinh tế mạnh Mặt khác, thuế quan là nguồn thu quan trọng và có tính quyết định của các nền kinh tế kém phát triển, việc giảm thuế sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến ngân sách của chính phủ, điều này sẽ làm việc chi tiêu cho an sinh xã hội, chi tiêu cho đầu tư phát triển bị suy giảm

Ngoài ra, xét ở một khía cạnh nào đó, TDHTM sẽ làm trầm trọng thêm sự bất công trong xã hội, làm khoảng cách giàu và nghèo trong từng nước và giữa các nước trở nên xa hơn Bên cạnh đó, TDHTM làm cho các nước trở nên lệ thuộc nhau nhiều hơn, điều này có thể làm cho mọi hoạt động và đời sống con người thêm kém an toàn, từ an toàn kinh tế, tài chính, văn hoá, xã hội đến môi trường; từ an toàn của từng con người, từng gia đình, đến an toàn của cả quốc gia và an toàn của cả hệ thống thương mại và tài chính của WTO

Trang 40

Chương 2

TIẾN TRÌNH TỰ DO HOÁ THƯƠNG MẠI

TRONG KHUÔN KHỔ WTO

2.1 Những nhân tố thúc đẩy tiến trình tự do hoá thương mại trong khuôn khổ WTO

Tiến trình TDHTM của WTO gắn liền với những thay đổi của nền kinh tế thế giới, nhất là từ khi xảy ra khủng hoảng tài chính Châu Á Trong điều kiện hiện nay, để thích ứng với tốc độ tự do hoá diễn ra rất nhanh và nhiều mặt, cần đưa các quy tắc, chính sách nội địa nào có ảnh hưởng tới thương mại hàng hoá

và dịch vụ quốc tế hay bóp méo cạnh tranh quốc tế vào phạm vi điều chỉnh trong các thể chế kinh tế toàn cầu

Do vậy, tiến trình TDHTM của WTO cũng có những thay đổi căn bản để phù hợp với những đặc điểm của nền kinh tế thế giới Phương pháp đàm phán liên ngành từng được áp dụng ở Vòng Urugoay trở nên không còn phù hợp Các đàm phán theo từng ngành dần dần được tiến hành độc lập với nhau và ngày càng đi vào chiều sâu GATT cho đến Vòng Urugoay đã không thành lập được một cơ chế hữu hiệu giải quyết tranh chấp thương mại giữa các nước thành viên

Hệ thống thương mại thế giới đòi hỏi phải có một cơ quan chuyên môn giải quyết tranh chấp thương mại theo luật quốc tế đã được các nước thành viên thông qua Những cam kết tự do hoá trong WTO ngày càng được mở rộng về nội dung và nâng cao về chất lượng Những thay đổi căn bản đó được thúc đẩy bởi các nhân tố sau: (1) Các nhân tố mang tính thời đại như: sự phát triển của các cuộc cách mạng khoa học công nghệ, nền kinh tế tri thức hay xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá…(2) Những nhân tố mang tính chính trị như: hoà bình, ổn định, đối thoại, hợp tác và phát triển bền vững… và (3) những bất cập nội tại bản thân WTO

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả không phân tích hai nhân tố đầu mà chỉ đi sâu phân tích những bất cập nội tại bản thân WTO tác động tới tiến trình TDHTM, những bất cập đó được thể hiện ở các điểm chủ yếu sau:

Thứ nhất, hàng rào thương mại của các nước phát triển áp đặt cho các nước ĐPT vẫn còn cao

Ngày đăng: 18/03/2015, 08:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Các vòng đàm phán của GATT - Tự do hóa thương mại trong khuôn khổ WTO và một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam
Bảng 1 Các vòng đàm phán của GATT (Trang 13)
Bảng 3: Tỷ trọng các thị trường XK lớn của Việt nam - Tự do hóa thương mại trong khuôn khổ WTO và một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam
Bảng 3 Tỷ trọng các thị trường XK lớn của Việt nam (Trang 129)
Bảng 5: Tốc độ tăng trưởng kinh tế ở một số nhóm nước - Tự do hóa thương mại trong khuôn khổ WTO và một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam
Bảng 5 Tốc độ tăng trưởng kinh tế ở một số nhóm nước (Trang 130)
Bảng 6: Một số nhóm nước, khu vực chính có tên trong Luận văn - Tự do hóa thương mại trong khuôn khổ WTO và một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam
Bảng 6 Một số nhóm nước, khu vực chính có tên trong Luận văn (Trang 130)
Bảng 7: 149 thành viên WTO và năm gia nhập  (tính đến ngày11 tháng 12 năm 2005) - Tự do hóa thương mại trong khuôn khổ WTO và một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam
Bảng 7 149 thành viên WTO và năm gia nhập (tính đến ngày11 tháng 12 năm 2005) (Trang 131)
Bảng 8: Sơ đồ - Tự do hóa thương mại trong khuôn khổ WTO và một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam
Bảng 8 Sơ đồ (Trang 133)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w